CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

HƯƠNG ĐÊM - THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
15:04, Th 5, 6 thg 12 (3 ngày trước)
tới PV, Phu, Da, tôi, Giống, Trần, Xuân, Nguyễn, Vu, Tuyen, Dao




HƯƠNG ĐÊM

- Tặng Mạc Phong Tuyền

Nhân đọc MÙI CON GÁI -

.

Mười sáu trăng tròn
Trốn mẹ
Em ngẩn ngơ mùi trai mười bảy
Níu hương đêm
Em
khỏa tóc thề.

.

“Tháng Tư về...”
Bờ đê...
xòa tay
Em trộn mùi trai mười bảy
nướng lưng trần bỏng nhãy...
Vít
Hương đêm...

*.

Hà Nội, sáng 05.12.2018

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

*CÒN LẠI GÌ . - THƠ TỊNH ĐÀM

Đàm Nguyễn Tài
19:56, Th 4, 5 thg 12 (3 ngày trước)
tới tôi

Hình ảnh có liên quan


*CÒN LẠI GÌ .

Còn lại gì
Chút chiều phai
Vàng theo bóng nắng 
Ngả dài thềm xưa !

Gió ru tình
Gió đẩy đưa...
Nghe trong hồn lá
Cũng vừa say mơ .


Còn lại gì
Cuối mùa thu
Đường xưa lối cũ
Tím mờ chiều rơi...

Gió thu về 
Gió chơi vơi
Nghe tiêu điều chất ngất lời...
Hư hao !

Còn lại gì
Những chiêm bao
Tỉnh ra
Là nỗi khát khao đi tìm .

Đời mơ hoài 
Một cánh chim
Tung trời mây gió
Thỏa niềm ước ao...

Còn lại gì
Những niềm đau !
Hằn lên đáy mắt
Tím màu thời gian !

Lối đi về
Lối hoang mang
Cuộc đời này
Cũng sẽ dần qua thôi !

Còn lại gì
Một tôi ơi ...!

TỊNH ĐÀM
                                                                                                                   

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

NHẠC NHẸ VIỆT CHÍNH THỐNG ĐƯƠNG THỜI_ 1986 - NAY - LÊ THIÊN MINH KHOA

C:\Users\TTC\Pictures\CA KHÚC (In) copy (1).jpg

C:\Users\TTC\Pictures\CA KHÚC (In) copy (1).jpgPhác thảo bìa cuốn sách “9 thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam”- Lê Thiên Minh Khoa.

NHẠC NHẸ VIỆT CHÍNH THỐNG 

ĐƯƠNG THỜI_ 1986 - NAY
                               LÊ THIÊN MINH KHOA




             Ca nhạc Việt giai đoạn đương đại  (1975- nay) tồn song song  tại 2 loại nhạc: ca nhạc quốc nội và ca nhạc  hải ngoại. Ca nhạc quốc nội giai đoạn nầy được phân kỳ rất tách bạch thành 2 thời đoạn với những đặc trưng rất riêng biệt, rõ ràng: Thời đoạn nhạc hậu chiến 1975-1985 và thời đoạn đương thời 1975- nay. Riêng  ca nhạc Việt trong thời đoạn đương thời lại gồm 2 dòng nhạc cùng hiện hữu: nhạc nhẹ chính thống và nhạc nhẹ thị trường.
      Người viết gọi đây  là nhạc nhẹ chính thống là muốn nói đến những ca khúc nhạc nhẹ đương thời có giá trị nghệ thuật- tư tưởng, có cảm thụ thẩm mỹ đúng đắn, lành mạnh, được sáng tác bởi các nhạc sĩ tài năng và để phân biệt với dòng nhạc nhẹ thị trường bị thương mại hóa hiện nay, mặc dù dòng nhạc nhẹ chính thống nầy cũng tham gia sâu rộng vào thị trường âm nhạc Việt Nam hiện nay.



C:\Users\TTC\Pictures\NS TQL và LTMK.jpg

NS  Trần Quang Lộc (phải) và tác giả tại nhà nhạc sĩ ở TP Bà Rịa ngày 24.9.2018.


       Sau Đổi mới (1986), ca khúc trữ tình lên ngôi với những cái tên được nhắc nhiều trong mảng “nhạc nhẹ”. Ngoài Thanh Tùng, người được coi là khởi đầu cho dòng nhạc nhẹ phía Nam và Trần Tiến, người được xem là mở màn cho nhạc nhẹ ở  phía Bắc có thể nêu thêm nhiều tên tuổi nhạc nhẹ khác: Phú Quang (Em ơi Hà Nội phố, Thương lắm tóc dài ơi, Đâu phải bởi mùa thu…); Dương Thụ (Lắng nghe mùa xuân về, Vẫn hát lời tình yêu, Điều còn mãi…); Bảo Chấn (Tình thôi xót xa, Nỗi nhớ dịu êm, Hoa cỏ mùa xuân, Bên em là biển rộng, Đêm nay anh mơ về em…); Phạm Đăng Khương (Con đường đến trường, Như cơn gió vô tình, Tình yêu trở lại, Chia tay chiều mưa...); Nguyễn Ngọc Thiện (Chia tay tình đầu, Kỷ niệm mùa hè, Cô bé dỗi hờn, Nếu em là người tình, Thôi anh hãy về…), v.v...

             Image result for ns lê Nhật Linh
                      NS trẻ Lê Nhật Linh  (1962-2007). 
         
      Trong mảng tình ca có sự góp mặt của nhiều thế hệ NS: các NS cao niên như Huy Du, Hoàng Hà, Nguyễn Đức Toàn, Thuận Yến, Hoàng Vân, Nguyễn Văn Tý, Hồng Đăng, Chu Minh, Phan Nhân, Văn Ký, Lư Nhất Vũ, Hồng Đăng, Trương Quang Lục, Trần Quang Huy, Trần Hoàn, Hoàng Hiệp, Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu…, cùng với những tác giả thuộc lớp sau (sinh vào thập niên 40-50) rất đông như: Phạm Minh Tuấn, Diệp Minh Tuyền, Từ Huy, Trần Quang Lộc, Ngọc Đại, Bảo Chấn, Trọng  Đài, Tôn Thất Lập,  Quỳnh Hợp, Thanh Tùng, Dương Thụ, Trương Quí Hải, Quốc Dũng, Dương Thụ, Nguyễn Văn Hiên, Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Hoàng, Bùi Thanh Hóa, Trần Tích, Trương Minh, Việt Hùng, Võ Công Diên, Nguyễn Phú Yên, Phú Quang, Thế  Hiển, Phó Đức Phương, Đặng Hữu Phúc, Hữu Du, Phạm Đăng Khương, Nguyễn Đình Bảng, Trương Ngọc Ninh, Nguyễn Cường, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mai, Hoài Nhơn, Phan Thành Liêm, Phan Thiết, Hồng Vân, Trần Tiến, Bùi Công Thuấn, Lê Văn Lộc, An Thuyên, Hoàng Lương (HN), Hoàng Lương (BR-VT), Vy Nhật Tảo, Trọng Vĩnh, Võ Lê, Phan Long, Văn Thành Nho,…

                   http://vungtau.baria-vungtau.gov.vn/image/image_gallery?uuid=eb20ecb4-99bd-4776-8fbd-97950fcc42e1&groupId=21540&t=1521022895655
  Các NS: Hoài Nhơn, Trọng Vĩnh, Duy Long, Võ Lê, Việt Hùng (phải sang) trong buổi  ra mắt Tạp chí Âm Nhạc (BR-VT)

      Những năm sau này còn thêm lớp NS trẻ, sinh từ thập niên 1960 về sau như: Phương Uyên, Trần Quế Sơn, Quốc Trung, Ngọc Châu, Võ Thiện Thanh, Việt Anh, Huy Tuấn, Tống Duy Hòa, Huyền Vũ, Anh Quân, Lê Minh Sơn, Tiên Cookie, Duy Long, Vĩnh Trí, Giáng Son, Xuân Phương, Đỗ Bảo, Lưu Hà An, Hồ Hoài Anh, Lưu Hương Giang, Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Hồng Sơn, Lê Nhật Linh, Lê Vĩnh Phúc, Trần Minh Phi, Trần Thanh Sơn, Lê Chí Thành, Lê Quốc Thắng, Ngô Tùng Văn, Lê Cát Trọng Lý, Phạm Toàn Thắng, Nguyễn Vĩnh Tiến, Lê Minh Sơn, Lưu Thiên Hương, Thiên Toàn, Vĩnh Trí, Đức Nghĩa… Điều này chứng tỏ ý thức nhập cuộc của giới sáng tác được nối tiếp không ngừng giữa các thế hệ.
      Từ thập niên 90, nhạc nhẹ chiếm lĩnh trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Đề tài- chủ đề cũng chuyển đổi. Hình tượng, nhân vật trung tâm trong ca khúc không còn là người lính, những hồi ức, kỷ niệm, dư âm của chiến tranh vọng lại trong lòng con người, những đổi mới trên quê hương được giải phóng, những công trình trình xây dựng như ca khúc thời đoạn hậu chiến nữa, mà giờ đây chủ đề- đề tài nói về thân phận con người, ngợi ca tuổi trẻ, thiên nhiên, hướng tới những giá trị nhân văn và hầu hết tập trung vào quê  hương, đất nước và tình yêu đôi lứa.   

             GS-TS Trần Quang Hải: Sống là cho! - Ảnh 2.

                      GS.TS.NS Trần Quang Hải trình diễn cùng  cha,
                             GS.TS.NS Trần Văn Khê biểu diễn  ở TPHCM.   


      Theo GS, TS âm nhạc Trần Quang Hải trong một công trình quá dày công và rất tâm huyết “Lịch sử Tân nhạc Việt Nam- phần 1” thì  nhạc nhẹ VN lúc nầy pháttriển theo hai khuynh 
hướng: vận dụng ngôn ngữ  âm nhạc cổ điển Âu châu và vận dụng âm nhạc dân gian, dân tộc. Xin dẫn ra tên tuổi một sồ  nhạc sĩ và vài ca khúc tiêu biểu của họ thuộc từng khuynh hướng:
    1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ  âm nhạc cổ điển Âu châu.
       NS Thanh Tùng qua để tài tình yêu (Mưa ngâu, Giọt nắng bên thềm) và nhiều nhạc sĩ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Đình Bảng (Cơn mưa em bất chợt); Từ Huy (Những lời em hát); Phú Quang (Em ơi, Hà Nội phố, Đâu phải bởi mùa thu); Nguyễn Ngọc Thiện (Như khúc tình ca); Dương Thụ (Tiếng sóng biển, Lắng nghe mùa xuân về, Điều còn mãi); Đặng Hữu Phúc (Ru con mùa đông);  Bảo Chấn (Tình thôi xót xa, Nỗi nhớ dịu êm, Hoa cỏ mùa xuân); Phạm Trọng Cầu (Tiếng hát cho em), v.v…
   2. Khuynh hướng vận dụng âm nhạc dân gian, dân tộc.
       Các NS đã có nhiều sáng tạo và thể hiện rõ phong cách sáng tác của mình theo xu hướng hiện đại, dân tộc, (dân tộc hóa nhạc nhẹ) bằng việc sử dụng kết hợp với những mô típ, chất liệu từ âm nhạc dân gian của các vùng miền... Các NS Lư Nhất Vũ (Bài ca đất phương Nam- lời Lê Giang); Nguyễn Cường (Đừng sánh em với mặt trời, Một nét ca trù mùa xuân, Em muốn sống bên anh trọn đời, Đôi mắt Pleiku); Trần Tiến (Tùy hứng ngựa ô, Tiếng trống Baranưng, Ngẫu hứng sông Hồng, Sao em nỡ vội lấychồng, Quê nhà); Phó Đức Phương (Huyền thoại hồ núi Cốc, Chảy đi sông ơi, Trên đỉnh Phù Vân, Một thoáng Tây Hồ, Nha Trang thu, Không thể và có thể); Nguyễn Phú Yên (Gởi Huế thân yêu- thơ Tạ Nghi Lễ); Trương Ngọc  Ninh (Vòng tay Đam San); Trần Hoàn (Lời Bác dặn  trước lúc ra đi- 1989); Thuận Yến (Miền Nam trong tim Bác- 1998); Vũ Đức Sao Biển (Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang, Điệu buồn phương Nam); Nguyễn Trọng Tạo (Khúc hát sông quê- thơ Lê Huy Mậu)… sáng tác theo chiều hướng này và trở thành những tên tuổi đã chinh phục được công chúng nhiều tầng lớp, lứa tuổi. Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do NS Đỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian.

            Image result for nhạc sÄ© trần quế sÆ¡n Em gái quê mình

                            NS trẻ Trần Quế Sơn.     

