
LÀNG HOA GIẤY THANH TIÊN, HUẾ

LÀNG HOA GIẤY THANH TIÊN, HUẾ
PHẬN ĐÀN BÀ
Đi học về, vừa bước vào sân tôi đã nhìn thấy mẹ lúi húi làm thịt gà ngoài giếng. Vẫn nguyên cặp sách trên lưng, tôi nhào đến cạnh mẹ, sung sướng và ngạc nhiên:
<!>
- A! Hôm nay được ăn cơm thịt gà rồi! Có sự kiện gì đặc biệt à mẹ?
Không như mọi bận, mẹ nói với giọng buồn buồn:
- Thôi, con vào cất sách vở đi rồi ra giúp mẹ một tay. Hôm nay nhà mình có khách.
Tôi vấn cố nèo một câu:
- Vị khách này chắc ở diện "đặc biệt quan trọng" phải không mẹ?
Mẹ không trả lời chỉ khẽ gật đầu và giục:
- Con có nhanh lên không nào!
Tôi nghĩ, chắc hôm nay chị Thuý đưa người yêu về trình diện với mẹ. Mấy hôm trước tôi đã nghe chị nói với mẹ như vậy. Nhưng hôm ấy, mẹ có vẻ vui hơn hôm nay nhiều. Sợ mẹ lại giục lần nữa, tôi chạy ào vào nhà và tôi sững sờ khi gặp một người đàn ông dáng khắc khổ, rụt rè đứng sau mành như đang đón đợi. Người đàn ông mà tôi đã thề là không bao giờ mong ngóng. Tôi căm thù ông ta. Người mà khi tôi mới lên sáu tuổi, tôi đã mài dao giấu dưới gối chờ ông quay lại. Tám năm trôi qua, nhiều khi tôi không còn nhớ đến con dao ấy nữa và cũng không hiểu nó biến mất từ lúc nào. Bây giờ bất ngờ nhìn thấy gương mặt này, cơn giận của tôi lại bừng bừng bốc lửa. Tôi không nghe người ấy nói gì mà quay ngoắt người chạy ra giếng. Mẹ tôi vẫn bình thản như chẳng có chuyện gì xảy ra.
- Mẹ! - Tôi gằn giọng - Ông ta về đây làm gì?
Mẹ tôi không trả lời câu hỏi của tôi mà chỉ giục:
- Con nhanh lên còn ra giúp mẹ một tay nào!
Tôi vùng vằng:
- Nhưng mà...
Mẹ tôi nhẹ nhàng:
- Thôi nào, hộ mẹ tí đã rồi hẵng hay. Đi, con gái!
Vẫn vùng vằng, tôi miễn cưỡng đi vào. Tôi không vào nhà để cất cặp sách và thay quần áo vì không muốn nhìn thấy gương mặt người ấy, người đã làm cho mẹ con tôi khốn khổ trong bao nhiêu năm trời. Tôi quăng cặp sách lên mặt bể rồi vào bếp nấu cơm. Tôi cầm que cời đập vào cái thành xoong vô tội vì nó to hơn mọi bữa. Mẹ tôi vẫn không tỏ thái độ gì, vẫn như ngày xưa, nhẹ nhàng, ân cần với người ấy ngay cả khi người ta thú với mẹ rằng đã trót đem lòng yêu thương người đàn bà khác. Rằng đã lỡ sắp có con với người ta. Khi đó, tôi đang chuẩn bị đi học lớp Một.
Dì Xuyến kể, trước đây tôi cũng có một người bố. Bố của tôi là một người rất tuyệt vời. Bố yêu mẹ khi cả hai người còn đang học cấp ba trường huyện. Hồi ấy, những người bạn của bố và mẹ đều ao ước có một mối tình như thế. Bố đi bộ đội, mẹ vào học trường trung cấp nông nghiệp tỉnh. Sau năm năm ở bộ đội, bố chuyển sang công tác tại Sở Giao thông vận tải với một chức vụ nhiều người mơ ước. Bố mẹ cưới nhau và một năm sau, chị Thuý được sinh ra trong ánh hào quang rực rỡ của tình yêu. Lúc đón mẹ và chị Thuý từ nhà hộ sinh về, bố nâng chị giơ lên khoe với mọi người, vụng về đến nỗi làm chị đau, chị oa oa khóc rồi tè ướt cả ngực áo bố. Mọi người cười ngả nghiêng. Bố lấy làm hãnh diện vì điều đó nên trước khi trao chị Thuý cho mẹ,Õ bố còn âu yếm thơm lên khuôn mặt nhăn nheo của chị. Dù sao thì chị Thuý cũng vẫn còn có những tháng năm sung sướng. Chị được sự yêu chiều cả bố lẫn mẹ. Sau này, chị kể cho tôi nghe rằng, dù trời nắng nóng đến mấy mỗi khi đi làm về, bố không kịp thay quần áo đã bò ra nhà làm ngựa cho chị nhong nhong trên lưng. Những ngày nghỉ, bố chẳng mấy khi đi đâu mà chỉ quanh quẩn ở nhà cho mẹ sai vặt và làm cho chị những đồ chơi tinh xảo như được mua từ cửa hàng về vậy. Chị Thuý lớn dần, chị càng lớn bố càng có vẻ bận việc và ít về nhà hơn và nếu có về cũng chỉ ghé vội qua nhà, để lại cho hai mẹ con ít tiền hay một vài thứ đồ dùng gì đó rồi lại đi luôn chứ không nghỉ qua đêm ở nhà. Năm chị Thuý lên sáu tuổi, bố tôi về nghỉ ở nhà hẳn một ngày. Bố có vẻ buồn buồn và dường như có điều gì đấy định nói với mẹ mà không nói được. Mẹ thì vẫn dịu dàng chăm sóc bố. Thấy bố buồn, mẹ càng yêu thương bố hơn. Chiều đến, bố bắt gặp mẹ lặng lẽ khóc trong bếp và thế là đêm ấy bố ở lại. Dì Xuyến bảo, tuổi của tôi phải bắt đầu tính từ đêm hôm ấy. Khi có tôi, những đồ chơi bố làm cho chị Thuý dạo nào chị chỉ giữ lại một con búp bê gỗ còn chị cho tôi tất cả vì khi ấy bố đã chuyển công tác đi nơi xa ít khi về nhà được. Từ khi ấy mẹ tôi trở nên trầm lặng hơn trước nhưng đối với mọi người trong nhà, mẹ lại tỏ ra ân cần hơn. Ông bà nội ngoại của chúng tôi đều đã già cả. Dì Xuyến lại đi học xa, mẹ tôi như con thoi đi về cả hai bên. Còn bố tôi thì cứ đi công tác biền biệt mãi, nhiều năm, tết đến bố cũng không về, thư từ cũng chẳng có. Một mình mẹ tất bật sắm sửa mọi thứ để cả nhà đón năm mới như mọi nhà khác. Mẹ bảo, bố không về được là vì bận công tác đặc biệt. Mẹ đưa chị em tôi đi tết hết bên nội rồi bên ngoại. Hồi ấy, cả chị Thuý và tôi đều còn bé, chúng tôi còn mải vui với những bộ quần áo mới, với những đồng tiền mừng tuổi và nhiều thứ khác trong dịp tết nên nỗi buồn thiếu vắng bố chỉ thoáng qua. Chúng tôi luôn yên chí rằng bố đang bận một công việc gì đó quan trọng lắm. Thú thật, lúc đó có ai hỏi về bố, tôi còn lấy làm hãnh diện, vênh mặt mà trả lời rằng: "Bố cháu đi công tác!" và tôi nghĩ họ sẽ hiểu rằng công việc ở cơ quan mà thiếu bố thì sẽ hỏng bét, không thể có người thứ hai thay thế được bố! Điều đó làm cho tôi tự hào vì tôi là con gái của một người như thế.
Năm tôi lên sáu tuổi, mẹ và chị Thuý đưa tôi đi học lớp Một. Trước khi vào lớp, tôi hỏi:
- Mẹ! Đây là một sự kiện quan trọng đối với con phải không?
Mẹ nhìn tôi mỉm cười:
- Ai bảo con vậy?
- Chị Thuý!
Mẹ âu yếm xoa đầu tôi:
- Chị Thuý nói đúng đấy con ạ! Hôm nay đối với con thật quan trọng vì con bắt đầu đi học.
Tôi vội ngắt lời:
- Vậy mà bố không có ở đây với con. Tiếc quá!
Mẹ không nói gì. Chị Thuý quát khẽ:
- Thôi, nói năng lung tung thế đủ rồi. Vào lớp đi chẳng bọn chúng nó ngồi hết chỗ!
Chị khẽ ẩy vào vai tôi. Tôi chạy đi nhưng vẫn ngoái đầu lại nhìn mẹ và chị Thuý. Tôi thấy mẹ gật đầu mỉm cười. Nụ cười ấy không tươi như lúc trước. Khi ấy, tôi không hiểu gì và tôi cũng không quan tâm lắm đến mọi chuyện xung quanh, vì tôi còn đang mải nghĩ đến những đứa bạn mới ngồi bên cạnh và nghĩ đến những trò chơi mới đang đợi ở sân trường.
Gần tết năm ấy bố tôi về ở nhà vài hôm. Cả tôi và chị Thuý đang thích mê đi vì những món quà tết của bố cho và những bộ quần áo còn thơm mùi vải mới. Nhưng còn già nửa tháng nữa mới đến tết, chúng tôi lại cất tất cả những thứ đó vào tủ để dành. Đi học về, tôi quấn quýt với bố, kể cho bố nghe tất cả những chuyện của mình ở nhà, ở lớp nhưng bố cứ ậm ừ cho qua chuyện làm tôi thấy chán. Hình như bố đang có điều gì khó xử và giữa bố và mẹ có chuyện gì đó muốn giấu không cho cho chị em tôi biết nên hai người đang nói chuyện hễ thấy chúng tôi lại dừng. Mẹ như muốn nuốt tiếng thở dài vào bụng. Đêm ấy, chúng tôi đi ngủ đã lâu, tôi chợt thức giấc vì mót đi tiểu. Nhìn ra nhà ngoài thấy đèn vẫn sáng, tôi định gọi mẹ, bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng sụt sịt. Hình như mẹ khóc. Tôi ngạc nhiên. Sao mẹ lại khóc? Vẫn im lặng. Một lúc sau, mẹ hỏi:
- Thế mình định bao giờ đi?
