CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

VỊNH ĐÀ NẴNG – “YẾTHẦU” CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM HƯỚNG RA BIỂN ĐÔNG - HỒ XUÂN TỊNH

 

ĐNA - 

(Đà Nẵng). Lịch sử cho thấy, những vùng đất sở hữu vị trí địa chiến lược luôn đóng vai trò quyết định trong tiến trình phát triển và bảo vệ chủ quyền của mỗi quốc gia. Được thiên nhiên ưu đãi với địa thế kín gió, cửa biển rộng, kết nối thuận lợi giữa đất liền và đại dương, vịnh Đà Nẵng từ lâu đã trở thành một trong những điểm chiến lược quan trọng bậc nhất của Việt Nam. Không chỉ là cửa ngõ hướng ra Biển Đông, nơi đây còn được ví như “yết hầu” của đất nước, giữ vai trò đặc biệt về quân sự, hàng hải và giao thương qua nhiều thời kỳ lịch sử.



Một góc Vịnh Đà Nẵng – Thập kỷ 2010. Ảnh Trần Ngọc.

Vị trí chiến lược mà hiếm cảng biển tự nhiên nào ở Việt Nam có được
Vịnh Đà Nẵng nằm ở trung điểm của dải duyên hải miền Trung, nơi địa hình hội tụ những yếu tố hiếm có để hình thành một cảng biển tự nhiên lý tưởng. Phía bắc là dãy Hải Vân, nhánh cuối của dãy Trường Sơn vươn mình ra biển như một bức trường thành hùng vĩ, ngăn cách tự nhiên giữa Huế và Đà Nẵng. Phía đông là bán đảo Sơn Trà án ngữ cửa biển, tạo thành “tấm bình phong” che chắn gió mạnh và sóng lớn từ Biển Đông. Giữa hai thế núi ấy mở ra cửa vịnh rộng, tạo nên một vùng nước kín gió nhưng vẫn thông suốt với đại dương.

Chính cấu trúc địa mạo đặc biệt này đã tạo cho vịnh Đà Nẵng những điều kiện tự nhiên hiếm có. Lòng vịnh có độ sâu lớn, nền đáy ổn định, ít chịu tác động bồi lấp nên có thể tiếp nhận tàu trọng tải lớn. Trong điều kiện thời tiết bình thường, mặt nước luôn khá êm, trở thành nơi neo đậu và tránh trú bão an toàn cho tàu thuyền. Từ nhiều thế kỷ trước, các thư tịch trong và ngoài nước đã ghi nhận đây là một trong những điểm dừng chân an toàn nhất trên tuyến hàng hải ven biển miền Trung.

Tuy nhiên, giá trị của vịnh Đà Nẵng không chỉ đến từ lợi thế tự nhiên. Quan trọng hơn, đây còn là cửa ngõ kết nối giữa biển với không gian nội địa rộng lớn. Từ cửa vịnh, tàu thuyền có thể theo sông Hàn rồi xuôi ngược trên hệ thống Vu Gia – Thu Bồn để tiến sâu vào đồng bằng xứ Quảng. Trong quá khứ, tuyến thủy lộ qua sông Cổ Cò còn nối liền với thương cảng Hội An, hình thành một mạng lưới giao thương liên hoàn giữa biển, đô thị cảng và vùng hậu phương. Nhờ đó, vịnh Đà Nẵng vừa là cửa mở hướng ra đại dương, vừa là đầu mối trung chuyển hàng hóa giữa nội địa với các tuyến thương mại quốc tế.

Dưới góc nhìn địa lý lịch sử, ít nơi nào ở Việt Nam hội tụ đồng thời ba yếu tố núi, biển và hệ thống sông ngòi trong một chỉnh thể hài hòa như vịnh Đà Nẵng. Chính sự kết hợp ấy đã tạo nên một không gian vừa thuận lợi cho giao thương, vừa có giá trị phòng thủ tự nhiên vượt trội. Kinh tế, hàng hải và quân sự vì thế không tồn tại như những lợi thế riêng rẽ mà bổ trợ, nâng đỡ lẫn nhau, tạo nên vị thế chiến lược đặc biệt của vịnh Đà Nẵng, một lợi thế mà rất ít cảng biển tự nhiên ở Việt Nam có thể sánh được.

