CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN

 


ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO

 

gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố

mùa đi qua cho lá rụng xuống đường

tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ

khi mưa về làm ướt cả muôn phương

 

lòng cũng hẹp như trăng tròn lại khuyết

màu trời kia đã sáng xuống bên đồi

muốn che hết chút phận người quá mỏng

để thấy đời như hạt bụi rong chơi

 

sẽ là gì khi thời gian không đợi

cứ lãng du theo gió bão trên trời

biết là vậy mà quên đi một bữa

nắng không đầy cho má đỏ thắm tươi

 

rồi cứ thế cứ mưa chiều nắng sớm

tuổi cứ chồng lên từng đám mây cao

đi cho hết trăm năm còn mớ ngủ

giữa đêm dài hư ảo với trăng sao

 

đừng chờ nữa một mùi hương đã chín

đã thơm lên nhưng rất khó kiếm tìm

dù mơ ước khỏng thành mây trên núi

sao đợi hoài giọt máu chảy về tim

 

rồi thuở ấy xin hoàng hôn mái tóc

để chải đầy từng dĩ vãng qua tay

lần này nữa quyết đưa hương lên áo

để níu về giấc mộng sót trên cây.

 


HUỲNH LIỄU NGẠN

Nguồn : từ email Trần Yên Hoà gửi 



Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

GÁC XÉP - PHAN NI TẤN



 GÁC XÉP

Đang ngủ trên gác xép nửa đêm Thế giựt mình choàng tỉnh vì có tiếng người đập cửa ở dưới nhà. Thủy nằm kế bên cũng thức giấc, ngẩng đầu lên nghe ngóng rồi hoảng hốt ngồi bật dậy la thầm: "Chết rồi anh nờ! Mạ em trên Đà Lạt xuống tề".
Hơn bốn tháng trước, khi lén đưa Thế về giấu trên gác, Thủy có nói mỗi lần về Sài Gòn mạ của Thủy thường ngủ trên gác này, nhưng năm ba tháng có việc bà mới về; còn nếu đêm hôm Công An xét nhà Thế cứ trèo lên núp trên nóc gia ở ban-công phía sau là an toàn. Trong chập chờn, thấy Thủy lộ vẻ lo lắng, Thế thương cảm, choàng tay ôm lấy nàng trấn an rồi hé cửa vọt ra ban-công phía sau, Thủy sốt ruột cũng ra theo. Thế quơ vội dôi dép mòn đế, há miệng thảy xuống đường hẻm, rồi nhanh nhẹn đu tường tuột xuống đất, Thủy nhìn theo mà ứa nước mắt.
Ban đêm con hẻm tối om, Thế đang lò mò tỉm đôi dép, đúng lúc hai người đàn ông rọi đèn pin trong hẻm đi ra, Thủy vội hụp xuống. Nửa đêm nửa hôm bất ngờ đụng phải kẻ lạ mặt, một người la lên: "Ai đó? Làm gì ở đây? Ăn trộm hả? Rồi tri hô: Ăn trộm! Ăn trộm! Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!".
Nghe la Thủy điếng hồn lum khum nhìn xuống. Trong lúc bối rối Thế chưa kịp phân trần anh đã bị tóm cổ. Một người kẹp cổ Thế ghì đầu xuống, người kia bẻ quặt cánh tay anh ra sau, sừng sộ: "Tổ trưởng dân phố đây. Ăn trộm hả? Gặp tao là mầy xong đời". Người kẹp cổ Thế hổn hển giục: "Trói nó lại, giải tới đồn Công an đi, anh Năm".
Nghe nói tới Công an, Thế chợt bừng tỉnh. Thủy biết máu giang hồ trong anh lại sôi lên. Liền đó Thủy thấy người kẹp cổ Thế la "ối" một tiếng, rướn người lên, vòng tay nới lỏng. Chỉ chờ có vậy, Thế hụp đầu xuống xoay mình đấm thóc vào hông người này, đồng thời xô mạnh hắn vào người kia khiến cả hai mất thăng bằng té lăn ra đất. Mặc tiếng la "bắt lấy nó", Thế băng mình vọt ra đường cái, bỏ dép chạy thục mạng về hướng chợ Thái Bình. Lúc đó cả Thủy và Thế đều không ngờ lần bỏ chạy đó là lần cuối cùng Thế chạy ra khỏi cuộc đời Thủy.
* * *