        Các nhạc sĩ chuyên nghiệp Việt Nam thực hiện việc tiếp thu và chuyển hóa nhạc Pop, Pallat, Rock…  quốc tế cho phù hợp với thói quen thẩm mỹ của công chúng Việt Nam. Tiếp nhận và chuyển hóa trước hết trong sáng tác và cả trong biểu diễn bằng cách tăng cường âm hưởng dân gian- dân tộc trong giai điệu, hòa thanh và tiết tấu. Không thể phủ nhận nhạc trẻ, nhạc nhẹ giai đoạn nầy mang lại một làn gió mới cho đời sống âm nhạc và trong số những bài hát nặng tính thị trường vẫn có những tác phẩm được đánh giá cao khiến không chỉ giới trẻ mà người lớn tuổi cũng quan tâm ủng hộ. Nhiều thế hệ nhạc sĩ cùng góp công sức, tâm huyết tạo nên thành tựu đó. Có những nhạc sĩ thuộc lớp sau và lớp trẻ hiện nay đam mê dòng nhạc quê hương. Nhiều bài hát được viết về quê hương với ca từ giản dị, mộc mạc, khi thì mềm mại, sâu lắng như: Giấc mơ màu trắng do nhóm The Bell thể hiện, lúc lại cao trào, mạnh mẽ như: Dòng máu

Lạc Hồng, Bản hùng ca chim lạc của Lê Quang. Phổ biến hơn là đề tài quê hương lồng vào chủ đề tình yêu, lúc man mác ngọt dịu như Phố núi của Hoàng Lương; lúc trong trẻo, hồn nhiên như Cánh cò trên sông của Trọng Vĩnh; lúc tha thiết yêu thương như Thành phố ngàn hoa của Nguyễn Hồng Sơn; lúc nhẹ nhàng tình cảm như Chợt nhớ quê xưa (thơ Hồ Đắc Thiếu Anh), Trăng bên sông của Nguyễn Phú Yên; lúc tâm tình trìu mến như Tình biển hoàng hôn hay tình cảm tha thiết như Đà Lạt tím (thơ Lê Thiên Minh Khoa) của Bùi Thanh Hóa; lúc da diết xốn xang như Em gái quê mình của Trần Quế Sơn; lúc tình cảm sâu lắng như Lặng lẽ tôi của Trần Tích; lúc đằm thắm nhớ mong như  Chiều trên núi Tao Phùng của Trương Minh; lúc dịu dàng thanh thoát như Mùa xuân em về của Bùi Công Thuấn; lúc yêu thương tự hào như Địa đạo lòng dân của Võ Lê; lúc yêu thương lạc quan như Tình ca quê hương của Bùi Công Thuấn; lúc buồn thương thiết tha như Phố núi chiều mưa hay lắng sâu tiếc nhớ như Lối xưa của Lê Nhật Linh; hoặc vẽ nên một bức tranh thủy mạc sống động về quê hương như bài hát Giấc mơ trưa của Giáng Son và Nguyễn Vĩnh Tiến, Phố cổ  của Nguyễn Duy Hùng, v.v…
       Nhiều ca khúc nhạc nhẹ  viết về tình cảm gia đình được đánh giá cao như: Bà tôi của Nguyễn Vĩnh Tiến; Mẹ tôi của Nguyễn Trọng Tạo; Mẹ của Phan Long; Chị ơi! của Võ Công Diên, Bóng mẹ quê nhà (thơ Phạm Thanh Chương); Ơi mẹ mến yêu của Nguyễn Phú Yên; Cõng mẹ đi chơi của Trần Quế Sơn; Con ơi hãy ngủ của Hoàng Tuấn- Đỗ Bảo. Lối cũ ta về của Thanh Tùng viết trong hoài niệm về người vợ đã mất. Mẹ yêu của Phương Uyên được viết để dành cho bà nội những tình cảm chân thành, nhẹ nhàng và sâu lắng nhất. Hai ca khúc cùng tên Chị tôi của Trần Tiến và Thanh Tùng đã phản ánh phẩm chất thảo hiền, hy sinh cao cả của người phụ nữ. Mừng tuổi mẹ của Trần Long Ẩn đã đi sâu vào lòng người bao thế hệ, từng lời, từng chữ đều thấm đượm tình yêu thương, biết ơn mà ông dành cho mẹ…


             
Hai cha con nhạc sĩ Đỗ Nhuận và Đỗ Hồng Quân.
      NS Đỗ Nhuận và con, NS Đỗ Hồng Quân thời trẻ


        Đáng trân trọng là năm 2017, lúc đang lâm bạo bệnh, nhân mùa báo hiếu, Trần Quang Lộc vẫn sáng tác và phát hành CD Khóc Mẹ trên đời gồm 8 ca khúc về mẹ được nhạc sĩ và các danh ca thể hiện: Thư cho Mẹ, Khóc Mẹ trên đời, Tình Mẹ (thơ NP Nhật Nam), Nơi ấy (thơ Thu Nguyệt), Bến đợi đời con, Vầng trăng của Mẹ, Trở về với Mẹ ta thôi (thơ Đồng Đức Bốn), Mẹ và đôi gánh (thơ Chiêu Tuệ).
        Một đề tài mới lạ của nhạc nhẹ Việt trong giai đoạn nầy là viết về đời thường của người hùng, tạo nên những ca khúc làm chảy nước mắt. Người nghe xúc động, tôn kính trước giai điệu                            trìu mến về hình ảnh thường ngày “Mái tóc mẹ bạc phơ và ánh mắt mẹ như mơ/ Là biết mấy chờ mong mỏi mòn từng đứa con  ra đi không bao giờ trở lại/ Chỉ câu hát ru con bên nôi, chỉ câu hát cuộc đời mẹ ru” trong Mẹ Việt Nam anh hùng của An Thuyên, giải nhất của Bộ Văn hóa- Thông tin và Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Hoặc cảm phục, thương quý trước giai điệu nhẹ nhàng, yêu thương về hình ảnh đời thường rất thực: trong trắng, vô tư, hồn nhiên, mơ mộng của người nữ anh hùng trẻ tuổi Võ Thị Sáu: “Vào tuổi mười lăm, có những chiều mây gió ngẩn ngơ/ cỏ cây lá hoa có những đêm chập chờn giấc ngủ/ như đêm trăng rằm cho nụ hoa lê- ki- ma” trong ca khúc Còn mãi tuổi mười lăm  của Trọng Vĩnh, giải nhất ca khúc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, năm 2006. Và người nghe không thể cầm được nước mắt khi nghe đến ca từ đầy xúc động nhắc lại đời thường của 10 cô gái đã hy sinh ở Ngã ba Đồng Lộc, trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước trong ca khúc Ngã ba chiều (thơ Trần Sỹ Tuấn) của Đỗ Hồng Quân: “Thương mái tóc chị dầy/ Khi
các chị ngã xuống/ Tuổi xanh chưa biết yêu…”

             Image result for Nhạc sÄ© Trọng VÄ©nh
                               NS Trọng Vĩnh         


         Bên cạnh đó, còn nhiều ca khúc viết về tình yêu rất thành công  như: Hãy trả lời em của Tuấn Nghĩa, giai điệu nhẹ nhàng, lời ca giản dị mà rất đỗi dễ thương; Nơi tình yêu bắt đầu  của Minh Tiến, ngọt dịu và truyền cảm; Một thời của Nguyễn Hồng Sơn (BR-VT) da diết, luyến tiếc; Miên khúc của Lê Nhật Linh buồn thương, day dứt;  Phượng hồng (thơ Đỗ Trung Quân) của Vũ Hoàng hoài niệm, luyến tiếc; Và em của Hoàng Lương, giai điệu thanh thoát, ca từ lãng đãng, phóng khoáng tâm tình; Lỗi tại tôi của Hoàng Thi Tâm, dịu dàng, tình tứ. Ba tình ca chỉ được viết trong một năm (1994) của Nguyễn Phú Yên: Vẫn ngày xưa ấy, vui tươi, linh hoạt; Hỡi người tình nhỏ, nhẹ nhàng, trìu mến; Khúc giao duyên, tươi trẻ, nhanh vui… Rồi Sông và trăng, Mây và núi của Vĩnh Tâm, ca từ và giai điệu của hai ca khúc nầy đều khá hay với nội dung viết về một tình yêu lãng mạn, được hình tượng hóa thành mây và núi, sông và trăng. Ca khúc Tâm tưởng chiều của Bùi Công Thuấn. giai điệu dặt dìu mà tiếc nhớ, với lời có ngôn từ như thơ, có cái tứ của thơ, có diễn biến tâm trạng cái tôi trữ tình trong thơ, tình yêu và nỗi nhớ được ẩn dụ hóa trong hình ảnh thiên nhiên: nắng, trời, mây, sông, cây cỏ và “trong mưa nhạt nhòa”, làm người nghe xúc động khi hoài nhớ lại “dấu tích thương yêu” mà trong đời ai cũng từng trải qua. Còn Phượng hồng (thơ Đỗ Trung Quân)  của Vũ Hoàng ghi điểm trong lòng khán giả bởi giai điệu da diết, nồng nàn, lời ca day dứt, luyến tiếc về mối tình đầu thầm kín của tuổi học trò gắn liền với hình ảnh “phượng hồng” đầy lưu luyến, v.v…

                    Image result for Nhạc sÄ© An Thuyên


        Nhạc sĩ  lão thành Hoàng Hà trong thời đoạn nầy ngoài chủ đề truyền thống là sở trường của tác giả Đất nước trọn niềm vui, đã có một “bước chuyển” trong tâm cảm âm nhạc. Lúc nầy, ông viết nhiều ca khúc về tình yêu và phận người, với giai điệu dịu dàng hơn, day dứt hơn, ẩn chứa niềm khắc khoải về “nỗi người”. Chiều nay mùa thu là cảm xúc lãng đãng, khoáng đạt trước vẻ đẹp mùa thu thanh tao, thư thái. Mang theo mùa đông, ca khúc đoạt giải nhì (không có giải nhất) của Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 1997, là nỗi nhớ day dứt về một  mùa đông đã xa. Đây là hai trong khoảng 10 ca khúc ông phổ thơ của nhà thơ Hoàng Quý, người thâm giao, tri âm cùng ông từ năm 1985, khi ông vào Vũng Tàu cho đến lúc mất (04.9.2013). Cũng hoài niệm mùa đông, nhưng Du ca mùa đông của Hoàng Quý được Nguyễn Chính phổ nhạc với giai điệu dìu dặt, lắng sâu  hòa quyện với ca từ cùng biểu hiện nỗi sầu mênh mang, nỗi nhớ tiêu dao một mùa đông xòe tay ướt khói sương trời: “Ai hát khúc du ca mùa đông/ Cô xót cả vòm trời cám dỗ…/ Thương tóc tiếc một đời rũ gội/ Buồn thơm thảo sấu chua ơi!”

             Image result for lê huy Mậu và Nguyá»…n Trọng Tạo
                  Nhà thơ- NS Nguyễn Trọng Tạo và nhà thơ Lê Huy Mậu    của “Khúc hát sông quê”.     
     
           Điều đáng mừng nhưng không có gì phải ngạc nhiên là trong ca khúc đương đại có những nhạc phẩm của các nhà thơ. Đáng mừng vì đó là những nhạc phẩm thành công, nhiều ca khúc của họ được công chúng yêu thích. Không ngạc nhiên vì theo lý luận văn nghệ cổ điển thì “thi trung hữu nhạc”, còn lý luận văn nghệ hiện đại thì hai loại hình nầy đều thuộc loại thể trữ tình (biểu hiện bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình một cách trực tiếp). Thơ và nhạc gần gũi, thân thiết nhau, nhất là đối  với các nghệ sĩ đa tài. Văn Cao vừa nhạc sĩ, vừa thi sĩ. Trịnh Công Sơn âm nhạc đầy chất thơ. Nguyễn Đình Thi là nhà thơ, nhà văn lớn, nhà soạn kịch, nhà phê bình văn học, bên cạnh những ca khúc nổi tiếng như: Diệt phát- xít, Trường ca Người Hà Nội. Trong những nhà thơ viết nhạc, phải kể đến hai nghệ sĩ thành công với  nhiều ca khúc nổi tiếng:  Nguyễn Trọng Tạo  và Đynh Trầm Ca Nguyễn Trọng Tạo quả là một nghệ sĩ đa tài Thi Nhạc Họa, đoạt được những giải thưởng xứng đáng; có nhiều ca khúc nở hoa  thơm, kết trái ngọt         
trong vườn âm nhạc Việt đương đại. Cho tới nay, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết gần 100 ca khúc, trong đó có nhiều bài nổi tiếng: Làng Quan Họ quê tôi (thơ Nguyễn Phan Hách), Khúc hát sông quê (thơ Lê Huy Mậu), Đôi mắt đò ngang, Non nước Cao Bằng, Mẹ tôi, Đồng Lộc thông ru, Tình ca hạt giống vàng, Trống hội cổng làng, Tình Thu, Tình Đông, Tình Xuân, Tình Hạ (Tứ bình), Mưa, Tình ca hoa cúc biển, Con dế buồn, Tình ca hạt giống vàng… Đặc biệt, hai bài Làng quan họ quê tôi và Khúc hát sông quê đã khiến công chúng đôi khi nhớ đến Nguyễn Trọng Tạo với vai trò một nhạc sĩ nhiều hơn, vì hai bài hát nầy của anh đã quá nổi tiếng, dù anh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ Việt đương đại. Làng quan họ quê tôi từng được hãng JVC Nhật Bản chọn vào đĩa karaoke 100 bài hát Việt Nam và dàn nhạc giao hưởng Leipzig trình tấu trong Tuần Văn hóa Việt Nam tại Đức. Khúc hát sông quê (thơ Lê Huy Mậu) của anh được công chúng trong và ngoài nước đặc biệt yêu thích, thuộc nằm lòng. Gần đây, 2017 và 2018, hai “Đêm nhạc Nguyễn Trọng Tạo” diễn ra tại Nhà Hát Lớn Hà Nội và Thành Phố Vinh thành công ngoài mong muốn, được đông đảo công chúng hâm mộ.
        Còn nhà thơ Đynh Trầm Ca, ngoài những bài thơ được phổ nhạc, như: Tình yêu mắt nai,  Mắt Huế xưa (nhạc Quốc Dũng), Nỗi buồn chim sáo (nhạc Huỳnh Ngọc Đông), Xa rồi hạnh phúc gian nan (nhạc Tiến Luân)…, ông viết hơn 100 ca khúc đã ra mắt ừ trước 1975, sau Thống nhất vẫn viết nhạc đều đặn. Người yêu âm nhạc dành tình cảm sâu đậm với những ca khúc như Ru con tình cũ, Sông quê, Bay đi những cơn mưa phùn (thơ Hoàng Lộc), Phượng ca, Mưa La Qua mưa Vĩnh Điện… từng được các ca sĩ nổi danh như Khánh Ly, Lệ Thu, Hồng Nhung, Phương Hồng Quế, Phi Nhung… trình bày trên các sân khấu trong và ngoài nước hoặc trên các đĩa CD mấy chục năm qua.

      https://hopamviet.vn/assets/images/composers/dynhtramca.jpg
          Nhà thơ- NS Đynh Trầm Ca của “Sông quê”   

        Có thể nói cả hai khúc “sông quê” của hai nhà thơ- nhạc sĩ nầy là nhạc phẩm thành công nhất của họ và có nhiều điểm giống nhau: cùng là giai điệu trữ tình thấm đẫm chất dân ca: ở Khúc hát sông quê là dân ca Nghệ Tĩnh, ở Sông quê là dân ca Nam bộ, và đều có sức hút mạnh mẽ trong lòng công chúng nhiều thế hệ, đã vang lên khắp thôn cùng, xóm nhỏ.                                                     
       Trong dòng nhạc nhẹ thời đoạn nầy, nhiều nhạc sĩ định hình được phong cách riêng. Chẳng hạn, trầm lắng, sâu sắc là Phó Đức Phương, Hoàng Tạo; sôi nổi và nhạy bén là Nguyễn Cường, Trần Tiến; sang trọng và tình cảm là Phú Quang, Dương Thụ; nhịp nhàng, uyển chuyển là Trương Ngọc Ninh, An Thuyên, đằm thắm và ngọt dịu là Hoàng Lương (BR-VT), Trọng Vĩnh, v.v…
         Các ca sĩ  nổi tiếng  càng ngày càng nhiều như Ánh Tuyết, Thanh Lam, Hồng Nhung, Hồng Hạnh, Cẩm Vân, Cẩm Ly, Phương Thanh, Vân Khánh, Thanh Thúy, Lam Trường, Đan Trường, Quang Linh, Bảo Yến, Khắc Dũng, Thanh Long, Mỹ Linh, Tam Ca Áo Trắng, Duy Minh, Thanh Phong, Cao Thi, Minh Chuyên, Ngọc Quỳnh, Trang Nhung, Hồ Lệ Thu, Nguyên Vũ, Hiền Thục, Tạ Minh Tâm, Quang Thọ, Lê Dung (đã mất), Trần Thu Hà, Bằng Kiều… Hai ca sĩ sau đã sang định cư ở Mỹ. 
                                                     

CA KHÚC VỀ BIỀN ĐẢO TỔ QUỐC TỪ THẬP  NIÊN 90.



