CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

TA XA HÀ NỘI -THƠ NGUYỄN KHÔI

            



  TA XA HÀ NỘI

(Tặng : Nguyễn Như Phong- Petrotimes)
                    -------
Ngày nghỉ lễ
Thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
Xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịụ dàng hơn...
Ôi Hà Nội,
Đi xa cho bớt "sợ" :
-Đường cây xanh bị "đốn" nắng vỡ đầu
-Xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
"Người Tràng An thanh lịch" ở đâu đâu ?
Ôi Hà Nội,
Phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để "rỉ" đến bao giờ ?
Đường gốm sứ bụi bám hoen mưa nắng
Gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua...
Ôi Hà Nội,
Còn mấy Nàng thỏ thẻ ?
- mở miệng  ra là "đ. mẹ" chửi thề
Dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt...
Còn góc nào thanh thản
uống Cafe' ? !
Ôi Hà Nội,
có điều gì không ổn ?
như trên mây
trên gió "cấp điều hành " ?
Mong, sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta về
soi bóng xuống Hồ Gươm.
            -----
Viết tại Gia Lộc- Hải Dương 28-4-2015
        NGUYỄN KHÔI
       (Nhà văn Hà Nội)

Nguồn : từ email của nhà thơ Nguyễn Khôi gửi lamngoc
NM cảm ơn anh Nguyễn khôi thường xuyên chia xẻ những bài hay


Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

SÓC TRĂNG- BÁNH PÍA

Bánh pía chay nhân dứa


SÓC TRĂNG và TRÀ VINH là hai địa phương có người KHMER sinh sống nhiều nhứt nên qui tụ rất nhiều chùa của người Khmer. Hôm chúng tôi đi Châu Đốc trên đường đi cũng thấy vài chùa Miên ,nhưng vì xe không ngừng để vào tham quan được , thế là các chị em rủ nhau đi Sóc Trăng để tham quan những cảnh chùa  Miên nổi tiếng ở  đó .Khởi hành từ SaiGon 4 giờ sáng  tôi và một người chị theo lộ trình về Bến Tre đón thêm  3 người nữa , sau đó theo đường Chợ Lách qua Vĩnh Long đón thêm một chị nữa và thẳng đường  qua Cần Thơ xuống Sóc Trăng.
Chúng tôi đi thăm các ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Dơi, Chùa Đất Sét, Chùa Khleang, Chùa Chén Kiểu... Trên đường đi còn ghé một ngôi chùa rất lớn chùa có tên tiếng Miên là  Chroi Tum Chas , gồm hai cổng có hình tháp  chạm trổ rất đẹp và một vòng tường mới xây có khắc hình các vũ nữ apsara  .Khung viên chùa rất rộng , có trường học , tưỡng Phật nằm ...nhưng chùa lại rất vằng vẻ.


















Nhìn chung thì các Chùa Miên tuy là có thờ Phật nhưng không cúng tụng  đọc kinh vào ngày 14, rằm như chùa Việt và cũng không có các sư sải sinh hoạt. Chùa như là một cơ sở tôn giáo, còn là cơ sở văn hóa của cộng đồng dân tộc nơi truyền bá  giáo lý , giáo dục và các sinh hoạt truyền thống ,lễ hội khác của đồng bào gốc Khmer ...

Chùa Dơi có ban nhạc  chơi các nhạc cụ truyền thống của Khmer .Trước cổng chùa Chén Kiểu thì họp chợ buôn bán các loại nông sản trồng ở địa phương...và các chùa lớn đều có trường học dạy chữ.
Đến một địa phương ,ngoài việc tham quan di tích thắng cảnh , tìm hiểu sinh hoạt thì còn là dịp để thưởng thức các loại thức ăn đặc sản...
Sóc Trăng nổi tiếng với món bún nước lèo hương vị tương tự như bún mắm nhưng nước lèo ngọt và nêm ít mắm , đặc biệt Sóc Trăng có các cơ sở làm bánh Pía và lạp xưỡng rất lớn và nổi tiếng.
Bánh pía  , còn gọi là bánh lột da là một trong những đặc sản của Sóc Trăng, do người Hoa di cư vào miền Nam sáng tạo ra. Bánh pía được làm bằng bột mì, sầu riêng, lòng đỏ trứng.
Vì lý do thương mại, người sản xuất thường dùng phẩm đỏ in tên hoặc nhãn hiệu của nơi làm bánh trực tiếp lên mặt bánh. Ngoài ra, thành phần nhân bánh, nguồn gốc xuất xứ cũng thường được in trực tiếp lên bánh.
Bánh pía thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu kiểu Tô Châu (loại bột bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn mỡ). Bánh do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình.Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như hiện nay. Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối.
Hiện nay,  với nhu cầu tiêu thụ nhiều và với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Bánh Pía có thêm nhiều loại hình mới như Bánh Pía Môn, Bánh Pía Thịt Lạp,... Bánh được đóng gói và bảo quản kỹ hơn nên dùng được lâu hơn, và điều đặc biệt và hộp đựng bánh được phân ra thành từng cái chứ không đựng chung 4 cái 1 hộp như trước đây nữa nên rất vệ sinh , giúp thực khách có thể lấy ra từng chiếc bánh trong bao bì riêng biệt, sử dụng dễ dàng hơn.

