CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

TÂM CẢM




THƠ NHÃ MY

TÂM CẢM
1

 Tàn thu nhặt chiếc lá rơi
Gửi theo gió cuốn mộng đời xa xưa
Hỏi mây phiêu bạt bao mùa
Có nghe tiếng gió thổi lùa hay không

2

Mây trôi mấy nẻo bềnh bồng
Bên khe bất chợt nụ hồng nở hoa
Trăng kia lạc cõi Ta Bà
Màu phai vàng úa ngày qua tháng về

3

Xưa em lỡ một lời  thề
Trăng khuya còn đó bên trời gió đưa
Người đi bao dạo nắng mưa
Chuyện xưa thôi đã như chưa nhớ gì 

4

 Mùa thu lá khóc thầm thì
Vàng như muôn thuở dã quì trổ bông
Trong sương  nở đóa sen hồng
Theo người gieo hạt từ tâm một đời

5

Trùng dương ngọn sóng xa khơi
Chim bay lặng lẽ bên trời buồn chăng?
Dấu trong sỏi đá khô cằn
Bước chân rùa biển mấy lần đi qua 

6

Tóc em mấy đợt cài  hoa
Câu thơ rớt giữa lòng ta giọt sầu
Tiễn nhau qua cuộc bể dâu
Lời xưa tiếng vọng bên lầu mộng mơ

7

Nhánh đời quấn mỏng sợi tơ
Bỏ quên tiền kiếp bên bờ tái sinh
Thả hương rào bắt giọt tình
Đa mang duyên nợ ba sinh đoạn trường 

8

Vó câu mù mịt tà dương
Canh chày bạc bẻo đôi đường phượng loan
Sương rơi từng giọt mỏi mòn
Trăm năm gởi lại bên non lối về


9

Non cao xỏa tóc mây trời
Cầm bằng cơn gió thảnh thơi một mình
Trăng treo đêm vắng lặng thinh
Vẫy bàn tay đón một mình chơ vơ 

10

Mùa xuân bướm hẹn hoa chờ
Gánh tình đem đổ sông mơ ngập ngừng
Nhìn mây xuống ngọn lưng chừng
Đài sen thoáng nở rưng rưng nụ đời…

NHÃ MY 

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

TRĂNG CỐ XỨ

THƠ HOÀNG YÊN LYNH



 TRĂNG  CỐ  XỨ .

Ở đâu cũng có vầng trăng
Anh một nửa
Và chia em một nửa . . .
Trăng cố xứ ôm đôi bờ sông Hiếu
Lặng lẽ con đò in bóng nước thương yêu .
Vầng trăng đó
Theo anh sầu xa xứ , . .

Đã bao lần anh bắt gặp vầng trăng
Vẫn là em bên đời anh lặng lẽ
Vẫn là em của tháng ngày tươi trẻ
Bến nước con đò
Xao xuyến buổi ra đi .

Đêm phương Nam da diết tiếng đàn bầu
Sao quay quắt  một câu hò Mái nhị
Sao  chạnh lòng đêm mưa dầm se lạnh
Bến sông chiều phượng đỏ thắm mùa thi
Cơn gió Lào rát mặt buổi chia ly . . .

Anh sẽ về
Ghép lại mảnh  trăng đôi
Dẫu năm tháng có già thêm mong đợi
Dẫu hai ta có muôn trùng vời vợi
Anh sẽ về . . .
Chung một ánh trăng soi .

HOÀNG YÊN LYNH

Nguồn:từ email của TG HYL gửi lamngoc
Cảm ơn TG HYL thường xuyên gửi  các bài thơ để chia xẻ với độc giả của blog NM

