CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

TRỐN- THƠ NHÃ MY, NHẠC VĨNH ĐIỆN









TRỐN
THƠ NHÃ MY

NHẠC VĨNH ĐIỆN
HÒA ÂM TRẦN NHÀN
CA SĨ QUỐC DUY
VIDEO CLIP TRẦN NHÀN


NM chân thành cảm ơn  nhạc sĩ Vĩnh Điện , nhạc sĩ Trần Nhàn , ca  sĩ Quốc Duy đã chuyển tải cảm xúc vào một ca khúc hay.



Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

NHỚ TẾT ĐOAN NGỌ XƯA - THƠ NGUYỄN KHÔI






NHỚ TẾT ĐOAN NGỌ XƯA
"Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng 5"
                     
Tết Đoan Ngọ, ngày xưa còn nhớ
Bảnh mắt ra : rôm xẩy cắn thịt da
Tụt khỏi giường là ào ra ao tắm
Bắt "chuồn chuồn cắn rốn"...
                  cùng lũ bạn nhẩn nha...
                      
Rồi về nhà : sà vào lòng mẹ :
- một bát đầy "Rượu Nếp" thơm ngon
-Hai quả trứng luộc xơi đã miệng
-chùm vải Thiều ngọt ứa linh hồn...
                      
"Giết sâu bọ" - Mẹ hiền nhắc nhủ :
-chớ ra sông giãi nắng đầu mùa
-chớ trèo cây đung đưa bẻ Nhãn
- chớ cưỡi Trâu phi đại dại đua...
                       
Tết Đoan Ngọ
Ôi tuổi thơ tươi đẹp
Mái tranh vàng thơm phức hương Cau
Mẹ cười răng hạt na đen nhánh
Thằng con trai 
                 chạy nhảy
                              bãi sông Cầu...
          
      Quê Bắc Ninh 5-5 Âl (20127)
               NGUYỄN KHÔI


 

Nguồn : từ email cả nhà thơ Nguyễn Khôi gửi lamngoc.
NM cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khôi thường xuyên chia xẻ những bài hay.

 

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

HAI MƯƠI NĂM - THƠ TRÚC THANH TÂM

Thân gởi: Nhà thơ Nhã My ( Hai Mươi Năm - thơ Trúc Thanh Tâm ) 
Hộp thư đến


TrucThanhTam Truc
24 thg 5 (3 ngày trước)

tới tôi 
thơ Trúc Thanh Tâm
    



 

 HAI MƯƠI NĂM 

  Lúc trước em mười tám tuổi
  Và ta đã tuổi hai mươi
  Tình yêu không thành duyên nợ
  Nhớ thương trả lại cho đời 

  Chiều nay, ta về chốn cũ
  Giáo đường, băng ghế vắng em
  Tiếng kinh cầu không thay đổi
  Riêng ta thêm nặng nỗi niềm

  Em cũng theo chồng xa xứ
  Từ hôm mặc áo cô dâu
  Em đưa tay làm dấu thánh
  Để tang cho mối tình đầu

  Ngày đó, dù em rữa tội
  Vẫn còn vương vấn tình ta
  Hai mươi năm rồi xa cách
  Chúa ơi, tình cũ đã già 

  Bây giờ, mình ta xưng tội
  Những gì ngày trước, xin quên
  Chúa ơi, cho con giữ lại
  Một thời đắm đuối, yêu em !


 TRÚC THANH TÂM
 ( Châu Đốc )

NM cảm ơn nhà thơ Trúc Thanh Tâm thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

BÂNG KHUÂNG GHE HÁT ĐI RỒI - KHA TIỆM LY

 





          BÂNG KHUÂNG GHE  HÁT ĐI RỒI


Nghe tiếng trống ba dùi một: Thùng thùng! Thùng! Thùng thùng, Thùng!... là tôi nôn nao cả người. Đó là tiếng trống “rao bảng” của gánh bầu Trình về hồi sáng mà thằng Tửng đã thông báo cho cả bọn chúng tôi hay. Mẹ đã hứa cho tôi tối được xem hát, nhưng với điều kiện là phải xắt và bầm xong một thúng chuối cây cho con ụt (heo)! Chuyện nầy không nặng mà cũng không nhẹ nhàng gì. Với con dao mà thợ rèn rèn để chuyên dùng cho việc xắt chuối nên nó bén ngót; và nhờ cái cán dài tựa vào vế, nên cây chuối to đùng tôi chỉ khứa có sáu khứa là xong một lát, nhưng sao lần nầy tôi thấy ngán cái việc tầm thường nầy quá! Còn nửa thúng nữa mới xong, tôi định bỏ dao chạy ra xem ( “rao bảng”), nhưng sợ mất thời gian mà trễ xuất hát. Đúng ra tôi muốn đến sớm để cùng lũ bạn chơi đùa và “ăn” nước đá nhận, chứ tới tối mới mở màn, thì làm sao trễ được? Phải chi có thằng Tửng lại, biểu nó phụ bằm thì hay biết mấy!

Từ “rao bảng” thời bây giờ ít được nhắc tới nên các bạn khó mường tượng được. Như vầy: Khi gánh hát vừa tới nơi thì có bộ phận trang trí sân khấu,…và một bộ phận đi … “rao bảng”!

Thường bầu hát mướn một cỗ xe ngựa,(loại phương tiện giao thông cao cấp thời ấy ở quê tôi), hai bên hông và sau xe được treo ba tấm bảng đề tên tuồng hát và hình ảnh ấn tượng nhất của vở tuồng được diễn tối hôm đó. Trên xe có một cái trống chầu và một người đánh trống, thường là người trong đoàn, nhưng đôi khi cũng là người tình nguyện ở lớp tuổi đàn anh của chúng tôi (để được đi xe ngựa và đựơc đánh trống chơi!). Sau xe ngựa là cả bọn chúng tôi… chạy bộ theo; dọc đường lại được các bọn khác tháp tùng, nên xe “rao bảng” cũng coi xôm tụ lắm.

Cứ hai tiếng nhặt, một tiếng khoan (Thùng thùng! Thùng!) theo bước chân ngựa thật chậm từ đầu làng đến cuối làng. Và như thói quen như nghe tiếng chuông cà rem; Nghe tiếng trống, thí ai cũng biết gánh hát về!

Tiếng trống xa dần,..Hồi sáng thằng Tửng nói tối nay hát tuồng Tôn Tẩn Hạ San tôi càng háo hức được xem. Tôi khoái chuyện nầy qua lời kể của mẹ tôi, nên lấy lại khí thế xắt cho xong nửa thúng còn lại. Để khích lệ tinh thần, mỗi lần khứa dao, tôi đọc thầm trong bụng: “Tôn -Tẩn - Hạ - San -Tôn -Tẩn - phực!”, đến “phực”, sáu khứa dao, là xong một lát chuối; lát mới tôi đếm lại từ đầu : “Tôn-Tẩn…..phực!”. được năm mười cái “phực” thì đã mỏi tay. Tôi kiên nhẫn thêm vài cái “phực” nữa thì thằng Tửng áo vắt trên vai, cổ lòng thòng chiếc ná thun, vốn là vật bất ly thân của nó; hổn hển hỏi tôi:

- Chưa rồi sao mậy?

Tôi mừng húm:

- Mầy phụ bầm với tao đi! Gần xong rồi!

Nó tự động lấy tấm thớt và con dao quen thuộc, ngồi cạnh tôi, hốt chuối ra bầm. Thao tác nhuần nhuyễn như đầu bếp chuyên nghiệp bầm thịt!

Trong bọn, tôi thích thằng Tửng nhất, vì nó xông xáo và hay giúp đở bạn bè. Nó lại có nhiều tài vặt mà bọn chúng tôi không có hoặc thua xa; như dám bơi qua lại con rạch cái hai lần khi nước chảy xiết, biết cỡi trâu, đặt lờ, bắt cá và leo cây như khỉ, còn gan dạ nữa! Đi chơi với nó không hề bị đói. Mùa vú sữa thì ăn vú sữa ở đinh, chùa. Các mùa khác thì…. chui rào hái trộm! Gần tết, khi ruộng vừa gặt xong, những chỗ nước đọng lại, nó chỉ huy chúng tôi đắp hầm bắt cá. Trong lúc chờ đợi cá nhảy vào, nó làm bẫy cò ke để bắt những con cò xấu số đang lặn hụp tìm mồi.

Được cá, nó bảo chúng tôi bứt gốc rạ khô, đốt lên rồi thảy cá lớn cá nhỏ vào. Chỉ một lát, mùi cá chín bốc lên ngậy cả mũi. Khều cá ra, lấy rạ chà sơ lớp cháy bên ngoài, để lộ lớp thịt vàng lươm…


Tôi dừng tay lại:

- Mầy rủ tụi nó chưa?

- Rồi! Làm lẹ đi!