Chúng tôi ghé một cơ sở làm bánh pía rất qui mộ và cũng là nơi có rất nhiều xe du lịch các nơi đến mua bánh .Cơ ngơi rộng rải , sạch sẻ đủ các loại bánh ngon , bao bì đẹp nhưng giá bánh sản xuất tại lò  so ra đắc hơn các loại bánh cũng là đặc sản Sóc Trăng của các thương hiệu khác bán ở Saigon.
Sau một ngày vượt đường xa đến Sóc Trăng (tôi vẫn thích chương trình phát thanh tiếng Miên với các điệu nhạc Miên của đài phát thanh Ba Xuyên trước năm 75 nay mới có dịp đến nơi này) khi chúng tôi  trở lại địa phận Chợ Lách. Buổi tối hôm đó là ngày 14 tháng giêng, các ngôi chùa Việt cờ xí giăng đầy , bổn đạo và khách đang tụ họp để mừng lễ nguyên tiêu , xe phải vất vả tránh đám đông khác hẳn với cảnh vắng vẻ ở các ngôi chùa Miên ...












Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

NHỮNG HÀNG ME SAIGÒN -THƠ NGUYỄN AN BÌNH , NHẠC VŨ THẾ DŨNG




Hiển thị Nhunghangmesaigon.jpg


NHỮNG HÀNG ME SAIGON

THƠ: NGUYỄN AN BÌNH
NHẠC & HÒA ÂM : VŨ THẾ DŨNG
TIẾNG HÁT: THU HƯƠNG

Nhà thơ Nguyễn An Bình  , tác giả của những bài thơ tình  nhẹ nhàng , truyền cảm đã đem lại  cảm hứng cho các nhạc sĩ viết thành nhiều ca khúc hay Nhạc phổ từ thơ của anh rất nhiều (khoảng 50 bài)  Xin giới thiệu một ca khúc phổ từ thơ của anh và cảm ơn anh đã chia xẻ ca khúc này với blog của NM Chúc anh có thêm nhiều sáng tác thơ nhạc hay

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

SÓC TRĂNG- CHÙA CHÉN KIỂU





Chùa Sà Lôn (tiếng Khmer: Wath Sr
o Loun, hay Wath Chro Luông, tục gọi là chùa Chén Kiểu) là một ngôi chùa cổ thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer, tọa lạc bên Quốc lộ 1A, cách Trung tâm thành phố Sóc Trăng khoảng 12 km về hướng Bạc Liêu; nay thuộc xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam. Ngày 20 tháng 11 năm 2012, ngôi chùa đã được xếp hạng là di tích Lịch sử-Văn hóa cấp tỉnh.[1]


Chùa có tên Khmer là "Wath Sro Loun", để dễ phát âm, từ "Sro Loun" được đọc chại thành "Sà Lôn". "Sro Loun" lại có nguồn gốc từ chữ "Chro Luong", là tên của một con rạch chạy dọc theo đường làng trước đây ở gần chùa, và tên gọi ấy đồng thời cũng được dùng để đặt tên chùa. Sở dĩ chùa Sà Lôn còn được gọi là "chùa Chén Kiểu" là do dùng những mảnh chén, đĩa sứ ốp lên tường để trang trí.





















Tương truyền, chùa Sà Lôn được dựng bằng cây lá từ năm 1815, và được trùng tu nhiều lần. Trong chiến tranh, chùa bị bom đạn đánh sập ngôi chánh điện. Năm 1969, sư cả Tăng Đuch (trụ trì đời thứ 9) quyết định dựng lại ngôi chùa gồm: Chánh điện, sala, nhà Tăng, nhà để sách kinh, khu tháp, v.v... bằng vật liệu kiên cố. Đến năm 1980, việc xây dựng cơ bản hoàn thành. Nhưng do thiếu kinh phí, nên nhà chùa có sáng kiến dùng chén dĩa kiểu để trang trí phần sau ngôi chánh điện. Tên chùa Chén Kiểu bắt nguồn từ đó[2].


Chùa tọa lạc trong một khuôn viên rất rộng với nhiều cây xanh. Hai bên cổng ngự hai con sư tử bằng đá trên bệ cao, hướng ra lộ. Trên cổng xây ba ngôi tháp, được trang trí theo kiến trúc truyền thống của đồng bào Khmer ở Nam Bộ. Tháp chính nằm ở giữa, màu vàng, bên trong có lồng kính, tôn trí một pho tượng Phật ngồi uy nghi. Trên thành cổng là tên chùa bằng chữ Khmer và chữ Việt (chùa Sà Lôn).

Ngôi chính điện là một tòa nhà kiên cố và rộng lớn. Nền lát gạch bông, và phần lớn các mảng tường ở đây cũng đều được ốp gạch men (đủ màu, và lớn nhỏ khác nhau) thời hiện đại.