Tiếng bố khàn khàn, nặng nhọc:
- Cũng không thể nấn ná được nữa... Cô ấy sắp đến ngày sinh... Đợt này lên chắc tôi không còn được làm việc ở cơ quan nữa... Tôi cũng không còn là đảng viên... Mình với các con tha lỗi cho tôi. Tôi không thể giấu mình và các con mãi được...
Tiếng mẹ run run nhưng có vẻ đã lấy lại được sự bình tĩnh:
- Tôi xin mình đừng nói cho các con biết. Cứ để sau này chúng lớn đã... Mình nói với tôi thế là được rồi...
Giọng nói của mẹ tắc nghẹn trong im lặng. Tôi nằm cứng đơ như khúc gỗ không phải vì mót tiểu mà vì ức lên tận cổ. Tôi đã lờ mờ đoán được chuyện gì sắp xảy ra. Thì ra, lâu nay bố không về với mẹ con tôi vì đã đi theo người đàn bà khác. Bố đã bỏ mẹ con tôi, không còn yêu thương chúng tôi vì bố sắp có một đứa con khác. Tất cả những điều tốt đẹp về bố bỗng vỡ oà trước mắt tôi. Thương mẹ bao nhiêu tôi lại căm bố bấy nhiêu. Trong tôi chợt bùng cháy dữ dội một ý nghĩ, không thể để cho ông ấy đi với người khác, không một đứa trẻ nào được làm con ông ấy nữa. Tôi phải giết ông ấy ngay đêm nay! Phải, ngay đêm nay!
Mãi lâu tôi mới nghe thấy tiếng mở mành, chắc ai đó đã đi ra sân, tôi vờ ngái ngủ gọi: Mẹ ơi! Mẹ chạy vào. Tôi vờ nhõng nhẽo đòi đi tiểu. Mẹ vén màn cho tôi ra. Tôi không đi tiểu mà lẻn vào bếp mò mẫm mãi mới nhặt được con dao tôi vẫn dùng thái các thứ lá để chơi bán hàng. Tôi vội giắt trong cạp quần đem vào giấu dưới gối rồi đi nằm. Tôi chờ cho ông ấy ngủ sau.
Sáng hôm sau, tôi giật mình tỉnh dậy khi nghe tiếng chị Thuý hỏi:
- Có chuyện gì thế mẹ? Sao mắt mẹ lại sưng mọng thế kia? Nhện nó đái vào mắt mẹ à?
Tôi chạy bổ ra ngoài thấy mẹ lắc đầu cười. Mẹ nói:
- Là bố con không thể ở nhà ăn tết cùng mẹ con mình được!
- Thế bố đâu rồi, mẹ?
- Bố đã đi cho kịp chuyến tàu.
Tôi sững sờ nhìn mẹ và chưa bao giờ thấy mẹ cười mà buồn đến vậy! Chị Thuý nhìn tôi, bịt mũi cười ngặt nghẽo:
- Mẹ! Mẹ nhìn nó kìa!
Tôi vội sờ tay xuống thấy quần mình còn ẩm và có mùi khai. Tôi không cười mà bật khóc nức nở vì đã để ông ấy đi mất. Mẹ không cười nữa, kéo tôi vào lòng, bảo:
- Thôi, để mẹ lấy quần khác thay cho con rồi còn đi học chứ!
Tôi vùng vằng:
- Con không đi học nữa đâu!
Mẹ dỗ dành:
- Ấy không. Không đi học sao được! Nào chị Thuý lấy bộ quần áo khác để mẹ thay cho em rồi dẫn em đi học kẻo muộn!
Tôi gào lên:
- Không đi học! Không đi học!
Tôi giằng lấy bộ quần áo từ tay chị Thuý đưa lên miệng nhe răng cắn xé. Chị Thuý lùi lại, kêu lên:
- Mẹ ơi! Nó điên thật rồi!
Lúc ấy, tôi điên thật. Trong tay tôi không phải là bộ quần áo mà là người đàn ông ấy. Mẹ bế tôi lên vỗ về âu yếm. Tôi ôm ghì lấy cổ mẹ và tấm tức khóc. Hôm ấy, ngồi trong lớp đầu óc tôi quay cuồng. Tôi không thể cầm bút viết nổi một con chữ nào trong giờ tập viết. Người tôi nóng hầm hập. Cô giáo phải dừng giờ dạy ở lớp để đưa tôi sang trạm xá. Đợt ấy, tôi ốm đến qua tết mới khỏi. Những ngày nằm bẹp trên giường, tôi chỉ mơ thấy cầm dao đuổi theo người đàn ông ấy.
Bẵng đi gần chục năm, tôi đã coi như quên người ấy. Trong cuộc sống của mẹ con tôi, tôi cố tìm mọi cách để không còn hình bóng gì của người ấy nữa. Tôi đã cố xoá nhoà những kỷ niệm buồn trong quá khứ. Chị Thuý đã đi làm ở phòng nông nghiệp huyện và đã có người yêu. Người yêu của chị Thuý phải công nhận là đẹp trai, có tài kể chuyện, lại rất khéo tay, làm việc gì cũng được. Chị Thuý yêu anh, ngưỡng mộ anh như thần tượng. Chị luôn thấy mình nhỏ bé trước anh. Còn tôi, tôi cứ thấy có gì gờn gợn trong ánh mắt, nụ cười của con người hào hoa ấy.
° ° °
Nồi cơm sôi trào xuống bếp gio, tôi vội lấy que cời xâu vào quai vung xoong để mở ra cho khỏi trào. Một mùi thơm giống như hương cốm mới ngào ngạt cả gian bếp. Mùi thơm của gạo tám. Tôi bỗng nhớ đến những bữa cơm thời xa xưa, khi mà tôi còn bé tí. Những lúc ấy tôi được ngồi trong lòng người đàn ông còn trai trẻ và thoả sức thò tay bốc nhón những thứ mình thích trong mâm mà không sợ bị mẹ đánh vào tay. Mùi thơm này lâu lắm rồi tôi không được ngửi, bởi vì sức mẹ chỉ đủ nuôi chị em tôi bằng hạt gạo khô xác, nở như bông, không còn cả mùi của cám. Nhìn những hạt gạo trắng bóng cười trong nồi tôi bỗng thấy tủi thân, nước mắt giàn giụa trên má. Những giọt nước mắt xót thương cho chính ba mẹ con tôi. Đến trưa, chị Thuý đi làm về cũng ngạc nhiên, ô a kêu lên như tôi khi thấy mâm cơm thịnh soạn đặt trên bàn. Chị còn thò tay nhón một miếng thịt gà rang bày trên đĩa bỏ vào miệng vừa nhai vừa cười khúc khích khi bị mẹ mắng. Lúc biết người khách về nhà mình là ai, chị chỉ thốt lên: "Thế ư mẹ?". Hình như chị còn chạy vào nhà chào người ấy. Về sau, tôi trách chị, chị bảo: "Là tao muốn xem ông ấy bây giờ thế nào thôi". Lúc sắp cơm ra tôi mới biết, ông ấy không về một mình mà còn đem theo một đứa con trai chừng sáu bảy tuổi. Thằng bé gày gò, ngơ ngác, vẻ sợ sệt hiện rõ trên nét mặt của nó và lúc nào nó cũng nép sau lưng ông ấy. Tôi nhìn nó bằng ánh mắt căm thù. Chính nó là kẻ đã cướp mất bố của tôi. Tôi căm nó và chỉ muốn tiện chân cho nó một cú đá "thọt dái lên cổ" mới bõ hận. Sắp xong bữa, mẹ vào nhà dắt thằng bé ra giếng, lấy khăn mặt của mình rửa ráy cho nó. Thằng bé có vẻ sợ hãi cứ cúi gằm mặt nhìn xuống đất. Mẹ vừa rửa vừa tỉ tê nói với nó điều gì đó như dỗ dành. Tôi đi ra giếng định sẽ cho nó một câu gì để bõ tức, nhưng gặp ánh mắt đau đáu như van xin của mẹ nhìn tôi nên lại thôi. Mẹ vén ống quần của thằng bé lên. Khiếp, chân với cẳng gì mà như hai cái ống nứa tép. Tôi chỉ gạt mạnh một cái là gãy. Những ngón tay mẹ nhè nhẹ kỳ vết đất bám quanh cổ chân thằng bé đầy vẻ xót xa. Ngày xưa, mẹ cũng kỳ cọ chân cho tôi như vậy. Sao bây giờ mẹ lại cũng rửa chân cho thằng bé như đã rửa cho tôi? Mẹ đang san sẻ tình thương của tôi sang cho nó. Cho cái thằng đã cướp mất bố của tôi. Uất ức tôi huỳnh huỵch chạy vào trong bếp.
Bữa trưa hôm ấy tôi định không ăn cùng mọi người. Tôi kêu đau bụng. Mẹ năn nỉ mãi tôi mới miễn cưỡng ngồi xuống góc chiếu. Mẹ xới cơm cho cả nhà, ân cần giục mọi người ăn cho nóng. Tôi để ý thấy mẹ vẫn điềm đạm như mọi ngày. Mẹ với tay sang phía bên kia mâm lấy chai rượu rót ra chén nâng bằng cả hai tay đặt xuống trước mặt ông ấy. Đã lâu lắm trong nhà tôi mới có hơi rượu cay nồng ngào ngạt trong bữa ăn. Mẹ gắp cái đầu gà luộc đặt vào bát cho ông ấy rồi giục khẽ:
- Mình uống rượu đi! Rượu nhà nấu đấy mà. Mình uống thử xem có ngon không?
Chị Thuý thật thà:
- Lâu lắm rồi mẹ chỉ nấu rượu để bán mà không để lại chai nào.
Tôi không cần giữ ý, sẵng giọng:
- Để lại cho ai uống mà để!
