CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019

CHÙM THƠ HUỲNH TÂM HOÀI


Hoang Lam
10:23, Th 3, 3 thg 12 (6 ngày trước)
tới tôi






KHÔNG ĐỀ


Có một lúc…chiếc thuyền tôi chao đão
Em dịu dàng nâng dậy chiếc thuyền nghiêng
Cuối đời tuởng như không còn hạnh phúc
Bổng một ngày sánh được mối lương duyên
Tình yêu em như ngàn cơn gió đẩy
Đưa đời anh qua những lúc ưu phiền
Dẫu chẳng được dài hơi trên trần thế
Còn bao nhiêu ta chia xót hết nỗi niềm
Nầy em hởi người yêu dầu tuổi xế
Sao nồng nàn như tuổi mới biết yêu


NỐI TÌNH



Yêu anh em chẳng ngại ngần
Qua anh em vượt mấy tần mây cao
Xá gì một miếng trầu cau
Trái tim em nở một câu sắt lòng
Đã yêu thì đến nhau mong
Một câu ước nguyện tình nồng có đôi
Cái thời tuổi trẻ qua rồi
Nối nhau kết nghĩa trao đời bên nhau
Thì xin nguyện lấy một câu
Từ nay mình sẽ yêu nhau trọn đời
Trăng còn treo sáng trên trời
Thì chung thệ ước…giữ lời thủy chung

KHÚC MÊ CUNG

 Em từ trang ảo bước ra
Hóa thân nằm tựa …như là chiêm bao
Chạm em dóc ngọc, dáng hoa
Tay anh run rẩy chạm da thịt người
Gió lên…ngoài cửa lá rơi
Anh ôm em giữa…khung đời gió mưa
Giờ hương nồng chạm, môi đưa
Em con sông nhỏ kịp khua nước về
Thuyền anh mấy nhịp chèo mê
Tình ơi… nguyệt khúc nhau kề ái ân…

 HUỲNH TÂM HOÀI

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH : ĐÀI - ĐỖ CHIÊU ĐỨC




THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH  : 
                                                  ĐÀI
                                  Inline image
                                           Tiện đây xin một hai điều,
                                  ÐÀI GƯƠNG soi đến dấu bèo cho chăng ?

          Đó là lời nói khéo léo ga-lăng của Kim Trọng khi tỏ tình với Thúy Kiều. Kim ví Kiều như là ĐÀI GƯƠNG SEN ở trên cao, còn mình chỉ là những dấu bèo nhỏ nhoi trôi nổi ở bên dưới. "Nịnh đầm" đến thế là cùng. Chả trách cô Kiều nhận lời ngay, nhưng vẫn còn e ngại mà "đổ thừa" rằng :

                                   Đã lòng quân tử đa mang,
                            Một lời dâng tạc đá vàng thủy chung.

   ... và khi cả nhà Vương Viên Ngoại đi mừng thọ ngoại gia, chỉ còn có một mình Thúy Kiều ở nhà, thì nàng cũng đã nhân cơ hội nầy mà cùng với Kim Trọng thề nguyền gắn bó. Khi nàng đến tìm Kim thì chàng đã :

                                  Vội mừng làm lễ rước vào,
                            ĐÀI SEN nối sáp, lò đào thêm hương.
                                 Tiên thề cùng thảo một chương,
                             Tóc mây một món dao vàng chia đôi !

   Inline image Inline image 

          ĐÀI SEN là cái giá có hình hoa sen để cắm đèn cầy, đèn sáp.

          ĐÀI GƯƠNG còn là ĐÀI GƯƠNG SOI như trong bài kệ của nhà sư Thần Tú đời Tống :

                          Thân tự bồ đề thọ,              身似菩提樹,
                          Tâm như minh Kính Đài.       心如明鏡台.
                          Thời thời thường phất thức,  時時勤拂拭,
                          Mạc sử nhạ trần ai.             莫使惹塵埃.
Có nghĩa :
               Thân bền vững tựa như cây bồ đề, còn lòng thì trong sáng như ĐÀI GƯƠNG soi. Lúc nào cũng siêng năng lau phủi, không để cho nhuốm phải bụi trần.

