CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGUYỄN DU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGUYỄN DU. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

MƠ ĐƯỢC HÁI SEN - THƠ NGUYỄN DU, ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 


Góc Việt Thi :

                         MƠ ĐƯỢC HÁI SEN của NGUYỄN DU    


                       

      Trong "Nam Trung Tạp ngâm 南中雜吟" của cụ Nguyễn Du 阮攸, ghi lại tất cả những bài thơ mà ông đã làm trong thời gian "Làm quan ở kinh đô Huế" (1805-1808). Sau đây là chùm thơ "Hái Sen" nổi tiếng của ông đã được trích làm những bài học thuộc lòng trong văn thơ cổ lớp 11 của chương trình THPT. Kính mời các bạn cùng đọc và thưởng thức hệ thống 5 bài thơ "MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN 夢得採蓮 Mơ Được Hái Sen" của Nguyễn Du sau đây :


                 其一                    Kỳ nhất

             緊束蛺蝶裙     Khẩn thúc kiệp điệp quần

             採蓮棹小艇     Thái liên trạo tiểu đĩnh

             湖水何浺瀜     Hồ thủy hà xung dung

             水中有人影     Thủy trung hữu nhân ảnh


                 其二                   Kỳ nhị

             採採西湖蓮     Thái thái Tây Hồ liên

             花實俱上船     Hoa thực câu thướng thuyền

             花以贈所畏     Hoa dĩ tặng sở úy

             實以贈所憐     Thực dĩ tặng sở liên


                 其三                  Kỳ tam

             今晨去採蓮     Kim thần khứ thái liên

             乃約東鄰女     Nãi ước đông lân nữ

             不知來不知     Bất tri lai bất tri

             隔花聞笑語     Cách hoa văn tiếu ngữ


                 其四                  Kỳ tứ

             共知憐蓮花     Cộng tri liên liên hoa

             誰者憐蓮幹     Thùy giả liên liên cán

             其中有真絲     Kì trung hữu chân ti

             牽連不可斷     Khiên liên bất khả đoạn


                 其五                  Kỳ ngũ

             蓮葉何青青     Liên diệp hà thanh thanh

             蓮花嬌盈盈     Liên hoa kiều doanh doanh

             採之勿傷藕     Thái chi vật thương ngẫu

             明年不復生     Minh niên bất phục sanh


            * Chú thích :

    - Khẩn Thúc 緊束 : KHẨN là chặt; THÚC là buộc. KHẨN THÚC là buộc cho chặt.

    - Kiệp Điệp Quần 蛺蝶裙 : là Quần (váy) có thêu hình bươm bướm bay. Có xuất xứ từ bài thơ "Học Thư 學書"(Học viết thư pháp) của Dương Duy Trinh 楊維楨 đời Nguyên 元 như sau :


             歌徹陽春酒半醺,     Ca triệt dương xuân tửu bán huân,

             玉尖搦管蘸香雲。    Ngọc tiêm nhược quản trám hương vân.

             新詞未上鴛鴦扇,     Tân từ vị thướng uyên ương phiến,            

             醉墨先污蛺蝶裙。    Túy mặc tiên ô Kiệp Điệp Quần !

    Có nghĩa :

                    Hát hết Dương xuân nửa tỉnh say,

                    Tay thon nắn nót phiếm mây trời.

                    Ý thơ chưa viết uyên ương quạt,

                    Mực đã lắm lem váy bướm rồi !


    - Trạo 棹 : Danh từ là Cây dằm, cây chèo; Động từ là Bơi, Chèo, Chống.

    - Xung dung 浺瀜 : Chỉ thế nước rộng và sâu; là Lai láng, là mênh mông.

    - Thái 採 : là Hái. Hai chữ THÁI đi liền nhau THÁI THÁI 採採 có nghĩa Hái rồi lại hái, hái không ngừng tay, hái lia hái lịa...

    - Hoa Thực 花實 : HOA là Bông; THỰC là Trái. Trong bài thơ chỉ Hoa sen và Gương sen.

    - Sở 所 : là Phiếm chỉ Đại từ có nghĩa : Cái mà...; Người mà... như trong bài thơ : SỞ UÝ 所畏 là Người mà ta kính sợ; SỞ LIÊN 所憐 là Người mà ta thương xót.

    - Kim Thần 今晨 : KIM là Hôm nay; THẦN là Buổi sáng. KIM THẦN là Sáng nay.

    - Đông Lân Nữ 東鄰女 : Theo sách LỄ KÝ xưa 《禮記》中有記載 có ghi rằng :「Chủ nhân tựu Đông giai, Khách nhân tựu Tây giai 主人就東階,客人就西階」Có nghĩa : Chủ nhân thì ngồi ở thềm phía đông, còn người làm khách thì ngồi ở thềm phía Tây. Sau dùng rộng ra, gọi ĐÔNG GIA 東家 là Nhà chủ, nhà làm Cái. ĐÔNG LÂN 東鄰 là gọi một cách tôn trọng người hàng xóm là "Ông chủ mé Đông"; Nên ĐÔNG LÂN NỮ 東鄰女 là cô gái xóm đông, là "Cô Hàng xóm" như trong bài thơ "Năm Qua" của thi sĩ J. Leiba thời Tiền chiến :

                  Duyên mình hờ hững hộ duyên ai,

                  CÔ GÁI ĐÔNG LÂN dáng ngậm ngùi...


    - Lân 鄰 : có Bộ ẤP 阝là thôn xóm đứng bên phải, nên có nghĩa là Hàng xóm. Như ĐÔNG LÂN 東鄰 là Xóm Đông; LÂN LÝ 鄰里 là Làng xóm, như Kim Trọng nói với Thúy Kiều :

                       Chàng rằng LÂN LÝ ra vào,

                    Gần đây chớ phải người nào xa xôi ! 


    - Lân 憐 : có Bộ TÂM 忄là lòng dạ đứng bên trái, nên có nghĩa là Thương. Như KHẢ LÂN 可憐 là Đáng thương; LÂN TUẤT 憐恤 là Thương xót, như cụ Nguyễn Du đã viết khi gia đình Thúy Kiều gặp nạn, lúc "Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi", thì :

                       Hạ từ van lạy suốt ngày,

                   Điếc tai LÂN TUẤT, phũ tay tồi tàn.


    - Cán 幹 : là Thân, là Cọng (sen).

    - Khiên Liên 牽連 : KHIÊN là Dẫn, dắt; LIÊN là Liền nhau; Nên KHIÊN LIÊN là nắm níu, là Dây dưa, là Vướng mắc.

    - Doanh Doanh 盈盈 : là Đầy đặn, nhởn nhơ, tả cái dáng vẻ yêu kiều dễ thương của các cô gái; Trong bài thơ chỉ hoa sen tươi đẹp đáng yêu.


               

* Nghĩa các bài thơ :

                                   MƠ ĐƯỢC HÁI SEN

    -Bài 1 :

            Buộc chặc lại cái váy có thêu hình các con bươm bướm; rồi chống chiếc thuyền nhỏ đi hái sen; Nước hồ ôi sao mà mênh mông và chập chờn có bóng hình người in trong nước.

   - Bài 2 : 

           Hái lấy hái để sen Tây Hồ; Hoa sen và gương sen đều cho cả lên thuyền; Hoa sen thì để tặng cho người ta kính trọng, còn gương sen thì để tặng cho người ta thương yêu.

   - Bài 3 :

           Sáng nay lại đi hái sen, cùng hẹn với cô gái ở xóm đông lân; Cũng không biết là cô ấy đến hay không đến, chỉ nghe tiếng cười nói trong lá hoa sen vang vọng lại mà thôi !

   - Bài 4 :

           Cùng biết với nhau rằng phải thương xót hoa sen, nhưng ai là người biết thương xót cả những cọng sen nữa. Vì trong những cọng sen kia còn có những tơ lòng thật, và những sợi tơ đó sẽ vương vấn không bao giờ đứt cả !