Cứ mỗi lần gánh hát về thì bộ mặt làng tôi coi xôm tụ lắm. Mới bốn giờ chiều mà mấy chị đã trưng bày các “cửa hàng” của mình: Bốn năm xề mía chặt khúc, mấy xề đậu phọng nấu. Tấp nập nhất là “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Đó là một bàn chữ nhật khá cũ kỹ, ở trên để một bàn bào nước đá, cả chục cái ly và hai chai sirô. Chị liên tục bào đá, hứng vào một ly rồi ém chặt lại, sau đó xịt sirô vào, lật úp ly lại, lấy ra khối đá hình cái ly đượm màu sirô đỏ thắm, trao cho người mua, toàn là bọn trẻ lứa tuổi chúng tôi! Cứ thế chúng tôi mút! Mút liên tục (nếu không thì sirô theo đá tan ra thì uổng lắm).Tay nầy tê thì đổi qua tay kia, mút chừng nào khối đá còn một miếng nhỏ, chúng tôi bỏ tọt vào miệng nhai rào rạo! Món nầy gọi là “nước đá nhận”, xem ra rất thích hợp với chúng tôi, bởi vừa ăn, vừa chơi đùa được, lại tiện lợi là, sau khi ăn xong, hai môi đỏ đẹp như thoa son; hai tay sạch trơn, như vừa rửa vậy!

Không hiểu sao, cái món vừa ngon lành, vừa rẻ tiền, vừa tiện lợi như thế mà ngày thường các chị không bán, mà phải đợi đến gánh hát về?

Gánh hát đêm đầu, người xem đông.

Vì diễn ở nhà lồng chợ, chợ làng tôi cũng như chợ huyện thời ấy chỉ là một dãy nhà nhiều căn liên tục, xung quanh không rào, không cửa ( mới gọi là nhà lồng), nên gánh hát về phải lấy vải dày bao xung quanh, chỉ chừa một cái cửa để “bán vé”. Nói “bán vé” chứ vé viết gì đâu? Người bán “vé” luôn là bà bầu, tức là vợ của ông bầu gánh hát, kèm theo là con hay người trong đoàn mà bà tín cẩn. Cứ người lớn vô cửa thì ba đồng, con nít một đồng. Những đêm cuối, thì người lớn hai đồng, con nít vẫn giữ nguyên., bởi một đồng chỉ giá trị hai gói xôi! Tuy vậy, bà bầu cũng “du di”, thấy đứa nào sạch sẽ … như tôi (!), thì bà cho hai đứa một đồng! Bởi cái “du di” nầy mà xãy ra nhiều chuyện buồn cười:

- Sao hai thằng đó một đồng mà tôi với con tôi tới ba đồng ?

- Thi…thì tại hai đứa đó dễ thương.

- Vậy chớ con tôi dễ ghét lắm hả? Tui với nó hai đồng rưỡi thôi!

- Bà vô bốn người mà trả có hai đồng rưỡi, chắc chết tôi quá! Dắt một đứa, cõng một đứa, bồng một đứa….

- Em bé không tính tiền mà!

- Thôi vô đi bà nội, rầu bà quá!

Hai anh em thằng Xoài thằng Mận là chuyên gia coi cọp. Chúng đợi ở cửa, lợi dụng lúc đông người, xô đẩy nhau, chúng chen vào. Mười lần cũng lọt được năm sáu, những lần còn lại bị… kéo lổ tay, đuổi ra.

Tôi vốn nhát gan, nên mua “vé” đàng hoàng. Thằng Tửng nói với tôi:

- Mầy mua “vé”được rồi đó!

- Đợi một hồi cho bớt chen lấn rồi hãy vô.

- Đồ ngu! Mầy vô sau, đứng sau người ta, có nước… hửi đít họ chớ làm sao mà coi?

Rồi kéo tôi ra sau hông nhà lồng, chỉ vào một chỗ; nói:

- Lát nữa mầy vô, mầy lại cây cột nầy nghen!

Tôi ầm ừ, vì không phải lần đầu tiên tôi a tòng với nó. Nó dặn lại:

- Nhớ à nghen!

Vào cửa, vừa tới cây cột nó chỉ thì ở ngoài nó đánh vào vải “bịch, bịch”, biết ám hiệu, tôi nhìn quanh rồi giở vải cho nó chui vào. Chiến thuật nầy hiệu quả hơn của Xoài, Mận nhiều, vì hầu hết nó vô trót lọt! Nếu xui rủi bị phát hiện thì nó cũng không bị kéo lỗ tai; mà là tôi! Tôi khoái nó ở chỗ, dù có trót lọt hay không, hôm sau nó cũng đãi tôi một chầu đá nhận!

“Rạp hát” không có ghế ngồi cho khán giả, muốn ngồi ghế thì tự đem ghế nhà vào, thường là mấy bà già, còn hầu hết thì ai vô trước, đứng trước, ai vô sau đứng sau. Còn vô sau mà muốn đứng trước thì cứ chen lấn! Mấy đêm đầu, người sát như nêm, mùi mồ hôi ngậy mũi, tiếng cãi cọ luôn xảy ra khi chờ đợi mở màn: “Mấy thằng quỷ nầy làm gì chạy tới chạy lui hoài vậy?” Một người bịt mũi: “Ai bỏ “bom nguyên tử” vậy ta?”. Mọi người vừa bụm miệng thì lại có tiếng: “Hùm… “trái” nầy còn ác liệt hơn nữa!”. Ai cũng cười rung cả bụng. Một chị gái: “Lợi dụng hả?”. “Chật phải cho người ta đụng chớ? Sợ thì ở nhà đi!”

Quê tôi trước sau có bốn gánh hát (chuyện hi hữu tại một xã nghèo thưa thớt dân cư), mà bầu Bời, bầu Trình là kỳ cựu nhất. Đào kép trong đoàn đa phần cũng là con em trong làng. Dẫu sống đời lang bạc, nhưng họ cũng ít nhiều ưu ái với nơi cắt rún chôn nhau. Hậu trường các gánh khác chúng tôi dễ gì được vào xem. Với các gánh nầy, chúng tôi vào thoải mái, miễn đừng lớn tiếng, phá phách, với đừng … ăn ổi chín là được! Lần đầu tôi cầm trái ổi chín rục, thơm lừng, vừa cắn một miếng thì chị Ẩn, đào chánh giật lấy. Tôi nhơ ngác: “ Ổi của em mà!”. “Biết rồi! Trái nầy em cho chị”. “Bộ chị có bầu hả? Sáng mai em hái cho chị.” Chị vò đầu tôi: “Không phải, nhưng ăn trước bàn tổ không nên, ông bầu thấy ổng quánh bây giờ”. Chị lại cười: “Ví (với) một lát, mấy em không được ăn me trước mấy ông thổi kèn nghe không?” Tôi ngơ ngác dạ dạ cho qua. Sau nầy mới biết, không cho ăn ổi vì sợ… ông tổ thích mùi ổi chín mà bỏ đi (về nhà người ăn ổi); còn không cho ăn me trước mấy ông thổi kèn vì sợ mấy ổng… thèm chảy nước miếng mà thổi không được! Từ đó, tôi còn nghe người lớn nói như vầy: “Ăn cướp không bao giờ cướp đồ (tài sản) của gánh hát!”. “Sao vậy?”. “Vì họ cùng một ông tổ mà ra, hồi đó ông tổ gánh hát bỏ nghề rồi đi … ăn cướp” (?) “Ối! Xa lơ xa lắc, giờ cướp đại, chết thằng tây nào?”. “Bậy! Nếu cướp của gánh hát thì bị quan bắt liền, hồi trước ổng thề như vậy”. “Ờ hén”. “Có ghe cướp, cướp nhằm ghe gánh hát mà không biết, chừng về thấy mấy cái rương toàn là âu ria, áo mão, hoảng hồn, đem trả không kịp!”

Khán giả đa số là bà già, ông già, các lớp đàn anh đàn chị chúng tôi, tức khoảng mười bảy mười tám tuổi, tuổi sắp có chồng, có vợ! Thời đó, nam mười tám, nữ mười sáu có chồng có vợ là chuyện thường tình. Lớp trên hai mươi, con cái đùm đề, ít ai đi coi. Tuổi trung niên còn ít nữa, không hiểu vì sao!

Có một khán giả rất đặc biệt là thằng Hợp (sau nầy là kép cải lương của anh sáu Triều), nó ngồi một chỗ cũng rất đặc biệt: Dưới “bàn vua”. Đó là cái bàn chữ nhật như cái bua-rô của thầy giáo, không trải drap, phía sau là cái ghế đẩu, tượng trưng cho ngai vàng! Không hiểu sao, đêm nào cũng có cái bàn ấy đặt sát tấm màn phong cảnh tận cuối sân khấu, dù đêm đó không có vai vua cũng vậy!

Hợp ngồi xếp bằng dưới cái…. “long bàn” ấy. Áo luôn phanh ngực, lâu lâu quẹt mũi, nhìn xuống coi… khán giả, bởi mặt bàn che khuất tầm nhìn, làm sao coi đào kép?

Có gánh hát nào lại cho khán giả ngồi chỗ đó, ngoài gánh bầu Bời, bầu Trình? Ban đầu mở màn thấy nó ngồi, ai cũng cười dễ dãi, sau thành quen, xem như đó là ghế danh dự dành cho nó vậy!

