CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2020

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 3) . NGUYÊN LẠC

 




TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 3)

.


SƠ LƯỢC TRÀ KINH CỦA LỤC VŨ


.

Ở phần trên có liên hệ đến Lục Vũ và tác phẩm danh tiếng của ông: Trà Kinh (Kinh thư của Trà), ông đã định thức hóa Pháp điển về Trà. Ta thử xem sơ lược về Trà Kinh.

.



                          Thần Trà Lục Vũ

.

Tiểu sử Lục Vũ

.

Lục Vũ (733–804), đời Đường, tác giả cuốn Trà Kinh, người đất Cảnh Lăng, Hồ Bắc; theo bản đồ thì cặp sát Tứ Xuyên và Quý Châu (lúc đó thuộc Nam Chiếu/ Đại Lý).

Lục Vũ, tự là Hồng Tiệm, vốn là một đứa trẻ mồ côi, được một thiền sư tên là Thái Chúc ở Hồ Bắc nhận nuôi. Thiền sư này vốn là một người hâm mộ và sành điệu trà đúng với truyền thống Thiền thời đó. Sáu năm trời Lục Vũ lưu ngụ tại thiền viện Long Vân, thời gian này ông được chỉ dạy nhiều về cách pha chế và thưởng thức trà. Tuy nhiên bẩm tính của Lục Vũ thích Nho giáo hơn là Thiền học nên thường bị sư ông trách phạt; cuối cùng không kham nổi Lục Vũ bỏ trốn theo một gánh hát. May sao đến năm 14 tuổi Lục Vũ gặp được một hoàng thân; ông này nhìn ra tư chất của Lục Vũ và có nhiều giúp đỡ. Sau loạn An Lộc Sơn, Lục Vũ lui về ẩn dật, kết bạn với nhiều văn nhân và cho ra đời cuốn Trà Kinh.

.

2. Trà Kinh


Trà Kinh gồm 3 quyển, chia làm 10 thiên, mỗi thiên đi vào một nội dung: Nhất chi nguyên: nói về nguồn gốc cây chè; Nhị chi cụ: nói về 15 công cụ trồng chè, hái chè, chế biến chè; Tam chi tạo: nói tiêu chuẩn, yêu cầu khi chế biến trà; Tứ chi khí: giới thiệu 25 dụng cụ pha trà; Ngũ chi chủ: bàn về cách pha trà; Lục chi ẩm: nói về thú uống trà; Thất chi sử: ghi chép các trà nhân, trà thoại; Bát chi xuất: nói về các vùng trà; Cửu chi lược: nói về giản lược hoá một số khâu trong chế biến trà; Thập chi đồ: nói về các tranh ảnh vẽ về trà.





                             Trà Kinh Lục Vũ

.

Chương tư dành riêng để liệt kê và miêu tả hai mươi bốn thứ “trà khí”, bắt đầu từ cái lò ba chân cho đến cái tủ tre để đựng những dụng cụ ấy.

Trong chương thứ năm, Lục Vũ trình bày phương pháp nấu trà. Trừ muối, ông bỏ hết các thứ gia vị khác. Ông cũng đề cập tới vấn đề mà người ta đã bàn đến rất nhiều là vấn đề chọn nước và mức độ đun nước sôi. Theo ông thì nước sơn tuyền tốt nhất, rồi đến nước sông, và sau chót nước các nguồn khác. Có ba độ nước sôi: độ thứ nhất, khi có những bọt nho nhỏ như mắt cá bơi trên mặt nước; độ thứ hai, khi bọt nước trông giống như những hạt châu bằng pha lê lăn đi trong suối; độ thứ ba, khi sóng nước sủi lên sùng sục trong ấm. Người ta đem Trà bánh hong trước bếp lửa cho đến khi mềm ra như cánh tay con nít, rồi đặt giữa hai tờ giấy thật tốt, nghiền vụn ra. Khi nước sôi ở độ thứ nhất thì bỏ muối vào, ở độ thứ nhì thì bỏ trà. Đến độ sôi thứ ba thì đổ một thìa nước lã vào ấm để “trấn” trà và làm cho “nước hồi phục lại nguyên khí”. Rồi người ta rót trà ra chén dể uống. Ôi cam lộ! Những chiếc lá nhỏ mong manh treo lên như những đám lân vân trên nền trời thanh quang, hoặc nổi vật vờ như những đóa sen trên dòng thủy lục.

Chính về món đồ uống này mà Lỗ Đồng, một thi nhân đời Đường đã viết: “Chén thứ nhất dấp ướt môi và cổ họng; chén thứ hai phá tan nỗi cô quạnh của ta; chén thứ ba thấm vào lòng ruột khô khan của ta và kiếm ra được năm ngàn cuốn biểu ý văn tự kỳ dị. Chén thứ tư làm cho ta dâm dấp mồ hôi, – bao nhiêu những điều tà ác ở trên đời đều tiết ra khỏi lỗ chân lông ta. Uống đến chén thứ năm, lòng thấy lâng lâng thanh tịnh; chén thứ sáu chiêu vời ta tới cõi bất tử. Chén thứ bảy – a, nhưng ta không thể nhắp hơn được nữa! Ta chỉ thấy luồng gió lạnh thổi phồng cánh tay áo ta lên thôi, bồng Lai Sơn ở đâu? Thôi hãy để cho ta cưỡi ngọn gió mát này bay đi đến đó cho xong”- như đã biết ở phần trên.

Chương thứ mười trà đồ, tức đem chín mục trên chép ra lụa trắng treo lên, để mục kích mà hiểu rành rọt được trà vậy.

.

Cuốn Trà Kinh là cuốn sách Bách khoa toàn thư về chè lâu đời nhất từ đời nhà Đường và có ảnh hưởng sâu xa, rộng lớn đến các đời sau này. Người Trung Quốc gọi Lục Vũ là Trà Thánh, và ông được thờ như vị thần giám hộ của các nhà buôn trà. Hiện nay, tại quê hương Lục Vũ, nhân dân đã xây dựng một nhà bảo tàng kỷ niệm Lục Vũ, để ghi nhớ đến người đã có cống hiến lớn cho văn hoá và lịch sử chè Trung Quốc. Ngoài ra còn dựng một tượng đồng Lục Vũ đang ngồi uống một chén chè tại quê hương Thiên Môn của ông.

.

CÁC HÌNH THỨC TRÀ

Đoàn Trà

Đoàn trà hay trà bánh: Là khối nguyên lá hay đã xay nhỏ nén lại. Lá trà sau khi thu hoạch xay ra hay để nguyên rồi đem hấp chín, sau đó cho vào khuôn ép (có lò sản xuất ép khuôn mang dấu hiệu riêng của mình). Nếu lá trà xay thành bột, người ta hồ thêm bột gạo rồi mới ép. Cuối cùng đem sấy cho khô. Trà bánh là nguyên liệu cho nhiều loại thức uống như trà sữa của Mông Cổ và trà bơ của Tây tạng.

Thời Lục Vũ – thời Đường, người ta uống theo lối Đoàn Trà thô sơ: Trà khô được vo tròn thành bánh, trước lúc uống trà phải mang bánh trà ra hong trước bếp cho mềm trà, rồi đặt giữa hai tờ giấy sạch mà nghiền vụn ra. Chờ nước vừa sôi thì bỏ muối vào, chờ nước sôi thêm một lúc thì mới mang trà đã nghiền mà bỏ vào. Nước sôi sùng sục như giận dữ là lúc quan trọng nhất; cần phải bỏ vào lúc ấy một thìa nước lạnh gọi là để trấn trà, và là phục hồi tính của nước, tức là nguyên khí. Sau đó mới mang pha ra để uống.

