CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRẦN KIÊM ĐOÀN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRẦN KIÊM ĐOÀN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

VỀ HUẾ THẢ OM - TRẦN KIÊM ĐOÀN

 


VỀ HUẾ THẢ OM

Trong gần nửa thế kỷ phiêu bạt, tôi đã có dịp tìm đến và cúi nhìn bóng mình trên nhiều dòng sông được xem là “thiêng” của thế giới: Mississippi mênh mang, Seine thơ mộng, Thames trầm mặc, Hoàng Hà cuộn màu lịch sử, Hằng Hà chở nặng đức tin, Tiền Đường dậy sóng, Nile âm thầm nuôi dưỡng một nền văn minh… Chỉ riêng Amazon: dòng sông hùng tráng và bạo liệt bậc nhất hành tinh; là tôi chưa một lần được thấy.
Nhưng sông lớn đến đâu cũng chỉ chảy qua miền đất lạ. Có những dòng sông không cần nổi tiếng mà vẫn chảy suốt một đời người. Chúng không nằm trên bản đồ thế giới, mà nằm trong bản đồ tâm tưởng; càng đi xa càng thấy gần, càng lớn tuổi càng nghe tiếng nước gọi về.
Với tôi, đó là sông Bồ quê Cha và sông Hương xứ Huế; nơi tôi từng bước trưởng thành mở rộng trí óc và nhân rộng hướng đời.
Tôi đã từng dầm mình trong nước sông Bồ để thương, từng vốc nước sông Hương để nhớ. Sông Bồ đục trong theo mùa, chở phù sa qua những bãi bờ Nam Thanh, An Thuận, Hương Cần, Liễu Cốc Hạ, Cổ Lão, Dương Sơn… sông Hương thành Huế của tôi xanh một màu gần như hư ảo, đi ngang kinh thành mà vẫn giữ dáng thong dong của một dòng sông biết mình đẹp.
Sông Bồ để vớt om.
Sông Hương để thả om.
Răng lạ rứa hè?
Chỉ bốn tiếng thôi mà nghe đã ra giọng Huế. “Răng lại rứa?” không hẳn chỉ là “Why is that?”, “Why so?” hay “Why did that happen?”. Trong câu hỏi ấy còn có chút ngạc nhiên, chút trách yêu, chút ngậm ngùi và cả một nụ cười rất nhẹ. Người Huế hỏi mà như không cần trả lời; bởi đôi khi câu trả lời đã nằm sẵn trong giọng nói.
Cũng như “Thả Om”: nghe qua tưởng chỉ là một động tác bình thường, nhưng bước vào thế giới Huế, nó lại mở ra cả một miền văn hóa.
Om là chiếc nồi đất nhỏ, thường dùng để nấu cơm, nấu cháo, kho cá. Một vật dụng quê mùa, khiêm nhường, quanh năm nằm bên bếp lửa. Om không quý như đồ ngự dụng, không sang như chén kiểu, không được đặt trong tủ kính để người đời ngắm nghía. Nhưng chính chiếc om đất ấy đã nuôi sống biết bao mái nhà, giữ hơi ấm cho biết bao phận người. Bởi thế, khi lâm vào cảnh tận cùng tuyệt vọng, người Huế chỉ còn biết kêu lên: “Rứa là xong om rồi đời!”
“Om” và “niêu” đều là nồi làm bằng đất nung, nhưng khác nhau đôi chút về cách gọi, hình dáng và công dụng:
Niêu là từ phổ thông trên toàn quốc, thường chỉ chiếc nồi đất nhỏ, thân tròn thấp, miệng tương đối rộng, nắp đậy kín; chủ yếu dùng nấu cơm.
Om là tiếng cổ và tiếng địa phương miền Trung, đặc biệt quen thuộc ở Huế. Om thường có thân tròn sâu, bụng phình, miệng thu nhỏ hơn; dùng nấu cơm, kho cá, rim thịt hoặc sắc thuốc. Om Phước Tích nổi tiếng từng được dùng để nấu cơm tiến vua nên còn gọi là “om ngự”.
Nói gọn lại thì là:
Niêu là tên gọi phổ thông; om là tên gọi đậm chất Huế.
Niêu thiên về nấu cơm; om có công dụng rộng hơn.
Trong đời sống Huế xưa, hai chữ đôi khi được dùng thay nhau. Nhưng “om” mang hồn quê và sắc thái văn hóa rõ hơn: nghe chữ “om” là gợi đến bếp lửa, làng gốm Phước Tích và bữa cơm xứ Huế.
Cơm niêu xứ Bắc nên đổi tên thành Cơm Om xứ Huế.
Thả om, theo nghĩa đen, là buông chiếc om xuống nước.
Nhưng người Huế có tài làm cho một việc nhỏ trở thành một câu chuyện dài; đem cái bình thường phủ lên một lớp sương huyền thoại, để khi sương tan rồi, lòng người vẫn còn vương vấn.
Chiều nay, 25 - 8 - 2026, chúng tôi được vợ chồng bạn Vinh và Tôn Nữ Cẩm Tú mời họp mặt ở “THẢ OM VIÊN” (THA OM GARDEN: DRIFTING POT GARDEN) 12/12 Nguyễn Phúc Nguyên Huế. Cụm từ hay nhóm chữ giới thiệu tên riêng và địa chỉ này là do Trí Tuệ Nhân Tạo AI cung cấp khi tôi lạc đường và hỏi Chat GPT đó nhé.
Một buổi chiều “Thả Om” không bị trôi mất chi cả mà được vớt lại cả hàng chục món ăn Huế Cột Cờ toàn ròn do chủ nhân biến tấu tài hoa từ sản vật địa phương và cây trái trong vườn.
Cuộc họp mặt đã thú vị; tinh thần Huế Thả Om lại càng thú vị hơn.
Theo giai thoại lưu truyền ở vùng Kim Long mà tôi được nghe chàng Bá Vinh một nghệ nhân tài hoa và Một Nửa Bên Tê của chàng là nàng Cẩm Tú ; một Tôn Nữ vắng bóng Hoàng Thành kể lại, chuyện xảy ra vào thời vương triều Nguyễn đã thoái trào dưới bóng chế độ thực dân Pháp.
Thuở ấy, nhiều gia đình hoàng phái không còn quyền thế và sản nghiệp như xưa. Cung điện đã xa, bổng lộc không còn, nhưng phong thái vương giả vẫn chưa dễ gì rời khỏi nếp sống. Nhà có thể nghèo, áo có thể cũ, bữa ăn có thể đạm bạc, nhưng cái “lề” thì vẫn phải giữ. Giấy đã rách mà đường gấp vẫn còn nguyên.
Một buổi chiều Rằm tháng Bảy, có vị vương tôn ở miệt Kim Long, trong nhà chỉ còn chút gạo đủ nấu một om cháo loãng. Khi trời nhá nhem, “Mệ” mang chiếc om xuống bến sông Hương rửa. Chẳng may, một người hàng xóm có phần tọc mạch đi tới, cất tiếng hỏi:
“Mệ đem om chi xuống rứa?”
Không muốn người ta nhìn thấy đáy om, càng không muốn ai biết bữa chiều của mình chỉ có một chút cháo nghèo, Mệ không phân bua, cũng chẳng than thở. Mệ chỉ lặng lẽ buông tay.
Chiếc om đất rời khỏi bàn tay, chạm mặt nước rồi chầm chậm trôi theo dòng sông.
Một gia sản cuối cùng đã được thả đi để giữ lại một điều không thể cầm nắm: lòng tự trọng.
Chuyện thật đến đâu, chẳng ai dám quả quyết. Giai thoại vốn không phải là sử ký. Nhưng có những câu chuyện không cần đúng từng chi tiết mà vẫn đúng đến tận đáy tâm hồn của một vùng đất. “Thả Om” là một câu chuyện như thế.
Trong khoảnh khắc ấy, cái nghèo được giấu kín, thể diện được giữ nguyên, còn nỗi buồn thì gửi lại cho sông Hương. Đó là một dáng vẻ vừa đáng thương, vừa đáng kính; vừa kiêu hãnh, vừa ngậm ngùi. Có chút phù hoa của một thời đã khuất, nhưng cũng có khí tiết của người không muốn đem cảnh ngộ riêng mình làm phiền đôi mắt thế gian.
Người ngoài có thể cho rằng đó là sĩ diện. Người Huế lại hiểu đó là lòng tự trọng. Giữa sĩ diện và tự trọng đôi khi chỉ cách nhau một làn nước mỏng. Sĩ diện là giữ cái nhìn của người khác; tự trọng là giữ phẩm giá trong chính mắt mình. Vị vương tôn nghèo kia có lẽ mang cả hai. Nhưng chính sự pha trộn không hoàn toàn rạch ròi ấy mới làm nên con người thật, và cũng làm nên cái “rất Huế”.
Huế xưa sống nhiều bằng uyển ngữ. Nghèo không nói là nghèo, chỉ bảo “nhà tui còn cực!” Buồn không nói là buồn, chỉ thở dài: “Răng mà lạ rứa tề!” Thương ai không dễ nói rằng thương, chỉ hỏi một câu: “Đi mô mà lâu rứa?” Trách ai cũng không nỡ trách thẳng, chỉ buông nhẹ: “Răng ri hè…”
Ngôn ngữ Huế không đi thẳng như đường tên bắn. Nó quanh co như lối vào nhà vườn, phải qua bình phong, qua hàng chè tàu, qua giàn hoa giấy rồi mới đến hiên nhà. Người chưa quen dễ thấy cầu kỳ; người đã hiểu mới hay cái quanh co ấy không hẳn để che giấu, mà để tránh làm đau lòng nhau.
Huế xưa quý sự kín đáo. Nhà giàu không phô của, người sang không nói mình sang, người đau không muốn ai thấy mình đau. Cái đẹp nằm sau bức rèm, nỗi buồn nằm dưới vành nón, còn tình yêu đôi khi suốt đời chỉ hiện ra trong một tiếng “dạ” thật mềm.
Bởi thế, “Thả Om” không chỉ là chuyện một chiếc nồi đất. Đó còn là một ẩn dụ về cách người Huế ứng xử với sự mất mát: không níu kéo quá ồn ào, không phô bày vết thương, chỉ âm thầm buông xuống dòng đời.
Nhưng Huế nay đã khác.
Huế hôm nay có phố mới, cầu mới, ánh đèn mới. Tiếng xe át dần tiếng guốc mộc; những nhà vườn thâm u mở cửa thành quán trà, nhà hàng, chốn lưu trú. Con cháu hoàng tộc đã bước ra khỏi bóng kinh thành để sống giữa một xã hội không còn đo phẩm giá bằng tước vị. Người trẻ Huế nói nhanh hơn, đi xa hơn, mạnh dạn hơn và biết giới thiệu quê mình với thế giới.
Đó là một chuyển động cần thiết. Một thành phố không thể sống mãi bằng ký ức, cũng như một dòng sông không thể chỉ soi bóng quá khứ mà không chảy về biển lớn.
Tuy nhiên, giữa nhịp sống mới, Huế đôi khi cũng đang “thả” đi nhiều thứ: một mái nhà rường, một khu vườn cũ, một giọng nói thanh tao, một cách thưa gửi có trước có sau, một nếp sống không vội vàng. Có những thứ mất đi vì thời thế; cũng có những thứ bị đánh đổi quá dễ dàng vì người ta chưa kịp hiểu giá trị của chúng.
Ngày xưa, người Huế thả chiếc om để giữ lòng tự trọng. Ngày nay, có khi người ta giữ chiếc om như một món trang trí, nhưng lại vô tình thả trôi cái hồn đã từng làm cho chiếc om ấy có ý nghĩa.
Cho nên, bảo tồn Huế không phải chỉ là giữ thành quách, lăng tẩm hay vài căn nhà cổ. Giữ Huế trước hết là giữ một phong cách sống: biết chậm lại trước cái đẹp, biết kín đáo trước nỗi đau, biết nhường nhau trong lời nói, biết giữ phẩm giá ngay cả khi cảnh đời sa sút. Huế không chỉ ở trong di tích. Huế ở trong tiếng “dạ thưa”, trong chén trà mời khách, trong cách đặt một bình hoa, trong bữa cơm đạm bạc mà vẫn tươm tất, và trong thái độ không lấy sự giàu nghèo để cân đo con người.
Tên nhà vườn “Thả Om” ở Kim Long vì thế nghe vừa dân dã, vừa u hoài, lại phảng phất cốt cách của những vương tôn thất thế. Đó không phải là nỗi hoài cổ muốn quay lui, mà là một lời nhắc dịu dàng: ta có thể bước tới tương lai, nhưng xin đừng bước nhanh đến nỗi đánh rơi chính mình.
Rằm tháng Bảy, đứng bên sông Hương, tôi chợt nghĩ: chiếc om năm xưa chắc đã tan thành đất từ lâu. Đất trở về với nước, nước trôi về biển, còn câu chuyện thì ở lại. Có lẽ đó cũng là một cách phóng đăng không ánh lửa, một cuộc phóng sinh cho lòng kiêu hãnh và một nghi thức tiễn đưa thời vương giả đã qua.
Dưới bóng Hoàng Thành, người Tôn Nữ năm xưa có thể đã khuất. Chàng vương tôn nghèo cũng không còn. Nhưng tiếng “răng lại rứa” vẫn bay qua hàng cau, giọng “dạ thưa” vẫn còn đâu đó trong những căn nhà vườn Kim Long, và sông Hương vẫn lặng lẽ chở những điều người Huế không nói thành lời.
Tôi trở về, không tìm lại chiếc om đã mất.
Tôi chỉ muốn đứng bên dòng sông cũ, thả xuống nước một chút phù hoa, một chút hơn thua, một chút bụi đường gần nửa thế kỷ xa quê. Rồi cúi xuống vốc một ngụm sông Hương, nghe sông Bồ vọng lại trong lòng.
Sông Bồ để vớt om như tâm tưởng vớt lại quê nhà.
Sông Hương để thả om, như tâm lý bù thả đi thế sự.
Và Huế, sau bao nhiêu dâu bể, vẫn là Huế:
Nghèo mà không hèn,
buồn mà không lụy,
đẹp mà không phô,
thương mà không nói hết.
Chỉ khẽ hỏi đời một tiếng:
“Răng lại rứa…”
Rồi mỉm cười, buông tay, thả cả chiếc om và chính bóng mình vào dòng nước hư không.
Thả chiếc om và bóng mình theo nước, mà giữ cả quê hương ở lại trong lòng.


TRẦN KIÊM ĐOÀN
Huế mùa Vu Lan 2026

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2026

MẢNH LÒNG GỞI HUẾ - THƠ TRẦN KIÊM ĐOÀN




 MẢNH LÒNG GỞI HUẾ


Huế tội tình chi mà Trời hành dữ rứa

Lụt lội thiên tai hạn hán ngập sông hồ

Cơn lũ mới chưa đi cơn khác tới

Tiếng sông Hương thao thiết gọi sông Bồ

Bảy trăm năm thuở Huyền Trân công chúa

Hồn Thăng Long Nam tiến vọng Chiêm Thành

Dòng trinh liệt về châu Ô, châu Rí

Nước non nầy ước vọng một đời xanh

Gió Đại Việt theo nhau vào xứ lạ,

Huế trầm hương giữ mộng giữa tim nồng

Như bóng nguyệt soi tình người thầm lặng,

Huyền Trân ơi… dáng Huế hóa non sông

Huế nhỏ lắm mà tình dài muôn dặm

Những đàn con tụ tán bốn phương trời

Thân xa tắp mà tâm gần với tới

Gởi mảnh lòng thương Huế… Huế ơi

Huế mỏng manh như vai trần của mẹ

Gánh một đời hàng vạn đứa con yêu

Đôi triêng gióng lấy thân mình che chắn

Bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn

Rồi mai mốt sông êm đềm trở lại

Núi mưa nguồn cây lá sẽ xanh thêm

Áo lụa trắng em qua đồi Vọng Cảnh

Anh sẽ về bên Mạ bên em


TRẦN KIÊM ĐOÀN

Tuần lụt Huế lần thứ 4: 15-11-2025


Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

TRĂNG NGUYÊN TIÊU - THƠ TRẦN KIÊM ĐOÀN, HUỲNH TÂM HOÀI




 TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Đêm Nguyên Tiêu trăng tròn như giọt ngọc

Nhỏ xuống đời miền áo trắng ngày xưa

Em thoăn thoắt bước qua miền tĩnh lặng

Chạm hồn ta như tiếng gọi đôi bờ

Trăng Nguyệt huyết treo vần thơ bất tận

Soi nhân gian như mắt Phật hiền từ

Một bến đợi, mấy chặng đời lữ thứ

Có em về trong một thoáng trăng xưa 

Ta và em chợt về miền tuổi trẻ 

Gần mà xa như đáy giếng trăng ngời

Vẫn có một dòng trăng xưa lặng lẽ

Chảy qua lòng người tự thuở xa xôi.

Đêm Nguyên Tiêu trăng về em có đợi

Một cánh lòng bỗng mở giữa hư không

Ai đứng đó bên bờ thơ cổ tích

Thấy trăng rơi… thành ánh sáng trong lòng.


Natomas nhìn trăng Nguyên Tiêu 3326

TRẦN KIÊM ĐOÀN


Xin đáp lể cùng anh Trần Kiêm Đoàn:

TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Đêm Nguyên Tiêu trăng tròn như giọt lệ

Rơi xuống thềm miền áo trắng xa xăm

Anh lặng lẽ bước qua miền tĩnh mịch

Chạm tim em như tiếng gọi âm thầm

Trăng huyết nguyệt vẽ cung đàn bất tuyệt

Soi nhân gian qua mắt Phật từ bi

Một bến vắng, mấy mùa thương đất khách

Có anh về trong khoảnh khắc xuân thì

Em và anh bỗng về miền tuổi mộng

Xa mà gần như đáy nước in trăng

Vẫn có một dòng thời gian lặng lẽ

Chảy qua hồn từ dạo ấy vĩnh hằng

Đêm Nguyên Tiêu trăng về anh có nhớ

Một cánh tình vừa mở giữa hư vô

Ai đứng đó bên bờ sông cổ tích

Thấy trăng tan… thành ánh sáng trong mơ.


HUỲNH TÂM HOÀI


Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2024

CHÙM THƠ THU - TRẦN KIÊM ĐOÀN

 



CHỚM THU CALI

Hỏi lá một thuở rất xanh
Sao em không còn xanh nữa
Lá trả lời em về với mùa Thu
Như bến đợi con sẽ về với Mẹ
Thuở dòng đời hoà quyện với hư vô

Hỏi lá một thuở vàng thu
Sao em không còn vàng nữa
Lá trả lời em đã đổi màu khô
Khắng khít mấy cũng có ngày xa cách
Chớp mắt nào mà chẳng hứa thiên thu

Hỏi lá trên cành phong rụng xuống
Lá trả lời em từ cõi sơ xưa
Như điểm cuối và khởi đầu là một
Hợp là đang tan hội ngộ để chia lìa

Dẫu em tin hay không có kiếp mai sau
Thì Thu hết Đông tàn Xuân vẫn tới
Mọc là lặn mặt trời không đổi mới
Một cung trời ngàn năm cũ mây bay

Và cứ thế xanh đỏ tím vàng như chiếc lá
Những hẹn hò ly biệt gối lên nhau
Hồn Thu lạnh màu mắt em xanh quá
Thương vàng phai nhìn ảo ảnh qua cầu

Chớm Thu Cali 2022

**+**+**+**+**+
ĐỐI BÓNG THIỀN THU

Quán niệm thấy thân mình bất tịnh quá
Đốt đèn lên lẫm liệt niệm Di Đà
Tâm như vượn chuyền cành oằn mộng tưởng
Ý buông lung vó ngựa phóng đường xa

Lạy Phật con ngồi thiền xin sám hối
Viết lách làm thơ tội lỗi đã bao năm
Không chia sẻ sợ thần hồn biến mất
Chia không đều thần thức lại bâng khuâng

Thân ngồi thiền tâm vọng tưởng vu vơ
Đếm hơi thở xẹp phồng mơ mộng hão
Ngỡ xuống trần gian cạo đầu thay áo
Thỏng tay tiên vào chợ níu ba đào

Nghi lễ rền vang sao tâm con vắng lặng
Lối đi nào mới đến được Như Lai
Con nhắm mắt tiếng nghìn xưa vọng lại
Đuốc trong tâm có sẵn đợi chờ ai

Con không yêu người mà cũng chẳng yêu ta
Rồi tự nhủ bước trên đường Trung Đạo
Tri kỷ hồng nhan xưa đam mê vũ bão
Không nhân tình sao cũng thấy tình nhân

Không lẽ đợi thiên tiên từ Đâu Suất
Giáng thần thông làm rõ mặt nhân gian
Nếu đã biết nhau từ muôn năm tiền kiếp
Đợi làm chi cho dầu cạn canh tàn

Mang thương tích giữa dòng đời bất tịnh
Quán thân tâm ảo vọng đến bơ phờ
Kinh dài quá mà duyên hành lại mỏng
Làm thinh buồn nên lần thẩn làm thơ

Natomas Trùng Cửu Tây 9/9/2024

**********

*******
ĐIỆU THU HỀ LẠC PHÁCH

Thu bên ni nhớ Thu bên nớ
Nghe Thu vàng Huế vẫn rất xanh
Gió heo may chưa mang về bão tố
Vạt áo dài em bay qua cổng hoàng thành

Nhớ chốn cũ bạn bè xưa vắng bóng
Những Châu Linh Quyết Nhẫn đã về quê
Chiều Thu tím nghe tiếng gà đồng vọng
Ta quặn mình bên nớ nhớ bên tê

Đã triệu năm rồi Thu vẫn là Thu
Vẫn nắng nhạt chiều phai lá vàng cô quạnh
Hình dung Huế giọt mưa Ngâu vừa tạnh
Màu quan san rừng phong lạnh Thu hề

Bỗng nhớ em nửa phiến đời đã trễ
Giữa hội người đối bóng với cô đơn
Phận ế ẩm chợ chiều buông gánh ngủ
Điệu Thu hề lạc phách mái pha sương

Ta mùa Thu và em chỉ còn Thu trở lại
Chiều đã tàn nắng tắt chẳng còn ai
Chén cổ độ rượu hoàng hoa vắng ngắt
Men bồ đào không thấm vị Redwine

Nhớ Vô Kỵ kẻ lông mày Triệu Mẫn
Đao Ỷ Thiên Đồ Long kiếm phôi pha
Thuở mạt vận dao cùn hơn kiếm trận
Tiếng diều kêu quạ réo át sơn ca

Chia tay bạn ta về mô nỏ biết
Ngấn lệ đời man mác một lần thôi
Gặp nhau cứ nghĩ như lần cuối
Thương ghét buồn vui cũng mỉm cười


Cali tháng Tám mùa Trung Thu 2024
TRẦN KIÊM ĐOÀN

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2024

BÀI VĂN XUÔI TỪ GIÃ HUẾ - TRẦN KIÊM ĐOÀN

 



BÀI THƠ VĂN XUÔI TỪ GIÃ HUẾ

Gã phiêu bạt lang thang về lại Huế.
Duyên chưa tròn lãng tử lại ra đi.
Tối mai bay vô Sài Gòn đêm nay khó ngủ. Cứ thương thương chen lấn nỗi buồn.
Có chi mô ba tuần ở Huế; mà thời gian không đủ để vui buồn. Vui bè bạn năm châu hội ngộ, buồn cuộc vui nào cũng có lúc chia tay.
Huế mà nói thương thì còn mỏng quá. Nói quặn lòng e chưa đủ tình nhau.
Huế nói ghét e vẫn còn giận lẫy; nói chi mô nghe chưa đủ ân tình. Bởi tiếng Huế là nâng niu im lặng; để tím buồn mây núi vọng xa xăm.
Huế không cần nêm thêm gia vị, mà vẫn hồn nhiên cay đắng ngọt bùi. Phút hội ngộ mừng trở về cũng khóc; giờ chia tay nước mắt cũng lưng tròng. Ôm thật chặt sợ thời gian tuột mất, ngại vô thường ai dám hẹn năm sau.
Mong manh quá Huế ơi đời bọt nổi, có em rồi còn sợ mất trong mơ. Vì tình Huế là cây đa bến cũ, ngỡ muôn đời lo bến vắng đò trôi.
Đêm khuya lắm giọt mùa Xuân dài ngắn. Dế linh hồn man mác gọi đêm thâu. Bóng tối Huế như giọt thầm dễ vỡ. Giấc canh dài gà gáy tỉnh ban trưa.
Gặp lại Huế em nơi mô không thấy. Em đã về cung cấm thuở vàng mơ. Ôm viễn mộng trong vòng tay bát ngát. Huế hiện tiền mà Huế vẫn xa xưa.
Hẹn với Huế ngày mô về lại. Con đường xưa trảy lá đợi chờ. Anh chỉ sợ trên nẻo đường vĩnh cữu. Huế thật tình là Huế ở trong mơ.


Nhà Ba Á - An Cựu 21-3-2024
Tạm biệt Huế
TKĐ

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

THU QUÁN VÔ THƯỜNG - THƠ TRẦN KIÊM ĐOÀN

 



THU QUÁN VÔ THƯỜNG 


Biết đâu mình sống 100 năm 

Thân củi mục hoá hương trầm

Ảo hóa đường đời bất tận

Kéo dài vô thủy vô chung 


Biết đâu 80 mình chết 

Bây giờ xế bóng 75

Năm năm làm chi cho hết 

Khéo lo những chuyện xa tầm


Biết đâu sang năm mình chết 

Hôm nay Thu mới sang mùa

Đông Hạ Xuân xanh trước mắt 

Thì vui quên chuyện hơn thua


Biết đâu ngày mai mình chết 

Chiều vàng thêm một đêm nay

Thời gian mất tăm biền biệt

Chén đưa chén tiễn vơi đầy 


Biết đâu giờ sau mình chết 

Đủ dài một chén hoàng hoa

Yêu thương không màng hơn thiệt 

Cười vui ngấn lệ quan hà


Biết đâu giờ mình đang chết 

Thiên thu nhất khứ sát na

Thì cứ cười vang quên hết 

Niềm đau nỗi khổ Ta Bà


Thu sang lá rụng quán vô thường 

Đông tới mưa về quán tuyết sương 

Xuân quán ngàn hoa vô hữu tướng 

Hạ về rực rỡ quán mười phương 


Nhân gian đang  sống là đang chết 

Đang về xuôi mái nghĩa đang qua

Tử sinh vẫn gối đầu tương biệt 

Không lại hoàn không ai là ta


Sacramento, vào Thu 2022

TRẦN KIÊM ĐOÀN


** Quán niệm bên trời hiên quán vắng; 

Thấy mình thành một sợi  mây bay! (Trụ Vũ)



Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

CHỚM THU CALI - THƠ TRẦN KIÊM ĐOÀN

                                      

                             



CHỚM THU CALI

Hỏi lá một thuở rất xanh
Sao em không còn xanh nữa
Lá trả lời em về với mùa Thu
Như bến đợi con sẽ về với Mẹ
Thuở dòng đời hoà quyện với hư vô

Hỏi lá một thuở vàng thu
Sao em không còn vàng nữa
Lá trả lời em đã đổi màu khô
Khắng khít mấy cũng có ngày xa cách
Chớp mắt nào mà chẳng hứa thiên thu

Hỏi lá trên cành phong rụng xuống
Lá trả lời em từ cõi sơ xưa
Như điểm cuối và khởi đầu là một
Hợp là đang tan hội ngộ để chia lìa

Dẫu em tin hay không có kiếp mai sau
Thì Thu hết Đông tàn Xuân vẫn tới
Mọc là lặn mặt trời không đổi mới
Một cung trời ngàn năm cũ mây bay

Và cứ thế xanh đỏ tím vàng như chiếc lá
Những hẹn hò ly biệt gối lên nhau
Hồn Thu lạnh màu mắt em xanh quá
Thương vàng phai nhìn ảo ảnh qua cầu


TRẦN KIÊM ĐOÀN
Chớm Thu Cali 2022