       C:\Users\TTC\Pictures\ns bc thuan.jpg
                   NS Bùi Công Thuấn
       
             Nếu trong thời đoạn hậu chiến (1975-1985), ca khúc  chính trị (thực chất là nhạc trẻ, nhạc nhẹ), nhất là về đề tài thanh niên xung phong  và chống xâm lược, bảo vệ biên giới Tổ quốc được giới trẻ và công chúng yêu thích, thì trong thời đoạn nầy, biển đảo Tổ quốc là  đề tài được nhiều nhạc sĩ khai thác và sáng tác nên những giai điệu trầm hùng, thỏa mãn được nhu cầu tình cảm bức thiết (yêu nước) của công chúng và làm mê say, xúc động lòng người.
        Theo NS Cát Vận, PCT Hội Nhạc sĩ VN trong bài viết:” Đề tài biển đảo trong âm nhạc cách mạng Việt Nam”: “Đề tài về biển đảo từ rất lâu đã xuất hiện trong âm nhạc, vốn là đề tài rất dễ cảm xúc, tạo “thi hứng” và “nhạc hứng” cho các nghệ sĩ, nhạc sĩ nên đã có nhiều tác phẩm thành công trong tuyến đề tài này”. Ông phân giải rất rạch ròi tiến trình phát triển đề tài biển đảo trong âm nhạc VN. Theo đó, Côn Đảo của NS Đỗ Nhuận viết năm 1943, 20 năm sau, nhạc sĩ lại có bài Lớn lên trên biển cả cùng với quyết tâm  giữ gìn biển đảo quê mình. Rồi Hải quân Việt Nam của NS Văn Cao viết  năm 1945-1946 trước khi Quân chủng Hải quân ra đời. Năm 1958, NS Thế Dương  viết Lướt sóng ra khơi, đã  trở thành bài hát chính thức của  quân chủng Hải quân VN. Và Tiếng hát trên tiền tiêu Tổ quốc của Thái Quý,  một khúc nhạc đầy yêu thương, thơ mộng đối với biển đảo quê nhà.

             Cát Vận
                                NS Cát Vận.   
                       
       Bước vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, đề tài về biển đảo đã được định hình qua nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ: Huy Du với Bạch Long Vĩ đảo quê hương, Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi (1965); Lương Ngọc Trác với Bài ca gửi đất liền (lời Phan Ngạn). Và Đỗ Nhuận  với Tình ca biển cả là người đầu tiên đưa được khẩu hiệu  của Hải quân nhân dân “Tàu là nhà, biển cả là quê hương” vào ca từ, v.v…                           
       Sau đó, trong những năm tháng cả nước chống Mỹ, nhiều bài hát về đề tài biển đảo liên tục được các nhạc sĩ quan tâm sáng tác. Những bài hát về đề tài này đã được phổ biến rộng rãi như: Thái Văn A đứng đó của Văn An; Gửi anh chiến sĩ thông tin trên đảo  của Hồ Bắc; Khúc hát đảo quê hương, Những thành phố bên bờ biển cả (thơ Huy Cận) của Phạm Đình Sáu, v.v... 

        Phan Long
                             NS Phan Long 
           
       Những ca khúc trên, theo NS Cát Vận (tài liệu đã dẫn),  đã trở thành “cột mốc”, “điểm tựa” cho những bài hát mới về đề tài này ra đời sau đó, như: Thư ra đảo của Văn Dung; Chiều Cát Bà của Văn Lương;  Tình yêu Cát Bà của Cát Vận; Nếu em đến đảo của  Trọng Loan;  Biển gọi của Nguyễn Kim;  Sao biển của Phạm Minh Tuấn; Trên biển quê hương của Đức Minh; Tình em biển cả của Nguyễn  Đức Toàn;  Bến cảng quê hương tôi của Hồ Bắc, v.v...

             http://4.bp.blogspot.com/_7hQX2A9Z2b4/SqHnCGkMrTI/AAAAAAAAAqs/KpwmcuD3EbY/s320/2288489680101995714tKpqXR_fs.jpg
                        NS Trần Tích (người cầm đàn).     
     
        Trong những năm cuối thập niên 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đề tài biển đảo đã được khai thác khá  đậm, ca khúc nhạc nhẹ viết về biển đảo đã xuất hiện ngày một nhiều, trong đó có những bài tình ca viết về biển, những bài hát trẻ trung viết về ngành dầu khí, viết về các  đảo, vịnh, cảng… của các tỉnh, thành phố ven biển: Phú Quốc, Hạ Long, Cát Bà, Côn Đảo, Lý Sơn… Nhiều ca khúc được công chúng yêu thích, như Biển hát chiều nay (1980) của Hồng Đăng; Chút thơ tình người lính biển (thơ Trần Đăng Khoa- 1981) của Hoàng Hiệp; Đất nước bên bờ sóng (1980) của Thái Văn Hóa; Gần lắm Trường Sa ơi! (1982) của Huỳnh Phước Long, v.v…
       Một tác phẩm nổi bật trong thời đoạn này là Nơi đảo xa (1979) của nhạc sĩ Thế  Song. Phút xuất thần trong những giây phút đi thực tế với các chiến sĩ Hải Quân đã tạo cho ông có một tác phẩm để đời, vang mãi trong trái tim những người yêu biển đảo quê nhà. Ông còn viết một loạt ca khúc khác về đề tài sở trường là biển đảo và những người lính đảo, như: Ngôi nhà lính đảo, Biển mưa, Biển chuyện tình hóa đá, Hoa hồng biển đảo, Mênh mang Trường Sa, Tình em theo cánh sóng, Hát từ vùng gió xoáy, Hòn mưa, Sóng ru, Vũng Tàu tình yêu biển, Cát Bà tình em, Biển hẹn Cà Mau, v.v… 


        VNSVT 10.14
                        NS Trương Minh (trái) và VNS thân hữu.

       Đặc biệt, Nguyễn Trọng Tạo từ giữa thập niên 80, đã viết một loạt ca khúc về biển đảo ấm nóng lòng người: Lời biển quê hương, Tình ca hoa cúc biển, Nghe ru biển đêm, Cảm xúc bển quê…, trong đó có một ca khúc về Trường Sa Trường Sa làng ta.                                                                   
       Riêng về đề tài Trường Sa, Hoàng Sa phải đến những năm 90 của thế kỷ trước mới xuất hiện phổ biến  qua nhiều cuộc vận động áng tác ca khúc, cuộc thi sáng tác ca khúc về biển đảo, những chuyến đi thực tế biển đảo do Bộ tư lệnh Hải quân, Ban Tuyên giáo Trung ương,  Đài Tiếng nói VN, VTV, báo điện tử VN… tổ chức. Lần đầu tiên trên làn sóng quốc gia, thính giả mới được
nghe hai tiếng Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu qua các giai điệu đủ sắc màu từ trữ tình, lãng mạn đến khỏe khoắn, mạnh mẽ. Đó là các bài Gần lắm Trường Sa của Huỳnh Phước Long;  Quần đảo đồng đội của Hoàng Tạo; Làng lính trên đảo của Doãn Nho; Trường Sa chiều biển nhớ của Vũ Trọng Tường; Màu xanh Trường Sa của Lương Minh; Đợi mưa trên đảo (thơ Trần Đăng Khoa) của Nguyễn Thịnh, v.v…


 C:\Users\TTC\Pictures\NS nguyá»…n hồng sÆ¡n.jpg
                NS trẻ Nguyễn Hồng Sơn.

         Vào thập niên đầu của thế kỷ nầy, thế kỷ XXI, kỷ nguyên của biển và đại dương, ăm mưu và tham vọng của nước lớn  lộ rõ khi liên tục lấn chiếm biển đảo với thủ đoạn tinh vị, đề tài về biển đảo lại “nóng” với nhiều ca khúc xuất sắc  được phổ biến rộng rãi trong công chúng: Trụ biển của Đỗ Hoà An; Giữa biển Đông nghe khúc Tiến quân ca của Vũ Trung; Lá phong ba, lời độc thoại của Ngọc Anh; Chiến sĩ nhà giàn của Hồng Vân; Hải đội Hoàng Sa của Trần Bắc Hải; Lính đảo về phố của Ngọc Hoà; Lời ru Trường Sa của Vũ Việt Hùng; Phút lặng im trên biển của Nguyễn Hồng Sơn (TP HCM); Nơi ấy Trường Sa của Xuân Nghĩa; Tổ quốc nhìn từ biển của Quỳnh Hợp- Nguyễn Việt Chiến; Thức anh cùng sóng biển của Hoàng Hà; Ngôi nhà trên biển, Một dãi sơn hà của Phan Thiết; Điệu nắng, điệu gió Trường Sa của Đức Nghĩa; Ru đảo của Lê Tịnh; Ánh trăng nhà giàn của Hoàng Lương (BR- VT); Lời gọi biển Đông của Bùi Công Thuấn; Trường Sa thân yêu của Nguyễn Tôn Nghiêm… Điểm sáng trong thập niên nầy hai bài hát của nhạc sĩ Vũ Thiết: Khúc tráng ca Biển và Lời sóng hát đều phổ thơ của Trịnh Công Lộc.


             Siu Black sụt 10 kg trong ngày trở lại tập show nhạc sÄ© Nguyá»…n Cường - ảnh 3
              NS  Nguyễn Cường và Ca sĩ Thanh Lam.

     
        Tiếp tục dòng chảy ấy, rất đáng mừng là trong các năm đầu thập niên thứ hai nầy, nhiều nhạc sĩ đã đã viết những sáng tác nóng hổi thời sự mà có giá trị nghệ thuật về Trường Sa: Võ Công Diên với Trường Sa gọi (2015); Vũ Duy Cương với Phía ấy Trường Sa; Nguyễn Phú Yên với Hoàng Sa- Trường Sa- Việt Nam; Lê Minh Sơn với Này là Biển của ta; Nguyễn Văn Hiên với Thương lắm Trường Sa; Nguyễn Cường với Trống quân lính đảo, Sóng xô Trường Sa; Cát Vận với Mơ thanh bình sóng biển Việt Nam, Nghe tiếng A di đà ở Trường Sa; Quỳnh Hợp với Làng đảo (thơ Nguyễn Hữu Quý); Trần Ngọc Lâm với Hành trình xanh Trường Sa; Nguyễn Việt Hùng với  Mênh mang biển đảo quê hương; Thiên Toàn với Hát về Hoàng Sa- Trường Sa; Dương Toàn Thiên với Gửi Trường Sa...
             
         Image result for ảnh Nhạc sÄ© Thanh Tùng
              NS Thanh Tùng.
             
