CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÙNG QUÂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÙNG QUÂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

SÔNG TƯƠNG NỖI NHỚ MUỘN MÀNG


TÁC GIẢ PHÙNG QUÂN



Ảnh sông Tương ( từ Wikipedia)




Kể từ khi Kim Trọng trao trả Thúy Kiều chiếc kim thoa cài tóc và hai bên trao đổi kỷ vật kèm theo những lời thề nguyền gắn bó keo sơn, chàng Kim trở về nơi thư viện, còn nàng Kiều về lại chốn lầu trang. Từ phen gặp lại ấy, hai bên quen biết nhau thêm, như đá biết vàng. Cách nhau chỉ một bức tường hoa, ngày ngày tay đợi mắt chờ, hai bên cùng nóng lòng mong nhớ mà hai đằng không thấy được mặt nhau. Đểdiễn tả nỗi nhớ nhung khắc khoải trong lòng Kim Trọng và Thúy Kiều khi ấy, thi hào Nguyễn Du đã gói ghém tình ý trong hai câu thơ:

Sông Tương một giải nông sờ

Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia


Theo Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện), cũng như tác giả Vân Hạc (Truyện Kiều chú giải), thì hai câu thơ lục bát trên được lấy ý từbốn câu cổ thi của Trung Quốc:



君在湘江頭

妾 在 湘 江 尾

相 思 不 相 見

同 飲 相 江 水


Quân tại Tương Giang đầu

Thiếp tại Tương Giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương Giang thủy


(Chàng ở đầu sông Tương

Thiếp ở cuối sông Tương

Nhớ nhau không thấy mặt

Cùng uống nước sông Tương)


Còn theo Bùi Kỷvà Trần Trọng Kim (Truyện Thúy Kiều)thì bốn câu thơ chữ Hán trên lấy ý từ Tình Sử Trung Quốc.


Tương Giang là con sông bắt nguồn từ rặng núi Duyên Hải, huyện Hưng An tỉnh Quảng Tây, chảy qua Hồ Nam thuộc Trường An, đổ vào hồ ĐộngĐình dài hơn hai ngàn dăm. Mùa thu nước từ hồ Động Đình thường dâng lên to, nước từ hồ có thể chảy ngược về phía nam, sóng rất dữ khiến cá phải lặn ẩn sâu xuống đáy nước. Còn bốn câu cổ thi trên đây chính là phần trích đoạn khúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý,đời Hậu Chu thời Ngũ Quí, mong gửi gấm nguồn tâm sự cho Lý Sinh, sau khi đau khổ phải xa cách người yêu. Nguyên văn bài thơ như sau:


Nhân đạo Tương Giang thâm

Vị để tương tưbán

Giang thâm chung hữu để

Tương tư vô biên ngạn

Quân tại Tương Giang đầu

Thiếp tại Tương Giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương Giang thủy

Mộng hồn phi bấtđáo

Sở khiếm duy nhất tử

Nhập ngã tương tư môn

Tri ngã tương tưkhổ


(Người ta bảo sông Tương rất sâu

Nhưng chưa bằng nguồn tương tư

Sông sâu còn có đáy

Tương tư không bờ bến

Chàng ở đầu sông Tương

Thiếp ở cuối sông Tương

Tương tư không gặp mặt

Cùng uống nước sông Tương

Hồn mơ bay chẳng tới

Chỉ thiếu một điều chết

Ta vào cửa tương tư

Mới biết tương tư là đau khổ)


Trong Tình SửTrung Quốc, con sông Tương xưa kia cũng đã chứng kiến cuộc vĩnh biệt thời vua Thuấn với Nga Hoàng và Nữ Anh, nước mắt hai bà đã thấm ướt bờ sông Tương nên trong văn chương cổ điển vẫn thường mượn hình ảnh sông Tương để nói lên sự ly biệt, ở cách xa mà lòng nhớ mong nhau. Trong kho tàng đồ sộ văn học sử Trung Quốc có quá nhiều điển cố mà hình như mỗi khi một điển tích nào đó được nhắc lại, cũng có thể ứng đối với một tình huống, thích nghi với một hoàn cảnh, làm phong phú thêm đời sống tinh thần và thi ca nói riêng. Nếu giả sử lúc này có một ai nhắc đến dòng sông Dịch chắc hẳn sẽ làm ta liên tưởng ngay đến một làn nước sông mông mênh rờn rợn sóng, gió rít từng hồi thê lương buốt lạnh cắt da, u uất tấm hào khí của một Kinh Kha sang Tần, làm đậm nét buổi tiễn biệt người tráng sĩ và con trủy thủ với mối thù tóc hờn dựng ngược, để một lần đi và không bao giờ trở lại, thì dòng Tương Giang kia cũng đã từng làm chứng nhân cho những cuộc chia ly tình ái thơ mộng và mang mang tính chất lịch sử. Cổ nhân đã biến dòng Tương Giang thành một biểu tượng bất tử, một chất men xúc tác cho thi hứng của bao nguồn tâm sự, thương nhớ ngút ngàn. Qua thi ca con sông Tương đã vượt thác khỏi giới hạn không gian của địa dư thuần túy để lãng đãng bay bổng thấm nhuần vào lòng người. Tương Giang con sông của những khối tình lận đận, không trọn vẹn hay những khát vọng không nguôi ngoai. Hãy thử trích đoạn một bài thơ khác bằng chữ Hán nhan đề Biện Giả (辯賈), trong Bắc Hành Thi Tập của Nguyễn Du:

不涉湖南道
安知湘水深
不讀懷沙賦
安識屈原心
屈原心湘江水
千秋萬秋清見底

AC

Bất thiệp Hồ Nam đạo

An tri Tương thủy thâm

Bất độc Hoài Sa phú

An thức Khuất Nguyên tâm

Khuất Nguyên tâm, Tương Giang thủy

Thiên thu vạn thu thanh kiến để


(Không đi qua Hồ Nam

Sao biết sông Tương sâu

Không đọc bài phú Hoài Sa

Sao biết được lòng Khuất Nguyên sầu

Lòng Khuất Nguyên và nước sông Tương

Nghìn sau vẫn còn trong suốt đáy)