CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

CHÙM THƠ TỊNH ĐÀM


Đàm Nguyễn Tài
21:26, Th 2, 13 thg 8 (22 giờ trước)
tới tôi




*MỞ LÒNG...

Mở lòng ra với thiết tha
Sẽ yêu cuộc sống này qua tình người
Dẫu đời chìm nổi , chơi vơi
Vẫn mơ ước môt phương trời bình yên

Mở lòng ra với dịu hiền
Sẽ quênđi những lụy phiền chưa khuây 
Giận , thương cũng chỉ hao gầy
Như đêm mộng dở giấc đầy mông lung

Mở lòng ra với bao dung
Niềm yêu thương tỏa lan cùng tháng năm
Người còn ở chốn xa xăm
Sao chưa về lại để thăm quê nhà

Mở lòng ra với bao la
Trái tim vô lượng...mãi là an nhiên

*CHÚT XƯA.

Biết là xa ...vẫn nhớ hoài
Bóng chiều thu cũ đọng ngoài hiên mưa !
Người còn mải bước chân đưa
Tìm trong nuối tiếc chút xưa dịu dàng .

* VỀ...

Về nghe thiếu vắng bên đời
Những ân tình cũ của thời xưa xa .
Giờ trong năm tháng phôi pha 
Vẫ thầm tiếc nuối chuyện ta với người !

Từ ly , không nói nên lời
Nước non ngàn dặm trông vời cố nhân !

TỊNH ĐÀM
(HÓC MÔN .TP.HCM . VN )


Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

ĐÊM ẤY MƯA RƠI - TRUYỆN NGẮN THỦY ĐIỀN


Tran Van Mau
04:08, 12 thg 8, 2018 (1 ngày trước)
tới tôi

Chao chi
cho em goi bai nhe
Thuy Dien








ĐÊM ẤY MƯA RƠI




    Sau khi vụ việc xảy ra ít hôm. Những ông láng giềng của hắn như: Chủ tiệm Dược phòng, tiệm Bánh mì, tiệm Đóng giầy, tiệm Thuốc lá v...v.... xì xầm. Sao mà vợ chồng lão chủ nhà hàng "Sài Gòn"  nầy nghe nói mấy ngày nay về Việt nam du lịch, mà cả tuần nay vẫn thấy lão và gia đình còn lẫn quẩn nơi đây và cũng chẳng thấy mở cửa tiệm bán buôn gì cả. Không biết có chuyện gì ? Ngộ nghĩnh thật.


      Qua cơn kinh hoàng ấy, cả đêm nhà hắn dường như không ai ngủ được, mãi cho đến gần sáng thì mọi người mới bắt đầu chợp mắt. Riêng hắn thì hoàn toàn chịu thua. Tay cầm ly Cà- phê, tay chóng càm, miệng lầm bầm : Chẳng lẽ mình nuôi Ong tay áo sao ta ? Mà nó cũng cùng số phận như mình, cũng bị trói, cũng bị đè đầu xuống thảm, chứ nó có được chúng tha đâu hay là nó dở trò "Đóng kịch " Câu hỏi ? Được đặt ra mà không giải được. Mọi chuyện cứ vẫn còn lòng vòng trong đầu hắn cho đến hôm nay.


      Mùa hè năm 20....trời oi bức, thiên hạ ùn nhau đi nghỉ phép hàng năm như thường lệ, quán xá ế ẩm, cảnh người lưa thưa. Hắn nhìn xung quanh và bảo vợ, thôi sẵn cơ hội nầy mình cũng đóng cửa tiệm tạm một tháng về Việt nam chơi. Trước thăm gia đình, bạn bè, sau du hí, đồng thời cho một số anh em Công nhân cùng nghỉ luôn một thể, để họ có thời gian rộng rãi muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm khi xong chúng ta về bắt đầu làm việc tiếp. Em thấy sao? Bà vợ gật đầu đồng ý và chọn ngày lên đường.


      Trước ngày đi là một tháng, nào là phải đến Toà Đại sứ để xin Visa, nào điện thoại mua vé máy bay, nào liên lạc báo tin với gia đình bên Việt nam v...v...! Trong sự chuẩn bị nầy, khâu quan trọng nhất là khâu liên lạc với họ hàng, anh em hiện đang ở nước ngoài như hắn, xem ai có muốn gởi quà cáp gì về cho gia đình ở Việt nam không, hắn sẽ giúp hộ cho. Đương nhiên, nếu không có cơ hội thì thôi, còn có cơ hội thì không ít hay nhiều người ta cũng cố gắng chiếu cố đến gia đình của họ nơi quê nhà. Mục đích là giúp đở và tạo niềm vui.


      Vòng một tua thu gom, giờ trong tay hắn đã có một số quà và tiền mặt khá lớn cộng với số tiền vợ chồng hắn dự định mang theo trong chuyến du lịch. Không dự định đi chơi thì không nghĩ tới, nhưng khi dự định rồi trong công việc hàng ngày ai ai cũng thấy vợ chồng hắn dường như có chiều hướng lo ra. Nghĩa là: Ngày nào hắn cũng mang cái chủ đề thú vị ấy ra bàn luận, đi đâu, làm gì hai vợ chồng hắn cũng đề cập đến nó. Không những những người tây sống lân cận cũng biết chớ đừng nói những người việc sống chung quanh và những người cùng làm việc với hắn làm sao không biết được.