        Nổi bật nhất trong thời đoạn nầy là Tổ quốc gọi tên mình (thơ Nguyễn Phan Quế Mai) của Đinh Trung Cẩn đoạt 4 giải thưởng văn nghệ, trong đó có giải A  của Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2011.     
      Đáng quý là hòa cùng tiếng hát vệ quốc trong nước, nhiều nhạc sĩ hải ngoại đã viết những ca khúc chống xâm lấn biển Đông, như: Anh Bằng và Lê Dinh với Phải lên tiếng, Cả nước đấu tranh (2012); Nguyễn Văn Đông với Trường Sa lương tri thế giới (2014), v.v…
      Ở một hướng khác, nhiều nhạc sĩ khai thác đề tài tình yêu trong không gian nghệ thuật biển cả và tạo ra những ca khúc rất được mến chuộng từ nhiều giới, như: Thanh Tùng với Chuyện tình của biển; Đăng Quang với Biển và Bờ; Phú Quang với Biển nỗi nhớ và em (thơ Hữu Thỉnh); Lê Hựu Hà với Nắng vàng, biển xanh và anh; Bùi Thanh Hóa với Tình biển hoàng hôn (thơ Bình Diệp); Võ Lê với Biển chiều nhớ em (thơ Phạm Minh Châu), Tình biển (thơ Trần Minh Ngọc), Biển cho em; Võ Thanh Sơn với Sóng ru;  Huy Tuấn với Giữ lại mùa hè; Khánh Vân với Biển thức (thơ Vũ Thanh Hoa), Biển quê hương; Hoàng Hà với Dong khơi (thơ Hoàng Quý), Tiếng rừng dương; Hoàng Lương (HN) với Nhớ biển, Tình em với biển; Hoàng Hiệp với Thương nhớ ngoài khơi (thơ Đỗ Đức Yên); Hữu Du với Biển tháng năm; Trương Ngọc Ninh với Biển khát; Mạnh Hùng với Biển vổ sóng về đâu; Phan Thiết với Hoàng hôn trên phố biển, Điểm hẹn tình yêu; Phan Trọng với Tình ca phố biển (thơ Trần Tư Ngoan); Trương Minh với Về biển (thơ Hữu Thỉnh); Việt Hùng với Sóng ru biển hát; Kim Tuấn với Biển cạn; Lê Vinh với Biển đêm; Duy Thái với Tìm tên anh trên bờ cát; Tuấn Phương với Biển chiều; Hồng Nhung với Biển ngày mưa; Dương Thụ với Ru em bằng tiếng  sóng; Hoàng Lương (BR-VT) với Xuân phố biển, Hàng Dương ngày trở lại, Điệu hò trên biển đêm; Quỳnh Hợp với Về thăm biển quê em; Vĩnh Trí với Vầng sáng trên biển khơi, Biển (thơ Xuân Diệu); Trọng Vĩnh với Giàn khoan và hoa lửa; Trần Quang Lộc với Biển chờ ru tôi;  Phan Thành Liêm với Thành phố biển quê em; Phan Long với Có một chiều vàng và một chiều mưa (thơ Hoàng Quý); Hồng Vân với Ra khơi; Duy Long với Tình ca miền biển xanh, Biển hát cho em; Trần Tích với Biển và Em, Vũ Thanh và Trần Quang Huy trong hai ca khúc cùng tên: Vũng Tàu biển hát, v.v…

     Image result for Nhạc sÄ© Võ Công Diên
   NS  Võ Công Diên

          Thành công hơn cả trong không gian nghệ thuật nầy có lẽ là Tiếng rừng dương của Hoàng Hà, giải nhất ca khúc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2002, với giai điệu mênh mông, hoài niệm và ca từ  “trong veo” mà hàm súc, tác giả viết về biển đảo nhưng lại thổ lộ “niềm khắc khoải về nỗi đời, phận người”.
       Hai năm trở lại đây, chủ đề biển đảo và người lính bảo vệ Tổ quốc lại được các nhạc sĩ dự Trại sáng tác Vũng Tàu quan tâm và thể hiện thành công: Biển hát (thơ Triệu Nguyên Phong) của Minh Tiến; Hiên ngang Hoàng Sa- Trường Sa của Nguyễn Văn Đại, Bản hùng ca người lính của Lương Hoàng Minh; Hoa lồng đèn Côn Đảo của Hoàng Mạnh Toàn, v.v...     
         Gần đây nhất, nhạc sĩ Nguyễn Hồng Sơn (BR-VT) đã sáng tác  một chùm 10 ca khúc  về các chiến sĩ nhà giàn DK1: Tâm tình người chiến sĩ canh giữ biển dầu, Màu xanh nhà giàn, Khoảng sân, Không nơi nào đẹp thế đâu em, Thư đêm dàn khoan, những cánh thư màu tím, Hát qua bộ đàm…, trong đó nhiều ca khúc được phát trong chương trình giao lưu văn nghệ "Nhịp cầu tri âm" phát sóng ngày 14/5/2018 gây xúc động cho khán giả.

    Image result for nhạc sÄ©  Quỳnh Hợp
                        NS Quỳnh Hợp.
   
                        Trước đây, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên cũng viết nhật ký bằng ca khúc về hành trình ra Trường Sa và tập hợp 21 ca khúc sáng tác trong chuyến đi  thành cuốn sách Thương lắm Trường Sa với ca từ của anh hoặc thơ của các tác giả: Nguyễn Thị Quyết Tâm, Thanh Chín, Mạnh Hà được công chúng vừa mê thích, vừa mến phục… Còn nhạc sĩ Thế Hiển, con của nhạc sĩ Thế Song, tác giả Nơi đảo xa, ca khúc về biển nổi tiếng trong thời đại chúng ta với ca từ rạo rực tình yêu Tổ quốc và biển đảo quê hương, đã có 6 bài hát về Trường Sa gồm: Nỗi nhớ đảo xa (thơ Lê Xuân Bắc), Vỏ ốc biển, Khúc hát tự hào HQ- 561, Tiếng hát trên đảo Sơn Ca (phổ thơ Phan Hoàng), Biên cương biển đảo biên phòng và Lính đảo Trường Sa.       
                                                         
          http://vuthanhhoa.net/images/2011/06/trangxua1.jpg
               NS- nhà văn Nguyễn Đình Thi và NS Thiên Toàn năm 2001.
     

        Cho đến nay có thể nói, đề tài Trường Sa, Hoàng Sa đã trở thành một tuyến đề tài định hình, có sức hấp dẫn cao đối với các nhạc sĩ cùng công chúng yêu nhạc và yêu nước. Đề tài này đã sáng lên như một cột mốc chủ quyền, như một ngọn hải đăng trước sóng gió biển khơi, nó gợi mở cho các thế hệ nhạc sĩ Việt Nam và những người yêu âm nhạc, yêu biển đảo đi tiếp, viết tiếp, sáng tạo tiếp về một tuyến đề tài luôn tạo ra những nguồn cảm hứng vô tận. Với đà nầy, chắc sẽ có những tác phẩm lớn, bề thế, hoành tráng tương xứng với vị trí của Biển đảo Việt Nam trong kỷ nguyên mới, góp một tiếng nói vào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của chúng ta.     
               ***   
        Dù lảnh đủ nhiều hạn chế do hệ lụy của một nền âm nhạc thị trướng bị thương mại hóa, nhưng công bằng mà nói, âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển, hội nhập với âm nhạc các nước trong khu vực và trên thế giới. Do vậy, cuối năm 2014, Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp Hội các nhà soạn nhạc châu Á- Thái Bình Dương- ACL.
        (Kỳ tới: Ca nhạc thị trường đương thời )


                                              LÊ THIÊN MINH KHOA
  (Trích trong cuốn  sách “9 THẬP KỶ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM”- nghiên cứu, nhận định- Lê Thiên Minh Khoa-  trang 98-115, sắp xuất bản, 2018).
-----------------
Nguồn ảnh: Internet và  các nhạc sĩ cung cấp.

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2018

BÀI THƠ “HƯƠNG QUÊ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN VÀ NHỮNG CẢM NHẬN

BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
15:31, Th 3, 4 thg 12 (3 ngày trước)
tới Phu, PV, Da, tôi, Giống, Trần, Xuân, Nguyễn, Vu, Dao














BÀI THƠ “HƯƠNG QUÊ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN


VÀ NHỮNG CẢM NHẬN

*

HƯƠNG QUÊ



Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng...

.
Ngẩn ngơ 
giấc mơ
Níu đôi bờ bằng dải yếm
Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm
Áo tứ thân trải lá lót nằm
Gom gió lại để chiều bớt rộng...


Thẩn thơ
Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi...
Người ơi...”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.

*.

Hà Nội, chiều 31.08.2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN





VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC “HƯƠNG QUÊ”

CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Thơ Đặng Xuân Xuyến thường chơi cái trò ỡm ờ. Lời ít, thấy nhiều, hiểu rộng, suy diễn sâu xa tùy người. Do đó thơ Đặng Xuân Xuyến thường gặp phải hai dòng cảm ứng khác nhau: người cho dở kẻ khen hay.

Đọc bài thơ này thấy ngắn quá, có cái gì cụt cụt, thiếu thiếu làm cho ta ấm ức trong lòng. Nhưng chính cái thiếu thiếu, cụt cụt đó làm ta cứ thòm thèm như mới ăn nửa cái bánh thì bánh có dở cũng thành ngon mà bánh ngon cũng chưa biết hết mùi vị chính xác thế nào. Cái đó thương thì nói nghệ thuật mà ghét thì nói xảo thuật. Nghệ thuật hay xảo thuật thì cũng là một thành công của sự kết cấu bài thơ, của ý đồ tác giả.

Đọc bài thơ ta thấy cái dải yếm nó lớn thật, nó vắt ngang níu bờ sông, rồi nó làm náo động cả xóm làng: Ơi ời "ra ngõ mà trông". Sự náo động đó thật ra không phải của xóm làng đâu mà là của chàng trai kia đến tuổi động yêu mà thôi. Cái "Hương cốm" cũng chưa chắc của nhà ai đâu. Cái hương đó có thể tỏa ra từ dải yếm phơi bên bờ sông thơm đến độ nhà ai cũng ngửi được mà cứ tưởng rằng của nhà bên cạnh duyềnh sang.

Cái thằng con trai cũng chết mê chết mệt. Nó ngẩn ngơ mơ giữa ban ngày thấy sông, thấy nước, thấy gió, thấy cả trời chiều nằm trong yếm, trong tóc, trong áo cô gái kia. 

Nó ở bên này sông mà cô gái phơi yếm ở bên kia sông. Vậy mà con mắt lãng mạn của nó thấy "níu đôi bờ bằng dải yếm".

Rồi thì thằng con trai yêu đến độ tâm thần đi lang thang và thì thầm trong miệng "Người ơi...Người ơi...." Nó "dan díu" thế thì chẳng khác chi Bùi Giáng dan díu với nàng Kim Cương xưa vậy.

Người chơi ngọc có khi chưa mang chiếc kính nhìn ngọc thi chưa thấy hết giá trị của nó đâu. Người đọc thơ cũng vậy, nên chịu khó nhìn thơ qua con mắt lãng mạn của mình như mang chiếc kính kia thì sẽ khám phá được thơ hay vậy./. 

*

CHÂU THẠCH 




ĐẶNG XUÂN XUYẾN NÍU DẢI YẾM

ĐI VỀ CÕI YÊU

Tôi mới biết và còn chưa kịp quen nhà thơ có lối viết rất riêng này...

Tôi với nhà thơ cách nhau khá xa về tuổi tác, nên đọc "Cưỡng Xuân" và một số tác phẩm khác của anh, tôi cứ phải né né... nín nhịn từ xa mà vẫn chưa sao "thấu cảm" được với anh.

Rồi hôm nay tôi lục được bài này trong blog của anh. Tôi thích nó. Tôi thích cái lối tưng tửng này. Cái già dặn hơi buông tuồng, nửa "đồ nho" nửa "Tây bồi" như gói, như mở, như kín, như hở ... rất lạ, khiến người đọc vừa đỏ mặt tý, vừa tò mò tý, vừa lại như bừng bực, vừa khó chịu để rồi bị cuốn thụt lút trong mê đắm của mênh mang tâm tưởng và men nồng như say như tỉnh của một loại rượu chả cần phải nhắp môi cũng tự lâng lâng.

 Tưng tửng "hắt" thiên hạ sang một bên ngay từ câu đầu: "Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm".

Giọng điệu gì mà dửng dưng, vênh vênh, ngạo mạn một cách khó chịu của một kẻ trai tự biết mình cao giá. Cái kiểu "Các người cứ làm hàng cho các người tự ngắm đi, còn trai đây thì”... thì ba hồn bảy vía còn để ở "cái dải yếm vắt ngang" của "cô bé thậm thò..." kia. Rõ là đa tình đến độ và tinh ranh đến độ... đến độ ngoa dụ cho nàng "níu bờ sông" bằng cái dải yếm... rồi trầm trồ "Ơi ời “ra ngõ mà trông" ...

Trông cái gì đây? chắc không phải chỉ trông cái dải yếm, dù cái “dải yếm" đang phất phơ "vi vút gió đồng" ... Không cần giầu tưởng tượng lắm ta cũng thấy một tấm lưng thon thon nuột nà con gái của dải yếm đã buông lơi, thấy thấp thoáng cặp tuyết lê kín hở khi cái yếm bung dây bị gió đồng ren rén bồng lên phập phồng đùa giỡn…

Cái yếm thắm bung dải ngang phơ phất mặt sông, cái lưng mịn nâu màu mật, cái cổ ngấn ba, cườm tay săn nhỏ như giữ, như cởi, như thắt, như buông, như tung, như hứng theo nhịp dập dềnh phóng khoáng của gió lộng chiều quê thanh vắng nên thơ... trên bên sông xanh nước in mây, trên bãi cỏ non cạnh cánh đồng lúa ngô mướt mắt màu nõn biếc.

Một nét chấm phá cho một bức tranh. Một cuộc đòng đưa cho cuộc tình mơ nồng nàn như mâm cỗ đầy có ngọn thịnh soạn, thơm tho... hình như ai đó đã cất công và tỉ mẩn chuẩn bị, bày đặt... và ai đó cũng chỉ chờ có thế. Họ chờ, cùng chờ... "Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm, Áo tứ thân trải lá lót nằm..."

Thơ chả nói đến ai, chả nhắc đến ai... mà ai cũng rõ là AI "Gom gió lại để chiều bớt rộng " ... 

Mà rồi chiều chẳng có rộng đi nữa thì họ vẫn gom gió lại. Họ cần gì rộng hay chật vì bão giông đã nổi lên cuốn tình chìm nghỉm ... chỉ còn dập dềnh dải yếm “nối đôi bờ".

Đôi bờ nào? Cần gì phải nói. Dải yếm đâu? Cần gì phải hỏi? ... Cứ thả ra mà suy, cứ nhắm mắt lại mà tưởng...

Tình bồng bềnh, gió bồng bềnh, dải yếm bồng bềnh... trong "Ngẩn ngơ giấc mơ..."...

Cái dải yếm thắt cho tình hai bờ khít lại, cái dải yếm cởi cho "tòa thiên nhiên" (chữ trong Truyện Kiều) lồ lộ, cho hương ai quyện vào gió ngát, và vị cỏ dịu ngọt, và ướt át sông nước mịn dòng quấy đạp tùy nghi...

Một cuộc tình nên thơ với những câu từ trong cuộc nghe như vô nghĩa, cứ nói để mà nói, nói không để nghe. .."Người ơi… Người ơi..." ngôn từ được tác giả gọi bằng "tiếng mơ thầm thĩ". Rõ là chả có lời yêu, rõ là chả có lời mê đắm mà chỉ có một cuộc tình như nó vốn đã là như thế, không cần lời, không cần xoa xuýt âu yếm... mà chỉ với vô nghĩa từ, câm lặng bốc ngùn ngụt như hỏa diệm sơn... mà lại vẫn có cái gì vụng trộm dấu diếm khi ta đọc đến "Dan díu lời thề / Ngõ quê líu quíu" thì mới thấy tình yêu này bất chấp ước lệ của xã hội, của phong tục làng quê.