.

Mạt trà

Mạt trà hay trà bột.

Đến đời Tống (962-1274) lối uống trà của Lục Vũ tức Đoàn Trà đã được bỏ đi để uống theo lối Mạt Trà- Lối nầy được gọi là đệ nhị trà phái. Trà được bỏ vào cối đá nghiền thành bột rồi mang đặt vào chén, đổ nước thật sôi, quấy đều bằng một chiếc “trà tiển” – thanh quậy trà- là dụng cụ hình như một cái chổi bằng tre, vót thật khéo, chọn tre tốt; một đầu chẻ tách ra thành nhiều que như que tăm dài, một đầu không chẻ để làm cán. Tiển là để chùi nồi, chùi ấm như ta vẫn thấy, nhưng đây cũng là một loại tiển được vót công phu hơn, thanh tao hơn đặc biệt để quậy trà.

Người Nhật và lối Trà Đạo của họ là lối uống theo nghi thức của đệ nhị trà phái thời Tống nầy. Mạt trà là loại bột trà xanh dùng trong nghi lễ trà đạo của Nhật bản, có màu xanh lục và mùi thơm tự nhiên của trà. Mạt trà thường cao giá hơn các thứ trà khác và có lẽ hiện nay ngoài Nhật Bản khó tìm nơi nào có xưởng sản xuất loại trà này. Hình thức trà này có từ đời nhà Tống, truyền qua Nhật và có liên quan đến Thiền tông.

.

Yêm trà hay Tiễn trà

Yêm trà còn gọi là tiễn trà hay trà ngâm, là loại trà ngày nay đang dùng. Loại trà này ra đời do Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (trị vì 1368-1399) người sáng lập ra nhà Minh, quyết định bỏ hẳn lối sản xuất trà bánh/ trà ép khuôn và trà bột vì quy trình sản xuất các loại trà này đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, thay thế vào đó là yêm trà. Sự ra đời loại trà này làm phát triển ngành gốm sứ phục vụ việc uống trà – trà cụ: Quyết định dùng trà ngâm/ yêm trà là động cơ thôi thúc các nghệ nhân lò Cảnh Đức Trấn, tỉnh Giang Tây và lò Yixing, tỉnh Giang Tô vẽ ra nhiều kiểu ấm và chén tinh xảo cho cách thức uống trà mới. Trà bột nhường chỗ cho trà có dạng lá tự nhiên và có cách chế biến như ngày nay. Đó là những lá trà phơi sấy khô, có thể ướp hương hay không, hãm với nước nóng mà dùng.

Loại hình trà ngâm có rất nhiều chủng loại và mỗi chủng loại có nhiều danh trà khác nhau. Hiện nay người ta lan truyền 10 loại đệ nhất danh trà Trung Hoa (dĩ nhiên không chính thức ) là: Tây Hồ Long Tỉnh của Hàng Châu, Đỗng Thính Bích Loa Xuân của Giang Tây, An Khê Thiết Quan Âm của Phúc Kiến, Hoàng Sơn Mao Phong của An Huy, Quân Sơn Ngân Châm của An Huy, Kỳ Môn Hồng Trà của An Huy, Vũ Di Nham Trà của Phúc Kiến, Lục An Qua Phiến của An Huy, Tín Dương Mao Tiêm của Hà Nam, và Đô Vân Mao Tiêm của Quỳ Châu. Chúng ta sẽ bàn vài danh trà tiêu biểu ở phần dưới.

Phương pháp dùng tiễn trà, trà ngâm/ hãm trong nước sôi, của hậu đại Trung Hoa tương đối là mới đối với Nhật Bản, vì mãi giữa thế kỷ mười bảy người Nhật mới biết đến phương pháp này.

.

(Còn tiếp nhiều kỳ)

.

NGUYÊN LẠC

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2020

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 68 : MÃ và NGỰA - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 Chieu Duc

20:43, Th 4, 23 thg 9 (2 ngày trước)


THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 68 :  


                     MÃ và NGỰA

                                     

                                     Inline image

                                                Hỏi tên, rằng : Mã Giám Sinh,

                                        Hỏi quê, rằng : huyện Lâm Thanh cũng gần.

 

          Đó là hai câu thơ nói về tên Mã Giám Sinh 馬監生 đã bỏ bốn trăm lượng bạc ra mua Thúy Kiều sau khi đã "Cò kè bớt một thêm hai". MÃ 馬 là NGỰA, Ngựa là một trong lục súc vừa giúp kéo xe vừa giúp cho phương tiện giao thông được tiện lợi, lại vừa là con vật tiêu biểu cho giới qúy tộc như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều có câu : 


                                  Mồi phú quý nhử làng XA MÃ,

                                 Bả vinh hoa lừa gã công khanh.

         

        Trong Tiết Thanh Minh với "Gần xa nô nức yến oanh, Chị em sắm sửa bộ hành du xuân" và với...


                                       Dập dìu tài tử giai nhân,

                           NGỰA XE NHƯ NƯỚC, áo quần như nêm.


         Thành ngữ NGỰA XE NHƯ NƯỚC có xuất xứ từ Hậu Hán Thư trong câu : " Xa như lưu thủy, mã như du long 車如流水,馬如游龍。" (Xe như nước chảy, Ngựa tợ rồng bơi ). Chỉ xe ngựa qua lại đông đúc xôn xao huyên náo, thường dùng để chỉ sự náo nhiệt của nơi phồn hoa đô hội.

         Còn khi tả vẻ phong lưu qúy phái của Kim Trọng khi Kim xuất hiện trong tiết Thanh Minh với hình tượng của :


                                    Tuyết in sắc NGỰA CÂU dòn,

                                Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.


                                   Inline image


         NGỰA là Ngựa, mà CÂU 駒 cũng là Ngựa, mà lại là ngựa non, ngựa giỏi nữa là đằng khác. Ta có thành ngữ THIÊN LÝ MÃ 千里馬 hay THIÊN LÝ LONG CÂU 千里龍駒  để chỉ những con tuấn mã có sức mạnh và dẽo dai như rồng, một ngày có thể vượt trên một ngàn dặm đường. Sức chạy mau của long câu còn cho ta thành ngữ BẠCH CÂU QÚA KHÍCH 白駒過隙. Có nghĩa : Con ngựa câu trắng thoáng qua khe cửa để chỉ thời gian qua thật nhanh, trong tiếng Việt ta nói thành "Bóng Câu Qua Cửa Sổ" và như một câu nữa trong Cung Oán Ngâm Khúc :


                                   BÓNG CÂU thoáng bên mành mấy nỗi,

                                   Những hương sầu phấn tủi sao xong?


        Về thành ngữ BẠCH CÂU QÚA KHÍCH  白駒過隙 có xuất xứ như sau :

        Đó là câu nói của Trang Tử trong Tri Bắc Du《庄子•知北游》:“人生天地之间,若白驹之过隙,忽然而已. Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược Bach Câu chi Qúa Khích, hốt nhiên nhi dĩ ".  Có nghĩa : " Con người sống trong trời đất cũng giống như là bóng ngựa trắng thoáng qua khe cửa, chỉ trong chốc lát mà thôi." Theo sách Hán Thư thì BẠCH CÂU là Ngựa non màu trắng lướt nhanh như bóng nắng mặt trời. Là bóng nắng lướt nhanh qua khe cửa hay khe vách gì đều dùng để chỉ thời gian qua rất nhanh, cuộc đời chỉ là cỏi tạm phù du, mà ta nói là "Như Bóng Câu Qua Cửa Sổ". Trong "Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong" của Nguyễn Văn Thành có câu :


                              Những là khen dạ đá gan vàng, 

                              Bóng BẠCH CÂU xem nửa phút như không,

                              Ơn dày đội cũng cam trong phế phủ ...