Vị trí chiến lược Vịnh Đà Nẵng. Sưu tầm của HXT.

“Yết hầu” không chỉ là đèo Hải Vân, mà còn là cánh cửa trên biển mang tên vịnh Đà Nẵng
Khi nói về vị trí chiến lược của Đà Nẵng, người ta thường nhắc đến lời nhận định nổi tiếng của Chúa Nguyễn Hoàng khi đứng trên đỉnh Hải Vân: “Chỗ này là yết hầu của miền Thuận Quảng.” Trải qua hàng trăm năm, câu nói ấy gần như được hiểu là để chỉ riêng đèo Hải Vân. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh lịch sử và tư duy quân sự thời các chúa Nguyễn, “yết hầu” nhiều khả năng không chỉ là một cửa ải trên bộ mà còn bao gồm cả cửa ngõ chiến lược hướng ra biển.

Trong tư duy quân sự phương Đông, “yết hầu” là vị trí khống chế hệ thống giao thông, tiếp vận và không gian chiến lược của cả một vùng lãnh thổ. Ai nắm được “yết hầu” sẽ kiểm soát được đường hành quân, nguồn tiếp tế, hoạt động thương mại và thế phòng thủ; ngược lại, để mất vị trí ấy đồng nghĩa với việc toàn bộ không gian phía sau bị đe dọa.

Ở góc độ đường bộ, đèo Hải Vân là cửa ải trọng yếu trên trục Bắc – Nam. Nhưng dưới thời các chúa Nguyễn, đường biển mới là huyết mạch của giao thương và quân sự. Vì vậy, nếu Hải Vân là “cánh cửa” trên đất liền thì vịnh Đà Nẵng chính là “cánh cửa” trên biển. Muốn kiểm soát Thuận Quảng không chỉ phải giữ vững Hải Vân mà còn phải làm chủ cửa biển Đà Nẵng – nơi kết nối Biển Đông với hệ thống sông Hàn và lưu vực Vu Gia – Thu Bồn.

Trong chỉnh thể ấy, bán đảo Sơn Trà giữ vai trò tiền đồn án ngữ cửa vịnh, vừa quan sát vùng biển phía trước, vừa bảo vệ cảng nước sâu phía trong. Hải Vân, Sơn Trà và vịnh Đà Nẵng vì thế hợp thành một thế phòng thủ tự nhiên liên hoàn: Hải Vân khống chế hành lang Bắc – Nam trên đất liền, Sơn Trà bảo vệ cửa vịnh, còn vịnh Đà Nẵng kiểm soát tuyến hàng hải và cửa ngõ vào nội địa.

Lãnh đạo hai địa phương Huế – Đà Nẵng chụp ảnh lưu niệm tại sự kiện khánh thành công trình trùng tu, bảo tồn hạng mục Hải Vân quan (21/12/2024). Ảnh: Khánh Ly.

Có lẽ vì vậy, khi khẳng định “Chỗ này là yết hầu của miền Thuận Quảng”, Chúa Nguyễn Hoàng không chỉ nhìn thấy một con đèo hiểm trở mà là cả một hệ thống địa lý – quân sự thống nhất. Lịch sử nhiều thế kỷ sau đã chứng minh tầm nhìn ấy. Từ thời kỳ hưng thịnh của thương cảng Hội An đến cuộc tấn công của liên quân Pháp – Tây Ban Nha năm 1858 và các cuộc chiến tranh hiện đại, mọi thế lực muốn khống chế miền Trung đều coi Đà Nẵng là mục tiêu chiến lược. Chỉ hơn hai thế kỷ sau lời nhận định của Nguyễn Hoàng, quân Pháp đã chọn Đà Nẵng làm nơi mở màn cuộc xâm lược Việt Nam, bởi họ hiểu rằng ai làm chủ “cánh cửa” này sẽ có lợi thế uy hiếp miền Trung và tiến sâu vào nội địa.

Những sự kiện ấy cho thấy “yết hầu” mà Nguyễn Hoàng nhìn thấy không phải một địa điểm riêng lẻ, mà là cả một chỉnh thể địa chiến lược do thiên nhiên kiến tạo, trong đó đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà và vịnh Đà Nẵng kết hợp thành hệ thống kiểm soát cả đường bộ lẫn đường biển, quyết định vị thế chiến lược của Thuận Quảng và miền Trung Việt Nam suốt nhiều thế kỷ.