Cũng giống như những ngôi chùa Khmer khác, mái chánh điện chùa chùa Sà Lôn được xây dựng theo dạng tam cấp, tức có 3 nếp, nếp dưới cùng lớn nhất và nhỏ dần ở bên trên. Nếp trên cùng có hình tam giác, hai đầu đao mỗi bên cong lên, và nơi trung tâm có đỉnh nhọn cao vút. Mái được trang trí nhiều họa tiết với màu sắc rất đẹp mắt. Mặt sau chính điện là một mảng tường đắp nổi bởi nhiều mảnh chén kiểu vỡ rất sắc sảo.

Phía trong chánh điện có đặt một bàn thờ, và chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca. Có khoảng 20 tượng phật ở đây; lớn, nhỏ đứng ngồi nhiều tư thế khác nhau, và các gương mặt đều nhìn về hướng Đông để ban phúc [3].

Về kiến trúc, ở đây có 16 hàng cột to chống đỡ mái, và đều được dán bằng gạch men. Trên trần có trang trí họa tiết nhiều màu sặc sỡ, và hai bên bức tường có nhiều tranh vẽ kể về cuộc đời của Phật Thích Ca.











Giữa sân chùa Sà Lôn là một cột cờ với hình tượng rắn thần Nagar xòe 5 đầu, nhắc đến điển tích rắn xòe đầu ra để che mưa cho Phật Thích Ca khi người tọa thiền. Bao quanh khu cột cờ này, là các dãy nhà nhằm phục vụ cho việc tu học của các sư sãi.

Phía sau chùa là Khu vườn Phật Thích Ca. Đây là quần thể kiến trúc gồm nhiều tượng Phật lớn nhỏ, mô phỏng khá sinh động quá trình ra đời, đi tìm chân lý, giác ngộ cho đến khi nhập cõi Niết-bàn của đức Phật ấy.


Và cũng tương tự như những ngôi chùa Khmer khác, tượng các tiên nữ, Krud (hay Garuda), sư tử thần,… cũng được dùng để trang trí tại chùa Sà Lôn.

Hiện nay ngoài số tín đồ Phật tử là người Khmer, chùa Sà Lôn còn thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước đến hành hương hay vãn cảnh.


Một phần đồ gỗ của "Công tử Bạc Liêu" đang được gìn giữ tại chùa
Trong chùa hiện còn lưu giữ một số đồ gỗ được nhà chùa mua lại trong phần gia sản của "Công tử Bạc Liêu" (Trần Trinh Huy) năm 1947, với giá khá cao. Đó là chiếc tủ cẩn xà cừ, bộ trường kỷ cùng 2 chiếc giường ngủ mùa đông và mùa hè. Tất cả đều được chạm, khảm rất tinh tế...[4]. Ngoài ra, trong chùa hiện cũng đang lưu giữ một bộ điêu khắc gỗ tinh xảo.

(TÀI LIỆU TỪ WIKIPEDIA)

ẢNH CỦA NM SL








Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

SÓC TRĂNG- CHÙA KHLÉANG

Chùa Khléang (hay Kh'leang, Khleng)[1] là một ngôi chùa cổ trong hệ thống chùa Khmer ở Nam Bộ; hiện tọa lạc ở số 53 đường Tôn Đức Thắng, thuộc phường 6, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam. Đây là một di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 84/QĐ-BVHTT ký ngày 27 tháng 4 năm 1990 của Bộ Văn hóa và Thông tin.






Theo tài liệu còn đang lưu trữ tại chùa Kh'leang, thì vào đầu thế kỷ 16, từ kinh đô Lô-véc [2], vua của nước Chân Lạp là Ang Chăn đã tổ chức một chuyến đi kinh lý qua các lãnh địa xa xôi của mình ở vùng hạ lưu sông Hậu. Khi nhà vua đến thăm Srok Kh'leang (tiếng Khmer có nghĩa là "xứ có kho"[3], tức tỉnh Sóc Trăng ngày nay)[4] mà không thấy có ngôi chùa thờ Phật nào, ngài bèn ra lệnh cho viên quan coi quản đất ấy tên là Tác (phiên âm từ tiếng Khmer) phải xây dựng gấp một ngôi chùa để dân chúng có nơi hành đạo.

Vâng lệnh vua ban, năm 1532, ông Tác bèn triệu tập các tín đồ và đại diện các "sóc" (srok, có nghĩa là xứ) để kêu gọi mọi người góp công, góp sức xây dựng một ngôi chùa thờ Phật. Sau khi bàn bạc, chùa Khléang (lấy tên đất đặt tên cho chùa) được khởi công xây dựng vào ngày 16 tháng 12 Phật Lịch 2076 (tức vào năm 1532 dương lịch).