                          Thân như cây bồ đề,
                          Lòng tựa Đài Gương soi.
                          Siêng năng thường lau phủi,
                          Không để nhuốm trần ai !

           Nhưng Lục Tổ Huệ Năng đã chỉnh lại rằng :

                         Bồ đề bổn vô thọ,        菩提本無樹,
                         Minh kính diệc phi Đài,  明鏡亦非台,
                         Bổn lai vô nhất vật,      本來無一物,
                         Hà xứ nhạ trần ai ?      何處惹塵埃?
Có nghĩa :
          Vốn chẳng có cây bồ đề nào cả, cũng không có đài gương nào hết, vốn dĩ chẳng có vật gì cả, thì lấy đâu mà nhuốm bụi trần ai ?

                         Không bồ đề nào cả,
                         Cũng chẳng có Đài Gương,
                         Vốn không vật gì cả,
                         Lấy đâu nhuốm bụi đường ?           

                 Inline image

        Sau ĐÀI GƯƠNG ta còn có từ PHẬT ĐÀI, là cái đài cao có hình đức Phật đứng hoặc ngồi trên đó. Khi sư Giác Duyên đưa cả nhà đến gặp mặt Thúy Kiều ở thảo am thì "Nỗi mừng biết lấy chi cân? Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu!" và sau khi "Hai em hỏi trước han sau, Đứng trông chàng cũng trở sầu làm tươi", thì cả nhà mới :
                             Quây nhau lạy trước PHẬT ĐÀI,
                             Tái sinh trần tạ lòng người từ bi.
           
        Trong bài DƯƠNG ta đã có từ DƯƠNG ĐÀI là tích của Sở Vương và Vu Sơn Thần Nữ theo như bài Cao Đường Phú của anh chàng đẹp trai Tống Ngọc; nhưng trong Bích Câu Kỳ Ngộ thì lại gọi là ĐÀI DƯƠNG như hai câu sau đây :
                                     Kìa ai mê giấc ĐÀI DƯƠNG,
                             Mây mưa là chuyện hoang đường có đâu !

         Còn ĐÀI LÂN là Kỳ Lân Đài 麒麟臺 cùng với Lăng Yên Các 凌 煙 閣 là nơi vua Đường Lý Thế Dân cho họa sĩ vẽ hình của 24 người có công giúp vua lập nên nhà Đường đem treo ở nơi đây để ghi nhớ công lao của họ. Trong nguyên bản chữ Hán Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn câu 447-448 ghi :

              凌 煙 閣兮秦 叔 寶,       Lăng yên các hề Tần Thúc Bảo,
              麒 麟 臺兮霍 嫖 姚.       KỲ LÂN ĐÀI hề Hoắc Phiêu Diêu*
        (* Hoắc Phiêu Diêu trong truyện Thuyết Đường gọi là Uất Trì Cung 尉遲恭).

       Hai câu thơ trên đã được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn nôm một cách rất tài tình là :

                             Tài so Tần , Hoắc vẹn tuyền
                      Tên ghi gác khói, tượng truyền ĐÀI LÂN.

             
                     Inline image                                   Lăng Yên Các   và    Kỳ Lân Đài

        Trong Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong của Nguyễn Văn Thành cũng có nhắc tới  GÁC KHÓI ĐÀI MÂY :

                             Phận dù không GÁC KHÓI ĐÀI MÂY;
                             Danh đã dậy ngàn cây nội cỏ.

        ĐÀI MÂY là Vân Đài 雲臺, là nơi Hán Minh Đế treo tranh của hai mươi tám vị công thần của nhà Hán để tưởng nhớ đến công lao của họ.  Trong văn học cổ thường dùng để ví cái vinh dự cao nhất của kẻ bề tôi hết lòng với vua dưới thời phong kiến.