Ông ấy vừa nhấc chén rượu lên lại run run đặt xuống mâm. Hình như ông ấy khóc. Khóc mà không hề có nước mắt chảy ra như tôi vẫn khóc. Làm như không có chuyện gì, mẹ đưa tay đón thằng bé đang ngồi nép cạnh ông ấy sang để cho nó ngồi vào lòng mình, xé thịt gà cho nó ăn. Thằng bé muốn chết ngẹn nhưng thi thoảng nó vẫn liếc nhìn tôi đầy vẻ sợ sệt. Mỗi lần thấy nó nhìn mình, tôi lại trợn mắt thầm dọa: "Đợi đấy, rồi tao sẽ cho mày biết tay!". Thằng bé vẫn lén nhìn trộm tôi và vẫn nuốt vội những miếng thịt gà to tướng. Chắc lâu lắm nó mới được ăn bữa cơm như thế này. Nó có biết đâu rằng chị em tôi cũng không hơn gì nó.
Hôm sau, lúc ngồi xem mẹ cất rượu, tôi hỏi:
- Bao giờ ông ấy đi, mẹ?
- Cũng lâu lâu, con ạ!
Tôi giận dỗi:
- Giữ ông ấy lại làm gì? Đây không còn là nhà của ông ấy nữa!
Mẹ giận dữ vung tay mạnh về phía tôi. Tôi nhắm mắt chờ đội một cái tát nhưng mẹ lại buông thõng bàn tay xuống và ghé mắt vào cửa bếp thổi lửa. Tôi đứng dậy ấm ức bỏ ra ngoài. Nếu tôi là mẹ, tôi đã kéo chà rào rấp ngõ từ lâu. Đằng này... Tự nhiên, từ thương mẹ, tôi đâm giận lây cả mẹ. Chị Thuý thì cứ vô tư vùi đầu vào công việc và say mê với tình yêu của mình để mặc cho mỗi mình tôi với nỗi ấm ức không có cách nào giải toả. Ông ấy thì hầu như suốt ngày chỉ quanh quẩn ở trong nhà, thằng bé cứ bám riết lấy ông ấy như con chó trung thành với chủ. Nó luôn nhìn mọi người với con mắt sợ sệt. Mẹ lúc nào cũng ngọt ngào với nó mà nó có vẻ vẫn sợ. Còn tôi, chỉ chờ dịp là tìm cách hăm doạ nó, chí ít là tôi cũng trợn mắt lên. Có lần tôi vờ vô ý dẫm chân lên nó. Nó đau đến chảy nước mắt mà không dám hé răng kêu một tiếng. Nhưng thực ra tôi cũng chẳng khoái gì với việc đó. Ánh mắt của thằng bé và sự lặng lẽ của ông ấy chỉ làm tôi cảm thấy nặng nề thêm. Tôi thấy mình cô đơn ngay trong nhà mình. Tôi nhìn ai cũng với vẻ cảnh giác, xa lạ. Gặp ánh mắt say đắm của ông anh rể tương lai nhìn chị Thuý, tôi cũng thấy đằng sau đó có ẩn chứa một điều gì đó đầy sự bất trắc. Dì Xuyến thì mãi vẫn không lấy chồng làm cho bà ngoại lo lắng đến phát bệnh. Bà mắng, dì cười trừ nói là sợ đàn ông. Tôi thì không sợ mà tôi ghét, tôi hận họ.
Chiều thứ bảy, tan học, tôi tìm đến chỗ dì Xuyến làm. Tôi ở với dì suốt ngày chủ nhật và xin dì cho tôi ở với dì ít hôm. Dì phải nhờ người nhắn về nhà cho mẹ khỏi lo. Dì còn hứa cho tôi mượn xe đạp để đi học. Tôi hỏi dì bao nhiêu là chuyện. Chỉ riêng chuyện về ông ấy là tôi tránh. Là người tế nhị, dì cũng không hề đả động đến chuyện trở về của ông ấy, chuyện mà cả làng tôi ở chỗ nào cũng thấy người ta xì xào bàn tán. Từ chỗ dì Xuyến làm đến trường học của tôi cách khoảng sáu bảy cây số. Dì Xuyến bảo nếu tôi đủ sức đạp xe hơn chục cây số đi về mỗi ngày thì tôi có thể muốn ở với dì bao lâu cũng được, dì sẽ xin mẹ cho. Tôi ôm lấy cổ dì. Dì đẩy tôi ra, dí ngón tay vào trán tôi, mắng: "Còn bé lắm đấy!". Tôi cười, dụi mặt vào ngực dì. Tôi thấy mùi dì cũng thơm như mùi mẹ. Tối tối, tôi ngồi học bài, bên cạnh dì Xuyến ngồi loay hoay may vá. Tôi khoái chí nghĩ, không lấy chồng như dì Xuyến lại hoá hay. Sau này, tôi cũng sẽ sống như dì Xuyến. Có tôi, dì có vẻ vui hơn. Lúc rảnh rỗi hai dì cháu tôi lại kéo nhau đi chợ, dù đi chả để mua sắm thứ gì. Tôi cũng nguôi dần chuyện ông ấy nên hàng tháng liền dì cháu tôi không nghĩ đến chuyện về nhà. Tôi lại chuyên tâm cho việc học và thi thoảng lại có thể khe khẽ cất lên những câu hát vu vơ.
Một hôm đi học về, tôi thấy mảnh giấy để trên bàn. Dì Xuyến dặn: "Cơm trong chạn, cháu cứ ăn rồi học bài. Dì có việc về qua nhà. Tối sẽ lên!". Đọc xong, tự dưng tôi thấy nao nao. Tôi nhớ mẹ. Tôi chẳng muốn ăn cơm, cũng chẳng muốn học bài. Suốt buổi chỉ ngồi bó gối ngóng ra đường chờ dì Xuyến. Tôi chờ mãi đến quá giờ cơm chiều dì Xuyến mới về. Hai dì cháu tôi hâm lại cơm nguội và ngồi ăn với nhau không một chút hào hứng. Tối hôm ấy, không hiểu sao tôi học mãi mà chẳng thuộc được chữ nào. Ngồi bên cạnh, dì Xuyến cứ mải làm cái gì đó như chẳng hề có tôi tồn tại trong phòng. Không hiểu ở nhà có chuyện gì không mà từ lúc về đến giờ dì chẳng nói với tôi một câu làm tôi đoán già đoán non mãi. Cuối cùng, tôi đành hỏi:
- Ở nhà có chuyện gì không hở dì?
Không ngẩng lên, dì hỏi lại:
- Chuyện gì là làm sao?
- Là bà ngoại, ông bà nội cháu, mẹ cháu có khoẻ cả không?
- Khoẻ.
- Chị Thuý có hay về không?
- Có.
Như những câu hỏi của tôi không làm dì bận tâm nên dì vẫn cắm cúi với công việc của mình. Hồi lâu, tôi lại hỏi:
- Dì, mẹ không nhắn gì cháu sao?
- Có đấy! - Dì đáp.
Tôi ngạc nhiên:
- Sao dì không nói với cháu?
Dì Xuyến chậm rãi:
- Nhưng cháu không muốn nghe điều này.
- Sao dì biết?
- À, vì cháu đã không thích ở nhà mà lên đây với dì.
Tôi hiểu và im lặng. Dì Xuyến cũng im lặng. Tôi vờ như không quan tâm đến điều đó nên cúi đầu xuống trang vở nhưng rồi mãi cũng chẳng có chữ nào đọng lại trong đầu. Tôi chỉ nghe tiếng con mọt nghiến kèn kẹt trong một cái chân giường phía sát tường. Chắc con mọt này đã già lắm rồi nên tiếng nghiến gỗ rời rạc đứt ra thành từng đoạn ngắn, lúc to, lúc nhỏ. Tôi có cảm giác tiếng con mọt cứ chậm rãi, nhẫn nại nghiến tôi đứt dần ra từng đoạn làm tôi phải vén áo của mình lên xem. Cứ mãi như vậy, tôi không thể chịu nổi.
- Cháu muốn nghe, dì Xuyến ạ!
Dì Xuyến đến ngồi cạnh tôi, khe khẽ thở dài:
- Bố cháu, à ông ấy đang ốm. Nặng lắm! Chắc khó qua khỏi. Mẹ cháu muốn cháu về...
Dì chỉ nói vậy và đặt tay lên vai tôi bóp nhẹ rồi đứng dậy đi ra ngoài để lại tôi ngồi một mình với những con chữ nhảy múa lung tung trên trang vở.
Ông ấy ốm! Làm sao mà ốm! Lại còn chắc khó qua khỏi! Nghĩa là ông ấy đang phải cận kề bên cái chết. Ngay từ hôm về, ông ấy trông lọm khọm như người sáu bảy mươi tuổi, da dẻ lúc nào cũng vàng ệch như xát nghệ. Mẹ chăm mãi cũng chỉ có mỗi thằng bé là phổng phao lên được tí chút. Nó đã gần chín tuổi mà trông không bằng con người ta lên năm, lên sáu. Sao mà tôi ghét nó thế! Cho dù chưa lúc nào nó dám nhìn thẳng vào tôi. Đêm nằm cạnh dì Xuyến, tôi hỏi:
- Mẹ thằng bé có về không?
- Nó không còn mẹ! Nó chẳng có cậu, cũng chẳng có dì và cũng không còn ông bà ngoại...
Tôi bỗng thấy lạnh toát một bên người.
Hôm sau, tôi dạy sớm gói ghém bộ quần áo cho vào túi. Dì Xuyến lấy xe đạp lai tôi về. Nhà tôi có đông người qua lại. Tôi len lén lách moi người vào trong nhà sao cho không ai để ý đến sự có mặt của mình. Mẹ đang ngồi cạnh giường bón cho người ốm thìa nước cháo. Thằng bé đứng ở phía cuối giường. Nó như cũng đang cố thu nhỏ người lại. Thấy tôi vào, nó từ từ ngồi nép xuống đất như lẩn trốn. Người ốm chợt nhìn thấy tôi. Lần đầu tiên kể từ hôm ông ấy về, tôi nhìn thẳng vào mặt ông ấy với ánh mắt không giận dữ. Một vẻ gì bỗng bừng lên làm rạng rỡ gương mặt u tối, người ốm cố vươn cánh tay về phía tôi, nặng nhọc nói từng lời rời rạc:
- Thanh... con... tha... lỗi... cho... bố...