Sau khi công trình "bằng gỗ và lợp lá" ấy hoàn thành, ông Tác lại tổ chức hội nghị để chọn nhà sư trụ trì của chùa. Kết quả là nhà sư Thạch Sóc (61 tuổi, thọ giới đã 40 năm, lúc đó đang tu tại chùa Luông Bassac, thuộc phạm vi huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng ngày nay) được chọn làm Trụ trì, đồng thời còn kiêm luôn chức vụ Mê Kôn (chức vụ đứng đầu hội sư sãi của một vùng).

Ngôi chùa đầu tiên ấy đến nay không còn lại dấu tích gì. Ngôi chính điện và sa la[5] ngày nay được xây cất bằng gạch ngói từ giữa thế kỷ 16[6].

Toàn bộ các công trình của chùa Khléang toạ lạc trong một khuôn viên rộng 3.800 m2 có nhiều cây cây thốt nốt, có vòng rào bao quanh, và được trang trí với nhiều hoa văn, họa tiết, màu sắc rực rỡ mang đậm phong cách Khmer. Lược kể một vài hạng mục:

Cổng chính ở đường Tôn Đức Thắng (hướng Đông). Mặt trước mỗi thân cột có gắn tượng vũ nữ Kẽn naarr dang tay chống mái, và trên mái có gắn ba tháp nhỏ. Ngoài ra, chùa còn có một cổng phụ ở đường Nguyễn Chí Thanh.

Chính điện hiện nay nằm dọc theo hướng Đông - Tây [7], và ở vị trí trung tâm với diện tích gần 200 m2. Nền cao hơn mặt đất gần 2 m, gồm ba cấp, mỗi cấp có vòng rào xây bằng gạch. Bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc đều có cửa ra vào. Bộ mái chính điện cũng được xây dựng theo thể thức ba cấp, và mỗi cấp lại có 3 nếp. Bờ viền mái nóc có tượng rồng với thân hình uốn lượn, đầu xòe ra hình rẽ quạt, đuôi cong lên và giao thoa với những đuôi rồng khác. Trên các đầu cột ở hành lang bao quanh chính điện đều có tượng Krud dang tay chống đỡ [8]. Ngoài ra, ở chung quanh chính điện còn có trang trí các tượng thần Teahu[9] và tượng chằn (Yeak).

Bên trong chính điện, bộ khung mái được chống đỡ bằng 12 cây cột to (chu vi 1,10 m), xây theo kiểu corinthien (Cô-ranh-tơ) của Hy Lạp, phủ sơn đen bóng và có vẽ hình rồng, hình cá uốn lượn màu vàng lộng lẫy. Các cửa của chánh điện được làm bằng gỗ khắc cảnh giao đấu giữa giữa tiên nữ và chằn (Yeak)[10] trên nền khung được trang trí hoa văn đến từng chi tiết.

Ngoài ra trong khuôn viên chùa còn có sala, hội trường, nhà của trụ trì, nhà của các sư sãi, các tháp chứa tro cốt, lò thiêu, v.v...

Từ khoảng 1916 (hay 1918) cho đến nay, chùa được trùng tu nhiều lần, gần đây nhất là 1994. Cũng trong năm này (ngày 7 tháng 12), Trường Bổ túc văn hóa Trung cấp PaLi Nam Bộ được đặt trong khuôn viên chùa[11].

Như bao ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer khác, nơi đây cũng chỉ thờ duy nhất là Phật Thích Ca, và trên tường là bức bích họa mô tả cuộc đời vị Phật ấy từ lúc sinh ra cho đến khi đắc đạo.

Đặc biệt, trong số 45 tượng Phật Thích Ca ở đây, có một tượng cao 6,8 m, phần thân tượng cao 2,7 m, ngồi trên tòa sen lộng lẫy, xung quanh bài trí hoa lá, cây trái. Sau lưng pho tượng có tấm bia khắc chữ Khmer ghi: "Đại đức Liêu Đuông, đời truyền thừa thứ 17, trụ trì chùa từ năm 1893 đến năm 1928, đã tạo tượng đức Phật vào năm Phật lịch 2460 với sự cúng dường của gia đình ông Lum Sun"[12].

Hàng năm, bên cạnh các lễ hội tôn giáo, chùa Khléang còn tổ chức các lễ truyền thống của dân tộc Khmer, như lễ Chol Chnam Thmay (lễ vào năm mới, còn gọi là lễ chịu tuổi), lễ Dolta (lễ cúng ông bà), lễ cúng trăng vào ngày 15-10 âm lịch và tổ chức đua ghe ngo...