        Ta còn có từ ĐÀI NGÂN tức là Ngân Đài 銀臺, vốn là tên riêng để gọi mặt trăng, nhưng căn cứ vào câu :"Sính Vương Mẫu vu Ngân Đài hề, tu ngọc chi dĩ liệu cơ 聘王母于银台兮,羞玉芝以疗饥。" Có nghĩa : "Mời Vương Mẫu ở Ngân Đài, dùng mè ngọc để đỡ đói" (Ngọc Chi là "Mè ngọc" có thể là một cách để gọi "hạt gạo" mà ta đang ăn). Đó là một câu trong bài "Tư Huyền Phú 思玄赋" của Trương Hành đời Đông Hán, nên sau nầy thường dùng Ngân Đài hay "ĐÀI NGÂN" để chỉ chỗ ở của các nàng tiên. Như trong Truyện Tây Sương có câu :
                      Trên thì chễm chệ ĐÀI NGÂN,
                  Mấy lời dạy bảo mười phần đinh ninh.

       Còn ĐÀI THIÊNG là do chữ Nho là LINH ĐÀI 靈臺 theo tích của một thi nhân đời Đường như sau :
        BÙI ĐỘ (756-839), đại thần nhà Đường, tự là Trung Lập,  người đất Văn Hỉ Huyện Hà Đông, nay thuộc tỉnh Sơn Tây. Ông đậu tiến sĩ năm Trinh Nguyên đời Đường. Lúc ấy phiên trấn làm loạn, triều đình thảo phạt mấy lần đều thất bại, nên triều thần đều muốn bãi binh, duy chỉ có Bùi Độ là muốn đánh tới cùng. Tướng Phiên là Ngô Nguyên Tế phái người hành thích ông nhưng không chết. Sau ông được thăng làm Tể Tương. Năm Nguyên Hòa thứ 12, ông xua quân công phá Thái Châu, bắt sống Ngô Nguyên Tế. Các phiên trấn Hà Bắc kinh sợ đều về qui phục triều đình. Ông lập công to, nên nhiều người dèm xiểm hãm hại, nhiều lần bị biếm xứ xa. Về già, vì hoạn quan chuyên quyền, nên ông xin về hưu ở đất Lạc Dương, thường cùng ngâm vịnh với Bâch Cư Dị, Lưu Vũ Tích.
        Dưới đây là bài đề từ của ông đề dưới bức chân dung của mình, lời lẽ khiêm tốn nhưng lại rất tự hào về phẩm chất hơn người của mình :
               爾才不長,爾貌不揚,胡為乎將?胡為乎相?一點靈臺,丹青莫狀!Nhĩ tài bất trưởng, nhĩ mạo bất dương, hồ vi hô tướng ?  Hồ vi hô tướng* ? Nhất điểm LINH ĐÀI, đan thanh mạc trạng !
        (* Có 2 chữ TƯỚNG :  將nầy là TƯỚNG QUÂN 將軍;  Còn 相 nầy là TỂ TƯỚNG 宰相).
Có nghĩa :
             Tài của ngươi không giỏi, tướng mạo cũng bình thường, sao lại có thể làm tướng quân ? Sao lại có thể làm Tể Tướng ?  Chỉ còn một điểm tâm linh thần thái (hơn người của ngươi) mà nét đan thanh không thể nào vẽ nên được !

        Nên LINH ĐÀI hay ĐÀI THIÊNG còn dùng để chỉ con tim, tấm lòng thanh cao trong sạch vượt trội hơn người khác, như trong truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

                                    Đeo đai trót một tiếng đà,
                            ĐÀI THIÊNG hổ có trăng già chứng lâm.

        Cũng trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiên, ta còn bắt gặp từ ĐÀI XUÂN, là ĐÀI trồng cây XUÂN 椿. Theo sách Trang Tử, chương Tiêu Dao Du, thì XUÂN 椿 là loại cây cao bóng cả, tàng lá sum xuê, có tám trăm năm là mùa xuân, tám trăm năm là mùa thu, nên được dùng để ví với người cha là cột trụ chống đỡ và che chở cho gia đình :

                                    Vào hầu lạy trước ĐÀI XUÂN,
                             Hương đưa chén rót, gấm nhuần tiệc cao.