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

HỒN QUÊ TRONG THƠ NHÃ MY

BÀI CỦA TT












Ảnh:Lê Đăng Mành


NHÃ MY, TIẾNG VỌNG HỒN QUÊ

                  Tôi đã đọc rất nhiều bài thơ của các tác giả ở hải ngoại trong đó có Nhã My. Phải thành thật mà nói NM đã để lại trong tôi một chút gì đặc biệt bởi tuy cô chỉ là người viết văn làm thơ tài tử nhưng chữ nghĩa lựa chọn và cách dùng  cũng rất là  chuyên nghiệp và có một phong cách đặc biệt  của riêng cô , không vay mượn , không theo phong trào , không làm dáng chữ nghĩa… và tuy sống ở hải ngoại lâu năm nhưng thơ của cô vẫn thắm đậm những hình ảnh quê hương và  được diễn tả một cách chân tình, không gượng ép như vài tác giả khác …
                  Thật tình mà nói tôi thích các bài  tiểu luận (mà NM gọi là phiếm luận ) ngắn gọn sắc sảo mà vẫn hàm ẩn một kiến thức và sự từng trải hơn là thơ của cô.
Tôi quen với Nhã My qua một dịp tình cờ, năm 2008 một người bạn giới thiệu Suong Lam với tôi khi cô cần sự giúp đỡ của tôi để hoàn tất một bản dịch là một quyển hồi ký từ tiếng Anh của một người bạn ra tiếng Việt . Tôi đặc biệt chú ý SL vì cách ứng xử lễ phép và thật thà của cô trong lần nhận email đầu tiên .Cô bảo đã đưa quyển sách vào cho Google dịch nhưng nó túi bụi quá và gần như cô phải viết lại toàn bộ mà người bạn của cô không am hiểu văn phong Việt ngữ  nên  ‘’ cứ bắt buộc dịch cho sát chữ ‘’! Thư qua từ lại , tôi vốn có rộng rãi thời giờ nên đồng ý giúp cô và cô đã bỏ hơn 7 tháng để làm cho xong quyển sách đó mà không nhận thù lao gì  chỉ vì ‘’ một lời đã hứa với bạn’’.
Vắng đi một thời gian một hôm tôi nhận được một bài thơ gửi qua email là bài Buồn Viễn Xứ  rồi tới Nhớ Miền Nam, Thương vùng Nước Lũ….SL Nhã My vẫn thỉnh thoảng gửi một số bài thơ của cô cho tôi đọc Rồi khi vào blog của NM tôi mới khám phá ra ‘’ văn tài’’ của cô .
                   Với một phong cách nhẹ nhàng , đa dạng khi thì thâm sâu , lúc trầm bỗng,lảng đảng hồn thơ với một nỗi buồn mênh mông xa vắng , khi khác lại  vào đề trực tiếp, chữ nghĩa bình dân ý tứ  gọn gàng không trau chuốt cầu kỳ , không  màu mè ủy mị gần như các bài thơ của NM mang một âm sắc đặc biệt dễ đi vào lòng người đọc .Nó hiền từ như dòng chảy con sông quê , bảng lảng như những ánh mây trời bàng bạc, dịu dàng mơ hồ như sương khói chơi vơi, gõ một điệu buồn nhè nhẹ như tiếng mưa rơi hay thâm trầm sâu sắc với nỗi buồn nhân thế và đôi khi lại mang một màu sắc triết lý và tôn giáo …có thể nói  bất cứ đề tài nào NM cũng xuyên suốt …
                      Ở đây tôi chỉ xin tóm gọn vào một đề tài '' Hồn Quê trong thơ Nhã My''.
Hồn Quê ! Hai tiếng ấy nó gợi cho ta một cái gì vừa thiêng liêng vừa gần gũi và ấm áp mà gần như tất cả chúng ta ai cũng mến yêu trân trọng .
Với NM thì :
‘’thưa rằng bụi chuối nhớ buồng cau’’
‘’thèm bông điên điển bánh xèo tôm’’
‘’ tắm nắng miền nam nắng thật nồng nàn’’
(Nhớ Miền Nam)
hay:
‘’ bông bần nở trắng bờ sông
gió đưa con nước lớn ròng bao la’’
Ở một bài khác là hình ảnh một người mẹ quê:
“mẹ ngồi nhặt lá mồng tơi
đọt tươi đọt héo khóc đời làm dâu’’
.....
‘’ lấy chồng vạn dặm đường xa
tiếng chim miệt thứ hỏi nhà mình đâu
(Mẹ)
bốn chữ ‘’tiếng chim miệt thứ ‘’ gợi một hình ảnh quê vùng đất mới phương nam mà người con gái lấy chồng xa theo ghe thương hồ bỏ quê lìa xứ để’’ chiều chiều ra đứng cửa sau , trông về quê mẹ ruột đau chín chiều’’…
còn ở NM thì mang nặng một niềm nhớ thương quê cũ khi đã sống ở phương xa:
‘’ quê hương  biền biệt phương trời
bâng khuâng một mảnh trăng thề gầy hao’’
(Bài thơ viết lại)
Hay:
‘’Giã từ bến cũ hoang liêu
bâng khuâng để nhớ một chiều nước mây
mù sương mấy dặm đường dài
nghe tâm tư đọng khói bay mơ màng
….
‘’đan thanh khép đóa hải đường
bước chân hoang dại hồn vương mây Tần’’
(Gọi)
hay câu thơ trong một bài thơ khác:
'' trong ao bèo dạt tình suông vẫn chờ''
Cái '' ao'' khiến ta gợi nhớ những câu ca dao như:
'' đêm khuya ra đứng bờ ao''
'' ta về ta tắm ao ta
dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn''
Đậm đà hơn đặc biệt hơn ở những bài thơ mang từ ngữ và phong cách miền quê nam bộ như:
''chim chiều gọi bạn líu lo
cảm thương thân bậu ốm o gầy còm''
(Thương vợ)
''bậu ơi đã bỏ đi rồi
đêm hôm có kẻ đứng ngồi không yên
thương em chẳng biết đâu tìm
nhìn theo con nước bóng chim xa mờ''
( Thương nhớ người dưng)
Hay bài ''Nhớ sông'':
''trời vẫn mênh mông, biển mênh mông
làm sao thấy được chút tình sông
nhìn con nước chảy lòng xao xuyến
mà nhớ mà thương củi lạc dòng''
Ơi !Những khúc '' củi '' trôi theo dòng nước hay lòng người cũng trôi theo nỗi nhớ mù xa  mà con sông luôn luôn là hình ảnh miền quê gần gũi nhứt !
Và đây là một bài thơ tự do cũng tả nỗi nhớ quê với nhiều hình ảnh đẹp:
‘’tháng ba hoa đào rơi rơi từng cánh mỏng
trải ven đưởng trên thảm cỏ rợp một màu hồng non
em lại đi trong nỗi nhớ bồn chồn
về một chốn đồng quê có hoa cau hoa bưởi
có luống rau xanh mà mẹ vừa mới tưới
có trái non trái chin trĩu trên cành
em vẫn nhớ về một ký ức xanh
với ruộng lúa rì rào gió đưa lượn sóng trong trời chiều ngập nắng….
….
có phải chăng hồn em đang đợi
xa lắc trời chiều thương quá chân quê’’
(Nhớ quê)
và thêm nữa bài Tình Quê:
‘’ hôm qua anh trở lại nhà
vườn rau xanh với vườn cà đơm hoa
mùi hương hoa bưởi bay xa
mận hồng chi chít la đà cành non

tơ hồng bên dậu giăng mành
mồng tơi mực tím để dành tuổi thơ
mít dừa sai quả non tơ
bẹ cau phe phẩy phất phơ nắng vàng…’’
và 2 câu đảo ngữ cuối bài khiến ta liên tưởng tới câu ca dao quen thuộc :
‘’ mù u đậu chú bướm vàng
lấy chồng chi sớm để nàng xa anh’’
Ở một bài khác ‘’ mười thương’’ được  đưa vào hình ảnh vùng quê:
‘’ mười thương cầu ván gập ghình
em qua dáng nhỏ xinh xinh dịu dàng’’
Và một bài thơ dạng ‘’ bình thanh’’ mang tựa đề Quê hương với lời thơ tha thiết và rất đẹp:
‘’ lao xao , lao xao, lao xao
trăng vàng buông lơi chìm vào sông trôi
đêm nay ai say mềm môi
lòng buồn đơn côi xa xôi về đâu
thu tàn sương rơi canh thâu
nghe vang lời ca du dương phòng khuê
như trông như mong người về
như than như mang ngàn lời yêu thương
âm thanh xa đưa sầu vương
vang vang ngân nga quê hương chờ mong
êm đưa thuyền trôi bên sông
ai say đêm nay người xa về đâu
ly hương mang mang niềm đau
đêm khuya đơn côi chờ bao tình quê
tương tư ngày xưa câu thề
xa xôi, xa xôi , lời ca sầu vương…
Tôi nghĩ đây là một bài thơ đặc biệt vì quê hương ở đây qua lời thơ NM không theo những ước lệ cổ điển  mà nhiều người kh ác đã sử dụng như ‘’ cánh diều, khế ngọt , bờ đê..’’  mà là một  bài thơ diễn tả một tâm trạng sâu lắng  mà êm ả theo những câu thơ chỉ sử dụng một thanh bằng…
Còn nhiều lắm những bài thơ chứa đựng tình quê như thế …( chưa kể những lời còm giao lưu với bạn có phong cách ‘’ nhà quê’’ khác)
          NM với ‘’ngôn tự khuê các’’ dịu dàng đằm thắm , với cái tâm ‘’thật thà’’ trong sáng, với một tình cảm thiết tha chân thành Hồn Quê chứa đựng trong thơ của cô đã khiến người đọc luyến lưu và hoài niệm về một hình ảnh quê hương vô cùng  xinh đẹp và dạt dào tình cảm …

