CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn KHA TIỆM LY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KHA TIỆM LY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2025

VÔ CHIÊU THẦN CÔNG - KHA TIỆM LY







 VÔ CHIÊU THẦN CÔNG

a. Hôm qua ngày Sóc, không hẹn mà cao bằng hiền hữu đến kín lều cỏ, hai chiếc chiếu chưa đủ chỗ ngồi. Thù tạc tới lúc nào không biết, và ngủ lúc nào cũng không hay! Khi ánh dương xuyên qua lều rách, hong nóng mặt Thám hoa mới tỉnh dậy!
Như thông lệ, trước khi rửa mặt, Thám hoa rót môt chén đầy, ực một hơi, gọi là “giải nghễ”!
Chợt nhìn ra hiên (nhà Thám hoa không có cửa), ngạc nhiên thấy ai treo một túi gấm lớn tự bao giờ; bèn lấy vội xuống mở ra xem thì là một thanh cổ kiếm! Mở túi gấm nhỏ, trong đó cóhai quyển sách và môt phong thư. Thư rằng: “Đây là bộ VÔ CHIÊU THẦN CÔNG, tuyệt thế kỳ thư có một không hai trong thiên hạ, nay ta truyền lại cho người có duyên. Hãy cố công luyện tập để ngày sau rửa hận nước”. Cuối thư có ghi chú’: “Dục tốc bất đạt! Nhà ngươi không nên nôn nóng mà tẩu hỏa nhập ma! Luyện xong chương một mới luyện chương hai; luyện xong quyển thượng mới tới quyển hạ. Chớ quên!”
Thám hoa vào lều, mở quyển thượng. Trang đầu ghi: “Muốn luyện thành công trước hết phải tự cung!”. Thám hoa nhăn mặt vài giây rồi tự nghĩ: “Ta từ lâu có xài cái “thằng côn đồ” nầy đâu, để cũng vô ích. Nước nhà bị Hung Nô giày xéo. Cứu nước là thượng sách!”
Nghĩ xong, rút từ từ báu kiếm ra. Ánh thép xanh dờn, mát lạnh.
Bèn nói với ai đó:
- Vĩnh biệt bạn hiền nhe!
b. Chỉ sau sáu tháng luyện tập, Thám hoa bèn lên non thử kiếm. Thiết tưởng khỏi cần diễn tả hiệu quả thần sầu của kỳ thư chi cho mất thì giờ. Thám hoa cả mừng, quyết tâm học hết quyển hạ; bèn giở ra xem. Trang đầu ghi: “Quyển thượng dạy; “Muốn luyện thành công trước hết phải tự cung!”, nhưng nếu không tự cung thì cũng thành công, chớ lo lắng!”
Thám hoa ói ra một bụm máu tươi, buông mình ngồi xuống tảng đá. Tảng đá nát vụn. Công nhận mới luyện xong quyển thượng mà công phu đến mức thượng thừa!
Tảng đá đó người sau gọi là THỔ HUYẾT THẠCH, giờ là điểm du lịch thu hút nhiều du khách



KHA TIỆM LY
(Trích Chuyện Xạo Bốn Phương)

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2025

TRUYỆN TRUYỀN KỲ :ĐÀM PHỤNG NGỮ - KHA TIỆM LY

 