      Từ những tiếng đồn đại khắp nơi, không biết sao mọi dự định đã lọt vào tai kẻ xấu.


      Đêm ấy, đêm 30, trời đen như mực, u tối khắp cả vùng. khi sắp hết giờ hoạt động của nhà hàng vào khoảng 23 giờ đêm, thời gian chỉ còn mươi phút nữa là nhà hàng tắt đèn, đóng cửa thì bỗng dưng có ba người lạ mặt xông vào, mặt đeo nạ, tay cầm súng ngắn, lên đạn. Một người ra lệnh ! Tắt đèn, khóa cửa tiệm, ngắt dây điện thoại và hai người còn lại nhẩy vào trấn áp, trói tay, bịt miệng, đè đầu úp mặt xuống thảm không được cử động. Chúng ra lệnh hai vợ chồng hắn phải mang hết tiền bạc và đồ quí ra dâng cho hắn, nếu không làm theo sự yêu cầu của chúng, chúng sẽ bắn nát đầu. Sợ quá, dạ dạ....vâng vâng hai vợ chồng hắn mang dâng tất cả chẳng chừa lại đồng nào. Thậm chí cái gì trong người hai vợ chồng hắn chúng cũng không chê, kế đến là trói tiếp hai vợ chồng hắn luôn. Khi xong chuyện chúng mở cửa và leo lên xe ra đi một cách an toàn trong một đêm u tối về nơi phương trời vô định.


      Số người bị trói chẳng cựa kẹ gì được cả và vẫn nằm yên bất động. Vì quá sợ hãi, cứ nghĩ chúng còn vang vang đâu đó nên chẳng ai dám ngốc đầu dậy. Đúng một giờ sau thấy tình hình yên tĩnh cả nhà hắn mò mò dậy và tìm cách cắt dây trói rồi tự tháo gở cho nhau. Cùng lúc họ gọi di động báo Cảnh sát cứu giúp. Nghe tin, Cảnh sát mang ba, bốn xe, bật đèn đỏ, hụ còi trấn áp trước cổng nhà hàng. Cảnh sát nghĩ chúng còn đâu đó, có súng sẽ chống trả lại để thoát thân. Ai ngời ! Chúng đã ra đi hơn một tiếng đồng hồ và có lẽ bọn chúng đang tạm dừng đâu đó uống vài chai bia để ăn mừng chiến thắng.


      Chờ hoài- chờ mãi, phóng loa gọi đầu thú, hơn hai mươi phút chẳng thấy đụng định, Cảnh sát mặt áo giáp tung cửa xông vào, bọn cướp đâu không thấy mà chỉ thấy cả nhà hắn đang mếu máo khóc như mưa với những gương mặt còn sợ hãi chưa tan. Lấy lời khai của chủ nhà xong, cảnh sát chúc mọi người an lành, ra về và tiếp tục cuộc điều tra sau đó.


      Mãi đến ngày hôm nay, sự việc vẫn còn trong vòng bí ẩn và những giọt nước mắt rơi vẫn còn in đậm trên đôi má.



THỦY ĐIỀN

12-08-2018



Thứ Hai, 13 tháng 8, 2018

ĐỌC “ƯỚC CHI” THƠ LÊ GIAO VĂN - CHÂU THẠCH


van tran
Tệp đính kèm
06:18, Th 7, 11 thg 8 (1 ngày trước)
tới tôi




(Ảnh Lê Giao Văn)



ĐỌC “ƯỚC CHI” THƠ LÊ GIAO VĂN
Châu Thạch


ƯỚC CHI ! 
gởi PHI - làng Đại Bường- Quảng Nam


Hồi em gái quê mười bảy
Nồng nàn hương bưởi , hương cau
Quả đất đêm huyền lệch trụ
Bốn lăm năm mộng...còn say !


Thời gian đi qua nhanh quá
Tóc xanh vội đã úa vàng
Lạc nhau giữa mùa tao loạn
Hương tình da thịt chưa tan!


Nhớ quá ! Theo trăng tìm kiếm

Từ rừng đến biển ước mơ

Giọt môi đa tình ngày nọ

Nuôi anh sống mãi tận giờ

Ươc chi - đất trời chết yểu
Chúng mình làm cuộc tái sinh
Hoa ngàn, bướm rừng âu yếm
Hẹn nhau mùa chín...giao tình !
LÊ GIAO VĂN -8.1.2018