Thế sinh ra dưới một ngôi sao xấu, anh thường nghĩ vậy. Khi trở nên gắn bó, Thế tâm sự Thủy nghe mà đau thắt trong lòng. Cuộc đời của Lương Hữu Thế có thể nói là một chuỗi bi kịch. Vừa bưng đầu ra đã khóc chóe trước cổng tam quan của một ngôi chùa ở miệt Hạnh Thông Tây. Nhà chùa thương tình đem vô nuôi. Mười ba tuổi bỏ chùa đi bụi với bọn trẻ đánh giày. Mười bảy tuổi thành quân đầu trộm đuôi cướp, khét tiếng trong giới giang hồ với hỗn danh "Thế chém". Mười tám tuổi trốn quân dịch bị bắt lính thảy vào Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Nhiều lần định đào ngũ nhưng không biết nghĩ sao Thế lại thôi. Ra trường dưới hình thù một anh lính "đơ-dèm cùi bắp" thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh đóng ở Xuân Lộc, Long Khánh. Sẵn máu giang hồ, coi cái chết nhẹ tợ lông hồng, Thế đánh giặc rất hăng, coi giặc như kẻ thù truyền kiếp. Sau những trận đánh ác liệt, Thế thường lập được nhiều chiến công hiển hách, nhờ vậy binh nhì Lương Hữu Thế được đặc cách lên lon vùn vụt ngoài mặt trận.
Năm 1963, Thế theo học khóa Sĩ Quan Đặc Biệt tại trường Bộ Binh Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường đầu quân vào Lực Lượng Biệt Kích Dù, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài các hoạt động nhảy toán làm nhiệm vụ tình báo, Thế còn giả dạng thường dân xâm nhập vào Nam Lào thám thính và triệt hạ các tuyến đường giao liên của Việt Cộng.
Sau nhiều năm chiến đấu sống chết ngoài mặt trận, súng đạn đã nung đúc Trung úy Thế trở nên dày dạn hơn, lì lợm hơn nhưng đầm tính hơn. Máu du côn hung hãn ngày xưa chuyển dần thành dòng máu anh hùng. "Thế chém" ngày xưa chưa từng chém chết ai, nhưng "Thế độc" sau này lại đốn ngã nhiều quân thù bên kia chiến tuyến.
Có lần tò mò Thủy hỏi sao gọi là "Thế chém", anh lắc đầu thở dài không nói. Tôn trọng sự im lặng của anh, Thủy cũng không hỏi nghĩa "Thế độc" là gì, như đồng đội thân thiết của anh thường gọi. Nhưng mà, dù Thủy không biết trong quá khứ "Thế chém" từng chém những ai hay bị ai chém mà khi Thủy gặp Thế thì trên mặt anh đã hằn sâu một vết sẹo dài sọc, đỏ ửng bên má trái. Đó cũng là hình ảnh kỷ niệm thuở ban đầu Thủy gặp Thế, đã hằn sâu trong trí nhớ của Thủy như một món quà trân quí của tình yêu mà trời đất đã ban tặng cho mình..
Thủy là người yêu đầu đời của Thế. Thủy biết chắc điều này là nhờ bạn bè lính tráng của Thế cho biết. Rằng đường binh nghiệp của Trung úy Lương Hữu Thế lên như diều gặp gió nhưng đã 25 tuổi đầu mà đường tình yêu vẫn vắng bóng hồng, cho tới khi gặp Thủy. Nói không quá, ngầu như "Thế chém" vang bóng một thời, hay ngầu như "Thế độc" bắn giết nhau với kẻ thù trên rừng núi, có lẽ vì quá ngầu nên Thế chưa từng biết yêu là gì, nói chi đến gái, kể cả các cô gái ăn sương.
Cho đến một hôm Thủy đạp xe mini tới Thảo Cầm Viên Sài Gòn (còn gọi là Sở Thú) dạo mát. Buổi trưa đầu tuần, vườn Bách thảo hầu như vắng bóng người. Thủy ngồi trên ghế đá cạnh hồ nước trước đền thờ vua Hùng đọc sách. Lúc lật sang trang Thủy ngước lên tình cờ thấy anh lính rằn ri đang nhìn về hướng mình. Ngồi trên bậc thềm Viện Bảo Tàng Quốc Gia, người lính châm thuốc hút. Thật tình Thủy không để ý tới anh ta nên cúi xuống chăm chú đọc tiếp. Nắng trên cao lỗ chỗ đổ xuống trang sách làm Thủy phải nhích sang một bên.