         Ngoài ra, ta còn có các từ như DẠ ĐÀI 夜臺, TUYỀN ĐÀI 泉臺 đều chỉ nơi mộ địa chôn người chết, dùng rộng ra có nghĩa là Âm Phủ như các từ Suối Vàng (hoàng tuyền 黃泉), Chín Suối (cửu tuyền 九泉) vậy. Cụ thể là :
        * TUYỀN ĐÀI 泉臺 : là Cái Đài có Suối chảy.  Vốn là tên một cái đài cao do Lổ Trang Công đời Xuân Thu xây dựng nên. Sau dùng để chỉ lăng mộ và mộ huyệt, đến đời Đường do hai câu trong bài thơ "Lạc Đại Phu Vãn Từ" của Lạc Tân Vương 駱賓王〈樂大夫挽詞〉một trong Tứ kiệt buổi sơ Đường là :

                              忽見泉臺路,     Hốt kiến TUYỀN ĐÀI lộ,
                              猶疑水鏡懸。     Do nghi thủy kính huyền.
        Có nghĩa :
                              Chợt thấy ngõ TUYỀN ĐÀI,
                              Còn ngờ treo kính nước.

        Nên TUYỀN ĐÀI còn có nghĩa là Âm ty Địa phủ, nơi của người chết phải đi về. Như khi nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng xong, Thúy Kiều đã than rằng :
                       
                                     Nợ tình chưa trả cho ai,
                          Khối tình mang xuống TUYỀN ĐÀI chưa tan !

        * DẠ ĐÀI 夜臺 : là cái Đài về Đêm. Đài ở đây chỉ Lăng mộ người chết, nên kín mít bít bùng không có ánh sáng như là ban đêm vậy. Nên dùng rộng ra để chỉ cỏi âm, nơi mà tất cả người chết đều phải đi về nơi đó, như trong bài "Khóc Tuyên Thành Thiện Nhưỡng Kỷ Tẩu" ( Khóc ông lão chuyên ũ rượu ở Tuyên Thành) của Thi Tiên Lý Bạch 唐李白在《哭宣城善酿纪叟》có câu :

                              夜臺無曉日,     DẠ ĐÀI vô hiểu nhật,
                              沽酒與何人?     Cô tửu dữ hà nhân ?
       Có nghĩa :
                               DẠ ĐÀI không ánh ban mai,
                        Muốn đi mua rượu ai người uống cho ?

           Trong Truyện Kiều, khi bán mình chuộc tội cho cha, Thúy Kiều đã trối lại với Thúy Vân về mối tình của mình với Kim Trọng rằng :
                                Hồn còn mang nặng lời thề,
                           Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
                                 DẠ ĐÀI cách mặt khuất lời,
                          Rải xin giọt mước cho người thác oan.

       ... và khi Kim Trọng trở lại vườn Thúy để tìm Kiều, thì Vương Ông đã kể lể với chàng rằng :

                         ...Kiếp này duyên đã phụ duyên,
                           DẠ ĐÀI còn biết sẽ đền lai sinh.
                             Mấy lời ký chú đinh ninh,
                          Ghi lòng để dạ cất mình ra đi.
                             Phận sao bạc bấy Kiều nhi...
                         Chàng Kim về đó, con thì đi đâu ?!!!


                Xin được kết thúc các ĐÀI ở nơi đây. Hẹn bài viết tới !