Nước mắt tôi bỗng túa ra. Người ốm vẫn nhìn tôi như cầu khẩn. Tôi khẽ gật đầu. Người ốm ngả hẳn đầu xuống gối, miệng hơi nhếch lên như mỉm cười rồi từ từ nhắm mắt. Ai đó kêu lên: "Thôi, ông ấy đi rồi!". Mẹ như đổ gục xuống cạnh giường. Thằng bé vụt qua mặt tôi, chồm lên giường ôm chặt lấy người ốm. Không ai nghe thấy tiếng nó khóc. Không ai giằng được nó ra khỏi giường. Một phút sững sờ, tôi bổ đến, ôm ghì lấy nó. Thằng bé bỗng quay hẳn người lại, rúc mặt vào ngực tôi. Nó khóc. Tiếng "Bố!" nghẹn đắng trong cổ tôi không sao thoát ra được.
° ° °
Sau đấy, mẹ vẫn lầm lụi sống nuôi ba chị em tôi. Thằng bé bắt đầu đi học. Về nhà, tôi dạy kèm cho nó để đuổi kịp bọn trẻ cùng tuổi. Tối đến, tôi rửa chân tay cho nó. Nó tin cậy chìa bàn chân ra cho tôi mà không sợ tôi bẻ gãy. Càng ngày, tôi càng thấy gắn bó với nó và nó cũng dần dần sống cởi mở với mọi người.
Dù muộn màng nhưng rồi dì Xuyến cũng lấy chồng. Chồng dì là một bác bộ đội trong ngày 22-12 hàng năm có huân huy chương đeo nặng cả ngực áo. Hình như dì chờ người ấy vì đấy không phải là ai xa lạ mà chính là bác Đông cùng làng. Chẳng hiểu bác là gì mà đi biền biệt mãi đến bây giờ mới về làng để làm đám cưới.
Tôi hỏi dì Xuyến:
- Sao người ta lại cứ phải lấy chồng, dì nhỉ?
Ôm ngang lưng tôi, dì Xuyến thở dài:
- Phận đàn bà, con ạ!
HOÀNG PHƯƠNG NHÂM
Nguồn: Thơ Văn Trần Yên Hoà
NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ CUỐI NĂM
Phòng bếp nhỏ, sực nức mùi bơ rán, mùi cá chiên và thức ăn lạnh ủ lâu ngày. Trong những căn hộ nhỏ cho thuê, không khí không có lối thoát, nhất là vào mùa đông, các cửa đều đóng kín, nên mùi thức ăn cứ bay luẩn quẩn, chui rúc trong những góc tối của căn phòng.
<!>
Cửa ra vào treo một vòng hoa nhỏ bằng vỏ bào. Tủ kính kê sát tường xếp đủ loại chai lọ lỉnh kỉnh bằng thủy tinh. Bốn người đàn bà quây quanh chiếc bàn gỗ đánh bài. Tiền lẻ quăng vung vãi trên bàn nhưng vẫn chia ra thành bốn tụ. Người đàn bà thứ năm ngồi đan áo hoặc là một chiếc khăn choàng màu lông chuột bên cạnh cửa sổ trông ra đường. Bên ngoài tuyết phủ trắng xóa và bầu trời xanh xám với những cụm mây nhỏ màu chì. Ánh mặt trời chiếu xuyên qua những tảng băng bám dầy trên cây làm chúng trở nên trong suốt như pha lê. Không một bóng người. Động vật sống duy nhất lúc đó là bầy quạ đen gục đầu ủ rũ như những chiếc lá khô khổng lồ còn níu lại được trên những cành khẳng khiu đâm ngang qua ô cửa.
Trong phòng chỉ nghe thấy tiếng máy sưởi chạy o o và tiếng rên của chiếc tủ lạnh khi khởi động lại máy. Thỉnh thoảng nghe tiếng đập bài đánh xoạch xuống mặt bàn. Tiếng ho khan, tiếng xuýt xoa và tiếng cười vang sung sướng. Người đàn bà mặc chiếc áo len cổ lọ màu vàng đề nghị, bật nhạc lên nhé. Nhạc gì cũng được. Nhưng phải là nhạc Việt Nam. Người đàn bà đeo chiếc băng đô đỏ với tay bật cassette. Tiếng hát Tuấn Ngọc vang lên, giống như vẳng ra từ trần nhà dán giấy hoa tím nhạt. "Em còn nhớ hay em đã quên… Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng…". Tao không thể chịu được giọng của Tuấn Ngọc. Vì nó đàn ông quá. Những người có tính cách quá đàn ông thường làm phụ nữ khổ. Người đàn bà có đôi mắt cắt mí kẻ chì đen đậm theo phong cách những năm sáu mươi, bảy mươi bảo. Khi hát bài này, nó làm tim tao đau nhói. Cuộc sống ở đây cuốn mình đi. Tao có cảm giác mình đã quên dần Sài Gòn. Người đàn bà mặc chiếc áo lót đen để trễ nải qua cổ áo hình trái tim xẻ rộng đưa tay kéo lại dây áo lót vào phía khuất trong áo, khóe miệng trễ xuống hình dấu ớ. Chị lặng lẽ xốc lại bài và chia đều ra thành bốn tụ. Có ai uống cà phê không? Người đàn bà đeo băng đô đứng lên. Chị có thân hình to cao. Bộ ngực vồng lên làm chật căng chiếc áo thun hoa đen trắng. Giờ này trong công sở tao phải uống một ly cho tỉnh ngủ. Không biết bao giờ mới hết tình trạng thiếu ngủ như thế này. Đấy là một đòi hỏi quá cao ở nước Mỹ. Người đàn bà đeo vòng cẩm thạch ở cần cổ trắng, cao nhưng đã có những nếp da bắt đầu xếp lên nhau ngồi bên cửa sổ vừa đan vừa góp chuyện. Nhà chỉ có cà phê Mỹ thôi. Ở trong tủ gỗ đó. Người đàn bà đeo băng đô đỏ nói, vậy cũng được. Tao đã quen với vị cà phê Mỹ rồi. Hai mươi mấy năm đủ làm tao quen với tất cả mọi thứ. Chị lui hui pha cà phê rồi bưng chiếc bình nghi ngút khói lại. Miệng bình chạm vào thành ly sứ lanh canh. Một chất nước nâu lờ nhờ chảy ra. Loãng và gần như không mùi thơm ngoài vị đắng, hăng hắc. Chị uống không đường, không sữa. Không ai uống cà phê với chị. Người đàn bà mặc áo lót đen uống sữa tươi. Những người khác uống nước cam đóng hộp lấy từ tủ lạnh ra. Hơi lạnh làm thành ly mờ đục như phủ khói. Người đàn bà đan áo hỏi, có muốn ăn gì không? Người đàn bà có đôi mắt cắt mí trả lời, thôi. Để bụng đến giao thừa. Chỉ còn có vài giờ đồng hồ nữa.
Con chim gỗ gõ vào khúc cây chín tiếng. Bão tuyết lồng lộn ngoài ô cửa, tạo thành những cuộn lốc màu trắng với những đám bụi mờ mịt. Mặt trời khuất đâu đó sau những rừng cây trụi lá. Trời vẫn sáng. Một thứ ánh sáng lạnh lẽo màu xám buồn. Những con quạ đen cuối cùng đã bay đi. Khắp nơi phủ màu trắng xóa. Cả đến bầu trời xám cũng đã chuyển dần sang màu trắng đục. Có bóng một chiếc áo khoác da nâu di chuyển dần về hướng ô cửa người đàn bà đan áo đang ngồi. Chị hơi nhỏm người lên. Cánh tay tỳ lên bậu cửa nổi rõ những sợi gân xanh. Bóng áo khoác nâu khuất dần.
Có tiếng gõ cửa. Lúc đầu nhỏ sau to lên dần. Chùm chuông trên cửa kêu những tiếng trong veo. "Có khách" Những người đàn bà bỏ bài xuống chờ đợi. Người đàn bà đan áo lẩm bẩm, có thể là con bé Vi. Nó luôn luôn quên chìa khóa ở đâu đó. Chị đứng dậy nhưng không để ý cuộn len đang nằm trong lòng. Nó lăn xuống, chạy dài dưới đất. Con mèo con như một cuộn lông tơ vàng từ góc nhà nhảy xồ ra, hất tung cuộn len lên trời. Người đàn bà cẩn thận nhìn qua lỗ nhỏ trên cánh cửa rồi mở cửa. Giá lạnh ùa vào cùng với người lạ, mang theo hơi ẩm ướt và mùi vị nhàn nhạt của tuyết và gió. Người đàn bà khẽ kêu lên một tiếng nhỏ nhưng vẫn đứng yên. Bốn người đàn bà ngồi ở bàn quay lại, nhìn người lạ dò xét. Người lạ gật đầu chào, lúng túng không biết nên cởi giày hay không. Sàn trải thảm nhung nâu đất viền hoa vàng rất đẹp và sạch sẽ. Cũng không biết đặt áo măng tô ở đâu vì không có móc ở trên tường. Người lạ nhìn quanh, rụt rè bảo, ở ngoài lạnh quá. Cháu muốn gặp mẹ của Vivian. Có cô ấy ở đây không ạ?