Đang say sưa thả hồn theo từng dòng chữ thình lình một đám năm sáu anh thanh niên áo quần xốc xếch, mặt mũi bặm trợn ào tới vây quanh Thủy chọc ghẹo. Có lẽ những hành vi sàm sỡ của đám người này làm người lính chú ý. Thủy bực mình đứng dậy bỏ đi. Lợi dụng chỗ vắng người bọn họ cố tình chận Thủy lại; người giựt sách, kẻ làm càn vuốt tóc, sờ tay sờ chân. Thủy càng cự nự chúng càng làm tới. Coi trời bằng vung, bọn họ lôi Thủy vô bụi cây.
Đúng lúc đó, một tiếng gằn dữ dội "Buông cô ta ra!" khiến cà bọn khựng lại. Quay đầu lại bọn họ thấy một người lính rằn ri mặt thẹo trông dữ tợn, mắt trợn trừng tóe lửa đang xăm xăm bước tới. Thấy người lính to như ông hộ pháp tiến tới, đám ba que xỏ lá buông cô gái ra luýnh quýnh thụt lùi, trừ một tên, có vẻ đầu sỏ, ra oai vung gậy bổ xuống đầu anh lính. Anh gầm lên, phóng tới đá văng cây gậy rồi áp sát, bẻ quặt cánh tay hắn ra sau, vặn mạnh khiến hắn la làng. Để dằn mặt đám lưu manh, anh lên gối thúc vào bàn tọa tống hắn văng ùm xuống hồ nước. Cả đám lâu la thấy thế đều thất kinh hồn vía hè nhau bỏ chạy, mặc cho tên đầu sỏ run rẩy lóp ngóp bò lên chạy biến.
* * *
Thưa bạn đọc,
Hồi kỳ trên của cô Hoàng Thị Ngọc Thủy viết trong cuốn sổ tay chỉ có bấy nhiêu, còn lại là những trang trống. Bìa cuốn sổ tay đã cũ, vài trang hơi sờn, nét mực đã phai, nhiều chữ bị nhòe, vừa đọc vừa đoán. Tuần trước, Ngọc Trảng, em của Thủy, đưa tôi cuốn sổ tay này nhờ tôi đọc, sửa lại câu cú xong gởi đăng báo giùm, nếu được. Đọc xong tôi đạp xe tới nhà Ngọc Trảng trên đường Lương Hữu Khánh xin gặp Ngọc Thủy để hỏi thêm vài điều cần biết. Thường ngày Ngọc Trảng rất liến thoắng, hay đốp chát lấn lướt tôi trên phone, nhưng lần này cô nín lặng một hồi mới sụt sùi kể lể làm tôi chưng hửng.
Thì ra cách đây hơn 30 năm, chị Ngọc Thủy của Ngọc Trảng bị xe đụng chết trên cầu chữ Y lúc chị đạp xe về nhà dưới cơn mưa tầm tã. Ngọc Trảng cũng tiết lộ cho tôi biết lòng biết ơn của chị với Trung úy Thế là thủy chung cùng anh, người lính Biệt Kích Dù đã từng cứu chị thoát khỏi tay bọn côn đồ trong vườn Bách Thảo năm xưa.
Khi mất nước, Biệt Kích Dù là lực lượng cuối cùng của phe miền Nam hạ khí giới. Trung úy Lương Hữu Thể đi tù rồi vượt ngục về Sài Gòn sống như phường trôi sông lạc chợ, được chị Ngọc Thủy liều mạng giấu anh trên căn gác xép. Nhưng ông trời khéo trêu ngươi. Từ cái đêm anh Thế bỏ dép chạy thoát khỏi tay phường đội không ai biết việc gì đã xẩy ra cho anh sau đó mà anh không bao giờ quay trở lại. Chị của Ngọc Trảng âm thầm tìm kiếm, hỏi thăm tin tức, nhẫn nại chờ đợi nhưng anh vẫn biệt mù tăm cá. Có lẽ vì vậy chị sanh bệnh trầm cảm xẩy đến cái chết thương tâm.
Ngọc Trảng nói: "Từ ngày chị em mất, không lâu sau mạ em cũng qua đời, vợ chồng em dọn về đây cho tới bây chừ". Chỉ tay lên gác, Trảng nhỏ nhẹ: "Anh lên gác xem. Vợ chồng em thờ ba mạ em và chị Ngọc Thủy trên nớ tề".
Đó là căn gác nhỏ buồn thiu. Vì là chỗ thờ tự lâu năm nên căn gác cứ bàng bạc một không khí huyền hoặc mờ ảo. Vậy mà ở đây đã từng nảy nở một cuộc tình bí mật, kỳ lạ, diễm lệ và phi thường, Nhưng cũng ở đây, trên căn gác xép hẩm hiu này có hai linh hồn bất hạnh từng gánh chịu nỗi đau khổ trong cuộc làm người cho đến chết. Những người sống trên căn gác bây giờ đều không còn nữa. Nhưng vong linh họ vẫn bay thấp thoáng trong chiêu niệm của người thân.
Lúc tôi từ giã ra về Ngọc Trảng chỉ cây vú sữa trồng trước sân nhà nói: "Anh Tấn thấy cái chảng ba không? Lúc trốn tù về anh Thế đã ngủ trên đó".



