CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

CHIỀU SÂN GA - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ

 


CHIỀU SÂN GA

Chia nhau về mỗi phương trời
Chiều sân ga
Giữa dòng người trăm năm.
Phương chiều
Mắt gởi xa xăm
Hắt hiu
Đời cũng lặng thầm trong sương.
Chiều nay
Người về mỗi phương
Nghe man mác nỗi buồn vương cuối trời
Vai mang hạt bụi vào đời
Cho thơm điệu nhạc,
Cho lời thơ say.
Mây nghiêng nghiêng
Dáng xưa gầy
Cánh chim chở bóng chiều phai nắng vàng.
Ta còn gởi mộng thời gian
Cho cây biếc lộc trên ngàn non xa.
Ta còn hát bản tình ca
Rót trăm năm xuống bóng tà huy bay
Dòng đời
Bạt dấu chân mây
Tiếng lòng xuân, gởi chút nầy vào thơ.


MẶC PHƯƠNG TỬ

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

CỔ TÍCH TÔI ! - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

Hoạ sĩ Nguyễn Trung: thế hệ vàng trong thời kỳ cận kháng chiến

TRANH NGUYỄN TRUNG



CỔ TÍCH TÔI!

 

Bỗng gặp em trong cổ tích tôi

Có quả thị vàng trên cành trĩu trái

Quả thị thơm lừng (như em) có phải

Mùa rất xanh và hoa rất thơm

 

Một mùa xưa ở đó xa xôi

Tôi dừng lại ngày thơ ấu lạ

Hương đồng quê và cánh đồng lúa mạ

Rập rờn bay theo gió lao xao

 

Cổ tích tôi có giòng sông trôi xuôi

Có hạt lúa tám thơm ngạt ngào hương nụ

Tôi say mê mùi đất ươm tươi

Ước ao tình yêu cô tấm

 

Tôi lại đi cuối bãi sông bồi

Trang cổ tích đầu tiên làm mình bối rối

Cô tấm hiền ngoan vẫn mãi bên đời

Sân trường ngày xưa qua bao chìm nổi

 

Vẫn giấc mơ một thời non dại

Vẫn mới rợi à em chuyện cũ năm nào

Dù bây giờ bước thấp bước cao

Ngoãnh lại nhìn sao xa ngái

 

Chiêm bao vẽ lên bao hình con gái

Về một ngày xưa tuổi trẻ ngọt ngào

Về một ngày xưa sóng gió xôn xao

Nhưng cổ tích chỉ là em, có phải?

 

 TRẦN YÊN HOÀ  


Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

TRỆ TRÁCH - NGUYỄN DU ,ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 


Góc Việt Thi :  

             TRỆ KHÁCH của NGUYỄN DU

                           

      Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học. Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú tài). Ông lấy vợ là em gái Đoàn Nguyễn Tuấn và là con gái quan ngự sử Đoàn Nguyễn Thục. Ông cũng được tập ấm chức Chánh thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên.

     Đến năm 1786, khi Tây Sơn Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất dẹp chúa Trịnh, hai anh lớn là Nguyễn Khản và Nguyễn Điều bị bệnh chết, Nguyễn Du về Quỳnh Côi lánh nạn, ở đó suốt mười năm, thời gian này được gọi là thời kỳ "Mười năm gió bụi (1786-1796)". Năm 1791, một đại hoạ xảy ra: Nguyễn Quýnh, anh cùng cha khác mẹ của ông, người đồng chí rất thân yêu, nổi lên chống nhà Tây Sơn, đã bị bắt, bị giết, và làng Tiên Điền bị tàn phá, dinh thự nhà họ Nguyễn bị đốt hết. Năm 1795, vợ ông sinh được Nguyễn Tứ con thứ tư, người con duy nhất sống sót, thì bà qua đời. Nguyễn Du quá đau khổ vì vợ mất, lại ôm trên tay một đứa con mất mẹ còn rất nhỏ. Ông thực sự đã đến bước đường cùng : Ở lại, nương nhờ anh vợ thì không còn lý do, về quê mình thì dù anh Nguyễn Đề cũng làm quan cho Tây Sơn, nhưng đang đi sứ Trung Quốc chưa biết bao giờ về (đi sứ lần thứ 2, 1795). Nguyễn Du nấn ná ở lại Quỳnh Côi chưa đi ngay vì đợi cho con cứng cáp hơn, và có ý chờ Nguyễn Đề về để có chỗ dựa, trong tình thế quân Tây Sơn săn đuổi rất ráo riết những người chống đối (Vào năm 1796, Nguyễn Du dự định đi Nam, bị quận công Nguyễn Thận bắt giam ở Nghệ An, chính Nguyễn Đề đi sứ về kịp, đã cứu được em). Khi sắp rời hẳn Quỳnh Côi, trong khung cảnh êm ả của đồng bằng sông Hồng, nhưng cõi lòng tràn đầy bão tố, Nguyễn Du viết bài thơ TRỆ KHÁCH 滯客, bài thơ cuối cùng của thời kỳ Mười năm gió bụi. (Theo : Thi Viên được gởi bởi PH@ vào 10/06/2017).