   - Bài 5 :

           Ôi, lá sen sao mà xanh xanh như thế kia, và hoa sen lại đẹp một cách yêu kiều dễ thương như thế kia. (Khuyên ai đó) có hái sen thì đừng để tổn thương đến củ sen và ngó sen, (Nếu làm cho thương tổn) thì sang năm sen sẽ không còn sinh sôi nẩy nở nữa !    

                 

* Diễn Nôm :

                     MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN


                              Bài 1.

                   Xắn lại quần cánh bướm,

                   Chống thuyền đi hái sen.

                   Nước hồ sao lai láng,

                   Thấp thoáng bóng người quen !


                              Bài 2.

                   Hái , hái sen Hồ Tây,

                   Hoa gương thuyền chất đầy.

                   Hoa tặng người ta qúy,

                   Gương tặng người thương đây !


                              Bài 3.

                   Sáng nay hái sen hồng,

                   Hẹn cô gái xóm đông.

                   Đến không nào ai biết...

                   Tiếng cười nói trong bông !


                              Bài 4.

                   Cùng biết yêu hoa thôi,

                   Ai người yêu ngó, chồi ?

                   Tơ lòng trong ngó ấy...

                   Vương vấn mãi không thôi !...


                              Bài 5. 

                   Lá sen sao xanh xanh,

                   Hoa sen đẹp xinh xinh.

                   Hái khéo chớ thương tổn,

                   Sang năm sen chẳng sinh !


       Lục bát :

             

                               Bài 1.

                    Xắn quần cánh bướm chập chờn,

                Hái sen chống chiếc thuyền con lửng lờ.

                    Nước hồ lai láng nên thơ,

                Thấp thoáng trong nước mập mờ bóng ai.


                              Bài 2.

                     Hái vội sen của Hồ Tây,

                Thuyền con bỗng chốc đã đầy hoa, gương.

                    Hoa thì tặng người kính thương,

                 Gương thì tặng kẻ ta thường dấu yêu.  


                              Bài 3.

                     Sáng nay đi hái sen hồng,

                  Hẹn cô gái ở xóm đông đi cùng.  

                     Biết không, biết có tới không ?

                 Chỉ nghe cười nói trong lòng hồ sen.     


                              Bài 4.

                     Cùng là thương xót hoa sen,

                 Ai người thương xót ngó sen đâu nào?

                      Trong ngó có tơ thật sao,

                 Vấn vương vương vấn chẳng bao giờ rời.   


                              Bài 5.

                     Lá sen sao khéo xanh xanh,

                 Hoa sen sao khéo xinh xinh khác thường.

                     Hái sen chớ khá tổn thương,

                 Sang năm sen sẽ hết đường xinh tươi !   

     

                    

        Qủa là những vần thơ đầy thi tình họa ý, phác họa nên toàn cảnh của các cô gái hái sen trong mùa hè nóng bức một cách thực tế, hiển hiện trước mắt chớ không phải trong mơ như cụ Tiên Điền "Mơ được hái sen"(Mộng đắc thái liên) nữa, mà là cảnh sống động của các cô nàng hái sen tươi mát cùng tranh kiều diễm với các "Liên diệp thanh thanh" và "Liên hoa doanh doanh" một cách nửa cân tám lạng :


                     Lẫn trong ao vẳng tiếng cười,

                  Nghe ca mới biết có người hái sen !   


         Qủa là một chuổi thơ hái sen rất nên thơ lý thú và tràn đầy thi vị của cụ Nguyễn Du trong khoảng thời gian làm quan ở triều đình Huế.


         Hẹn bài dịch tới  !


                                                 杜紹德

                                                 ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Ba, 17 tháng 12, 2024

ĐIẾU LA THÀNH CA GIẢ - NGUYỄN DU, ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM

 



Góc Việt Thi : 

                   ĐIẾU LA THÀNH CA GIẢ


     Song song với "Long Thành Cầm Giả Ca", "Ngộ Gia Đệ cựu Ca Cơ", "Độc Tiểu Thanh Ký" và "Đoạn Trường Tân Thanh"... "Điếu La Thành Ca Giả" cũng là một bài thơ được giới văn học cổ đánh giá là một thi phẩm biểu lộ rõ nét nỗi thương xót chân thành của tác giả về những kiếp người bất hạnh, nhất là những phụ nữ với kiếp sống yên hoa gian truân chìm nổi, bị vùi dập trong xã hội thời phong kiến. 
    Bài thơ được cụ Nguyễn Du làm trong khoảng thời gian Dưới chân núi Hồng Lĩnh (1796-1802) với ngoại hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ 鴻山獵戶 : 

   吊羅城歌者         ĐIẾU LA THÀNH CA GIẢ 

一枝濃艷下蓬瀛,  Nhất chi nùng diễm há Bồng Doanh,
春色嫣然動六城。  Xuân sắc yên nhiên động lục thành.
天下何人憐薄命,  Thiên hạ hà nhân lân bạc mệnh ?
塚中應自悔浮生。  Trủng trung ưng tự hối phù sinh.
胭脂不洗生前障,  Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng,
風月空留死後名。  Phong nguyệt không lưu tử hậu danh.
想是人間無識趣,  Tưởng thị nhân gian vô thức thú,
九泉去伴柳耆卿。  Cửu tuyền khứ bạn Liễu Kỳ Khanh.
                阮攸                              Nguyễn Du 
    
                       

* Chú thích :
    - LA THÀNH 羅城 : Là thành Nghệ An. Tương truyền, tướng nhà Minh là Trương Phụ sang xâm lược nước Việt đã cho đắp thành nầy ở bến Phú Thạch, nơi sông La và sông Lam gặp nhau.
    - BỒNG DOANH 蓬瀛 : là Bồng Lai và Doanh Châu. Theo truyền thuyết thần thoại Trung Hoa trong sách "Sơn Hải Kinh" chép rằng : Ở trong Bột Hải có ba hòn đảo là Bồng Lai 蓬萊, Phương Trượng 方丈 và Doanh Châu 瀛洲. Chung quanh ba hòn này nước biển rất yếu không đỡ nổi một hột cải, nên ghe thuyền tới đó đều chìm. Người ta gọi là Nhược Thủy. Nơi non Bồng nước Nhược chỉ có tiên đến được mà thôi. Nên Bồng Doanh chỉ cõi tiên, nơi tiên ở. Đây cũng là nơi mà Tần Thủy Hoàng và Hán Võ Đế cho người đi cầu đạo và tìm thuốc trường sinh.
   - YÊN NHIÊN 嫣然 : là Đẹp một cách hồn nhiên.
   - LÂN 憐 : Còn đọc là LIÊN Có nghĩa là Xót thương, tội nghiệp, là LÂN TUẤT 憐恤 như trong Truyện Kiều :"Điếc tai Lân Tuất, phũ tay tồi tàn".
   - HỐI 悔 : là Hối hận, hối tiếc.
   - SINH TIỀN CHƯỚNG 生前障 : Cái nghiệp chướng lúc còn sống.
   - TỬ HẬU DANH 死後名 : Cái tai tiếng để lại sau khi chết. DANH là Danh Tiếng mà cũng là Tai Tiếng nữa.
   - THỨC THÚ 識趣 : THỨC là Biết là Hiểu; THÚ là thú vị, là Lý thú mà cũng là Lạc thú nữa. Nên THỨC THÚ là Hiểu biết được cái lạc thú, cáí lý thú cũng như cái thú vị trong việc giao tiếp và nghe các đào nương hát của những người sành điệu; Cái đó Hình dung từ gọi là Điệu Nghệ. Nên THỨC THÚ là ĐIỆU NGHỆ. Tiếng Hán hiện đại nói là 很識趣 (hên shi qù) là "Rất điệu nghệ !". 
   - LIỄU KỲ KHANH 柳耆卿 : tức LIỄU VĨNH 柳永 (984—1053)vốn tên là Tam Biến 三變, tự là Cảnh Trang 景粧; Sau đổi tên là VĨNH, tự là KỲ KHANH 耆卿; Vì đứng hàng thứ bảy trong anh em, nên còn được gọi là LIỄU THẤT 柳七. Ông người đất Sùng An thuộc tỉnh Phúc Kiến, là Từ nhân nổi tiếng thời Bắc Tống của hệ phái trữ tình lãng mạn. 
    Thời gian sống ở Tô Châu và Hàng Châu, Liễu Vĩnh thường lăn lóc trong các xóm yên hoa và nổi tiếng ở các lầu xanh về tài điền từ 填詞, tức là chuyên viết ca từ cho các cô kỹ nữ hát khi các nhạc sư soạn được ca khúc mới. Nói cũng lạ, khi các cô hát những khúc hát do Liễu Vĩnh viết ca từ thì luôn luôn được mọi người tán thưởng và bản thân cô kỹ nữ đó cũng được nâng cấp lên mấy bậc và được thưởng thật nhiều tiền. Vì thế mà các cô cũng rất hậu đãi và chào đón Liễu Vĩnh một cách thật niềm nở nhiệt tình, lắm cô lại mê mệt vì vẻ trẻ trung tuấn tú và tài hoa của chàng thanh niên công tử sống lăn lộn từ kỹ viện nầy đến thanh lâu khác một cách hồn nhiên. 
    Theo "Dụ Thế Minh Ngôn 喻世明言" của Phùng Mộng Long 馮夢龍 đời Minh, thiên《Chúng Danh Cơ Xuân Phong Điếu Liễu Thất 众名姬春风吊柳七》ghi : Khi Liễu Vĩnh chết, tất cả kỹ viện của cả thành Biện Lương đều cùng nhau đến chung tiền và tổ chức tang lễ cho Liễu Vĩnh. Ngày động quan tất cả kỹ nữ ca nương đều đến đưa tang, tiếng thương khóc ngất trời vang động cả một góc thành và vang xa đến mấy dặm. Sau đó mỗi năm đến ngày Thanh Minh tất cả các cô đều chẳng hẹn mà cùng đến tảo mộ cúng bái liễu Vĩnh thật đông.