Là tôi đây. Người đàn bà đan áo trả lời. Lúc này chị mới nhìn rõ người lạ. Một cậu thanh niên chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi. Da trắng, mũi thẳng. Tóc cắt bàn đinh, phía trước hơi nhuộm vàng để lộ vầng trán cao rộng và đôi mắt một mí xếch dài. Đôi môi mỏng khi cười kéo thành hai sợi chỉ nhưng trở nên duyên dáng nhờ lúm đồng tiền ở bên má trái. Trông cậu giống một người Triều Tiên hơn là một người Việt Nam. Và giống hệt một người…Nghĩ đến đấy tim chị nhói đau. Chị trấn tĩnh lại hỏi, xin lỗi, cậu là ai? Cháu là bạn của Vivian. Cháu tên Tường. Chị đưa tay lên xoa mặt. Chị hỏi, họ của cháu là gì? Thế con bé không về à? Họ của cháu là Nguyễn. Nguyễn Xuân Tường. Vivian không báo gì cho cô biết sao? Người đàn bà đan áo kín đáo thở một hơi dài. Người ấy họ Kim kia. Một cái họ đặc biệt chẳng thể lẫn được với ai. Mà mình sao lạ. Nhớ nhung chuyện đó để làm gì. Hai mươi mấy năm rồi. Trong khi đó người lạ vẫn tiếp tục nói, bằng một thứ tiếng Việt không sõi, Vivian không về được vì không xin phép nghỉ được ở công ty. Cô ấy nhờ cháu mang cái này, à mang cái quà này tới cho cô. Người đàn bà đan áo kéo cậu vào phòng khách, đặt cậu ngồi trên chiếc sô pha ấm áp, rót cho cậu một ly cà phê và bảo, Vi có nói với tôi là nó sẽ cố gắng về. Bảy năm rồi nó không đón Tết ở nhà. Vậy mà…Những tháng đầu năm này công ty có nhiều việc lắm. Người lạ đổi tư thế ngồi cho thoải mái hơn. Chúng cháu không thể nghỉ được. Không thì là bị mất việc thôi. Cậu quay mặt đi, đưa tay che miệng ngáp. Rồi cười ngượng nghịu, năm hôm nay cháu thức trắng đêm. Lại phải lái xe từ New York về đây nên mệt quá. Người đàn bà hỏi, thế cháu ở chơi với cô được lâu không? Cậu bảo, tý nữa cháu có hẹn làm việc với khách hàng và lại che miệng ngáp. Người đàn bà đan áo đứng dậy bảo, thôi được rồi, để cô đi làm chút gì nóng cho cháu ăn đã. Chị quay trở lại bếp. Khi đến cửa, chị ngoái nhìn lại. Tường đã ngủ. Đầu ngoẹo sang một bên. Cái cà vạt lụa in hoa sặc sỡ buông thõng thượt trên ngực áo. Tim chị lại nhói đau. Chị bảo, sao mà có người giống người làm vậy.
Trong bếp những người đàn bà vẫn đang chơi bài. Người đàn bà mặc áo cổ lọ hỏi, ai thế? Người đàn bà đan áo trả lời, bạn của con bé Vi. Vậy là cả cái Tết này nữa, nó cũng không về. Tội nghiệp thằng bé, đi cả một đoạn đường dài, chưa kịp ăn uống gì đã ngủ mất.
Chà, con bé Vi dạo này thế nào rồi nhỉ? Người đàn bà có đôi mắt cắt mí nói, quay qua quay lại đã gần chục năm không gặp nó. Cô nàng chắc giờ khác lắm. Nó ngày càng xinh đẹp, người đàn bà đan áo nói, và giờ thì quên tiếng Việt nhiều lắm rồi. Gọi điện về cho mẹ chỉ toàn nói tiếng Anh. Mình cũng dở, hồi đó cứ sợ nó không hòa nhập được với xã hội Mỹ nên không chú tâm vào việc cho nó học tiếng Việt. Chuyện bình thường thôi. Người đàn bà đeo băng đô đỏ nói. Lũ trẻ bây giờ là vậy. Mà nó phải là vậy. Sống ở Mỹ, làm việc với Mỹ, cái gì cũng dính Mỹ hết. Hỏi làm sao nó không quên dần tiếng Việt được. Thì biết là thế. Người đàn bà đan áo miết những ngón tay thon dài lên cạnh bàn, nhưng vẫn cứ buồn. Tất cả những ngày lễ Tết dân tộc chúng nó chẳng còn quan tâm để ý đến nữa. Chúng nó cứ lấy công việc bận rộn ra mà bào chữa. Thật ra thì chỉ vì chúng mình già rồi chúng mình mới nghĩ thế. Người đàn bà mặc áo cổ lọ nói. Khi già người ta mới thấy cái gốc quan trọng thế nào. Người ta mới thấy cần quê hương đến mức nào. Bọn trẻ bây giờ, việc sống để tồn tại trên đất Mỹ này đã đủ để choán hết thời gian và suy nghĩ của chúng rồi. Quan trọng là cái lòng mình thôi, chứ thái độ bên ngoài đâu có chắc là thật đâu. Người đàn bà mặc áo lót đen lại đưa tay sửa lại áo nói. Hôm vừa rồi bà chị tao ở Việt Nam về mang theo mấy tờ báo trong đó viết về giới trẻ với việc bảo tồn bảo tàng văn hóa dân tộc. Cứ gì nước Mỹ mà ngay cả ở quê mình, không thiếu những đám thanh niên vọng ngoại. Chúng vẫn chơi suốt những ngày lễ, nhưng ý nghĩa của mấy ngày lễ đó thì chúng hoàn toàn mờ tịt. Thế thì có được gì đâu. Chị lại khẳng định lại một lần nữa. Cho nên tao nghĩ cái chính là ở lòng mình. Chị đứng dậy xoa tay vào bụng, vặn người. Những khớp xương kêu răng rắc. Mười giờ rồi, chuẩn bị là vừa thôi. Người đàn bà đeo băng đô đỏ cũng đứng dậy, mở tủ lạnh. Trong tủ lạnh, đồ ăn chất đầy ngất. Người đàn bà mặc áo lót đen tiếp tục. Nếu tụi mình không gặp mặt ngày hôm nay, thì cũng chẳng có ngày Tết nào cả. Hai thằng con với ông xã đều phải đi làm, thậm chí chúng nó đi đến khuya mới về. Ăn bậy bạ vài thứ rồi lăn quay ra ngủ. Này, cái con gà này định làm món gì? Xé phay nhé. Tao nhớ hồi ở nhà Tết mình hay mua con gà trống bẻ chân bẻ cánh, gắn hoa huệ ở trên mỏ nó để cúng ông bà. Cái dáng của con gà sao đẹp quá thế. Rồi lúc cúng xong thì đem xuống chặt miếng chấm muối tiêu chanh ăn với lá chanh sắt sợi. Thịt nó ngọt và dai. Chứ không bở như gà Mỹ thế này.
Ở ngoài phòng khách có tiếng động. Người đàn bà đan áo rời khỏi chỗ, có lẽ thằng bé đã dậy. Các cậu muốn làm món gì thì làm. Mọi thứ có sẵn hết rồi. Người đàn bà có đôi mắt cắt mí giở gương chải lại tóc, bảo, nhớ nói cậu ấy ở lại chơi nhé.
Tường đã dậy, loay hoay sửa lại chiếc cà vạt. Người đàn bà đan áo bước vào bảo, cháu thôi không ngủ nữa à? Tường trả lời, mắt sốt ruột nhìn đồng hồ. Cháu ngủ quên mất. Cháu phải đi bây giờ đây, không lại muộn hết việc. Thế cháu không ở chơi với cô được sao? Đôi mắt chị thoáng vẻ thất vọng. Các dì ấy đang chuẩn bị một vài món đón năm mới. Năm mới? Tường trợn mắt. Chẳng phải năm mới đã qua hơn một tháng nay rồi. Chị đưa tay lên xoa mặt, mỗi khi xúc động chị lại có thói quen đưa tay lên xoa mặt , không, là năm mới theo Tết âm lịch kia. Oh really, Tường đập tay vào trán. Cháu tệ thật. Hóa ra hôm nay là năm mới của Việt Nam. Cháu tiếc quá. Nhưng cháu phải đi thôi. Cậu chỉ gói quà đặt trên bàn, là của Vivian gửi cho cô. Cháu cũng chẳng biết đấy là cái gì nữa. Nhưng cô ấy dặn phải cẩn thận ghê lắm. Thôi cháu đi cô nhé. Cháu rất vui khi được gặp cô. Cô đẹp hơn cháu tưởng nhiều. Tường bước tới, choàng tay ôm người đàn bà. Chị thấy xúc động. Vì sự có mặt của chàng trai trẻ này trong nhà vào một ngày cuối năm. Nó nhắc chị nhớ đến mối tình đầu và nhớ đến con bé Vi yêu thương. Nửa năm rồi cô không gặp Vi, chị hỏi, nó vẫn khỏe chứ cháu? Tường bảo, Vivian vẫn khỏe. Và nhắc đến cô luôn.
Họ đi ra cửa. Đi ngang qua nhà bếp, chỗ những người đàn bà đang nhộn nhịp nấu ăn. Người đàn bà đan áo bảo, Tường bận việc phải đi. Tường cười, gật đầu chào từ biệt. Người đàn bà mặc áo lót đen bảo, nửa đùa nửa thật, không thể ở lại được à? Chúng tôi nấu để thết đãi cậu đây. Bây giờ cậu đi thì ai ăn hết chỗ thức ăn này chứ? Tường cười bối rối. Sao con trai mà hiền thế, người đàn bà có đôi mắt cắt mí cũng cười, hiền thế thì sao đủ tiêu chuẩn làm bodyguard cho cháu gái tôi được. Mọi người bật cười làm Tường đỏ mặt. Người đàn bà đan áo bảo, thôi đi các bà. Để cháu nó đi không muộn việc. Hai người ra đến cửa còn nghe tiếng cười và giọng nói cố đuổi theo họ, chưa gì mà đã bênh chăm chặp con rể tương lai rồi. Người đàn bà mở cửa, lại hỏi, cháu họ gì nhỉ. Tường trả lời, vẻ hơi ngạc nhiên, cháu họ Nguyễn. Nguyễn Xuân Tường cô ạ. Người đàn bà lầm bầm, thế mà nó chẳng nói gì trước với mình cả. Cái con bé Vi này.
Cánh cửa gỗ khép lại. Tấm bảng mica khắc dòng chữ "Hãy đến và đi với nụ cười hạnh phúc" màu hồng rung lên nhè nhẹ rồi đứng yên trở lại. Người đàn bà đan áo quay trở lại ô cửa sổ, dõi mắt nhìn xuống đường. Tường đang đi xiên xẹo dưới sân vì tuyết rơi khá dầy. Một lúc thì khuất sau lưng tòa nhà. Từ đó một chiếc xe Civic màu đen, trần bám đầy tuyết lao vụt ra. Đôi mắt với những sợi lông mi dài của người đàn bà khép lại ."Ngoài kia tuyết rơi đầy. Sao anh không đến bên em chiều nay. Ngoài kia tuyết rơi rơi. Trong buốt giá tim em lẻ loi…" Giọng ca khàn của cô ca sỹ già văng vẳng trong lòng chị. Chị bảo, mọi người có thấy nó giống Hoàng không. Đấy là tại lòng mày thôi. Người đàn bà mặc áo lót đen nói, chứ nó có giống Hoàng chút nào đâu.