Có lần vị vua nào đó lâm triều, vừa ngồi xuống ngai (ghế đẩu), vua duỗi chân ra, đạp nhằm nó, vua “ý” một tiếng, làm “bá quan văn võ”(thường có bốn người - hai văn hai võ) cũng giật mình. Khán giả thì cười rần. Rồi đâu cũng vào đấy, vua làm việc vua, nó ngồi tiếp!

Lại lần khác, vua vỗ bàn quát: “Giáp sĩ đâu?”, cùng lúc ngoài rạp có tiếng tía nó gọi: “Hợp ơi, về biểu!”, nó lật đật “dạ” một tiếng thật lớn còn hơn cả tập thể gánh hát “dạ” trong hậu trường, rồi vội vàng đứng dậy, đội luôn cả “long bàn” trên đầu. Vua quan ngơ ngác, còn khán giả thì cười vỡ bụng.

Thế mà hôm sau, nó cũng không vắng mặt ở chỗ ngồi danh dự đó!

Cũng nên nói thêm, gánh hát không có máy đèn. Ánh sáng là chiếc đèn măng sông duy nhất được treo giữa sân khấu và hàng ghế đầu tiên của khán giả. Nói “hàng ghế”cũng đúng, vì dường như đêm nào cũng có một hai hàng ghế "thượng hạng" dành cho các cụ, dù ghế nầy do các cụ mang tới. Đó hàng ghế bất khả xâm phạm trong một điều luật bất thành văn: Các anh chị và lũ chúng tôi ở phía dưới, cãi cọ, chen lấn làm gì làm, tuyệt nhiên không ai dám lướt qua các hàng ghế trưởng bối đó. Các cụ dù vô sau, chỉ cần đưa ghế lên (cho dễ đi), là có hàng loạt tiếng nói :- “Tránh ra cho bác Bảy ( ông Ba, bà Hai…) đi cà tụi bây ơi!”. “Cái thằng nầy lì quá, nói nãy giờ mà cứ giỡn hoài!”

Đó không phài là văn hoá kính lão, là điều đáng tự hào của quê hương tôi đó sao?

Về tuồng tích thì thường là những trích đoạn của các truyện Tàu mà cô Năm tôi thường đọc cho các người lớn trong làng nghe trong các buổi đám cưới, đám giỗ, hay những lúc nông nhàn, như “Phụng Nghi Đình”, “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”,”Tôn Tẩn hạ San”, “Triệu Tử Long đoạt ấu chúa”, “Chiêu Quân cống Hồ”.…Thật tình, giờ tôi nhớ được nội dung những chuyện ấy là nhờ nghe cô Năm đọc, còn coi hát bội, tôi không nhớ gì hết ngoài mấy tiếng “tróc mã đề thương, ứ ư, ứ ư…”, bởi hát bội thường “hát”chữ nho, hiểu đâu mà nhớ?!

Vài năm sau (khoảng năm 1959), các gánh hát bội của bầu Trình, bầu Bời dần dà ế khách, bị lép vế bởi các đoàn cải lương ở xa đến như Điền Viên, Kiếp Bướm, Ánh Sáng. Gánh bầu Trình phải diễn luôn cả suất ban ngày mà hầu như không đủ sống, bởi khán giả toàn là lũ nhí chúng tôi, mà tụ lại không bằng một gánh Sơn Đông mãi võ! Suất đêm là chính, lại bị “sập dàn” hoài! (*), bởi cũng chỉ có đám chúng tôi vào coi, chỉ là ham vui, hơn là ham coi hát!

Cửa vé vắng tanh, thằng Mận, thằng Xoài không còn cơ hội “thừa nước đục thả câu”, còn tôi cũng không dám giở màn cho thằng Tửng chui vào. Thằng Hợp cũng tự động rời khỏi đít “long bàn”. Các “cửa hàng” mía, đậu phọng đã dẹp tiệm, chỉ còn lại “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Chị bào nước đá thư thả hơn, gọi tụi tôi là “cưng” chứ không là “tụi bây” như trước, và ly nước đá cũng cao hơn, sirô nhiều hơn!

Ban ngày tôi thường lân la vào hậu trường chơi, chị Ẩn nằm một mình trên võng, thấy tôi chị cười , khoe hai hàm răng đều đặn, không phấn son mà tôi thấy chị đẹp lắm, song trông chị buồn còn hơn khi chị đóng vai Chiêu Quân lúc rời xa đất Hán!

- Ủa? Sao có một mình chị ở đây vậy? Mấy anh đâu hết rồi?

Mắt “Chiêu Quân” nhoà lệ:

- Mấy ảnh đi bắt cá hết rồi, chị ở nhà nấu cơm.

- Sao hồi sáng không mua, bắt làm chi cho mệt?

Chị rời võng, đến thêm củi cho nồi cơm tổ bố. Có lẽ khói cay, làm mắt chị ươn ướt, đỏ hoe:

- Hát ế quá đâu có tiền mua cá, em!

Hai giọt nước mắt chị rơi xuống, tôi chạnh lòng, vừa thương chị, vừa ân hận về việc đã bao lần a tòng với thằng Tửng giở vải để cho nó vào coi cọp. Chị lau nước mắt cười thật buồn, hỏi tôi:

- …Ổi nhà em có trái nhiều không?

- Có, có nhiều lắm. Sao chị bảo không nên ăn ổi chín chỗ này?

Chị vẫn cười buồn:

- …Chị muốn ăn ổi chua.

- Chị có bầu hả? Sao bụng chị nhỏ xíu vậy?

Chị hơi vui vì lời trẻ con của tôi; không đáp, chỉ gật nhẹ. Tôi nhanh nhẩu:

- Vậy chị chờ em chút nghe.

Rồi chạy vụt ra réo to:

- Tửng ơi Tửng! Tửng ơi Tửng! Về nhà tao chơi.

Chiều hôm ấy ông bầu đến từ giã bà con ở dãy ngã tư. Ông buồn hơn mọi ngày. Khi đến nhà thầy Tư (tiệm thuốc bắc) thì bà con cũng kéo đến. Chú chín chệt Xồi

- Tui tặng ông bầu hai ký lường (đường) táng uống lước (nước). Chừng nào lảnh (rảnh) dìa (về) hát cho dui (vui).

Chú chín chệt Xồi sống ở làng đã lâu đời, có vợ Việt, ăn mắm sống nên không “nị, ngộ” như các chú Tàu ở huyện.

Một lát chú Hai Cộc xách một xô cá từ mé triền lên:

- Mới tát đìa! Biếu anh Ba (ông bầu thứ ba) và anh em ăn lấy thảo.

Thằng Hợp vừa hít mũi vừa bưng một đĩa lớn bánh cam bánh cồng đầy ắp (chắc bán ế) lại, thưa:

- Má con nói biếu ông bầu ăn uống nước.

Thiếm tư quay quanh rồi nói:

- Ở đây cũng có bánh trái rồi…Hay là đứa nào mang qua nhà lồng cho mấy em ở bển. Đem cá của anh hai cho mấy em làm luôn thể, tối rồi.

Thầy Tư ngập ngừng nói với ông bầu:

- Hổm rày chắc vất vả lắm hả anh Ba?

- Thì anh thấy đó, cứ “sập dàn” hoài!

Chú Chệt Xồi:

- Hay là ông bầu dìa mua bán dí (với) tui, kiếm ăn lược lám ló! (được lắm đó)

Mọi người ái ngại cho câu nói thiệt lòng của chú Chín. Nhưng ông bầu chỉ thở dài:

- Làm như cái “nghiệp” anh Chín ơi! Khi ế anh em cứ than thở đòi về làm ruộng, nhưng khi được bà con ái mộ thì quên hết! “Cái nghiệp” khó dứt lắm anh ơi. Như con tằm ăn dâu phải nhả tơ đền nợ dâu vậy.

Sáng hôm sau khi tôi định xách thêm bọc ổi chua và gói muối ớt cho chị Ẩn, thì thấy thằng Tửng bọc một áo xoài đứng ở trước cửa. Tôi trố mắt hỏi nó:

- Mày ăn cắp hả?

- Tao xin đàng hoàng. Tao nói xin cho chị Ẩn, thím Bảy bảo hái cho khá khá. Ăn cắp gì mà nhiều dữ vậy?

Khi chúng tôi đến, mọi người đang ăn cơm. Chị nắm tay chúng tôi, nghẹn ngào:

- Cám ơn hai em nghen!

Ăn cơm xong mọi người lỉnh kỉnh gánh gồng xuống ghe. Tôi và Tửng đứng trên bến. Chị vò đầu chúng tôi rồi xuống sau cùng:

- Mấy em ở lại ráng học giỏi nghe. Lần sau chị về chị bao mấy em coi hát khỏi mua vé.

Thằng Tửng coi bộ sượng sùng vì lời chị. Tôi nói:

- Chừng nào chị về nhớ ẵm em bé về chơi nghen.

Ghe rời bến, chị yếu ớt vẫy tay. Ghe đi xa, chúng tôi nhìn đến khuất bóng mới thôi. Tôi ngó qua Tửng, nó ngượng ngùng quẹt nước mắt. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc. Và lần cuối cùng tôi gặp chi Ẩn.