         Trong Nam Hải Tế Văn thì viết :


                             Bóng BẠCH CÂU bay vụt cửa phù sinh,

                             Hình thương cẩu đúc mòn khuôn đại khối.


        Trong truyện thơ Nôm Bích Câu Kỳ Ngộ khi Giáng Kiều khuyên Tú Uyên tu tiên cũng có câu :


                             Gẫm trong tám, chín mươi năm,

                           BÓNG CÂU CỬA SỔ, dễ cầm mãi ru!


       Còn trong truyện thơ Nôm Trinh Thử thì dùng "Ngựa Qua Cửa Sổ" khi chuột Đực lý luận để quyến rủ chuột Bạch là :


                              NGỰA QUA CỬA SỔ bao lâu,

                        Kíp toan kiếm chước bán sầu mua vui !

                     

                     Inline image


        

       Con ngựa trong Lục Súc Tranh Công đã từng khoe rằng :


                       ...Tao đã từng, đi quán, về quê,

                          Đã ghe trận đánh nam, dẹp bắc.    

         

        Từ ngàn xưa, bất cứ là quân đội của nước nào, Âu cũng như Á đều có đội Kỵ Binh, nhất là đội Thiết Kỵ nổi tiếng của Mông Cổ, không những chỉ dọc ngang trên các thảo nguyên Châu Á, mà còn tung hoành lấn chiếm sang cả Châu Âu. Sống trên mình ngựa, đánh giặc trên mình ngựa, xưng hùng xưng bá trên mình ngựa, rồi... chết cũng trên mình ngựa luôn, nên ta lại có thành ngữ "Da Ngựa Bọc Thây", chữ Nho là "MÃ CÁCH QUẢ THI 馬革裹屍 ". Đó là lời nói của danh tướng Mã Viện đời Đông Hán, nguyên văn như sau :"Nam nhi yếu đương tử vu biên dã, dĩ Mã Cách Qủa Thi hoàn táng nhĩ, hà năng ngọa sàng thượng tại nhi nữ tử thủ trung da? 男兒要当死于边野,以馬革裹屍还葬耳,何能卧床上在兒女子手中邪?". Có nghĩa : "Làm trai phải chết ở biên cương, lấy da ngựa để bọc thây, chớ sao có thể chết ở trên giường với vợ con được chứ ?!". Qua câu nói nầy, ta thấy con ngựa càng gần gũi thân thiết với con người hơn, khi sống thì cùng với con người "đánh Nam dẹp Bắc", khi chết, thịt ngựa là lương thực đở đói cho chiến sĩ, da ngựa thì để bọc thây khi các chiến binh tử trận ở sa trường, quả là một con vật gắn bó và cùng sống chết với con người ! Ta hãy nghe lại hai câu thơ hào hùng trong đoạn mở đầu của Chinh Phụ Ngâm Khúc là :


                             Chí làm trai dặm ngàn DA NGỰA,

                             Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao !


                              Inline image

                         MÃ CÁCH QUẢ THI : Da Ngựa Bọc Thây    

                                     

         Còn một thành ngữ nghe rất Việt mà lại có gốc Hoa nữa là câu :"Ngựa quen đường cũ", có xuất xứ từ điển tích "LÃO MÃ THỨC ĐỒ 老馬識途 " theo câu truyện sau đây : Tề Hoàn Công đem binh đi giúp nước Yên đánh bại được quân Sơn Nhung, trên đường về lại bị dẫn dụ lạc vào sa mạc Hàn Hải với gió cát mịt mù không nước uống, lạnh lẽo buốt giá không biết đường ra, quân sĩ kiệt quệ chết chóc rất nhiều. Tướng Quốc Quản Trọng mới tâu với Tề Hoàn Công về đặc tính nhận được đường về của loài Ngựa, bèn chọn một số ngựa già, thả cho chúng tự tìm lối ra, rồi ra lệnh cho toàn quân đi theo sau. Quả nhiên sau vài lần quanh quẹo đã ra khỏi được sa mạc hiểm ác kia.

      "Lão Mã Thức Đồ" là thành ngữ chỉ những con ngựa già có khả năng tìm về đường cũ khi đã đi qua, dùng để chỉ những người già dặn có kiến thức, có kinh nghiệm sống, có thể hướng dẫn ta đi những con đường đúng đắn. Còn "Ngựa Quen Đường Cũ" của ta thì thường dùng để chỉ những người đã làm việc xấu việc sai, dù cho có cải hóa sửa đổi lại rồi, cũng rất dễ dàng đi lại con đường sai lầm cũ, tật xấu khó chừa ! 


       Khi Thúy Kiều hỏi về biện pháp mà Sở Khanh sẽ dùng để giải cứu mình, thì được chàng họ Sở trả lời :


                              Rằng ta có NGỰA TRUY PHONG,

                         Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi.


                              Inline image


       TRUY 追 là Rựơt đuổi, PHONG 風 là Gió. Ngựa TRUY PHONG là TRUY PHONG MÃ 追風馬, là Ngựa chạy như rượt đuổi theo gió, ý là Ngựa chạy nhanh như gió, nên tất cả những con ngựa chạy nhanh đều có thể gọi là Ngựa Truy Phong được cả. Sở Khanh khoe có ngựa chạy nhanh như gió  để... dụ cô Kiều bỏ trốn ! " Ba mươi sáu chước chước nào là hơn ? ". Cho nên mới :


                             Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,

                    Song song NGỰA trước NGỰA sau một đoàn. 


       Ngựa là phương tiện giao thông, bị tên Sở Khanh lợi dụng làm phương tiện bỏ trốn. Thường trong văn học cổ, hình ảnh con ngựa còn là hình tượng của sự chia tay, khi cô Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, cụ Nguyễn Du đã viết :


                              Người lên NGỰA, kẻ chia bào,

                      Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.


                          Inline image

và là...

        phương tiện hành hung đã giúp cho Khuyển Ưng bắt cóc cô Kiều :


                             Vực nàng lên NGỰA tức thì,

                       Buồng đào viện sách bốn bề lửa dong.

và cũng là...

       hình ảnh hào hùng, dứt bỏ nhi nữ thường tình, của người đi làm việc lớn như Từ Hải :


                              Trông vời trời bể mênh mang,

                     Thanh gươm yên NGỰA lên đàng thẳng dong.


... để đưa đến một kết quả có hậu là...

      hình ảnh của sự long trọng tiếp đón khi Từ Hải đã làm nên sự nghiệp :


                              Kéo cờ lũy, phát súng thành,

                      Từ Công ra NGỰA thân nghinh cửa ngoài. 

                                                                             ... để rước nàng Kiều về dinh...  


                              Inline image


     Con Ngựa còn là hình ảnh trung trinh luôn hướng về quê hương cố thổ, như trong thành ngữ NGỰA HỒ CHIM VIỆT có xuất xứ từ hai câu thơ trong bài thơ cổ khuyết danh thời Đông Hán là :


                     胡馬依北風,   Hồ mã y bắc phong,

                     越鳥巢南枝.    Việt điểu sào nam chi.