BÌNH NGẮN: CHÂU THẠCH

Bài thơ tác giả tặng cho Phi - làng Đại Bường, Quảng Nam nên trước hết người viết xin giới thiệu qua về làng Đại Bường;
“Ngược dòng sông Thu Bồn, qua khỏi khu vực tháp Mỹ Sơn, huyện Duy Xuyên sông dần hẹp lại.Hai bên bờ có nhiều ghềnh thác, vực sâu... núi cao vời vợi soi bóng xuống dòng sông xanh ngắt. Chen giữa những thung lũng có nhiều ngôi làng nhỏ hiền hoà...Làng Đại Bường nằm về phía hữu ngạn sông Thu Bồn, thuộc xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam một vùng quê yên ả, thanh bình. Nơi đây hội đủ các yếu tố về địa lợi, nhân hoà. Làng hoa trái Đại Bường là một làng nghề truyền thống nổi tiếng cung cấp trái cây chủ yếu cho Hội An Quảng Nam và Đà Nẵng. Nơi đây, có nhiều loại trái cây khá phong phú và đa dạng. Đến với Đại Bường du khách không chỉ được thưởng thức nhiều loại hoa quả lạ mà làng còn hiện lên nét văn hóa của làng quê Việt Nam xưa. Làng hoa trái Đại Bường ai đến đây cũng phải sững sờ trước những loại cây ăn quả từ nơi khác đều có ở Đại Bường. Mặc tình ai muốn gọi gì cũng được, có điều chắc chắn chính sự đa dạng, phong phú, đầy đủ của cây trái đã làm cho làng Đại Bường như một cõi lạ giữa miền Trung. Ngoài ra làng Đại Bường còn có một đặc điểm là, dầu làng ở miền trung du nhưng qua hai cuộc chiến tranh, không hiểu có thế lực thần quyền che chở hay không, mà không có một quả bom, hòn đạn nào lọt vào làng. Cuộc sống người dân vẫn an bình trong thời khói lửa.”
Làng Đại Bường như thế, cho nên khi thấy bài thơ đề tặng cho một người con gái làng Đại Bường thì trong ta đã dậy lên một cảm tình riêng với cô gái trong thơ rồi. Không nói ra nhưng ai cũng cảm nhận tự nhiên cái hương thơm của hoa trái ở đây ướp vào trong thịt da cô và cái bình yên của một ngôi làng lý tưởng làm cho tâm hồn cô cũng thùy mị trắng trong. Từ sự yêu mến ngồi làng và người con gái ấy, ta yêu mến bài thơ, bởi vì bài thơ cũng như một cánh hoa bay, nhưng bay chao đảo trong không gian quá khứ của ngôi làng và trong nỗi ước mơ của một thi nhân tóc bạc bởi phong sương. Ta thấy gì ở khổ thơ đầu tiên|

Hồi em gái quê mười bảy
Nồng nàn hương bưởi , hương cau
Quả đất đêm huyền lệch trụ
Bốn lăm năm mộng...còn say !

Dễ hiểu quá và không có gì đặc biệt. Thế nhưng chỉ một chữ “lệch trụ” hay nói rõ hơn, câu thơ “Quả đất đêm huyền lêch trụ” nó làm cất cánh khổ thơ bay cao hơn những ý thơ cũng như thế của nhiều thi sĩ khác. Câu thơ không nói đến chiến tranh nhưng nó cho ta liên tưởng một biến động làm sai lệch ghê gớm của con người, của xã hội và của Thương Đế nữa. Sau sự sai lệch đó, thì nhân phải hứng chịu 45 năm nằm mộng và say. Cơn say triền miên dài dằng đặc của lê Giao Văn đã đánh động vào tâm hồn mỗi người đọc thơ cảm nhận giấc mộng của chính mình với người xưa nào đó và đồng cảm với thi nhân.
Rồi qua khổ thơ thứ hai:


Thời gian đi qua nhanh quá
Tóc xanh vội đã úa vàng
Lạc nhau giữa mùa tao loạn
Hương tình da thịt chưa tan!


Khổ thơ này cũng như mọi khổ thơ của biết bao thi sĩ khi nói về ký ức tình yêu, thấy thời gian qua mau, thấy tóc mình đã bạc, xót xa đã lạc nhau trong mùa tao loạn. Tuy vậy, đặc biệt nó có một câu thơ nâng cánh cho toàn khổ thơ như con chim đẹp bay lên cao: Câu thơ “Hương tình da thịt chưa tan!”. Đọc câu thơ ta không chỉ cảm nhận cái hương nầy là hương của một cô gái thanh tân như bao cô gái khác, mà ta còn cảm nhận thêm đây là thứ hương thơm của làng Đại Bường trong da thịt cô. Thứ hương diệu kỳ đó đã đi theo thi sĩ suốt nửa đời người không tan biến. Thứ hương đó đượm toàn mùi hoa quả ngọt ngào, bay qua thời gian bay qua không gian và không đọng lại trên khứu giác mà đọng lại trong tâm, trong trí, trong hồn tác giả bài thơ. Và thì, mỗi chúng ta, những người không có người yêu ở làng Đại Bường, khi đọc thơ, sẽ tưởng tượng được, sẽ thưởng thức được thứ hương hoa trong thịt da người con gái Đại Bường, khám phá dược thứ hương lạ của một vùng đất thắng cảnh xa xôi.