                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC





Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

NHỚ THƯƠNG VỀ QÚA KHỨ - THƠ LỆ HOA TRẦN


Tran Van Mau
04:31, Th 5, 5 thg 12 (2 ngày trước)
tới tôi

CHÀO CHỊ MHÃ MY
XIN GỞI ANH CHỊ BÀI CỘNG TÁC NHẾ
LỆ HOA TRẦN



Kết quả hình ảnh cho ẢNH HỌC TRÒ ÁO TRẮNG




NHỚ THƯƠNG VỀ QÚA KHỨ



Nhớ những ngày áo trắng
Tay cắp sách đến trường
Lòng chỉ biết yêu thương
Hồn nhiên và trong trắng


Không biết hờn, biết giận
Luôn hớn hở vui cười
Giữa ánh nắng xinh tươi
Vô tư Hoa đùa Bướm


Nhớ ngày vừa mười tám
Chân bé bỏng vào đời
Bước sang vòm trời mới
Ánh mắt còn ngẩn ngơ


Bỡ ngở. Ôi! Bỡ ngở
Bổn phận người làm vợ
Trách nhiệm người làm mẹ
Vạn khó khăn vô bờ


Nhớ! Nhớ sao là nhớ
Những khoảnh khắc cuộc đời
Lúc xuống Chó, lên Voi
Vầng trán ngà thôi nhẵn


Giờ thân gầy, mái trắng
Ngồi nhìn hướng trời xa
Ngắm trẻ thơ nô đùa
Nhớ thương về qúa khứ.



LỆ HOA TRẦN

05-12-2019




Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

TƠ TÌNH - THƠ LÊ KIM THƯỢNG


Sinh Lê
Tệp đính kèm
19:41, Th 2, 2 thg 12 (3 ngày trước)
tới tôi

Thơ Lục Bát  2019 

                                                                     
                                                 





TƠ   TÌNH                                               


Hôm qua em đến tìm tôi
Vẫn dung nhan ấy… vẫn đôi mắt huyền
Dù cho chẳng trọn tơ duyên
Tình ta sau trước trinh nguyên vẹn mười…
             

                     ***


Môi xinh chúm chím khẻ cười
Nụ hôn ngày cũ… trao người tình xưa
Mắt buồn nhớ buổi tiễn đưa
Ngày mong tháng đợi nắng mưa thất thường
Nắng vàng soi mắt người thương
Rèm mi khép kín, môi hường hồn nhiên
Tình xa mấy chặng ưu phiền
Lệ sầu rơi xuống bình nguyên mưa nguồn
Lao lung tóc xõa sợi buồn
Tay em mười ngón dài suôn xanh gầy
Tình đầu dù đã xa bay
Còn thơm chăn gối… ngất ngây bồi hồi…
“Chẳng thà không gặp thì thôi…”
Tình xưa duyên cũ thề bồi biển dâu
Em ơi… lỡ hái trái sầu
Thì nay đành chịu Mưa Ngâu quan hà
Trăng về rồi lại trăng qua
Để cho gió cuốn hồn hoa thở dài
Lặng lờ bến đợi chờ ai
Sông khuya chở nỗi u hoài tha hương
Vườn yêu giờ đã nhạt hương
Trăng thề lỗi hẹn buồn vương ánh tà
Mối tình xưa cũ thiết tha
Còn đâu em… mộng dưới hoa yêu kiều…                             

                       ***

Gần thương… xa cũng thương nhiều
Nhớ mai nồng ấm... nhớ chiều say mê
“Mình về sao được mà về…
Mảnh trăng còn đó… lời thề còn đây…”




                     Nha Trang, tháng 12. 2019

                           LÊ KIM THƯỢNG





“...” Ca dao


Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

NHÀ TÔI”, CHIÊU ĐẸP CỦA YÊN THAO - NGUYỄN KHÔI



Nhà thơ Yên Thao


NHÀ TÔI”, CHIÊU ĐẸP CỦA YÊN THAO 

                       

Yên Thao (Nguyễn Bảo Thịnh), sinh năm 1927, quê Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1946, anh đi Bộ đội, có Thơ nổi tiếng cùng thời với Quang Dũng, Tất Vinh, Hồng Nguyên...