  Có nghĩa :

            Con ngựa của đất Hồ nơi phương bắc, khi đưa vào Trung Nguyên thấy gió bấc thì hí lên tỏ lòng quyến luyến quê xưa. Còn con chim của Bách Việt, khi đưa vào Trung Nguyên thì luôn chọn cành nhánh phía nam để mà làm tổ. 

      Hai con một cầm (loài chim), một thú (loài vật) nhưng luôn luôn nhớ về quê hương chốn cũ, huống chi là con người ! Trong "Hoa Tiên Truyện" của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :


                                Người nhìn kẻ lại trông theo,

                     NGỰA HỒ CHIM VIỆT nhiều điều nhớ nhau.


      Còn trong "Hoài Nam Khúc" của Hoàng Quang đời Tây Sơn thì đão lại là CHIM VIỆT NGỰA HỒ để chỉ lòng nhớ nước thương nhà :


                                CHIM VIỆT NGỰA HỒ lơ láo đó,

                                 Hươu Tần yến Tạ lạc loài mô.


                   Inline image

                              Ngựa Hồ                     Chim Việt


      Cũng trong "Hoa Tiên Truyện" của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện, ta còn gặp tích Mà ĐƯƠNG, tức Mà ĐƯƠNG SƠN 馬當山 nằm ở phía tây nam huyện Đông Lưu thuộc tỉnh An Huy ngày nay. Núi có hình tượng như như con ngựa đang nằm trên bờ sông Giang, thế sông hiễm trở hay có sóng gió bất thường. Đây cũng là nơi Vương Bột  nhờ một lão ông chỉ cho dùng thuyền buồm, nên chỉ trong một đêm đã đến được Nam Xương cách đó gần 800 trăm dặm đường để dự tiệc Đằng Vương và làm nên bài Đằng Vương Các Tự nổi tiếng cho  đến hiện nay :


                                 Tơ chơi nguyệt hãy đành hanh,

                         Rằng đây chẳng phải là ghềnh MÃ ĐƯƠNG.


      Nhắc đến Mã Đương lại làm cho ta nhớ đến MÃ NGÔI 馬嵬, nơi mà Dương Qúy Phi buộc phải tự ải cho yên lòng quân trong cuộc binh biến trong năm Thiên Bảo thứ 15 đời Đường khiến cho Đường Huyền Tông phải bỏ kinh thành Trường An mà chạy vào đất Thục trong cuộc phản loạn do An Lộc Sơn và Sử Tư Minh cầm đầu mà sử gọi là AN SỬ CHI LOẠN 安史之亂. Nhà thơ Bạch Cư Dị đã miêu tả trong bài thơ trường thiên "Trường Hận Ca" khi nhà vua trở lại kinh thành đi ngang qua Mã Ngôi như sau :


                 天旋地轉迴龍馭,   Thiên tuyền địa chuyển hồi long ngự,

                 到此躊躇不能去。   Đáo thử trù trừ bất năng khứ.

                 馬嵬坡下泥土中,   MÃ NGÔI pha hạ nê thổ trung,

                 不見玉顏空死處。   Bất kiến ngọc nhan không tử xứ !

  Có nghĩa :

                 Chuyển xoay long giá hồi cung,

                 Ngựa chùn chân bước người chùn dây cương.

                 MÃ NGÔI nắm đất bên đường,

                 Nào đâu người ngọc chìm hương mất rồi !


                   Inline image


       Trong Hoài Cổ Khúc của ta cũng có câu :


                    MÃ NGÔI muôn dặm thẳng xông,

                 Thuyền quyên hồn dứt anh hùng lệ sa.


      Cuối TRUYỆN KIỀU được kết thúc bằng một thành ngữ có từ MÃ rất có hậu, đó là khi Kim Trọng thi đậu làm quan đã nhớ đến Thúy Kiều :


                          Ấy ai dặn ngọc thề vàng,

                  Bây giờ KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG với ai ?!                        

       

      KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG 金馬玉堂, thành ngữ có xuất xứ từ đời Hán. KIM MÃ là KIM MÃ MÔN 金馬門, là Cửa Kim Mã, nơi mà các Học Sĩ đợi chiếu chỉ của nhà vua ban xuống. NGỌC ĐƯỜNG là NGỌC ĐƯỜNG ĐIỆN 玉堂殿, nơi nghị sự của các Học Sĩ, là Hàn Lâm Viện của các Hàn Lâm Học Sĩ.

      Nên thành ngữ KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG dùng để chỉ sự đổ đạt vinh hiển làm quan, đắc ý vì công thành danh toại.


                         Inline image


      Cuối cùng, ta có từ VÓ NGỰA. VÓ có nghĩa là Chân Ngựa, như ta hay nói "Con ngựa bị chổng 4 VÓ lên trời !" Nhưng trong văn học VÓ NGỰA là chỉ BƯỚC CHÂN của NGỰA. Nên Tiếng Vó Ngựa là tiếng chân ngựa chạy, còn được gọi là VÓ CÂU vì người ta thường dùng ngựa trẻ ngựa khỏe để cưởi hay kéo xe. Để diễn tả cảnh chia tay não lòng của cô Kiều, khi phải đau lòng mà đi theo Mã Giám Sinh, cụ Nguyễn Du đã viết :


                           Đoạn trường thay lúc phân kỳ,

                    VÓ CÂU khấp khểnh bánh xe gập ghềnh.


      Ta gặp lại từ VÓ CÂU khi Hoạn Thư khuyên Thúc Sinh trở về Lâm Chuy để viếng Thúc Ông :


                        Cách năm mây bạc xa xa,

                Lâm Chuy cũng phải tính mà thần hôn.

                        Được lời như cởi tấc son,

                VÓ CÂU rung rủi nước non quê người.

    và khi...

                      VÓ CÂU vừa gióng dặm trường,

               Xe hương nàng cũng thuận đường qui ninh.


      Để kết thúc bài viết nầy, kính mời tất cả cùng nghe bản nhạc bất hủ của nhạc sĩ Văn Phụng : VÓ CÂU MUÔN DẶM với 3 câu kết thật hay :


             ... Mai VÓ CÂU lên đường

                 Đem chí trai can trường

                 Đời ta sống thác vì cố hương!...


      Xin bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :


          https://lyric.tkaraoke.com/18352/vo_cau_muon_dam.html#


                                                                         杜紹德

                                                                      ĐỖ CHIÊU ĐỨC






Thứ Năm, 24 tháng 9, 2020

CHỜ - THƠ NHÃ MY, NHẠC NGUYỄN HỮU TÂN




CHỜ 
THƠ NHÃ MY
NHẠC , HÒA ÂM & TRÌNH BÀY NGUYỄN HỮU TÂN
VIDEOCLIP HUỲNH TÂM HOÀI

NM CHÂN THÀNH CẢM ƠN NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU TÂN VÀ ANH HUỲNH TÂM HOÀI ĐÃ GỬI TẶNG MỘT CA KHÚC HAY.

CHÙA MỘT CỘT - THƠ TUỆ MINH

 


Thien Gia <thiengia50@yahoo.com>

08:15 (10 giờ trước)
















Xin chư vị một lời bình


 CHÙA MỘT CỘT

(Một chứng tích nhạt mờ)


Thu Hà Nội, mái chùa Một Cột

Đất “ngàn năm văn vật” đổi thay

Tâm tư thế sự có hay

Cảnh xưa bóng nhạt lất lây cửa thiền


Tầng khí phách trở nên biến dạng

Mái chùa xưa ảm đạm tháng ngày

Hồn thiêng sông núi u hoài

Tận trong sâu thẳm lòng người nhói đau


Người Xưa vẫn trước sau như một

Thời nay sao đường đột tầm nhìn!