CHÚ THÍCH
*1- Tên Khléang được đắp nổi ở cổng chùa. Do phiên âm từ tiếng Khmer, nên có nguồn ghi là Kh'leang hay Khleng.
* 2-Longvek hoặc Lovek (tiếng Khmer có nghĩa là "thị tứ" hay "ngã tư") là một thành phố cổ của Campuchia, thuộc huyện Kampong Tralach tỉnh Kampong Chhnang. Nơi đây từng là thủ đô của nước Chân Lạp sau cuộc xâm chiến Angkor của Xiêm La vào năm 1431. Người Việt xưa gọi thành phố ấy là La Bích.
* 3-Srok tức là "xứ", "cõi"; Kh'leang là "kho", "vựa".
*4-Theo thư tịch cổ Khmer thì vào giữa thế kỷ 16, một viên quan tên là Tác đã cho xây dựng một nhà kho để tích trữ sản vật do nhân dân quyên góp tại vùng đất Sóc Trăng ngày nay. Nhân đó, ông đặt tên cho vùng đất mình cai quản là Srok Kh'leang (tiếng Khmer có nghĩa là "xứ có kho", và sau đó ông cũng đã lấy tên đất đặt tên cho chùa). Và khi người Kinh đến, gọi trại âm ra là Sóc Kha Lang rồi sau nữa là Sóc Trăng. Xem thêm đề mục Sóc Trăng.
*5-Sa la là dãy nhà sàn rộng rãi, thông thoáng được xây bên cạnh chánh điện, dùng làm chỗ cử hành lễ dâng cơm cho sư sãi và nơi hội họp của các Phật tử trong các ngày lễ hội.
* 6-Theo Võ Văn Tường, Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam. Nxb Văn hóa-Thông tin, 1994, tr. 405). Trong một bài viết khác cũng của ông Tường, thì ngôi chánh điện được Đại đức Liêu Đuông tổ chức trùng tu vào năm 1916 [1]. Tuy nhiên, theo bài viết "Chùa Kh'leang" trên website Sở Giáo dục-Đào tạo tỉnh Sóc Trăng, thì năm xây lại chùa là 1918 (truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2013 [2]. Vietgle cũng ghi như vậy.
*7-Người Khmer quan niệm kiến trúc quay về hướng Đông với ý nghĩa Phật ngự ở phía Tây nhìn về hướng Đông ban phúc. Xem thêm: "Nghệ thuật kiến trúc Khemer Nam Bộ" của Lê Bá Thanh trên báo Giác Ngộ [3].
* 8-Krud hay Garuda là hình tượng một loại chim thần có mình người; đầu, chân và hai cánh của chim, mỏ ngậm một viên hồng ngọc. Loài chim này là kẻ thù truyền kiếp của rắn. Cho nên, nếu hình tượng khúc đuôi rắn dài và cong vút được đắp trên đầu các góc mái chùa, thì hình tượng Krud được án ngữ ở chỗ tiếp giáp đầu cột với đuôi mái chùa (theo Vietgle [4]).
* 9-Teahu là hình tượng người có bộ mặt hung dữ, hai tay bưng mặt trời hay Mặt Trăng chuẩn bị nuốt vào bụng. Hình tượng này cũng được trang trí trên khung cửa ra vào (theo Vietgle đã dẫn).
*10-Yeak (chằn) trong các truyện cổ Khmer là nhân vật tượng trưng cho cái Ác, thường gieo điều dữ cho con người. Hình tượng Yeak có dáng vẻ của một người mang bộ mặt dữ tợn, miệng to, răng nanh dài, mắt lồi, lông mày xếch. Mình Yeak mặc áo giáp, đầu đội mũ nhọn và tay cầm cái chày dài. Trong nghệ thuật trang trí chùa Khmer, Yeak đã được đức Phật cải hóa và đặt đứng hai bên bậc thềm ở phía trước chánh điện nhằm mục đích bảo vệ ngôi chùa] (theo Vietgle, đã dẫn).
* 11-Ngày thành lập trường căn cứ theo dòng chữ đắp nổi ở mặt sau cổng trường
 .
*12-Theo Võ văn Tường [5]

.
(TÀI LIỆU TỪ WIKIPEDIA)

ẢNH CỦA NM SL










Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA - LÊ ĐĂNG MÀNH VÀ CÁC THI HỮU

 BÀI XƯỚNG


LƯU BÚT HẠ!

Thưa thớt khung trời cánh én chao
Mùa đi cành đượm lá mai đào
Thanh tao sen cựa màu huyền diệu
Khắc khoải cuốc chìa phách khổ đau
Chiều bủa mơ màng hồn khói sóng
Sáng giăng phơi phới ngọn nam Lào
Ve cầm khúc nhạc thời xa vắng
Phượng ứa sắc buồn vẫy bút trao!
LÊ ĐĂNG MÀNH


CÁC BÀI HỌA





LÃO HOÀI
lên chùa mặn nhạt với tương chao
mà ngán thế nhân ngập động đào
nào kẻ chẳng màng đời lợi lộc
khuyên ai đừng nhắc chuyện thương đau
từng quen khói lửa thời trai tráng
đã rát tâm can trận hạ lào
chừ ngoại bảy mươi hoài dĩ vãng
lời thơ khơi động bạn tình trao

LÊ VIÊN NGỌC  Đà Lạt"


Y ĐỀ
Trong trời mây trắng, cánh diều chao
Thanh sắc giao duyên, cụm trúc đào
Bán nguyệt sen hồ, bừng chiếu diệu
Xa đồng tiếng cuốc, giục buồn đau
Chiều buông nhẹ thoảng hồ lan sóng
Sáng dậy phất phơ gió hạ Lào
Hợp khúc ve ngân, buồn trống vắng