Năm 1949, anh công tác ở Văn nghệ Liên khu 3, trong một lần cùng đơn vị tham gia đánh  một "đồn" quân Pháp ven sông ở một Làng Đồi; trong lúc chờ nổ súng, anh trò chuyện với một Chiến sĩ quê ở ngay Làng Đồi (địch đang chiếm đóng), mà phía bên ấy còn có mẹ già, vợ trẻ cùng giàn hoa Thiên lý... Qua câu chuyện của đồng đội kể, Yên Thao rất xúc động, đồng cảm liên tưởng cứ như câu chuyện của chính mình, thế là trong đầu anh cảm hứng xuất thần một "tứ thơ" vụt hiện : NHÀ TÔI... Bài thơ được mọi người chép tay, thuộc lòng, nhanh chóng truyền bá vào tới tận Nam Bộ kháng chiến, không chỉ với lính xuất thân nông thôn mà cả với lính thành phố cũng thấy thấp thoáng trong bài thơ những nét hợp với mình.

Bài thơ được Nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc "chắp cánh bay" dưới tiêu đề "Chuyện giàn Thiên Lý", rồi được các  Ca sĩ Mạnh Đình, Như Quỳnh, Duy Khánh thể hiện đã được thính giả Người Việt trong, ngoài nước nhiệt tình đón nhận, bài thơ nguyên gốc như sau :

        NHÀ TÔI
                         
        Tôi đứng bên này sông
        Bên kia vùng giặc đóng
        Làng tôi đấy, sạm đen màu tiết đọng
        Tre, cau buồn rũ ướt mưa sương
        Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường
        Nếp đình xưa người hỡi, đau gì không  ?
                            
        Tôi là anh lính chiến
        Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
        Buông tay gàu vui lại thuở Bình Mông
        Ghì nấc súng nhớ ơi, ngày đắc thắng
        Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dậm
        Áo nào phai không sót chút màu xưa
        Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh
        Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa
                             
        Tôi có người vợ trẻ
        Đẹp như thơ
        Tuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờ
        Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín
        Ai ra đi mà không từng bịn rịn
        Rời yêu thương nào đã mấy ai vui
        Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
        Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ.
                               
        Tôi còn người mẹ
        Tóc đã ngả màu bông
        Tuổi già non thế kỷ
        Lưng gày uốn nặng kiếp long đong
        Nắng mưa từ buổi tang chồng
        Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon
        ÔI, xa rồi, mẹ tôi
        Lệ nhòa mi mắt
        Mong con phương trời
        Có từng chợt tỉnh đêm vơi
        Nghe giòn tiếng súng nhớ lời chia ly :
        - Mẹ ơi, con mẹ tìm đi
        Bao giờ hết giặc con về mẹ vui.
                         
        Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh
        Sông sâu mừng, lấp lánh sao lưa thưa
        Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
        Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
        Làng tôi kia, bên trại thù quạnh quẽ
        Trông im lìm như một nấm mồ ma
        Có còn không, em hỡi ! mẹ tôi già !
        Những người thân yêu khóc buổi tôi xa ?
        Tôi là anh lính chiến
        Theo quân về giải phóng quê hương
        Mái đầu xanh bụi viễn phương
        Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch.
                                 
        - Này, anh đồng chí
        Người bạn pháo binh
        Đã đến giờ chưa nhỉ
        Mà tôi nghe như trại giặc tan tành ?
        Anh rót cho khéo nhé
        Kẻo lại nhầm nhà tôi !
        Nhà tôi ở cuối thôn Đồi
        Có giàn Thiên lý, có người tôi thương.

                                                    YÊN THAO
                                                      (1949)


            
                          


          “NHÀ TÔI” - CHIÊU ĐẸP CỦA YÊN THAO
                                                                           Nguyễn Khôi