Thế rồi, thứ hương hoa vi diệu ấy đã làm Lê Giao Văn nhớ quá. Trong ước mơ đoàn tụ nhà thơ băng rừng vượt biển tìm nàng:


Nhớ quá ! Theo trăng tìm kiếm

Từ rừng đến biển ước mơ

Giọt môi đa tình ngày nọ

Nuôi anh sống mãi tận giờ



Một nhà thơ nào khác, khi đi tìm em thường diễn tả cuộc đi bằng một tâm trạng bi ai. Ngược lại Lê Giao Văn “theo trăng tìm kiếm” là mang cả một tâm hồn lãng tử. Nhà thơ đi theo đường trăng là nhà thơ đi trong lãng du, vừa tìm em vừa hưởng sự thi vị của tình yêu thôi thúc mình phiêu bạc. Đây là một tứ thơ lồng được niềm đau vào khung kính, biến cuộc đi thành lãng mạn, làm cho năm tháng du hành dưới trăng trở nên mộng mơ. Tứ thơ đó làm cho sự ly biệt, sự tìm kiếm mang đầy màu sắc cúa thơ. Màu sắc cúa thơ ấy còn hiển hiện trong một “giọt môi đa tình” đã “nuôi”. Cuộc tình sống mãi. Hai câu thơ “Giọt môi đa tình ngày nọ/ Nuôi anh sống mãi tận giờ”như một lời tạ ơn người tình ly biệt. Ý thơ đó giải thích được lý do  cuộc đi theo trăng miệt mài năm tháng và khẳng định tình yêu bất diệt trong lòng tác giả.     

Qua vế thơ thứ tư tác giả dùng một ước vọng không tưởng để làm thăng hoa một mối tình ly tan. Sự ước vọng không tưởng của thi sĩ có tác dụng không làm cho mối tình khổ đau mà ngược lại, nẩy sinh một tình yêu trường tồn vĩnh viễn, đẹp như hoa như bướm, đẹp như sự hẹn hò giao tình trong “mùa xuân chin”.

Ươc chi - đất trời chết yểu
Chúng mình làm cuộc tái sinh
Hoa ngàn, bướm rừng âu yếm
Hẹn nhau mùa chín...giao tình !

Bài thơ cho ta nhiều cảm hứng bất ngờ, nhà thơ đi tìm em từ tóc xanh cho đến tóc úa vàng, đi cùng với trăng và mang theo suốt cuộc hàng trình mùi hương hoa trái. Tất nhiên em đẹp. Tâm hồn thi sĩ của Lê Giao Văn tha thiết với vẽ đẹp nhân dáng phải có, nhưng tha thiết hơn bởi trong em mang vẽ đẹp của linh hồn quê hương. một miền trung du trù phú. Đọc thơ, nếu có một chút nhạy bén của tâm hồn nghệ sĩ, ta sẽ cảm nhận được bài thơ như một quả chín cây thơm và ngon tuyệt vời. Tôi viết về nó và có cảm tưởng hình như hương thơm hoa lá phản phất đâu đây. Trong hương thơm đó có một người đi dưới trăng và đi suốt cả cuộc đời để chỉ tìm em!  ./.

CHÂU THẠCH



Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

CHÙM THƠ TỊNH ĐÀM


Đàm Nguyễn Tài
00:30, Th 6, 10 thg 8 (1 ngày trước)
tới tôi
















*VẪN LÀ EM VÀ TÔI
.


Vẫn là sương khói mong manh ,
Nẻo phù vân tím chiều hanh hao buồn !
Và tôi , hồn gởi cánh chuồn 
Về bên đời mộng suối nguồn yêu thương ..

Vẫn là em tóc thơm hương ,
Tay se sợi nhớ nào vương tơ tình ?
Có hay , tôi đứng một mình
Nhìn trong say đắm bóng hình vừa mơ .

* NẾU...

Nếu lòng có chút buồn vương ,
Thì xin em lấy yêu thương gột dần .

Sẽ không còn nỗi phân vân,
Khi niềm vui lại về gần bên nhau .

* NƠI TÔI VỀ...
(Tặng PHƯỢNG)

Giọt mồ hôi ,
Thấm mặn đời .
Và tình em nữa...
Là nơi tôi về .
Tiếc làm chi ,
Những đam mê !
Bởi trong nhau ,
Đã hẹn thề ...Trăm năm .

TỊNH ĐÀM
( HÓC MÔN .TP.HCM.VN )

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2018

SÁNH ĐÔI 1 - 2 - THƠ LÊ KIM THƯỢNG


Sinh Lê
Tệp đính kèm
21:03, Th 2, 6 thg 8 (4 ngày trước)
tới tôi

GỬI NHÃ MY BÀI THƠ LỤC BÁT 2018
CHÚC VUI KHỎE
NHA TRANG 07-08-2018 - LÊ KIM THƯỢNG




                             

                                               



SÁNH   ĐÔI   1 - 2



1.