Vịnh Đà Nẵng kiểm soát cửa ngõ từ biển Đông. Ảnh: T.Ngọc.

Lịch sử nhiều thời đại chứng minh vị trí chiến lược của vịnh Đà Nẵng
Giá trị chiến lược của vịnh Đà Nẵng không phải là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử mà được khẳng định xuyên suốt qua nhiều thời đại. Từ vương quốc Champa, thời các chúa Nguyễn đến các cuộc chiến tranh cận đại và hiện đại, vùng vịnh này luôn giữ vai trò cửa ngõ hàng hải trọng yếu của miền Trung.

Thời Champa, vùng Đà Nẵng thuộc Amaravati – một trong những trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa quan trọng của vương quốc. Nằm trên tuyến hàng hải quốc tế qua Biển Đông, vịnh Đà Nẵng là nơi tàu buôn nước ngoài neo đậu trước khi theo sông Hàn và sông Cổ Cò tiến vào lưu vực Thu Bồn và vùng Đại Chiêm. Trong cấu trúc thương mại hàng hải của Champa, Đà Nẵng vừa là “tiền cảng” đón các luồng giao thương quốc tế, vừa bảo vệ cửa ngõ dẫn vào trung tâm của vương quốc.

Sau khi sáp nhập vào Đại Việt, vị thế ấy tiếp tục được phát huy. Thế kỷ XVI–XVII, khi các chúa Nguyễn xây dựng Đàng Trong và mở cửa giao thương, thương cảng Hội An trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn của Đông Nam Á. Trong mạng lưới đó, vịnh Đà Nẵng giữ vai trò cửa biển, nơi neo đậu của thương thuyền trước khi vào Hội An hoặc ra khơi. Nhờ vị trí nằm ở cửa ngõ lưu vực Vu Gia – Thu Bồn, Đà Nẵng trở thành đầu mối kết nối giữa thương mại quốc tế với vùng nội địa xứ Quảng.

Hoạt động giao thương nhộn nhịp tại cảng Tiên Sa – Vịnh Đà Nẵng. Ảnh: T.Ngọc.

Chính lợi thế thương mại ấy cũng tạo nên giá trị quân sự. Một cảng nước sâu thuận lợi cho tàu buôn đồng thời là nơi lý tưởng để hạm đội quân sự neo đậu; cửa biển nối trực tiếp với hệ thống sông ngòi và nội địa tạo điều kiện triển khai lực lượng, bảo đảm hậu cần và kiểm soát không gian chiến lược. Vì vậy, cùng với sự phát triển của giao thương, vịnh Đà Nẵng ngày càng giữ vai trò quan trọng về quốc phòng.

Điều đó được thể hiện rõ trong cuộc tấn công của liên quân Pháp – Tây Ban Nha năm 1858. Khi mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân Pháp không chọn Huế hay các thương cảng nổi tiếng như Hội An, Thị Nại mà đánh thẳng vào Đà Nẵng. Họ nhận thấy nơi đây sở hữu cảng nước sâu đủ sức tiếp nhận hạm đội lớn, ở gần kinh đô Huế và có thể khống chế toàn bộ vùng Trung Trung Bộ. Dù kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” thất bại, việc Đà Nẵng trở thành mục tiêu đầu tiên đã cho thấy giá trị địa chiến lược đặc biệt của vùng vịnh này.

Hơn một thế kỷ sau, lịch sử một lần nữa lặp lại. Ngày 8/3/1965, những đơn vị đầu tiên của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên bãi biển Xuân Thiều, mở đầu cho quá trình Mỹ trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Chỉ trong thời gian ngắn, Đà Nẵng được xây dựng thành căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất miền Trung với quân cảng, sân bay, kho hậu cần và trung tâm chỉ huy của Quân đoàn I. Từ đây, lực lượng Mỹ có thể cơ động nhanh bằng đường biển, đường không và đường bộ tới các chiến trường miền Trung và Tây Nguyên.

Năm 1967, Mỹ tiếp tục xây dựng trạm radar trên đỉnh Sơn Trà ở độ cao khoảng 621 m, được mệnh danh là “Mắt thần Đông Dương”. Với tầm quan sát rộng, trạm radar trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống cảnh giới điện tử của Mỹ tại Đông Nam Á, đồng thời khẳng định giá trị quân sự đặc biệt của bán đảo Sơn Trà trong việc kiểm soát vùng biển và bảo vệ căn cứ Đà Nẵng.