Cuộc tình đó chất phác như hạt lúa củ khoai. Cuộc tình đó là vô ngôn tình lại  có cái gì đó như vội vàng dấu diếm, như trao gửi vụng về, lại trong trẻo chân thành... vì từ ngữ là thừa, là tạp âm, là xáo trộn nguồn yêu.

Nhưng trong những đắm say, những “thẩn thơ” với tình yêu "tiếng mơ thầm thĩ" vẫn còn thốt ra những: "Dan díu lời thề" khiến "Ngõ quê líu quíu"... thì mới thấy tình yêu này bất chấp ước lệ của xã hội, của phong tục làng quê. Tình yêu ấy bản năng trong trẻo và mộc mạc, không tính toán, không ngoa ngôn kiểu cách, tự nhiên chân chất như con sông, như bờ cỏ.

Một bài thơ ngắn, khá ngắn với từ ngữ mộc mạc, nói về cái dải yếm, neo sông, cách tả hình không có hình, cách tả tình không có tình.

"Hương Quê" là bài thơ nói về yêu mà không dùng một chữ yêu. Một bài thơ tả tình lồ lộ mà không có một ngôn từ nào chỉ tình ấy, mà khi gặp nó, người đọc vẫn thấy ngồn ngộn cảnh, ngồn ngộn tình, ngồn ngộn bão giông mây mưa ào ạt, thấy lớp lang của sự dâng hiến, trao gửi cuộn trào. 

Đó là cái tài tình và già dặn của một cây bút, mà khi ra đời đã không còn nhìn thấy yếm áo lỏng lẻo gợi cảm của thiếu nữ nông thôn hay thành thị lững lờ sau vuông yếm mỏng manh nửa kín nửa hở... mà viết như vậy thì:

Nếu không có vốn kiến thức về xưa cũ, khó có thể viết ra điều ấy. Nếu không hòa mình trong mê đắm cuộc tình cũng không thể nào viết gợi thế được.

 Với tôi, đây là bài thơ gợi tình thật đáng đọc. Đọc để thấy Đặng Xuân Xuyến đang níu dải yếm đi về cõi yêu theo kiểu độc đáo riêng mình.

*.

Hà Nội, 14 tháng 10.2017

HẠT CÁT -BÙI CỬU TRƯỜNG





NGÕ QUÊ ĐỘC ĐÁO TRONG

“HƯƠNG QUÊ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Bài thơ viết về cái ngõ quê với rất nhiều bảng lảng khói sương. Thật khó để bình luận vì tất cả thi ảnh ở đây đều ẩn chứa cái phi lí tận cùng của phi lí. Cái hư ảo tận cùng của hư ảo. Câu đầu tiên hiểu thế nào là nhà bên và hiểu thế nào là nhà hàng xóm mà hương cốm đầu mùa đã duyềnh sang nhau. Sao cứ phải ợm ờ? Cái ợm ờ như các cụ vẫn bảo trăm nhát cuốc bổ vào lòng cả trăm. Một câu thơ đã cho ta cảm nhận được mùi hương cốm ở đây vừa quấn quýt, lan tỏa và quyện hòa, vừa thân thương ràng buộc hai ngôi nhà và trong hai ngôi nhà đó có một chàng trai si tình và cô gái vắt ngang dải yếm. Dải yếm là thứ để buộc chặt và che đậy sao ở đây nó lại vắt ngang và vì sao nó lại vắt ngang thì may ra ông trời và Đặng Xuân Xuyến hiểu được mà thôi. Còn chúng ta những kẻ trần tục làm sao có thể hiểu được? Phải chăng cái dải yếm ấy vắt ngang để níu dòng sông để bắc cái cầu đón nhà thơ sang chơi. Tất nhiên khi cái dải yếm được cởi ra để vắt ngang thì chắc chắn nhà thơ đã nhìn thấy một bầu ngực căng đầy khát vọng. Vui quá nhà thơ cứ ời ợi gọi cả làng ra mà trông chúng tôi đang làm cái việc mà chỉ có sức mạnh tình yêu mới có thể làm được. Thật kì diệu cái dải yếm chỉ tày gang thôi mà sao ở đây cứ dài mãi ra đến vô cùng có thể níu đôi bờ sông xích lại gần nhau cho những lứa đôi xum họp thay cho con đò nhỏ mong manh. Để không còn tiếng gọi đó thảm khắc trong đêm.

Đến đây thì chất phồn thực đã lấp đầy từng câu thơ, từng chữ thơ rồi. Họ đã làm được cái việc phi phàm nhất: "Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm". Bộ tóc được bao lăm mà có thể chuốt làm chăn làm gối. Ở đây qua câu thơ chở đầy khát vọng đó ta chỉ thấy được cái đầu hầm hập nóng của nhà thơ đang được gối lên và vùi lấp trong mái tóc dài sóng sả của em thôi. Cái dải yếm thì bỏ ra làm cầu còn áo tứ thân cũng được cởi nốt để trải lá lót nằm! Bạo liệt quá họ chẳng cần phải dấu diếm làm gì vì đó là đích đến cuối cùng của tình yêu và sự sinh tồn nhân loại. Thế vẫn là chưa đủ đối với hai người đang khao khát thì chiều ở đây như càng rộng thêm ra lấy gì để khỏa lấp chắn che? Đôi trai gái ấy lại làm thêm một việc phi phàm nữa, họ đã níu được cả gió để buộc cho chiều bớt rộng để đêm chóng về...và chỉ còn bóng đêm nhốt chặt hai con người đang khao khát. Có phải thế không thi nhân?

Nhưng…Vẫn luôn tồn tại một chữ nhưng oan nghiệt vì đây chỉ là:

"Thẩn thơ
 Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi...
Người ơi...”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.”

Chỉ là một tiếng mơ thầm thĩ, gian díu một lời thề trong cái ngõ quê líu quíu. Cái ngõ quê rất đặc trưng của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến.

Trong đời chỉ có tình yêu trong mơ là đẹp. Hay nói khác đi tình yêu chỉ là tiếng gọi thầm thĩ của những giấc mơ chứ không bao giờ có thật.

Từ trong tiếng gọi mơ thầm thĩ ấy bằng ngôn ngữ thi ca Đặng Xuân Xuyến đã sáng tạo ra một ngõ quê độc đáo nhất trong đời… Tôi nghĩ thi ca luôn là như thế, luôn là sự vụt hiện lóe sáng của cảm xúc, của tài năng!

Tôi rất mến yêu và trân trọng những bài thơ đã đến được với sự tối giản của ngôn ngữ, nhưng lại chứa đựng tối đa những thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm cho chúng ta để cùng thăng hoa và suy ngẫm./.

*

Bắc Ninh, 04 tháng 11.2018

NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

HOÀI ĐÔNG - THƠ NHẬT QUANG


nhat quang
Tệp đính kèm
16:06, Th 7, 1 thg 12 (4 ngày trước)
tới tôi




HOÀI ĐÔNG


Hanh hanh nắng mùa Đông
Rơi trên bờ vai nhỏ
Long lanh mềm lá cỏ
Nhẹ bước lòng bâng khuâng

Lao xao gió mùa Đông
Mơn man vờn mái tóc
Tình trao trong ánh mắt
Ngỡ đắm miền xa xăm

Chiều Đông ngát hương thầm
Lối xưa giờ quạnh vắng
Hoàng hôn phai nhạt nắng
Sương giăng sầu mênh mang

Em gót buồn miên man
Nơi phương trời xứ lạ
Nghe chuông trầm vội vã
Hắt hiu lời tháng năm.

                NHẬT QUANG
                    (Sài Gòn)

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2018

NGỦ TRONG ĐÊM MƯA THU - MAI LỘC , ĐỖ CHIÊU ĐỨC , PHƯƠNG HÀ


Chieu Duc
16:01, 29 thg 11, 2018 (5 ngày trước)



     

        Inline image

1. Nguyên bản chữ Hán cổ của bài thơ :

  秋雨夜眠           THU VŨ DẠ MIÊN

涼冷三秋夜,    Lương lãnh tam thu dạ,
安閒一老翁。    An nhàn nhất lão ông.
臥遲燈滅後,    Ngọa trì đăng diệt hậu,
睡美雨聲中。    Thụy mỹ vũ thanh trung.
灰宿溫瓶火,    Hôi túc ôn bình hỏa,
香添暖被籠。    Hương thiêm noãn bị lung.
曉晴寒未起,    Hiểu tình hàn vị khởi,
霜葉滿階紅。    Sương diệp mãn giai hồng !
         白居易                             BẠCH CƯ DỊ


     Inline image

2. Chú thích :

    - Lương Lãnh : Lương là Mát; Lãnh là Lạnh; Lương Lãnh là Mát  đến thấy lạnh, vì đã Tam Thu là vào khoảng tháng 9 âm lịch.
    - Bình Hỏa : là Cái bình bằng sành hơ trên lửa cho nóng để ôm ngủ cho ấm trong đêm thu lạnh lẽo.
    - Bị Lung : là cái mền bung ra như cái lồng để chui vào cho ấm.
    - Hiểu Tình : là Buổi sáng tạnh ráo không có mưa thu.
    - Sương Diệp : là Những chiếc lá nhuốm sương thu.

3. Bối cảnh xuất xứ của bài thơ :

            Bài thơ trên đây được sáng tác vào năm Đại Hòa thứ 6, đời vua Đường Văn Tông. Lúc bấy giờ Bạch Cư Dị đang là Phủ Doãn của tỉnh Hà Nam, đã trên sáu mươi tuổi và thân thể đã suy nhược già yếu. Việc quan tuy nhàn hạ nhưng vô vị, cộng thêm người bạn thơ thân thiết là Nguyên Chẩn 元稹 vừa mới tạ thế, nên tâm tình
của ông đang xuống dốc buồn chán và lãnh đạm với mọi việc.

Image result for 秋雨夜眠 白居易


4. Nghĩa Bài Thơ :

                          Ngủ Trong Đêm Mưa Thu

          Một lão ông đang an nhàn ngủ đi trong cái lạnh lẽo của ba tháng mùa thu. Nằm trăn trở hèn lâu khi đèn đóm đà tắt hết, rồi ngủ thiếp đi ngon lành trong tiếng mưa thu. Tro tàn trong lò còn làm ấm lên cái bình sưởi, và trầm hương còn tỏa hương thơm vào tấm chăn thơm ấm áp. Trong buổi sáng mai quang tạnh nhưng lạnh lẽo nầy, ta còn nằm ráng mà chưa muốn thức dậy, trong khi sương thu đã nhuộm đỏ cả các lá cây rụng xuống phủ đỏ cả các bậc thềm ! 

5. Diễn Nôm :


                   NGỦ TRONG ĐÊM MƯA THU


                     Ba tháng thu lạnh lẽo,
                     An nhàn một lão ông.
                     Tắt đèn đi ngủ trễ,
                     Mưa thu say giấc nồng.
                     Bình sưởi tàn tro ấm,
                     Chăn gối thoảng hương nồng.
                     Sáng trời chưa muốn dậy,
                     Sương nhuốm lá đỏ hồng !  
    Lục bát :
                  Ba thu lạnh lẽo heo may,
                  An nhàn một lão ông ngoài sáu mươi.
                  Đèn tàn nằm trễ nghe lười,
                  Mưa thu thánh thót ngủ vùi năm canh.  
                  Tro tàn bình ấm còn quanh,
                  Trầm hương thoang thoảng chăn lành lạnh thơm.
                  Sáng ngày biếng dậy chập chờn,
                  Sương thu nhuộm lá đỏ rơn mặt thềm !           

                                  ĐỖ CHIÊU ĐỨC

- Bản dịch của Mai Lộc -- 

Ba tháng thu một đêm lạnh lẽo 
Một lão nhân trong vẻ an nhàn . 
Lên giường đèn tắt muộn màng 
Vùi say giấc điệp mơ màng nhạc mưa . 
Trong lò hồng tro vừa tắt ngủm 
Thêm trầm hương một nhúm vào lồng 
Rét còn chưa tới, rạng đông 
Sương đêm nhuộm thắm rực hồng lá thu .

         MAILOC phỏng dịch


GIẤC NGỦ ĐÊM THU MƯA

Trời khuya lạnh lẽo giữa thu sang
Trong tiếng mưa rơi tựa nhịp đàn
Ông lãp say sưa trong giấc muộn
Đêm qua trằn trọc giữa canh tàn
Lò tro hơi ấm nồng lan tỏa
Chăn dạ hương trầm ngát chửa tan
Sáng rét, trời quang, nằm nán lại
Ngoài hiên lá rụng đỏ chen vàng.


PHƯƠNG HÀ phỏng dịch




TRĂNG TRONG THƠ NGÃ DU TỬ VÀ THÍCH TÍN THUẬN- CHÂU THẠCH (VÀ Ý KIẾN CUẢ ĐỘC GIẢ FACEBOOK )

Trạn Trương Văn
7 Tháng 11 lúc 20:21

Trong hình ảnh có thể có: Thích Tín Thuận, Ä‘ang ngồi·
Trong hình ảnh có thể có: Ngọc Dũ Phạm, đang cười
(Ảnh Thích Tín Thuận và Ngã Du Tử)

TRĂNG TRONG THƠ NGÃ DU TỬ VÀ THÍCH TÍN THUẬN


LỘI DƯỚI ĐƯỜNG TRĂNG

Chiều xuống vội phía hoàng hôn úp mặt
Ai treo mảnh trăng trên đầu non
Màu ánh sáng dịu kỳ vằng vặc
Bức tranh quê toát lên rực mảnh hồn

Tay nắm chặt nghe đêm nghìn lau lách
Lời trần tình loài dế giục trong đêm
Một tấc dạ cùng lòng son hiển hách
Biết nhân gian có thân ái nỗi niềm

Giữa quạnh vắng nghe muôn trùng im ỉm
Con đường quê hun hút đến vô cùng
Chân vẫn bước trong ân cần bóng ngả
Quan san ơi ! Lòng đau đáu riêng chung

Vẫn quê mẹ, vẫn con đường mùi lúa
Thời gian trôi hương vị cứ ngọt ngào
Ai xa xứ nghe hương đồng mời gọi
Như tình ca, như tiếng mẹ ca dao

Chân vẫn bước dưới dòng trăng lênh láng
Nghe cơ hồ róc rách chảy hàng cây
Những ai đi đâu? – Ta về đây
Uống nỗi nhớ nghe ngọt ngào tim óc

Tiếng đạp xe của người chở rau lóc cóc
Nghe nhỏ dần lối ngược phía đường xa
Mím môi chặt cùng con đường thổn thức
Ai giàu sang, ai cùng khó một thời

Đêm yên ắng trăng rất gần với núi
Góc non sông ôm chẳng hết nửa đời
Trăng bình yên rọi ánh sáng nơi nơi
Và tiếng dế mơ màng trong nhạc điệu.