PHAN NI TẤN

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

HÁT TÁC PHẨM ''HÙNG VƯƠNG'' ĐỂ NHỚ CÔNG ĐỨC CỦA NGÀI - TRẦN HỮU NGƯ



 Có thể là hình ảnh về ‎văn bản cho biết '‎NHAC آs THẨM OÁNH (1916 (1916-1996 1996) SUỐT ĐỜI PHỤNG รบ CHO NGHỆ THUẬT‎'‎


HÁT NHẠC PHẨM
“HÙNG VƯƠNG”,
ĐỂ NHỚ CÔNG ĐỨC CỦA NGÀI
Hằng năm đến mùng 10 tháng 3 Âm lịch là giỗ tổ Hùng Vương.
Nhắc đến ông tổ của Việt Nam, tôi nhớ nhạc phẩm “Hùng Vương” của nhạc sĩ Thẩm Oánh. Đây là một trong những bản hùng ca, lịch sử ca, non sông ca, đất nước ca, ông cha ca… nằm trong số nhạc phẩm của những nhạc sĩ “Tiền chiến” một thời nặng nợ với tổ quốc như: Lưu Hữu Phước, Hoàng Qúy, Đỗ Nhuận, Văn Cao, Phạm Duy, Tô Vũ, Lê Thương, Thẩm Oánh…
Thẩm Oánh, một Giáo sư âm nhạc, ông tiên phong trong thời kỳ nền tân nhạc Việt Nam vừa mới thoát ly ra khỏi nhạc Tây, Tàu… để viết nên những bản nhạc Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Được biết, trước 1975 ở miền Nam ông rất khắc khe với một số nhạc sĩ “mới ra lò”, mới viết được một vài ca khúc, những nhạc phẩm này gởi đến nhờ ông để thẩm định. Xem qua, chưa nói đến ca từ, giai điệu, trật luật “cân phương” (Carrure) là ông loại ngay vòng đầu. Đúng “thẩm”, như Thẩm Oánh!
Thẩm Oánh tên thật là Thẩm Ngọc Oánh (không biết có bà con gì với Thẩm Thệ Hà (GS, tôi đã học văn từ sách của ông) hay không, và hình như họ Thẩm có rất ít ở Việt Nam?)
-Ông sinh năm 1916 tại Hanoi
-Qua đời năm 1996 tại Hoa Kỳ
Nhạc sĩ Thẩm Oánh viết chừng 50 tác phẩm, nhưng không phải nhạc phẩm nào của ông cũng “nghe được”, rất kén chọn người nghe, vì nhạc ông “khó nghe” (Nhưng nghe lâu sẽ thấm). Giới yêu chuộng âm nhạc, nghe nhạc phẩm ông qua các giọng ca: Thanh Lan, Mai Hương, Kim Tước, Tâm Vấn, Hà Thanh, Duy Trác, Anh Ngọc… với những nhạc phẩm:
-Gió hoan ca, Nhớ nhung, Tôi bán đường tơ, Thiếu phụ Nam Xương, Tòa miếu cổ, Sóng nước viễn phương, Xa cách muôn trùng, Cô hàng hoa, Nàng bân, Vợ chồng ngâu, Chiều tưởng nhớ, Vương tơ, và Hùng Vương…
Tôi nhớ chừng khoảng năm 1993, tôi có mua một băng Vidéo “Bản hùng ca”, đây cũng là lần đầu, tôi nghe những bài “lịch sử ca” chính gốc, mà tôi tưởng đã mai một theo thời gian. Băng Vidéo dàn dựng cảnh núi non, sông nước, biên ải… khá công phu, gồm những bài hát lịch sử của một thời lừng danh như:
-Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng giang (Lưu Hữu Phước), Bóng cờ lau (Hoàng Qúy), Ngày xưa (Tô Vũ), Gò Đống Đa (Văn Cao), Hùng Vương (Thẩm Oánh).
Riêng nhạc phẩm “Hùng Vương”, khác những nhạc sĩ khác, Thẩm Oánh chỉ dùng hai chữ “Hùng Vương” mà không dùng từ ngữ nào khác để nói về công đức vua Hùng.