KHA TIỆM LY


Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

CÚ ĐIỆN THOẠI BÌNH THƠ - ĐẶNG XUÂN XUYẾN

BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
23 thg 5 (1 ngày trước)

tới tôi





CÚ ĐIỆN THOẠI BÌNH THƠ


*
Ông điện cho tôi, giọng rổn rảng:
- Này cậu! Mấy bài thơ mới của cậu hay lắm. Tớ vừa đọc, rất khoái. Lớp trẻ các cậu bây giờ viết nhanh, trực giác mạnh nên bọn tớ đọc thơ của lứa các cậu thích đấy, nhưng mà... nói thật, để hiểu được thơ của các cậu cũng mệt óc lắm.
Rất thật, tôi rụt rè:
- Vâng. Cháu cám ơn chú đã khích lệ. Nhưng... Chú cho cháu một vài lời cụ thể được không ạ?
Có lẽ, cũng rất thật, ông chậm rãi:
- Thơ cậu, tớ đọc có hiểu mẹ gì đâu mà cho ý kiến cụ thể.
Rồi ông cao tông giọng:
- Thơ của cậu thế nào ý. Đấy đếch phải là thơ. Kiểu như cái bài “Lan Man Và Chuyện Đàn Cừu”, với bài “Lan Man Và Chuyện Thằng Bạn”. Đúng là lan man thật. Sao lại lôi con Cừu vào thơ thế? Lại bình đẳng con Cừu với Con Người Việt Nam ta là thế nào? Cậu có biết hình ảnh con Cừu trong biểu tượng văn hóa là tượng trưng cho điều gì không? Là nô lệ! Là tầng lớp bị trị ngu đần và bạc nhược! Ở Việt Nam ta có Cừu không? Có nhưng không nhiều, rất hiếm, vì đấy là hàng “nhập ngoại” nên không thể là hình ảnh tượng trưng cho bất kỳ điều gì trong thực trạng văn hóa của người Việt Nam cả. Cậu dùng hình ảnh con Trâu, con Bò hoặc con Chó, con Lợn,... còn khả dĩ chấp nhận được phần nào... Đằng này lại là hình ảnh con Cừu. Hẳn cả một đàn Cừu. Đấy. Phi thực tế như thế mà cũng đưa vào thơ được. Mà... Sao lại “bạn rủ tôi về nhà nghe hát”? Sao không là bạn rủ tôi về nhà nghe nhạc cho nó sát với thực tế, mà cũng đậm đà chất thơ? Lại còn nửa đêm sợ tiếng thạch sùng, với những tiếng tờ lạch tạch? Rất yếu đuối, rất phi thực tế. Đàn ông đàn ang, ai lại sợ những con vật nhỏ bé, yếu ớt như con thạch sùng, con gián, con kiến? Đàn bà, con gái cũng không ai yếu đuối đến vậy. Đã thế, đêm hôm không lo ngủ, hoặc lo bảo nhau làm mấy cái chuyện sung sướng lại dựng bạn dậy để khoe nhiều tiền.... Kiểu... Rất chi là vô học. Ừ. Còn lan man, vô lý ở chỗ: Đang tả bạn thờ thẫn, man dại vì thèm tiền lại nhảy sang tả khuôn mặt bạn người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm với những khuôn nét vừa của thánh nhân, vừa của quỷ dữ. Xong, chốt câu “Tôi đã từng sợ ma” để hạ màn. Vớ vẩn. Sao lại sợ ma ở đây? Chả ăn nhập gì với nhau. Linh tinh. Dở oẹt. Tóm lại, đấy đếch phải là thơ. Là tản mạn mấy tiếng thở dài của mấy thằng dở người nửa đêm nửa hôm đếch biết làm gì nên rủ nhau làm mấy cái chuyện khác người, rõ ngớ ngẩn.
Rồi Ông cụp máy cái rụp.
Tôi thẫn người vì tràng giang những điều ông vừa nói.
Chưa kịp giãi bày một hai điều thì ông đã cụp máy nên thực lòng, tôi cũng hơi ấm ức.
Vươn vai, làm mấy động tác cho giãn xương cốt, lưu thông khí huyết, tôi lên giường chuẩn bị ngủ thì ông lại điện đến.
Tôi uể oải nhấc máy:
- Dạ, cháu nghe...
Ông giật giọng:
- Này. Tớ hỏi thật nhé. Cậu có hiểu những điều tớ vừa nói không?
Tôi nhát gừng, giọng buồn ngủ nhưng thật lòng:
- Dạ! Thật sự là cháu không hiểu ạ!
Ông cười ngất, rồi chậm rãi:
- Tớ biết cậu không có hiểu nhưng cứ hỏi để kiểm chứng nhận định của tớ chính xác thế nào. Thôi. Cậu nghỉ đi. Tớ cũng đi ngủ đây. Muộn rồi.
*.

Hà Nội, 23 tháng 05.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

NM cảm ơn Xuân Xuyến đã chia xẻ một truyện vui.

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

BA MƯƠI NĂM - THƠ TRÚC THANH TÂM

Kính gởi: Nhà thơ Nhã My ( Ba Mươi Năm - thơ Trúc Thanh Tâm ) 
Hộp thư đến


TrucThanhTam Truc
23:38 (21 giờ trước)

tới tôi 
thơ Trúc Thanh Tâm



   


BA MƯƠI NĂM... 

 - Gởi Châu Đốc - Cà Mau

  Hơn ba mươi năm, biền biệt Cà Mau
  Bến tàu đó, em biết còn chốn cũ
  Mái trường tỉnh tôi chưa lần được học
  Rồi chiến tranh, từ đó cách xa mình   

  Nước nổi nơi nầy, nhớ gió U Minh
  Điên điển bông vàng nhớ tràm bông trắng
  Mắm Châu Đốc hương vị còn sâu đậm
  Than đước Cà Mau âm ấm nỗi lòng   

  Hơn ba mươi năm, dấu bụi mù tăm
  Nhưng dĩ vãng vẫn còn trong hơi thở
  Cầu quay đó cũng một lần bỡ ngỡ
  Mắt nhìn nhau, thương nhớ đến bây giờ  

  Cà Mau em, là nét đẹp trong thơ
  Châu Đốc tôi, dòng phù sa bồi mãi
  Có thổn thức mới thấy lòng trống trải
  Có xa quê mới thấu hiểu bao điều!


  TRÚC THANH TÂM
 ( Châu Đốc )

NM cảm ơn nhà thơ Trúc Thanh Tâm thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

ÂN NGHĨA TIỀN KIẾP- TRUYỆN NGẮN CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
16:47 (1 giờ trước)

tới tôi
Như giấc liêu trai -
Giấc mơ thứ tám:







ÂN NGHĨA TIỀN KIẾP
*
Mơ. (Đêm: 21/05/2017, sáng 22/05/2017) Một giấc mơ thật lạ.
Lại lững thững vào ngôi nhà với những nét cổ xưa, có mấy bụi tre đằng ngà, nằm ở phía bên trái cổng ra vào, và xa xa, nơi giáp với con đường làng gồ ghề, phía bên tay phải, là mấy bụi cúc tần xanh mướt... Mệt mỏi, tôi ngả lưng xuống phản. Đang thiu thiu thì hắn, người thanh niên dong dỏng cao, khuôn mặt trái xoan, nước da ngăm ngăm, đánh thức tôi dậy. Đưa cho tôi cốc nước nghi ngút khói, giục uống nhanh kẻo “mẹ về bắt gặp là em không được uống đâu.”. Định gạt đổ cốc nước, không uống, nhưng nghĩ sao tôi lại cầm, từ từ nhấp môi, uống. Thật lạ. Cốc nước nghi ngút khói mà uống vào lại thấy mát lạnh, rồi dương khí như chảy tràn khắp người, ấm nóng và sảng khoái. Hắn nhìn tôi, tủm tỉm:
- Biết nghe lời là tốt rồi. Không lo nữa. Cam lộ sẽ bảo vệ em. Chợp mắt tí đi rồi trở lại nơi đó, không ở lại đây được đâu, mẹ sẽ trị tội thêm nặng đấy.
Tôi ngả lưng xuống phản. Rồi thấy mình lơ lửng, lơ lửng, bay phía trên một con đường. Tôi càng cố hạ thấp độ cao để xuống con đường thì càng hạ, con đường càng thấp xuống, như cố giữ khoảng cách giữa tôi và con đường không thay đổi. Giữa lúc chán nản, định buông xuôi, thì con đường bị ngắt làm đôi, rồi như có ma lực rất mạnh hút tôi xuống hố sâu phía dưới. Hốt hoảng, tôi vũng vẫy để bay lên nhưng càng cố càng bị hút sâu xuống. Nhìn con đường cao dần, xa dần, tôi bất lực, bật khóc... Bỗng một thanh niên, từ đâu lao đến lấy thân mình làm bệ đỡ, hất tôi bay lên mặt đường, rồi người đó cũng bay lên, đổ vật xuống cạnh. Cảm động, tôi rối rít cám ơn. Cậu thanh niên lạnh tanh trả lời:
- Ơn huệ gì. Nợ thì phải trả. Còn 6 lần nữa, ông ạ.
Hỏi tên tuổi, nhất định cậu ta không nói. Rồi cậu ta ghé lưng bảo tôi ôm cổ để cậu ta cõng, bay cho nhanh. Chừng dập bã trầu, đến một ngôi đền, cậu ta đặt tôi xuống, giục: - Anh vào lễ Mẫu đi. Rồi lao xuống hồ nước. Tôi hét to hỏi tên, cậu ta trồi lên mặt nước, búng tay ra 2 chữ ĐT, rồi lại lặn sâu xuống hồ.
Tôi lững thững vào đền lễ Mẫu.
Thật lạ, ở ngoài là ngôi đền rất nhỏ nhưng vào bên trong lại rộng lớn, càng đi càng hun hút, hun hút. Đến một gian thờ, rộng lắm, bên phải, bên trái, trước mặt, sau lưng đều là những ban thờ, với những tượng thờ không rõ là thờ Tam Tòa Thánh Mẫu hay thờ Đức Thánh Trần Triều. Tôi loay hoay, loay hoay không biết thắp hương ban thờ nào trước và khấn lễ ra sao thì một ni cô, quãng chừng 18, 20 tuổi xuất hiện, chắp tay trước ngực, nhìn tôi, rất khẽ: - “A Di Đà Phật! Mẫu tại tâm! Phật tại tâm! Phật trong ta! Ta trong Phật!”. Rồi bay lên không trung, biến mất.
Tôi ngồi xuống, chắp tay trước ngực, tư thế như niệm chú. Rồi thấy mình lại lơ lửng, lơ lửng bay đến một khu vườn, cây cối xum xuê, đầy hoa trái.
Đến một ngôi nhà cao nhất, to nhất, tôi hạ xuống.
Đón tôi là một cụ ông, râu tóc bạc trắng, ánh mắt sáng quắc. Cụ hắng giọng, e hèm vào phía trong:
- Cậu về rồi. Sao bay không ra nước nôi cho cậu?.
Một đám choai choai, bưng nước ra để tôi rửa mặt. Rồi pha nước mời tôi uống.
Nhìn xuống nền nhà, tôi giật mình vì ngôi nhà lơ lửng giữa không trung, không có nền. Hun hút bên dưới là chen chúc những người là người. Tôi căng mắt nhìn và nhận ra một nhóm 7 người trông quen quen, có cả nam cả nữ, cả già cả trẻ đang bị đánh đập dã man. Tôi chỉ vào cậu thanh niên bị đánh nhiều nhất, hỏi cụ già:
- Cậu miệng lệch kia phạm tội gì mà bị đánh dã man thế?
Cụ ông phẩy phẩy quạt, thủng thẳng:
- Hạn Song Hao, khởi đầu là cờ bạc bịp, lừa đảo, mới chỉ là khởi đầu, cậu ạ. Đại vận 10 năm, mới là năm đầu, tránh sao được quả báo!
Tôi hỏi:
- Có cách gì cứu không?
Cụ già cười:
- Khó lắm! Mệnh trời, cãi sao được!
Tôi gặng:
- Chẳng lẽ không còn cách nào sao?
Cụ vuốt râu, khà khà:
- Có đấy cậu ạ. Ngoài tích đức thì lợi dụng bản tính của Song Hao mà tát nước theo mưa, may giảm được họa chút ít.
Thấy cậu ta bị đánh đau quá, tôi đứng dậy, búng tay một cái, một luồng điện chạy thẳng xuống đánh tên cai ngục gục ngã. Cụ ông hốt hoảng giữ tay tôi, lắp bắp:
- Thiện tại! Thiện tai! Thiên cơ bất khả lộ! Thiên cơ bất khả lộ!
Vừa lúc đấy, cụ bà với khuôn mặt tròn phúc hậu lại xuất hiện. Giơ cao gậy, chỉ thẳng mặt tôi, quát:
- Phục sinh nhà mày! Ai cho phép trở lại đây! Có cút ngay không!
Rồi phang tới tấp.
Tôi vội chạy.
Và lại thấy mình đứng trong sân nhà, ở quê. Nhìn mấy cây đào bị bứng ra khỏi chậu, tôi cằn nhằn với anh Thắng:
- Năm ngoái để chết cây đào bích tiếc quá. Năm nay gây lại được 2 cây đào phai, không đẹp nhưng trồng để trừ tà, rước lộc, sao bác lại bứng cả ra ngoài như thế?
Anh Thắng cười:
- Cây đào bích chết là do chú. Cây đang xanh tốt, chú về nghỉ cuối tuần, lại trách anh để ũng nước nên đào mới bị chết. Tuần sau y rằng cây đào bị chết. Cây khế cũng thế. Anh quên tưới nước nên cây bị khô, héo. Tưới nước lại, cây bắt đầu nảy mầm thì chú về, trách anh để chết cây khế quý. Y rằng, tối chủ nhật chú lên Hà Nội thì thứ 2, mấy mầm khế tự dưng héo, cây khế chết thật. Mà anh thấy chú lạ lắm. Cây bưởi mấy năm không ra quả. Chú đe không ra quả chú sẽ chặt thế là năm ngoái đậu được mấy quả, năm nay quả sai trĩu cành.
Tôi cằn nhằn:
- Em đang nói 2 cây đào phai và thêm cây sung kia nữa. Sao bác lại bứng ra khỏi chậu thế.
Anh Thắng gắt:
- Chú hay nhỉ. Cây thì chậu vỡ anh chưa thay được chậu. Cây thì để trồng trong chậu không hợp lý nên anh bứng ra, đợi kiếm được chậu hợp với cây thì thay. Chú toàn thắc mắc thừa.
Đang định to tiếng với anh Thắng thì cụ bà xuất hiện. Chống gậy đứng đầu cổng, ngắm nghía mấy cây cảnh, vẻ vừa ý, cụ gật đầu rồi nhìn tôi, bảo:
- Phục sinh nhà anh! An phận mà ở lại đây chứ còn bén mảng trở lại chốn đó là tôi đánh anh què chân đấy.
Nói xong. Cụ biến mất.
Tỉnh giấc. Nhìn đồng hồ: 05 Giờ 15, ngày 22 tháng 05 năm 2017.
Ghi lại giấc mơ để ngẫm xem sao.
*.
Hà Nội, sáng 22 tháng 05.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

NM cảm ơn Xuân Xuyến thường xuyên chia xẻ những bài viết hay.

Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

GIÃ BIỆT - THƠ KHA TIỆM LY

Tiemly Kha
19 thg 5 (2 ngày trước)
tới tôi










GĨA BIỆT



Đò vô thường luôn neo bến đợi,
Rồi một mai ta cũng phải đi về.
Bao đắng cay, phủi tay để lại,
Mặc cho người ai tỉnh, ai mê!


Chẳng lợi, chẳng danh, chẳng gì sợ mất,
Chẳng bạn tình chung, chẳng xót xa nhau.
Ta thư thả, dù nắng hong, mưa bấc,
Dù Nại Hà nhịp thấp, nhịp cao!


Ta giã biệt tên Lý Thông, Tần Cối,
Mặc các ngươi mê đắm bã hư danh,
Mãi lặn hụp trong đê hèn, tội lỗi,
Rồi một ngày cũng qua bến tử sanh.


Xin giã biệt những người em lỗi hẹn,
Chúc các em vui một cõi phù hoa,
Với mắt lạnh, với tiếng cười nhọn bén,
Không có một ngày như em đã phụ ta!


Ta tiếc chi ta, cái thân hàn sĩ,
Mà tiếc thơ ta chẳng có mộ phần!
Tiếc cho ta chưa hồng nhan tri kỉ,
Dù hoa đời không thiếu bóng giai nhân!


Ta lại tiếc một đời chánh khí,
Gươm anh linh chưa thỏa chí một lần.
Dù khua chèo nghĩa, đệ huynh vô số.
Dù mở kinh luân, đệ tử mấy ngàn,
Mà gươm báu vẫn nằm im mấy độ,
Nhớ Lương Sơn mà thẹn với Tống Giang!


Và lại tiếc sao tình em đến muộn,
Đàn sai cung nên lỡ một bài ca.
Trót rơi xuống thành giọt sương buổi sớm,
Nên suốt đời vẫn nợ một loài hoa!


 KHA TIỆM LY

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

MÙA PHƯỢNG ĐI QUA - THƠ THỦY ĐIỀN


Tran Van Mau
Tệp đính kèm03:52 (3 giờ trước)

tới tôi 
Kính chị Nhã My
Em xin gởi bài nhé
Chúc chị luôn vui khỏe, trè trung.
Thủy Điền


Kết quả hình ảnh cho ảnh hoa phượng đẹp VÀ HỌC TRÒ


MÙA PHƯỢNG ĐI QUA

Mau thật nhỉ. Anh ơi ! Mau thật nhỉ
Lại một lần tháng sáu nữa anh ơi
Cây phượng già trước ngõ nở hồng tươi
Tập nhật ký sang trang ghi đôi chữ

Mau thật nhỉ. Anh ơi ! Bao quá khứ
Vẫn còn đây trong quyển nhật ký dầy
Bao kỷ niệm yêu nhau từ thuở ấy
Nỗi vui buồn, hờn giận vẫn còn đây

Phượng mùa nào phượng cũng nở rực cây
Màu đỏ thắm lung linh khoe trong nắng
Sao tình ta cứ âm thầm mờ lặng
Như bóng chiều nghiêng ngã phía đồi xa

Tháng sáu về em lấy nhật ký ra
Ghi trang cuối tình mình đà tan vỡ
Tay vớ cao, chòm chân em bẻ lỡ
Cánh phượng tàn, rồi ấp ủ vào tim

Ngồi buồn hiu nhìn cánh gió im lìm
Và, nước mắt từ từ rưng rưng chảy
Tiếc thương quá cuộc tình đầy ngang trái
Xót thương mình mùa hạ đã đi qua.