Những người đàn bà bắt đầu dọn bàn ăn. Chỉ có năm người nhưng họ bày biện đủ các món. Tất cả đều là những món đông lạnh mua sẵn ngoài cửa tiệm Việt Nam. Về nhà, bỏ vào lò vi ba, năm phút sau là xong. Cũng khói bay nghi ngút. Nhưng hương vị nhạt hơn nhiều.
Mọi người vào phòng thay đồ. Người đàn bà đan áo mặc áo dài nâu. Người đàn bà đeo băng đô đỏ mặc áo dài màu thiên thanh hoa vàng. Người đàn bà mặc áo lót đen bận áo dài xám. Người đàn bà có đôi mắt cắt mí mặc áo gấm đỏ. Ngưới đàn bà bận áo cổ lọ mặc áo nhung đen in mờ những chiếc lá hình trái tim. Trông họ nghiêm trang và trở về với đúng tuổi của mình.
Người đàn bà đan áo bảo, kéo rèm lại nhé. Người đàn bà đeo băng đô đỏ mở tủ lấy chai sâm banh và người đàn bà mặc áo cổ lọ bày ly lên bàn. Đồng hồ chỉ mười một giờ kém năm.
Căn phòng tối sầm lại, như trong đêm. Chỉ thấy lờ mờ những khuôn mặt trắng của những người đàn bà và bóng người đàn bà đan áo di chuyển đến gần chiếc tủ gỗ đặt điện thoại và một bình hoa cúc dại. Chị khom người đốt nến. Ánh sáng tỏa ra màu hồng nhạt, có mùi thơm của cỏ. Chị đi một vòng và đốt những cây đèn cầy còn lại. Những cây nến hình vuông, đủ màu với những cánh hoa nhấn chìm trong đó, làm chúng trở nên huyền ảo. Những giọt sáp chậm chạp chảy tràn xuống mặt bàn. Trên đường đi chúng đã kịp đông lại và xoắn xuýt với nhau thành những hình thù kỳ lạ. Mùi thức ăn loãng dần. Căn phòng tràn ngập mùi nến, ấm cúng và thơm tho. Đó là mùi hương quen thuộc của bất kỳ gia đình nào ở Mỹ. Nhưng giờ đây, trong không khí này, nó gợi nhớ đến một mùi hương xưa cũ với tuổi thanh xuân và những tà áo dài sột soạt trong ngày lễ hội. Tuổi thanh xuân của chúng ta… Ai đó cất tiếng khe khẽ. Người đàn bà mặc áo cổ lọ thở dài, nhưng thời đó đã qua rồi. Chúng ta đã già.
Người đàn bà đan áo quay về lại chỗ cũ, bên cửa sổ kéo kín rèm. Chị ngồi thẳng lưng, hai tay chắp trên đầu gối. Con mèo con đã bỏ đi đâu mất. Cuộn len nằm lăn lóc trên sàn. Người đàn bà ngồi đầu hơi gục xuống, lưng tạo thành một đường cong duyên dáng. Người đàn bà có đôi mắt cắt mí nằm xoài ra bàn, ấp những ngón tay dài lên mặt. Người đàn bà mặc áo cổ lọ châm thuốc hút. Khói bay thành những vòng tròn nhỏ không hiểu sao lại thơm mùi bạc hà. Hai người đàn bà còn lại ngồi tựa lưng vào thành ghế, người như sắp trôi tuột xuống đất. Người đeo băng đô đỏ ư ử trong cổ họng một bài hát tiếng Anh.
Lời bài hát thế này " Hãy nhắm mắt lại và đưa bàn tay của anh cho em. Anh có nghe thấy chăng trái tim em đang đập. Và anh có hiểu, anh có cảm thấy như em…" . Những người đàn bà khác hát hòa giọng theo. Người đàn bà mặc áo lót đen dùng chiếc muỗng bạc gõ vào thành ly leng keng. Con chim gỗ nhỏ lại thò đầu mổ vào khúc cây treo trên tường mười một tiếng. Đến tiếng thứ chín thì người đàn bà mặc áo lót đen nổ sâm banh. Bọt rượu tràn ra ngoài, chảy xuống tay chị ướt đẫm.
Mọi người chạm ly. Và gắp bánh chưng vào chén. Nhưng chẳng ai muốn đụng đũa. Người đàn bà mặc áo cổ lọ thì thầm, giờ này ở nhà mọi người đang đón giao thừa. Cũng uống sâm banh và bổ dưa hấu. Rồi đi hái lộc trong chùa. Mình ngồi đây nhớ mọi người ở nhà nhưng chắc mọi người chả ai nhớ đến mình. Người đàn bà đeo băng đô bảo, hai mươi lăm năm rồi. Năm nào cũng chỉ có duy nhất ngày này là thấy giống những ngày ở Việt Nam nhất.
Người đàn bà đan áo đi vào phòng khách. Khi quay trở lại, trong tay chị ôm món quà của cô con gái. Chị đặt nó lên bàn, bảo, quà Năm mới của con bé Vi đấy. Nó chắc chẳng nhớ đến giờ giao thừa này đâu.
Chị gỡ lớp giấy bọc xung quanh. Khi lớp giấy vừa được bóc ra, mọi người ồ lên. Đó là một gốc mai nhỏ trồng trong chậu đất bằng sứ. Trên cành, chỉ có duy nhất một chiếc nụ đang èo uột nở và một bông mai đã rụng hết ba cánh. Bị động, chiếc cánh thứ tư rơi xuống , chạm khẽ khàng vào mặt bàn. Trong ánh nến, nó càng trở nên mỏng mảnh và ánh lên như một vảy vàng.
Người đàn bà đan áo mỉm miệng cười. Khi đưa tay lên xoa mặt, chị mới nhận ra nước mắt chị đã chảy ra dàn dụa trên má từ lúc nào.
NƯỚC MẮT LAY -OFF
Buổi trưa, trong giờ “lunch”, Huệ ra máy điện thoại công cộng đặt trong hãng, gần phòng ăn, gọi phone về nhà cho Mỹ Thuý. Gặp đứa con gái ở đầu giây, Huệ nói ngay: ’’Thuý đó hả, con sắp xếp rồi chiều về mẹ với con đi coi nhà nghe, hôm qua mẹ đã nói chuyện điện thoại với người chủ, mẹ thấy nhà cũng được và vừa túi tiền của mình, chiều nay mẹ muốn con đi với mẹ, con vừa lòng thì mẹ mới vui’’.
<!>
Mỹ Thuý đáp: ’’OK, con đợi mẹ, chiều mẹ về sớm nghe, thôi mẹ đi ăn cơm đi, bye mẹ’’. Huệ cúp máy và thấy vui ở trong lòng. Vào phòng ăn dành cho công nhân, nàng đi lại chỗ Hiệp đang ngồi và hỏi Hiệp: ’’Anh hâm dùm cơm em chưa?’’. Hiệp ngồi qua một bên kéo ghế cho Huệ, vồn vã nói: ’’Xong hết rồi, lady first mà, cơm nóng hổi vừa thổi vừa ăn đó em’’. Huệ ngồi xuống bên Hiệp, thấy lòng mình rộn rã.
Hôm nay đi làm Huệ mặc áo vàng, nàng như đem màu vàng hoa cúc đến với mọi người. Hồi sáng gặp Hiệp, anh đã đọc một câu thơ chọc nàng ngay, ’’aó nàng vàng anh về yêu hoa cúc’’, Huệ trả lời bẻn lẻn ‘’Xứ Mỹ tìm hoa cúc để yêu cũng khó lắm’’ Hiệp cười: ’’có khó anh cũng phải cố tìm ra để yêu’’. Hai người cùng cười. Đôi bạn quen nhau từ ngày làm chung một department và có những cảnh đời xãy ra như nhau, Hiệp thường nói giọng buồn buồn: ’’Anh và em là những kẻ cô đơn nhất trên đời nầy’’.
*
Huệ vào làm hãng sơn gỗ nầy chưa đầy năm tháng, năm tháng như một thử thách với cuộc sống của chính nàng. Ngày trước, Huệ là cô nữ sinh trường Nữ Trung Học Hồng Đức, Đà Nẵng. Ơi cái thuở học trò sao xa vời quá, học xong tú tài 2 là Huệ thi vào trường cao đẳng sư phạm, rồi ra trường đi dạy, cuộc sống của nàng như một dòng sông êm đềm cho đến ngày nàng gặp Hãn.
Hãn uà đến đời nàng như một trận bão giông, nàng nhớ lại hôm trường nàng dạy có tổ chức ‘’Cây mùa xuân Chiến sĩ’’ nàng được cử đi tiền đồn để thăm các chiến sĩ đang trấn đóng ở quận Quế Sơn. Nàng được phân chia làm hướng dẫn viên các nữ sinh đi làm công tác uỷ lạo. Khi những chiếc GMC chở phái đoàn nữ sinh trường Nữ trung học đi thăm viếng, nàng mới thấy chiến tranh cận kề quá. Ở một thành phố bình an, ngày hai buổi đến trường dạy học trò, một nơi yên ổn, chiến tranh chỉ nghe nói tới trên báo chí, qua đài phát thanh. Hôm đó, trên đoạn đường từ Hương An chạy dọc lên Quế Sơn lổ chổ những dấu bom mìn, dù đoạn đường đã được khai thông và được giữ an ninh tối đa. Ngồi trên xe, nhìn về hướng những ngọn núi điệp trùng thỉnh thoảng lại ùm lên những tiếng đạn trọng pháo, những đoàn phi cơ ném bom cháy đỏ cả một góc trời, nàng thấy lòng lo lắng không nguôi.
Hôm đó đám nữ sinh do nàng hướng dẫn đến thăm đồn Núi Kiếng, đây là ngọn núi có đỉnh cao nhất Quế Sơn, ở đó có thể quan sát toàn thể khu vực quận lỵ và các xã lân cận. Lính tráng ở đây sống rất gian nan cơ cực. Núi Kiếng là nơi tranh chấp giữa hai bên vì phe nào làm chủ được núi Kiếng coi như làm chủ Quế Sơn, nên mảnh đất nầy là nơi dành giật của hai phía. Đơn vị quân đội đóng ở đây hằng ngày đã hứng không biết bao nhiêu quả đạn pháo của địch, ban đêm thì đặc công địch bò lên quấy phá, nên đơn vị luôn luôn ở thế báo động một trăm phần trăm.