NGÃ DU TỬ


XA VẮNG

Xa nhau rồi lối cũ chỉ vầng trăng
Lẻ loi chiếu giữa đẳng đằng diệu vợi
Không gian tĩnh mặc côn trùng nhạc trổi
Mây lững lờ kệ gió thổi về đâu

Xa nhau rồi mới thấu nỗi niềm đau
Hồn quánh lại ruổi tim nhàu băng giá
Câu tình nghĩa nhạt nhòa không bút tả
Ngấm giọt buồn dòng lệ đá trào lăn

Xa nhau rồi đêm vòi vọi bóng trăng
Giày lối dạ gót trầm thăng nỗi nhớ
Bao hờn tủi đắng lòng câu cách trở
Gió mây lồng bụi than thở đường xa

Xa nhau rồi nỗi nhớ chỉ mình ta
Men cay đắng cạn chén ngà say khướt
Thân khách lữ khoác sương làn ngũ trược
Gẫm nghĩa tình câu mất được vờn bay

Xa nhau rồi ai giận xót lòng ai
Trăng bóng lẻ vẫn đêm cài song khuyết......
THÍCH TÍN THUẬN

LỜI BÌNH : CHÂU  THẠCH


Thích Tín Thuận là một nhà sư, ông tu hành ở một ngôi chùa tại Quảng Trị, Ngã Du Tử là một nhà thơ ở Sài Gòn, đã từng xuất bản tập thơ “Chơi Giữa Thường Hằng”. Đọc hai bài thơ nói về trăng của hai tác giả, cảm nhận đầu tiên của tôi là rất hay, cảm nhận thứ hai của tôi là nếu hai bài thơ nầy đặt gần nhau thì nó tá khách vào nhau, cho ta hưởng cảm xúc trọn vẹn về trăng trong đôi mắt thưởng ngoạn và trăng trong tâm tư nhân vật.
Đọc khổ thơ mở đầu “Lội Dưới Đường Trăng” của nhà thơ Ngã Du Tử, ta có ngay một mãnh trăng tuyệt đẹp làm xao động tâm hồn:

Chiều xuống vội phía hoàng hôn úp mặt
Ai treo mảnh trăng trên đầu non
Màu ánh sáng dịu kỳ vằng vặc
Bức tranh quê toát lên rực mảnh hồn

Ngược lại nếu đọc khổ thơ mở đầu “Xa Vắng” của thầy Thích Tín Thuận ta sẽ cảm nhận trăng có một vẽ đẹp buồn và lạc lõng:

Xa nhau rồi lối cũ chỉ vầng trăng
Lẻ loi chiếu giữa đẳng đằng diệu vợi
Không gian tĩnh mặc côn trùng nhạc trổi
Mây lững lờ kệ gió thổi về đâu

Chữ “mặc” trong câu thứ ba và chữ “kệ” trong câu thứ tư cho ta thấy tâm trạng buồn thể hiện trong cái nhìn của tác giả. Tất nhiên trăng trung tính, nó vẫn đẹp như chính nó, nhưng “Người buồn cảnh có vui đâu” khiến cho trăng của Thích Tín Thuận “lẽ loi”. Không gian và côn trùng, mây và gió của Thích Tín Thuận chỉ hòa hợp vì sự buông thả chớ không vì muốn đến cùng nhau .

Qua khổ thơ thứ hai của “Lội Dưới Đường Trăng” ta thấy nhà thơ Ngã Du Tử nhìn trăng với tất cả sự lạc quan của mình;

Tay nắm chặt nghe đêm nghìn lau lách
Lời trần tình loài dế giục trong đêm
Một tấc dạ cùng lòng son hiển hách
Biết nhân gian có thân ái nỗi niềm

Đêm trong tâm hồn Ngã Du Tử là tiếng reo ca của dế, như thổ lộ cho tấm lòng son sắc của nhà thơ. Câu thơ “Biết nhân gian có thân ái nỗi niềm” là một sự băn khoăn nhưng không đánh dấu hỏi, nghĩa là nhà thơ còn tin tưởng nhiều đến sự thân ái của nhân gian.

Đọc khổ thơ thứ hai của “Xa Vắng” ta thấy nhà thơ ThíchTín Thuận có cái nhìn bi quan hơn;

Xa nhau rồi mới thấu nỗi niềm đau
Hồn quánh lại ruổi tim nhàu băng giá
Câu tình nghĩa nhạt nhòa không bút tả
Ngấm giọt buồn dòng lệ đá trào lăn

Tất nhiên với tâm trạng như thế thì nhà thơ đâu còn nhìn trăng đẹp với đôi mắt thưởng thức nữa. Trăng tất nhiên vẫn luôn đẹp nhưng cái đẹp ấy đã đánh động tâm tư nhà thơ hướng về một kỷ niệm sống không tốt đẹp như trăng.
Với cái nhìn trăng hiện tại nhưng tâm tư nhớ về quá khứ, nhà thơ Thích Tín Thuận đi dưới trăng, bước trong trăng nhưng trong ông trăng như đang ở một miền xa diệu vợi:

Xa nhau rồi đêm vòi vọi bóng trăng
Giày lối dạ gót trầm thăng nỗi nhớ
Bao hờn tủi đắng lòng câu cách trở
Gió mây lồng bụi than thở đường xa

Thế nhưng, nhà thơ Ngã Du Tử thì ngược lại. Tác giả đi dưới trăng, bước trong trăng và thấy trăng của quá khứ nằm trong hiện tại:

Giữa quạnh vắng nghe muôn trùng im ỉm
Con đường quê hun hút đến vô cùng
Chân vẫn bước trong ân cần bóng ngả
Quan san ơi ! Lòng đau đáu riêng chung

Vẫn quê mẹ, vẫn con đường mùi lúa
Thời gian trôi hương vị cứ ngọt ngào
Ai xa xứ nghe hương đồng mời gọi
Như tình ca, như tiếng mẹ ca dao

Từ bóng trăng hiện tại, nhà thơ Ngã Du Tử lạc quan đến cực độ khi thấy “Thời gian trôi hương vị vẫn ngọt ngào”, nghĩa là ông hưởng trọn vẹn hạnh phúc của quá khứ trong hiện tại.
Thế rồi bước qua những khổ thơ cuối, nhà thơ Ngã Du Tử tả trăng tràn ra khắp cùng vận vật, lai láng một màu sắc lung linh và êm ái một thứ tiếng động ngập làm bình an tâm khảm:

Chân vẫn bước dưới dòng trăng lênh láng
Nghe cơ hồ róc rách chảy hàng cây
Những ai đi đâu? – Ta về đây
Uống nỗi nhớ nghe ngọt ngào tim óc

Tiếng đạp xe của người chở rau lóc cóc
Nghe nhỏ dần lối ngược phía đường xa
Mím môi chặt cùng con đường thổn thức
Ai giàu sang, ai cùng khó một thời

Đêm yên ắng trăng rất gần với núi
Góc non sông ôm chẳng hết nửa đời
Trăng bình yên rọi ánh sáng nơi nơi
Và tiếng dế mơ màng trong nhạc điệu

Trong ánh trăng tuyệt vời đó, nhà thơ đã cho “Tiếng đạp xe của người chở rau lóc cóc/ Nghe nhỏ dần lối ngược phía đường xa” làm cho người đọc trong vô thức như thấy được thời gian trôi từ quá khứ, qua hiện tại, đến tương lại dội vào tâm hồn từng tiếng nhạc mê ly.

Khác với Ngã Du Tử, nhà thơ Thích Tín Thuân thấy mình cô đơn dưới trăng. Nhìn trăng nhà thơ thêm sâu nhiệm về cái thân ngũ trược của con người:

Xa nhau rồi nỗi nhớ chỉ mình ta
Men cay đắng cạn chén ngà say khướt
Thân khách lữ khoác sương làn ngũ trược
Gẫm nghĩa tình câu mất được vờn bay

Xa nhau rồi ai giận xót lòng ai
Trăng bóng lẻ vẫn đêm cài song khuyết......

Hai câu thơ cuối “Xa nhau rồi ai giận xót lòng ai/ Trăng bóng lẽ vẫn đêm cài song khuyết…” tưởng là một một tiếng than nhưng không phải, ở đây nhà thơ khẳng định một định luật sống giữa đời. Ai đã để xót lòng nhau thì đêm đêm trăng bóng lẽ sẽ cài song khuyết cho một hoặc cho cả hai người. Câu thơ“Men cay đắng cạn chén ngà say” đừng nên nghĩ men là rượu. Đối với nhà thơ, cay đắng cùng dìm hồn người say khướt. Sự khoái lạc trong suy tư về cái mất, cái đươc trong cuộc sống khi hiểu được cũng là lúc ngộ ra chân lý. Lúc đó mọi sự vờn bay trong cái nhìn thiền quán của đôi mắt và thiền tịnh của tâm hồn.

Có người sẽ hỏi rằng, vì sao thơ của một vị chân tu lại trăn trở nhiều hơn thơ của một thi nhân bình thường? Xin trả lời: cả hai là thi sĩ. Thi sĩ thì tâm hồn rung động theo con tim mình, theo biến chuyển của tâm trạng mình, theo thời gian khác nhau và hoàn cảnh khác nhau, miễn là sự rung động đó được diễn tả thật với lòng mình và xao xuyến lòng người thì được chấp nhận. Ở đây nhà thơ Ngã Du Tư đã viết một bài thơ trăng tuyệt vời, nhưng có lẽ trong niềm xao xuyến trước vẽ đẹp của trăng, nhà thơ quên đi thế sự. Ngược lại nhà thơ Thích Tín Thuân nhìn trăng một mình, ông quay lại với xúc cảm thật của một thi nhân, và đáng trân trọng thay những lời thơ không bị trói buộc bởi những câu nệ tầm thương , mà vụt bay lên, vọng tiếng buồn trong trăng nhưng vẫn thanh bai, trong sáng vô biên, quyến luyến hồn người khi đọc nó.
Cả hai bài thơ nếu để cạnh nhau mà đọc, đọc bài nầy trước, đọc bài kia sau và ngược lai, ta sẽ thấy mọi vẽ đẹp của trăng trong ngóc ngách tâm hồn con người. Ta sẽ hiểu nhà thơ không cần phải bó buộc cảm xúc mình gò bó trong bất cứ điều gì , cũng từ đó ta yêu và để sự tự do cho người sáng tác văn chương./.

CHÂU  THẠCH

CÁC BÌNH LUẬN KHÁC:


Ha Thai TUyệt vời anh Châu Thạch ơi!

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Trạn Trương Văn Cảm ơn anh Hạ Thái. Anh mà khen thì tác giả đầy niềm tin rồi!

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Ngọc Dũ Phạm Rất cảm ơn nhà thơ Châu Thạch đã nhận định hai bài thơ trăng của 2 tác giả cảm xúc về trăng ở cung bậc và hoàn cảnh khác nhau.
Xin chia sẻ trên trang em anh nhé. Chúc anh khỏe đẻ viết cho mình, cho đời

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Tuyết Mai Cảm ơn Anh đã cho em xem hai bài thơ rất hay và lời bình rất tuyệt của anh....

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần


Hiển thị thêm cảm 



Ha Thai Tuyệt vời huynh Châu Thạch ơi!
Tôi chưa bao giờ đọc một bài bình thơ một cách kỹ càng như hôm nay.
Hai bài thơ đều hay, với nhận xét sâu sắc và cuốn hút của huynh làm tôi lâng lâng như mình đang bay bổng!

Thú thật, tôi thường tự hỏi sao huynh chỉ nhìn tất cả mọi bài thơ bằng đôi mắt với tinh thần rất nhân bản, tôi cũng tự hỏi sao huynh không tìm cho tôi, cho họ một cái gì đó đối nghịch cho bài tham khảo mang tính quân bình hơn. Tất nhiên những bài bình của Huynh từ trước đến giờ đều rất hay, rất đáng tham cứu.
Nhưng hôm nay cũng cung cách viết ấy, Huynh đã cuốn hút tôi vào một chiều suy luận như Huynh, có cái tôi chưa nhận ra thì Huynh đã dẩn dắt, sự dắt dẩn cũng công bằng gợi ý rất phân minh! . 
Từ lâu tôi đã thán phục Huynh, nay cái mức độ đó vút tăng ngoài tưởng tượng.
Biết nhau đã lâu, Huynh thừa rõ tính khí của tôi, bộc trực, thẳng thắn... Ghét trò đóng kịch đầu môi, trình diễn ....
Nói thêm, khi nhìn lại căn nhà của gia đình Huynh, gợi nhớ cho tôi rất nhiều, con đường Quảng Trị - Huế từ bến xe NH làm sao không ngang qua Long Hưng, qua Cầu Dài... Tôi gốc QT, học Huế từ khi 7 tuổi cho đến 17, biết bao lần đi lại con đường ấy, nhìn căn nhà ấy... kỷ niệm biết bao nhiêu, cho nên khi Huynh post hình trên bài thơ NHÀ TÔI, tôi nhìn và xúc động ghi xuống ngay bài thơ "Tặng Huynh &..." Chiều nay nhà thơ Phan Khâm xin bài đó cho Đặc San Mùa Xuân QT vùng Hoa Thịnh Đốn.
Có lẽ tôi đã quá dài dòng, nhưng cũng chưa hết ý, thôi đành hẹn.
Cám ơn Huynh đã giới thiệu 2 bài thơ HAY QUÁ LÀ HAY kèm nhận xét RẤT XỨNG ĐÁNG.
Rất chân tình, 
Hạ Thái

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuầnĐã chỉnh sửa

Trạn Trương Văn Có hai người ở hải ngoại đã cho Châu Thạch niềm tin để viết. Đó là Liêu Tiên Sinh Thái Quốc Mưu và Hạ Thái Trần Quốc Phiệt. Châu Thạch tin tưởng hoàn toàn vào lời nhận xét của hai vị nầy vi trình độ thẩm thấu văn chương của họ và tư cách ngay thẳng của họ. Con dế mèn nầy có gáy được ngày nào cũng không quên ân tình của những cánh tay vàng đã nâng đở. Trân trọng vô cùng những lời khen chân thật!!!