Truyện truyền kỳ

ĐÀM PHỤNG NGỮ
1. Vị Nghĩa Đường
Du Nguyên, người Hồ Nam, con nhà hào phú nhưng lại chuyên chú sách đèn. Lại khôi ngô tuấn tú, thông tuệ hơn người; bảy tuổi đã làu thông ngũ kinh tứ thư. Mười tám tuổi thi văn thơ nức tiếng một vùng.
Năm Canh Ngọ, lều chõng lên kinh ứng thí, tận mắt thấy cảnh sĩ tử đút lót cho bọn quan lại; cho là thô bĩ, khinh miệt bỏ về. Trên đường gặp phải bọn cướp, lột hết tiền lưng. Từ đó có ý định bỏ văn học võ.
Đến nhà thưa lại với cha. Du ông mắng:
- Làm trai mà không chịu tên đề bảng hổ, rạng rỡ tổ tông; lại muốn múa quyền luyện kiếm, ý muốn theo bọn mãi võ kiếm ăn, hay làm thảo khấu chốn sơn lâm?
- Con tận mắt chứng kiến lũ giòi bọ đi thi, và bọn quan trường sâu mọt; thì cái bảng hổ mà phụ thân nói, nó có giá trị gì? Đó chẳng qua là sự mua bán đê hèn. Với bọn nầy, áo mão triều đình chỉ là chỗ dựa để bòn rút xương máu lê dân. Lưỡi kiếm bén thường uống máu người nhưng cũng chẳng tanh hôi bằng loại bút mực làm đảo điên thiên hạ.
Du ông nghe cũng có lý, bèn cho chàng lên núi tầm sư. Được năm năm, mười tám ban võ nghệ đều thông.
Chẳng bao lâu thì Du ông về trời!
Vốn lòng hào hiệp, Du kết giao với hảo hán bốn phương; kể cả những thư sinh chuyên nghề nghiên bút. Bên Đông gia trang, Du lập một trại lớn, gọi là Vị Nghĩa Đường để dung nạp những người tài hoa lỡ vận. Thường ngày bố thí bá tánh; khi gặp thiên tai, tiền của bỏ ra không hề xót. Với người quẫn bách, Du lúc nào cũng sẵn sàng mở hòm giúp đỡ, chẳng cần biết kẻ ấy là ai. Vì thế cũng không ít người lợi dụng, kể cả những hạng thất phu tháng ngày lê la kiếm chác rượu trà!
Vị Nghĩa Đường lúc nào người cũng đầy, mà gia sản càng lúc một vơi, thế mà lòng Du chẳng hề hối tiếc.
Một chiều, Du đang uống rượu cùng hai người khách vận y phục võ lâm; thì có một thư sinh xin tiếp kiến. Du mời ngồi, tự rót rượu dâng, hỏi thăm quê quán, tánh danh. Thư sinh đáp:
- Kẻ hèn họ Đàm, tên Phụng Ngữ, nhà ở hướng tây. Suốt năm nay nhờ hạt cơm của Vị Nghĩa Đường mà không phải chết ở bụi bờ. Chẳng qua là phận bèo bọt, phần Vị Nghĩa Đường tân khách như vân, nên không được Du huynh hạ cố đó thôi!
Người họ Tạ có ý khinh thường:
- Thì ra lại có kẻ sống bám vào người!
Người kia họ Quách, càng cay cú:
- Ta thấy ngươi da trắng môi hồng, nên vận yếm đào, giả thành nhi nữ, vào “Mỵ Hoa Hương” sẽ được lắm người mê mệt!
Nói rồi cả hai đều phát lên cười hô hố. Du ngăn:
- Nhị vị chớ quá lời. Là người nhà cả mà.
Đàm cười, để lộ hai hàm răng trắng đều như bạch ngọc, vòng tay về phía Tạ, Quách thi lễ:
- Chẳng hay nhị vị là thần thánh phương nào đến viếng Du huynh, hay cũng chỉ là hạng ăn nhờ ở đậu như kẻ hèn nầy?
Bị vố đau, Tạ vỗ mạnh vào vai Đàm, định bóp cho xương vụn nát; nào ngờ vai Đàm cứng như đá, hắn nén đau, nén giận ngồi xuống. Đàm coi như không có hai người ở đó; nói với Du:
- Tiện sinh mạo muội tới đây dám nói một lời không phải: Bao năm nay nhờ ân đức của Du huynh mà bá tánh Nghi Xương đỡ phần đói rét; nhờ miếng cơm của Vị Nghĩa Đường mà bao anh tài đã đạt cao khoa. Nhưng tiếc rằng, Vị Nghĩa Đường cũng là nơi lẫn lộn vàng thau, chẳng khác gì trong đám lúa xanh lại chen nhiều cỏ dại, chúng lợi dụng mảnh đất mầu mỡ nầy mà nẩy nở sinh sôi. Có kẻ chỉ viết được vài câu văn mạt hạng, (liếc sang Quách, Tạ) hay biết dăm miếng võ mèo quào, cũng xưng là văn nhân, võ sĩ! Liêm sĩ chưa dính hết đầu tăm, nghĩa khí lận lưng chưa đủ, mà dám xưng là hảo hán anh hùng. Đó chẳng qua là những kẻ biếng lười, mượn Vị Nghĩa Đường miếng thịt miếng rượu để qua ngày đoạn tháng đó thôi! Nếu tình trạng nầy còn tiếp diễn, thì e rằng Du huynh dù có thiên điền vạn khoảnh, muôn dật huỳnh kim thì cũng phải tiêu tan! Mai kia Du gia ruộng vườn bán sạch, Vị Nghĩa Đường không gạo thổi cơm, chẳng biết bên cạnh Du huynh có còn ai cùng thưởng rượu nữa không?
Du hơi phật lòng nhưng chỉ nhíu mày không nói; cón Quách, Tạ thì mỉa mai:
- Rõ là lời nói của một cuồng sinh. Hồ đồ, bất phân cao hạ!
Không để ý đến lời của Quách, Tạ. Đàm tiếp:
- Du huynh hãy quên đi chuyện kết nghĩa Vườn Đào vì cổ kim có một; mà hãy để lòng đến chuyện Bàng Quyên. Bởi kẻ ti tiện đời nào cũng có. Trung ngôn nghịch nhỉ. Mong huynh chớ bỏ qua.
Nói đoạn bỏ đi.
Quả nhiên, chỉ một năm sau ruộng vườn hết sạch, Gia trang sờ gạo hết gạo, sờ muối hết muối. Tân khách bỏ đi hơn chín phần. Vị Nghĩa Đường vắng tợ chùa hoang; đến nỗi Du buồn tình thả bộ trọn vòng mà chẳng ai hay! Chợt Du thấy Đàm nằm co trong gian phòng cuối, bèn thấy vui trong lòng; hỏi:
- Đàm huynh vẫn còn ở lại à?
Đàm ngồi bật dậy:
- Chẳng qua là chờ đến ngày nầy đó thôi!
Biệt mình lỡ lời, Đàm vội đứng lên thi lễ:
- Du huynh chớ chấp! Tiểu đệ có thể mời Du huynh uống chén rượu suông để tạ lỗi chăng?
Qua vài chén rượu, Đàm mở lời:
- Bây giờ Du huynh có dự tính gì không?
Du lắc đầu:
- Điền sản bán sạch, một miếng bạc vụn không còn thì dự tính gì được chứ?
- Lúc trước Du huynh giúp người hàng vạn, nay hãy để tiểu đệ đến vay mượn lại, coi liệu thế nào?
Du dù vô vọng, nhưng cũng nghe theo. Thế nhưng trên cả sự bất ngờ, ngày nào Đàm cũng đem về nhiều bao ngân lượng. Du vui ra mặt; nói:
- Không ngờ trên đời nầy còn nhiều người biết trước biết sau như vậy. Trời không phụ lòng tốt của ta!
Đàm cùng vui theo, nhưng mỉm cười khó hiểu.
2. Đàm Phụng Ngữ.
Với ngân lượng đó, dù chỉ được vài phần như xưa nhưng cũng đủ làm cho Du gia trang hồi sinh.
Đàm tình nguyện bắt tay vào việc: Quán xuyến gia nhân, chiêu nạp tân khách. Mọi việc lớn nhỏ đều có tên, có chỗ hẳn hoi. Người nào việc nấy, nên gia trang lúc nào cũng kẻ ngược người xuôi. Tiếng thoi lại đưa lọc cọc, tiếng cửi lại chạy rập rình!... Đàm lại tự tay đong gạo thổi cơm nên mắm muối cũng không còn thừa mứa, hoang phí như xưa. Các tân khách cũng không ngoại lệ: Ai cày được thì cày; ai bừa được thì bừa. Lợi nhuận được chia theo công sức mỗi người. Kẻ giỏi võ, nhuần văn thì được người trong vùng rước về nhà để luyện võ ôn văn; kẻ có kỹ xảo thi ra chợ phô trương tài nghệ.
