CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 21 tháng 6, 2018

CHÙM THƠ KIẾM KHÁCH




















TIẾNG VỌNG TRƯA HÈ

Hè trưa nắng ngủ một mình
Thinh không như thể lặng thinh tự tình
Ta nghe cây lá im nhìn
Gió không phe phẩy bực mình mỏi tay
Dòng sông phả một hơi dài
Cho con gà gáy lạc vài tiếng côi
Vườn ai đổ giọt mồ hôi
Võng nghe kẽo kẹt bồi hồi nhớ quê
Dáng cha chân đất đi về
Mang theo giọng mẹ cận kề ngồi bên



KHÚC HẬU ĐÌNH HOA

Xót lòng khúc Hậu Đình Hoa
Eo sèo non nước quan hà chuốc say
Xót lòng muối mặn gừng cay
Mùa thu lá đổ anh hào nơi đâu
Quầng đen màu mắt thêm sâu
Năm canh trống vắng lạnh lùa thấu xương.


Hình ảnh có liên quan



GIỌT EM NGÀY ẤY LĂN DÀI MÁ MÔI

Sông sâu thì mặc thuyền mành
Ngăn sông đóng đáy hứng cành hoa rơi
Phất phơ cọng rể cây gừa
Cũng như tơ tóc cột vừa chiêm bao
Gió lay tạt ngọn mưa rào
Tạt qua hiên lá lạnh vào đâu đây
Tróng trơn một khoảng trời mây
Giọt em ngày ấy lăn dài má môi.

KIẾM KHÁCH

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018

NGẪM CHIỀU - BÀI THƠ ĐỘC ĐÁO CỦA BÙI CỬU TRƯỜNG - ĐẶNG XUÂN XUYẾN


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
21:25 (22 giờ trước)
tới Phu, Trác, Thuong, tôi, Da, Giống, Trần, Xuân, Nguyễn, Vu, PV




Ảnh tác giả Hạt Cát Bùi Cửu Trường



NGẪM CHIỀU - BÀI THƠ
 ĐỘC ĐÁO CỦA BÙI CỬU TRƯỜNG
*
NGẪM CHIỀU
.
1- tơ nhện thả mành
nà nuột
mưa rớt giọt
lộp độp hè cánh đỏ phượng rơi.
.
lòng rối bời 
dạ rối bời
lắng lo nỗi bòng bong rối
liêu xiêu bước vội 
bàn chân ai lối về.
.
canh hẹ cuộc đời hắt bến mê
bông lau tóc xoã vạt chiều héo úa
bàn tay thõng rớt niềm tin vụn vỡ
hạt đất buồn xa xót ngọn cỏ côi.
...
.
2 - Bỏ lại muộn sầu đi nhặt niềm vui
hít hà hương lá
vói rẻ quạt ráng hồng quạt gió
xoe búp trời thiên thanh
.
Bỏ lại bộn bề về tĩnh tại mình
tiếng mõ cá quyện chiều lam khói
chuông đồng vọng thinh không vòi vọi
Thơ.
.
3 - đời - mơ
trong vắt.
*.
Hà Nội, 02.03.2018
BÙI CỬU TRƯỜNG


LỜI BÌNH:


Ngẫm Chiều là bài thơ của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường, được sáng tác vào ngày 02 tháng 03 năm 2018 nhưng mãi tận chiều qua, 16 tháng 06 năm 2018 tôi mới có cơ duyên được đọc Ngẫm Chiều trên trang facebook của bà.
Ngay từ những câu đầu của khổ đầu bài thơ, Ngẫm Chiều đã gây ấn tượng đặc biệt với người đọc qua những chấm phá khá độc đáo:
“tơ nhện thả mành
nà nuột
mưa rớt giọt
lộp độp hè cánh đỏ phượng rơi.”
Thơ tự do, phóng bút, không chú trọng vần điệu, không gò bó hình thức. Hình ảnh đẹp, lạ, gợi những nét huyền bí, liêu trai.
Tiếp theo, là: “Lòng rối bời/ Dạ rối bời”, chủ ý ngắt ra từ “lòng dạ rối bời” thành 2 câu riêng biệt, đồng nghĩa, để nhấn nhá, đẩy lên cao tâm trạng bồn chồn, sốt ruột, với ngổn ngang những lo lắng chồng chéo, đan xen, khó tháo gỡ, khiến bàn chân “liêu xiêu bước vội”. Nhịp thơ thật riết róng, dồn nén, ngắc ngứ, rưng rức xót lòng trong “chiều bời rối”, và những phảng phất nét cô liêu với đau đáu nỗi niềm “bàn chân ai lối về”, khiến người đọc cũng nghẹn lòng, thảng thốt:
“lòng rối bời 
dạ rối bời
lắng lo nỗi bòng bong rối
liêu xiêu bước vội 
bàn chân ai lối về.”
Tâm trạng hụt hẫng, xa xót được đẩy xa, sâu hơn, bởi những hình ảnh: “tóc xõa vạt chiều”, “bàn tay thõng”, “ngọn cỏ côi”... mang mang gam trầm buồn, của tâm trạng xáo trộn bất ổn, muốn thõng tay buông bỏ tất cả, quên đi tất cả, đã tạo nên một bức tranh sống động mà trầm mặc, u uẩn mà da diết.
Không chú trọng vào gieo vần, cứ thả cho mạch thơ tự nhiên trôi theo dòng cảm xúc nhưng nhà thơ Bùi Cửu Trường lại thật cẩn trọng khi chọn lựa, sắp xếp câu chữ, với những động từ: “hắt”, “xõa”, “rớt”, “vỡ”... được đặt đúng tâm trạng, đúng ngữ cảnh, khiến nỗi đời, nỗi người của cõi người đã đau càng đau se sắt, và đẩy câu thơ bay lên, thấm nhẹ nhàng vào trái tim người đọc:
“bàn tay thõng rớt niềm tin vụn vỡ
hạt đất buồn xa xót ngọn cỏ côi.”
Hai câu thơ thật hay, mà buồn, xót xa lắm.
Rồi, nhà thơ “Bỏ lại muộn sầu đi nhặt niềm vui/ hít hà hương lá”, để tĩnh tâm trước cõi người nơi trần tục còn lắm khổ lụy, phiền não, để buông bỏ nhẹ nhàng nhưng dứt khoát những tham - sân - si - ái - ố của chúng sinh mà gửi hồn vào “tiếng mõ cá quyện chiều lam khói/ chuông đồng vọng thinh không vòi vọi”, mà mong được an lạc nơi cõi Thiền.
Sắc - Sắc - Không - Không, đời người là bể khổ trầm luân, đạt tới “đời - mơ/ trong vắt” là đạt tới cảnh giới. Ước mơ đó đâu phải chỉ là của riêng nhà thơ Bùi Cửu Trường?!
Ngẫm Chiều là bài thơ với thi tứ hay và lạ, cách sử dụng từ ngữ khá độc đáo, nhất là cách nói ngược: nà nuột / cánh đỏ phượng / lắng lo / vụn vỡ / xa xót / muộn sầu / bộn bề / chiều lam khói... được dùng như là thủ pháp chính đã tạo ấn tượng thật đặc biệt với người đọc. Hay hay không hay là tùy thuộc vào cảm nhận của riêng mỗi người nhưng với người viết, thì NGẪM CHIỀU là một bài thơ hay, rất đáng đọc.  
*
Hà Nội, 17 tháng 06 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2018