                                                    Liễu Kỳ Khanh

* Nghĩa Bài Thơ :
                  Viếng ca nữ đất La Thành
      Như một cành hoa đẹp nồng nàn diễm lệ từ các non tiên Bồng lai Doanh Châu hiện xuống. Vẻ xuân sắc đẹp một cách hồn nhiên của nàng làm rung động cả sáu thành. Trong thiên hạ nầy ai là người biết thương xót cho thân phận bạc bẽo của các ca nhi đây ? Trong nấm mồ chắc nàng cũng tự mình hối tiếc cho kiếp phù sinh truân chiên trôi nổi. Phấn son không thể gột rửa hết cái nghiệp chướng của lúc sinh thời. Chuyện gió trăng phong nguyệt chỉ còn xót lại những tai tiếng mà thôi ! Chắc hẵn trên đời nầy không còn ai điệu nghệ nữa cả, nên mới về nơi chín suối để bầu bạn với Liễu Kỳ Khanh là người một đời sống quây quần cùng các ca nhi kỹ nữ.

* Diễn Nôm : 

Có thể là hình ảnh về ‎văn bản cho biết '‎"Tường thị nhân gian νό thức thú, Cửu τυ γέn khử bạn Liều Kỷ Khanh" Điến La thậnh ca caGia دُى 吊羅城歌者 ₽‎'‎

                       ĐIẾU LA THÀNH CA GIẢ

                    Như cành hoa đẹp tự non tiên,
                    Nức tiếng sáu thành xuân sắc nghiêng.
                    Dưới thế ai thương người mệnh bạc,
                    Trong mồ tự hối kiếp truân chiên.
                    Phấn son nghiệp chướng đời không gột.
                    Trăng gió tiếng tai chết chịu riêng.
                    Ý hẵn trần gian không điệu nghệ,
                    Suối vàng chàng Liễu tỏ bao niềm !
     Lục bát :
                    Cỏi tiên hoa đẹp một cành,
                    Yên nhiên xuân sắc sáu thành đều lay !
                    Người đời bạc mệnh thương ai ?
                    Trong mồ chắc hẵn hối hoài phù sinh.
                    Phấn son nghiệp chướng riêng dành.
                    Gió trăng tai tiếng đã đành xuôi tay.
                    Nhân gian điệu nghệ nào ai...
                    Thì thôi chín suối tìm ngài Kỳ Khanh !
                                                         Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm 

Hẹn bài dịch tới :
                          Ngộ Gia Đệ cựu Ca Cơ
                                                           Nguyễn Du

                                                     

                     杜紹德
                     ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2024

LONG THÀNH CẦM GIẢ CA -NGUYỄN DU ,ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIẼN NÔM



Góc Việt Thi : 
                              Long Thành Cầm Giả Ca
                                              Nguyễn Du



      Long thành cầm giả ca 龍城琴者歌 là "Bài ca về người gảy đàn ở Thăng Long thành" là một bài thơ theo thể Cổ phong bằng chữ Hán do cụ Tiên Điền Nguyễn Du sáng tác trong khoảng thời gian đi sứ sang nhà Thanh từ năm 1813 đến năm 1814. Bài thơ này cùng với Kim Vân Kiều Truyện 金雲翹傳, Điếu La Thành Ca Giả 吊羅城歌者, Độc Tiểu Thanh Ký 讀小青記... được giới văn học cổ đánh giá là một thi phẩm biểu lộ rõ nét nỗi thương xót chân thành của tác giả về những kiếp người bất hạnh, nhất là những phụ nữ với kiếp sống gian truân, bị vùi dập trong xã hội thời phong kiến. Đọc những lời Tiểu Dẫn của cụ Nguyễn Du dưới đây sẽ rõ :
     "Người gảy đàn đất Long Thành không rõ họ tên là gì. Nghe nói thuở nhỏ, nàng học đàn Nguyễn trong đội nữ nhạc ở cung vua Lê. Quân Tây Sơn kéo ra, các đội nhạc cũ người chết, kẻ bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ ôm đàn hát rong. Những bài nàng gảy đều là những khúc cung phụng gảy cho vua nghe, người ngoài không hề được biết, cho nên tài nghệ của nàng nổi tiếng hay nhất một thời. Hồi còn trẻ (1792-1793?), tôi đến kinh đô thăm anh tôi (Nguyễn Nễ), ở trọ gần Giám hồ (hồ Gương). Cạnh đó các quan Tây Sơn mở cuộc hát lớn, con hát đẹp có đến vài chục người. Nàng nỗi tiếng nhờ ngón đàn Nguyễn. Nàng hát cũng hay và khéo nói khôi hài, mọi người say mê, đua nhau ban thưởng từng chén rượu lớn, nàng uống hết ngay, tiền thưởng nhiều vô kể, tiền và lụa chồng đầy mặt đất. Lúc ấy tôi nấp trong bóng tối, không thấy rõ lắm. Sau được gặp ở nhà anh tôi. Nàng người thấp, má bầu, trán giô, mặt gẫy, không đẹp lắm, nhưng mước da trắng trẻo, thân hình đẫy đà, khéo trang điểm, lông mày thanh, má đánh phấn, áo màu hồng, quần lụa cánh chả, có vẻ phong nhã. Nàng hay uống rượu, hay nói pha trò, con mắt long lanh, không coi ai ra gì. Khi ở nhà anh tôi mỗi lần uống rượu thì nàng uống say đến nỗi nôn bừa bãi, nằm lăn ra đất, các bạn có chê trách cũng không lấy làm điều. Sau đó vài năm, tôi rời nhà về Nam (Thái Bình), mấy năm liền không trở lại Long Thành. Mùa xuân năm nay (1813) tôi lại phụng mệnh sang sứ Trung Quốc, đi qua Long Thành. Các bạn mở tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ, có gọi tất cả vài chục nữ nhạc, tôi đều không biết mặt biết tên. Chị em thay nhau múa hát. Rồi nghe một khúc đàn Nguyễn trong trẻo nổi lên, khác hẳn những khúc thường nghe, tôi lấy làm lạ, nhìn người gảy đàn thì thấy một chị gầy gò, vẻ tiều tuỵ, sắc mặt đen sạm, xấu như quỷ, áo quần mặc toàn vải thô bạc thếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi im lặng ở cuối chiếu, chẳng hề nói cười, hình dáng thật khó coi. Tôi không biết nàng là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như đã quen biết, nên động lòng thương. Tiệc xong, hỏi thì chính là người trước kia đã gặp. Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế! Tôi bồi hồi, không yên, ngửng lên cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa và nay. Người ta trong cõi trăm năm, những sự vinh nhục buồn vui thật không lường được. Sau khi từ biệt trên đường đi, cảm thương vô hạn nên làm bài ca sau, để ghi lại mối cảm hứng".(Theo bản dịch Nôm của https://www.thivien.net/).