Cali 5/23/2014
TT

Nguồn: từ email của TG TT gửi lamngoc
NM chân thành cảm ơn anh TT đã chia xẻ đồng cảm



XÓA

THƠ NHÃ MY
XÓA
(tiễn bạn NTB 11/4/14)

 Xóa đi cho hết ưu phiền
Để quên tình hận nỗi niềm đắng cay
Người đi hết kiếp lưu đày
Câu ca gửi lại chuổi ngày đớn đau
Bây  giờ vĩnh viễn xa nhau
Lời thơ còn đó nghẹn ngào biệt ly
Thương cho một kẻ tình si
Vẫn ôm sân hận thoát gì nghiệt oan ?!
Người đi tình đã  phai tàn
Mà sao vẫn chịu trái ngang nợ đời?!
Người đi lặng lẻ dốc đời
Khóc cho ai hỡi tiếc lời  mai sau ?!
Âm dương chẳng thể tìm nhau
Hồn đau  xanh cỏ nỗi sầu còn đây

NHÃMY

 **Nguyễn Thanh Bình (HUY THANH ) là một người bạn blog thân thiết đã ủng hộ rất nhiều và xướng họa thơ đồng cảm, thơ tặng cho NM  trong suốt một thời gian dài làm bạn , cũng là một tác giả  có góp mặt và viết lời tựa cho tập thơ Khung Kỷ Niệm.Tên bài nhạc Hoài Cảm Chiều và tên tập thơ Xa Khơi (mà NM đảo lại là Khơi Xa) của NM đều do anh đề nghị .
Anh mất đi (sau một thời gian bị bịnh nặng) để lại vợ và một con gái nhỏ cùng nhiều công trình sáng tác thơ , nhạc .
Cảm ơn Chúa đã mang anh đến để làm bạn với NM trong thời gian 3 năm  tuy ngắn ngủi nhưng cũng đã chia xẻ với nhau rất nhiều về những vấn đề văn chương  âm nhạc và quan niệm sống
Cảm ơn Chúa đã dẫn dắt cho NM được gặp anh trong những ngày cuối cùng của cuộc đời người bạn này
Xin vĩnh biệt
 Cầu nguyện cho vong linh người quá cố được vinh thăng về nước Chúa và thành kính chia buồn cùng tang quyến,
NHÃ MY

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

VIẾNG NHẠC SĨ THANH BÌNH- NGUYỄN KHÔI

THƠ NGUYỄN KHÔI
VIẾNG NHẠC SĨ THANH BÌNH

     (Tặng : văn sĩ Thế Phong)
                 ----------

Trai Bắc Ninh THANH BÌNH lừng tên tuổi

"Qua những nẻo đường..." "chiều về trên sông",

"Một kỷ niệm", "Tiếc một người" ca "Tình lỡ",

"Mai chị về em có gửi gì không?"... (1)
                         *

Nhạc sĩ tài danh, cuộc đời khốn khó

Ám vai VĂN SĨ  "gió dập mưa vùi"

Tươi đẹp một thời "Mình còn trẻ lắm" (2)

Trời đày kiếp sống phải ngoại 80.
                         *

Chàng Đinh Bạch Dân cùng thời thương xót

 Diva Ánh Tuyết còn biết thương...ơi,

Chao ôi, ông Trời như không có mắt

Bắt những NGƯỜI HIỀN chết chẳng thảnh thơi ? !
----

(1) tên các bài hát nổi tiếng của Thanh Bình.

(2) tên 2 cuốn Tiểu thuyết của Thanh Bình ( Nguyễn Ngọc Minh, sinh 1931, tuổi Thân, quê Bắc Ninh, sống ở Sài Gòn, vừa qua đời trong cảnh cô đơn nghèo khó.)

         Góc thành nam Hà Nội 25-5-2014

            Kính viếng : Nguyễn Khôi

      ( Nhà văn Hà Nội, quê Bắc Ninh)


NGUỒN:từ email của nhà thơ NGUYỄN KHÔI gửi lamngoc

TIỂU SỬ NHẠC SĨ THANH BÌNH

Nhạc sĩ Thanh Bình tên thật là Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1932, nguyên quán Bắc Ninh. Cha mẹ đều sớm qua đời, để lại ông cùng 3 chị em gái. Chị và em gái út của ông hiện tại đã mất, còn người em kế sống ở Pháp nhưng anh em không còn liên lạc. Khoảng 1952-1953, khi còn sống ở ngoài Bắc, ông viết truyện ngắn và đưa tin văn hóa văn nghệ cho nhiều tờ báo với bút danh Thanh Bình. Từ 1950 đến 1954 ông xuôi ngược các vùng miền Bắc Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Sầm Sơn, Hà Nội rồi sau đó vào Nam tiếp tục rong ruổi cho đến nay.                                
Trước khi về lại Mỹ, ca sĩ Khánh Ly tìm thăm nhạc sĩ Thanh Bình tại Sài Gòn.
Ảnh:Trước khi về Mỹ ca sĩ Khánh Ly thăm nhạc sĩ Thanh Bình ở Saigon

Sáng tác đầu tay của nhạc sĩ Thanh Bình là ca khúc Những nẻo đường Việt Nam - viết từ tình yêu quê hương đất nước khi ông còn đang ở xứ Thanh, rồi Lá thư về làng... Ông có hàng loạt tác phẩm nổi tiếng ra đời trong thập niên 1950 - 1970 như: Tiếc một người, Chiều vàng trên sóng, Còn nhớ hay quên, Ðừng đến rồi đi, Gặp gỡ duyên nhau, Hợp đoàn mà ca lên, Mưa qua sông, Kẻ ở (thơ Quang Dũng), Bông súng đồng quê, Thương nhau hát lý qua cầu... Ca khúc nổi tiếng nhất của ông là Tình lỡ - bản tình ca được nhiều nghệ sĩ, ca sĩ Việt Nam thể hiện.
̣(NM viết lại từ VNEXPRESS )