 Em sang... sương sớm vừa tan
Nắng hồng vừa đến, mơn man gió đồng
Em qua lối cỏ bến sông
Nắng hanh ửng chín má hồng... hồng tươi
Chúng mình chung bước rong chơi
Cầu Trời ta mãi trong đời sánh đôi
Nón nghiêng, tóc lệch đường ngôi
Tuổi hoa mười tám, bồi hồi xuyến xao
Làn môi, sóng mắt gửi trao
Chao nghiêng hoa thắm, nghiêng chao cánh diều
Đôi ta lạc giữa vườn yêu
Gió qua kẽ lá, tiếng chiều nhẹ êm
Gió đùa cong sợi tóc mềm
Giọt buồn rơi nhẹ, ướt mèm đôi mi
Bồi hồi ngây ngất tình si
Hoa thơm hay tuổi xuân thì tỏa hương
Những chiều Hoa Bưởi trắng vườn
Hương thầm con gái thân thương sững sờ
Những đêm mộng lẫn với mơ
Trăng tròn, trăng khuyết, trăng mờ... trăng rơi
Trăng nằm sóng soải lả lơi
Cho đêm huyền hoặc, chơi vơi canh dài
“Tóc mai sợi vắn, sợi dài
Sợi rơi trên gối, sợi cài áo anh...”
Trao tôi câu nói ngọt lành
Trao tôi đôi mắt long lanh biết cười...

2.


Cuộc tình xa khuất trùng khơi
Làm sao tìm lại một thời xuân xanh
Một thời quấn quít Em - Anh
Những ngày hò hẹn, dỗ dành, đón đưa
Những ngày thuở ấy nhiều mưa
Trời mưa bong bóng... em chưa muốn về
Làm duyên nghiêng mái tóc thề
Môi trên môi... lại bộn bề nụ hôn...
Bây giờ nhung nhớ mỏi mòn
Bây giờ ký ức vẫn còn vẹn nguyên
Dang tay ôm lấy muộn phiền
Nắng nghiêng bóng xế, sầu nghiêng bóng chiều
Tìm đâu hương sắc người yêu
Con đường Tình Sử tiêu điều, thâm u
Em đi bỏ lại Mùa Thu
Cho đau nỗi nhớ Vọng Phu cỗi già
Nam Ai tiễn biệt tình xa
Vầng trăng viễn xứ, quan hà hắt hiu...
Chiều nay mây trắng bay nhiều
Em sang... vẫn dáng yêu kiều, bước êm
Chiều nay nắng muộn rơi thềm
Ngâm câu thơ cũ... ru em ngủ muồi
“Có chồng... chẵng lẽ đi xuôi?
Ghé vô thăm bậu... cho nguôi tấm lòng...”



               Nha Trang, tháng 8. 2018

                      LÊ KIM THƯỢNG



“...” Ca dao

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018

SANG THU , THU ĐI - THƠ LANG TRƯƠNG


Langtruongdaosi
18:37, Th 4, 8 thg 8 (2 ngày trước)
tới tôi


Kết quả hình ảnh cho ẢNH MUÀ THU VÀ THIẾU NỮ




SANG THU

Bởi Miền Trung nắng cháy da người
Thu đến chậm như kẻ lười đi dạo.

Trời Đất hờn nhau cho gió gọi mưa về
Em có giận ta mà chiều không chút nắng ?
Lá thu phai rắc vàng trên ngõ vắng
Bởi em hờn, nên Trời chuyển sang thu.


THU ĐI

Em đến, đâu phải tình cờ
Cớ sao em lại hững hờ quay đi

     Thu khẽ đến, lặng thầm như hơi thở
     Chút heo may, xao xác nắng hanh vàng
     Thu nhẹ đi, dịu dàng gieo nhung nhớ
     Để vạn sầu, dang dở đến ngàn sau.

Ta nhìn em đi, buồn tủi qua mau
Vẫn tha thướt, bồng bềnh hoang dại
Mỗi bước chân em, mỗi dỗi hờn con gái
Cho Đất Trời ngây dại cả hoàng hôn.

LANG TRƯƠNG

NHẠC T ÂM LÝ CHIẾN VIỆT NAM CỘNG HÒA 1954-1975. LÊ THIÊN MINH KHOA


Minh Khoa Lê Thiên
Tệp đính kèm
17:52, Th 3, 7 thg 8 (2 ngày trước)
tới Ngạc, tôi, BAOTHANG_XUANXUYEN




Phác thảo bìa sách “9 thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam”
 (tác giả tự trình bày).




NHẠC T ÂM LÝ CHIẾN VIỆT NAM CỘNG HÒA 1954-1975.
                                                                              
  LÊ THIÊN MINH KHOA




https://i1.wp.com/cothommagazine.com/nhac1/LamPhuong/LamPhuongPhamDuy.jpg

NS Phạm Duy và Lam Phương  ở Pari. 