Những nhạc sĩ tiền bối nêu trên đã đóng góp cho cuộc kháng chiến bằng nhiều nhạc phẩm ca ngợi đất nước và người Việt Nam, dù nhỏ bé nhưng là một dân tộc anh hùng, đã từng đánh tan đạo quân xâm lược phương Bắc, giữ vững non sông từ ngày lập quốc cho đến nay. Âm nhạc tuy không mạnh như vũ khí tối tân, nhưng là nguồn động viên tinh thần của muôn người xông pha nơi trận mạc.
Bài hùng ca lịch sử của nhạc sĩ Thẩm Oánh và một số nhạc lịch sử đã kể trên là những bài ca không biên giới, là những ngọn triều dâng phá tan nô lệ xiềng xích, đó cũng là những “giai điệu tự hào” của ông cha chúng ta đã đổ máu để có ngày Hòa bình, và riêng bài hát “Hùng Vương” chúng tôi đã từng hát như một lời tri ân của những anh hùng liệt sĩ vô danh:
-“ Nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương”.
Thẩm Oánh là một nhạc sĩ “Tiền chiến”, ông sinh năm 1916 tại Hà Nội, ngoài nhạc phẩm, ông còn sáng tác ba vở nhạc kịch:
-Quán giang hồ, Bá Nha-Tử Kỳ, Đoàn kết là sức mạnh.
Và, mỗi năm đến ngày giỗ tổ Hùng Vương, hãy hát nhạc phẩm “Hùng Vương” - để tự hào - đất nước chúng ta có bốn ngàn năm văn hiến:
“… Bốn ngàn năm văn hiến
Nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương
Hoa gấm giang sơn này cùng chung đắp xây
Bao đời hùng uy vẻ vang
Đời đời nhờ Hùng Vương đã vì quốc dân lập non nước này
Cho cháu con quây quần vẽ nên cơ đồ bền vững tới nay
Việt Nam bao sáng tươi
Thề cùng bền gắng cương quyết xây nhà Nam
Đây cháu con Lạc Hồng từ Bắc chí Nam
Xin đoàn kết tâm đồng
Non nước Việt Nam nhờ Hùng Vương quyết thắng muôn năm
Dòng giống khang cường…”
Ban “Tam ca áo trắng” đã trình bày bài hát này trong băng Vidéo “Những bài hùng ca”, nghe như những lời “vọng cố hương” dù đã nghìn trùng xa xăm. Lịch sử bốn ngàn năm văn hiến, gói gọn trong bài hát chỉ có mấy phút, và mỗi năm hát “Hùng Vương” để mặc niệm nhớ về công đức của Ngài.
Giới nghiên cứu và phê bình âm nhạc Việt Nam mà quên nhạc sĩ Thẩm Oánh và quên ca khúc HÙNG VƯƠNG là một thiếu sót đáng trách!
Lịch sử, nếu giảng không hay, hoặc dạy không hấp dẫn, sẽ trở thành môn học khô khan, nhàm chán.
Để dung hòa, thay vì học lịch sử, ta hát lịch sử vậy!
Lời bài hát Hùng Vương còn vang vọng khắc ghi:
-“… Đây cháu con Lạc Hồng từ Bắc chí Nam
Xin đoàn kết tâm đồng…”
Thắp lên nén nhang để tưởng nhớ nhạc sĩ Thẩm Oánh và hát ca khúc Hùng Vương để nhớ:
- Nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương…
Tại sao, vì lý do gì đến ngày Giỗ tổ Hùng Vương, mà không hát nhạc phẩm HÙNG VƯƠNG?
Tôi xin hỏi, có nhạc phẩm nào hay hơn ca khúc HÙNG VƯƠNG?
Mong rằng những ngày Lễ, Tết… xin chọn những ca khúc mang trọn vẹn ý nghĩa, đáp ứng nhu cầu của giới thưởng ngoạn, chớ đừng vì cái mới mà quên cái cũ đầy nhân văn, đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người.