LÊ THIÊN MINH KHOA, THƠ GĂM KỶ NIỆM, THƠ LÀ CUỘC VUI - HOÀNG QUÝ


Minh Khoa Lê Thiên
Tệp đính kèm19:31 (1 giờ trước)
tới BÔNG, phuoc, Ngạc, BAOTHANG_XUANX., tôi
CÁC ANH CHỊ THÂN MẾN!
 Minh Khoa vừa in xong tập thơ, nhưng theo quy định mới, phải đợi NXB cấp QĐ phát hanh sau khi nộp lưu chiểu mới gởi tặng  thân hữu và phát hành ra thị trường được. Vì ở xa nên khi đó, MK sẽ xin địa chỉ chính xác của các anh chị để gởi EMS.
   hôm nay, Minh Khoa gởi Bài bình về tập thơnầy  của nhà thơ Hoàng Quý, nhờ các anh chị tùy nghi giới thiệu giùm,
Cảm ơn các anh chị.
Kính chúa vui khỏe, may mắn và thành công.
Thân ái.
LTMK



BÌNH THƠ:


LÊ THIÊN MINH KHOA, 
    THƠ GĂM KỶ NIỆM, THƠ LÀ CUỘC VUI.
                                                                    Hoàng Quý

   




C:\Users\TTC\Pictures\LANG LE TOI (13,5 x 20,5) - chính thức để in..jpg


   Tập thơ mới  “LẶNG LẼ TÔI” của Lê Thiên Minh Khoa.                                     
     
      1.

     Một sáng nắng nóng, Lê Thiên Minh Khoa tới thăm tôi. Chưa kịp tắt máy và dựng xe cho ngay ngắn, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cười một nụ bắt mắt, Khoa nói “quấy anh đây”. Khoa hấp tấp moi trong bao xốp một tập giấy đóng bìa nghiêm ngắn, rồi bảo: “Em sẽ in tập thơ mới (*), anh giúp em vài dòng”. Sao lại giúp. Với Lê Thiên Minh Khoa dễ gì từ chối được. Thực thì, giữa tôi và Lê thi sĩ nói rất thân thì chưa hẳn, nhưng tôi yêu quý Khoa bởi cái tâm tính cởi mở, cái tình yêu văn chương hơi hơi cuồng si, cái cách yêu bạn, yêu người ngất ngư như rượu nóng, và, những bài thơ hồn hậu găm đầy kỷ niệm, đặc biệt những bài lục bát ngẫu cảm rất nhiều đặc sắc, rất… Lê Thiên Minh Khoa.
    Tôi vẫn nhớ cái ngày anh Xuân Sách giới thiệu các tác giả chuyển sinh hoạt về Hội Văn nghệ Bà Rịa - Vũng Tàu từ Đồng Nai. Khoa ngồi lặng yên giữa những Dương Cao Tần, Trường Thanh, Phạm Thị Nguyệt Cầm và hơn chục cây bút khác. Cái “thằng chả” đầu tóc bù rối như tổ quạ, đánh một bộ sơ mi khá bảnh mà xem chừng cứ lôi thôi ngượng nghịu thế nào, chỉ được nụ cười là đáng kể. Thế mà, cũng đã ngót nghét hai mươi năm chúng tôi từ biết tên, chào hỏi e dè đến a lô luyên thuyên với nhau quên cả vợ sẽ nhăn nhó trả tiền điện thoại.                                                         