Người sĩ quan chi khu nói với phái đoàn: ’’Chúng ta tới thăm binh sĩ ở đồn Núi Kiếng độ khoảng một tiếng đồng hồ là đi ngay, tình hình quân sự không cho phép trình diễn văn nghệ, chỉ tặng quà và thăm hỏi các chiến sĩ thôi rồi rút, xin cô giáo và mấy em thông cảm’’. Các nữ sinh theo sự chỉ dẫn của Huệ đã mang theo những thùng quà cho lính, những món quà tết từ hậu phương gởi ra tiền tuyến, những bánh chưng xanh, bánh tét, những hộp mứt, những phong kẹo đậu phụng, tất cả còn thơm mùi lá non, mùi đường tươi và mùi đậu phụng. Lính tác chiến ở đây cực khổ vô cùng, họ sống dưới những hầm chữ A để tránh pháo kích.
Từng toán lính và các cô học trò đang tâm sự cùng nhau vui vẻ thì bỗng nhiên từ xa nghe một tiếng pháo ‘’départ’’ trên dãy núi xanh. Tiếng pháo mau ùa đến một cách kinh hoàng. Ngườì sĩ quan đại đội trưởng hô to: ’’có pháo kích, tất cả xuống hầm ngay’’. Chưa nói dứt câu thì một tiếng nổ kinh hoàng vang lên ngoài hàng rào phòng thủ. Cả đám nữ sinh chạy ùa xuống các giao thông hào và hầm cá nhân. Huệ cũng được một bàn tay nào đó kéo đi. Sau quả pháo đầu khoảng hai phút thì tiếp tục những quả pháo sau rơi xuống tiếp theo, tiếng pháo xé gió dội ì ầm rít lên nghe kinh hoàng quá.
Khi im đợt pháo kích, Huệ mới thấy mình đang nằm trong vòng tay của một người đàn ông mà trong bóng tối của căn hầm trú ẩn khiến nàng không nhìn rỏ mặt. Trong bóng tối, người lính nói: ’’Cô đừng sợ, địch trên núi thường pháo kích mỗi lần như thế khoảng năm trái để uy hiếp tinh thần anh em, vậy thôi, hôm nay có các cô đến thăm tiền đồn, tụi nó tặng thêm mấy quả nữa đó, thôi các cô lên và mau rời khỏi nơi nầy’’. Người lính nói xong liền đưa Huệ và đám nữ sinh lên khỏi hầm trú ẩn. Khi lên đến mặt đất nàng mới thấy hoàn hồn và nhận ra người đã ôm nàng nhãy xuống hầm là một thiếu uý còn rất trẻ. Người thiếu uý nói: ’’Tôi là Hãn, đại đội phó ở đây, rất cảm ơn các cô đã lên thăm đơn vị chúng tôi và bây giờ xin phái đoàn rời đây ngay’’. Khi phái đoàn leo lên những chiếc GMC đậu dưới chân núi, Huệ đã cho Hãn biết về trường dạy học của nàng, Hãn hứa khi nào về phép sẽ ghé thăm.
Câu nói và lời hứa như có vẻ bông đùa và đưa đẫy, nhưng Huệ không ngờ, hai tháng sau, trong một buổi chiều bãi trường, nàng đã gặp Hãn, khi nàng dắt xe ra khỏi cổng trường, người sĩ quan trẻ hôm nay sạch sẽ hơn trong bộ đồ trận đựợc giặt kỹ và ủi hồ láng với đôi giày shaut cũng được bóng hơn. Nàng đã vui mừng khi gặp lại Hãn, và Hãn đã đi vào cuộc đời nàng những ngày sau đó, cuộc tình cuả chàng trai tiền tuyến với em gái hậu phương diễn ra đẹp như những bài hát của Trần Thiện Thanh, của Trúc Phương, ca ngợi về những mối tình lính chiến. Hơn hai năm sau, Hãn lên trung úy và được đổi về làm việc tại Đà nẳng, hai người cưới nhau.
Đời sống vợ chồng Huệ an vui và hạnh phúc, hai người đã có hai con, một gái, một trai, cho đến năm bảy mươi lăm.
Cuộc di tản vĩ đại đã làm chia lìa biết bao nhiêu gia đình. Thời gian nầy đánh dấu hoàn cảnh bi thương của biết bao con người, khi đoàn quân dân di tản từ Quảng Trị, từ Huế chạy vào Đà Nẵng, khi đoàn quân dân di tản từ Quảng Ngãi, Quảng Tín bồng bế dắt díu nhau tuôn ra Đà Nẵng thì Huệ mới thấy cuộc sống của nàng bị đe dọa. Những ngày nầy, Hãn luôn luôn bị cấm trại 100%, một ngày Hãn chỉ ghé nhà khoảng 10 phút, dặn dò nàng những công việc cần thiết xong rồi đi, nàng gấp rút thu dọn những đồ đạc cho gọn gàng, Hãn bảo: “Tình hình rất nguy ngập, em hãy chuẩn bị, lo cho hai con, nếu có lịnh di tản thì anh về dắt em và hai con đi ngay.’’
Hãn ra đi hôm đó và đi luôn đến hơn hai mươi năm sau nàng mới gặp lại, khi đơn vị Hãn được lệnh di tản khỏi Đà Nẳng, Hãn không thể về được, anh theo bộ chỉ huy qua khu An Hải, bám lên một chuyến tàu của hải quân và xuôi Nam, chuyến tàu chạy ra đảo Phú Quốc và đến ngày 30 tháng 4, Hãn theo tàu qua đảo Guam, rồi sang Mỹ.
Huệ trong suốt những ngày trông chờ người chồng về đón nàng đi, đến khi xe tăng và bộ binh của quân Bắc phương tràn ngập thành phố thì nàng mới biết là mình không hy vọng được ra đi và lo cho Hãn vô cùng, có biết bao nhiêu người đã chết ở phi trường khi giành giựt nhau lên máy bay, chết ở bài biển Mỹ Khê khi địch pháo kích bừa bãi xuống bãi biển, thây người không sao đếm nổi, cái chết rất gần với bất cứ một ai và xảy đến bất cứ lúc nào.
Trong cái buổi tranh tối tranh sáng đó, nàng không làm sao biết tin được Hãn, anh có thoát được không?. Mãi đến những gần năm năm sau nàng mới được tin tức của chồng, khi Hãn từ Mỹ viết thư về và hứa sẽ làm giấy tờ bảo lãnh cho ba mẹ con nàng qua Mỹ đoàn tụ.
Phải chờ đến bao nhiêu năm nữa ba mẹ con nàng mới dắt díu nhau qua được đất Mỹ. Phi trường San Francisco đón nàng trong cái lạnh lẽo của một chiều cuối năm, hơn hai mươi năm, nàng thấy Hãn xa lạ với nàng quá.
*
Hãn đón nàng với một gương mặt khác, gương mặt lặng lẽ, cùng ở tuổi Hãn những người đàn ông còn lại ở VN ốm o gầy gò, oằn lưng trên chiếc xe đạp thồ, hay oằn trên những chiếc xích lô. Hãn phong lưu và trẻ trung dù hơi mập. Một điều làm cho Huệ thất vọng là Hãn lặng lẽ, không biết sự u uất nào đó, có một cái gì đó đã làm cho Hãn trong buổi gặp lại vợ con sau hơn gần hai mươi năm xa cách lại không vui.
Sau một thời gian ổn định, Hãn mới thổ lộ cùng nàng là trong những tháng năm xa cách, vì sự cô đơn trống vắng ở xứ Mỹ nên Hãn đã có một người đàn bà khác, anh xin lỗi Huệ và nói: ’’Em tính thế nào cho vui được đôi bên thì thôi’’. Huệ như muốn ngã qụy khi nghe tin nầy. Nàng cười nhạt bảo Hãn: ’’Tại sao anh không nói với em trước khi em còn ở VN để em quyết định’’.
Hãn lắc đầu nói: ‘’Anh không thể’’.
Nàng đã bỏ lại thành phố San Francisco để dắt díu hai con nàng về đây, sau khi đã ký đơn ly dị với Hãn. Hai đứa con đã lớn, đã trưởng thành, nhưng nàng vẫn mong sao hai con tiếp tục học, hồi ở VN có tiền đâu để cho con nàng ăn học được, dù sau nầy Hãn có gởi một ít tiền về tiếp tế.
Nàng đã bỏ thành phố mù sương đó để về nơi thành phố nắng ấm Cali, nàng nghĩ coi như Hãn đã chết khỏi đời mình, như mấy mươi năm nàng một mình tần tảo nuôi con.
Chị Hạnh đã phone cho nàng khi nàng kể về hoàn cảnh của mình, chị Hạnh cùng chồng sang Mỹ theo diện HO. Hai vợ chồng chị Hạnh thuê một căn appartment, chồng lãnh tiền già, vợ đi cắt chỉ ở shop may cũng sống qua ngày. Chi Hạnh nói: ‘’Em qua đây ở với chị, mình ở chật chật cũng được để bớt tiền nhà’’. Nàng đồng ý và sau khi li dị xong với Hãn, nàng lên chuyến xe buýt của hãng ‘’Con Chó Rừng’’ cùng hai con xuôi về nam Cali.
Nàng phải vất vã rất nhiều để đi xin việc làm và hãng nầy đúng là hãng thứ ba nàng đã làm việc. Cuộc sống từ một cô giáo tụt xuống một cô “assemply”, đứng trên dây chuyền sản xuất để bắt những thanh gỗ đã đươc sơn xong chạy qua. Hồi mới đầu vào làm ở hãng nầy, nàng thấy không thể chịu được khi nghe mùi hóa chất phả ra từ phòng sơn, mùi hoá chất được coi là độc hại có thể gây bịnh ung thư hay vô sinh, không có con đường nào khác, nàng phải làm thôi.
Hôm qua trong lúc đứng trên line làm việc, chị Quý đã nói với Huệ: ’’Em phải lấy chồng đi để chồng phụ với em lo gia đình, các con càng ngày càng lớn và tụi nó sẽ có một ngày tách rời em’’. Nghe chị Quý nói, tự dưng Huệ thấy nao nao lòng và chợt nghĩ đến Hiệp, người công nhân làm cùng hãng, đã có những cử chỉ săn sóc nàng. Hiệp năm mươi tuổi, đi cải tạo về thì vợ đã có một người đàn ông khác. Hiệp qua Mỹ với hai đứa con, anh ăn nói nhẹ nhàng dễ thương, thường giúp đỡ nàng những chuyện khó nhọc, nhưng nàng chưa có ý nghĩ gì cả. Hãy còn quá sớm để nghĩ đến chuyện nầy. Chuyện với Hãn đã làm nàng đau điếng từng thớ thịt, nàng chưa dám tin một người nào khác và cũng chưa dám nghĩ đến một người đàn ông nào khác, nàng còn hai đứa con phải lo, tiền nhà phải trả, như chuyện tháng sau vợ chồng chị Hạnh sẽ thuê nhà riêng vì chị vừa mới xin được housing, nên Huệ phải tìm một chỗ ở. Hôm qua đọc báo thấy có một ngôi nhà vừa ý, nàng đã phone lại hỏi và hôm nay, nàng định buổi chiều sẽ dắt đứa con gái lớn đi coi nhà, để đầu tháng có thể dọn đến ở.
Hiệp nhìn Huệ ăn và nói:
-’’Hôm nay Huệ có niềm vui gì mà cười hoài vây?’’
Huệ đáp:
- ‘’Chiều nay về em sẽ đi coi nhà mới, em thuê được nhà nầy em sẽ mời anh đến chơi’’.
- ‘’Chứ chỗ Huệ đang ở thế nào?’’
- ‘’Chị Hạnh em được housing nên phải trả nhà, để thuê nhà khác, em cũng phải đi luôn.’’
- ‘’Em thuê được nhà, anh sẽ ra Goodwill mua biếu em bộ sofa về tiếp khách, anh chỉ giám tặng em đồ Goodwill thôi, chứ sang hơn thì anh không giám’’.
Huệ nói cảm ơn và lòng thì vui như mở hội, một niềm vui mà suốt bao nhiêu năm trời nàng không có được.
*
Đám công nhân làm trong hãng sơn gỗ nầy phần đông là những người mới qua Mỹ theo diện HO, họ được sang Mỹ sau những năm tù đày. Phần lớn họ còn trẻ lắm cũng ở trên tuổi năm mươi, còn sàng sàng thì năm lăm, sáu mươi, sáu lăm. Nếu trên tuổi sáu lăm họ có thể được ăn tiền già cũng đỡ, nhưng những ngươì dưới sáu mươi lăm tuổi thì phải tới gõ cửa những trung tâm tìm việc của cộng đồng. Theo sự chọn lựa, những hãng điện tử làm việc tương đối nhẹ nhàng, lại thuờng không nhận họ, vì làm điện tử cần có đôi mắt sáng để nhìn rõ những linh kiện khi ráp nối. Họ xin làm ở đâu cũng không được bền, ba bốn tháng là bị lay-off, chỉ có những hãng làm việc bằng chân tay, chuyện gì làm cũng được thì họ mới mong làm việc được lâu dài, những người đi xin việc làm chỉ mong một điều là, làm được một công việc ổn định, có đồng lương hàng tuần, cuộc sống chất chứa bao nhiêu gánh nặng oằn vai.
Đến giờ làm việc, đám công nhân ai vào việc đó, có những quy định của những ngườì làm công cho hãng Mỹ là trong giờ làm việc không được đứng khơi khơi. Người chủ Mỹ muốn mỗi giờ lãnh 5,75 dollars của họ phải vận động, phải làm việc liền tay, nhưng cũng tội tình cho những công nhận VN, là có những lúc không có công việc làm, như đợi chờ hàng chạy đến theo khâu dây chuyền, thì họ phải tìm tòi, lục lọi một công việc gì đó để làm, ác nổi, có lúc chẳng có việc gì làm, mà người manager Mỹ cứ đứng nhìn, cái nhìn như xuyên thấu tim người công nhân. Người Mỹ không nói nặng một câu, nhưng cái nhìn làm chạm đến lòng tự ái nhiều người. Cái nhìn đụng chạm đến lòng tự trọng dân tộc. Cái nhìn như nói người Việt Nam nào cũng muốn trốn việc. Cái nhìn tước bỏ, mất hết tình đồng minh, chiến hữu một thời. Cái nhìn chủ tớ. Cái nhìn làm nhột nhạt như có ai xối vào mặt mình một gáo nước lạnh. Người Mỹ manager có biết đâu rằng, hay không cần biết, đây là thiếu tá Thái một thời là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Biệt động quân, đã dẫn tiểu đoàn xung phong tái chiếm cổ thành Quảng Trị, đây là Đại Uý Hòa, đại đội trưởng đại đội trinh sát sư đoàn, đã từng nhảy trực thăng xuống mật khu Đỗ Xá, tiêu diệt không biết bao nhiêu lực lượng địch, đây là trung uý Nghiêm, đại đội trưởng Dù, đã dẫn đại đội nhảy vào cứu nguy An Lộc, trong những ngày chiến trường An Lộc sôi động nhất. Bây giờ hai mươi lăm năm sau, tóc người nào cũng đã bạc, người trẻ nhất cũng đã muối tiêu, họ đang chui xuống phòng sơn để dọn đám sơn rơi vải, đang rúc xuống gầm máy để chùi cho sạch những dây belt bằng chất acétone độc hại, đang đứng trên line để bắt những thanh gỗ vừa được sơn xong. Tất cả cũng vì cuộc sống, ngày trước trong trại cải tạo họ cũng đã làm biết bao chuyện nhục nhằn, nhưng đó là những ngày lao tù cưỡng bách, ngày họ trở về cùng gia đình, họ cũng đã từng đạp xích lô, đạp xe ba gát, bán cà rem dạo, đủ chuyện, nhưng lúc đó họ nghĩ, họ là những người thua trận nên họ cam chịu, bây giờ đã qua Mỹ, đã bước sang một xã hội, một dân tộc, đã dang tay đón họ từ một độc tài sang một xứ sở của tự do, mà sao họ còn bao nhiêu là cực nhục.
Hiệp cũng ở trong những người đó, anh vẫn nhớ trước ngày rời VN, bạn bè đã làm một buổi tiệc tiễn đưa, anh hạnh phúc và sung sướng bao nhiêu khi nghĩ là mình là người may mắn hơn bạn bè. Hôm đó anh đã đứng lên và dõng dạc tuyên bố: ’’Qua Mỹ tau khá lên, tau sẽ không quên tụi mày, quên trường cũ đâu’’. Ai cũng cạn ly với anh và chúc anh thành công, ‘’phải thành công nghe mày’’. Anh nói: ’’chắc chắn’’. Nhưng qua đây gần bốn năm anh đã làm được gì, hết assembly hãng nầy đến assembly hãng khác, làm việc cho Mỹ thường phải đứng suốt, mỗi ngày đứng gần 8 tiếng đồng hồ, vết thương ngày cũ của anh đau nhức khôn nguôi, nhưng anh vẫn gắng gượng cố làm việc, anh không thể để cho các con anh thất vọng.
Cuộc tình với người vợ cũ đã nguôi ngoai, các con anh cũng đã lớn, anh đang tìm một người đàn bà để cùng chung sống, để an ủi tuổi già ở xứ Mỹ lạnh lẽo nầy, anh chú ý đến Huệ, người đàn bà đã có một cuộc đời đầy đau thương. Huệ đã tâm sự với anh về nỗi bất hạnh của đời nàng, cuộc sống sao vẫn những quẩn quanh và chụp bắt, anh mong Huệ như là một điểm tựa cuối cùng của cuộc đời anh, để bù đắp lại những ngày đau thương của cả hai ngươì.
*
Người supervisor đem check lương đến phát cho công nhân, người công nhân chỉ có ngày này là niềm vui của họ, đó là ngày thứ sáu của tuần thứ hai, được nhận check. Đồng tiền làm vui lòng người nhưng cũng đày đọa con người quá đổi. Người supervisor dừng lại chỗ Huệ để phát lương, Huệ đang sung sướng khi cầm tấm check trong tay, chiều nay nàng sẽ đổi ra tiền mặt và deposit cho người chủ nhà mới, tuần sau, đầu tháng, mẹ con nàng sẽ dọn tới căn appartment mới.
Người supervisor đưa tấm check cho Huệ và nói luôn:
- ‘’Chị Huệ ngày mai nghỉ nghe, chị bị lay-off, đến giờ về, chị gặp tôi trả lại thẻ.’’
Huệ tưởng như tai mình nghe lầm, Huệ muốn hỏi lại lần thứ hai nhưng người supervisor đã đi xa, và nàng chợt hiểu ra là thật sự nàng đã bị mất việc. Đến lúc này nàng mới thấy trước mặt nàng một vùng trời u ám đang bao quanh, khuôn mặt hớn hở và giọng nói tươi vui buổi trưa không còn với Huệ nữa, nàng nghe hai mắt uớt ướt và dòng lệ không kìm được chảy xuống, tứ chi nàng uể ỏi, nàng bật khóc to lên và thấy không thể làm việc được tiếp một giây phút nào nữa, nàng bỏ ra về.
Hôm đó, gần mười người bị nghỉ việc, có ba người là cựu tù nhân chính trị trên 50 tuổi và làm việc chưa được sáu tháng, nên không xin được tiền thất nghiệp.
Hiệp mất Huệ từ đó, khi anh nghe tin Huệ bị nghỉ việc, Hiệp nhờ người bạn làm hộ công việc của mình để đến hỏi thăm nàng. Nhưng khi anh đến, Huệ đã ra đến parking, sau khi nàng trả thẻ lại cho người supervisor. Anh ngoắc tay nhưng Huệ đi luôn, anh không biết số phone nàng và cũng không biết địa chỉ, dù hai người quen nhau khá thân, cả hai chưa nghĩ đến sự chia tay, Hiệp không gặp lại Huệ từ đó, từ buổi chiều có dòng nước mắt chảy xuống thân phận buồn tủi của nàng.
TRẦN YÊN HOÀ
Nguồn : Thơ Văn Trần Yên Hoà
May -25-26
GÁC XÉP