TRẦN HỮU NGƯ
(Mùng 10 thảng 3, ngày Canh Ngọ, giờ Bính Tý – 2026)

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

MIỀN QUÊ - THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


MIỀN  QUÊ

 

1. 

 

Người về… một sớm bình minh

Vịn vào cơn nhớ… tìm hình tuổi thơ…

Nghiêng vành nón lá nhấp nhô

Giữa làn sóng lúa xanh mơ cánh đồng

Màu trời xanh biếc, xanh trong

Chích chòe réo gọi hừng đông lên rồi

Một đàn chim sẻ rong chơi

Tiếng kêu ríu rít, tiếng rơi bồi hồi

Trời cao lãng đãng mây trôi

Dậy mùi hương đất, gió xuôi bãi bờ

Cảnh quê như thực, như mơ

Bâng khuâng, xao xuyến bài thơ không lời

Chuồn chuồn đậu ngọn mồng tơi

Cuối mùa lá úa, lá rơi đầy thềm

Nắng nghiêng xuống gót chân mềm

Áo nâu trong gió bóng em bồng bềnh…

 

 

2. 

 

Rời xa quê cũ buồn tênh

Dòng sông chảy mãi, tuổi tên chất chồng

Cánh cò trắng, cánh gió đồng

Cánh diều bay giữa mênh mông trời chiều

Lá dừa chao gió liêu xiêu

Đồng xanh chao gió hiu hiu đậm tình

Nắng rơi từng giọt lung linh

Rơi trên nón lá rung rinh bóng tròn

Chiều tà nắng xuống đầu non

Ai mang giấu ánh hoàng hôn cuối ngày

Buồn buồn ngọn gió Heo may

Tan vào nỗi nhớ tràn đầy xanh xao

Gió mơn man, rét hanh hao

Thấm vào áo mỏng ngọt ngào tái tê

Người bình dị… người chân quê

Tay nâng ly rượu hẹn thề tri âm…

 

           

            Nha Trang, tháng 04. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

VẪN LÀ NHỮNG ĐỨA CON NHỎ CỦA CHA - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI


 


VẪN LÀ NHỮNG ĐỨA CON NHỎ CỦA CHA
(Phối hợp trí óc con người và A.I)

Cha đã 84 rồi, đôi tay chậm lại
Nhưng trong lòng cha vẫn còn nhiều điều chưa nói hết
Cha nhìn các con đi trên những con đường riêng
Và thầm cầu nguyện mỗi ngày trôi qua
Thế gian nói các con đã lớn khôn rồi
Nhưng trong tim cha… các con vẫn bé nhỏ thôi
Các con vẫn là những đứa con nhỏ của cha, con có biết không…?
Dù các con đi xa đến đâu
Qua từng giấc mơ, qua mỗi lần vấp ngã
Tình cha vẫn theo con suốt cuộc đời
Và ngay cả khi cha không còn nữa
Trái tim cha vẫn còn ở lại
Các con đã ăn chưa? Ngủ có ngon không?
Ngày nào cha cũng nghĩ về các con
Dù cha không nói thành lời
Nhưng lòng cha luôn đầy tự hào
Đôi mắt già này rồi sẽ mờ đi
Nhưng cha vẫn thấy con rõ như hôm qua
Các con vẫn là những đứa con nhỏ của cha, con có biết không
Dù các con đi xa đến đâu
Qua từng giấc mơ, qua mỗi lần vấp ngã
Tình cha vẫn theo con suốt cuộc đời
Và ngay cả khi cha không còn nữa
Trái tim cha vẫn còn ở lại
Nếu cha có thể trao hết năm tháng đời mình
Cha sẽ mang hết nỗi đau và sợ hãi của con đi
Và khi con cảm thấy cô đơn giữa cuộc đời
Hãy nhớ rằng… con chính là nhà của cha
Các con vẫn là những đứa con nhỏ của cha, điều đó là thật
Tất cả những gì cha có… đều là các con
Trên mọi con đường con đi qua
Tình cha sẽ luôn dẫn con về nhà
Và khi con không còn nghe thấy giọng cha nữa
Hãy biết rằng cha vẫn luôn ở bên
Đừng khóc khi cha không còn mạnh mẽ
Vì các con đã là cả cuộc đời của cha



HUỲNH TÂM HOÀI

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

LỤC BÁT TÌNH - THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG



 LỤC BÁT TÌNH


Đu đưa khúc lục bát tình,
Ngân nga từ thuở chúng mình yêu nhau.
Từ xanh tóc tới bạc đầu,
Tình thơ thơ trút cạn bầu đam mê.