     Tháng 7 năm 2011, Hội Văn nghệ BR-VT tổ chức chuyến đi Đất Mũi. Cái đêm dừng nghỉ ở một khách sạn cáu cạnh, xây trên vùng lấn biển Kiên Giang, tôi và Trịnh Sơn được bố trí ở chung trong một phòng góc, lầu 7. Cái phòng góc bé bằng hộp diêm chỉ kê vừa cái giường gọi là giường đôi vì chắc chắn nó chỉ nhin nhỉnh hơn cái giường một và cái bàn hai ghế vuông hoành tráng. Chả biết Lê Thiên Minh Khoa ở phòng nào. Mà ở phòng nào, ở với ai chắc gì hắn đã nhớ. Hắn qua “ở trọ” phòng chúng tôi trọn đêm, chuyện giời chuyện bể hồn nhiên, phun khói thuốc mù mịt và say lãng đãng. Đêm ấy tôi mới biết nơi sinh Khoa là làng Trung An, Gio Sơn, Gio Linh, Quảng Trị. Có lẽ tôi quý Khoa nhiều hơn từ đêm ấy. Quảng Trị - những năm lửa cháy tôi từng có lần bị bom và đạn pháo vùi. Nhiều đồng đội tôi đã nằm xuống đó. Và cũng ở đó tôi sống được nhờ các mẹ, các chị bới tìm trong mấy lớp cát đất của một trận pháo bầy.
      Nhưng thôi, “day đi dứt lại” có khi buồn hơn, có khi đối mặt cái hiện hữu dành giật, thực dụng, quay quắt, trí trá, trợn bợm… mà chìm lặng trong bấu níu xa xăm cũng chẳng để làm gì.  ́y thế mà Khoa đã đọc thơ tôi, đọc cả một seri làm tôi hết sức cảm động, cảm động đến sửng sốt suốt trắng đêm anh “ở trọ”, đọc bằng ngữ điệu Quảng Trị nằng nặng, đọc cay mắt và trầm tư: “...Bao đồng đội tôi đã nằm trong mồ/ Đêm đêm hiện hồn về gõ cửa/ Đạn găm đầy hình hài/ Nỗi đau không nói được/ Bông cúc ta từng hái ở mùa thu/ Khô xác gần ba mươi năm trong ba lô cóc cũ/ Ta cầm lại tên tay như cầm lửa chiến tranh/ Chả vàng được cho ai - Hoa cúc!”. Bạn yêu tôi đến thế, viết thế nào cho tập thơ mới của bạn đây? Hồi cố cái đêm Khoa đọc thơ tôi trong căn phòng bé bằng hộp diêm rả rích mưa tháng bảy tôi biết rằng cái sự Khoa đường đột yêu cầu viết lời mở cho tập mới cùa anh làm tôi nhiều đắn đo, lo lắng và ngại ngần, rằng có thể vài dòng tản mạn tôi viết về thơ bạn sẽ không thấu đáo.

        2.

     Tập thơ Lặng lẽ tôi  Lê Thiên Minh Khoa chia thành 3 phần, gồm: Lặng Lẽ. Lãng Đãng và Tri  Âm.
     Ngọai trừ các nhạc phẩm của các nhạc sĩ bạn hữu phổ thơ Lê Thiên Minh Khoa được Khoa chọn in đan xen lưu làm kỷ niệm, phần Lặng Lẽ gồm 54 bài thơ tự do mà Khoa gọi là THƠ ĐỜI THƯỜNG, phần Lãng Đãng 34 bài lục bát, phần Tri  m gồm những chọn lọc từ nhiều lời bình hoặc bài phê bình của các tác giả viết về thơ Lê Thiên Minh Khoa. Mở đầu cho phần đầu-  Lặng Lẽ:
“Trở về thành phố cũ tìm em
Lặng lẽ mưa bay về ngôi nhà cổ
Phải phiêu bạt qua bao mùa dâu bể
Em sang ngang đã mấy chuyến đò rồi!...

Trở về thành phố cũ tìm nhau
Như Từ Thức trở về cố xứ
Bạn học cũ đứa chân trời góc bể
Đứa tuổi xuân cát bụi lâu rồi!...”
                                    (Lặng lẽ tôi)
      Bài mở đầu cũng là bài mang tên tập. Tôi bị cuốn vào cái cảm giác se se từng gặp trong thi tập Thị trấn tôi (NXB Thanh Niên) mà Khoa đã viết và in 16 năm trước, năm 2002. Vẫn một giọng kể ấy, trầm lắng không ồn ào, hằng quen mà rất nhiều xúc động:
“Chỉ còn tìm đến giáo đường xưa
Mưa tháng bảy lạnh hơn ngày trước
Không có em, liễu rủ hoa tái nhợt
Thánh giá nghiêng buồn trong tiếng chuông nghiêng!...”
                                   (Lặng lẽ tôi)
       Dường như trong thơ Lê Thiên Minh Khoa, vài nét găm người bạn anh trọng thị, một góc vườn xưa cô vắng rơi hoa, một
thoáng tái tê người văn bóng khuất, một bâng khuâng chưa rõ hình hài… đều tô điểm cho thơ Khoa, và, Khoa chỉ có thể dụng thơ, mượn thơ như cách duy nhất để gọi tên những nỗi niềm thi sĩ:
“Người đi không ngoái
Bụi mờ tóc râu
Môi hồng bỗng nhợt
Mắt huyền xa ơi!…”
                                    (Biệt ly)