NM XIN THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG TANG QUYẾN
CẦU NGUYỆN NHẠC SĨ THANH BÌNH VỀ NƠI CỰC LẠC

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

LỜI CẢM ƠN


HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN NGƯỜI KHÁCH THỨ 99999 CỦA BLOG NHÃ MY
NHÃ MY CHÂN THÀNH CẢM ƠN:
- CÁC ANH CHỊ , CÁC BẠN , CÁC EM VÀ QUÍ THÂN HỮU GẦN XA THƯỜNG XUYÊN GHÉ THĂM ĐỌC BÀI, VIẾT CÒM TRAO ĐỔI Ý KIẾN ,XƯỚNG HỌA THƠ ĐỒNG CẢM VỚI NM
- CÁC TRANG BẠN CÓ MỞ ĐƯỜNG LINK LIÊN KẾT VỚI BLOG CỦA NHÃ MY
- CÁC TRANG BẠN ĐĂNG BÀI VIẾT CỦA NHÃ MY
- CÁC THÂN HỮU THƯỜNG XUYÊN GỬI BÀI TẶNG, TRANH THƠ ĐĂNG TRONG BLOG NM VÀ VIẾT BÀI  CHIA XẺ NHẬN ĐỊNH PHÊ BÌNH THƠ  NHÃ MY
- ĐẶC BIỆT CẢM ƠN:
BẠN LA THỤY ĐÃ GIÚP NM TRONG THỜI GIAN MỚI MỞ BLOGSPOT ,ĐÃ GỬI EMAIL ĐC BLOG NM CHO BẠN BÈ, ĐÃ GỬI ĐĂNG CÁC BÀI VIẾT CỦA NM TRÊN CÁC TRANG  TẠP CHÍ VĂN NGHỆ  MẠNG VÀ MỞ CÁC ĐƯỜNG LINKS LIÊN KẾT TỪ CÁC TRANG KHÁC CỦA BẠN ̣̣( các đợt khách truy cập trước tiên nhiều nhứt là đến từ Blog Tieng Viet .net của La Thụy ̣hiện nay đã đóng đường link qua BlogSpot của NM , từ Tạp Chí Tiếng Quê Hương của LêThiện Minh Khoa hiện nay đã ngưng hoat̉̀ động và  Blog Tiếng Thơ Tình Người của Hải Đăng)
ANH HẢI ĐĂNG ĐÃ BỎ NHIỀU CÔNG SỨC LÀM CÁC CLIPS NGÂM THƠ VÀ CA NHẠC VÀ ĐÃ TẢI LÊN KÊNH YOUTUBE
NHẠC SĨ BÙI TUẤN ANH  với các ca  khúc Bốn Mùa, Đợi Chờ, Hoài Cảm Chiều ,Ngây Thơ Ngày Cũ phổ từ thơ của NM ,ca khúc Mẹ phổ từ thơ NM và Hướng Dương
NHẠC SĨ THANH CHƯƠNG  với các ca khúc Saigon Mùa Đông, Ngây Thơ Ngày Cũ, Đợi Chờ, Bốn Mùa phổ từ thơ của NM
NHẠC SĨ THẢO NGUYÊN với ca khúc Vu Vơ phổ từ thơ NM
NHAC̀ SĨ NGỌC MỸ với ca khúc Xuân Về phổ từ thơ NM
NHẠC SĨ TRẦN NHÀN đã hòa âm nhiều ca khúc cho NM và đã phổ tặng 2 ca khúc Tình Đau , Hè
NHẠC SĨ THÁI THÀNH đã hòa âm nhiều ca khúc cho NM và đã phổ nhạc bài Trường Cũ Tình Xưa
CA SĨ CHÂU THÙY DƯƠNG
CA SĨ SAO MAI
CA SĨ THANH HOA
Đã trình bày các ca khúc phổ từ thơ của NM
NGHỆ SĨ KIM PHỤNG và bạn LA THỤY đã diễn ngâm các bài thơ của NM
NM RẤT VUI VÀ HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC SỰ GIÚP SỨC VÀ ỦNG HỘ TỪ CÁC ANH CHỊ , BẠN BÈ, CÁC THÂN HỮỤ ( ở VN,USA và các nước khác )
NM LÚC NÀO CŨNG HOAN NGHÊNH CHÀO ĐÓN CÁC THÂN HỮU ĐẾN VỚI BLOG CỦA NM ĐÂY LÀ NIỀM VUI VÀ SỰ ỦNG HỘ TINH THẦN QUÍ BÁU MÀ MỌI NGƯỜI ĐÃ DÀNH TẶNG CHO NM TRONG TINH THẦN  VĂN NGHỆ ,ĐOÀN KẾT ,CẢM THÔNG VÀ CÙNG CHIA XẺ
NM THÂN KÍNH CHÚC TẤT CẢ  QUÍ THÂN HỮU NHIỀU SỨC KHỎE, HẠNH PHÚC AN LÀNH,THÀNH CÔNG TRONG CUỘC SỐNG VÀ CẢM HỨNG DỒI DÀO TRONG SÁNG TÁC THI CA VÀ ÂM NHẠC
THÂN QUÍ
NHÃ MY

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

QUỲNH HƯƠNG


THƠ NHÃ MY






QUỲNH HƯƠNG

Quỳnh hương một đóa về đêm
Màu hoa trắng mãi bên thềm năm xưa
Giấc mơ gom mấy cho vừa
Đời người đã trải mấy mùa thương đau
Quỳnh hương cánh mỏng phai màu
Gửi theo cơn mộng lạc vào ý thơ

Em – loài hoa ủ hương đêm
Ta- thân cơn gió ru êm đợi tình...

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

ĐỌC THI TỬU CỦA THÁI LƯƠNG- NGUYỄN KHÔI



TG :NGUYỄN KHÔI


       (Tặng : Hoàng Gia Cương)


                   ---------

  Thái Lương (1939-2014) quê Hà Tĩnh, nguyên Tổng giám đốc công ty Bia rượu , tính tình phóng khoáng, hòa nhã ,khiêm nhường ,kiến thức khá sâu rộng ( thể hiện trong 2 cuốn "Văn hóa Rượu" nxb Văn hóa Thông tin 1998,2008, dày trên 600 trang) làm công tác quản lý giỏi, biết ăn chơi đúng mức, được bạn bè yêu quý, thi thoảng làm  thơ nhỏ nhẹ góp vui với bạn bè, trong đó mảng nổi trội là THI TỬU.