Luyến thương luyến nhớ bộn bề,
Thịt da nối kết tràn trề nhụy hương.
Đất trời vần vũ ẩm ương,
Mây mưa hồng tụ một phương trời nầy.

Chập chờn ai tỉnh ai say,
Cùng ai phút ấy cầm tay qua cầu.
Chìm vào một nụ hôn sâu,
Lứa đôi nép chặt vào nhau phút nào.

Nguồn thi hứng bỗng vút cao,
Tràn dâng ngỡ chẳng khi nào cạn vơi.
Môi hôn hôn rụng hôn rời,
Một nguồn lửa ấm hai người đang yêu.

Trời xanh gió bọc thân diều,
Từng dòng lục bát liêu xiêu chở tình.
Thơ soi tỏ bóng rõ hình,
Nhập vào nhau phút đôi mình thành thân...


TRẦN NGỌC HƯỞNG


Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

CA SĨ MỚI ,HÁT BOLÉRO CŨ - TRẦN HỮU NGƯ



 CA SĨ MỚI, HÁT BOLÉRO CŨ.

Bây giờ, thỉnh thoảng tôi thấy trên TVT4 có chương trình “GIAI ĐIỆU CUỘC SỐNG":
-Hát những ca khúc trước 1975.
Dù chỉ thỉnh thoảng “phát cho đủ giờ”, nhưng “có còn hơn không!”
Nhân sự kiện này, trước khi vào bài CA SĨ MỚI HÁT BOLÉRO CŨ, tôi xin nói một chút ngoài lề:
(Mãi sau 1975 cho đến bây giờ nhạc miền Bắc vẫn là nhạc miền Bắc, nhạc miền Nam vẫn là nhạc miền Nam, hai loại nhạc khác nhau. Và ca sĩ miền Bắc hát nhạc miền Nam không được (thường thì họ lợi dụng “nhạc viện” và khẳng định mình là người có học, nên thường giết chết nhạc miền Nam, và ngược lại ca sĩ miền Nam hát nhạc ngoài nớ cũng… nỏ được!
Nhạc miền Bắc mỗi ngày được sáng tác đều đều và được giới thiệu đều qua “Con đường âm nhạc”, còn nhạc miền Nam không được khua chiêng gõ trống, các nhạc sĩ phần đông tự bơi trong “Ngõ hẹp âm nhạc”?)
Cá nhân tôi, tôi nói điều này:
-Âm nhạc chưa hòa hợp được thì đừng nói đến chuyện khác!
Người ta dùng âm nhạc để làm cho con người gần gũi nhau hơn, ngay cả hát trên hoang tàn đổ nát quê hương, hát để xoa dịu vết thương, hát để cảnh tĩnh những cuồng điên tham vọng, hát cho một thế giới Hòa bình, cho yêu thường tràn khắp…
Còn một điều này nữa:
-Bây giờ, nhạc trong Nam không được phổ biến nhiều như nhạc ngoài Bắc, tại sao?
Một câu hỏi đáng được những người quan tâm đến âm nhạc trả lời.
Dân miền Nam trước đây và cho đến bây giờ vẫn thích và yêu mến nhạc “Tiền chiến”. Nhạc tiền chiến là của nhạc sĩ miền Bắc. Sở sĩ nhạc tiền chiến dù nhạc sĩ niềm Bắc sáng tác trên đất Bắc nhưng đó là tình ca của một thời trong Chiến tranh dù Bắc-Nam chưa được thống nhất. Có một sự thật rằng, dân miền Nam nghe và hát nhạc tiền chiến tự do, và những bài hát “tiền chiến” không được hát trên đất Bắc, nhưng ca sĩ đất Nam lại hát vô tư!
Nhân sự việc này, có lần Nhạc sĩ Tô Hải đã nói với tôi rằng:
-“… Nếu không có dân miền Nam hát nhạc tiền chiến thì có một không ít số bài hay “có vấn đề” đã mất từ khi nó vừa chào đời, trong đó có một vài nhạc phẩm của tôi…”.
Nhạc sĩ di cư vào miền Nam có đến 80% đã làm nền âm nhạc nói riêng ở miền Nam tỏa sáng. Còn 20% nhạc sĩ chính gốc miền Nam cũng đã đáp ứng những bài tình ca “Nam-Bắc một nhà”.
***
Ca sĩ mới là ca sĩ xuất hiện sau 1975, hoặc chừng năm, mười năm gần đây. Còn Boléro cũ là những bài hát có trước 1975, hoặc một số nhạc sĩ chế độ cũ chạy ra nước ngoài sinh sống và sáng tác cách 75 vài chục năm. Một số đã qua đời, một số đã già (cả trong nước và hải ngoại).