Điều đáng chú ý là hai cường quốc quân sự, cách nhau hơn một thế kỷ, với mục tiêu và phương thức tác chiến khác nhau, cuối cùng vẫn đưa ra cùng một lựa chọn: Đà Nẵng. Đó không phải là sự trùng hợp, mà phản ánh một quy luật địa chiến lược. Từ liên quân Pháp – Tây Ban Nha năm 1858 đến quân đội Hoa Kỳ năm 1965, mọi kế hoạch kiểm soát miền Trung đều bắt đầu bằng việc làm chủ không gian Đà Nẵng.

Từ Champa, các chúa Nguyễn đến thời hiện đại, lịch sử nhiều lần thay đổi nhưng vai trò của vịnh Đà Nẵng hầu như không đổi. Chính địa thế do thiên nhiên kiến tạo – với đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà, vịnh Đà Nẵng và hệ thống sông ngòi nối sâu vào nội địa – đã tạo nên một chỉnh thể chiến lược hiếm có, khiến nơi đây trở thành “yết hầu” của miền Trung, một cửa ngõ mà qua nhiều thế kỷ, bất kỳ thế lực nào muốn kiểm soát vùng đất này đều không thể bỏ qua.

Những người lính Mỹ đầu tiên đổ bộ lên bãi biển Xuân Thiều, Nam Ô, Đà Nẵng (1965) Nguồn: Tạp chí tin tức và nhiếp ảnh Life. Hình ảnh được trích trong Bộ sưu tập của Bảo tàng Đà Nẵng.

Thế mạnh và điểm yếu của một vịnh biển đặc biệt
Địa hình đã ban tặng cho vịnh Đà Nẵng nhiều lợi thế hiếm có, nhưng cũng tạo nên những thách thức đặc biệt. Hai dãy núi Hải Vân và Sơn Trà ôm lấy vịnh, tạo thành một không gian nửa khép kín với cửa vịnh mở về phía Đông – Đông Nam. Nhờ đó, trong điều kiện thời tiết bình thường, các khối núi che chắn phần lớn gió mạnh từ phía bắc và tây bắc, giúp giảm sóng gió trong lòng vịnh. Mặt nước tương đối yên, thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu, giao thương và tránh trú bão.

Tuy nhiên, khi bão di chuyển đúng hướng cửa vịnh, chính địa thế ấy lại làm gia tăng mức độ tác động. Gió bão từ phía đông hoặc đông nam có thể hội tụ khi đi vào cửa vịnh, khiến gió và sóng mạnh hơn ở một số khu vực ven bờ. Sóng sau khi vào vịnh còn có thể giao thoa và phản xạ khi gặp địa hình hoặc các công trình ven biển, làm tăng chiều cao sóng cục bộ. Vì vậy, trong những cơn bão có quỹ đạo phù hợp, khu vực ven biển Đà Nẵng thường chịu thiệt hại nặng nề.

Đặc điểm này đã nhiều lần được thực tế chứng minh. Từ những ghi chép của triều Nguyễn về các trận bão lớn ở Quảng Nam – Đà Nẵng trong thế kỷ XIX đến các cơn bão Xangsane (2006), Ketsana (2009) và Molave (2020), mỗi khi tâm bão hoặc hoàn lưu mạnh hướng thẳng vào cửa vịnh, gió lớn, sóng cao và nước dâng đều gây thiệt hại đáng kể cho khu vực ven biển.

Có thể nói, ưu thế và hạn chế của vịnh Đà Nẵng luôn song hành. Chính địa thế đã tạo nên một cảng biển tự nhiên lý tưởng và một “yết hầu” chiến lược của miền Trung, nhưng cũng khiến vùng vịnh nhạy cảm trước những cơn bão từ Biển Đông. Vì thế, suốt nhiều thế kỷ, cư dân Đà Nẵng không chỉ khai thác những lợi thế thiên nhiên ban tặng mà còn không ngừng thích ứng với quy luật khắc nghiệt của biển cả để xây dựng và bảo vệ vùng đất này.