   Xưa nay, ai cũng bảo "Thơ là hồn của chữ, rượu của gạo. Rượu là linh hồn của gạo.Thơ có rượu đồng hành thì ngôn ngữ (chữ nghĩa) có thêm một lần sáng tạo". Thi nhân hiền triết xưa từng viết " Tửu đức tụng"...Lý Bạch trong "Tương tiến tửu" đã viết :

     Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

     Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh

    (Thánh hiền tên tuổi bặt đi

     Chỉ phường Thánh Rượu tiếng ghi muôn đời)

  Do thói quên nghề nghiệp (nghề sản xuất Bia rượu) nên Thái Lương có những vần thơ về Rượu khá dí dỏm đời thường :

  Đầu tiên như 1 lời "đề từ " dẫn 2 câu thơ xưa :

        Cô tửu thuyền lai giang diệc túy

        Mại hoa nhân khứ lộ do hương

       ( Mua rượu, thuyền sang sông lảo đảo

        Bán hoa, người rẽ ngõ vương hương)

Ra mắt "Thi đàn", tác giả Tự Bạch :

        RƯỢU, uống lần cả chai

        THƠ, viết đến trăm bài

         Tình, nào ai đếm được

         TIỀN, tàm tạm đủ xài
                        *

         RƯỢU, chưa một lần say

         THƠ, chưa một bài hay

         TÌNH, chưa một cuộc dứt

         TIỀN, chưa một món đầy.

Rồi anh "Ngụy biện" :

   Hãy độ lượng với anh, em đừng cấm

   Uống ít hay nhiều, anh đều biết là sai

   Chén khoe vợ, chén khoe con ,khoe gia đình đầm ấm

   Không uống gì, anh còn biết khoe ai ?

Rồi anh lý sự "Hồn của rượu" :

   Đừng chê Bia rượu la cà

Nguyễn  Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà thì sao

  Hồn nào thức tỉnh Văn Cao

Quốc ca thức tỉnh biết bao hồn người !

Đây là lý do đi đến "Tửu viên Thi quán" :

  Hôm qua họp mặt bạn bè

Nửa đường, lại phải đạp xe quay về

  Quay về, vợ hỏi : làm gì ?

Rằng quên chai Rượu mang đi góp quà.

Cái ích lợi của Rượu " Hiểu nhau qua nét mặt/ Hiểu nhau qua nụ cười/

Hiểu nhau qua ánh mắt/ Qua ly rượu đầy vơi."

  Và đây là đến với TÌNH, tuy "SAY MÀ TỈNH" ;

Đừng rót nữa cho anh

Vì, nếu say,anh phải nói ra những điều muốn nói

Đã từ lâu, với lòng, tự dối

Em trốn anh, nên anh cố trốn mình

Đừng rót nữa cho anh...

Giới "sâu rượu- thi tửu" đa số không uống rượu với vợ ? mà chỉ thích đàn đúm trong Tửu Quán, Nhà thơ Hoàng Trung Thông đã để lại bút tích tại Trúc Viên :

   * Dĩ hòa vi quý.

   *Túy thời tâm thắng, tĩnh thời tâm.

Do đó không gì buồn bằng "Uống Rượu không bạn" :

   Rượu đã rót. nhìn chưa thấy bạn

   Nhấc ly lên, rồi đặt xuống một mình

   Lưỡi se lại, ly không thể cạn

   Rượu có say đâu, chỉ tại thiếu tình.

Rượu giúp ta làm lành, hòa giải :

   Tay nâng Rượu, tay bắt tay

-Cạn ly ! Đúng với chả sai ! Làm lành !

Rượu còn là "Quà của chị" :

 Dạo năm ngoái em về giỗ mẹ

 Em chưa say, chị đã khóc thương em

-Chị trông cậu dạo này không khỏe

-Uống ít thôi,cậu bơn bớt chất men...

Dầu dặn vậy có ai ra Hà Nội

Vẫn gửi cho em một lúc mấy chai

Mỗi lần uống, em thấy mình có lỗi

Thôi cũng đành,quà của chị, Chứ ai !
Rồi thì ai mà chả có ly rượu tình "Nụ hôn và ly rượu" :

     Nhân nụ hôn ngây ngất

     Nhấp ly rượu ngất ngây

     Tinh thần hay vật chất

     Thả hồn ta lên mây...

     Nụ hôn đặt lên môi

     Ly rượu đặt lên môi

     Nụ hôn và ly rượu

     Là Đạo hay là Đời ?

Ở trên đời này, không có bà vợ nào lại thích chồng mình nghiện rượu cả ? vì thế  Thi nhân có lúc phải LỪA VỢ  rất hiệu nghiệm :

    Uống rượu trắng vợ cho là nghiện

    Nhịn uống một hôm,lử khử giả vờ

    Kế nhỏ ấy thế mà nên chuyện

   Vợ bồn chồn, thấy những lo lo...

    Đi cắt vội một thang thuốc Bắc

    Cũng ngâm vào rượu trắng đó thôi

    Rượu khỏi mồm, lên giường tức khắc

    Vợ xiết ghì - Rượu bổ thật mình ơi !

Rượu còn là một phương tiện trong giao lưu Quốc tế :

    ...Tình người thân ái muôn năm

Đo tình người, chén rượu tăm, lại đầy !

Trên thế giới này, ai đã từng sang Nga thì thấy " đây là một Dân tộc bợm Rượu", đến nỗi có thời Tổng thống phải ra lệnh "cấm rượu" :

        RƯỢU TRÀN QUÁ CỔ

     (chuyện vui của người Nga)

Người Nga, uống rượu là rót đầy, vào bụng

Chừng nào tràn lên cổ thì thôi.

Ép uống thêm một ly, có anh chàng há mồm soi gương lúng búng :

-Rượu đã tràn quá cổ mất rồi !

Phi tửu bất thành lễ , nên phải có LY RƯỢU KHÓC CHỒNG :

      Rót ly rượu đầy, trước vong linh chồng

      Tay em run run, đặt xuống

       Nỗi đau đớn,mắt đẫm lệ, khóc chồng

       Lúc sinh thời, em ngăn không cho uống

       Nay rót làm gì ?

       Phí rượu

       uổng công.

Kết lại "Thi tửu "của Thái Lương,  NK thấy thú vị nhất là bài :

     UỐNG RƯỢU VỚI BỐ VỢ

 Bố vợ ngà ngà, giục con rể

Đàn ông mà, ta uống đi anh

Chẳng sợ vợ,cánh mình chỉ nể

Họ có đây, ta không uống ,đã đành.