Trong âm nhạc, nói mới, cũ, chỉ là khái niệm lằn ranh của thời gian thôi, chứ thật ra bài hát chỉ có hay và dở!
Nhạc mang giai điệu Boléro có dễ sáng tác không?
-Câu trả lời rằng thì là… dễ!
-Nhưng, rằng thì là … hay!
Nói nôm na rằng, sáng tác Boléro cũng dễ như làm thơ Lục bát. Boléro viết không khéo nó trở thành bài hát “chém gió” và lục bát dỡ sẽ thành “chém vè”.
Có phải vì một một lý do đơn giản như vậy mà các nhạc sĩ sau 75 ngại sáng tác Boléro chăng?
Và thêm một điều nữa:
Bài Boléro “dễ hát”, nhưng “khó ca”, nên ca sĩ trẻ bây giờ cũng ngại ca Boléro? Chính hai điều đó đã làm cho không ít nhạc sĩ, ca sĩ khi nói tới Boléro đã hùa nhau chê Boléro đủ điều.
Tôi không cực đoan, khó tánh khi rạch ròi giữa “Ca” và hát. “Hát”, nói chung thì ai cũng “Hát” được, ngâm nga những bài nhạc mà mình thích trong lúc vui buồn, nhưng “Ca” thì chỉ có ca sĩ mới ca được, nên người ta gọi là ca sĩ đâu ai gọi là “hát sĩ”? Ca và Hát tưởng giống nhau, nhưng khác nhau hoàn toàn, nói điều này, thực sự tôi không hề “ngụy biện”. Không ai nói “hát vọng cổ” mà “ca vọng cổ”.
Gần nửa thế kỷ hòa bình đã đi qua. Nhưng nhạc hai miền Nam Bắc vẫn còn khác biệt. Nghe một giai điệu sau 75 là biết nhạc này là ở ngoài Bắc hay trong Nam. Nói thật rằng, dù cho miền nào, miễn là nhạc hay là… Ok.
Tôi nói điều này có cực đoan không:
-Hình như nhạc hay chỉ có trước 75?
-Sau 75, chỉ có những bài hát “như những chiếc bong bóng nhiều màu sắc” nhưng dễ xì hơi!
Boléro của những ngày xa xưa ấy, là những bài hát mà “bỗng dưng nó đi vào lòng người”, nghĩa là đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của sĩ-nông-công-thương, nhưng bây giờ có không ít MC cũng bỗng dưng đem sự hiểu biết của mình (xin lỗi không đúng chỗ) đã khoát lêm mình Boléro nhiều từ mỹ miều, nghe có mùi thơm tho, đầy màu sắc trong các cuộc thi ca Boléro, tưởng hay, nhưng chỉ làm tội nghiệp Boléro mà thôi!
Những giọng ca mới cố đi theo một hướng riêng như nhã chữ, phun câu, luyến láy, cách điệu, trong hòa âm, phối khí mới, gọi là “bản phối mới” để không lập lại những gì ca sĩ miền Nam trước đây đã gieo vào lòng khán thính giả một thời đã đi qua. Nhưng, mới thì có mới, còn hay thì chưa thấy. Coi chừng mới quá sẽ làm Boléro trở nên kệch cỡm và lố bịch!
Boléro ca lại, ca mãi, ca hoài… Mới thì đã, nhưng mới và hay hoàn toàn khác nhau. Chỉ hát sai một chữ trong bài hát Boléro cũ cũng đã làm mất hay.
Cảm ơn Đài VL đã có những chương trình làm sống lại Boléro của một thời đi qua miền Nam trong Chiến tranh.
Và có những nàng ca sĩ mới, hát Boléro cũ… nghe cũng không đến nỗi nào!
Nhưng, tôi đã từng lên tiếng khi người ta dùng “Giai điệu tự hào” và bây giờ đến “Giai điệu cuộc sống”.
-“Giai điệu” là gì?
-Một mình “Giai điệu” có hình thành được một bài hát không?
Và biết đâu một ngày không xa người ta dùng “Giai điệu tình yêu”?


TRẦN HỮU NGƯ