Cùng với Sơn Chà, dãy núi Hải Vân đóng vai trò như bức tường che chắn cho Vịnh Đà Nẵng. Ảnh: T.Ngọc.

Từ “yết hầu của miền Thuận Quảng” đến “yết hầu” hướng ra Biển Đông
Lịch sử cho thấy giá trị của Đà Nẵng không nằm ở một địa danh riêng lẻ mà ở cả một chỉnh thể địa lý hiếm có, nơi đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà, vịnh Đà Nẵng và hệ thống sông Hàn – Vu Gia – Thu Bồn liên kết thành một không gian chiến lược thống nhất. Núi khống chế hành lang trên bộ, biển mở ra tuyến hàng hải quốc tế, còn sông ngòi kết nối sâu với nội địa. Chính sự hội tụ ấy đã tạo nên một vị thế vừa thuận lợi cho giao thương, vừa có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng, khiến Đà Nẵng qua nhiều thế kỷ luôn là cửa ngõ chiến lược của miền Trung.

Ngày nay, khi Đà Nẵng là điểm hội tụ của các tuyến giao thông quốc gia, cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế và Hành lang kinh tế Đông – Tây, giá trị ấy càng được mở rộng trong bối cảnh Biển Đông ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với an ninh, kinh tế và kết nối khu vực. Song cũng như mọi vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, lợi thế luôn đi cùng thách thức. Địa thế tạo nên một vịnh biển kín gió và cảng nước sâu lý tưởng, nhưng cũng khiến nơi đây nhạy cảm trước những cơn bão lớn từ Biển Đông, đòi hỏi sự thích ứng bền bỉ của con người qua nhiều thế hệ.

Có lẽ vì vậy, lời nhận định của Chúa Nguyễn Hoàng vẫn còn nguyên giá trị sau hơn bốn thế kỷ. “Yết hầu” mà ông nhìn thấy không chỉ là đèo Hải Vân, mà là cả một không gian địa chiến lược do thiên nhiên kiến tạo. Nếu trong thế kỷ XVI đó là “yết hầu của miền Thuận Quảng”, thì hôm nay, trong chiến lược phát triển biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia, Đà Nẵng đã trở thành một trong những “yết hầu” hướng ra Biển Đông. Đó không chỉ là vị thế do thiên nhiên ban tặng, mà còn là giá trị được lịch sử nhiều lần kiểm chứng và tiếp tục được khẳng định trong tương lai.


HỒ XUÂN TỊNH

Bài đăng trong tạp chí Đông Nam Á

Nguồn : Facebook của tác giả

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

ĐÊM CHỜ HOA NỞ - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI

 


ĐÊM CHỜ HOA NỞ

Hoa vừa hé cánh nỏn nà
Nhụy vàng khẽ mở… hương ngà ngát đêm
Trăng nghiêng nhẹ xuống êm đềm
Mình ta lặng ngắm hoa mềm trong sương…
Gió ru khẽ chạm ven tường
Hương đêm dìu dịu vấn vương đất trời
Sương rơi… rất khẽ… sương rơi
Ta nghe như cả mây trời ngừng bay.
Đêm chờ cũng hóa mộng dài
Nhìn hoa vừa nở hương bay dịu dàng
Ánh trăng trải mỏng nhẹ nhàng
Cho lòng chạm giấc mơ màng mênh mông
Ngồi nghe hoa tỏa hương thơm
Hoa trao ngọt thắm vào lòng thiết tha
Thời gian khẽ lạnh đi qua
Đêm… còn ta với hoa và… trăng nghiêng…



HUỲNH TÂM HOÀI


Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

MÊ VỌNG - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 



MÊ VỌNG

Hỏi ai người tri kỷ
Uống ngụm trà sớm mai
Ngày tháng trôi vô vị
Sá chi cuộc tình hoài

Hỏi ai người tri kỷ
Uống ngụm trà sớm mai
Ngày tháng trôi vô vị
Sá chi cuộc tình hoài

Với mây khói quê nhà
Ta thân người quán trọ
Lãng đãng trời mưa gió
Vẫn trông vời cố hương

Áo nào qua ngang cổng
Tóc thả mùi hương xưa
Ta hỏi lòng mê vọng
Nôn nao tiết giao mùa