龍城琴者歌                 LONG THÀNH CẦM GIẢ CA
 
龍城佳人,                    Long thành giai nhân,
不記名字。                    Bất ký danh tự.
獨善絃琴,                    Độc thiện huyền cầm,
舉城之人以琴名。           Cử thành chi nhân dĩ CẦM danh.
學得先朝宮中供奉曲,      Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc,
自是天上人間第一聲。      Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh.

余在少年曾一見,           Dư tại thiếu niên tằng nhất kiến,
監湖湖邊夜開宴。           Giám Hồ hồ biên dạ khai yến.
此時三七正芳年,           Thử thì tam thất chính phương niên,
春風掩映桃花面。           Xuân phong yễm ánh đào hoa diện.
酡顏憨態最宜人,           Đà nhan hám thái tối nghi nhân,
歷亂五聲隨手變。           Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ biến.
緩如涼風度松林,           Hoãn như lương phong độ tùng lâm,
清如隻鶴鳴在陰。           Thanh như chích hạc minh tại âm.
烈如荐福碑頭碎霹靋,      Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch,
哀如莊舄病中為越吟。      Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm.

聽者靡靡不知倦,           Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện,
盡是中和大內音。           Tận thị Trung Hoà Đại Nội âm.
西山諸臣滿座盡傾倒,      Tây Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo,
徹夜追歡不知曉。            Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu.
左拋右擲爭纏頭,            Tả phao hữu trịch tranh triền đầu,
泥土金錢殊草草。            Nê thổ kim tiền thù thảo thảo.
豪華意氣凌公侯,            Hào hoa ý khí lăng công hầu,
五陵年少不足道。            Ngũ Lăng niên thiếu bất túc đạo.
并將三十六宮春,            Tính tương tam thập lục cung xuân,
換取長安無賈寶。            Hoán thủ Trường An vô giá bảo.

此夕回頭二十年,           Thử tịch hồi đầu nhị thập niên,
西山敗後余南遷。           Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên.
咫尺龍城不復見,           Chỉ xích Long Thành bất phục kiến,
何況城中歌舞莚。           Hà huống thành trung ca vũ diên.

宣撫使君為余重買笑,     Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu,
席中歌妓皆年少。           Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu.         
席末一人髮半華,           Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa,
顏醜神枯形略小。           Nhan xú thần khô hình lược tiểu.
狼藉殘眉不飾粧,           Lang tạ tàn my bất sức trang,
誰知便是當年城中第一調。Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu.

舊曲新聲暗淚垂,           Cựu khúc tân thanh ám lệ thuỳ,
耳中靜聽心中悲。           Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi.
猛然憶起二十年前事,     Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự,
監湖湖邊曾見之。           Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi.
城郭推移人事改,           Thành quách thôi di nhân sự cải,
幾度桑田變蒼海。           Kỷ độ tang điền biến thương hải.
西山基業一旦盡消亡,     Tây Sơn cơ nghiệp nhất đán tận tiêu vong,
歌舞空留一人在。           Ca vũ không lưu nhất nhân tại.

瞬息百年曾幾時,           Thuấn tức bách niên tằng kỷ thì,
傷心往事淚沾衣。           Thương tâm vãng sự lệ triêm y.
南河歸來頭盡白,           Nam Hà quy lai đầu tận bạch,
怪底佳人顏色衰。           Quái để giai nhân nhan sắc suy.
雙眼瞪瞪空想像,           Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng,
可憐對面不相知。           Khả lân đối diện bất tương tri.
                 阮攸                                           Nguyễn Du