       Trước đó, thời kháng chiến chống Pháp, ở vùng tạm chiếm, thực dân Pháp và chính quyền thân Pháp đã đẻ ra một loại nhạc thường được gọi là nhạc tâm lý chiến, nhưng số người viết nhạc xu thời đi theo rất ít, mà chỉ toàn là bất tài, nên chỉ có vài bài hát tuyên truyền không có giá trị nghệ thuật mà công chúng cũng không hề quan tâm đến. Đến thời Mỹ vào miền Nam, bộ máy tuyên truyền, dân vận, chiêu hồi được tổ chức quy mô hơn, Bộ Thông tin- Dân vận- Chiêu hồi của VNCH có hẳn một nha chuyên trách về tuyên truyền văn nghệ, trong đó có ca nhạc. Ca khúc tâm lý chiến của Việt Nam cộng hòa có thể quy về 2 dạng: nhạc chống Cộng và nhạc lính.
       Nhạc chống Cộng là  nhạc có nội dung trực tiếp ca ngợi chế độ và chiến công của người lính cộng hòa, phê phán chủ nghĩa xã hội và đả kích  người cộng sản Việt Nam, quân ca, hành khúc của các quân, binh chủng, các đơn vị quân đội Sài Gòn, được viết theo đơn đặt hàng của chính quyền Sài Gòn và cơ quan International Voluntary Service- IVS (tiền thân của Peace Corps- Đội quân Hòa bình sau nầy) , một tổ chức chính trị ngoại vi của USAID, Mỹ.



casihcng

 
       Hùng Cường và Phạm Duy có nhiều sáng tác thuộc loại nhạc nầy. Hùng Cường nguyên là một diễn viên cải lương, sau 1960 chuyển sang hát kịch động nhạc, rồi viết bài hát chống Cộng, như: Hành khúc người trở lại, Tình trăng bến hảo, Tâm khúc người về…, nhưng cả giai điệu lẫn ca từ đều không có giá trị   nghệ thuật nên không thu hút được công chúng. Còn “phù thủy âm thanh” Phạm Duy thì khác. Từ năm 1956, khi Ngô Đình Diệm chấp chính ở miền Nam, Phạm Duy đã có bài hát Chào mừng Việt Nam để đón chào chế độ mới, ca kịch Chim lồng so sánh 2 thể thế Cộng sản và Quốc gia. Rồi hàng loạt tác phẩm ra đời sau Mậu Thân 1968: Tôi không phải là gỗ đá, Nhân danh (thơ Tâm Hằng), Bi hài kịch (thơ Thái Luân), Đi vào quê hương (thơ Hoa Đất Nắng), Người lính trẻ, Bà mẹ phù sa…
     Trước đó, năm 1965, ông có bài hát Kẻ thù ta (Tâm ca số 7), mà có người không hiểu, xếp vào dòng nhạc phản chiến (công bằng mà nói, Phạm Duy có nhiều bài hát thuộc dòng nhạc phản chiến nhưng không phải bài nầy), nhưng những người hiểu, thì cho rằng ông đã đánh đồng chính nghĩa với phi nghĩa, chiến tranh giải phóng dân tộc với chiến tranh xâm lược, kẻ xâm lăng với người nghĩa sĩ. Ca từ bài hát có đoạn: “Kẻ thù ta mang áo mầu chủ nghĩa/ Kẻ thù ta mang lá bài tự do/ Mang cái vỏ thật to/ Mang cái rổ danh từ/ Mang cái mầm chia rẽ chúng ta…”.
     Điều làm nhiều người ngạc nhiên hơn cả là  ông còn viết cả một ca khúc động viên thanh niên đi lính cộng hòa, mà có thời trở thành nhạc hiệu, bài hát chính thức của đài phát thanh Quân đội VNCH: “Một, hai, ba, chúng ta đi lính Cộng Hòa/ Vì quê hương chúng ta thì rất hiền hòa/… Đi, đi nào cùng đi, đi giữ phố phường/ Đi, đi nào cùng đi, đi giữ ruộng nương…”.