Mấy lần tìm tăm cá
Trong gợn sóng muôn trùng
Vớt nhành rêu hối hả
Cớ gì hồn rưng rưng


TỪ KẾ TƯỜNG
(Bến Lặng 26-6-2026)

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

NHỮNG BÀI CA MẸ ĐI QUA TRONG CHIẾN TRANH - TRẦN HỮU NGƯ

 


Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Bà Me Quê Nhạc sĩ PHAM DUY(1921 DUY Y(19212013) (192 1-2013) Album: Album:CaDaoMe ca Dao Me rinho rinhor www.chuagiacngo.com'


NHỮNG BÀI CA MẸ ĐI QUA TRONG CHIẾN TRANH
Nhạc viết về Mẹ đi qua trong Chiến tranh nó không có nhiều bằng những bài ca viết về Mẹ sau hòa bình?
Và hình như trong Chiến tranh ở miền Nam không có dựng tượng “Mẹ Việt Nam anh hùng”, và cũng hình như có đựng một tượng “Hai bà Trưng”, nhưng nó cũng… hình như giống hình bà Trần Lệ Xuân (?), nên người ta đã kéo xập! Vậy mới biết, tai mắt dân chúng ghê lắm, đừng có xem thường:
-Con ruồi bay qua là biết ruồi đực hay ruồi cái?
-Vận nước nổi trôi… là họ biết tất!
Tôi nói điều này, chắc do suy nghĩ nông cạn, hoặc chưa tới, nếu bị ném đá, tôi cũng chấp nhận thôi. “Dân chơi, đâu sợ mưa rơi”, nhưng chỉ sợ mưa đá và bão:
-Rất nhiều người “mê” bài hát “Huyền thoại mẹ” của TCS?
Riêng tôi, nghe chơi cho “đủ mâm đủ bát”, thì được, chớ tôi không mê bài hát này, vì theo tôi, nó có cái gì đó… không thật lắm, cứ nghe nó làm sao ấy! (Thành thật xin lỗi, nhạc sĩ TCS).
Tôi thấy nhạc viết về người mẹ bây giờ hơi cường điệu, có đôi khi không thật, vẽ vời thái quá, tô son đánh phấn người mẹ lý tưởng của bao thế hệ, làm khuôn mặt mẹ không còn cháy nắng, lưng mẹ không còn còng, mắt mẹ sáng quá, tay mẹ không còn dịu dàng bế con, mẹ có đôi khi mang vòng hoa… giả. Nghĩa là hình tượng người mẹ đích thực đã biến dạng giống như chuyện “cổ tích, huyền thoại” qua câu hò điệu hát? Và tại sao người ta lại làm người Mẹ Việt Nam “biến dạng”?
Viết về mẹ, tôi nhớ những người mẹ gồng gánh một thời đi qua Chiến tranh, tôi đã từng xem đứa con ôm vú mẹ mà bú, khi người mẹ đã chết, trên “đại lột kinh hoàng”, từ năm 1972, và khi xem hình ảnh này, tôi đã quay mặt, ám ảnh tôi nhiều năm khó quên. Thiết nghĩ, người mẹ dù bên này hay bên kia đều đau khổ như nhau khi đi qua Chiến tranh, và bà mẹ Việt Nam nào lại không có con cầm súng?
Có những bài ca người mẹ Việt Nam của một thời, bây giờ nghe lại cứ tưởng như chuyện cổ tích!
Nhắc đến những ca khúc viết về Mẹ, danh sách đầu phải là “Lòng Mẹ” của Y Vân. Chữ “đầu” ở đây có nghĩa là LÒNG MẸ được nhiều người hát, nhiều người thuộc, là thông điệp viết về mẹ, những ca từ, những nốt nhạc trong “Lòng Mẹ” như mật ngọt ngấm trong cổ họng, ai mà nói không cảm động khi nghe “Lòng mẹ”, trừ những đứa con trời đánh, và những đứa con từ trên trời rơi xuống! “Lòng mẹ”, những nốt nhạc êm như nhung, lời ca nhẹ như gió Nam làm đại dương êm sóng. Nhạc sĩ Y Vân, ông đã rút ruột để viết nên ca khúc này:
“… Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào…
Thương con thao thức bao đêm trường
Con đã yên giấc mẹ hiền vui sướng biết bao