 Bài thơ NHÀ TÔI cuả Yên Thao ra đời cùng thời với "Màu tím Hoa sim", "Bên kia sông Đuống", "Đôi mắt người Sơn Tây", "Tây Tiến", "Bầm ơi"... cái độc đáo là (sự truyền cảm) không chỉ được "thích" ở bên ta mà ở cả bên kia chiến tuyến (vùng Tề lúc bấy giờ) họ cũng ngâm nga, ca hát...? ! Có cái gì đó (như tâm tư) mà  con người ta thời đó không công khai thổ lộ, đã được Thi sĩ (nói hộ họ) trong những vần thơ chứa đựng tâm tình của những người đi xa , của nhũng người đang cầm súng... sự hòa quyện lòng yêu nước với nỗi thương nhà cùng tình cảm nhớ nhung tha thiết... Cái độc đáo nữa : là ở đây Người chiến sĩ (không phải là "Lính đánh thuê" - cái mẫu người sắt đá không tim chỉ biết có làm theo mệnh lệnh "giết giết"...) mà là : ngay trong giờ phút xung trận nã pháo vào đầu thù, các anh còn lo ngại đồng đội bắn nhầm vào nhà mình (nhà dân) : "anh rót cho khéo nhé / kẻo lại nhầm nhà tôi..."

Ở "Tây Tiến" là diễn tả cái bi hùng của người chiến sĩ.
Ở "Bên kia sông Đuống" là tình quê hương nung nấu tâm hồn.
Còn ở "Nhà Tôi" thì Người chiến sĩ -Thi sĩ ở đây hình như "tỉnh táo" hơn :

    - Tôi là anh lính chiến
    Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
    Buông tay gàu vui lại thuở Bình Mông

    - Áo quần nâu đã vá mụn giang hồ
    Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ.

Cái HAY của bài thơ để cho người đọc bị hớp hồn (thời bấy giờ) là ở những câu viết về người Vợ trẻ, mẹ già với hình tượng thơ tươi mới (lạ) ĐẸP một cách sống động, gần gũi với tâm hồn Việt. "Nhà tôi" là một bài thơ HAY của một thời (1949-1952...), chưa phải là "tuyệt tác" bởi lối viết kể lể dài dòng, ngôn ngữ sáo mòn nên theo thời gian bài thơ cũng đi vào quên lãng...
Dẫu sao đi nữa, ai đó nếu còn nhớ Yên Thao thì chắc là cũng không thể quên 2 câu kết :

    Nhà tôi ở cuối thôn Đồi
    Có giàn Thiên lý, có người tôi thương.

Chao ôi, thơ là vậy mà, nỗi nhớ ấy hôm nay xem ra cũng là "xưa" lắm rồi ? !

                                   Góc thành nam Hà Nội, 7-11-2012
                                             NGUYỄN KHÔI

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019

CHÙM THƠ HUỲNH TÂM HOÀI


Hoang Lam
09:07, Th 6, 29 thg 11 (4 ngày trước)
tới tôi




ĐỔI ĐỜI



1-Tôi ngồi giủ áo phong sương
Rách bươm lưng vãi…sức mòn nút khuy
Tôi ngồi nhớ chuyện thịnh suy
Hát nghêu ngao… Vở mộng …Xiêu dốc đời



2-Tôi về giòng cũ sông trôi
Lấy thơ đấp vá chổ vơi ngọt bùi
Khuấy dầm nước xoấy vịnh voi
Nhớ người châu thổ một thời đầy vun
Bây giờ nhiều khúc cạn cùn
Lơ ngơ cứ tưởng đi lầm nước non




NHỚ


Tháng 11 cơn mưa rớt vội
Sợ mùa đông… mây thấp vòm trời
Chim trên cành co ro ướt cánh
Đôi mắt lim dim…buồn khơi khơi…


Như ta nhìn mưa lòng chanh chạnh
Ngọn sầu nào lãng đãng buâng quơ…
Ngó cơn mưa từ nguồn xiêu đổ
Có gì đâu…mà nhớ …thẩn thờ






VÚ ƠI!
(ngày bà xã phải phẩu ngực...anh viết bài thơ)