Hãm hồn khí Việt lặng im

Đoái trông tích cổ biết tìm đâu ra


Chùa Một Cột, chùa xưa thời Lý

Gương cha ông sắc khí ngang trời

Dựng Tứ Linh trụ lưu đời

Hào hùng dân tộc rạng ngời Nước Nam


Ai tai! há lòng tham khó biết

Ô hô! đời chi xiết thương tâm

Giở trang quốc sử ngàn năm

Thế nhân hồ dễ lỗi lầm thứ tha!


Chú thích: Chùa Một Cột-Chùa Linh Hựu là nơi xuất phát của quả chuông Quy Điền,  một trong Tứ Đại Linh Khí thời nhà Lý, là dấu tích còn tồn tại, nhưng quang cảnh không được trong sáng và bị khuất mờ bởi ...


TUỆ MINH

Hà Nội, September 18, 2019

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

NHỚ QUÊ , THƠ NHÃ MY, NHẠC PHAN NI TẤN



NHỚ QUÊ
THƠ NHÃ MY
NHẠC &  TRÌNH BÀY NHẠC SĨ PHAN NI TẤN

NM CHÂN THÀNH CẢM ƠN NHẠC SĨ  PHAN NI TẤN ĐÃ PHỔ NHẠC VÀ HÁT TẶNG MỘT CA KHÚC HAY 

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

MIÊN MAN CHIỀU SÔNG HẬU - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 




MIÊN MAN CHIỀU SÔNG HẬU


Lại về bên em dòng sông thơ ấu

Chảy hiền hòa suốt năm tháng hoa niên

Lấp lánh phù sa mang tình tôi sâu nặng

Gieo đôi bờ từng hạt nhớ hạt thương.


Có đợi nhau qua một ngày nắng vội

Để mưa về ướt ngọn tóc chiều hoang

Tôi ngồi lại bên chân cầu rất muộn

Thả cuộc tình theo sóng nước trường giang


Người có phải cánh bèo trôi viễn xứ

Bỏ lại đây con nước lớn không về

Màu sét gỉ của chuyến phà năm cũ

Loang vào hồn từ thuở biết si mê.


Màu hoa tím mang tấm lòng của biển

Có chở che dông bão cuối phương trời

Dòng sông hát bốn mùa thơm hoa cỏ

Bay về đâu một cánh nhạn lẻ loi. 


Những giọt mưa lặng thầm trên sông vắng

Chiều lên khơi cho khói sóng dâng đầy

Con sông Hậu một đời miên man chảy

Neo tình tôi ngày ấy hóa mây bay.


23/9/2020

NGUYỄN AN BÌNH



TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 2) NGUYÊN LẠC





 TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 2)

.

LỊCH SỬ, NGUỒN GỐC PHÁT TRIỂN VÀ CON ĐƯỜNG ĐI CỦA TRÀ

Tên khoa học

Năm 1753, Carl Von Liaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, đặt tên khoa học cây trà là Thea sinensis, xác định cây trà có nguồn gốc Trung Quốc. Thế nhưng một số học giả Anh lại cho rằng nguồn gốc cây trà là Ấn Độ. Cuộc tranh luận về quê hương cây trà đã kéo dài trên hai thế kỷ.


Năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), sau khi đi khảo sát vùng trà cổ thụ trong 2 năm tại miền bắc Việt Nam, bằng phương pháp sinh hóa thực vật, lại xác định Việt Nam là quê hương cây trà trên thế giới, theo sơ đồ tiến hóa sau đây:


Camellia — trà Việt Nam — trà Vân Nam lá to — trà Trung Quốc — trà Ấn Độ


– Ta nên nhớ rằng: Khi nhà thực vật học lấy một địa danh nào đặt tên (như sinensis: Trung Hoa) không có nghĩa nơi đó là cái nôi của một loài, mà thường do nơi đó là nơi lần đầu tiên phát hiện), do vậy không thể dựa vào từ “sinensis” để nói cây trà có nguồn gốc từ Trung Hoa.


2. Trà – huyền thoại và lịch sử


Hình như tất cả những gì có người Trung Hoa tham gia vào đều có bên cạnh một vài huyền thoại; trà cũng không ngoại lệ. Ít ra người Trung Hoa có hai huyền thoại về trà: một huyền thoại mang sắc thái người Hoa Bắc và một mang sắc thái người Hoa Nam.

. Huyền thoại thứ nhất của người Hoa Bắc cho rằng cho rằng người đầu tiên phát hiện ra trà chính là Thần Nông (2737- 2697 tr. Công Nguyên). Truyền thuyết này lại được giới thiệu trong cuốn Trà Kinh của Lục Vũ (vào năm 780 sau Công nguyên).

Vua Thần Nông là vị Hoàng Đế huyền thoại rất giỏi về nông nghiệp và y dược. Ngài nếm nhiều loại cây cỏ để tìm dược tính trị bệnh cho dân; “Thần Nông một ngày nếm thử một trăm loại thảo dược và gặp bẩy mươi loại độc và tự mình giải độc.”. Sự tích tìm ra cây trà của Thần Nông cũng được dệt bằng một huyền thoại thần bí. Một hôm, Vua Thần Nông cùng vợ con lên núi, giữa chừng núi vua thấy khát nước thì ngay lúc đó một chiếc lá rơi xuống cạnh chân Ngài. Thần Nông lượm lên và vò nát trong tay mình, chất nhựa dính vào ngón tay và Ngài đưa lên miệng nếm. Vị đăng đắng cho Thần Nông biết nó có dược tình và cảm thấy cơn khát mất đi. Thần Nông bèn đem chiếc lá đó sắc lên, và Ngài là người đầu tiên uống trà. Lại có truyền thuyết nói Thần Nông đun nước dưới một gốc cây, lá cây này rụng và rơi vào nồi. Nước trong nồi có màu vàng xanh và mùi vị thơm ngon, uống vào hết khát: đó là trà.

Người Trung Hoa chứng minh huyền thoại này bằng cách trưng ra cuốn ‘Thần Nông Bản Thảo” , trong đó có ghi tính dược cây trà. Nhưng thực ra tác phẩm này là một biên khảo vào thời Tần-Hán (khoảng năm 220 sau Công Nguyên) do nhiều nhà y học ghi chép và về sau Đào Hoằng Cảnh (457 – 536) chỉnh lý lại và người đời sau bổ sung và sửa đổi khá nhiều. Có điều chúng ta cần lưu ý trong Trung Y (y học trung Hoa) không thấy cổ phương danh tiếng nào dùng trà làm vị thuốc và trong các hiệu thuốc đông dược chẳng thấy ai dùng đến trà cả.

Người Trung Hoa nói thế. Các học giả phương Tây dựa vào tài liệu Trung Hoa thuật lại thế và chúng ta nhắm mắt tin thế. Rồi người Nhật phụ họa thêm truyền thuyết trà là một cây thuốc như sau: vào đời Chiến Quốc một danh y truyền dạy y thuật cho con trai, nhưng chỉ mới truyền được bảy phần thì ông qua đời. Tưởng là phần còn lại thất truyền, nào ngờ nơi mộ ông ta mọc lên một loại cây hội đủ dược tính phần y thuật còn truyền sót; đó là cây trà. Càng về sau, các tài liệu đều ghi: “Khởi đầu trà là một vị thuốc, sau trở thành thứ nước uống giải khát.”