Người nghĩa dũng thất thời thì mừng ra mặt bởi không thẹn mình là kẻ ăn mượn, ở nhờ, lại thừa tiền bỏ túi, lận lưng; còn bọn vô lại biếng lười nay không còn cơ may bòn rút thì xấu hổ bỏ đi! Vị Nghĩa Đường đúng là hào môn vì nghĩa giúp người thất thế sa cơ; không còn là “viện tế bần” tạp nạp, trong đó có một phần bọn giá áo túi cơm.
Chẳng mấy chốc gia môn hưng vượng, bò trâu dần dần chuộc lại; vườn ruộng bờ lại liền bờ; hơn hẳn sản nghiệp của Du ông thuở trước. Du hài lòng lắm. Thấy Đàm quên ăn mất ngủ nên Du cũng tự mình bỏ bớt yến tiệc vui vầy. Một lần nói với Đàm:
- Thật không thể ngờ, bàn tay của hiền đệ cai quản việc nhà mà giới nữ lưu không sao sánh kịp.
Đàm lặng thinh, Du tiếp:
- Nếu ta có một người vợ giỏi giang như hiền đệ thi có phúc ba đời.
Đàm bụm miệng cười:
- Để được hưởng đôi tay chai như đá và đôi chân voi phải không?
- Cổ nhân có nói: “Xú phụ hữu đức”. Quý chi ở Hạ thị và vợ gã họ Tô?
Hôm ấy Du cùng Đàm uống rượu, khi đã ngà ngà. Đàm nhìn Du rồi nói:
- Huynh hãy nhìn đệ cho thỏa, bởi sáng mai không còn Đàm tiểu đệ nầy nữa đâu!
Du kinh hoàng:
- Hiền đệ nói gở gì vậy? Lại nỡ lòng bỏ huynh mà đi sao?
- Sáng mai tất biết!
Du lại hỏi; Đàm vẫn đáp ỡm ờ. Lại hỏi; lại đáp ỡm ờ! Mỗi lần như vậy Du tu một hơi vài chén, rồi gục xuống bàn hồi nào không biết.
Khi tỉnh dậy thì Đàm bỏ đi tự lúc nào! Lòng buồn, lửng thửng về phòng. Thì lạ thay! Đèn hoa sáng rực, hương thơm thoang thoảng. Nệm bông chăn chiếu mới tinh. Một tiểu thư vận lụa hồng ngồi nghiêng dáng mặt, tóc phủ tới lưng. Má phấn môi son, mi trường quá mục, cốt cách thanh kỳ. Bất chợt kiều nữ mỉm cười. Bấy nhiêu đó cũng đủ cho Du hồn xiêu phách lạc, tỉnh rượu mươi phần. Ấp úng hỏi:
- Tiểu thư là…
Kiều nữ quay lại, miệng tươi như hoa:
- Đã vội quên thế sao?
Rõ ràng là một tiểu thư diễm lệ phi thường. Du cứ nhìn trân. Bèn tiếp:
- Hãy xem con “xú phụ” nầy có đáng làm vợ chàng không?
Nghe hai tiếng “xú phụ”. Khấu bừng tỉnh; lắp bắp:
- Đàm… hiền đệ đó sao?
Rồi chạy đến ôm chầm. Da thịt mịn màng quyện hương thơm kỳ diệu làm Du ngây ngất:
- Ta có mắt như không. Ở cạnh tiên nương bao năm mà không biết!
Rồi một đêm Đàm nói:
- Cái kế lâu dài cho tử tôn không phải là để lại nhiều trân châu, dị ngọc; cũng không phải lưu lại nhiều bảo điển, kỳ thư; bởi chắc gì chúng có khả năng gìn giữ hay trình độ để nghiên cứu, tìm tòi? Chỉ có thi ân, rải đức, bố thí chúng sinh mới là sách lược cho tử tôn đời đời hưng vượng!
Du cười nhạo:
- Cây chưa ra hoa mà muốn bảo dưỡng trái rồi!
Đàm đặt tay chồng lên bụng mình, giẫy nẩy:
- Cái nầy không phải là “trái” hay sao?
Du cả mừng. Thế mà Đàm dòng châu lã chã. Du lòng ngập xót xa; dỗ dành một lát, Đàm mới gục đầu vào vai chồng, nức nở:
- Ơn cứu tử hoàn sanh thì dù cho tàn cái kiếp nầy cũng đáng mà thôi!
- Hiền thê nói chi lạ? “Cứu tử hoàn sanh” là sao ta không hiểu?
Đàm quẹt nước mắt vào áo chồng:
- Bây giờ thì không giấu chàng được nữa rồi. Thiếp đây vốn là chồn tiên. Bốn năm trước, chàng đã bỏ tiền để mua một con chồn già từ gã thợ săn. Đó là phụ thân của thiếp; nhờ vậy mà người không trễ cơ hội lên tiên. Nếu không thì thịt xương đã vào tay bụng bợm, chịu cảnh đọa đày; biết bao giờ mới được siêu thăng? Biết Du gia phải có ngày suy bại, thiếp phải tự mình đến để chỉnh hộ, hưng môn. Tưởng rằng ba năm vẹn ân tròn nghĩa, sẽ nối gót cha anh về chốn cõi trời; nào ngờ mãn vui thú gối chăn, giờ trong mình lại có mầm oan trái! Vì chàng mà bỏ ngàn năm tu luyện cũng đành, nhưng luật trời ai có tha cho?
Du bùi ngùi, thương vợ vô cùng mà không nói được lời nào.
Một ngày trong phòng sực nức hương thơm, lại nghe tiếng trẻ khóc chào đời. Du bèn chạy vào; Đàm mỉm cười chỉ đứa bé năm bên đẹp như tranh vẽ:
- Giọt máu nầy là của chính nhân quân tử, hào hiệp hơn người, lại được nuôi bằng tâm huyết của hồ tiên; sau nầy chắc chắn làm rạng rỡ tông môn. Du gia đã có người hương khói. Chàng hãy quyết tâm tu đạo. Hai mươi năm sau, nếu có duyên sẽ gặp nhau.
Du mãi miết nựng con mà không nghe lời Đàm nói. Đàm cũng rạng niềm vui:
- Chàng đặt tên con đi chứ?
- A ha! Ta có vợ hiền con đẹp nếu không gọi là Đại Phúc thì gọi là gì?
Đàm chỉ ngón tay vào trán chồng:
- Ân nghĩa đã đền đáp vẹn bề, không được đòi hỏi lôi thôi gì nữa nhé!
Du cười:
- Thói thường trả vốn phải trả lời. Ta cũng theo lệ ấy mà thôi.
Đàm bẹo nhẹ vào má con:
- Tên hào phú nầy gớm thật! Chứ cục cưng nầy không phải là lãi hay sao?
Từ đó mặt hoa đượm buồn, cờ đàn im tiếng. Đàm thường lui tới Vị Nghĩa Đường nói lời gởi gắm cùng tân khách anh hùng, lại dặn dò đám gia nhân hãy giữ lòng trung tín, chung lưng bồi đắp gia trang. Mọi người cho là điềm gở nhưng không tiện nói ra.
Đến một ngày, từ phòng bước ra, nàng vận y phục như mây, hương thơm ngào ngạt. đến hôn con, lạy chồng, và chấp tay xá dài các hào kiệt cùng gia nhân:
- Những lời ta đã nói, xin quý vị nể tình mà mà đáp ứng cho.
Đoạn quay sang chồng:
- Những lời thiếp dặn chàng chớ quên, thì sau nầy còn cơ hội gặp nhau. Đã đến giờ rồi…
Du rụng rời, nói không thành tiếng, vội nắm áo nàng, nhưng như nắm vào mây khói. Nàng vút mình lên, hình hài tan biến theo hư không!
Vị Nghĩa Đường bàn nhau lập miếu thờ. Kính là “Ân Đức Tiên Nương”
Lúc Đại Phú hai mươi tuổi, nhớ lời vợ, Du giao việc nhà cho con rồi ngao du về hướng tây. Từ đó không nghe tin gì nữa!
Một lần Càn Long du Giang Nam, có ghé Du gia trang, nghe kể chuyện lạ, bèn tự tay ban cho bốn chữ “Hiếu Nghĩa Nương Nương” thay cho “Ân Đức Tiên Nương”. Ban cho Du gia trang là “Giang Nam Kỳ Trang”, ban cho Du công tử (Đại Phúc) là “Tiểu Mạnh Thường”.
Những năm liệt cường xâu xé Trung Hoa, trong dòng người chạy loạn, có người nương nhờ tại “Giang Nam Kỳ Trang”, kể rằng; dù chung quanh bom đạn tơi bời, nhưng “Hiếu Nghĩa Nương Nương miếu” không vướng một mảnh đạn, ngày đêm vẫn nghi ngút khói hương./.