Image result for trần thiện thanh


      Nhà nghiên cứu văn nghệ và triết học Nguyễn Trọng Văn trong cuốn sách “Phạm Duy đã chết như thế nào?”(1971) gây tiếng vang rất lớn trong giới trí thức, văn nghệ sĩ và sinh viên học sinh miền Nam thưở ấy, nhận định rằng: sau ca khúc kháng chiến và tình khúc, khi làm bồi bút cho chính quyền, Phạm Duy coi như đã chết.
          Một điều không bình thường và chưa có tiền lệ trong một thể chế cộng hòa là bài hát “Suy tôn  Ngô tổng thống” với nhạc của Ngọc Bích, lời của Thanh Nam đã trở thành quốc ca 2 của nền đệ nhất cộng hòa, khi trở thành bài hát chính lễ  trong nghi thức chào cờ sau bài quốc ca 1 là bài ‘Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước được sửa lại lời ca. Sự bợ đỡ, chuyên quyền, phong kiến của một chế độ phô bày trắng trợn trong nội dung ca từ và nghi lễ tôn sùng cá nhân lảnh tụ. Bài hát mở đầu bằng 2 câu: “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người/ Cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do…”. Quốc ca 2 được dân chúng miền Nam chế thành mấy dị bản và hát nghêo ngao cùng nhau. Hoặc trở thành nhạc hài hước: “Tôi đi ngang tiệm hủ tiếu trong Đô Thành/ Thấy họ bán thịt phở tái thiệt là ngon…”. Hoặc trở thành một “chính ca” khác, nhưng  nói mé về hành tung lảnh tụ: “Ai bao năm từng chui rúc trong nhà dòng/ Trốn mất đất, chạy theo gót quân thực dân…”.
       Có thể đưa vào loại nhạc nầy ca khúc nói về một chiến trận cụ thể như Cờ bay trên Quảng Trị thân yêu (thơ Tô Kiều Ngân) của Trương Hoàng Xuân, Tiếng hát Bình Long về Trị Thiên anh dũng của tập thể Cục Chính huấn Quân lực VNCH…
       Cũng có thể đưa vào đây các bản quân ca, hành khúc của các quân, binh chủng, các đơn vị quân đội VNCH được viết theo đơn đặt hàng của quân đội Sài Gòn. Như : Lục quân (hoặc Không quân, Hải quân, Biệt động quân, Thiết giáp binh…) VNCH  hành khúc; Sư đoàn nhảy dù (hoặc Thủy quân lục chiến, Bộ binh số 1, 2. 3, 5, 18, 22…) hành khúc; Trường Võ bị Đà Lạt (hoặc Võ khoa Thủ Đức, Hải quân…) hành khúc. Trần Thiện Thanh (ca sĩ Nhật  Trường) cũng đóng góp vào đây bài Sư đoàn 1 Bộ binh hành khúc.



Related image


          Loại nhạc tâm lý chiến thừ hai là nhạc lính. Nhạc lính tâm lý chiến là loại nhạc ca ngợi “chính nghĩa quốc gia”,  chống Cộng một cách gián tiếp, tế nhị, khéo léo hơn và được phổ biến sâu rộng hơn trong công chúng. Ca từ của nhạc lính thường là ngôn ngữ giản dị, bình dân, dễ hiểu, nội dung vẽ lên hình ảnh oai hùng, phong sương, hào hoa,  có khi “chịu chơi”, ra trận chịu đựng gian khó  bởi lý tưởng “vì yêu quê hương” của người lính cộng hòa. Phải xác định rõ rằng, trong dòng nhạc tâm lý chiến VNCH có nhạc lính, nhưng không phải tất cả nhạc lính đều là nhạc tâm lý chiến, như một số nhà nghiên cứu âm nhạc hiện nay đã không khách quan khi quy kết, đồng hóa, do định kiến chính trị và cũng do chưa từng thâm nhập vào sự đa dạng, phong phú  của các dòng nhạc Miền Nam thời chiến. Do hoàn cảnh khách quan tác động trực tiếp vào khung nhìn, tầm nhìn, trước hết và  cụ thể là ở đâu cũng thấy bóng dáng người lính trong thời ly loạn nên hầu hết các nhạc sĩ miền Nam thời đó đều có bài hát về lính, tuy số lượng ca khúc, giá trị tư tưởng-  nghệ thuật, quan điểm chính trị, không gian nghệ thuật  trong từng ca khúc, từng tác giả có khác nhau. Nhiều nhạc phẩm viết về người lính nhưng không phải ca ngợi họ mà qua đó nói lên tâm tư của con người trước cuộc chiến, thân phận con người trong chiến tranh. Hoặc do đề tài thời thượng về người lính, nên có nhạc sĩ viết về lính vô tình phục vụ cho chính sách dân vận của chế độ. Hoặc viết ra


Image result for Nhạc sĩ Y Vân



do mối ân tình riêng sâu đậm với một con người vừa khuất, mà người ấy là nhân vật có vai vế  trong quân lực VNCH. Thậm chí, cả nhạc sĩ phản chiến hàng đầu là Trịnh Công Sơn cũng có bài hát về lính: Cho một người vừa nằm xuống viết về một người bạn của nhạc sĩ là đại tá không quân VNCH Lưu Kim Cương  tử trận trong trận Mậu Thân đợt 2.
 