Củng cố thêm cho nguồn gốc cây trà và văn hóa trà xuất phát từ Trung Hoa, người Hoa Bắc còn đưa ra huyền thoại “Các vua nhà Chu đã dùng trà tế lễ từ năm 221 trước Công Nguyên”. Huyền thoại này thực sự có cơ sở chăng?! Nếu từ thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc người Trung Hoa đã dùng trà trong tế tự, ắt điều này phải có ghi trong các kinh lễ của các bậc thánh nhân như Chu Công và Khổng Tử. Đáng tiếc, Kinh Lễ hay Lễ Ký do Đức Khổng Tử san định cũng không hề thấy nói đến trà; sách Luận Ngữ do học trò ngài ghi lại các lời Ngài dạy hàng ngày cũng chẳng thấy nói đến trà; Kinh Thi cũng do Ngài san định là một tác phẩm ghi chép lại các bài ca dao trong dân gian không hề có một chữ trà hay chữ đồ. Trở ngược dòng lịch sử, sách Chu Lễ ghi rất chi li lễ tiết đời Chu cũng không thấy có chữ trà, Hoặc quay xuống đến đời Hán chúng ta thấy có cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên (khoảng những năm 90 trước Công Nguyên), có một thiên Lễ Thư, hay Hán Thư cũng không dành cho trà một chữ. Qua đó có thể nói ít nhất đến đời Hán trà chưa hề được biết đến ở Trung Hoa.

Trái lại chúng ta dễ dàng thấy chữ “tửu” trong các tác phẩm vừa nói, với câu nói nổi tiếng “Vô tửu bất thành lễ”. Điều này cho thấy việc vua nhà Chu dùng trà tế lễ là sự gán ghép đời sau. Nho gia không phải rồi, vậy trà có phải của Đạo gia chăng?! Chắc chắn là không vì biểu tượng thường đi kèm với các vị tiên gia là phất trần và bình rượu chứ không phải ấm trà, và giới đạo gia có thứ rượu Quỳnh tương trên tiên giới thần diệu như nước cam lồ bên Phật giáo. Chỉ mãi sau đến đời Chu Hy (cuối Nam Tống) mới xuất hiện một bài thơ gắn ông tiên với lò nấu trà. Như vậy có thể nói điều Lục Vũ ghi trong Trà Kinh “Thần Nông là ông tổ cây trà” có thể chỉ là lời lượm lặt trong dân gian thích thêu dệt huyền thoại của người Trung Hoa mà thôi.

. Huyền thoại thứ hai của người Hoa Nam. Huyền thoại này cho rằng chính Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidarma), Sơ tổ Thiền Trung Hoa, là người mang cây trà từ Ấn Độ vào Trung Hoa (năm 519 sau Công Nguyên). Nhờ cây trà mà Ngài thức suốt 9 năm để ngồi nhìn vách đá quán tưởng công án. Tin vào truyền thuyết này nên về sau Thiền Nam Tông có nghi thức uống trà trước tượng Bồ Đề Đạt Ma. Xoay quanh Bồ Đề Đạt Ma lại có một huyền thoại thần bí hơn, lại do người Nhât phụ họa: Sau ba năm diện bích, tổ Đạt Ma kiệt sức và ngủ lịm đi. Khi tỉnh dậy, tổ hối hận và lo lắng, cắt hai mi mắt mình liệng xuống đất. Ít lâu sau nơi đó mọc lên một loại cây bụi, tổ Đạt Ma lấy lá của nó nấu lên uống thì tỉnh ngủ hẳn. Và Ngài tiếp tục diện bích cho hết 9 năm.


Cũng lưu ý là các tác phẩm như Hán Sở Tranh Hùng, Tam quốc Chí có nhiều lần nói đến việc uống trà, nhưng điều này không thể khẳng định trà có từ đời Hán vì các tác phẩm này viết vào đời nhà Minh, thời trà Trung Hoa đang ở giai đoạn hoàng kim. Việc các cây bút văn chương lồng một số chi tiết nho nhỏ quen thuộc đương thời vào câu chuyện không phải là điều không xảy ra nếu không muốn nói rất thường.


Còn nếu lấy huyền thoại làm chứng cứ thì e rằng người Việt biết uống trà và có một nền văn hóa trà sâu xa từ thời Hùng Vương (ngang đời nhà Chu). Ai trong chúng ta cũng đều biết câu chuyện cổ tích Trương Chi – Mỵ Nương , hai chữ Mỵ Nương đủ khẳng định bối cảnh câu chuyện xảy ra vào thời Hùng Vương rồi. Chuyện kể tóm tắt rằng: Chàng lái đò Trương Chi có giọng hát thật hay làm xiêu lòng Mỵ Nương. Nhưng khi gặp khuôn mặt xấu xí của chàng lái đò Mỵ Nương đâm thất vọng, ngược lại trước nhan sắc của Mỵ Nương Trương Chi về ốm tương tư rồi mất. Trương Chi chết hóa thành một hòn ngọc, người thợ đá tạc thành một cái chén uống trà dâng cho gia đình Mỵ Nương. Cứ mỗi lần rót nước trà vào chén Mỵ Nương thấy trong đó có hình chiếc đò bơi qua bơi lại và một tiếng hát từ cõi xa xăm nào đó vọng lại. Thương cảm, Mỵ Nương khóc, giọt nước mắt rơi vào chén trà và chén trà tan thành nước.


Bên cạnh, người Trung Hoa trưng ra một số tư liệu lịch sử để chứng minh nguồn gốc cây trà của họ. Sự viện dẫn này dựa vào thương mại để chứng minh cây trà và văn hóa trà có nguồn gốc từ Trung Hoa:

. Dẫn Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo): Đây là con đường núi ngoằn ngoèo đi xuyên qua vùng núi Vân Nam – Tứ Xuyên phía Tây Nam trung Hoa, phương tiện vận chuyển chủ yếu là lừa và ngựa. Theo tư liệu của Trung Hoa con đường này hình thành vào đời nhà Đường (618-907), và trà của Trung Hoa theo đường đó bán cho các nước phía Nam.

Điều này không mấy hữu lý vì tính theo thời gian vùng này thuộc về đất nước Nam Chiếu – Đại Lý. Thực tế cũng cho thấy đời Đường chưa cai trị được vùng đất này, nếu không muốn nói có nhiều chiến tranh qua lại giữa Trung Hoa và các bộ tộc (nhất là khi vùng này hình thành quốc gia) tại nơi đây. Cứ liệu đáng tin nhất; năm 629 khi Đường Tam Tạng có ý qua Hồ Quốc (tức Ấn Độ) thỉnh kinh, ông phải lén đi vì Đường Thái Tông cấm đi ra nước ngoài. Lý do cấm đoán đó là vì các vùng biên giới không yên ổn và nhà Đường lúc đó không đủ sức thảo phạt . Tình hình như thế cho thấy con đường này thực sự dưới quyền kiểm soát của Nam Chiếu – Đại Lý, trà từ vùng này chuyển đi các vùng lân cận và Hoa Nam để bán . Luận cứ này cho thấy con đường Trà Mã Cổ Đạo này không do nhà Đường mở ra, thực tế nó là một con đường tự phát nhằm trao đổi hàng hóa nhỏ lẻ với Hoa Nam và các nước lân cận Đại Lý. Trà quả là sản phẩm của con đường này nhưng chủ nhân là Đại Lý chứ không phải Trung Hoa. Chính vì thế ta sẽ thấy tập quán uống trà những nước quanh Đại Lý cũ không hề giống thói quen uống trà của người Trung Hoa.