KHA TIỆM LY

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2025

RẮN , TRÀO LỘNG PHÚ - KHA TIỆM LY

 



RẮN , TRÀO LỘNG PHÚ

Rồng lui chân theo cựu Đông Quân,
Rắn ngỏng cổ mừng tân niên kỉ.
Nhân ngày tư ngày tết, rắn em bày tỏ đôi lời,
Mong năm mới năm mung, mọi người được nhiều đại hỉ.
Nghĩ phận em,
Thân dài vai… nhỏ, ngàn đời không đứng được… hai chân!
Họ gần họ xa, thể tạng cũng cân non mấy kí!
Ở hang sâu hốc tối, bụi rậm tàn cây, mơ gì cửa rộng nhà cao,
Ăn bữa đói bữa no, ểnh ương cóc nhái, dám đâu sơn hào hải vị.
Chẳng truyền bệnh sán như anh chó anh heo,
Không ăn vụn cơm như anh mèo anh Tí.
Biết thân hèn vóc mọn, em cứ loay hoay tìm chốn vườn rậm rừng sâu
Mà cạn lý hết tình, người hung hãn cứ dồn vào đường cùng thế bí.
Trong mười hai con giáp, riêng rắn em thường bị lắm tiếng tai.
Dưới cặp mắt người đời, cả họ hàng luôn bị coi xúi quảy.
Lại thoang thoảng bị móng vuốt diều hâu,
Cũng đều đều gặp con thần ve xị:
Mỏ dài vuốt nhọn, cắp lên non, cho con cháu chén no nê,
Dao bén thớt dày, đem vào bếp, đủ một bàn say bí tỉ!
Cho rằng,
Lũ chúng em luôn mang nọc độc giết người,
Mà bọn họ cố quên những lời chí lí:
Rắn giết người, tự cổ đếm được bao nhiêu?
Người giết người, đến nay xem ra hàng tỉ!
Lại chẳng nhớ:
Xà tửu vô ưu,
Đông y hữu lý.
Chẳng những nọc độc thuộc hàng quý dược của y sư
Mà cả xương da cũng dạng ngãi phương trong điều trị.
An tì, bổ thận; chánh tông Gò Đen ngâm cùng thục địa, táo nhơn….
Tăng lực cường dương, rặc ri Bàu Đá hãm hổ mang với đương qui, cao kỉ…
Ngửi một hơi cũng đủ sảng khoái tinh thần,
Hớp một ngụm lại càng nâng cao sĩ khí!
Chiều về các cụ nhâm nhi,
Tối đến mấy bà yêu quý!
Hay cho câu “ông uống bà khen”
Thú cho chữ “ nhỏ nghe lớn chỉ! (bảo) ”
Cao nọc rắn, trị thần kinh tọa, thoái khớp mau lành,
Rượu mãng xà, chữa gai cột sống, thống phong hết ý!
“Bách xà diệu dược”, công năng nổi tiếng ngập Trời Nam
“Ngũ độc gia truyền” chất lượng vượt qua bờ Âu Mỹ.
Mua nếu đúng căn nguyên thì chẳng sợ mất tiền,
Dùng chẳng rõ cội nguồn phải coi chừng lép ví!
Có hết đâu!
Xào lăn bầm nhuyễn, cuốn bánh tráng lá thơm,
Chặt khúc hầm nhừ, ngấm xả gừng ngũ vị.
Mặc cho nào gà tiềm, bê tái… món ngon sa số hàng hà.
Sánh sao với rắn nướng, rắn nhồi…đặc sản độc chiêu vô nhị?
Tuy nhiên,
Nếu đi đường chẳng nên lạng lách lung tung,
Thì uống rượu cũng đừng nhềnh nhàng bí tỉ!
Dù mồi “bắt”, có nhiều món để đầy mâm,
Nhưng dược tửu, cũng vài li cho có vị.
Quên ăn ham uống, sẽ tan nát thận tì,
Nhậu rượu bỏ mồi, ắt tổn hao chân khí.
Dùng vừa độ, hồn lâng lâng như lạc cõi thần tiên,
Nốc quá đà, trí mê muội sẽ theo loài ngạ quỉ!
“Chừa đường về”, để còn biết ngõ trước, ngõ sau,
Chớ “tăng hai”, mà lọt xuống bờ dưa, bờ bí!
Như nói trên,
Chẳng phải thân em phận rắn cắn người,
Mà là dược liệu thần y điều trị:
Cho quí ông sinh lực vô song,
Cho quí bà dung nhan tuyệt mĩ.
Nhậu rượu, mồi gà mồi cá, chỉ loại bá vơ.
“Đưa cay”, với rắn với trăn, mới là “mậu kị”!
So với rồng, với cọp, hình tướng nầy dù hơi kém oai phong,
Đọ cùng chuột, cùng heo, hương sắc đây chẳng lấy gì xấu xí.
Vậy cớ sao?
Dù em có cao chay xa bay,
Mà người cũng truy cùng đuổi bí.
Thế giới “thả” để bảo vệ môi trường,
Quí anh “giết” thì còn chi đạo lí?
Nay đây,
Nhân ngày xuân mới, hoa lá dâng hương sắc nồng nàn,
Mượn chén rượu đầy, rắn em tỏ đôi lời thủ thỉ:
Rắn có ích, không hề tội nhỏ tội to,
Rắn có công, chẳng có điều kiêng điều kị.
Năm nay rắn sẽ hóa rồng,
Mọi sự công thành như ý!
Bách phúc mãn đường.
Cung hỉ! Cung hỉ!


KHA TIỆM LY

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2024

TUỔI THƠ NGÀY ẤY - TRUYỆN NGẮN CỦA KHA TIỆM LY

 