“Khóc Nguyệt Cầm thấm thía câu thơ:
“Phong vận kỳ oan ngã tự cư”
Nguyệt ơi, Trăng lạnh chừ khuất núi
Vàng khô ở lại nhớ xanh xưa!
                                    (Khóc Nguyệt Cầm)
Đây nữa:
“Tôi trở lại vườn hoa trắng ấy
Khu vườn xưa hoang lạnh bóng người
Chỉ hoa trắng gieo buồn tuyết điểm
Người xưa sang vườn khác lâu rồi
                                   Trăng xưa)
Rồi đây nữa:
“Suối lặng lẽ chảy vào mù sương
Sương lững lờ trôi theo gió thổi
Anh lặng lẽ chảy về em mòn mỏi
Em thành mù sương…
                                  bay…
                                              trôi…”
                                     (Mù sương)
      Cái âm hưởng dìu dịu tràn chảy trong mục phần Lặng Lẽ đậm dấu ấn trong nhiều bài thơ cảm thức cố nhân, vết chấm phá quá vãng mơ mê không mặc định, như đứng ngoài sự sắp đặt. Có lẽ
bởi thế, nó tạo cho thơ Khoa một cách diễn đạt mềm mại, một bút pháp trữ tình nhiều bản năng, những thoảng buồn ướp men, giọng du dương tự sự dễ chịu, nhi nhiên, giản dị, êm đềm:
“Em áo tím phượng chiều thu tím
Anh bâng khuâng năm ngả bâng khuâng
Bằng lăng tím nhòa bên hồ vắng
Mấy ngả đường hoa tím mù sương”
                                      (Đà Lạt tím)

“Chưa bao giờ anh làm thơ tặng em
Nhưng không một lần nghe lời hờn trách
Vì người đẹp trong vần thơ anh viết
Có bóng hình thời con gái của em!...”
                                      (Đồng điệu)
    Lê Thiên Minh Khoa cũng giới thiệu những thử nghiệm khác của anh ngay trong phần Lặng Lẽ của thi tập. Anh thử nghiệm Thơ Ba Câu trong các bài “Động viên”, “Đêm và gió”, “Chẳng lẽ”, “Trăng, em và tôi”. Anh cũng lại thử nghiệm một số bài thơ có sắc thái chính luận hoặc thơ văn xuôi như “Điệp khúc Nhân dân”, “Lời nguyền của người ở ngoài vùng phủ sóng” v.v.. Tuy nhiên, tôi có cảm giác loạt bài thơ này đang là sự tìm tòi và chỉ mới manh nha một khởi đầu. Các bài thơ tạo nên dư ba là những bài Khoa viết bằng nhịp thơ đã nhuần nhuyễn với cảm xúc gây men, bằng điệu hồn thúc bách. Vượt thoát cái hằng quen để bước đến những không gian khác của thi ca luôn luôn là mong mỏi, là ý thức của nhiều nhà thơ. Tất nhiên.

       3.

   Những bài thơ hớp hồn tôi nhất là Lục Bát Lê Thiên Minh Khoa! Có một chút gì đó như biến ứng mà tôi gọi là “Từ điển ngôn ngữ Bùi Giáng bắc sang Lục Bát Lê Thiên Minh Khoa” mà vẫn là Khoa, rất… Khoa:
“Và anh uống rượu bây giờ
Là trăm năm rớt bên bờ tử sinh
      Và anh uống rượu một mình
Là anh uống với bóng hình em thôi
      Và anh chén rượu mồ côi
Là tôi cộng lại với tôi hai người
      Và anh chén rượu em mời
Là em cộng với tôi rồi bằng không

      Và anh ngó em tắm rằm
Xiêm y rớt xuống, bóng trăng say mèm”
                                             (Và anh…)
   Giời ạ. Bài lục bát hay ngất ngư tôi không còn biết diễn đạt tâm trạng mình khi được thưởng thơ thế nào. Thì đấy, cái váng vất “Từ điển ngôn ngữ Bùi Giáng” phiêu trong từng câu tượng hình ngay kia Khoa đã dụng dụng thành. Nó “ngon, thơm, đê mê” như một ly cocktail pha theo cách Lê Thiên Minh Khoa bằng tinh liệu chắt gạn trong kho hương ngôn Bùi Giáng và hương ngôn họ Lê. Hình như không chỉ Khoa, nhiều thi bản tôi đã đọc của thi sĩ A Khuê và các thi sĩ cùng thời với ông đều có dư vang âm hưởng thiên bẩm họ Bùi. Tôi coi đấy là tiếp nối tinh hoa được bắc tới từ người xưa. Cái khó là khi tiếp nối các tài nhân anh dụng thế nào?!
    Hình như, cứ với lục bát là Lê Thiên Minh Khoa thăng hoa, là lơ lửng say, là không “lành” được nữa trước thói người, thói đời:
 “Rồi Tiên cũng bỏ Ta bà
Phòng văn còn một Ta và Ma thôi
     Đầu hè một Quỷ lơi bơi
Phật vỗ vai Chúa trốn đời đi hoang”
                                (Còn lại)

     Khi xưa Tiên ở trên trời
Yêu người trần thế Trời dời xuống đây


     Người trần khi tỉnh khi say
Nên Tiên chán ngán lại bay về trời
                                 (Còn lại 2)