(Phần huyền thoại và lịch sử này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận của nhà biên khảo Đức Chính)



3. Truy lại cội nguồn nền văn hóa trà


Qua những điều trên chúng ta đã biết: Trà là sản phẩm của Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo) và chủ nhân của nó là nước Đại Lý.

Lãnh thổ nước Đại Lý bao gồm 3 tỉnh: Vân Nam, Quý Châu và tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Nước này còn chiếm một phần vùng thượng du miền Bắc Việt Nam và một phần lãnh thổ của Myanmar hiện nay. Trước khi thành lập nước Đại Lý, vùng đất này là của người Bạch và người Di, gồm 6 bộ tộc (gọi là chiếu) Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá, trong số đó Mông Xá là bộ tộc mạnh nhất nằm ở phía nam nên thường gọi là Nam Chiếu. Năm 737, thủ lãnh của Mông Xá là Bì La Cáp mượn thế lực của Đường Huyền Tông thống nhất các chiếu khác thành lập ra nước Nam Chiếu. Điều này có ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng)… Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông rồi lại đổi là Đại Lễ…” Triều đại này tồn tại đến năm 902, Đoàn Tư Bình nổi lên thành lập nước Đại Lý.












(Hình Bản đồ nước Đại Lý)


.

Vương Quốc Đại Lý tồn tại trên vùng đất này từ năm 937 cho đến năm 1253; kế tiếp nhau bởi 22 đời xưng đế, trong đó có nhân vật Đoàn Chính Thuần được Kim Dung hư cấu vào tiểu thuyết võ hiệp của mình. Sau năm 1253, Đại Lý mất vào tay Nguyên Mông nhưng dòng họ Đoàn vẫn cai trị vùng đất này với tước danh Tổng quản đến tận năm 1387 (vị tổng quản cuối cùng là Đoàn Thế) bị diệt dưới tay Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Nước Đại Lý đổi thành phủ Đại Lý, người Bạch và người Di nước lưu lạc xuống phương Nam. Một số thành các dân tộc người ở Việt Nam, Lào và Myanmar (như Thái Trắng, Thái Đen, Thái Đỏ, Lô lô, Nùng); một nhóm đông hơn di chuyển sâu về hướng Nam thành lập nước Thái Lan ngày nay.

Nếu Trung Hoa cho rằng Vân Nam – Tứ Xuyên ngày nay là của Trung Quốc nên nguồn gốc từ Trung Quốc mà ra; chúng ta cũng có thể nói vùng Thượng Du Bắc Việt Nam ngày nay của Việt Nam xưa thuộc Đại Lý, vậy Việt Nam cũng là cái nôi của thế giới. Theo tôi điều này không hay ho chút nào. Hãy như người Việt, cứ để nền văn hóa Óc Eo là tài sản của vương quốc Phù Nam, Tháp Chàm của người Chăm, … chứ không nhận bừa của người Việt. Tương tự, cội nguồn của trà là người Đại Lý, một vương quốc cổ nay không còn nữa. Và có thể các nhóm dân tộc dùng ngôn ngữ Tạng-Miến như người Thái vùng Tây-Bắc miền Bắc Việt Nam là một thành tố đại diện còn tồn tại đến ngày nay.

Nghiên cứu về văn hóa nên lấy mốc từ khi một sự kiện trở nên phổ quát và đi vào tư tưởng, chứ không nên vin vào một vài chứng cứ vật thể nhỏ để khẳng định đã có một nền văn hóa. Cũng như khi cắm ngọn cờ trên mặt trăng không thể khẳng định con người đã sống trên mặt trăng vào thời điểm đó. Chính trị và văn hóa khác biệt nhau ở chỗ này.

Vậy tại sao ngày nay khi nói đến trà người ta nghĩ ngay đến Trung Hoa và Nhật Bản. Đó là vì họ có phương thức truyền bá tư tưởng tốt: người Trung Hoa bằng các huyền thoại và cửa miệng các Hoa Kiều (chưa kể ngụy thư đời sau viết gán cho người đời trước để làm chứng cứ giả tạo); người Nhật có tác phẩm Book of the Tea của Okakura Kakuzo gây tiếng vang trên thế giới và gây tò mò người Phương Tây nơi nghi thức trà của họ vừa cầu kỳ vừa thoang thoảng kỳ bí.


(Phần truy lại cội nguồn này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận của nhà biên khảo Đức Chính)

.

Các giai đoạn phát triển trà

Cây trà nguyên thổ sản của miền Hoa Nam, đã dược các nhà thực vật học và dược vật học Trung Hoa biết đến từ những thời đại rất xa xưa. Các văn gia cổ điển gọi nó bằng những tên khác nhau: Đồ (Tou), Thiết (Tach), Thuấn (Chung), Giả (Kha), và Minh (Ming), và trà được tán dương là có hiệu năng làm cho người ta hết mệt nhọc, tinh thần sảng khoái, ý chí tăng cường và thị lực hồi phục. Người ta không chỉ dùng trà làm thuốc uống bên trong, mà còn hay dùng như một thứ cao đắp ở bên ngoài để trị phong thấp nữa. Các môn đồ Đạo gia coi trà là một vị trọng yếu trong môn thuốc trường sinh bất lão; còn các tăng đồ Phật giáo thì thường dùng trà để chống lại cơn buồn ngủ trong những giờ ngồi trầm tư mặc tưởng dài đằng đẵng.


Tuy nhiên, phương pháp uống trà thời kỳ ấy hãy còn cổ lỗ hết sức. Người ta lấy lá trà đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng, muối, vỏ cam, hương liệu, sữa, và một đôi khi cả hành nữa! Tập quán này cũng còn thịnh hành trong dân xứ Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ, họ chế tất cả các vị kể trên thành một chất “xi rô” kỳ xảo. Lối dùng những lát chanh của người Nga tập uống trà tại những đội thương lữ quán Trung Hoa là một lối cổ còn sót lại.


Sau nhờ thiên tài của Đường triều, trà mới được “giải thoát” khỏi trạng thái thô lậu này và được lý tướng hóa một cách tuyệt diệu. Lục Vũ ở khoảng giữa thế kỷ thứ tám, là đệ nhất sứ đồ của trà. Ông sinh vào thời kỳ mà Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo đang tìm đường tổng hợp với nhau. Phiến thần luận của tượng trưng chủ nghĩa lúc bấy giờ có ý muốn phản chiếu cái “Phổ biến” (Universal) ra khỏi cái “Đặc thù” (the Particular). Lục Vũ là một nhà thơ, nhận thấy trong bộ đồ trà cũng có đủ cả sự điều hòa và trật tự như trong mọi sự vật khác. Trong tác phẩm danh tiếng của ông là cuốn Trà Kinh (Kinh thư của Trà Đạo), ông đã định thức hóa Pháp điển về Trà. Từ đó ông được thờ như vị thần giám hộ của các nhà buôn trà Trung Hoa.


Nhưng trà chỉ thật sự phổ cập ở khắp Trung Hoa bắt đầu từ thời Nguyên khi Đại Lý bị diệt và dòng họ Đoàn quy thuận, trà mới có cơ sở thông thương rộng hơn. Qua đời Minh (1368-1644), việc buôn bán trà trở nên rất thịnh vượng nên triều đình lập ra “Bộ Trà Mã” để quản lý và thu thuế, kết quả tất yếu của việc sáp nhập nước Đại Lý vào Đại Minh. Trong bối cảnh đó nhiều tay bút bàn về trà sinh sôi nảy nở là điều tất yếu, và thường hay đề danh tính người đời trước để dễ thuyết phục người đọc (đời nhà Minh nổi tiếng nhiều ngụy tác). Tuy vậy để xuất khẩu trà quy mô phải đợi đến khi kỹ thuật canh tác phát triển và trà được trồng nhiều ở các vùng như Hồ Nam, Hồ Bắc, Chiết Giang, Giang Tô, Lãnh Nam, Kinh Tương, Phúc Kiến, nghĩa là khó sớm hơn thế kỷ 14.