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Du Thuy Khuc Hai bài thơ thật hay và Huynh đã làm cho ánh trăng trong thơ trở nên đẹp và huyền diệu hơn 💕💕

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Vo Chan Cảm ơn Huynh nhiều..
Huynh đã đem hai bài thơ thật hay giới thiệu và đã tô điểm cho ánh trăng trong hai bài thơ càng đẹp thêm..lung linh hơn... mến phục...
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Lang Truong Trăng Du Tử viễn du miền ký ức 
Đêm diệu huyền tìm đậu bến sông quê 
Trăng thầy tu hao khuyết nửa câu thề

Theo mây gió lạc trôi miền trần ái. 
Còn trăng Châu Thạch đúng là trăng mê gái 
Í lộn rồi, xin viết lại: bị gái mê ! 
Bài bình hay. Hai bài thơ cũng rất hay, man mác, mơ màng. Đặt hai tác phẩm của hai tác giả bên nhau là phong cách bình thơ rất đặc biệt, của riêng nhà phê bình Châu Thạch.

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Trạn Trương Văn Kkk! Thích nhất câu "Trăng Châu Thạch là trăng bị gái mê".

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Ngọc Dũ Phạm Lang Truong , sự phát hiện của Lang Trương quả là rất lạ, chưa thấy ai nhận định hay phê bình bằng cách đặt 2 bài sát rạt để nhận định. Lần nữa cảm ơn anh Châu Thạch nghen

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Giao Văn Lê Ngọc Dũ Phạm - cái thì Châu Thạch, cái Ngã Du/Hai cái xem ra sướng tận cu/ Cái sướng văn chương như sướng mụ/ Đọc xong - hớn hỡ cuộc nhàn du.huhu

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Hoai Huong Xua Trạn Trương Văn 
TRĂNG MÊ GÁI HAY LÀ BỊ GÁI, MÊ đây ta, chắc là cả hai? Nếu cả hai thì đều sẽ chết tươi bác Châu ơi.
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần

Bang Truong Cao Lang Truong ơi,
" Bệ gái mi " sao lại 
" bị" ? Bị thì CT đâu có khoái mà viết ?

Hãy nói dùm là "được" nhé. 
Cảm ơn huynhTrưỡng LT .
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 ngày

Trạn Trương Văn Yên trí đi Hoài Hương Xưa ơi:
Trăng không mê gái
Gái chẳng mê trăng

Chẳng qua tại đám mây giăng thôi mà.
KKK!
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 ngàyĐã chỉnh sửa

Hoai Huong Xua Trạn Trương Văn 
TRĂNG MÊ GÁI HAY LÀ BỊ GÁI, MÊ đây ta, chắc là cả hai? Nếu cả hai thì đều sẽ chết tươi bác Châu ơi.
Quản lý


Bang Truong Cao Lang Truong ơi,
" Bệ gái mi " sao lại 
" bị" ? Bị thì CT đâu có khoái mà viết ?

Hãy nói dùm là "được" nhé. 
Cảm ơn huynhTrưỡng LT .
Quản lý


Trạn Trương Văn Yên trí đi Hoài Hương Xưa ơi:
Trăng không mê gái
Gái chẳng mê trăng

Chẳng qua tại đám mây giăng thôi mà.
KKK!
Quản lý


Lê Liên Hihi... Thi đệ Lang Trương ơi ! Lồng comment của huynh Châu Thạch với bài thơ của huynh Hồng Băng thành 1 bài bình là phong cách của Lê Liên cách đây mấy năm trước rồi ....hiện tượng đình đám , làm cho vài tên GATO NÉM ĐÁ HUYNH MUỘI nhà mình quá chừng !? 
Kết quả : scandal đó đưa Lê Liên vào tầm ngắm của vài thi hữu có tên tuổi... Họ đã nhờ tỷ bình thơ của họ ...
Eo ơi! Tỷ nào dám ,... Vì chẳng có thời gian để viết! 
Ôi! Chuyện " xưa rồi Diễn..." kể lại cho dzui...u..ui..ui ...🙂😉😇😍
Quản lý


Trả lời2 ngày

Đàm Tài Nguyễn Cám ơn Trạn Huynh đã mở ngõ tâm hồn thơ , dẫn dắt người đọc bằng những cảm xúc để nhận biết về cái hay , cái buồn , cái đẹp của hai bài thơ với cảm nhận của huynh . Tuyệt vời , Trạn Huynh ạ .


Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần



Hoành Trần Xin cảm ơn nhà phê bình CT!

Quản lý




ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần



Hien Bui Cho No Mot Bua !. Noi Nhieu Met kho Lam Ban Oi , cho No Bo Thoi Ngang Nguoc .

Quản lý




ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần



Trần Uyên Thám Thơ tuyệt vời luôn nhà thơ ơi

Quản lý




ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 tuần



Trung Duong Thơ thầy thật lắng đọng tâm tư...

Quản lý




ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần



Thị Quỳnh Dung Lê Hai câu cuối của bài thơ Xa vắng là tuyệt bút. Thi nhân tên tuổi cũng chỉ đến vậy. 
Hai bài thơ về trăng là hai bức tranh tâm trạng khác nhau. Bài của Ngã Du Tử mang ý vị nhân sinh trải lòng với quê hương , với những cảnh đời khốn khó. Bài của tăng sĩ 

Thích Tín Thuận là bài thơ tự tình, nặng lòng với một tình yêu vừa vụt mất. Ánh trăng như nhân vật , đồng cảm với tâm tư hai thi sĩ. Trăng của Ngã thi sĩ là trăng bình yên rọi sáng nhân gian, tình băn khoăn và trang trải. Trăng của Thích thi sĩ là trăng lẻ loi, cô quạnh, với " mặc" và " kệ " với không gian. Trăng đi vào cõi tâm hồn mà soi thấu. Trăng tâm cảnh ở 2 bài mang bản sắc khác nhau. Ở bài đầu trăng vui , trăng rộng lòng vói những hình ảnh như: trăng treo vằng vặc, trăng lênh láng, trăng gần và trăng bình yên.
Ở bài sau, những hình ảnh như trăng lẻ loi, trăng vòi vọi, trăng bóng lẻ vẽ nên chân dung vầng trăng khuyết mơ màng gây cảm giác lạnh lẽo, cô đơn. Như muốn khắc sâu cảm giác cô đơn , xa vắng, từ " khuyết " được gắn với từ song, gợi lên hình ảnh người tình đang ôm thú đau thương khi cảm nhận tình yêu vừa trôi qua. 
Như vậy, ở hai bài thơ , ta có 2 vầng trăng khác biệt : trăng chia sẻ và trăng cô đơn
Nhà bình Châu Thạch có ngôn ngữ bình trau chuốt mềm mại vuốt lòng, dễ thâm nhập trái tim người đọc. Nhưng hình như nhà bình mới diễn giải từng ý thơ hơn.là phân tích nghệ thuật. Kết cấu bài bình có phần rối rắm. Thiển ý tôi là nên có sự so sánh tỉ mỉ hơn.về bút pháp, về cái tình trong thơ ở 2 bài.
Tôi có cảm tưởng như đây mới là vuốt thơ chứ chưa phải bình thơ. Vuốt mê hoặc . Tôi đứng xa mà ngó và học hỏi thêm. Ngưỡng mộ tài hoa.
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuầnĐã chỉnh sửa




Trạn Trương Văn Trình độ mình tới đâu mình viết tới đó. Bạn hiểu sâu thì bạn viết một bài nữa để "so sánh tỉ mỉ hơn" thì tốt vô cùng. Bạn đọc lại có thêm cơ hội để thưởng thức thơ sâu nhiệm hơn thì quý lắm. Mong sớm được đọc lời bình "so sánh tỉ mỉ" của bạn.

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần

Thị Quỳnh Dung Lê Trạn Trương Văn mấy hôm ni nhà có việc bận , nên không được tập trung tư tưởng , Nhờ cậu tìm bài hay cung cấp cho ạ. Còn cái gì đã đi qua, nhấn là để lần sau khoa học hơn, thuyết phucj hơn thôi . Thêm bài pt cho cái đã qua như thế mặc cả là ko văn nghệ.tí nào!

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuầnĐã chỉnh sửa

Trạn Trương Văn Thị Quỳnh Dung Lê Thầy TTT chắc giận bạn rồi. Bạn nói thầy "nặng lòng với một tình yêu vừa vụt mất". Thầy đã đi tu rồi thì dầu có yêu thầy cũng không làm thơ cho "tình yêu vụt mất đó đâu", vì thầy hiểu thứ tình đó chỉ là trần dục mà thôi, không đáng để làm thơ khóc lóc đâu bạn ạ. Kkk!

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần

Thị Quỳnh Dung Lê Trạn Trương Văn tôi nghĩ thầy đã từng yêu trước khi đi tu., dựa vào hình ảnh, ngôn ngữ và cảm xúc trong bài mà tôi đoán.vậy. Trước khi xuất gia vào chùa, thầy có quyền yêu và viêts thơ yêu. Chỉ khi vào chùa rồi cái quyền ấy mới hạn chế dần

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuầnĐã chỉnh sửa

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần

Muu Thai Cá nhân tôi, nói thật - Xin đừng xem tôi xỉa xói vào vào ý kiến hay thi tứ của người khác! Bởi đó là sở thích riêng của họ. - Tôi nghĩ người lớn tuổi mà làm thơ tình, đọc nghe rất chướng. Giới tu sĩ làm thơ tình càng chướng hơn. Tôi nghĩ ông Thích Tín Thuận nên đổi thành Thích Phụ Nữ đúng hơn. 

Tôi cũng biết lứa tuổi nào nếu đầu gối còn máu thì còn yêu! Nhưng yêu thực tế kìa, còn yêu trong thơ chỉ phí thời gian vô ích. Đôi khi, còn gây ảnh hưởng xấu cho người đọc.

Xã hội bây giờ còn những thiếu sót, tình cảm giữa con người với nhau gần như mất hẳn, đạo đức quá duy đồi,... 

Là người cầm bút (tôi không có vinh dự trong giới nầy đâu nha!), phải có trách nhiệm góp phần đả phá cái xấu, đề cáo cái tốt… Cùng góp phần xây dựng một xã hội tốt hơn; giúp cho con người có đức hạnh hơn; góp phần làm cho đất nước thăng tiến hơn,… Nếu làm được như thế tốt hơn là than mây khóc gió. 

Tôi rất thích bài thơ LỘI DƯỚI ĐƯỜNG TRĂNG của nhà thơ Ngã Du Tử, bởi ông đã nói lên được tình yêu tha thiết quê hương, với những ước mơ làm đau đáu lòng mình, và, với những ước mong, hoài vọng của người xa quê khi trở lại quê nhà… Dù tôi chưa biết ông ở đâu?

Bài thơ XA VẮNG của Thích Tín Thuận, là một bài thơ tình, với khát vọng dục tình mà có thể chính bản thân y đã trải qua! Chúng ta cùng đọc lại:

Xa nhau rồi lối cũ chỉ vầng trăng
Lẻ loi chiếu giữa đẳng đằng diệu vợi
Không gian tĩnh mặc côn trùng nhạc trổi
Mây lững lờ kệ gió thổi về đâu

Xa nhau rồi mới thấu nỗi niềm đau
Hồn quánh lại ruổi tim nhàu băng giá
Câu tình nghĩa nhạt nhòa không bút tả
Ngấm giọt buồn dòng lệ đá trào lăn

Xa nhau rồi đêm vòi vọi bóng trăng
Giày lối dạ gót trầm thăng nỗi nhớ
Bao hờn tủi đắng lòng câu cách trở
Gió mây lồng bụi than thở đường xa

Xa nhau rồi nỗi nhớ chỉ mình ta
Men cay đắng cạn chén ngà say khướt
Thân KHÁCH LỮ khoác sương làn ngũ trược
Gẫm nghĩa tình câu mất được vờn bay

Xa nhau rồi ai giận xót lòng ai
Trăng bóng lẻ vẫn đêm cài song khuyết......
TTT

Ngoài ra, từ LỮ KHÁCH, Thích Tín Thuận đổi thành KHÁCH LỮ hoàn toàn vô nghĩa.

Xin nói thêm môt chút về hai chữ Lữ Khách. Trong Từ Điển Tiếng Việt, giải nghĩa hai chữ Lữ Khách: “d. Người đi đường xa”. Trớt quớt! Trong khi Lữ Khách, nghĩa là Khách trọ (ở lữ quán hay lữ điếm). Còn, “Người đi đường xa” là “Khách Lữ Hành”. 

Cuốn Từ Điển trên có 17 “học giả” của Trung Tâm Từ Điển Học mà giải thích sai như thế. Trách gì con em chúng ta càng học càng… dốt!

Trong cuốn Từ Điển Tiếng Việt, giải thích cả TỰ lần TỪ, mà để tên là TỪ ĐIỂN cũng sai. Phải đặt tên là TỪ THƯ TIẾNG VIỆT, mới đúng!
.
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần                             

Thị Quỳnh Dung Lê Ông tu sĩ ở đây làm thơ hay về diễn đạt đấy, nhưng giá như ông che bớt nhân thân, đừng để tên ở chùa của mình mà ghi tên tục đi thì nó hay hơn, tránh né được dư luận đàm tiếu.