  Anh chưa say, anh sao từ chối

Hay là anh sợ nó, phải không ?

Với bà ấy, tôi không dám nói

Với con tôi

                  tôi dạy

                            phải chiều chồng !

 Thơ là người, với Thái Lương thật đúng là như vậy.

Chao ôi, giờ này thân xác anh đã nằm sâu dưới ba tấc đất, hồn còn quanh quất bên vợ con anh, ba chén Rượu Trắng còn để nguyên trên bàn thờ nghi ngút khói hương (không ai uống)...Thương quá  đi thôi...thơ anh còn đây, để tôi nhẩm đọc  trước vong linh anh như một lời tưa tiễn tới Tây phương  cực lạc :

  Rượu bảo ta cuộc đời đừng vội chán

  Còn yêu đời, đời lập lại từ đây .

           Hà Nội 19-5-2014

     Ngày tang lễ Nhà thơ Thái Lương

        Kính viếng : Nguyễn Khôi

   

  NGUỒN: Từ email của TG NK gửi lamngoc
NM cảm ơn TG NK đã chia xẻ bài viết và xin thắp nén hương
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG GIA ĐÌNH NHÀ VĂN THÁI LƯƠNG
CẦU NGUYỆN LINH HỒN NGƯỜI QUÁ CỐ VÂN DU MIỀN CỰC LẠC



Top of Form
Bottom of Form

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

TRƯỜNG CŨ TÌNH XƯA - THƠ NHÃ MY, NHẠC THÁI THÀNH




TRƯỜNG CŨ TÌNH XƯA
THƠ  :NHÃ MY
NHẠC: THÁI THÀNH & SAO MAI
TRÌNH BÀY: SAO MAI
NM CHÂN THÀNH CẢM ƠN NHẠC SĨ THÁI THÀNH VÀ CA SĨ SAO MAI

SỐNG CHẾT ĐỀU NHƯ CHƠI





THƠ TÂM NHIÊN

Từ xứ biển viễn hành ca lên núi
Níu mây bay đùa rởn với ngàn sương
Gió trăng chẳng dính vào đâu cả
Làm thơ chơi tặng cây cỏ ven đường

Chuyện ngàn năm đến đi còn hay mất
Bận lòng chi vì hết thảy như chơi
Chơi giữa bình thường tâm vô sự
Cứ lại qua thưởng thức những hương đời

Chơi hý lộng tung hoành đủ điệu
Nhảy múa cùng cung bậc có và không
Rỗng rang trên đỉnh cao nhìn xuống
Cõi trần gian đẹp tựa khói sương lồng

Sống là chơi chết cũng là chơi vậy
Nên nghiêu ngao dạo khúc hát bây giờ
Chiều thiên thu hỡi trời xanh quá
Lá hoa cười hào phóng giọng cười thơ

TÂM NHIÊN
Nguồn:thơ Tâm Nhiên

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014

NGUỜI MẸ TẬT NGUYỀN- TRUYỆN NGẮN KHA TIỆM LY















Ảnh TG Kha Tiệm Ly


NGƯỜI MẸ TẬT NGUYỀN


“Xóm Cùi!”. Không biêt cái xóm nầy ngày xưa có bao nhiêu người cùi cư trú, nhưng từ lâu suốt cả xóm, người ta không thấy một ai đang mắc chứng bệnh quái ác nầy! Bởi vậy ngày nay khi nói đến “Xóm Cùi, người ta không hề nghĩ về một xóm có nhiều người lở lói chân tay, máu me, nước vàng nhầy nhụa, hay những bộ mặt sần sùi nổi cục nổi nần gớm ghiếc; mà ai cũng nghĩ đó là một xóm lao động bát nháo, đầy đủ mọi thành phần bất hảo: Chôm chỉa, nhậu nhẹt, bài bac, số đề! Tiếng chửi mắng rũa xả mở hết vô lum xảy ra như cơm bữa đến nỗi đã làm cho mọi người nhàm chán. Tiếng chân rượt đánh nhau kêu la ơi ới cũng không ai thèm để ý, dù cho những kẻ hiếu kì!
Nói vậy Xóm Cùi không phải là không có người lao động hiền lương sinh sống. Họ sống bằng mọi nghề hạ đẳng mà số tiền kiếm được cũng chỉ đủ đổi gạo, lây lất qua ngày, nếu không bị bệnh hoạn yếu đau.

Xóm Cùi tuy xô bồ bát nháo nhưng ít ai để ý đến ai. Duy có một người, và nay là một “gia đình”, đã “được” mọi người luôn nhắc đến: Đó là chị Hạnh.

Chị là người con gái có gương mặt hơi thon, nước da hơi trắng, môi hơi đỏ, má hơi hồng, để lộ những tia máu li ti. Tóc chị cắt ngắn để lộ cái cổ tròn trịa nõn nà. Mắt chị lại đen láy, mày chị thon thon, mi cong vút. Đặc biệt cái miệng lúc nào cũng sẵn nụ cười chào đón mọi người. Gương mặt của chị mà “lên lịch” thì chắc hẳn phải ăn trùm những tấm hình của các sao. Mà có thể người xem lại thích hơn vì ảnh chị toát ra nhiều nét diệu hiền, hoàn toàn không pha tạp cốt cách kiêu căng khinh mạn!
hoá thật khéo trêu ngươi! Khoảng giữa xương sống chị từ nhỏ như bị bẻ gập lại một góc, đến nỗi người ta nghĩ chị không thể nào nẳm ngửa được. Có người cắc cớ hỏi, chị đáp tự nhiên: “Thì em chêm hai cái gối hai bên!”. Nếu chỉ như thế thì không có gì đáng nói. Đàng nầy hai chân chị dường như không có khớp háng. Chúng quặc quà quặc quại dính vào thân hình chị một cách vô tích sự, cho nên chị có thể giắt chúng lên cổ khi thấy cần thiết, như lúc chị “đi” qua vũng nước chẳng hạn!

Trông chi di chuyển, người ta vừa xót thương, vừa cảm phục: Hai tay chị cầm hai ghế cóc (loại ghế cao chừng một tấc mà các bà bán hàng dưới đất thường dùng). Bước một, chị để một tay (cầm ghế) về trước, vừa một
bước chân, đồng thời lấy đà hất mình lên, sao cho mông chị ngồi trọn lên ghế ấy! Bước hai, chị để tay kia (cũng cẩm ghế) về trước, rồi cũng hất mình lên cho mông ngồi trọn trên ghế nầy! Lối đi độc đáo nầy rất có lợi là chị khỏi phải lếch, quần khỏi bị rách, và tất nhiên suốt ngày mông chị chẳng dính chút dơ!