    “Là ai tâm Phật thân Ma
Nhập nhòa một bóng chợt xa, chợt gần
      Chợt phong vân, chợt phù vân
Thương đời, đời loạn, thương thân, thân nhàu!
                                  (Là ai)
    34 bài lục bát trong phần thứ 2: Lãng đãng, Khoa chỉ coi như những bài thơ viết trong những khoảnh khắc hoa ngôn, những khoảnh khắc tài tử, những khoảnh khắc phóng bút. Nhưng với tôi, 34 bài lục bát trong tập này của Khoa là tinh hoa thơ Lê Thiên Minh Khoa. Chỉ với lục bát hồn Khoa, hoạt ngôn Khoa, thi ảnh, thi hình, tư tưởng, chất giang hồ tài tử mới phát lộ, nhiều bài phong nhiêu liêu trai. Buồn tanh mà cao ngạo đấy. Êm ái mà sóng ngầm. Đùa cười mà rớt lệ giữa cuộc vui:
     “Đôi khi bỏ bể về rừng
Ngó anh cọp ốm, chợt lòng từ tâm
     Nửa chừng sương rót lâm râm
Một, hai, ba, bốn, năm châm giọt buồn!...”
                                  (Đôi khi)

“Và em
Và tôi
Và thơ
Và dăm ly rượu
Và chờ đêm qua

Và Không
Và Phật
Và Ma
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi

Và em
Và tôi
Và ai
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm
Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người…
                              (Và em…)

     Còn xưa mây thả lưng đồi
Còn em mấy độ thu rồi chưa bưa
    Nghe chừng ngượng ngập chân đưa
Nghe nay nằng nặng, nghe xưa nhẹ hều!…
                              (Còn xưa)
   
           Có khi, đọc Lục Bát Lê Thiên Minh Khoa chả cần lời bình. Tôi những muốn thưa rằng có một vườn Lục Bát Lê Thiên Minh Khoa tươi an nhiên trong cánh đồng Thơ Việt. Vườn lục bát của họ Lê luôn luôn hiện lộ và tỏa hương sắc riêng. Thứ hương thơm ấy có quyền dán nhãn  Made in Lê Thiên Minh Khoa!
                                                      Vũng Tàu, tháng 6/2018
                                                                                     HOÀNG QÚY
--------
(*): LẶNG  LẼ TÔI  (Lê Thiên Minh Khoa- tập thơ- NXB Hội Nhà Văn- tháng 6.2018).

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

TA NÉN CẢ HỜN CĂM ĐẦU NGỌN BÚT - THƠ LANG TRƯƠNG

Truong Lang <langtruongdaosi@gmail.com>
19:05 (13 giờ trước)
tới tôi

Kết quả hình ảnh cho ảnh liếm giày



TA NÉN CẢ HỜN CĂM ĐẦU NGỌN BÚT 
( Vô cùng khinh bỉ gửi bọn tham quan ô lại và bọn bồi bút, văn nô ) 

Hãy nghe đây, hỡi giống nòi phản quốc ! 
Tiếng oan khiên đã dậy khắp sơn hà  
Tiếng ai oán của những oan hồn trong tiềm thức 
Tiếng thảm thiết kêu gào của thịt nấu nồi da. 

Lũ các ngươi không ngớt lời phỉ báng 
Nào Quý Ly, nào Chiêu Thống đê hèn 
Lũ các ngươi cũng hùa nhau chửi mắng : 
“  Rước voi về, giày mồ mả ông cha ”

Hãy rửa tai nghe đây, 
nghe thật rõ lời ta :
Chẳng đấng quân vương nào dâng giang sơn cho giặc 
Đã xông trận là vươn mình đứng thẳng 
Chưa từng cúi đầu nhận tiếng: “ Đứa con hoang ”. 

Trả lại cho ta chứng tích Mục Nam Quan 
Nơi Nguyên Trãi tiễn cha về đất Bắc 
 Nguyễn Phi Khanh dạy con chớ cúi đầu thờ giặc 
Hãy nuốt lệ vào lòng, rửa quốc hận thiên thu. 

Máu anh hùng rải khắp biên khu 
Từng tấc đất giữ gìn cho hậu thế 
“ Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ ”
Máu quân thù đỏ nước Bạch Đằng Giang. 

Bốn ngàn năm: “ Vạn cổ thử giang san ”
Gương trung liệt đời đời soi sáng 
Bom Sa Diện nổ tung lòng Lưỡng Quảng 
Mộ người anh hùng lấp lánh giữa Hoàng Hoa Cương. 

Hãy nghe thật rõ lời ta, lũ điếm bút văn chương 
Bóp méo sử là dìm dân tộc ta trong biển máu 
Lũ các ngươi mặt mũi nào nhìn con cháu 
Khi cơ đồ phút chốc tan hoang. 

Hãy mở mắt mà xem, dưới biển, trên ngàn 
Đâu cũng thấy một màu chết chóc 
Rợ phương Bắc ngàn đời gieo tang tóc 
Sao mãi cúi đầu thờ giặc như cha ? 

Có biết nhục không, khi gấm vóc sơn hà 
Bị xâu xé bởi loài đã thú 
Hay chỉ thoả thuê, một đời no đủ 
Hải vị, sơn hào chan nước mắt dân đen. 

Ta biết các ngươi nhiều giải thưởng, lắm bằng khen 
Nhà nọ, nhà kia vễnh râu vênh váo 
Tự ngươi biết, mình chỉ là loài cầy cáo 
Theo đóm ăn tàn, tìm chút thịt vãi xương rơi 

Hãy sống trung can, lẫm liệt một đời 
Để khi chết không miệng đời phỉ nhổ 
Đừng làm con bọ hung suốt ngày lo giông tố 
Cứ mãi vùi mình dưới đống phân đen. 