         
* Chú thích :
    - LONG THÀNH CẦM GIẢ CA 龍城琴者歌 : là "BÀI CA VỀ NGƯỜI ĐÁNH ĐÀN Ở THÀNH THĂNG LONG"; cũng có thể hiểu là "BÀI CA VỀ NÀNG KỸ NỮ ĐẤT LONG THÀNH". 
    - ĐỘC THIỆN 獨善 : ĐỘC là Độc nhất; THIỆN là Thiện nghệ. Nên Độc Thiện có nghĩa là "Đặc biệt giỏi về một bộ môn, một phương diên hay một... cái gì đó !".
    - CỬ THÀNH 舉城 : CỬ 舉 khi là Tính từ thì có nghĩa là Tất Cả, như CỬ TỌA là "Tất cả những người (có mặt) đang ngồi ở... đâu đó. Nên Cử Thành là CẢ THÀNH.
    - TIÊN TRIỀU 先朝 : Triều đại trước chỉ Triều Lê, vì trước mắt là Triều Tây Sơn.
    - 監湖 GIÁM HỒ Còn gọi là hồ Văn hay hồ Giám ở phía trước cổng vào Văn Miếu, Hà Nội.
    - ĐÀ NHAN HÁM THÁI 酡顏憨態 : Đà Nhan là vẻ mặt ửng hồng vì rượu, Hám Thái là vẻ ngây thơ trong sáng. Nên ĐÀ NHAN HÁM THÁI là "Cái dáng vẻ trong sáng ngây thơ dễ thương của người đẹp khi gương mặt ửng hồng vì có chút hơi rượu vào".
    - LỊCH LOẠN 歷亂 : là Hỗn tạp, lộn xộn, tá lả.
    - TIẾN PHÚC BI 薦福碑 : là Bia đá ở chùa Tiến Phúc, theo tích sau đây :
      Đại văn Hào đời Tống là Phạm Trọng Yêm 范仲淹 khi làm Quận Thú ở Nhiêu Châu (thuộc Quận Ba Dương tỉnh Giang Tây hiện nay). Một hôm có thư sinh Trương Hạo 張鎬 lưu lạc giang hồ đến xin cứu giúp. Phạm thương vì người tài hoa mà chửa gặp thời, định giúp đỡ, nhưng Phạm là một ông quan thanh liêm, không lấy đâu ra tiền để giúp. Cuối cùng ông bèn đến nhờ trụ trì chùa Tiến Phúc, xin cho thư sinh kia được in một số bản văn ở thạch bia phía sau chùa bán mà độ nhật để về quê. Đây là bản văn khắc trên đá với bút pháp của Âu Dương Tuân 歐陽詢, là một trong Sơ Đường Tứ Đại Thư Pháp Gia 初唐四大書法家, nên rất được mọi người ưa chuộng.   
          Nhà sư Trụ trì vì nể mặt Phạm Trong Yêm mà chấp thuận, còn hướng dẫn cho cách để in ấn. Phạm lại phải giúp thư sinh mua sắm giấy mực, bàn chải... định sáng ngày sẽ khởi công. Nào ngờ đêm hôm đó trời mưa to gió lớn, sấm sét đánh bể tan bia đá kia luôn. Thế là khỏi in ấn gì hết cả !  
    - TRANG TÍCH 莊舄 : Theo thivien.net chú thích :
      Trang Tích là người nước Việt, làm quan nước Sở. Khi ông ốm, Sở Vương hỏi mọi người: “Tích là kẻ tầm thường ở đất Việt, nay làm quan nước Sở, được phú quý rồi, thì còn nhớ nước Việt nữa không?” Viên thị ngự đáp: “Phàm người ta có nhớ nước cũ hay không, thường tỏ ra trong lúc đau ốm. Nếu lúc này ông ta nói tiếng Việt tức là nhớ nước Việt, bằng không thì nói tiếng nước Sở”. Sở Vương sai người lén nghe thì thấy Trang Tích nói tiếng Việt.
    - TRUNG HÒA 中和 : Tên của một cung điện thời LÊ Triều ở Thăng Long.
    - TRIỆT DẠ 徹夜 : là Thâu đêm, Suốt đêm. Triệt Dạ Truy Hoan 徹夜追歡 Suốt đêm theo đuổi niềm vui. Là "Tìm vui thâu đêm... suốt sáng".
    - TẢ PHAO HỮU TRỊCH 左拋右擲 : Bên trái ném, bên phải quăng; có nghĩa như "Bên nầy cho bên kia biếu" vậy.
    - TRIỀN ĐẦU 纏頭 : là "Quấn đầu"; là "Vật thưởng hay tiền thưởng". Theo thivien.net : Lấy khăn quấn đầu làm vật tặng thưởng. Đời Đường trong yến tiệc vua đãi, ai đứng dậy múa được ban gấm để quấn đầu như vật tặng thưởng. Về sau các món tiền thưởng cho người ca múa được gọi là triền đầu.
    - NGŨ LĂNG NIÊN THIẾU 五陵年少 : là "Các chàng trai trẻ xứ Ngũ Lăng"; chỉ các chàng công tử ăn chơi con nhà quyền qúy. Theo thivien.net : Nơi có năm lăng tẩm của đế vương đời Hán, nơi này dân hào hoa phú quý thường ở. Bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị có câu: “Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu”.
    - TAM THẬP LỤC CUNG 三十六宮 : là Ba mươi sáu cung trong các triều đình vua chúa ngày xưa. Chỉ chung "Tất cả các hậu cung có nhiều cung nữ xinh đẹp".
    - TRƯỜNG AN hay TRÀNG AN 長安 : Kinh đô của các triều đại từ đời Chu đến đời Đường, là thành phố Tây An của hiện nay. Ở đây mượn để chỉ đất Thăng Long.
    - TUYÊN PHỦ SỨ QUÂN 宣撫使君 : Chỉ quan trấn thủ Bắc Thành, vào lúc Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc mùa xuân 1813.
    - NHAN XÚ THẦN KHÔ 顏醜神枯 : là Dung nhan xấu xí, thần thái khô cằn.
    - LANG TẠ TÀN MY 狼藉殘眉 : là Mặt mày nhếch nhác.
    - MÃNH NHIÊN ỨC KHỞI 猛然憶起 : Bỗng nhiên sực nhớ...; Chợt nhớ ra...
    - TANG ĐIỀN BIẾN THƯƠNG HẢI 桑田變蒼海 : Ruộng dâu biến thành biển xanh. Có điển tích như sau :
      Theo Thái Bình Quảng Ký, quyển 60, Thần Tiên Truyện của Cát Hồng đời Tấn : Vào đời Hán Hiếu Hoàn Đế có hai tiên nhân, một người là Vương Viễn, tự là Phương Bình; một người là Ma Cô Tiên cô. Trong buổi tiệc gặp mặt, Ma Cô nói với Vương Viễn rằng :"Kể từ ngày đắc đạo và nhận lấy thiên mệnh tuần tra đến nay, cũng đã ba lần thấy Đông hải biến thành ruộng dâu. Mới vừa đây, khi tuần tra đảo Bồng Lai, thấy nước biển ở đây đã cạn đi một nửa, chắc biển lại muốn biến thành đất liền nữa rồi !". Vương Phương Bình Thở dài mà rằng :"Đúng vậy, các thánh nhân đều bảo, nước biển đang cạn dần, chắc không bao lâu nữa nơi ấy sẽ là nơi đầy rẫy cả bụi hồng trần !". Tiệc tan trong một ngày, nhưng ở thế gian đã là cả ngàn năm rồi, mới hay, không gian khác nhau thì thời gian cũng sẽ khác nhau. Trong mắt thần tiên chỉ một thoáng, nhưng ở thế gian thì bãi bể đã hoá nương dâu rồi.
    - THUẤN TỨC 瞬息 : là Trong nháy mắt, là Chớp mắt.
    - NAM HÀ 南河 : là Phía Nam sông (Gianh). Do câu "Trịnh Nguyễn phân tranh, Sông Gianh di hận". Thời Trịnh Nguyễn lấy sông Gianh làm ranh giới; Nên người sống ở phía nam của sông Gianh, gọi là người NAM HÀ. Ngược lại, người sống ớ phía bắc sông Gianh thì gọi là BẮC HÀ.
    - QUÁI ĐỂ 怪底 : QUÁI động từ có nghĩa là Trách, trách cứ. Nên Quái Để là "Làm sao có thể trách được..." là "chả trách...".
    - KHẢ LIÊN hay KHẢ LÂN 可憐 : là Thương thay, Khá thương thay, Tội nghiệp thay...

                   

* Nghĩa bài thơ :

                  BÀI CA VỀ NGƯỜI ĐÁNH ĐÀN Ở THÀNH THĂNG LONG

   - Người đẹp ở thành Thăng Long,
   - Không nhớ rõ tên chi.
   - Chỉ riêng giỏi về huyền cầm, nên...
   - Người của cả thành lấy chữ CẦM làm tên.
   - Nàng học được Khúc Cung Phụng trong cung của triều đại trước. nên...
   - Đương nhiên trở thành khúc đàn hạng nhất ở trên đời dưới thế nầy.

   - Ta lúc thiếu niên đã từng gặp gỡ nàng.
   - Trong một buổi tiệc mở ra trong một đêm bên bờ Giám Hồ.
   - Lúc đó nàng đang độ hoa niên chỉ khoảng ba bảy hai mươi mốt tuổi mà thôi.
   - Gió xuân đã ve vẫy trên khuôn mặt đẹp như hoa đào của nàng.
   - Nhất là khi có chút rượu vào, nét mặt càng ửng hồng ngây thơ trong sáng hơn rất dễ làm say đắm lòng ngưởi.
   - Tiếng ngũ âm xôn xao loạn lên biến hóa theo năm ngón tay của nàng.
   - Tiếng khoan thai như làn gió mát thổi qua rừng thông vi vút.
   - Tiếng thanh thoát như con hạt lẻ loi kêu ở chốn thâm u.
   - Tiếng chát chúa rầm rập như sét đánh tan bia chùa Tiến Phúc.
   - Tiếng trầm buồn như Trang Tích trong cơn bệnh rên rỉ bằng tiếng Việt thi.

   - Khiến cho người nghe cứ mê mãi mà quên đi mõi mệt.
   - Đó đều là do âm nhạc Trung Hòa Cung trong đại nội (của triều đại trước).
   - Tất cả quan viên thần tử của Tây Sơn đều ngã nghiêng mê mẫn.
   - Suốt đêm theo đuổi niềm vui mà quên khuấy đi trời đã sáng.
   - Bên trái ném, bên phải vứt tranh nhau mà cho tiền thưởng.
   - Kim tiền nào phải đâu đất cát mà bị xem như cỏ rác sơ sài.
   - Cái tính khí hào hoa còn hơn cả bậc công hầu. Cho đến...
   - Những chàng thiếu niên công tử của đất Ngũ Lăng thì khỏi phải nói...
   - Gom góp hết mùa xuân của ba mươi sáu cung trong cung vua lại, mới...
   - Đánh đổi được một nàng vô giá bảo của xứ Trường An nầy !

   - Quay đầu nhìn lại cái đêm xưa ấy thì đã hai mươi năm qua rồi !
   - Sau khi nhà Tây Sơn bại binh thì ta cũng thuyên chuyển về phía Nam.
   - Dù có trong gang tấc thì cũng không còn trông thấy thành Thăng Long nữa.
   - Nói chi đến yến tiệc ca múa ở trong thành !