Nhớ mùa phượng cũ, bút lưu trao
LÊ VĂN THANH  Bà Rịa


HẠ XA NGƯỜI
Chiều buông vắng cánh én nghiêng chao
Đã biếc hồng sen hết thắm đào
Chộn rộn nàng quyên kêu rộn rã
Não nùng cụ cuốc trổ buồn đau
Ầm ào chát chúa cơn giông Rợ
Ràn rạt khô cong ngọn gió Lào
Cây chặt ve sầu nay lặng tiếng
Xa người đâu nữa phút tơ trao!
PHAN TỰ TRÍ  Biên Hòa
LINH ĐÀI HẠ TIẾT
Gió thổi con thuyền lặng khẽ chao
Dòng thơ sóng vỗ cuộn ba đào
Xanh trời phượng thắm phơi niềm nhớ
Đỏ nắng mây hồng gợi nỗi đau
Những trọn vườn tươi vì mát biển
Ngờ đâu ruộng cháy bởi khô lào
Đêm hè khản giọng lời than cuốc
Vẳng giữa càn khôn bóng nguyệt trao./.
17.04.2015 –

 THÍCH TÍN THUẬN


TUỔI GIÀ
Cuộc đời ngắn ngủi quá, ôi chao !
Vừa mới hây hây cặp má đào
Giờ đã bạc phơ làn tóc rồi
Và còn run rẩy bước chân đau
Mắt mờ khó ngắm vầng trăng sáng
Tai lãng khôn nghe tiếng gió Lào
Gặp mặt bạn bè, nhìn chẳng nói
Tách trà xin cạn nghĩa tình trao.

SÔNG THU Sai Gòn


HẠ SẮP VỀ 
Mấy chú chuồn chuồn sớm lượn chao
Tung tăng tóm muỗi dưới kênh đào.
Nước lành lố nhố mầm sen súng
Quê cũ mênh mông ruộng thuốc lào
Quạt điện giữa nhà reo hạnh phúc
Chăn bông dưới nắng gói buồn đau.
Ngập ngừng giọng cuốc tìm duyên lứa
Bấc gọi nồm nam lững thững trao . . .

TRẦN NHƯ TÙNG  Phú Thọ


NGHỀ NÔNG
(họa chuyển vận)
Mướt xanh tít tắp cánh cò chao
Sóng gợn lăn tăn khúc lạch đào
Chim bói chờ thời mong cá vẫy
Chuồn kim đợi vận ngóng mồi trao
Ngày đông vất vả vì mưa bấc
Tháng hạ lao đao bởi gió lào
Cuộc sống bộn bề nhiều khổ ải

Tình quê hội tụ những cơn đau
.


TRẦN VĂN HẠNG  Q Trị


XUÂN VIỂN XỨ
Chim én trời xa lượn cánh chao
Nắng xuân mơn nhẹ búp anh đào
Nhớ người quê cũ lòng xao xuyến
Thương bạn đường xa  dạ đớn đau
Gió thổi bên sông chờ ngọn bấc
Sương rơi hiên vắng tưởng mưa lào
Tha hương khắc khoải hồn non nước
Lẽ bóng mong hoài  chén rượu trao

        NHÃ MY USA




HẠ CA

Hương cau thoảng thoảng bướm lượn chao
Xuân tiễn ngàn hoa ngẩn sắc đào
Lặng ngắm vầng dương bừng nhịp sống
Hoài nghe điệu cuốc tỏ niềm đau
Chơi vơi ngần sóng triền đông dạo
Xào xạc muôn cây quyện gió Lào
Khúc nhạc trưa hè ve điểm tấu
Trời mây xanh trắng hạ tình trao.
Quảng trị 19/4/2015

VĂN THIÊN TÙNG


Nguồn : từ email của TG  Lê Đăng Mành gửi lamngoc
NM cảm ơn Lê huynh và các thi hữu đã chia xẻ những bài thơ xướng họa hay


Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

SÓC TRĂNG- CHÙA ĐẤT SÉT

Ảnh của NM SL









   