Mọi thứ sẽ đở khổ cho chị hơn rất nhiều nếu chị không phải kéo lê theo hai khúc chân tong teo ăn hại!

Và nếu chỉ như thế, thì chị cũng như hàng trăm người tật nguyền bán vé số trên xe lăn, hay không xe lăn trên khắp nẽo đường, có gì khiến người ta đáng để ý, đáng quan tâm?

Điều khiến ai cũng biết chị, làm chị đột nhiên “nổi tiếng” như một người trúng số độc đắc cá cặp là chị… có bầu! Đó là tin giựt gân đến nỗi những người rỗi chuyện tìm chị để nhìn tận mặt xem có phải là tin vịt hay không! Cái bụng chị đã trả lời chính xác bao thắc mắc tò mò , và là sự phũ phàng cho ít kẻ có chút lòng nhân.: “Thằng nào mà ác dữ!”. Nhưng cái ác đâu chỉ là do hành động thủ ác, mà có nhiều cái miệng độc địa cũng góp
loại người như phần không nhỏ, thậm chí có phần lớn hơn! Nó xuất phát từ đủ hạng người, mọi ngã đường. Chúng bàn tán xôn xao, đặt nhiều nghi vấn tưởng tượng, mỉa mai thô bạo, và tự đề ra một luật lệ nghiêm khắc là chị không được hưởng quyền đẻ cái nuôi con: “Cái thứ không biết thân còn bày đặt!”. “Bày đặt” theo ý họ là cái “chuyện ấy”chỉ có những người lành lặn như họ mới được độc quyền hưởng thụ, hay gì gì đó!

Mấy quán cà phê tồi tàn trong xóm luôn là tụ điểm của những kẻ rảnh nghề mà háo sự. Mấy tay xồn xồn không biết làm nghề ngỗng gì mà cứ la cà nơi đây suốt ngày tám tiếng để bàn chuyện năm trên, chuyện thiên hạ, mà không từ bỏ một lời lẻ nghiệt ngã nào, miễn sao chúng được vui với những trận cười hô hố: “Ê gù! (chúng gọi chị Hạnh) Mầy nói cho tao biết rồi tao mua cho tờ vé số: Cái lưng mầy gù một cục, làm sao mầy nằm ngửa mà “làm ăn” được vậy mậy?”. Một tên khác đưa tay lên diễn tả rồi hắng giọng: “Cái đó mới ngon à nghen! Nó giống như cái đu, chổng lên, chổng xuống vậy mà! hố hố…”. Cả quán cười vang, kể cả bà chủ quán. Mụ cười làm hai tảng thịt trên má mụ bạnh ra, lòi hai hàm răng lổn cổn, đen thùi nhựa thuốc. Mụ hỏi chị khi hai cục môi dày cộm, tím ngắt như hai lạng thịt trâu ế ở chợ chiều vừa khép lại, để lộ nét hung tợn, tràn trề vị đắng cay, độc địa:
  1.  - Cái thằng nào “có phước” dữ vậy mậy? Mà mầy cũng “có phước” lắm đó nghe! Ha ha!

    Chị lặng thinh, nhẹ nhàng quay xe đi. chị thấy hai mắt của chị hơi cay. Dù chưa được đến trường ngày nào, nhưng với tuổi đời gần ba mươi, chị cũng thừa hiểu tiếng “ có phước” được lập lại hai lần nó mang ý nghĩa thế nào! Tiếng đầu là thuần mai mỉa, tiếng sau lại được tạt thêm bao vùa miệt thị chua chát đến xé lòng!

    Chị âm thầm quẹt vội nước mắt.

    Chị dừng xe lại, lặng im để cho lắng bớt những lời lẽ thô tục nặng lời phỉ báng, thẳng tay bôi nhọ nhân phẩm của chị. Gọi là “nhân phẩm”, vì dù sao trong xã hội nầy, chị cũng là một con người. Chị cũng đã lấy sức lao động chân chính của mình để đổi lấy miếng cơm trắng sạch. Nói cho cùng, chị cũng đã ít nhiều mang niềm vui, hay ít ra là niềm hy vọng tới cho mỗi người khi mua tờ vé số! Chị cũng biết buồn, biết khổ, biết vui sướng, biết suy tư, biết rơi nước mắt, và nhất là chị đang biết nói tiếng người! Thì chị phải là con người chính cống, không thể chối cãi, không thể phủ nhận! Nhưng với nhiều kẻ không còn sót lại trong cặp mắt họ một chút nhân tình, thì trong tim họ, trong đầu họ, dẫu bào cho mòn, dẫu vạch cho kỹ, cũng không tìm thấy một chút xíu lương tri. Trong lồng ngực họ, trái tim nhân ái đã biến mất, hay đã bị rơi xuống, lẩn lộn trong vùng bụng đầy chất cặn bả của đại tràng che lấp! Với họ, chị là con thú dị hình, may mắn mang được mang tên người, không hơn không kém!
    ''Thằng nào có phước vậy  mậy " Câu hỏi đến tận cùng của sự mỉa mai                    
dư thừa sự tàn nhẫn và đầy rẩy sự khinh bỉ nầy dù cho chị có muốn trả lời, chị cũng không thể. Bởi chị có biết “thằng nào” đó là ai?!

Chị không biết là ai, nhưng chị không thể quên một chi tiết nào trong cái buổi định mạng ấy….