   - Tuyên Phủ Sứ Quân vì ta (sắp đi sứ) muốn mua vui cho ta, mà đãi tiệc...
   - Trong tiệc, các cô ca kỹ đều còn rất trẻ.
   - Cuối tiệc, một nàng đầu tóc đã hoa râm.
   - Vẻ mặt xấu xí với thân hình nhỏ thó.
   - Mặt tàn mày tạ nhếch nhác không có trang điểm gì cả.
   - Ai có ngờ đâu đó chính là người gảy đàn hạng nhất ở trong thành năm xưa.
   - Nhạc khúc cũ nhưng tiếng đàn mới khiến cho người ta phải âm thầm rơi lệ.
   - Tai yên lặng lắng nghe mà trong lòng chẳng khỏi bi thương.
   - Chợt bỗng nhớ lại chuyện của hồi hai mươi năm trước.
   - Bên bờ hồ của Giám Hồ ta đã từng gặp gỡ nhau.
   - Thành quách đã đổi vời nên nhân sự cũng đổi thay.
   - Mấy độ tang thương khi bãi bể hóa nương dâu.
   - Trong một ngày nào đó cơ nghiệp của nhà Tây Sơn đã toàn bộ diệt vong.
   - Buổi tiệc ca vũ năm xưa chỉ còn lại mỗi một người ở đây mà thôi.

   - Chuyện trăm năm thắm thoát có được mấy khi đâu !
   - Đau lòng cho chuyện cũ mà lệ nhỏ ướt cả áo rồi.
   - Từ Nam Hà trở về đây thì đầu của ta cũng đã bạc hết rồi.
   - Chả trách gì giai nhân nhan sắc cũng đã suy tàn...
 
   - Đôi mắt đăm đắm nhìn nhau mà cố tưởng tượng (lại hình bóng của năm xưa).
   - Khá thương thay, mặt đối mặt mà chẳng nhận biết ra nhau !!! 


                 
* Diễn Nôm :  (Theo sát ý và câu ngắn dài của tác giả)

           BÀI CA VỀ NÀNG KỸ NỮ ĐẤT LONG THÀNH

                  Người đẹp Long Thành,
                  Chẳng rõ họ tên.
                  Riêng giỏi đàn cầm,
                  Cả thành gọi Nàng CẦM thành danh.
                  Học được khúc Cung Phụng từ cung đình trước,
                  Nên chi trên đời dưới thế chẳng ai tranh !

                  Ta từ niên thiếu đã gặp nàng,
                  Bên bến Giám hồ tiệc rộn ràng.
                  Ba bảy niên hoa đương xuân sắc,
                  Mặt tựa hoa đào mới điểm trang.
                  Rượu ửng thơ ngây dễ cảm người,
                  Tay tiên năm ngón lướt không thôi.
                  Chậm như gió mát rừng thông độ,
                  Trong tựa hạc kêu phía góc trời.
                  Mạnh như sấm nổ vang rền bia Tiến Phúc,
                  Buồn tựa Việt ngâm Trang Tích bệnh xứ người.

                  Người nghe ngơ ngẩn quên mê mõi,
                  Tiếng nhạc Trung Hòa cung đại nội.
                  Quần thần Tây Sơn ai nấy thảy ngã nghiêng,
                  Thâu đêm vui thú quên sáng tối.
                  Tay đưa tay nhét tranh thưởng ban,
                  Kim tiền vung vải chẳng ai màng.
                  Sang cả công hầu quen phóng đãng,
                  Ngũ Lăng niên thiếu cũng tranh sang.
                  Băm sáu cung xuân hun đúc lại...
                  nên vô giá bảo xứ Trường an !

                  Quay đầu đêm xưa hai mươi năm,
                  Tây Sơn suy bại ta xuôi Nam.
                  Gang tấc Long thành không dịp đến,
                  Huống hồ diên yến với ca sang !

                  Tuyên Phủ Sứ quân vì ta lại mua vui,
                  Trong tiệc ca nhi đẹp lắm người.
                  Cuối tiệc một nàng râm tóc rối,
                  Khô cằn hình vóc khép nép ngồi.
                  Nhếch nhác mặt mày chẳng điểm trang,
                  Ai hay đó chính năm xưa đệ nhất đàn !

                  Khúc cũ đàn mới lệ chứa chan,
                  Tai lắng lòng nghe dạ bàng hoàng.
                  Bỗng chợt nhớ về đêm hai mươi năm trước,
                  Bên Giám hồ xưa đã gặp nàng.
                  Thành quách đổi thay người cũng đổi,
                  Bể dâu mấy độ lắm thương tang.
                  Cơ nghiêp Tây Sơn một sớm đã tan hoang,
                  Chỉ sót lại mỗi nàng ca kỹ.

                  Trăm năm chớp mắt mấy lần đâu,
                  Chuyện cũ thương tâm lệ ướt bâu.
                  Trở lại Nam Hà đầu đã bạc,
                  Trách chi người đẹp sắc phai màu.

                  Bốn mắt nhìn nhau chừng đăm đắm,
                  Thương thay đối diện chẳng quen nhau !
                                                              (Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)
 
         
        Bài dịch hay nhất, bản diễn Nôm xuất sắc nhất của LONG THÀNH CẦM GIẢ CA, theo tôi là Bản dịch bằng thể thơ Song thất Lục bát của Học Canh trên thivien.net. Xứng đáng được đem vào sách giáo khoa chính quy cho học sinh học tập và đối chiếu với nguyên tác của cụ Nguyễn Du.

        Hẹn bài dịch tới !

                                       
                     杜紹德
              ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2024

KÝ MỘNG - THƠ NGUYỄN DU, ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM

 



Góc Việt Thi : 
        Bài thơ KÝ MỘNG của cụ Nguyễn Du



     
           
      Đây là bài thơ cụ Nguyễn Du làm trong khoảng thời gian "Mười năm gió bụi (1786-1795)". Theo gia phả thì người vợ đầu của Nguyễn Du là con gái của ông Đoàn Nguyễn Thục, em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn, đã mất ở Quỳnh Hải, Thái Bình. Lúc này Nguyễn Du đang ở Hà Tĩnh chiêm bao thấy vợ. Ông nghĩ lúc sống bà chưa biết đường làm sao tìm được ông trong giấc chiêm bao. Tỉnh ra nhớ đến giấc mộng mà nghĩ thương cho vợ đã không ngại hiễm nguy vất vả lặn lội đến thác mộng cho mình, nên làm bài thơ nầy để bày tỏ nỗi lòng của mình đối với người đầu ấp tay gối của những năm xưa.

              記夢              KÝ MỘNG
           逝水日夜流,    Thệ thuỷ nhật dạ lưu,
           遊子行未歸。    Du tử hành vị quy.
           經年不相見,    Kinh niên bất tương kiến,
           何以慰相思。    Hà dĩ uỷ tương ti (tư).
           夢中分明見,    Mộng trung phân minh kiến,
           尋我江之湄。    Tầm ngã giang chi mi.
           顏色是疇昔,    Nhan sắc thị trù tích,
           衣飭多參差。    Y sức đa sâm si.
           始言苦病患,    Thuỷ ngôn khổ bệnh hoạn,
           繼言久別離。    Kế ngôn khổ biệt ly.
           帶泣不終語,    Đới khấp bất chung ngữ,
           彷彿如隔帷。    Phảng phất như cách duy.
           平生不識路,    Bình sinh bất thức lộ,
           夢魂還是非。    Mộng hồn hoàn thị phi ?
           疊山多虎廌,    Điệp sơn đa hổ trĩ,
           藍水多蛟螭。    Lam thuỷ đa giao ly.
           道路險且惡,    Đạo lộ hiễm thả ác,
           弱質將何依。    Nhược chất tương hà y ?
           夢來孤燈清,    Mộng lai cô đăng thanh,
           夢去寒風吹。    Mộng khứ hàn phong xuy.
           美人不相見,    Mỹ nhân bất tương kiến,
           柔情亂如絲。    Nhu tình loạn như ty.
           空屋漏斜月,    Không ốc lậu tà nguyệt,
           照我單裳衣。    Chiếu ngã đơn thường y !
                       阮攸                          Nguyễn Du

          