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần

Muu Thai Vấn đề không phải đổi tên hay tránh né "ta không phải tu sĩ" Mà chính do cái tâm của kẻ ấy thôi. Chúc mỹ nhân luôn khỏe trẻ trung.

Quản lý


Tuyet Linh Bui Mưu Thái/ Tui đồng ý với huynh về ý nghĩ: “Tôi nghĩ người lớn tuổi mà làm thơ tình, đọc nghe rất chướng. Giới tu sĩ làm thơ tình càng chướng hơn”
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần

Muu Thai Cám ơn sự đồng thuận của quý Mỹ nhân Tuyết Linh.
Quản lý


Trạn Trương Văn Sao quý vị cứ cố nghĩ là thầy TTT làm thơ tình yêu nam nữ nhỉ? Nghĩ như thế thật oan cho tác giả vì trong cả bài thơ thầy không đề cập đến người nữ nào. Nếu thật sự là bài thơ viết cho người tình thì thầy TTT đủ khôn ngoan để thay tên Phật bằng một bút hiệu khác. Với tôi đây là một bài thơ thổn thức vì sự ly biệt nhưng của một vị cao tăng thì phải hiểu nó sâu hơn từ ngữ của thơ. Thầy Minh Đức Triều Tâm Ảnh hay cha Xuân Ly Băng cũng có nhiều bài thơ tương tự như vậy nhưng thật ra để nói những điều cao siêu hơn chứ không phải nói về tình yêu trai gái.
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuầnĐã chỉnh sửa

Suong Lam đồng ý với Châu huynh , bài thơ của thầy TTT tuy đề tài là thơ tình nhưng là tình chung chung diễn tả tình ly biệt mà bất cứ người đọc nào cũng dễ đồng cảm Đây không phải là ái tình riêng biệt của 2 cá nhân nam nữ , sướt mướt , thê thiết hay khêu gợi dục tình...Còn nếu nhận xét thơ mà phân biệt tác giả người đời, trong đạo , già , trẻ ... thì có hơi áp đặt bởi không ai cấm tu sĩ không được làm thơ tình . Tác giả Phạm Thiên Thư trước cũng là tu sĩ đã làm rất nhiều bài thơ tình , trong đó có bài Ngày Xưa Hoàng Thị nổi tiếng một thời và còn nhiều người ưa chuộng theo thời gian . Nhà Thơ tài danh PTT còn in một tập thơ có tựa''Ngaỳ Xưa Người Tình''' tập hợp nhiều bài thơ tình (rất hay)
Quản lý

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuầnĐã chỉnh sửa

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuầnĐã chỉnh sửa

Muu Thai "Tác giả Phạm Thiên Thư TRƯỚC CŨNG LÀ TU SĨ đã làm rất nhiều bài thơ tình". Xin hỏi TRƯỚC KIA KHI LÀ TU SĨ NHÀ tHƠ PHẠM THIÊN tHƯ CÓ LÀM THƠ TÌNH KHÔNG? Sau khi, không còn là tu sĩ, Phạn Thiên Thư trở về người trần tục, thì ông ấy có quyền sống của riêng mình. Bởi ông không còn ràng buộc bởi giáo lý các tôn giáo. Do đó, ông ấy có guyền làm thơ tình, không ai có thể phê phán được. Hai trường hơp hoàn toàn khác biệt. Không ai có quyền cấm các ông tu sĩ làm thơ tình. Nhưng, mọi người đều có quyền phê phán những ông tu sĩ làm thơ tình. Bởi điều đó khiến người đọc thấy trong lòng kẻ tu sĩ ấy còn nghĩ đến dục vọng thường tình.
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời1 ngày

Suong Lam đáng lẽ ra tôi không trả lời cái còm này , nhưng tôi cảm mến huynh Châu Thạch , người đặt cái TÂM khi viết bài bình thơ và đã tag bài qua trang của tôi . Thật tình tôi không có hứng thú với những còm ngoài đề tài phân tích bình luận bài thơ mà nói về (đời tư ) của tác giả bài thơ.Tôi kính phục thái độ của Thầy TTT và đồng thuận với lời còm ôn hòa nhã nhặn cuả huynh CT .
Đây là một số tài liệu về nhà thơ tài danh Phạm Thiên Thư , thời gian đang là tu sĩ và một số tác phẩm của ông đã xuất bản trong thời gian này . Tài liệu của Wikipedia và rất rất nhiều bài bình luận khác của các tác giả uy tín đã nhận xét về thơ cuả ông.

Phạm Thiên Thư sinh tại Lạc Viên, Hải Phòng trong một gia đình Đông y. Năm 1943-1951, ông sống ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Năm 1954 cho đến nay, ông cư ngụ ở Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh).

Từ 1964-1973: tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Trong năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu truyện Kiều-Đoạn trường Vô Thanh[1].
Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân–Tâm)...

: Phạm Thiên Thư, Động hoa vàng, Cảo Thơm xuất bản, 1971
Đạo ca 1972 
....

Ông viết Động hoa vàng những ngày đầu ngấm giáo lý nhà Phật, như đánh dấu mình vào một cõi của chính mình trong thi đàn. Dĩ nhiên, Động hoa vàng chưa hẳn là tác phẩm xuất sắc nhất trong đời viết của Phạm Thiên Thư, nhưng nó đã làm nên một "thương hiệu" của Phạm Thiên Thư. Những câu thơ đẩy cái đạo đời bềnh bồng trên cõi Phật, làm hiện hữu cái cuộc đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo:

Đợi nhau tàn cuộc hoa này

Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ

Tìm trang lệ ố hàng thơ

Chữ xưa quyên giục bây giờ chim đi...

Nhiều người đã cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông chỉ cười: "Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình". Quả thực là từ cõi Phật, ông đã làm được những điều đáng nể: thi hóa kinh Phật, sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm hoi trong văn học Việt Nam...Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ...[3].

Hoàng Nguyên Vũ trong bài Cõi lạ Phạm Thiên Thư 

(TÔI SẼ KHÔNG TRẢ LỜI BẤT CỨ CÒM NÀO NỮA VÌ TÔN TRỌNG TINH THẦN VĂN HÓA LỊCH SỰ TỐT ĐẸP CỦA CỘNG ĐỒNG FACEBOOK XIN VUI LÒNG ĐỌC LẠI BÀI THƠ ĐỘNG HOA VÀNG (4OO CÂU) VÀ TRA CỨU THÊM TÀI LIỆU KHÁC VIẾT RẤT NHIỀU VỀ THI SĨ TÀI DANH PTT)
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời1 ngàyĐã chỉnh sửa

Muu Thai Mỗi người có suy nghĩ khác nhau mà Châu tiên sinh. Với tôi, tôi nghĩ đó là bài thơ tình. Còn, nếu cho rằng nếu là bài thơ tình thì ông ta sẽ thay đổi tên tác gỉa thì... ông ta đúng là CÁO thứ thiệt rồi.
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần 

Lang Truong Hãy nghe người xưa nhớ nhau, xem có chút gì tục luỵ không :

Nhớ Bạn Phương Trời

Tg: Trần Kế Xương 

Ta nhớ người xa cách núi sông
Người xa xa lắm, nhớ ta không?
Sao đang vui vẽ ra buồn bã?
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng!
Khi nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng,
Nỗi riêng riêng cả đến tình chung.
Tưong tư lọ phải là trai gái 
Một ngọn đèn khuya trống điểm thùng.
Chớ có đem tâm hồn tủn mủn của nguỵ quân tử mà phán xét bậc chân tu.

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần

Giao Văn Lê Lang Truong - những ai đã là bạn tri âm tri kỷ chí cốt mới cảm câu thứ 7 của cụ Tú là tuyệt vời. Văn tôi cũng đã có tình bạn như vậy .

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời1 tuầnĐã chỉnh sửa

Lê Liên Hoàn toàn đồng ý với Lang Truong thi đệ. Hơn nữa mỗi người cảm nhận thơ theo cách riêng của mình ...

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời1 tuần

Giao Văn Lê Lê Liên thôi đừng nói ; Ba phải ! Vì ba phải chỗ nào cũng đúng hết ! .kkkk
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời1 tuần

Trạn Trương Văn Giao Văn Lê Ông ấy hay đùa giống Châu Thạch. Đừng giận nhé muội Liên.

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời1 tuần

Giao Văn Lê Trạn Trương Văn - LGV có khả năng uống rượu làm cho mấy thằng bạn thơ bỏ chạy ...(?) Bởi vì nhièu loại bởi vì
Dầu say hay tỉnh - nguyên xi...chính mình !

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời1 tuần

Thị Quỳnh Dung Lê Anh 
Mưu có bài thơ tình đăng cách đây 1 tháng hay, lãng mạn, kinh điển và rất cập nhật thời đại , được nhiều người yêu mến, có chướng gì đâu. Kkkkk
Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuần   

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời2 tuầnĐã chỉnh sửa

Muu Thai Vậy, tất cả những bài viết trong Tự Lực Văn Đoàn giờ đăng lại là quý mỹ nhân coi như họ viết năm nay?

Quản lý


ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời3 ngày

Văn Thanh Không ai bỏ đời theo đạo, một người xuất gia chính là vì thấu cảm nỗi đau đời mà xuất gia tầm đạo. Đạo vì đời. Tôi nghĩ ,Thầy Thích Tín Thuận như thế.
Xa nhau rồi lối cũ chỉ vầng trăng
Lẻ loi chiếu giữa đẳng đằng diệu vợi

Không gian tĩnh mặc côn trùng nhạc trổi
Mây lững lờ kệ gió thổi về đâu ...
Như lời bình của Bác Trạn, Thầy chỉ nói lên hiện thực khách quan của đất trời với tâm tình nhân thế...Trăng vẫn sáng, côn trùng vẫn hồn nhiên trổi khúc, mây vẫn lững lờ mặc gió đẩy đưa. chữ "mặc... kệ" trong hai câu thơ theo luật vô thường của tự nhiên và xã hội, còn có ý khuyên hành giả hãy buông xã chớ quan tâm
Quản lý


Thích
Trả lời2 tuần

Trạn Trương Văn Cảm ơn anh Văn Thanh đã bình giảng hợp lý. Cách đây 10 năm tôi cũng hiểu lầm bài thơ "Thưa Em" của thầy Mạc Phương Tử. Tôi bình bài thơ ấy như lời của một người chồng viết cho vợ. Sau đó biết thầy là một tu sĩ tôi mới thấy ra cái sai của mình. Thật ra nhà sư cỏng người phụ nữ qua sông còn bị sư đồng tu đi bên cạnh chê bai nữa là. Cho nên sự thâm thúy , cao siêu của các vị chân tu bị đời ném đá không có chi là lạ đâu.

Quản lý


Giao Văn Lê Trạn Trương Văn thế gian nầy ai là " chân tu" (?) khà khà khà !
Quản lý


Trạn Trương Văn Giao Văn Lê Thi Giao Văn Lê chứ ai. Uống rượu sảng khoái, để hồn hòa vào trong sáng của thơ là chân tu đó cha nội ơi!
Quản lý


Giao Văn Lê Trạn Trương Văn - đang trên xe đò từ saigon về tệ xá - thằng 4 G còn ! Cứ ha..ha..! SỐNG !

Quản lý


Giao Văn Lê Giao Văn Lê - Về đến nhà, chảy thẳng xuống chỗ kín ...tè một phát sướng tê...tái luôn ! Đời như vậy mới ra đời ! Còn ai nói thử" Đạo " ra sao cho ta xem thử (?) như xem...?!
Quản lý


Trạn Trương Văn Giao Văn Lê Như vậy là còn trần tục, phải về nhà mới đái. Đái ngay trên xe mới là đạt đạo, thoát tục, đếch sợ chi đời kkk!

Quản lý


Văn Thanh Phải, nói được thì phải làm !

Quản lý


Giao Văn Lê Văn Thanh Ta đái có chỗ giống như mấy cha tu cũng có chỗ ! Nhưng đái nó dễ lòi ra, còn tu nó ít lòi thôi ! kkk

Quản lý


Văn Thanh Tầm nhìn của đôi mắt, Tầm nhìn của tâm hồn không ai giống ai. OK !

Quản lý


Muu Thai Thưa anh Văn Thanh, anh viết: "Không ai bỏ đời theo đạo, một người xuất gia chính là vì thấu cảm nỗi đau đời mà xuất gia tầm đạo. Đạo vì đời." Tôi nghĩ không hẳn như thế đâu anh. Quanh ta không ít những tên tu sĩ phá đạo hại đời. Ngay cả những kẻ lãnh đạo tôn giáo cũng thế. Không tin, anh nhìn lại "cuốn phim" trước tháng 4/75 thì sẽ thấy.

Quản lý


Văn Thanh Anh hiểu nhầm ý tôi rồi. VN bây giờ gần như tất nhà sư "có đất cắm dùi" thì như hầu hết là "sư mặt trận" Phá đạo lừa đời cả. Tôi muốn nhấn mạnh đến những nhà sư chân chính thôi.
Quản lý


Muu Thai Cám ơn anh. Tôi không hiểu sai đâu anh. Tìm một vị chân tu không phải dễ đâu anh ơi! Tôi biết ngay cả nhưng kẻ được "phong" làm lãnh tụ tôn giáo cũng phá đạo hại đời. Còn bọn tu sĩ bình thường phá đời hại đạo thì như kiến cỏ. Tôi nói có sách, mách có chứng không nói bậy đây anh. Cám ơn anh đã phản hồi. Thân kính.
Quản lý


Văn Thanh Công giáo 2019 năm, Phật giáo 2561 tồn tại & phát triển là nhờ có những nhà sư & cố đạo chân chính. Sở dĩ nhân gian chưa thành thiên đường hay cực lạc là bởi các Sư Cha giả danh Phá đạo hại đời cấu kết với tà ma ngoại đạo, thời nào cũng nhiều quá. Bởi thế nhân gian mới khốn khổ. Nhưng không vì thế mà chúng ta bi quan thoái chí, mất niềm tin vào chân lý cuộc sống...
Quản lý