THỦY ĐIỀN
19-05-2017

NM cảm ơn Thủy Điền thường xuyên chia xẻ những bài hay.


Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

ĐƯỜNG DÀI - THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
15 thg 5 (2 ngày trước)

tới tôi








ĐƯỜNG DÀI 
- Yêu mến tặng Huyền Thương -
.
- Đừng mà.
Ở lại đi em
Ngoài kia
Trời đã buông rèm từ lâu.
.
- Chúng mình đến chẳng được đâu
Anh còn khuấy sóng bể dâu làm gì
Thôi thì cứ để em đi
Mười lăm năm nữa còn gì nét xuân
Anh dù vì nghĩa, chả cần
ngó ngơ chi lũ dở đần dở khôn
Trái tim
sợ lắm bước dồn
Thôi.
Em về.
Kẻo lời đồn
khổ anh
Nhà nghèo
duyên phận mỏng manh
Em neo chữ nghĩa chữ tình với son
Anh dù chẳng vợ còn con
Cố chen em chỉ nước non phận hèn
Dằn lòng rồi cũng phải quen
Thôi.
Em về
kẻo
mờ đèn
phố xa
.
- Ờ ...
Thì...
Em trở lại nhà
Khăn đây
em quấn
Ngõ xa
đường dài.
*.
Hà Nội, đêm 13 tháng 05.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

NM cảm ơn Xuân Xuyến đã chia xẻ một bài thơ hay.

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

TRỐN - NHẠC THẢO NGUYÊN - THƠ NHÃ MY






TRỐN
THƠ NHÃ MY
NHẠC THẢO NGUYÊN
HÒA ÂM TRẦN NHÀN
CA SĨ THANH HOA
VIDEO CLIP TRẦN NHÀN

NM chân thành cảm ơn thầy Thảo Nguyên , nhạc sĩ Trần Nhàn , ca sĩ Thanh Hoa đã chuyển tải cảm xúc vào một ca khúc hay.





Hua Thao Nguyen 16 Tháng 5 lúc 7:25
Hua Thao Nguyen Có gì quý bằng được dàn trải và chia sẻ cùng những TÂM HỒN ĐỒNG ĐIỆU..qua Thơ - Nhạc. Nguồn vui tinh thần đã gắn kết và nâng cao cuộc sống chúng ta vào CÕI THANH CAO ĐẦY THI VỊ... tuyệt vời !
 ·

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

CHÂN DUNG 99 NHÀ VĂN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI - THƠ NGUYỄN KHÔI


Lời thưa: Được nhà văn Lê Xuân Quang (Berlin) khuyến khích, theo gót nhà văn Xuân Sách, nhà thơ Đỗ Hoàng, nhà thơ Trần Nhương, với tiêu chí “văn là người”, Nguyễn Khôi tôi dùng thơ 4 câu phác họa chân dung 99 nhà văn mà mình mến mộ. Xin được chia sẻ cùng các bạn thơ.

           
                 


          CHÂN DUNG 99 NHÀ VĂN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
                                                                            

           1. TỐ HỮU
           Tự nhận mình là Lành
           Mọi người thấy rất dữ
           Mác Lê bọc bằng thơ
           Đã đâm chỉ có “tử”.

           Tung hoa máu xung trận
           là Hịch chống xâm lăng
           lời Thề với Đảng, Bác
          “Từ ấy”, “Sáng tháng Năm”

            2. CHẾ LAN VIÊN
            Tài thơ đến như  Chế
            Đời  thật khó khen chê
            Bẻ cành phong lan bể
           “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về”.

            Bắn pháo hoa Tư tưởng
            Vờ khóc nước non Hời
            Tháp Bay On bốn mặt
            Giấu đi mặt ma trơi.

            3. SÓNG HỒNG
            Thơ văn là bom đạn
            Lật đổ/ phá cường quyền
           “Đổi mới” phải sự thật
            Đọc Ức Trai đêm đêm.

            4. LÊ ĐỨC THỌ
            Thơ: mực hòa máu viết
            Người hùng - quyền thứ hai
            Giải Nô ben thứ thiệt
            Ai thấy cũng bye bye. (bai bai)

            5. HOÀNG VĂN HOAN
            Anh Ba quy: Việt gian
            Sang nương vây lão Đặng
            Xuống địa phủ viết văn
            Gặp cụ Hồ đặng đặng?

            6. XUÂN THỦY
            Trùm đàm phán Paris
            Lịch lãm và trí thức
            Bị “nạn” thì làm thơ
           “Không giam được trí óc”

            7. TRẦN ĐĨNH
            Chính sự theo “đèn cù”
            “Bất khuất” nên bị thiến
            Đang diễn hề hầu vua
            Hí trường đột tai biến!

           8. VIỆT PHƯƠNG
           “Cửa mở” hở hậu cung
           “Lụy” mấy ông xuất bản
           - Ta cái gì cũng Hồng
           - Địch cái gì cũng Xám
           - Trảm!

           9. HỮU THỈNH
           “Thư mùa đông” cho lính
           Thơ xoàng xĩnh lên ngôi
           Điếu văn “hot” tới đỉnh
           Trơ ghế cao anh ngồi.

           10. NGUYỄN PHAN HÁCH
           Đẹp duyên “làng quan họ”
           Thơ hay không có tiền
           Cho in thơ thả cửa
           Bán giấy phép đầu tiên.

           11. BÚT TRE
           Người bút lông, bút sắt
           Lão quê mùa bút tre
           Dám “biên tập” lời Bác
           Vào Đền Hùng khắc bia (1).
           ………………….
          (1)  Câu “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” là do Bút Tre (Phó ty Văn hóa Phú Thọ) đã “văn bản hóa” câu nói của Bác (biên tập lại) và cũng qua nhiều vị tham gia chỉnh sửa.

          12. TRẦN ĐĂNG KHOA

          Thần đồng thơ trẻ xóm
          Hóm tếu văn “giải thiêng”
          “Chân dung và đối thoại”
           Đằm chất quê hồn nhiên.

           13. HOÀNG CẦM
           Váy Đình Bảng chùng xuống
           Đâu thấy lá diêu bông ?
           Mưa Thuận Thành tầm tã
           Ngây ngất ả phù dung.

           14. TRẦN DẦN
           Còn hai câu bia mộ:
          “Tôi khóc những chân trời…
          …Những người bay không có…”
          “Nhất định thắng”… công toi !

           15. LÊ ĐẠT
           Tù túng thành “phu chữ”
           Đẽo / tỉa bay mất hồn
           Người chết / thơ còn, hết?
          “Đường chữ” nẻo cô thôn.

          16. YẾN LAN
          “Những ngọn đèn” chập choạng
           Bị “đánh” nằm ngậm tăm
          “Bến My Lăng” chạng vạng
          Chàng kị mã gọi trăng.

          17. HOÀNG CÔNG KHANH
          Tù Tây lại tù ta
           “Quyền được rên” chẳng có
          Bởi luôn đòi tự do
          Gánh văn là gánh khổ.

          18. LƯU TRỌNG LƯ
          Chỉ một cái “tiếng thu”
          Để ngàn đời ngơ ngác
          Mộng Phù Tang phiêu du
          Con nai vàng có “tác” ?

          19. QUANG DŨNG
          “Tây tiến” thơ hứng khởi
          “Mắt Sơn Tây” đoạn trường
          Sống: Mai Châu gái đẹp
          Chết vì dáng kiều thơm.

          20. PHAN KHÔI
          “Tình già” liếc như ông
          Mắt xuyên qua thế kỉ
          “Nắng (thì) cứ nắng…. ong ong
           Thời thế… ông chẳng thế!

           21. XUÂN DIỆU
          “Đồng tính” bị đấu tố
          Cụt hứng làm thơ tình
          Thôi thì ca “Ngói mới”
          Đi “nói chuyện thơ” mình.

          22. HUY CẬN
          Tắt “Lửa thiêng” đón “mỗi ngày lại sáng
          “Con cá song lấp lánh đuốc đen hồng”
           Thằng con cả bùng tuốt sang Mỹ sống
           Chết đã lâu mãi chẳng có tên đường.

           23. KHƯƠNG HỮU DỤNG

           Xuất khẩu câu thần cú
           “… chim kêu sáng cả rừng”
           Để nhớ Khương Hữu Dụng
           “Thôi xao” sánh thơ Đường.