Chớ làm bẩn văn chương, hỡi lũ đê hèn 
Tổ quốc lâm nguy, các ngươi câm miệng hến 
Chút hôi tanh, cả bầy xô đến
Bán thánh buôn thần, đổi trắng thay đen. 

Hồn thiêng sông núi hỡi, có linh chăng ? 
Xin nén cả hờn căm đầu ngọn bút 
Chỉ thẳng các ngươi: Lũ văn nô phản quốc
( Loài phản quốc còn biết đâu vinh nhục) 
Chẳng đáng làm người, chỉ là giống sài lang.

_ LANG TRƯƠNG 08/06/2018_

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2018

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018

CHỈ CÒN LẠI NÉT U BUỒN - THỦY ĐIỀN


Tran Van Mau
22:13 (5 giờ trước)
tới tôi
Chao chi
Cho em goi bai nhe
Thuy Dien






CHỈ CÒN LẠI NÉT U BUỒN


   Ngày về, qua mấy ngõ, định ghé thăm Mây sau những ngày xa cách. Đứng lặng, nhìn căn gác cửa đóng, hoang tàn, hiu hắc tôi đoán được nàng có lẽ đã ra đi từ dạo ấy.


      Thời gian tuy lâu, nhưng cũng mau thật mới đó mà đã mười tám năm rồi. Nhớ ngày ấy hai đứa còn học chung, thỉnh thoảng một vài hôm tôi hay đạp chiếc xe đạp đến thăm nàng. Trước sân nhà dưới bóng cây Trứng cá có cái bàn nhỏ cũ kỷ và hai chiếc ghế, nàng hay cùng tôi nhâm nhi tách nước và kể nhau nghe những câu chuyện vui, buồn cũng như những sinh hoạt hàng ngày trông cuộc sống thật là lý thú.


      Ngày qua ngày- tháng qua tháng tình bè bạn bỗng dưng trở thành tình yêu mà cả hai không hề hay biết. Nàng ngoài việc học thường hay quan tâm đến tôi bằng mọi thứ và tôi cũng thế. Cảnh chiếc xe đạp của tôi dựng phía trong cổng rào nhà nàng dần dần như quen thuộc. Hỡi thiếu vắng nó một giây, một phút là hình như nàng khó chịu trong lòng. Tôi thương nàng nhất là khi nàng với gương mặt giận dỗi tôi và thốt lên câu “Sao anh đến trễ thề “ Rồi quây mặt nhìn về nơi khác.


      Sau ngày đất nước thống nhất, gia đình tôi chuyển về quê nội, tôi theo cùng và từ đó xem như tôi tạm xa nàng. Đêm ấy giữa tháng tư trời không mưa, oi bức mà bên cạnh tôi dường như thác đỗ. Những giọt lệ tình, những giọt lệ chia xa cứ tuôn tràn trên đôi má của nàng, tôi không cầm được những xúc động và cứ mãi ôm choàng nàng thật chặt như không muốn đánh mất một tình yêu mà nàng đã dành cho tôi từ bấy lâu nay. Trong khoảnh khắc tôi luôn tự hỏi? mình có nên đi hay là không. Thương nàng thì nghĩ thế, nhưng hoàn cảnh không cho phép tôi làm điều ấy và cuối cùng tôi phải chia xa.


      Những năm tháng xa xôi nơi phương trời khác tôi thương nhớ mây nhiều lắm. Lòng hứa hẹn một ngày nào đó sẽ trở lại thăm Mây. Nhưng định mệnh trớ trêu, cuộc sống vô tình đã làm cho tôi quên dần những kỷ niệm đẹp và lời hứa ấy, để người tôi yêu phải chờ đợi bao ngày.


      Nơi quê cũ, tôi biết nàng cũng như tôi, cũng mang một nỗi khổ nhớ nhung, những nỗi buồn chan chứa. Nhưng người ta cứ lặng yên quên lãng thì mình phải biết làm gì bây giờ hơn nữa mình là phận gái đành cúi đầu nuốt lệ dưới màn đêm.


      Cảnh cô đơn, lẻ loi tháng nầy qua năm khác, một bông hoa rực nở giữa trời, Bướm , Ong thao lượn. Mây đi lấy chồng và về tận mút trời xa. Cha mẹ qua đời, căn nhà được khép lại, héo mòn theo thời gian, cây Trứng cá trước sân càng già- càng già đi, che khuất chiếc bàn cũ kỷ, chôn lấp những kỷ niệm ngày nào bằng những nét rêu phong.


      Riêng tôi vẫn chờ đợi em, dù vô tình, quên lãng. Mười tám năm trời trở lại, không ai hiểu hơn tôi Mây dù muốn, dù không nàng cũng sẽ lấy chồng để tạo hạnh phúc riêng cho đời mình. Dẫu biết thế, tuy đã gần nữa cuộc đời tôi quây lại thì thật đúng như những gì mình dự đoán căn gác xưa chỉ còn lại nét u buồn.