      Dọc theo con đường Tôn Đức Thắng thuộc địa bàn khóm 1, phường 5,  đến số 163A là một ngôi chùa nhỏ nằm bên tay phải có hàng chữ Hán với tên chữ “Bửu Sơn tự” -寶山寺 được khắc trang trọng đặt tại cổng chính của chùa. Nhưng người dân quanh vùng vẫn quen gọi với cái tên giản dị “chùa Đất Sét”, nơi lưu giữ hàng ngàn pho tượng đều được làm từ đất sét.
     Theo như lời kể của các vị cao niên, trước đây Bửu Sơn tự chỉ là một am nhỏ được xây dựng vào đầu thế kỷ XX cách đây hơn 100 năm của dòng họ Ngô tự lập để tu tại gia. Mãi đến đời trụ trì thứ tư, ông Ngô Kim Tòng (1909 – 1970) am nhỏ được tôn tạo, mở rộng thêm để có ngôi Bửu Sơn tự như bây giờ. Bửu Sơn tự có diện tích khoảng 400m2  với kiến trúc chân phương cột gỗ mái tôn. Điều đặc biệt ở ngôi chùa này là hàng ngàn tượng Phật và hình thú được thiết kế hết sức sinh động làm bằng đất sét do Ông Tòng đã miệt mài sáng tạo trong suốt 42 năm (từ 1928 đến 1970). Du khách đến thăm chùa Đất Sét ai cũng trầm trồ thán phục và ngưỡng mộ bậc kỳ tài đã dùng tâm quyết cả đời và lòng mến mộ Phật pháp đã sáng tạo ra công trình đầy kỳ công này.
 Khi còn nhỏ, Ông Ngô Kim Tòng hay đau ốm bệnh tật. Đến năm 1929, lúc ấy Ông 20 tuổi thì lâm bệnh nặng tưởng không qua khỏi, gia đình chỉ còn cách đưa ông Tòng lên ngôi chùa trên núi thuộc tỉnh An Giang để chữa trị và cầu khấn trời Phật. Vừa uống thuốc vừa tập ngồi thiền, tĩnh tâm, dần dần ông đã khoẻ lại và đã quyết tâm đi tu khi mới ở tuổi 20. Khi còn trẻ, Ông Ngô Kim Tòng đã có thiên hướng say mê nặn tượng lấy nguyên mẫu từ những bức hoạ đơn sơ trên bàn thờ Phật của cha, những vật dụng hàng ngày, cây trái quanh nhà đã trở thành đề tài phong phú cho ông thả sức nặn với chất liệu chủ yếu là đất sét quanh vùng. Sau khi lành bệnh ông đam mê vào nặn tượng và thay cha gìn giữ chăm sóc ngôi chùa từ những năm 1930 đến 1970. Với lòng say mê hiếm có, ông Tòng đã miệt mài vừa làm, vừa học mày mò tìm kiếm các công thức, phương pháp để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật vô giá trên mà không hề đi học ở một lớp đào tạo nào. Chỉ là những trải nghiệm dân gian, ông đã tạo nên những công trình kỷ vật điêu khắc bằng đất sét có giá trị lịch sử tôn giáo vô cùng quý hiếm.
     Nguyên liệu dùng cho việc nặn tượng chủ yếu bằng đất sét, do Ông Tòng đào từ những cánh đồng cách chùa vài cây số, đem về phơi khô, rồi bỏ vào cối dùng chày giã nhuyễn cho mịn ra, lọc hết tạp chất, rễ cây, rễ cỏ, lấy đất mịn trộn cùng mạc cưa làm nhang (bột hương) và keo ô dước tạo thành một hỗn hợp dẻo thơm. Lúc đó, Ông mới bắt đầu nắn tượng, những bức tượng mịn màng, không nứt nẻ. Ngoài ra, Ông còn nghiên cứu và ứng dụng cách đỡ cho việc nặn tượng đạt yêu cầu thẩm mỹ cao, Ông đã dùng lưới kẽm, cây gỗ dựng sườn, sau đó dùng vải mùng bao lại và đắp nguyên liệu hỗn hợp làm tượng lên, bề ngoài được phủ bằng một lớp sơn nước kim nhũ và dầu bóng. Không chỉ có đôi tay khéo léo, tài hoa mà với tư duy tưởng tượng vô cùng phong phú của ông hàng trăm bức tượng lớn, nhỏ được hình thành mà không trùng lắp. Mỗi tượng một vẻ, thể hiện rõ cái thần sắc trên từng khuôn mặt. Đó còn là kết quả từ cái tâm của người có lòng hướng Phật, sự miệt mài cần mẫn, lặng lẽ nhưng mang lại vị ngọt cho đời.
     Bước qua cổng tam quan của chùa thẳng theo con đường bê tông vào cửa bên hông, ta sẽ bắt gặp một chú voi to màu trắng cao khoảng 2m như đón chào khách tham quan, sau đó đến gian chính thờ Phật. Nét tiêu biểu trong cách bố trí tượng Phật ở đây nói lên tư tưởng “Tam giáo cộng đồng” (Phật-Nho-Lão) với hệ thống Phật: A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Khổng Tử, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Lão Tử, Phật Di Lặc,.…