TUỔI THƠ NGÀY ẤY

Như đã hẹn, tôi ra sau hè thì thấy thằng Tửng ngồi đợi ở gốc cây sầu đâu bên đất ôn Bảy Nghĩa tự lúc nào. Thấy tôi, nó ngoắc lia lia, miệng gọi không ra tiếng nhưng tôi biết nó nói: “Lẹ đi, lẹ đi!”. Tôi nhìn quanh, không thấy ai, bèn vọt theo nó, đến bờ đìa thì thấy thằng Bé, thằng Xoài ngồi dưới lùm trâm bầu đợi tự bao giờ. Thằng Bé vốn khó chịu, nhăn nhó với tôi:
- Đợi mày thấy mẹ!
Tửng không bằng lòng:
- Tụi mày ở đây mát rượi còn la, tao ngồi đợi nó cả buổi ngoài nắng tao còn không nói kìa.
Trong đám những đứa tụi tôi, tôi khoái thằng Tửng nhất. Nó hay giúp đở bạn bè, không nệ công, và hay “binh” tôi. Trái hẳn với tôi, tôi muốn đi đâu phải xin phép cha mẹ hoặc anh chị, nhưng không lúc nào cũng được cho phép. Chẳng hạn những buổi trưa như thế này thì có nước trốn đi mà thôi! Còn thằng Tửng, tôi thấy thời gian của nó ở nhà chỉ có lúc ăn cơm và lúc ngủ thôi! Tối ngày nó long nhong ngoài đường, với vài đứa bạn mà nó rủ được, bằng không thì một mình, nó cũng tắm sông, mò cua, bắt cá, bắn chim….
Nó lại có nhiều tài vặt, gan dạ, xông xáo, cái gì khó khăn nó luôn làm đầu nên tụi tôi tự bầu nó làm “đầu đảng” lúc nào cũng không biết.
Nó bất hàm về phía thằng Xoài và thằng Bé:
- Tụi bây quơ củi đi!
“Củi” là mấy nhánh trâm bầu bị gãy vụn, khô queo từ lâu.
Trong lúc đó, nó lôi ra từ một hốc bí mật một mẻ nồi bể và gần chục cái trứng vịt. Nó kê bếp bằng ba cục đất sét đã nắn thành hình ông táo từ trước, mẻ nồi bể làm… nồi. Nó không sai tôi mà tự đu mình xuống đìa múc đầy một mẻ nước. Thế là món hột vịt luộc bắt đầu. Nhìn vào bếp nồi tự chế, tôi thích thú lắm. Những nhánh trâm bầu khô lâu ngày chỉ đợi có lửa là có dịp cháy phừng phừng , chẳng mấy chốc nước sôi sùng sục, xô đẩy các trứng vịt vào nhau kêu lục cục. Tôi hỏi câu vô duyên:
- Trứng vịt đâu mà bây có nhiều vậy?
Thằng Bé khó chịu nhìn tôi, nó nghĩ tôi nghi chúng nó ăn cắp. Thằng Tửng đáp:
- Thì vịt chạy đồng đẻ rày thì mình lượm. Bữa nào mày đi lượm với tao.
Một lát nó quay qua bảo thằng Bé và thằng Xoài:
- Được rồi đó! Tụi bây vớt ra để nguội đi! Coi chừng phỏng đó nghe!
Thằng Xoài làm thinh, còn thằng Bé vốn hay nạnh hẹ, bực bội:
- Sao mày không sai thằng An. Mày sai tụi tao hoài vậy?
Trong bọn bốn đứa mà cá tánh mỗi đứa đều mang một bản chất riêng. Thằng Tửng thì như đã nói, thằng Xoài thì cầu an, ít nói, thằng Bé thì nhỏ mọn ganh tị, còn tôi thì bởi con nhà “bán tiệm” nên có chút máu công tử, không làm gì ra hồn. Thế mà cả thời thơ ấu chúng tôi lại luôn bên nhau chơi thân với nhau mới là kỳ! Tửng nói với Bé:
- Nó mà làm được cái gì? Lụi hụi bị phỏng nước sôi thì khổ. Mầy sao ưa nạnh hẹ quá.
Đó là một trong những bữa ăn thịnh soạn của chúng tôi.
Quê tôi lúc ấy nghèo lắm (1956). Nói “nghèo” là nghèo áo quần, xe cộ chớ bữa cơm nào cũng cơm trắng cá tươi (heo còn ăn gạo , huống chi người!).Tôi là con nhà “khá” nhất, lại con nhà “bán tiệm” nên coi sách sẽ nhứt!Trẻ con bốn tuổi còn ở truồng nhong nhỏng, đầu hớt trọc là chuyện thường. Tôi và thằng Bé còn học chữ, thằng Tửng và Xoài đã nghỉ khi xong hết lớp tư. Cha mẹ chúng tôi thời ấy ai mà cho con học để “biết chữ với người ta”, đã là có quan niệm tiến bộ! “Biết chữ” có nghĩa là “biết đọc biết viết”, vì thế, khi học hết lớp tư (lớp hai bây giờ), coi như đã đạt yêu cầu!