Thương con khuya sớm bao tháng ngày
Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khô…”
Rồi, làm sao mà quên được người mẹ nguyên mẫu, không có huy chương tượng đồng, bằng khen:
“… Đêm khuya trăng mơ mắt trông về trong cõi xa mờ
Nơi xa xăm kia tôi say nhìn quê cũ dấu yêu
Ôi tình quê hương nơi chốn xa có bà mẹ hiền
Tóc màu hoa bạc chiều chiều mắt ngấn lệ vì con
Ra đi con dâng đời cho gió mưa
Quê người ngồi nhớ đến ngày vui qua
Gío chiều thường nhắc khúc ca biệt ly
Cố nhìn quê cũ lắn trong sương mờ
Mẹ ơi ra đi dời con sá chi
Mơ ngày ngồi dưới ánh đèn lâm ly
Bên mẹ thường hát khúc ca ngày đi
Ai ngờ rồi cũng đến lúc phân ly
Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ ơi…”
(Nhạc phẩm “Quê mẹ” của Thu Hồ).
Rồi, cũng khó mà quên được ca khúc “Mẹ tôi” của Nhị Hà. Dù là mẹ riêng của Nhị Hà, nhưng đó là người mẹ chung của Việt Nam, có chung những đứa con đôi khi dặt dẹo trong chiến tranh. Tại sao có những bà mẹ phải mỏi mòn trông chờ con? Chiến tranh mà, sống chết chỉ là đường tơ kẽ tóc:
“… Chiều chiều
Bên túp lều tranh
Mẹ tôi đứng đợi đàn con
Trước gió tóc trắng loa xòa
Đôi mắt dịu hiền
Như bể tình thương…”
Viết về mẹ, phải nhắc tới nhạc sĩ Phạm Duy, ông là nhạc sĩ của thời kháng chiến “lãng mạn”, của một thời Chiến tranh “lãng xẹt”, lên bờ xuống ruộng “lãng nhách”. Nhạc ông rải khắp ba miền Bắc-Trung-Nam, từ tây sang đông, từ Á sang Âu… Rồi ông “Hẹn em năm 2000”, để trở về Việt Nam, vì “Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời” (Bài hát Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy). Ông mang đúng “khẩu khí” của bài hát này, “Chết là đi vào cõi hết… tôi mang theo được những gì đây” (Chữ ông dùng hay quá: Chết… là đi vào cõi hết).
Ông là bậc thầy của Tình ca, Rong ca, Thiền ca, Đạo ca, Vỉa hè ca… và đừng quên “Tục ca” của ông. Đó là những bài ca do ông tự biên tự diễn, nghe rất… thật và có nghề! (Ông là ca sĩ mà). Khi thấy trong mình uể oải, tôi nghe “Tục ca” là thấy “Đời có thế mà thôi”! (Nó là thuốc bổ thận tráng dương mà!). Đó là “Chuyện cấm đàn bà”.
Nói dong dài có đôi khi là “nói dai, nói dại”, tôi xin kết thúc bài viết với hai nhạc phẩm viết về Mẹ, đó là những bài ca Mẹ đi qua trong chiến tranh của Phạm Duy:
“… Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con đánh giặc đêm ngày
Cho dù áo rách sờn vai
Cơm ăn bát vơi bát đầy…”
(Bà mẹ Gio Linh)
Và:
“… Mẹ quê
Mẹ quê vất vả trăm chiều
Nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu
Bà, bà mẹ quê
Gà gáy trên đầu ngọn tre
Bà, bà mẹ quê
Chợ sớm đi chưa thấy về…”
(Bà mẹ quê)
Người mẹ Việt Nam nào trong Chiến tranh mà chẳng ước mong Hòa bình? Hãy nghe nhạc sĩ Thông Đạt trong nhạc phẩm “Hoa cài mái tóc”, đôi mắt mẹ sáng ngời khi nghe tin hòa bình:
“… Mẹ Việt Nam mắt ngời sáng quắt
Nghe đâu đây tiếng vọng hòa bình…”
Nhưng “Hoa cài mái tóc” ơi, Hòa bình đã có, nhưng Thanh bình hình như chưa có phải không?



TRẦN HỮU NGƯ
(Những ngày xa quê nhớ mẹ hiền, nhưng gần mẹ hiền thì hay đòi tiền!)