Vú ơi! Múp nụ trang đài
Núp trong ngực áo những ngày thơ ngây
Che! Sợ thiên hạ sâm soi
Hở trong tay tựa…những ngày yêu đương
Nở căng vòm sữa nuôi con
Truyền dòng cảm xúc đời non lớn người
Vú ơi! Nguồn sữa héo vơi
Cháu măn vú móm…Bà cười …Ngân nga
Điệu ru bà vẫn thiệt thà
Xứ người…Cháu lớn nhớ ra câu gì?
Một hôm ngực nhói… siêu vi!
Cắt bờ ngực…Tẻ mất đi vòm hồng
Cơn biến động… ảnh hưởng mòn
Héo đời thiếu phụ vuông tròn cháu con
Mình ơi! Chua, ngọt gánh chung
Cơn đau mình chịu…tôi…lòng xót xa
Vú ơi! Tẻ nhánh thịt da
Thương mình héo hắc… Buồn da diết! Buồn!


 HUỲNH TÂM HOÀI






Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

CHÙM THƠ THỦY ĐIỀN

Tran Van Mau
21:46, CN, 1 thg 12 (23 giờ trước)
tới tôi

Chào chị Nhã My
Xin gởi chị ít bài thơ nhé
Chúc vui, khỏe
Thủy Điền








NỖI LO NGÀY VỀ



Ta lặng lẽ dưới hàng cây trụi lá
Giữa mùa đông gió lạnh thổi vô bờ
Con đường chiều hoa tuyết trắng lô nhô
Đang dẫn lối con tim tìm quá khứ


Nơi xa thẳm những ngày ta lữ thứ
Người có còn hay đã vội đi xa
Người đã quên hay còn giữ tình ta
Trong khoảnh khắc, bi quan dường .... vô tận


Tuyết rơi ... rơi, phủ dầy màu bạc trắng
Như nhắc lòng cố nén nỗi đau thương
Dẫu người xưa đã cất bước lên đường
Xa kỷ niệm, quên bao lời hẹn ước


Chiều giá buốt, thân gầy ta nhẹ bước
Chắc có người đứng đợi trước thềm hoa
Những màu tang biến hoá phút ngọc ngà
Ngày hội ngộ bên nhau vui lắm nhĩ


Mang tâm sự vui, buồn hai suy nghĩ
Con đường chiều xa tít trắng màu mây.



30-11-2019





TÌNH MỘNG MỊ



Áo em giờ đã cũ
Giầy anh đế gót mòn
Thời gian, đời, khôn lớn
Tim anh vẫn dại khờ


Vẫn yêu hình bóng nhỏ
Dù chỉ là hoang đường
Dù chỉ là tưởng tượng
Nhưng hạnh phúc vô bờ


Dáng xưa nào còn nhớ
Ngày vai gánh, mặt .. phờ
Đêm rã rời bên gối
Mộng ước chỉ trong mơ.

28-11-2019


DỖ DÀNH TIM ĐAU



Qua lối nhỏ em đếm từng tuyết trắng
Dấu chân sầu còn đọng lại tháng năm
Những bước ... đi là những nỗi thăng trầm
Cứ đeo đuỗi tâm hồn người con gái


Trong những lúc cô đơn, thân oằn oại
Thả lưng dài muốn quên lãng chuyện xưa
Muốn vứt đi những kỷ niệm bằng thừa
Sau cơn bão lại nghe lòng vương vấn


Rồi đứng dậy, sọt tay vào ngăn ấm
Theo lối mòn, theo gót dấu chân ai
Cho con tim thôi thở những giọt dài
Như oán trách một chuyện tình ngang trái.


27-11-2019


MỘT SÁNG MƯA BUỒN



Một sáng mưa buồn, cây ngã nghiêng
Công viên ghế đá đẫm thân mềm
Con chim lạc hướng tìm chốn cũ
Giữa ngày mà ngỡ tợ bóng đêm


Một sáng mưa buồn thiếu bóng em
Giọt rơi tí tách vọng bên  thềm
Gió ru hay trách lời than .... thở
Mà lòng xao động, dạ không yên


Một sáng mưa buồn anh nhớ em
Cà- Phê hương đậm, bổng phai dần
Thuốc thơm, giờ chỉ là khói trắng
Hết rồi ..... yêu vị của trần gian.



THỦY ĐIỀN

19-11-2019