           24. YÊN THAO
            Ngang ngửa thơ kháng chiến
            “Nhà tôi” mất hút rồi
            Thơm má người vợ trẻ
            Đừng “nã pháo” – người ơi!

            25. CẦM GIANG
            Tắm truồng trên Sông Mã
            Thơ thẩn  hóa Cầm Giang
            Địa chủ trốn: đổi họ
            Hồn lên ở Mường Hung.

            26. MINH HUỆ
            Vì sao “Bác không  ngủ?”
            Vợ dí thơ… tỉnh tình
            “Bác là Hồ Chí Minh”
            Tỉnh tình đâu mà dí…

            27. ĐOÀN GIỎI
            Đoàn Giỏi văn thực giỏi
            Cánh chim trời mênh mang
            Bởi  ăn “Cá bống mú”
            Mê “Đất rừng phương Nam”.

            28. SƠN NAM
            Theo ông già Nam Bộ
            Thưởng “Hương rừng Cà Mau”
            Mai sau khô không khốc
            Nhớ hoài “Mùa len trâu”.

            29. BÙI GIÁNG
            Nghêu ngao giả cuồng điên
            “Li tao” quên đời loạn
            Chẳng được là Khuất Nguyên
            Thì cũng là Bùi Giáng.

            30. TRẦN TRỌNG KIM

            Trung thực được như ông
            Là “Việt Nam sử lược”
            “Hồi kí” (1) thực như tâm
            Tin đời còn sự thật.
             …………….
            (1) Hồi kí “Một cơn gió bụi”.

            31. KIM ĐỊNH
            Triết gia xảo như ông
            An Việt mấy ai biết?
            Đọc “Triết lí cái đình”
            Thấy thêm yêu nòi Việt.

            32. TRẦN ĐỨC THẢO

            Giảng triết cho lũ dốt
            Tù đầy giữa đời thừa
            Yêu nước thành phản quốc
            “Trăn trối” đã quá mùa.

            33. TRƯƠNG TỬU
            Làm thầy bọn trò ngốc
            Thôi về “châm cứu” chui
            Cứu người  được quả phúc
            Văn chương chiếc yếm rơi…

            34. NGUYÊN NGỌC
            Chết rồi anh hùng Núp
            “Rừng Xà nu” bị nghiền
            Lập “Văn đoàn độc lập”
            Mơ “Đất nược đứng lên”.

            35. PHÙNG CUNG
            Con ngựa già phủ Chúa
            Mười hai năm tội đồ
            “Xem đêm” còn giật thột
            Quất “bã chè” thành thơ.

            36. TRANG THẾ HY
            Yêu sao Trang Thế Hy
            Văn già hiền Nam Bộ
            “Vết thương thứ 13
            Về Bến Tre nằm ngủ.

            37. BÙI BÌNH THI
            Chẳng phải dân lính tráng
            Lại “Về Cánh đồng Chum”
            Viết kí sự Xiêng Khoảng
            Đắm “Xiêng Khoảng mù sương”.

            38. VŨ THƯ HIÊN
            Trải  “Đêm giữa ban ngày”
            Tộc Tà ru bị loại
            “Bông hồng vàng” bầm dập
            Paris “thoại” cùng ai?

            39. THÁI KẾ TOẠI
            Văn sĩ làm “mật vụ”
            Mà chẳng thấy bắt ai
            Lũ Nhân văn kết bạn
            Khua giáo lên văn đài.

            40. MẠC PHI
            Nếu không lấy vợ Thái
            Viết văn, dịch làm sao?
            “Rừng động” xao động mãi
             Để “Xống chụ xon xao”.

            41. PHẠM TIẾN DUẬT
            “Đường ra trận…đẹp lắm”
            Lừa mị lũ trai làng
            Chết hồn kết “ Vòng trắng”
            Đưa thơ về Trường Sơn.

            42. BÙI MINH QUỐC
            Hăng hái “Lên miền Tây”
            Đi B không sợ chết
            “Bình công” nuốt đắng cay
            Làm thơ trong xó bếp.

            43. LÊ LỰU
            Phụ tình vợ Tấm Cám
            Chạy theo lũ choai choai
            “Ở đáy sông” quả báo
            Ngoác mồm nói xấu ai?

            44. LƯU QUANG VŨ & XUÂN QUỲNH
            Đến chết vẫn lăn tăn “Thời kì đồ đểu”
            “Uống rượu với bác Lâm” chuốc chén về trời
            Để biển cũng bạc đầu thương nhớ
            “Đắng cay” là trời biếc thuở xa khơi.

            45. NGUYỄN NGUYÊN BẢY & LÍ PHƯƠNG LIÊN
            Chàng Tư Mã say thơ
            Mê mùi sen phố cổ
            “Chém gió” giữa thủ đô
            “Thơ bạn thơ” rạng rỡ.

            46. BÙI NGỌC TẤN
            “Chuyện kể năm 2000”
            “Tại sao tù?” thắc mắc
            Đọc Solzhenitsyn
            Ôi “Quần đảo Grulag”

            47. DƯƠNG THU HƯƠNG
            Tới “Đỉnh cao chói lọi”
            Tức khí mà tắt kinh
            “Thiên đường mù” vẫy gọi
            Chào “Tỉnh lẻ vĩ nhân”

             48. HOÀNG HƯNG
             Thích Hoàng Cầm vương lụy
             Mang  thơ phải vào tù
             Uất “Đi tìm cái mặt”
             Ngắc ngoải một đời thơ.

             49. TRẦN HUY QUANG
             Trời xui viết “Linh nghiệm”
             Hơn Azic Nexin
             Treo bút ba năm, hiếm
             Bõ bèn một truyện in.

             50. NGUYỄN MINH CHÂU
             Ai điếu “Văn minh họa”
             Vượt lão “Tầm nhìn xa”
             Mỗi lần qua chợ Giát
             Lại quặn lòng xót xa.

             51. HOÀNG NGỌC HIẾN
             Xướng “Văn chương phải đạo”
             Giáo sư chẳng được phong
             Học trò không đứa láo
             Dạy “Giáo dục công dân”.

             52. TRẦN QUÁN ANH
             Một vở “Tiền tuyến gọi”
             Đủ lừng danh… đói dài
            “Giáo sư Dái” thoải mái
            Tiền tấn thừa rong chơi.

             53. VI HỒNG
             Mải “Đi tìm mẹ chữ”
             “Người trong ống” gầy nhom
             Nghề văn kiết đến chết
             Không bằng về làm nương.

             54. NGUYỄN HƯNG QUỐC
             Triết gia Hoàng khen đểu
             Việt có ba thi tài
             Quốc, Hảo, Hoàng (1) thất thểu
              “Thơ con cóc” mới hay.
              ……………..
              (1)   Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng

              55. ĐỖ CHU
              Vì say “Hương cỏ mật”
              Dở chứng làm thơ tình
              “Mảnh vườn xưa hoang vắng”
              Thực / ảo kiếp nhân sinh.

              56. NGUYỄN HUY THIỆP
              Mang cưa  xẻ quá khứ
              “Tướng về hưu” trộm dòm
              - Nhà thơ: lũ vô học
              “Vong bướm” ám vào… Hồn!

              57. VI THÙY LINH
              Chẳng cần tốc váy đỏ
              “Quốc sư” vẫn say thơ
              Văn em không có sex
              Đếch ai thèm tìm mua.

              58. PAUL NGUYỄN HOÀNG ĐỨC
              Giỏi đàn, lắm lí sự
              Bạn  quí gọi “Triết gia”
              Đứa ghét chê “ngộ chữ”
              Gã sùng bái Hi La.

              59. PHẠM LƯU VŨ
              Nổi danh “Chị cả Bống”
              Nghề  xây dựng có bằng
              Lộng ngôn trên “Phây” sóng
              Luận bàn Đinh La Thăng.

             60. NGUYỄN VĂN LƯU
             Hơn lão Vũ Đức Phúc
             Vượt trên tầm Đông La
             “Luận chiến văn chương”… hả?
             Chỉ điểm bãi tha ma.

             61. NHÃ THUYÊN
             Nhà xuất bản giấy vụn
             Mấy thầy cô muốn “nghiên”
             Cánh “phê bình chỉ điểm”
             “Chém” cô trò Nhã Thuyên.

             62. PHẠM XUÂN NGUYÊN
             Văn sĩ tài khẩu khí
             Một xác xí hai chân (1)
             Cả Viện Văn Tiến sĩ
             Mình Nguyên là Cử nhân.
             …………………….
             (1) Hội Nhà văn Hà Nội và Văn đoàn Độc lập.

             63. HOÀNG XUÂN HỌA
             Thơ (trong) ba lô ra trận
             Bõ “Trót một thời yêu”
             “Chuyện cõi âm” lạ lẫm
             Trả đời cho Chí Phèo.

             64. VĂN THÙY
             Giỏi diễn vai “dị nhân”
             Thấy Bùi Giáng là lủi
             Lục bát phủi hồn rơm
             Khéo dán tem “thơ bụi.”

             65. NGUYỄN CHÍ THIỆN
             Tù lâu thành “ngục sĩ”
             “Hoa địa ngục” trời cho
             Thơ trở thành cứu cánh
             Sang “thế giới tự do”.