Như bao ngày, khi chị được tờ kết quả dò vé số, chị bương bả lăn xe, tranh thủ bán bớt những tờ vé số ngày mai cho tới sậm tối mới thư thả trở về theo ngả tắt nhị tì. Và cũng như mọi ngày, theo thói quen, khi đến đoạn đường dốc gồ ghề đá sỏi, chị thường dừng lại nghỉ…tay! Thì bất ngờ từ phía sau, xe chị được ai đẩy tới. Chuyện đẩy giùm lên một đoạn dốc của một tấm lòng nhân ái cũng đã thường xãy ra, nên chị không nhìn ra sau mà chỉ “Cám ơn”! Nhưng lần nầy xe chị lại bị đẩy nhanh về phía trong

chòm mả lớn, rồi một cánh tay chắc nịch bồng chị chạy tuốt vào trong. Hắn để chị xuống…
Sự việc xảy ra nhanh chóng, bất ngờ. Chị loạn xạ thần hồn, muốn la, cũng không ra tiếng. Trong chỗ tận cùng của ý thức, đột nhiên chị biết sự việc sẽ diễn biến thế nào! Chị sợ sệt, lo lắng, hồi hộp, rồi phó mặc! Bao ý nghĩ lộn xộn trong đầu óc chị, mà sự phập phồng để đón nhận việc sắp tới đã chiếm phần ưu thế. Chị muốn hé mắt nhìn xem người ấy là ai, nhưng có nhiều thứ làm chị không dám, trong đó có việc sợ người ấy hoảng hốt bỏ đi (!)...Mùi rượu nồng nực, làm chị muốn ngộp thở khi thân thể kia dán vào mình chị, tiếp theo là những cảm giác lạ kỳ…

*

Đứa con chị ra đời là cả niềm hạnh phúc, và cả niềm hy vọng lớn lao của chị. Chị đã có con, chị đã được quyền làm mẹ, được quyền thương yêu con mình như bao nhiêu người khác. Chị thỏa thê hôn hít nựng nịu, vuốt ve con mình như bao người. Chị không còn tủi thân khi phải chịu những lời lẻ, những thái độ khó chịu khi chị thuận tay nựng nịu những gương mặt các bé thơ ngây dễ mến. Thậm chí, khi chị khen em bé đẹp, dễ thương , họ cũng chẳng hài lòng! Họ nghĩ bàn tay chị như chứa đầy những vi trùng của bệnh nan y; và lời chị, dù là những lời chúc tụng tốt lành, cũng không khác những lời nguyền độc địa! Nhiều khi chị nghĩ lại, lời mụ chủ quán cà phê cũng có lý: “ …Mầy cũng có phước lắm đó nghe!”. Đúng vậy, chị rất may mắn, rất “có phước” khi đẻ một đứa con xinh đẹp, khoẻ mạnh, điều mà chị thường ước ao, nghĩ là vô vọng, mà nay mới được toại nguyền. Chị thầm cám ơn ai đó tại khu gò mả năm xưa.
Cô bé càng lớn, chị phải “làm thêm” để đủ sức nó ăn. Thân nó càng tròn, thì thân chị càng teo lại. Có nhiều khi nhường con ăn thịt mà chị thèm y như những ngày tháng cấn thai.
Cô bé càng lớn, càng trắng trẻo hồng hào, tóc càng óng ả mượt mà, môi càng đỏ thắm. Mười sáu tuổi thì nổi danh… “Hoa Hậu Xóm Cùi”!
Hoa đẹp dù mọc bất cứ nơi nào thì hương thơm vẫn quyến rũ được đàn bướm ong từ bốn hướng bay về.
Xóm Cùi lại một phen lé mắt khi mà căn chòi lá tồi tàn của chị được thay bằng ngôi nhà tường khang trang, mô đen nhất xóm; lại được chiếc xe tay ga đời mới cáu xèng trang điểm, làm tăng thêm phần uy thế

Ở được nhà đẹp, nhưng chị Hạnh lại không thấy vui, bởi chị biết số tiền xây nhà con chị đã kiếm được từ đâu!
Thông thường trong gia đình, hễ ai có nhiều tiền thì được nhiều quyền. Sự hiện diện của chị trong ngôi nhà nầy không còn cần thiết, hay đúng hơn là chị đã mất hẳn chỗ đứng. Một lần khi về, chị thấy nhiều xe lạ dựng trước, nhìn vào thì thấy mấy gã sang trọng đang chè chén với con chị. Chị còn do dự, thì “Hoa Hậu Xóm Cùi” chạy ra xua tay, kèm theo cái nháy mắt khó chịu: “Không mua! Không mua (vé số)! Đi đi! Đi đi!”


Chị đã hiểu! Con chị đã không muốn thân thể tật nguyền của chị làm bẩn mắt những người bạn sang trọng của nó. Nó không muốn thân thể tồi tàn của chị làm mờ nhạt, hay bôi đen gương mặt diễm lệ của mình; dù gương mặt “hoa hậu” nầy được nuôi nấng bằng những giọt sữa chắt chiu bởi một thân thể gầy còm tàn tật! Thân thể nầy đã gánh nặng oằn cả cuộc đời gian khổ, tủi nhục. Đã nhịn ăn, nhịn uống. Nói mà không sợ xấu hổ, nhiều lúc nhìn con ăn mà nước giải chị trào ra vì quá thèm thuồng bởi từ lâu chị chưa hề nếm thịt

 

Một lần người ta nghe trong nhà chị:
- Ngày mai tôi có khách suốt ngày, tối bà hãy về, nghen!
- Ngày mai là đám giỗ bà ngoại con …
Giọng bực bội:
- Ngoại , ngoại, ngoại! Giỗ, giỗ cái gì? Bữa khác đi!
Sáng hộm sau, tại một góc phố vắng, trên bàn bán vé số của chị người ta thấy một gói nhỏ thịt lợn quay, một chén cơm trắng và ba cây nhang cháy dở. Chị lâm râm khấn gì đó. Một kẻ qua đường vui miệng nói:
- Cha! Lúc rày làm ăn khá, “chơi” heo quay há!
Lại có người nhìn chị bĩu môi:

-Học làm sang
Chị không để ý lời họ, mà nghe cay xè trên hai mắt.
Cuối phần đất nhị tì là một con mương giáp ranh với miệt vườn. Khi thuỷ triều xuống, nước cạn trơ tận đáy; khi thuỷ triều lên, nước xâm xấp cây cầu dừa bắt ngang. Tờ mờ sáng, một người hốt hoảng khi phát hiện xác chị nằm úp mặt xuống sình, cạnh bên là chiếc xe lăn. Mương không lớn, nước không sâu, không chảy xiết nhưng đủ dìm chết kẻ tật nguyền như chị!

Chị chết đi, những tủi nhục trần gian được xóa hết. Niềm hy vọng của chị theo đó cũng tiêu tan: Đứa con mà chị đặt tên là Hiếu, với bao kỳ vọng là nó trả hiếu cho một cuộc đời khốn khổ lúc về chiều, giờ cũng không còn!

KHA TIỆM LY



Nguồn: từ email của TG KTL gửi lam ngoc để chia xẻ
NM cảm ơn Kha Huynh đã gửi một truyện ngắn hay