     Ông Ngô Kim Tòng còn tạo nên các tác phẩm khác như: tháp Đa Bảo được làm 1939 lúc ông mới 30 tuổi, cao khoảng 4m được thiết kế hết sức tinh vi. Tháp có 13 tầng, mỗi tầng có 16 cửa, mỗi cửa có một tượng Phật, tổng cộng tháp Đa Bảo có 208 cửa, 208 vị phật và 156 con rồng đỡ từng mái tháp. Phần dưới chân tháp thờ Đại Thừa Diệu pháp Liên hoa Kinh, tượng trưng cho Ngọc Xá Lợi của Phật. Kế bên là “Bảo tòa thỉnh Phật trụ thế truyền tháp luân" hay gọi là “Bảo Tòa Liên Hoa”. Bảo tòa có một tòa sen gồm 1000 cánh sen và trong mỗi cánh sen có một vị Phật ngồi tọa thiền. Phía dưới đài sen lại có “Bát quái Thiên tiên” gồm 8 cung, đó là “Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài”, mỗi cung có hai tiên nữ đứng hầu, dưới đài sen và Bát quái lại có Tứ đại Thiên Vương trấn giữ. Nhìn tổng thể tòa tháp và đài sen này, du khách sẽ nghĩ ngay đến một nhà điêu khắc tài ba lỗi lạc đã tận dụng giáo lý Phật pháp để sáng tạo ra những pho tượng biết nói ý Phật.
Trong gian thờ phía trên trần nhà, có treo một chùm đèn gọi là “Lục Long Đăng” cũng bằng chất liệu đất sét, gồm ba chóp đỉnh với 6 con rồng uốn cong như tượng trưng cho lục tỉnh miền Tây Nam bộ, đuôi chụm vào nhau, đầu trổ ra các phía. Thân rồng được làm hoàn toàn bằng đất sét với nhiều chi tiết tinh xảo, nên trọng lượng khá nặng. Đáy đèn là một tòa sen lặt úp tỏa cánh xuống điện thờ, cánh sen khá mỏng nhưng theo dấu thời gian Lục Long Đăng không hề rơi hay sứt mẽ tí nào. Đây là một kiệt tác nghệ thuật hiếm có và là tác phẩm cuối đời của Ông.
     Chung quanh chùa, góp phần canh giữ cho hệ thống các tượng Phật, còn nhiều tượng thú cũng bằng đất sét, nổi bật nhất và sắc sảo nhất là cặp Kim Lân đang ngẩng cao đầu trước bệ thờ giữa điện, ngậm trái trân châu, chân gác lên quả cầu trông thật oai phong lẫm liệt, thêm tượng Thanh Sư, Bạch Hổ, Long Mã,.. con thì hiền lành con thì hết sức oai phong.
     Chùa Đất Sét không chỉ nổi tiếng bởi hàng ngàn bức tượng làm bằng đất sét mà còn được du khách biết đến bởi 04 cặp đèn cầy (nến) khổng lồ khá đặc biệt. Những năm cuối đời Ông Ngô Kim Tòng không đúc tượng mà tiến hành đúc đèn cầy dựng trong chính điện chùa. Ông mua sáp bạch lạp – loại sáp nguyên chất không lẫn tạp chất từ Sài Gòn về (có nguồn gốc từ Pháp gọi là parafin), chặt vụn sáp nguyên khối nấu chảy ra rồi mới đúc đèn. Do các đôi đèn này có kích thước quá lớn nên ông Tòng đã dùng tôn lợp nhà làm khuôn, sáp đổ vào chảo lớn nấu liên tục ngày đêm cho nóng chảy rồi đổ vào ống tôn có chiều cao 2,6m, phía ngoài khảm thêm chữ và hình rồng vàng lúc ẩn, lúc hiện uốn lượn theo thân đèn. Sau một tháng, các đôi đèn mới khô hẳn, khi dỡ bỏ khuôn, các đôi đèn này tự nhiên có hình dợn sóng của các tấm tôn. Mấy tháng ròng liên tục làm như vậy ông đúc được sáu cây đèn cầy lớn (3 cặp), mỗi cây nặng 200 kg, ước tính mỗi cặp cháy liên tục ngày đêm phải mất hơn 70 năm và hai cây đèn cầy nhỏ mỗi cây nặng 100 kg, Cặp đèn cầy này được thắp lên vào ngày 18 tháng 07 năm 1970, kể từ ngày ông Ngô Kim Tòng viên tịch; đến nay đã hơn 40 năm. Ngoài ra, trong chùa còn lưu giữ 3 cây nhang (hương) mỗi cây cao 1,5m, nặng 50kg, nếu thắp lên chắc vài năm mới tàn.
     Chùa Đất Sét không nổi tiếng về kiến trúc xây dựng bên ngoài cũng như không quy mô bề thế về diện tích nhưng lại là một ngôi chùa độc đáo. Trong tâm niệm của du khách gần xa, đây được xem là ngôi chùa khá đặc biệt ở Việt Nam vì có trên hàng ngàn pho tượng lớn nhỏ đều được làm từ đất sét, và những cặp đèn cầy và những cây nhang khổng lồ chưa đốt. Chùa Đất Sét cũng là nơi “tịnh tâm” lý tưởng cho mọi du khách, thoáng mát, yên tĩnh mà vẫn toát lên tấm lòng ấm áp nghĩa tình như con người của quê hương Sóc Trăng. Với những nét đẹp ấy, ngày 10 tháng 12 năm 2010 UBND tỉnh Sóc Trăng đã công nhận Bửu Sơn tự (chùa Đất Sét) là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh. Với những đặt thù độc đáo của những tượng phật, hình thú, những cặp đèn cầy, cây nhang,…Bửu Sơn tự xứng đáng  được xét đưa vào danh sách kỷ lục của Việt Nam.
 (Tài liệu trên net)