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

KHÔNG ĐỀ - THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG


 


KHÔNG ĐỀ

Rồi có một ngày anh trở lại
Long An tỉnh cũ chẳng còn tên.
Âm vang thoảng chút hương phường xã
Một thoáng mơ màng cõi nhớ quên.

Thổ ngơi thơm phức hồn quê kiểng
Vàm Cỏ dòng xanh nước lượn mình
Hai nhánh hợp lưu ra biển lớn
Ngược nguồn Soài Rạp thấu Tây Ninh.

Mộc Bài Long Khốt từ bao thuở
Trấn cõi biên cương một góc trời.
Sừng sững hiên ngang làm lá chắn
Non sông gấm vóc một màu tươi.

Dù cho sáp nhập chi chăng nữa
Hồn cốt trước sau vẫn ruột rà.
Gọi lên tên cũ hay tên mới
Vẫn một lòng yêu thật thiết tha.

Chẳng bận tâm gì tên cũ mới
Thói đời trước lạ cũng sau quen
Cứ tự nhiên thôi rồi sẽ thấy
Lâu ngày tên mới cũng là tên ...


TRẦN NGỌC HƯỞNG


Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

CỔ TÍCH TA VÀ BÉ - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG



 CỔ TÍCH TA VÀ BÉ


Có những lúc ta ngồi buồn nhớ bé
Ta ngày xưa và bé của hôm nay
Như ong bướm đùa vui cùng hoa cỏ
Hoa rất vàng mà cỏ biếc đâu hay

Nếu thương nhớ chỉ là mưa và nắng
Nắng và mưa đôi lúc cũng chung đường
Chiếc lá úa màu xưa bay rất nặng
Xuống bên trời cho bé tuổi yêu thương

Tay giông bão ta đã từng qua hết
Dấu chân tròn in lối cũ màu rêu
Ta gặp bé chẳng biết sau hay trước
Mỗi sớm mai, đầu nắng, cuối trăng chiều

Bé gặp ta để mùa xuân chín rộ
Trần gian này hoa trái sẽ thơm hơn
Dẫu mai mốt ta ngồi nghe thác đổ
Cuộc phân ly đâu đó rất u buồn

Ta và bé gặp nhau là quá đủ
Chuyện thần tiên trang sách mở ra rồi
Nơi gửi gắm ước mơ thời thơ ấu
Để bây giờ… mơ ước vẫn đang trôi.



TỪ KẾ TƯỜNG


Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

NGỌT LÀNH - THƠ LÊ KIM THƯỢNG


 

NGỌT LÀNH

 

1. 

 

Quê hương đẹp mãi trong mơ

Tình quê gắn với tuổi thơ xa vời

Quê nhà đẹp mãi ngàn đời

Nhớ ngày xưa cũ rong chơi trên đồng…

Trời xanh, xanh thẳm mênh mông

Bức tranh Thủy Mặc dòng sông, con đò

Bờ sông đợi, bến nước chờ

Có người viễn xứ bên bờ nhớ xưa

Quê nhà mưa nắng hai mùa

Thảo thơm hạt gạo nắng mưa ngọt lành

Nhà nghèo vách đất, mái tranh

Nồi cơm chín tới, bát canh đậm đà

Cơm chiều mắm muối ngày qua

Bình yên, thanh đạm chan hòa vui tươi

Tri âm chén rượu, nụ cười

Xưa nay ai cũng quý người thủy chung…

 

2. 

 

Cuộc đời có có, không không

Còn chăng chỉ một tấm lòng yêu quê

Bình thường mà lắm đam mê

Để người xa xứ sơn khê ưu phiền

Cuộc đời điên đảo, đảo điên

Về quê tìm lại một miền thảnh thơi

Mong gì tìm được một nơi

Xóa đi phiền muộn một đời chênh chông…

Con về nhà đã vắng không

Nhớ hình bóng Mẹ trong lòng xót đau

Mẹ đi mãi mãi về đâu

Lung linh nến cháy hai đầu áo quan

Bàn thờ lặng lẽ khói nhang

Lòng con quặn thắt bàng hoàng ngu ngơ

Nghẹn ngào nhớ Mẹ ngày thơ

Rưng rưng nước mắt bơ vơ cuối đời…



 

            Nha Trang, tháng  06. 2026

                 LÊ KIM THƯỢNG