.

5. Bước đi của trà


Vào cuối thế kỷ thứ mười sáu, người Hòa Lan truyền đi cái tin ở Đông phương có loại thức uống làm bằng một thứ lá cây rất ngon. Các nhà du lịch Giovanni Batista Ramusio (1559), L.Almeida (1576), Maffeno (1528), Tareira (1610), cũng nói đến trà. Trong năm cuối cùng kể trên, thương thuyền của Hòa Lan Đông Ấn Độ Công ty đem những lá trà đầu tiên về Âu châu. Trà được nước Pháp biết đến năm 1636, và lọt vào nước Nga năm 1638. Năm 1650, nước Anh hoan nghênh trà và khi nói đến trà thì ca ngợi coi là “một món đồ uống ngon tuyệt, tất cả các y sĩ đều tán thành món đồ uống Trung Hoa, mà người Trung Hoa gọi là trà, các nước khác thì gọi là tê (thé) hay ti (tea)”. Trà đã bắt đầu được coi là thức uống quốc tế

Sự giao lưu thương mại giữa Trung Hoa và các nước phương Tây ngày một lớn mạnh bắt đầu từ triều đại nhà Thanh. Khi Hoàng đế Trung Hoa “ngự hít” điếu thuốc lá đầu tiên được mang đến từ Châu Âu, thì Nữ hoàng Anh Quốc cũng đang nhấm nháp tách trà đầu tiên. Vào khoảng năm 1615, các thương gia Anh Quốc với công ty Đông Ấn Độ nhận thức được sự có mặt của Trà. Trà đã nhanh chóng được truyền bá khắp Châu Âu và gần 100 năm sau, khối lượng trà nhập khẩu vào Anh tăng từ 100 pound/năm lên đến hơn 5 triệu pound/năm. Điều này đòi hỏi cần phải có nhiều phương tiện lớn mới mang được tải trọng trà như thế từ Trung Hoa.

Tại Anh: Theo sử liệu,thì chính Nữ Công Tước Bedford, tác giả quyển “Năm giờ uống trà” rất được người Anh ưa thích. Bà cũng là người đã tạo ra phong trào uống trà vào buổi chiều tại xứ sương mù. Ngày nay tới nhà bất cứ một người Anh nào, đặc biệt là giới trung và thượng lưu trí thức, ai cũng phải lóe mắt trước sự khéo tay và vô cùng thẩm mỹ của các bà nội trợ , trong việc trang trí bàn uống trà với khăn phủ bàn có bình hoa tươi và bộ bình trà làm bằng bạc và sứ men Trung Hoa. Người Anh từ lâu có tập quán đãi khách loại trà sữa hay trà chanh. Cũng theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu đã du nhập tập tính uống trà của người Tàu về bản quốc.




Tập quán uống trà ở Anh phát triển mau lẹ không thể tưởng tượng dược, trong nửa đầu thế kỷ thứ mười tám, những quán cà phê ở London, trên thực tế, đã biến thành những phòng trà, nơi hẹn hò của những bậc anh tài như Addison và Steele, tiêu khiển bên những “món trà”. Chẳng bao lâu, trà trở thành một món cần thiết cho đời sống sinh hoạt – một món có thể đánh thuế được.

Tại Hoa Kỳ: Hằng năm theo thống kê, thì dân chúng Hoa Kỳ tiêu thụ cả chục triệu tấn trà, bằng mọi hình thức như uống nóng, lạnh, trà nguyên chất hay ướp các loại hoa, uống không hay uống chung với đường thêm mật ong, sữa, kem, chanh. Người Mỹ uống nhiều loại trà, từ thứ gọi là Decaffeinated Tea hoặc các loại trà lá, kể cả dược trà bằng lá ổi, lá hồng để trị bệnh va làn tan mỡ, gọi là Herbal Tea.

Xin được nhắc qua về vụ Trà đã dự phần hết sức quan trọng trong sự kiện lịch sử hiện đại. Thuộc địa Mỹ cam chịu áp chế cuả Anh cho đến khi sức nhẫn nhục của con người không thể chịu đựng được nữa, phải nổi dậy trước những khoản thuế quá nặng đánh vào Trà. Nền độc lập của Mỹ bắt đầu từ ngày người ta quẳng những thùng trà xuống hải cảng Boston: Người Mỹ đã vùng dậy mà ném cả 342 thùng trà xuống biển, để rồi bắt đầu cuộc khởi nghĩa giành độc lập năm 1773. Cố nhiên là không lỗi ở trà, và cũng không phải chỉ vì trà, mà còn nhiều lý do khác nữa; nhưng đã nói đến trà thì cứ nên cho rằng, nhờ đó mà cái gọi là Boston Tea Party trở thành bất hủ.

Tại Nhật: Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, cùng với Thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hoá vật chất và tôn giáo này, đem nó hoà quyện với văn hoá bản địa và nâng lên thành triết lý riêng của dân tộc là Trà Đạo.


Trà đạo bao gồm những nghi lễ thiêng liêng thấm đượm chất tâm linh tôn giáo, khiến cuộc thưởng trà trở thành một cuộc lễ.

Ngày nay Triết Lý Trà của người Nhật đã trở thành một nghi thức chính thống của một tôn giáo gọi là Trà Đạo, hình thành từ thời kỳ Mạc Phủ Tướng Quân ở thế kỷ thứ XV. Những trà đồ trước khi bước vào trà thất đã tự mình rũ bỏ hết cái thế giới ồn ào bon chen, nhập vào sự tĩnh lặng của tâm hồn, quên hết kể cả cái ta phiền toái đáng phiền.

Cho đến thế kỷ 19 mà Trung Hoa vẫn còn là nơi độc quyền sản xuất trà bán ra khắp toàn thế giới. Thuở ấy người ta chỉ mới biết mua trà về pha chế thêm, mang bỏ vào hộp, đóng thùng dán lên các thứ nhãn hiệu rồi đưa đi bán lại mà thôi. Càng ngày thấy nhu cầu càng tăng và nguồn lợi càng rõ ràng vĩ đại, người ta nghĩ đến mang giống trà đi trồng ở các miền đất đai các xứ khác mới đủ cung cấp cho cả thế giới.

Người Anh quốc là kẻ tiên phong đã biết dùng ngay đất thuộc địa của mình, tức là xứ Ấn Độ thời ấy, làm nơi trồng trọt và sản xuất trà, thay vì phải mua từ người Trung Hoa. Họ đã lấy giống trà từ Trung Hoa, đón một số chuyên viên Trung Hoa trong ngành trồng tỉa cũng như pha chế, đưa những người nầy sang Ấn Độ để dạy cách thức trồng trọt pha chế cho dân địa phương, và họ đã thành công.

Ngoài ra còn những vùng mà cây trà được trời ban cho cũng mọc lên tự nhiên và hợp khí hậu không kém trà của Trung Hoa đó là những vùng như Việt Nam, Miến Điện, Mã Lai, Lào, Miên.

.

(Còn tiếp nhiều kỳ)

.

NGUYÊN LẠC