           

           滯客                            TRỆ KHÁCH

     滯客淹留南海中,      Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung,

     寂寥良夜與誰同。      Tịch liêu lương dạ dữ thuỳ đồng ?

     歸鴻悲動天河水,      Quy hồng bi động thiên hà thuỷ,

     戍鼓寒侵夏夜風。      Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong.

     人到窮途無好夢,      Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng,

     天回苦海促浮蹤。      Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.

     風塵隊裡留皮骨,      Phong trần đội lý lưu bì cốt,

     客枕蕭蕭兩鬢蓬。      Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng.


* Chú thích :

    - TRỆ KHÁCH 滯客 : Người khách còn trì trệ, nấn ná chưa chịu rời đi; Nguyễn Du tự ví mình khi vợ mất mà còn nấn ná ở lại nhà bên vợ.

    - YÊM LƯU 淹留 : YÊM 淹 là Ngâm, là Ngập chìm trong nước. Nên YÊM LƯU 淹留 là "Cố lưu lại thêm một thời gian nữa".

    - TỊCH LIÊU 寂寥 : là Tịch Mịch 寂寞 và Cô Liêu 孤寥; Có nghĩa : Yên lặng vắng vẻ và Cô đơn chỉ có một mình.

    - THIÊN HÀ 天河 : là Dòng sông trên trời, chỉ dãy Ngân Hà.

    - THÚ CỔ 戍鼓 : Tiếng trống điểm sang canh của những người lính thú.

    - CÙNG ĐỒ 窮途 : là Con đường cùng, là Bước đường cùng.

    - XÚC PHÙ TUNG 促浮蹤 : XÚC là Thôi thúc; PHÙ là Trôi nổi; TUNG là Tung tích, là dấu chân; Nên XÚC PHÙ TUNG là "Thôi thúc những bước chân phiêu bồng trôi nổi còn chưa biết phải đi về đâu!".

    - PHONG TRẦN ĐỘI LÝ 風塵隊裡 : là Trong hàng ngũ (trong đám) của những người phong trần chìm nổi trong gió bụi cuộc đời.

    - TIÊU TIÊU 蕭蕭 : Ở đây chỉ (hai bên tóc mai) đã hoa râm, lốm đốm bạc.


* Nghĩa bài thơ :

                       NGƯỜI KHÁCH CÒN NẤN NÁ CHƯA RỜI

       Người khách trì trệ vẫn còn nấn ná mãi ở vùng đất Nam hải nầy; Trong đêm thanh cô đơn vắng vẻ chỉ một thân một mình không người cùng bầu bạn. Tiếng con chim nhạn bi thương bay về làm kinh động cả nước trên sông Ngân hà. Tiếng trống điểm canh của những người lính thú như thấm đậm thêm cái gió lạnh của đêm hè. Con người đã đến bước đường cùng thì không còn gì là mộng đẹp nữa; Trời đã xoay bể khổ trở lại nên lại thôi thúc bước chân trôi nổi của kẻ phiêu bồng. Trong đám của những kẻ lăn lóc phong trần gió bụi chỉ còn lại có da bọc xương và lòa xòa bên gối khách là hai làn tóc mai đà lốm đốm bạc mà thôi !


* Diễn Nôm :

                        TRỆ KHÁCH

                 Một khách biển Nam trì trệ mãi,

                 Đêm thanh vắng lặng biết ai cùng ?

                 Nhạn về khuấy động sông Ngân chảy,

                 Trống giục lao xao gió lạnh lồng.

                 Người đến đường cùng không mộng đẹp,

                 Trời xoay biển khổ chẳng đường trông.

                 Phong trần một kẻ xương da bọc,

                 Bên gối tóc mai đã trắng ngần !

      Lục bát :

                 Biển Nam trì trệ khách xa,

                 Đêm thanh vắng lặng ai là cảm thông ?

                 Nhạn về lay động sông Ngân,

                 Trống canh đêm hạ gió lành lạnh đưa.

                 Người cùng mộng đẹp dần thưa,

                 Trời xoay biển khổ chân đưa phiêu bồng.

                 Xương da trong bước phong trần,

                 Lơ thơ bên gối trắng ngần tóc mai !

                                                 Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm


       Qủa là tâm sự buồn thương yếm thế của một kẻ sĩ trong bước phong trần khi còn nổi chìm chưa đắc chí ở chốn quê người đất khách. Tâm tình của Nguyễn Du đã lắng đọng đến mức thấp nhất trong khoảng thời gian "Mười năm gió bụi" nầy. Nhưng rồi, sau cơn mưa trời lại sáng, bước đường tương lai sau nầy sẽ rộng mở hơn !...


      Hẹn bài dịch tới

  杜紹德     

                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC                                                                 


Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

CÓ BÉ RỒI - THƠ KHÊ KINH KHA

 

Cô Bé Hà Nội | Podcast on Spotify


CÓ BÉ RỒI


có bé rồi,
anh không mơ mộng nữa
anh không còn thơ thẩn bước bơ vơ
và cuối tuần không còn phải lẻ loi
anh có bé cùng ngồi ăn bát phở
uống ngụm trà để thấy lòng ấm êm
nhớ Sàigòn hay nhớ quán cao nguyên
của ngày nao dừng chân bên sườn núi
gió qua đèo mang chút lạnh mù sương
 
có bé rồi
anh thấy lòng yên tĩnh
và bình yên như biển lặng Hạ-long
rồi những đêm nhìn lên vầng trăng sáng
thấy yên lành trong nỗi sống ấm êm
anh ôm bé vào lòng hôn rối rít
ở nơi đây
              bên bé
              anh thật sự yên lòng
 
có bé rồi
anh không cần mùa xuân nữa
vì mùa xuân đang ở giữa tim anh
không cô đơn
không hận thù, không buồn chán
không lệ hờn trong đêm vắng bé ơi
không giật mình giữa đêm mưa tầm tã
tưởng như mình đang ở giữa rừng sâu
anh có bé đi vào vườn cằn cỗi
của đời anh trong năm tháng tối đen
cám ơn bé đã gieo hạt sống mới
trên khoảng đời còn lại ở nơi đây
nên trong anh tình vững chắc như Trường sơn
như ngàn đời sóng vỗ giữa đại dương
 
có bé rồi
từng ngày là ơn sủng
có bé rồi
đời sẽ mãi dễ thương


KHÊ KINH KHA
(1973)

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

RU TÌNH , TÔI - THƠ TRẦN YÊN HOÀ


 Nguyen Trung Artist - Vietnam Art Gallery NGUYEN TRUNG


RU TÌNH, TÔI


 

Em đến một chiều không hẹn trước


Em cho tôi một góc chiều riêng


Một góc chiều nên tôi trải chiếu


Nằm cạnh bên em chiếc chiếu căn phần



 

Tôi lại thấy chiều xanh rất tỏ


Trời rất xanh và em rất xinh


Hồn tôi thấp thoáng thân du mục


Quanh quẩn bên em cõi tự tình



 

Tôi đã qua những mùa khổ lụy


Tôi trần thân, trơ tráo tiếng cười


Tôi, vết dao đâm chưa lành miệng


May mà có em khâu vá lại tôi



 

Buổi sáng trong vườn tôi mở ngõ


Đón em vào cùng nắng vàng hanh


Có con chim hót bên bờ dậu


Như mừng reo em đến an lành



  

Em ơi! Chim bướm reo vui quá


Vết thương xưa cũng đã liền da


Thịt xương khô, vết bầm xa lạ


Không còn chỗ đứng ở tim ta



 

Còn lại những chiều pha sắc tím


Em. Tôi. Cùng dạo phố đông người


Em. Tôi. Cùng nắm tay nhau lại


Đến cõi thần tiên em biết không?


 

Không có nơi nào hoa cỏ lạ


Bằng nơi hò hẹn của yêu đương


Thịt da em đượm mùi hương sả


Trên người em, buổi sáng tinh tươm



 

Thân, Da em có thêm chanh lá


Những mùi thơm em. Rất Việt Nam



 

Xin tụng ca em bài thơ mới viết


Giữa ta và say, như một tình cờ


Ta chếnh choáng em, mùi hương mới


Là chanh và sả buổi sớm mai


Em đã xông em. Trong ngày thứ bảy


Nên em thơm lừng, hương gió bay


Nên em thơm lừng, mùi da thịt


Anh cúi xuống vùng em, mùi thơm ngát


Vùng em thơm rất đượm. Tình Ơi.

 

 

TRẦN YÊN HÒA


Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

NGỦ THỨC - THƠ HOÀNG XUÂN SƠN

 

Hoạ sĩ Nguyễn Trung: thế hệ vàng trong thời kỳ cận kháng chiến | Le Auction House


NGỦ THỨC


Ngủ với cái án(g) tuyệt vời

Thức dậy cổ kính

Nghe trôi hiện tràng

Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang

Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình

Thức dậy

Phổ đà câu kinh

Đọc

Với chiếc lá vô hình

Cưu mang

Huyền không một vạt hoa vàng

Nhụy của tinh tế

Trầm

Lan

Cội nguồn

Thức mưa

Dù đọng hay tuôn

Nghe đầy thủy vũ mối buồn du sinh

Từ đông vui

Đến

Một mình

Thì đi trầm mặc bình minh gọi chiều

Bụi hồng

Tro lửa liêu xiêu

Màu mắt khăn áo màu điều lửa hương



HOÀNG XUÂN  SƠN

13, tháng bảy năm 2026

Nguồn : Thơ Văn Trần Yên Hoà

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2026

THAO THỨC - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN


Nguyen Trung Artist - Vietnam Art Gallery NGUYEN TRUNG

TRANH NGUYỄN TRUNG


 THAO THỨC


năm rồi anh có lại

đứng ngoài đường nhìn vô

thấy chùm hoa góc trái

đã lá rụng héo khô


thấy áo em vắt cửa

nơi có ánh nắng chiều

mùi hương vàng bông cải

mà gió nồm lại xiêu


chợt lòng anh nhẹ quá

khi đợi hoài cô liêu

bầu trời cao tay với

sao ước mơ đôi điều


ngỡ gần thêm mái tóc

cho anh thầm nhìn theo

vậy mà hương lại khép

nên phải đành cheo leo


rồi mây che khắp nẻo

làm trăng treo lưng đèo

biết em còn thao thức

khi bóng đời nặng đeo


trên đôi vai gầy héo

vẫn nồng nàn sớm trưa

em lớn thêm mấy nẻo

thì anh thành ngày xưa


thì già nua lại đến

tóc trắng giờ lưa thưa

thương em như cỏ úa

một đời anh dây dưa.


 HUỲNH LIỄU NGẠN

5.7.2026


Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

DÒNG ĐỜI - THƠ LÊ KIM THƯỢNG



 


DÒNG  ĐỜI

 

1. 

 

Đưa tay vuốt mái tóc em

Sợi thương, sợi nhớ nhẹ mềm trong anh

Tiếng em giọng nói thanh thanh

Dịu dàng hai tiếng “Em…Anh…” ngọt ngào

Giữ tình chẳng để hư hao

Sắt son thề hẹn trước sau một lòng

Tặng en chín chín đóa hồng

Tình yêu tha thiết tấm lòng tinh khôi

Gió đưa tà áo buông lơi

Trắng màu trinh nữ, mây trời bay bay

Thề bồi “Muối mặn… gừng cay…”

Đậm đà tha thiết đắm say tình nồng

Tình yêu, yêu thật một lòng

Vượt qua gian khổ chờ mong tháng ngày

Người yêu nửa tỉnh, nửa say

Nụ hôn đằm thắm, vòng tay ấm nồng…

 

 

2. 

 

Còn gì nhớ nhớ mong mong

Cuộc tình rơi xuống giữa dòng đời trôi

Con tim thao thức bồi hồi

Sao nghe tê tái đơn côi một mình

Lỡ vay em một mối tình

Trăm năm chưa trả, riêng mình, riêng đau

Bao giờ cho hết mưa Ngâu

Ngưu Lang – Chức Nữ qua cầu thành đôi

Xưa rồi lâu lắm xa xôi

Một thời hạnh phúc, một thời yêu xa

Ngày em làm vợ người ta

Thơ tình gói lại làm quà trao tay…

Mừng vui gặp lại hôm nay

Vẹn nguyên kỷ niệm những ngày thương đau

Mười năm mới gặp nhau

Tóc xưa nay đã bạc màu thời gian…


           

            Nha Trang, tháng 08. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

BUỔI CHIỀU Ở MỸ ,NHỚ QUÊ - THƠ TRẦN YÊN HOÀ




 BUỔI CHIỀU Ở MỸ, NHỚ QUÊ



một chiều buồn như trăm năm trước 

ta bơ vơ đứng  gọi thất thanh 

quê nhà, quê nhà, đâu mất hút? 

mà ta như gãy cánh lìa cành 

  

gió cũng gió mà sao nghe lạ 

có cái gì như thể hắt hiu 

nắng cũng nắng vàng hanh trên lá 

mà nghe sao lạnh thấm tiêu điều. 

  

bờ môi mọng em, đóa tường vi nở 

nhớ điếng hồn luôn đêm sáng trăng 

cái nụ cười em, phương trời đất cũ

quýnh quáng ta giục giã môi mềm 

  

ta trung niên, chập choạng câu cười 

sầu cố xứ, sầu tình, đắng nghét 

ở Mỹ, nhớ mặn nồng, ngọt, lạt 

em, ngọn nguồn, xa tít mù khơi 

  

ở Mỹ, cơn buồn không thể biết 

bất kỳ đêm, hay sáng, hay chiều 

ở Mỹ, khi buồn lên thê thiết

là cuồng điên, quay quắt, quạnh hiu.



TRẦN YÊN HOÀ


XE ĐÒ HUẾ XƯA - PHAN NI TẤN



 Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết '8-4121 Η N'


XE ĐÒ HUẾ XƯA
Bằng một giọng nặng oằn trầm lắng, ông già Bến Ngự (không phải biệt danh của cụ Phan Bội Châu) kể chuyện xe đò Huế xưa thật thú vị.
Ông kể:
Tôi xa Huế tính đến nay ngót 65 năm trời mà chưa trở lại Huế lần mô. Những ai từng xa Huế như tôi ít nhiều chi cũng mang theo vài kỷ niệm với Huế, có rứa ở tuổi xế chiều Huế vẫn còn chút chi để nhớ. Nhớ nhất là hồi tôi làm lơ xe đò đi đi về về trên những chuyến xe chở khách chạy các tuyến đường trong, ngoài thành phố và các vùng lân cận. Ở tuổi 16, 17, chiếc xe đò đã gắn bó mật thiết một thời làm lơ xe của tôi.
Cũng xin nói rõ: lơ xe hay phụ xe là người đi cùng tài xế, ngoài việc hỗ trợ tài xế, "lơ" còn đảm nhận thêm các công việc như mời chào khách, thu tiền vé, sắp xếp hành lý và bốc vác hàng hóa. Danh từ "lơ" bắt nguồn từ tiếng Pháp contrôleur là người soát vé.
Xe đò Huế dưới thời Pháp thuộc là phương tiện giao thông bằng đường bộ, khi người Pháp mở rộng đường sá, thay thế các tuyến đò dọc bằng phương tiện xe hơi nhập cảng từ Pháp. Từ đó, danh từ "xe đò" ra đời thay thế những chuyến đò ngang, đò dọc trên sông Hương.
Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, Pháp rút quân về nước, hệ thống giao thông và xe đò Huế vẫn tiếp tục duy trì hoạt động. Các bến xe đò vẫn tập trung ở khu vực chợ Đông Ba và khu vực Nguyễn Hoàng, nơi các dòng xe chở khách đi khắp các các vùng lân cận của thành phố Huế và Đà Nẵng.
Bến xe Đông Ba nằm ở chân cầu Gia Hội, bên hông chợ Đông Ba, gần rạp hát Tân Tân cũ (thời Pháp thuộc rạp mang tên Tam Tân). Đây là nơi xuất phát của các chuyến xe đò địa phương chở khách và học sinh đi lại giữa các vùng trong thành phố và ngoại ô như Thuận An, Kim Long, An Hòa.
Còn bến xe Nguyễn Hoàng nằm ở gần cửa Thượng Tứ và bờ sông Hương chuyên phục vụ các chuyến xe đường dài hoặc xe hàng lớn.
Ngoài ra, còn có bến xe An Cựu – Bến Ngự nằm trên phần đất thuộc làng An Cựu và Bến Ngự xưa, chuyên phục vụ các chuyến xe đi về các huyện phía Nam tỉnh Thừa Thiên Huế và đi các tỉnh miền Nam. Đặc biệt, xe chạy lộ trình nào thì trước đầu xe đều có tấm bảng sơn màu xanh dương đậm, ghi rõ nơi đến.
Theo hệ thống xe đò Huế trước năm 1975, các xe chạy về phía hữu ngạn mang số lẻ, như số 1 An Cựu, số 3 Bến Ngự, số 5 Từ Đàm, số 7 Long Thọ, số 9 Thuận An, 11 Giạ Lê, 13 An Lăng.
Còn các xe chạy về phía tả ngạn sông Hương mang số chẵn, như số 2 Bao Dinh, số 4 Bao Vinh, số 6 Chợ Dinh, số 8 Kim Long, số 10 Văn Thánh, số 12 An Hòa, 14 Tây Lộc.
Xe đò Huế - Đà Nẵng có các xe mang tên Phi Long, Tiến Lực, Nam Lộc.
Xe đò không chỉ chở khách mà còn chở cả gà, vịt, heo, trái cây, thúng mủng từ các huyện Phong Điền, Phú Lộc, A Lưới, Bình Điền về thành phố, ồn ào, chật chội nhưng vui, tạo nên hình ảnh mộc mạc đậm chất Huế.
Tôi làm lơ xe từ năm 16 tuổi miết tới tuổi 25 thì… hưu trí. Thật ra trong một chuyến xe chạy về Đà Nẵng vào mùa mưa trơn trợt tôi đu càng xe vô ý sẩy tay té lọi giò, trật tay, bể đầu sứt trán. Cú té quá nặng đẩy bật tôi ra khỏi nghề lơ xe. Đó là một thời để nhớ để thương dảnh cho tôi và cho những ai đã từng đi về trên những chuyến xe đò ngày xưa không cách chi quên. Cũng nhờ rứa tôi mới có dịp trở về thăm quê Bến Ngự của tôi.
Tôi vẫn còn nhớ trước năm 1975, từ bến xe Huế về Bến Ngự thường qua cầu Tràng Tiền rồi theo đường lộ Lê Lợi rẽ vô đường Phan Bội Châu, khoảng 2, 3 km là tới chân cầu và chợ Bến Ngự. Thời đó, xe đò nào cũng rã rệu như con ngựa già chạy ì à ì ạch, máy nổ phành phạch, xịt khói đen xì mà người ta thường gọi là xe rờ-nôn tức hãng xe Renault của Pháp. Nhìn chiếc xe cà rịch cà tang rứa mà trên trần còn chất đầy cả củi, trái cây, bao bố, những thứ đặc sản xứ Huế. Tất cả đều gợi nhớ hình ảnh chứa chan tình người trải dài từ bến xe, bến sông, góc chợ gắn liền với ký ức của những người con xứ Huế còn ở Huế hay đã rời xa Huế


PHAN NI TẤN