* Chú thích :
    - 記夢 KÝ MỘNG : KÝ là Nhớ, là ghi. Nên KÝ MỘNG là "Nhớ Lại Giấc Mơ".
    - 逝水 Thệ Thủy : THỆ là Chết, là Đi không trở lại, nên THỆ THỦY là Dòng nước chảy đi mất hút không trở lại.
    - 經年 Kinh Niên : KINH là Đi qua, nên KINH NIÊN có nghĩa là Suốt cả năm. Đôi khi dùng để chỉ Nhiều năm qua, tương đương như từ Bao Năm.
    - 慰 Ủy : Thăm hỏi, như ỦY Lạo; Ở đây có nghĩa là An Ủy, An Ủi.
    - 江之湄 Giang Chi My : Bến của con sông; Bến nước.
    - 疇昔 Trù Tích : là Như ngày xưa; là Vẫn như ngày nào.
    - 衣飭 Y Sức : Y phục và Trang sức, chỉ sự ăn mặc.
    - 參差 Sâm Si : là So Le; ở đây chỉ Lôi thôi, xốc xếch.
    - 始言 Thủy Ngôn : Lời nói mở đầu; Lời nói trước tiên.
    - 繼言 Kế Ngôn : Lời nói kế đó; Lời nói tiếp theo.
    - 帶泣不終語 Đới khấp bất chung ngữ : Nghẹn ngào sùi sụt nói chẳng hết lời.
    - 虎廌 Hổ Trĩ hay Hổ Trãi : Chỉ các loại thú dữ như cọp như beo...
    - 蛟螭 Giao Ly : Thuồng luồng cá sấu, chỉ chung các loại thuỷ quái dưới sông.
    - 弱質 Nhược Chất : là Thể chất yếu đuối, thường dùng để chỉ cơ thể của phụ nữ.
    - 將何依 Tương Hà Y : Sẽ nương tựa vào cái gì; Biết trông cậy vào ai đây ?
    - 漏 Lậu là Dột, là rò rỉ; ở đây chỉ "Ánh trăng tà chiếu LỌT vào trong phòng vắng (Không ốc lậu tà nguyệt 空屋漏斜月).
    - 單裳衣 Đơn Thường Y : Chỉ Quần áo mỏng manh khi mặc để ngủ.

* Nghĩa bài thơ :
                         NHỚ LẠI GIẤC MƠ
        Như dòng nước cứ đêm ngày chảy đi rồi mất hút, cũng như người du tử đi xa mãi vẫn chưa về. Biết bao năm qua không gặp mặt nhau, lấy gì để an ủi cho lòng thương nhớ nhau đây ? Rõ ràng là gặp nhau ở trong mơ, nàng đến tìm ta ở bên bờ sông nước. Nhan sắc thì vẫn như thuở nào, nhưng sao áo quần trông xốc xếch thế kia. Mở lời bằng những lời thở than bệnh hoạn, kế đến là bày tỏ nỗi nhớ thương ly biệt lâu ngày. Sùi sụt trong tiếng nấc nghẹn ngào nên nói không cạn lời, mường tượng như là bị ngăn cách bởi một bức màn thưa. Bình sinh nàng vốn chẳng biết đường đi, nên mộng hồn chẳng rõ là thực hay là hư ? Núi Tam Điệp nhiều hổ báo cọp beo; Sông Lam Giang lại lắm thuồng luồng cá sấu. Đường đi thật hiễm ác vô cùng, với bản chất yếu đuối của phái nữ nàng sẽ nương tựa vào ai đây ?... Ta mơ màng trong ngọn đèn côi thanh vắng, khi tỉnh lại thì gió thổi lạnh lùng. Nào có gặp được người đẹp nào đâu, càng khiến cho mối tình cảm trong lòng rối tợ tơ vò. Nhìn bóng trăng nghiêng nghiêng chiếu lọt vào phòng vắng chiếu cả lên thân áo mỏng manh mà ta đang mặc ngủ...

         Tình cảm thật chân thành tha thiết, thê lương buồn thảm của một người chồng nhớ đến người vợ đã khuất bóng của mình; là mơ nhưng như thật "夢中分明見 Mộng trung phân minh kiến" : Thấy thật rõ ràng ở trong mơ; Tưởng thật nhưng lại là mơ "彷彿如隔帷 Phảng phất như cách duy : Chập chờn như là bị ngăn cách bởi một bức rèm the. Thấy lại hết trong mơ cái thể chất yếu đuối yêu kiều của người vợ cũ hay bệnh tật lại đa sầu đa cảm cho nỗi biệt ly, phải lặn lội đường xa xuyên qua núi sông hiễm ác  để đến báo mộng cho mình... Những hình ảnh thân thương của người vợ cũ ngày thường trong tâm tưởng đều hiễn hiện lại trong mơ. Nhưng khi giật mình tỉnh giấc thì chỉ thấy ánh trăng tà chiếu xuyên qua phòng vắng trong cơn gió lạnh lẽo đơn côi... Qủa là bi thương thê thiết cho một người thuộc "nòi tình" như là tác giả của Đoạn Trường Tân Thanh vậy !

* Diễn Nôm :



                               KÝ MỘNG

                 Dòng thệ thủy ngày đêm tuôn chảy,
                 Gót lãng du đi mãi chưa về.
                 Bao năm chẳng gặp não nề,
                 Lấy gì an ủi vỗ về tương tư.

                 Nay trong mộng rõ như gặp mặt,
                 Nàng tìm ta bến nước ven bờ.
                 Dung nhan tựa thuở bao giờ,
                 Áo xiêm xốc xếch ngẩn ngơ hàm tình.

                 Trước mở lời đinh ninh bệnh hoạn,
                 Sau hàn huyên khổ nạn biệt ly,
                 Nghẹn ngào chẳng nói nên chi,
                 Bên rèm thấp thoáng thấy gì dung nhan.

                 Bình sinh vốn chẳng am đường xá,
                 Mộng hồn kia tựa có tựa không.
                 Hổ lang Tam Điệp trùng trùng,
                 Lam Giang thủy quái thuồng luồng khắp nơi.

                 Đường hiễm ác lắm nơi đều vậy,
                 Thể chất kia biết cậy nhờ ai ?
                 Mơ màng đèn vắng đêm dài,
                 Tỉnh ra gió lạnh ai hoài một thân !

                 Người đâu tá tần ngần chẳng thấy,
                 Tình ngổn ngang lòng rối tựa tơ.
                 Phòng không lọt ánh trăng mờ,
                 Áo đơn lạnh lẽo bơ phờ nhớ ai !
                                                 Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm


       Hẹn bài dịch tới !

                                                杜紹德
                                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Năm, 15 tháng 2, 2024

THƠ XUÂN CỦA CỤ NGUYỄN DU (3) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM

 


Góc Việt Thi :

        Thơ Xuân của cụ NGUYỄN DU (3)


                                           Tượng Thi hào NGUYỄN DU ở Bảo tàng Hà Tĩnh        


5. Bài thơ XUÂN TIÊU LỮ THỨ 春宵旅次 :

   春宵旅次                    XUÂN TIÊU LỮ THỨ
蕭蕭蓬鬢老風塵,     Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần,
暗裡偏驚物候新。     Ám lý thiên kinh vật hậu tân.
池草未闌千里夢,     Trì thảo vị lan thiên lý mộng,
庭梅已換一年春。     Đình mai dĩ huán nhất niên xuân.
英雄心事荒馳騁,     Anh hùng tâm sự hoang trì sính,
名利營場累笑顰。     Danh lợi doanh trường luỵ tiếu tần.
人自蕭條春自好,     Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo,
團城城下一沾巾。     Đoàn Thành thành hạ nhất triêm cân.
               阮攸                                           Nguyễn Du