         Nhạc về lính  lại có 2 dạng: một là kích động nhạc, hai là tình ca. Kích động nhạc thường viết theo thể điệu rock và twist- một biến thể của rock có giai điệu mạnh, giậm giựt, “giật gân", sôi động, khi biểu diễn ca sĩ  kết hợp hát với “nhảy twist”. Các nhạc  sĩ viết về lính theo loại nhạc nầy có: Anh Thy, Hùng Cường…:  Anh là lính đa tình, Hờn anh giận em, Lính mà em,  Đám cưới nhà binh, Thiên thần Mũ đỏ,  Người yêu lý tưởng… Đặc biệt với tựa là Lính mà em có đến 2  bài hát khác nhau của Anh Thy và  Y Vân.  Lính mà em gốc là của nhạc sĩ Y Vân, phổ thơ Lý Thuỵ Ý, viết theo điệu slow rock, rồi năm 1968 Anh Thy đặt lời khác theo điệu chachacha kích động cho binh chủng hải quân VNCH.
       Loại nhạc lính thứ hai là tình ca về lính, được viết trên những giai điệu, đơn giản, chậm buồn, đều đều, mang  âm hưởng dân ca, nhẹ nhàng của boléro, rumba, ballade…, phổ biến nhất là bolero  được hát bằng giọng thứ quãng âm trung hoặc trầm chậm. Nói rõ hơn đó chính là nhạc vàng viết về đề tài người lính VNCH. Có rất nhiều nhạc sĩ với rất nhiều ca khúc thuộc loại nhạc nầy: Phạm Đình Chương với Lá thư người chiến sĩ, Anh đi chiến dịch…; Phạm Thế Mỹ với Những ngày xưa thân ái, Trăng tàn trên hè phố; Y Vân với Bức thư trên lô cốt, Đi bên lính, Lính du xuân, Người lính yêu em, Thăm lính; Trúc Phương với 24 giờ phép, Tình người chiến binh, Trên bốn vùng chiến thuật…; Lam Phương với Bức tâm thư, Tình anh lính chiến, Chiều hành quân, Rừng xưa, Chuyện buồn ngày xuân; Thanh Sơn với Lính tâm sự, Ngày phép của lính, Tâm sự hai giờ gác;  Lê Dinh- Minh Kỳ với Mười ba tuổi lính, Cánh thiệp đầu xuân; Trầm Tử Thiêng với Quân trường vang tiếng gọi, Đêm di hành, Mưa trên poncho; Diên An với Đừng gọi anh bằng chú; Châu Kỳ- Hồ Đình Phương với Con đường xưa em đi; Lê Dinh với Sau ngày hành quân, Phó Quốc Lân với Anh tôi …
            Nổi bật hơn cả là Trần Thiện Thanh với phân nửa trong 100 tình ca của ông là ca khúc về lính, trong đó nhiều bài viết về các sĩ quan VNCH tử trận, được  ký dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Trần Thiện Thanh , Trần Thiện Thanh Toàn, Trần Thiện Thanh Tâm, Thanh Trân Trần Thị, Anh Chương, Nhật Trường… như: Tâm sự người lính trẻ, Bay lên cao, Bắc đẩu, Anh về với em (1964), Người yêu của lính (1965), Tuyết trắng (1966), Tạ từ trong đêm (1966), Tình thư của lính (1968), Chị Ba Hàng Xanh (1968):  Rừng lá thấp (1968), Anh không chết đâu em(1971), Người ở lại Charlie (1972), Chuyện tình Mộng Thường (1972)…                                                           
         Đặc biệt, Anh Thy là nhạc sĩ chuyên viết về  chủ đề Hải quân Việt Nam Cộng hòa với khoảng 20 ca khúc. Ngay cả tựa đề bài hát cũng đã thể hiện rõ chủ đề rồi: Hải quân Việt Nam, Biển tuyết, Hải đăng (viết chung với Đài Phương Trang),  Hoa biển, Một đêm hải hành (viết chung với Nguyễn Vũ), Tâm tình người lính thuỷ… Trong đó, bài Hoa biển có một xuất xứ rất lạ lùng khi có đến 3 đồng tác



http://i287.photobucket.com/albums/ll133/onggiakeu/NSThyAnh_zpse216054e.jpg

NS  Anh Thy.

                        


giả: đây là một bản nhạc chỉ có giai điệu, chưa viết lời của Trần Thiện Thanh  được Anh Thy dựa vào ý thơ của Vũ Thất viết lời và xuất bản lần đầu vào năm 1965.
        Phạm Duy cũng đóng góp vào nhiều ca khúc về đề tài Không quân VNCH: Điệp khúc Trần Thế Vinh, Vùng trời mang tên ta, Lên trời, Trong bão cát mưa rừng, Huyền sử ca một người mang tên Quốc … và một tình khúc về lính được phổ biến rất rộng rãi: Kỷ vật cho em (thơ Linh Phương)…
      Dòng nhạc tâm lý chiến được quảng bá rộng rãi nhờ các phương tiện truyền thông của chế độ. Ngoài các đài truyền hình, phát thanh Sài Gòn và khu vực như Huế, Cần Thơ, chính phủ còn lập ra các đài phát thanh ở Trung ương: Quân đội, Tự do… Chính quyền Washington còn thông qua USAID tài trợ ngân sách cho International Voluntary Service- IVS, lập một loạt đài phát thanh  chống Cộng: Mẹ Việt Nam, Gươm thiêng ái quốc, Cờ Đỏ, Sao Đỏ, Đài Tiếng nói Việt Nam "dỏm"… Các đài nầy có ban văn nghệ ưu tiên phát các chương trình văn nghệ chống Cộng.
LÊ THIÊN MINH KHOA
                                                                                 
(Trích trong cuốn  sách “ 9 THẬP KỶ CA KHÚC  TÂN NHẠC VIỆT NAM”- nghiên cứu, nhận định- Lê Thiên Minh Khoa-  trang  67- 72; PHẤN: NHẠC T M LÝ CHIẾN ở MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975-  sắp xuất bản, 2018).
-----------------
Nguồn ảnh: Internet.