             66. ĐỖ TRƯỜNG
             Nếm đủ mùi “xuất khẩu”
             Ghét “Cộng” tếch ly hương
             Đạt tiêu chí “văn chửi”
             Khối người khoái Đỗ Trường.

             67. NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH
             Bước qua “Đêm thánh nhân”
             Thả đời vào “Chẹc chẹc”
             Thi sĩ Khỉ đầu đàn
             “Làm tình” hơn cả xiếc.

             68. VŨ NGỌC TIẾN
             Xả “Sóng hận sông Lô”
             Lên “Qủy vương” chễm chệ
             Trai Hà Nội đào hoa
             Sướng cuộc đời dâu bể.

             69. LÊ MAI
             “Tôi là người Hà Nội”
             Bị “Tẩu hỏa nhập ma”
             Sống “Thời gian xuẩn ngốc”
             “Quyền được rên”… thế a?

             70. NGUYỄN NGỌC KIÊN
             Chàng Tiến sĩ Ngôn ngữ
             Giỏi dịch thơ tiếng Trung
             Dạy Anh ngữ kiếm sống
             Luận bình “phê” thẳng tưng.

             71. BẢO SINH
             Công tử không “bát phố”
             Về nuôi chó… lừng tên
             Hỗn danh “thơ Sinh Chó”
             Lên nóc tủ ngồi thiền.

             72. DẠ NGÂN &NGUYỄN QUANG THÂN
             Cuồng nhiệt theo tình trai
             Yêu từng cen-ti-met
             Mê “Vũ điệu cái bô”
             Đến bên hồ… vĩnh biệt.

             73. PHẠM THÀNH
             Sống thời “Hậu Chí Phèo”
             Giữa cuộc đời sấp ngửa
             Thả “Xã nghĩa cò hồn”
             Tai ương chờ ngoài cửa.

             74. NGUYỄN ANH THUẤN
             Kim Đôi – Nguyễn Anh Thuấn
             Làm thơ  “tụng” làng mình
             Ôi cái “Làng Tiến sĩ”
             Bậc nhất tỉnh Bắc Ninh.

             75. NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN
             Tiểu  đoàn trưởng trận mạc
             Làm thơ đến quên đời
             Xác ngơi ở Yên Bái
             Hồn sang Nga rong chơi.

             76. NGUYỄN HUY  HOÀNG
             Tìm con 20 năm
             Đất trời Nga bát ngát
             Hồn gọi gió tha phương
             Canh ngọn đèn… bạc tóc.

             77. CHÂU HỒNG THỦY
             Hoa Ban bổi hổi nhớ
             Bạch Dương nôi tình thơ
             Quê hương xin tạ lỗi
             “Một mình với mùa thu”.

             78. TÔ NGỌC THẠCH
             Qua sông Hóa đến bến Mơ
             Gió thị trường gõ phím bờ thời gian
             Khoảng trời sông Cấm xanh lam
             Xứ người trôi giạt… Hồng An đợi người.

             79. VŨ QUANG TẦN
             Về làng toàn người lạ
             Thăm mả toàn người quen
             Thuốc lào - thơ cho đã
             Về Tiên Lãng cùng em.

             80. HOÀNG GIA CƯƠNG
             Quảng Bình thương cát nắng
             Nhật  Lệ đắng trái Bần
             “Lặng lẽ thời gian trắng”
             Về “Bút Tháp dâng hương.”

              81. TRỊNH BỬU HOÀI
              Theo anh về Châu Đốc
              Cùng trèo lên núi Sam
              Thương phượng hồng trường cũ
              Nhớ áo trắng cô nàng.

              82. TRÚC LINH LAN
              Theo em về Cần Thơ
              Gạo trắng, da em trắng
              Để “còn lại tiếng mưa”
              “Mùa hoa về chong chóng”

              83. NGUYỄN ANH TUẤN
              Trai Hà thành ham học
              Lên Tây Bắc đắm yêu
              Phim truyện cả trăm tập
              Không bằng thơ phiêu diêu.

              84. NGUYỄN LÂM CẨN
              Hết “ướp tình” lại “hồi xuân’”
              Lục bát Lâm Cẩn bay gần tới sao
              “Chị ngồi giặt áo” cầu ao
              Đa đoan số phận vận vào đời thơ!

              85. MINH ĐỨC TRIỀU  TÂM ẢNH
              Thả bè lau trên mây
              Ơi “người thơ bày tỏ”
              “Nhập cốc” dứt dợ dây
              “Hẹn mai” tịch theo gió.

               86. NGUYỄN THANH LÂM
               Đêm tỏa hương Dương cầm
               Nghe mưa trên mái cổ
               Siêu thoát trong rừng Tùng
               Thơ lang thang bát phố.

               87. LÊ KIM GIAO
               Cuồng nhiệt thơ khắc đá
               “Dịu dàng” thoảng tài thi
               Thôi bỏ đi “Thần luật”
               Diễn “cờ” trên ti vi.

               88. HÀ THỊ TRỰC
               “Cưới” đò giang cách trở
               “Đón dâu chỉ mình anh”
               Sang Nga buôn lời lỗ
               Làm thơ chỉ một mình.

               89. ĐẶNG XUÂN XUYẾN
               Buôn sách và viết sách
               Vui gà trống nuôi con
               Làm tình “cưỡng” không thích
               Thơ như thời trai son.

               90. NGUYỄN HIẾN LÊ
               Luyện chữ thành học giả
               Nối gót Lê Quí Đôn
               Chẳng khoe khoang mồ mả
               Thanh thản làm dân thường.

                91. HOÀI ANH
                Sống động “Bức tranh gà”
                Bảy cái không…hiếm có
                Cứ dịch / viết nhẩn nha
                Suốt đời chỉ cuốc bộ.

               92. VƯƠNG HỒNG SỂN & AN CHI
               Uyên bác như cụ Sển
               Có An Chi tiếp nòi
               “Hơn nửa đời hư” xịn
               Miền chữ nghĩa rong chơi.

               93. THÁI DOÃN HIỂU
               Chẳng Tiến sĩ làm nên Học giả
               Thả văn chương trò thật / giả ngạo đời
               Tìm cái thật ở trong cái giả
               Nghìn trang văn giấu máy tính để chơi.

               94. NGUYỄN TÔN NHAN
               Thôi rồi một đấng tài hoa
               Nhà “Trung hoa học” còn là ai đây?
               Giáo sư, Học giả thì đầy
               Riêng anh “học thật”… tiếc thay một người!

               95. ĐỖ LAI THÚY
               “Luộc văn” bị nghi án
               Càng viết càng lên tay
               Hồ Xuân Hương tuột yếm
               Chân trời có người bay.

               96. LÊ BẦU
               Văn Tàu dịch siêu hạng
               Cha đẻ từ “Ô sin”
               Sống cô đơn lẻ bạn
               Chết trên tay người tình.

               97. VŨ TỪ TRANG
               Vươn lên chủ doanh nghiệp
               Từ chân báo thủ công
               Văn chân dung chân thực
               Thơ ngọt khế Sặt Đồng.

               98. THẾ PHONG
               Chào vĩnh biệt Yên Bái
               Vào Sài Gòn lập thân
               Mình một nhà xuất bản
               Lừng lững văn Thế Phong.

               99. GIA DŨNG
               Mình một Viện Văn học…
               Mình một Hội Nhà văn
               Mình làm các tuyển tập
              Thơ Việt cho ngàn năm.
           
              NGUYỄN KHÔI
              Làng Mọc Quan Nhân ngày 7- 5- 2017
              Email: khoidinhbang@gmail.com

Nguồn :từ email cả tác giả Nguyễn Khôi gửi lamngoc
NM cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khôi với  những bài thơ phác họa chân dung các văn thi sĩ rất hay.

Kính gửi : các Bạn Thơ ,
Sau khi được sự góp ý của một số Bạn bè...NK tiếp thu và xin chỉnh sửa 1 số Chân dung như sau :

* số 16 : bỏ Yến Lan, thay bằng Lò Ngân Sủn
        LÒ NGÂN SỦN
"KHÁT" khi thấy Người Đẹp
Chiều biên giới nắng tươi
Giữa lều nương Bát Xát
Cởi áo ra...em ơi !

*số 25 : viết lại
         CẦM GIANG
Lên sông Mã tắm truồng
Liều "trộm xem em tắm"
"Nhớ vợ"...ở chiến trường
Núi Mường Hung xa thẳm.

*số 26 : bỏ Minh Huệ, thay bằng Huy Đức
         HUY ĐỨC
Lật tấy "Bên thắng cuộc"
"Bên thắng cuộc" chống lưng
Vung bút : đối phương gục
Vinh, nhục thời Thị trường.

*số 43 : viết lại
        LÊ LỰU
Đã qua "Thời xa vắng"
Về "Làng Cuội" nương thân
Thế thái nhân tình đắng
Đành "sóng ở đáy sông".

Kính mong các Bạn thơ sửa dùm, xin cảm ơn
  Hà Nội 17-5-2017

   Nguyễn Khôi