THỦY ĐIỀN

16-06-2018



Thứ Ba, 12 tháng 6, 2018

NIỀM ĐAM MÊ TRONG “THẢ DỌC” TẬP THƠ CỦA LÊ VĂN THẬT - CHÂU THẠCH


van tran
Tệp đính kèm 6 thg 6 ( 6 ngày trước)
tới tôi


Ảnh   Nhà thơ Lê Văn Thật


NIỀM ĐAM MÊ TRONG “THẢ DỌC” 

      TẬP THƠ CỦA LÊ VĂN THẬT
                                                             

Lê Văn Thật, một nhà thơ ở miền đông Nam Bộ, nơi có một di sản văn hóa lâu đời: tháp cổ Bình Thạnh, và là nơi mà trong một bài thơ về Bình Thạnh, Châu Thạch tôi đã viết: “Tôi tưởng nơi đây cây cũng hát/ Nên cụ già em bé cũng làm thơ”.
     
Đọc cái đầu đề “Thả Dọc” chắc có người sẽ hiểu rằng tác giả mang tâm trạng bi quan  với những vần thơ buông xuôi đời mình.  Thế nhưng khi đọc bài thơ “Thả Dọc” của tác giả đăng trong tập thơ  nầy, ta mới hiểu rằng, nhà thơ “Thả Dọc” đời mình như cầm lái con thuyền để trải nghiệm gềnh thác và rong chơi trên dòng đời với biết bao vẽ đẹp:

Thả dọc ta giữa dòng sông hổn tạp
Con sông nào thỏa thích những mùa chơi...

Thỏa thích đời ta mặc sức nồng say
Đùa với gió, giỡn cùng trăng mãi miết

Dẫu méo mó giữa sóng đời cuộn xoáy
Ta vẫn cười ngạo nghễ với nhân gian
Ta thả dọc bóng trăng và mê mải
Ta thả dọc khóc cười mà say sưa.
                                 (Thả Dọc)

Không với một tâm hồn bi thảm, nhà thơ thả dọc con thuyền nhưng cởi lên, hóa giải “ những méo mó giữa sóng đời cuộn xoáy” để dầu khóc hay cười vẫn say sưa với  cuộc sống.
Bởi nhân sinh quan nhìn thơ và đời như vậy, ta tìm thấy ở Lê Văn Thật những vần thơ lạc quan, bày tỏ những tư duy  vô cùng tích cực:

Xin đừng làm một loài cây suôn sẻ
Cả một đời chẳng biết thú đam mê
Có va đập, có tả tơi nứt nẻ
Mới tròn ta, cho đủ chất con người

Ta đam mê nghĩa là ta hạnh phúc
Lái con thuyền đi giữa ước mơ xa
                                         (Ta)

Lê Văn Thật cho rằng “Ta đam mê tức là ta hạnh phúc” Vậy nhà thơ đam mê cái gì?. Trước hết nhà thơ đam mê quê hương Bình Thạnh của mình. Nơi mà nhà thơ hảnh diện khi “Mời em về thăm quê anh…”:

Mời em về thăm quê anh
Bình Thạnh chuyển mình đi tới
…Nghe gió hát say hương đồng cỏ nội
…Ngắm cánh đồng bình Phú mênh mang
…Ngắm Tháp Cổ ngàn năm trầm mặc
Ta sẽ về phía hạnh phúc của ta
Nơi chỉ có hai đứa mình tìm được
Khi tình yêu đã hóa hình đất nước
Thì nơi nào cũng đẹp lắm em ơi!
  (Mời em về thăm Bình Thạnh)

Bài thơ có 24 câu, người viết xin rút ngắn lại nhưng cũng vẽ lên được một quê hương tươi mới, xen lẫn sự nên thơ, sự cổ kính, cùng với tình yêu đậm đà của tác giả. Nhà thơ nói “Khi tình yêu hóa hình đất nước” không phải là một sáo ngữ như những bài thơ “yêu tổ quốc” giả hình. Đất nước rộng bao la của Lê văn Thật đã được nhà thơ thu gọn lại nơi quê hương Bình Thạnh, nơi mà tác giả mời em về để hưởng hạnh phúc. Nơi ấy có văn hóa dân gian, có phong cảnh tuyệt đẹp và có nhiều kỷ niệm thân thương trong lòng tác giả.
Sau tình yêu quê hương là tình yêu của người thầy, một tình yêu của lão chèo đò tận tụy, nhận hệ lụy một đời để hưởng niềm vui vô giá không bằng vật chất bao giờ:

Có cả một thời dạy học
Thầy không đòi các em trả lại điều gì
…Thầy tự hào một thuở trồng cây
Để bây giờ nhận thơm từng trái ngọt
Ôi!
…Tháng năm có gì mà chẳng phai
Nỗi nhớ của thầy cũng ít dần, ít dần hơn trước
Nhưng có một điều không bao giờ quên được
Cả trong mơ cũng thèm nghe một tiếng kêu thầy…
                                             (Chút lòng thầy)

Những câu thơ người viết trích trong bài thơ “Chút Lòng Thầy” của Lê Văn Thật cũng nói lên được tấm lòng quảng đại, hy sinh và chơn chất của một nhà mô phạm.
Và lẽ tất nhiên một con người đã đam mê với quê hương, với sự nghiệp cao quý mà không cao giá của mình thì tình yêu thân quyến, gia đình cũng là một nỗi đam mê thánh thiện phải có trong con người ấy.  Lê Văn Thật cũng yêu mẹ như bao người con, khác chăng nhà thơ xem mẹ như ngọn đèn chân lý, như Chúa của người theo đạo Chúa và như Phật của người theo đạo Phật:

Chưa bao giờ con xao lãng, mẹ ơi!
Ngày kính me, trái tim người vĩ đại
…Ở trong con mẹ vẫn sáng trên đầu
Vẫn chỉ lối đưa đường con tiến bước
Trong gian khổ biết tìm ra hạnh phúc
Bởi mẹ hiền tỏa mát lối con đi…
                       (Ngày giỗ Mẹ)

Tình yêu vợ con làm cho cuộc đời tác giả thăng hoa nhất:

Hai mươi sáu năm rồi…em nhỉ!
Vẫn thấy mình chưa nói hết tình yêu
…Anh nợ em chẳng bao giờ trả nổi
Nợ bãi cát vàng còn in dấu chân ta
… Anh nợ em cả đời không trả nổi
Hai công chúa tuyệt vời cứ lớn dần lên
…Anh mãi là “người đàn ông đẹp nhất”
Bên cạnh ba đóa hoa rạng rỡ tuyệt vời
Dẫu mưa nắng nhuộm mái đầu bạc phếch
Giữa vui buồn ta vẫn bước chung đôi
                    (Ba đóa hoa tuyệt vời)

Tất nhiên người viết xếp thứ tự những niềm đam mê của Lê Văn Thật có trước có sau, nhưng thực tế những niềm đam mê ấy như những cánh hoa trong một bông hoa, nó lung linh khoe màu và nổi bật trong bức tranh đời người của tác giả. Ngoài những màu sắc chính làm cho bức tranh đẹp, thì những màu điểm xuyết cũng cần cho vẽ đẹp của tranh tăng lên. Thơ Lê Văn Thật còn nhiều nỗi đam mê, đa số là thánh thiện, diễn tả những cảm xúc của một tâm hồn nhạy cảm như đường tơ rung lên, cất âm thanh thành nhạc  khi gặp gió. Trong những khúc nhạc ấy, tiếng lòng về tình yêu trai gái có trong đời là tiếng thanh nhạc mượt mà , êm ái, dỗ lòng người ngã vào cơn đam mê thi vị:

Những nỗi đau chưa đến đã nghe đau…
Sao là em cho mùa đông hoảng hốt
Ôi chiều nay cơn bão về thảng thốt
Cho lòng anh cũng đắng những đêm chờ

Em ơi em, chỉ là một giấc mơ
Một giấc buồn sẽ tan nhanh vào quá khứ
Em có thấy từng cánh mai đang nở
Đem xuân về…
…rạng rỡ
…đất trời xa..
                       (Giấc Mơ cuối năm)

Vừa đau khổ đó, vừa biết chỉ là một giấc mơ phủ phàng, nhưng lại biến niềm đau thành những bông hoa mai đang nở đem xuân về. Một tâm hồn vừa lạc quan nhưng cùng vừa vị tha, một nhân cách làm người hòa nhập vô vi, làm thánh thiện cả những điều đau khổ.  Phải nói cái ý thơ nầy làm cho mọi hệ lụy của đời trở nên phẩm giá, bay cao trên nước mắt bi lụy thường tình, ấy là tiếng thơ “trong sáng và vô biên” vậy.
Và xin mời đọc tiếp những câu thơ nầy:

Ta nợ em chỉ một tách cà phê
Sao bối rối nửa lòng xao xuyến lạ

Ta nợ em chút kỷ niệm ngày xuân
Con đường vắng cơn mưa chiều bất chợt

Chiều xuân ơi! chi mà vương vấn thế
Biết bóng em có dài quá bóng anh…
                                       (Nợ)

Bài thơ chính có 12 câu tất cả, diễn tả một mối tình thoáng qua, thế nhưng câu thơ cuối có vị ngọt của tình theo mãi suốt cuộc đời. “Biết bóng em có dài hơn bóng anh…” có nghĩa là  trên đường anh đi bóng em luôn đi sát bên anh, có nghĩa là trong đầu anh nghĩ về em mãi mãi. Bài thơ cho ta hương vị của cú sét ái tình. Ái tình đến như một tia chớp nhưng kéo dài dư âm êm ái, hình bóng đi cùng anh mãi mãi. Câu thơ chót không độc đáo sao được  khỉ chỉ một mình nó làm cho một thoáng trở thành mãi mãi, chỉ một mình nó làm con thuyền chở một kỷ niêm dễ quên trôi mãi trên dòng sông ký ức đời người.

Không tìm thấy ẩn dụ trong thơ lê Văn Thật. Thơ Lê văn Thật  cho ta chiêm ngưỡng hoàn toàn vẽ đẹp của nó như con bướm đang bay, như đóa hoa đang nở mà không cần điều tiết đôi mắt  của mình. Nhà thơ trãi hồn mình trên những câu thơ không bóng bẩy nhưng lại thanh bạch, không khúc chiết  nhưng lại trôi êm đềm mang theo vô vàn những đóa hoa của muôn màu trong cuộc sống. Nhà thơ không có những câu thơ mê loạn, da diết, nhưng là những câu thoải mái làm tràn đến tâm hồn người đọc những ân huệ của đời như từng cơn gió sực nức mùi thơm hương đồng cỏ nội. Sự lảng mạn trong thơ không phải là sự buông thả mà là một sự dấn thân chửng chạc, tìm niềm vui giữa những thăng trầm của cuộc sông.
“Thả Dọc” là một tập thơ nên đọc, để chiêm nghiệm một tâm hồn lạc quan  đi qua gềnh thác của đời người thì đẹp làm sao!!!
                                                                  

CHÂU THẠCH