Người ta bảo, muốn biết mức sống địa phương ấy như thế nào thì cần xem cái chợ và trường học ở nơi đó: “Chợ” làng tôi là một nhóm người mà kẻ mua người bán không quá ba mươi! Còn trường học thì có hai lớp, lớp năm và lớp tư mà số học sinh chưa bao giờ đạt được sỉ số quy định, và cũng không bao giờ thiếu những học sinh vắng mặt một hai ngày với lý do khá buồn cười: Ở nhà giữ em, phụ “bỏ mạ” cho công cấy, và cả… ăn đám giỗ! Có bạn chín mười tuổi mới vào học lớp năm. “Đồ chơi” trẻ em được hình thành bởi trí tuệ công nghiệp, dù rất đơn giản như trái banh, súng bắn nước là một mơ ước, thèm thuồng của chúng tôi. Nhưng giải trí vốn là nhu cầu nên chúng tôi phải mài mò, tự chế. Lấy dây chuối khô quấn tròn nhiều lớp lại làm banh; lấy ống trúc làm ống thụt để bắn nước. Tìm cái lon sữa bò để làm xe đẩy, hay tìm một cái chai để nuôi cá lia thia cũng khó hơn lên non tìm ngà hay xuống biển tìm ngọc trai! Bởi sữa vốn là thức ăn của con bệnh nhà giàu, và khi dùng xong, họ lại dùng lon không … để lường gạo nấu cơm! Còn chai không, có nhà không có chai đựng nước mắm, dầu lửa thì có đâu để chúng tôi chơi?
Bù lại chúng tôi có những trò chơi giải trí mà “trí tuệ công nghiệp” không đáp ứng được, như thả diều, tắm sông, bắt cá… đã tạo một ấn tượng sâu sắc trong suốt cuộc đời.
Ăn xong, Tửng lôi ra một bụm đạn vo tròn bằng đất séc, lại bảo Bé và Xoài:
-Tụi bây móc bùn rồi vò một mớ đạn để mai mốt xài. Xong rồi đi ăn vú sữa.
Không phải là lần đầu tiên nên chúng tôi biết việc sắp diễn biến như thế nào?
Với cái ná thun là vật bất li thân mà lúc nào Tửng cũng đeo ở cổ là một dụng cụ vô cùng độc đáo để nó bắn chim và bắn vú sữa. Cũng là vũ khí lợi hại dành cho những con chó dai mồm.
Phải nói nó là tay thiện xạ như thần. Lũ chúng tôi len lõi vào đầu làng đến cuối xóm, đến đâu lũ chó cũng không ưa, chúng tôi đi đàng hoàng mà trong nhà chúng lại ùa ra như muốn ăn tươi nuốt sống. Trong tay nó lúc nào cũng kẹp ba hòn đạn; lập tức nó “pặc…pặc..pặc” ba cái liên tiếp là chúng “ẳng…ẳng” chạy trối vào nhà: Đạn vào mũi vào mắt thì làm sao chịu thấu! Dần dà quen mặt, hễ gặp chúng tôi chúng đều chạy vào cổng lắm lét đứng nhìn.
Núp ở ngoài rào nhà nào có vú sữa, thường là giả bộ nghỉ. Chúng tôi quan sát trái nào thâm kim, lán bóng. Nó “pặc” một cái là “bịch” xuống ngay. Mười lần không sai chạy! Và một thằng chỉ cần tỉnh queo vào lượm. Lượm trái rụng dập nát mà tội tình gì! No bụng, chuyến về thường tàng tàng nói chuyện năm trên, một lần đến hàng rào keo đất lè tè. Tửng bảo:
- Xả bọng tụi bây! Coi thằng nào “bắn” xa hơn.
Lập tức bốn “cây súng” cố sức bắn nước cho xa chừng nào tốt chừng nấy. Bỗng nghe tiếng la:
- Ui a! Ao ụi ây ái ô ình ao? (Ui da! sao tụi bây đái vô mình tao)
Bốn “cây súng” tự động hạ cần. Chúng tôi biết người nói đó là ai, bèn nhảy qua rào, thằng Sứt chìa cái lưng đầy vết roi vọt, và cái đầu còn dính đầy nước đái, lập lại:
- Ao ụi ây ái ô ình ao?
Chúng tôi nhìn nhau ái ngại rồi một lượt cởi áo ra lau cho nó:
- Xin lỗi nha Sứt, tao không thấy mày ở đây.
Sứt là tên của người bạn học cùng lớp năm với chúng tôi. Sau khi “biết đọc biết viết”, nó nghỉ học vì nhà nghèo mà cũng có thể vì chịu không nỗi bao lời châm chọc, bị nhại theo tiếng nói ngọng, và cũng vì cái môi sứt vô thẫm mỹ độc nhất trong làng của nó.
Nhìn chiếc lưng trần đen nhánh đầy vết roi ngang dọc còn rướm máu. Tôi hỏi:
- Lưng mầy sao vậy?
Sứt buồn buồn:
- Ôm a ao ắt ỏ ỏng ủ o âu ăn, ị à ủ ánh. (hôm qua tao cắt cỏ không đủ cho trâu ăn bị bà chủ đánh)
Chúng tôi rưng rưng trong lòng, nó tiếp:
- Ồi ãy, ụi ây ái ô ưng ao, át ạt. (hồi nãy tụi bây đái vô lưng tao, rát rạt)
Chúng tôi lặng thinh, nỗi hối hận len vào trong lòng mỗi đứa mỗi khác, và thấy thương nó vô cùng, nó mới chín tuổi đã đi ở đợ cho người, bị đòn roi tơi tả.
Không biết dũng khí từ đâu, tôi nói với Sứt và lệnh cho ba đứa kia:
- Mầy vô mát ngồi nghỉ, để tụi tao cắt cỏ giùm mầy. Nè tụi bây! Mình phụ cắt cỏ giùm bạn Sứt đi!
Lần đâu tiên tôi ra lệnh và được tụi nó nghe răm rắp./.


KHA TIỆM LY