* Chú thích :
    - Lữ Thứ 旅次 : Ở trọ tam nơi nào đó trong lúc xa nhà.
    - Tiêu Tiêu 蕭蕭 : Vừa là từ Tượng thanh vừa là từ Tượng hình, như :
         * TIÊU TIÊU ban mã minh 蕭蕭班馬鳴 : Tiếng ngựa ly biệt hí VANG VANG.
         * TIÊU TIÊU Bồng Mấn : Làn tóc mai rối đã LÂM RÂM bạc. Tóc Hoa Râm.
    - Kinh 驚 : Động từ là SỢ, ở đây là Tính từ nên có nghĩa là Lo Lắng.
    - Vật Hậu Tân 物候新 : Vạn vật chờ để đổi mới. HẬU là Đợi chờ.
    - Lan 闌 là Tàn. TRÌ THẢO VỊ LAN 池草未闌 là Cỏ trên bờ ao chưa tàn. Lấy ý từ câu thơ: “池塘生春草 Trì đương sinh xuân thảo”. Có nghĩa : "Cỏ xuân mọc trên bờ ao" theo điển tích sau đây : Đời Tấn, Tạ Huệ Liên 謝惠蓮, em họ nhà thơ Tạ Linh Vận 謝靈運, mười tuổi đã biết làm thơ. Linh Vận thường khen và nói khi ngồi với Huệ Liên, thế nào làm thơ cũng tìm được câu hay. Một hôm, Linh Vận ngồi bên bờ ao, làm thơ, nghĩ mãi cũng không nghĩ ra câu nào, về nhà ngủ, nằm chiêm bao thấy Huệ Liên, bỗng làm được câu thơ trên, rất lấy làm đắc ý. Câu này ý nói "Còn nhớ mãi đến anh em ở nhà".
    - Trì Sinh 馳騁 : Ngựa đang rong ruổi; Ngựa chạy đường dài.
    - Danh Lợi Doanh Tr7ờng 名利營場 : Trong cái vòng tìm kiếm danh lợi.
    - Tiếu Tần 笑顰 : TIẾU là Cười, chỉ thành công; TẦN là Nhăn mày, chỉ thất bại. TIẾU TẦN là Khóc cười là Thành bại, là Được mất.
    - Tiêu Điều 蕭條 : là Lơ thơ, lẻ loi, buồn bã.
    - Đoàn Thành 團城 : Tức thành Lạng Sơn. Có sách nói sở dĩ thành nầy có tên như vậy vì góc Tây Bắc của thành có hình vòng cung. Bài nầy Nguyễn Du làm từ mùa Xuân năm Giáp Tý (1805) khi nhà thơ đi đón sứ thần nhà Thanh. Nguyễn Du lên Lạng Sơn vào mùa Đông năm Quý Hợi (1804) nên mới có câu: “Đình mai dĩ hoán nhất niên Xuân” (Cây mai trước sân lại thay đổi thêm một mùa Xuân nữa).

* Nghĩa bài thơ :
                         ĐÊM XUÂN Ở NƠI XA NHÀ
       Nhìn lại thấy tóc mai đã lơ thơ bạc vì phong trần gió bụi. Nỗi lo lắng âm thầm ở trong lòng khi thấy vạn vật cũng đang chờ để đổi mới. Trong mơ ngàn dặm vẫn nhớ về anh em ở nơi xa (như cỏ bên bờ ao vẫn chưa tàn). Cây mai trong sân đình cũng đã thay đổi thêm một mùa xuân nữa. Tâm sự của người anh hùng như chú ngựa hoang để mặc cho sự rong ruổi. Ở trong trường danh lợi thì phải lụy với sự được mất, khóc cười, thành bại. Người thì tự cảm thấy nguội lạnh lẻ loi, còn mùa xuân thì cũng tự đem sự tốt lành đến. Đứng dưới thành Đoàn Thành ta cũng chỉ biết tự mình thương cảm mà thôi (tự mình lau nước mắt lấy mình).

* Diễn Nôm :



                        XUÂN TIÊU LỮ THỨ
  
                   Hoa râm tóc bạc nhuốm trần ai,
                   Lo lắng âm thầm vạn vật thay.
                   Ao cỏ chưa tàn mơ đệ muội,
                   Sân xuân lại đổi đón huỳnh mai.
                   Anh hùng tâm sự tùy rong ruổi,
                   Danh lợi trường đồ mặc rủi may.
                   Người tự âu sầu xuân tự đến,
                   Dưới thành nhỏ lệ ướt khăn tay.
       Lục bát :
                   Phong trần tóc đã hoa râm,
                   Những lo vạn vật âm thầm đổi thay.
                   Cỏ ao huynh đệ mơ dài,
                   Một mùa xuân nữa sân mai lại về.
                   Anh hùng tâm sự tư bề,
                   Lợi danh thành bại ê chề oán than.
                   Người buồn xuân vẫn cứ sang,
                   Dưới Đoàn Thành ấy lệ tràn ướt khăn !
                                                       Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

6. Bài thơ THANH MINH NGẪU HỨNG 清明偶興 :

  清明偶興                THANH MINH NGẪU HỨNG

東風晝夜動江城,     Đông phong trú dạ động Giang thành,
人自悲悽草自青。     Nhân tự bi thê thảo tự thanh.
春日有身非少壯,     Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng,
天涯無酒對清明。     Thiên nhai vô tửu đối Thanh minh.
村歌初學桑麻語,     Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
野哭時聞戰伐聲。     Dã khốc thời văn chiến phạt thinh.
客舍含愁已無限,     Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn,
莫敎茅草近階生。     Mạc giao mao thảo cận giai sinh.
               阮攸                                           Nguyễn Du




* Chú thích :
    - Ngẫu Hứng 偶興 : là Ngẫu nhiên hứng thú; là Chợt thấy hứng khởi.
    - Đông Phong 東風 : Gió thổi từ hướng đông, chỉ Gió mùa Xuân.
    - Trú Dạ 晝夜 : TRÚ là Ban ngày; DẠ là Ban đêm. TRÚ DẠ là Ngày đêm.
    - Bi Thê 悲悽 : là Bi thảm thê lương; là Buồn thảm lạnh lùng.
    - Sơ Học 初學 : Mới bắt đầu học; Mới tập tành.
    - Tang Ma Ngữ 桑麻語 : TANG là Dâu tằm ăn, MA là cây gai (cây bố); TANG MA NGỮ là lời hát ngô nghê của các cô gái hái dâu trồng gai khi đang làm việc.
    - Chiến Phạt Thinh (Thanh) 戰伐聲 : Tiếng đánh giặc chém giết nhau. Chỉ chiến tranh giữa nhà Nguyễn và Tây Sơn.
    - Mao Thảo 茅草 : là cỏ tranh, chỉ cỏ dại.

* Nghĩa bài thơ :
                        CHỢT HỨNG TRONG NGÀY THANH MINH
       Gió xuân từ hướng đông cứ ngày đêm thổi động khắp giang thành. Người thì cứ tự mình buồn thảm, còn cỏ thì vẫn cứ xanh om. Ngày xuân tuy có thân mình nhưng đã không còn trẻ khỏe nữa, Ở nơi chân trời góc bễ nầy không có rượu để uống trong tiết Thanh Minh. Ta mới tập tành hát những bài thôn ca ngô nghê của các cô gái hái dâu trồng đai. Lại thường nghe tiếng khóc than ngoài đồng trống do chiến tranh chém giết nhau gây nên. Ở nơi đất tạm dung nầy đã có vô hạn nỗi buồn rồi, đừng để cho các loại cỏ tranh cỏ dại mọc lấn lên trên thềm nữa !
(Ý của Nguyễn Du muốn nói là không muốn bon chen tranh giành danh vọng với đám quyền thần của vua Gia Long nữa).

* Diễn Nôm :



                        THANH MINH NGẪU HỨNG
                       
                    Gió xuân thổi động khắp Giang thành,
                    Người cứ bi thương cỏ vẫn xanh.
                    Xuân đến có thân thôi cường tráng,
                    Chân trời không rượu đón Thanh minh.
                    Ngô nghê học hát lời thôn dã,
                    Bi thảm còn nghe tiếng chiến chinh.
                    Đất khách ngậm sầu chi xiết kể,
                    Chớ để leo thềm đám cỏ tranh.
       Lục bát :
                    Gió đông lay động Giang thành,
                    Người bi thương cỏ vẫn xanh một màu.
                    Ngày xuân người chợt già mau.
                    Chân trời không rượu đón chào Thanh minh.
                    Thôn quê lời hát trữ tình,
                    Chiến tranh còn vẳng bên mình khóc than.
                    Ngậm sầu đất khách miên man,
                    Không buồn để cỏ leo tràn thềm cao.
                                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

         Hẹn bài dịch tới !


                                               杜紹德
                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC