Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2022
TÂN NIÊN TÁC -LƯU TRƯỜNG KHANH , ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM
Thứ Hai, 1 tháng 2, 2021
GÓC ĐƯỜNG THI : CHÙM THƠ XUÂN 2021 - VƯƠNG AN THẠCH, LƯU TRƯỜNG KHANH, LÝ THẾ DÂN,LÝ BẠCH, ĐỚI THÚC LUÂN,ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Chieu Duc
Tệp đính kèm
06:58 (48 phút trước)
GÓC ĐƯỜNG THI :
CHÙM THƠ XUÂN 2021
1. Bài thơ NGUYÊN NHẬT của Vương An Thạch :
Là Tể Tướng đương triều, Vương An Thạch muốn thi hành tân pháp, cải cách xã hội và cuộc sống nhân sinh, nên thơ văn của ông cũng bình dị dễ hiểu và đi thẳng vào lòng người. Bài thơ Nguyên Nhật dưới đây của ông, chỉ vài nét chấm phá tiêu biểu điển hình cho phong tục ngày Tết, ông đã vẽ nên một bức tranh xuân vui tươi, sống động và đầy vẻ ấm áp của ngày xuân...
元日 NGUYÊN NHẬT
爆竹聲中一歲除, Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ,
春風送暖入屠蘇. Xuân phong tống noãn nhập đồ tô.
千門萬戶曈曈日, Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật,
總把新桃換舊符. Tổng bả tân đào hoán cựu phù.
王安石[宋] Vương An Thạch (Tống)
Inline image
* Chú Thích :
- Nguyên Nhật 元日 : là Ngày đầu của một năm, là ngày Mồng một tháng Giêng, là ngày Tết Nguyên Đán đó.
- Bộc Trúc 爆竹 : BỘC là Nổ tung, TRÚC là Tre. BỘC TRÚC là Tre nổ tung, nói cho đúng hơn là : Các mắt tre già được đốt cho nổ chí chát tung lên trong ngày Tết đầu năm để trừ tà ma, để xua đuổi cái xấu cái ác đi chỗ khác. Sau này, khi đã chế tạo được pháo rồi thì từ BỘC TRÚC có nghĩa là Pháo nổ (chớ không phải là Tre nổ nữa!).
- Đồ Tô 屠蘇 : là tên một loại rượu thuốc được ngâm bằng một loại thảo mộc như lá Tía Tô của ta, dùng để ướp rượu uống trong ngày Tết để trừ dịch bệnh, để được khoẻ mạnh sống lâu.
- Đồng Đồng 曈曈 : ĐỒNG là mặt trời mới mọc, nên ĐỒNG ĐỒNG lá Ánh nắng chói chan của mặt trời mới mọc trong buổi sáng đầu xuân.
- Thiên Môn Vạn Hộ 千門萬戶 : là Ngàn cửa muôn nhà, ý nói Tất cả mọi nhà.
- Đào...Phù : ĐÀO là Cành Đào, PHÙ là Bùa chú; nên ĐÀO PHÙ là Lá bùa nêu được vẽ trên cành đào để trừ tà ma và đón cái may mắn đầu xuân vào nhà. Nên câu : 總把新桃換舊符. Tổng bả TÂN ĐÀO hoán CỰU PHÙ. Có nghĩa : Đều đem CÀNH ĐÀO MỚI để đổi LÁ BÙA CŨ. Ý là : Gở tấm bùa nêu cũ của năm ngoái xuống để dán lá bùa nêu của năm mới lên.
* Nghĩa Bài Thơ :
MỒNG MỘT TẾT
Trong tiếng pháo nổ, một năm đã đi qua (một tuổi đã được trừ đi). Gió xuân đưa làn hơi ấm áp vào trong cốc rượu Đồ tô. Tất cả mọi nhà đều được đón ánh nắng chan hòa của buổi đầu xuân và (không ai bảo ai) mọi người đều gở tấm bùa nêu cũ của năm ngoái xuống để dán lá bùa nêu của năm mới lên.
Chỉ vỏn vẹn bốn câu mà nêu bậc hết những hoạt động phong tục tập quán và không khí chớm xuân của ngày Tết Nguyên Đán một cách bao quát đầy đủ của ngày đầu một năm.
* Diễn Nôm :
MỒNG MỘT TẾT
Inline image
Trong tiếng pháo vang năm cũ qua,
Gió xuân ấm áp rượu chan hòa.
Nhà nhà đón nắng xuân phơi phới,
Thay lá bùa nêu cũ đã qua !
Lục bát :
Pháo vang một tuổi đi qua,
Gió xuân ấm áp chan hòa rượu xuân.
Muôn nhà cùng đón nắng xuân,
Bùa nêu thay mới không cần bảo nhau !
Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
2. Bài thơ TÂN NIÊN TÁC của Lưu Trường Khanh :
LƯU TRƯỜNG KHANH 劉長卿 (726-786) tự là Văn Phòng, người huyện Tuyên Thành (thuộc tỉnh An Huy ngày nay) giỏi về thơ ngũ ngôn và ngũ ngôn luật. Ông làm quan đến chức Giám Sát Ngự Sử, có giao tình rất hậu với Thi tiên Lý Bạch.
Mùa xuân năm Chí Đức thứ 3 (758), vì chính kiến bất đồng, từ chức Trưởng Châu Úy của Tô Châu, ông bị biếm đến Phan Châu tỉnh Quảng Đông lãnh chức Nam Ba Úy. Tết năm đó ông làm bài thơ dưới đây để bày tỏ nỗi lòng của mình.
新年作 TÂN NIÊN TÁC
鄉心新歲切, Hương tâm tân tuế thiết,
天畔獨潸然。 Thiên bạn độc san nhiên.
老至居人下, Lão chí cư nhân hạ,
春歸在客先。 Xuân quy tại khách tiên.
嶺猿同旦暮, Lãnh viên đồng đán mộ,
江柳共風煙。 Giang liễu cộng phong yên.
已似長沙傅, Dĩ tự Trường Sa Phó,
從今又幾年 ? Tòng kim hựu kỷ niên ?
劉長卿 Lưu Trường Khanh
Inline image
* CHÚ THÍCH :
- Hương tâm 鄉心 : là Lòng Quê, là Nỗi lòng tưởng nhớ đến quê hương.
- Tân Tuế 新歲 : là Tuổi mới, là Năm mới, là Tết đến.
- Thiên Bạn 天畔 : là Bên trời, ở đây chỉ bị biếm đến nơi xa xôi.
- San Nhiên 潸然 : chỉ lệ rơi lả chả.
- Lãnh Viên 嶺猿 : chỉ Vượn trên đĩnh núi.
- Đán Mộ 旦暮 : ĐÁN là Ngày, là Buổi Sáng. MỘ là Buổi Chiều.
- Trường Sa Phó 長沙傅 : chỉ GIẢ NGHỊ 賈誼, một nhà tư tưởng, nhà văn học và là một quan Đại Phu nổi tiếng đời Tây Hán, rất được Hán Văn Đế trọng vọng, nhưng bị dèm xiểm đố kỵ, nên có lúc bị đày đến làm Thái Phó của đất Trường Sa, vì thế mới gọi là Trường Sa Phó. Ở đây Lưu Trường Khanh tự ví mình như là Giả Nghị vì dèm xiểm nên bị đày.
* NGHĨA BÀI THƠ :
Sáng Tác Trong Năm Mới
Nỗi lòng tưởng nhớ đến quê hương càng tha thiết hơn trong những ngày Tết đến. Một mình một bóng nơi chân trời xa xôi nầy mà âm thầm nhỏ lệ. Cái già đã sồng sộc đến nơi rồi mà thân phận vẫn cứ lè tè nhỏ nhoi ở dưới người khác; Cũng như nàng xuân luôn luôn đến trước với những người khách tha hương. Ở đây, sớm chiều chỉ cùng bầu bạn với các chú vượn trên các đĩnh núi xa xa, và ngắm cảnh mờ sương gió với các dãy liễu rũ ven sông. Ta tự thấy mình đã giống như là Đại phu Giả Nghị lúc bị đày ở Trường Sa; không biết là từ nay còn phải chịu đến mấy năm nữa đây ?!
Qủa là nỗi lòng của kẻ tha hương thật bi thiết trong những ngày năm hết Tết đến, khi nhìn lại thân phận của mình vẫn còn nhỏ nhoi không thực hiện được hoài bão và mùa xuân vẫn không chờ đợi ai mà vẫn cứ ập đến qua hai câu thơ thật phũ phàng thực tế :
老至居人下, Lão chí cư nhân hạ,
春歸在客先。 Xuân quy tại khách tiên.
... làm cho ta cũng nhớ đến thân phận của những kẻ lưu vong nơi xứ lạ quê người như chúng ta hiện nay. Chưa làm được gì cho quê hương thì cái già đã sồng sộc ập xuống trên đầu rồi. Câu "Xuân quy tại khách tiên" ngoài nghĩa " Người khách tha hương cảm nhận mùa xuân về trước hơn những người khác" ra, còn có nghĩa là :"Mùa xuân đến trước hơn khi người đất khách được về lại quê hương !" Quê hương còn chưa về được, nhưng mùa xuân thì vẫn cứ đến hằng năm không ai có thể cản được như lời thơ của thi sĩ Tiền Chiến Xuân Diệu :
Tôi có chờ đâu có đợi đâu,
Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !
* DIỄN NÔM :
TÂN NIÊN TÁC
Lòng quê Tết càng bi thiết,
Bên trời lả chả lệ rơi.
Già đến quan còn bên dưới,
Xuân về khách cảm trước người.
Sớm chiều cùng nghe tiếng vượn,
Sương khói bờ liễu buông lơi.
Đã như Trường Sa Giả Nghị,
Sức còn biết mấy lăm hơi ?!
Lục bát :
Lòng quê Tết đến ngậm ngùi,
Bên trời lả chả bồi hồi riêng ta.
Dưới người khi tuổi đã già,
Xuân về trước lúc hồi gia khách sầu.
Sớm chiều tiếng vượn rầu rầu,
Bên bờ liễu rũ nhạt mầu khói sương.
Thân như Giả Nghị sầu vương,
Từ nay, rồi nữa, miên trường bao năm ?!
Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
3. Bài thơ XUÂN TỨ của Lý Bạch :
XUÂN TỨ là tựa của một bài thơ xuân trong phần thơ Nhạc Phủ của Thi Tiên Lý Bạch. Bài thơ diễn tả nỗi lòng nhớ nhung tha thiết của một nàng cô phụ đang mõi mắt chờ đợi bóng phu quân lãng tử lạc phách giang hồ nhớ ngày trở lại, và sự kiên trinh trong mõi mòn chờ đợi của người cô phụ trông chồng. Lời thơ mộc mạc chất phác, ý tình chân thật tự nhiên như một khúc dân ca.
春思 李白 XUÂN TỨ LÝ BẠCH
燕草如碧絲, YÝên thảo như bích ty,
秦桑低綠枝 Tần tang đê lục chi.
當君懷歸日, Đương quân hoài quy nhật,
是妾斷腸時 Thị thiếp đoạn trường thì
春風不相識, Xuân phong bất tương thức,
何事入羅幃? Hà sự nhập la vi !?
DỊCH NGHĨA :
Cỏ đất Yên đã xanh mơn mởn như tơ, dâu tầm ăn đất Tần cũng xanh om cả cành lá.( Mùa xuân đã đến rồi đó ! ). Cái ngày mà chàng nhớ đến để quay trở về quê cũ, cũng chính là lúc thiếp đã nhớ nhung chàng mà đứt từng đoạn ruột ra rồi !. Gió xuân kia chẳng hề quen biết, sao lại phe phẩy thổi vào màn thiếp mà chi vậy !? ( Bộ muốn trêu ngươi người cô phụ phòng không hay sao ? Thiếp chặc lòng chặc dạ lắm chớ bộ ! ).
Inline image Inline image
DIỄN NÔM :
Cỏ Yên như tơ xanh biếc
Dâu tằm mơn mởn cành xanh
Khi chàng nhớ ngày trở lại
Thiếp đà ruột đứt từng canh
Gió xuân chẳng hề quen biết
Cớ sao hây hẩy trong mành !?
Lục bát :
Cỏ Yên xanh biếc như tơ,
Dâu tằm mơn mởn lửng lờ cành xa
Ngày chàng mong trở lại nhà
Thiếp đà đứt ruột xót xa nhớ chàng
Gió xuân chẳng biết ngỡ ngàng
Sao còn mơn trớn vào màn thiếp chi ?!
Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
4. Bài thơ TRỪ DẠ TÚC THẠCH ĐẦU DỊCH của Đới Thúc Luân :
除夜宿石頭驛 TRỪ DẠ TÚC THẠCH ĐẦU DỊCH
旅館誰相問, Lữ quán thùy tương vấn,
寒燈獨可親。 Hàn đăng độc khả thân.
一年將盡夜, Nhất niên tương tận dạ,
萬里未歸人。 Vạn lý vị quy nhân.
寥落悲前事, Liêu lạc bi tiền sự,
支離笑此身。 Chi li tiếu thử thân.
愁顏與衰鬢, Sầu nhan dữ suy mấn,
明日又逢春。 Minh nhựt hựu phùng xuân !
戴叔倫 Đới Thúc Luân
Inline image
* Chú thích :
- TRỪ DẠ TÚC THẠCH ĐẦU DỊCH 除夜宿石頭驛 : Đêm Giao thừa trọ ở dịch quán Thạch Đầu.
- Tương Tận 將盡 : là Sắp hết. Tương Tận Dạ là Cái đêm sắp hết của một năm, là đêm ba mươi Tết.
- Liêu Lạc 寥落 : là Lèo tèo, rải rác, rời rạc, lạnh lùng... vừa dùng để tả cảnh vật, vừa dùng để chỉ sự việc.
- Chi Li 支離 : là Chia lìa, phân tán, phiêu bạc , nổi trôi...
- Sầu Nhan 愁顏 : Dung nhan sầu muộn, là Vẻ mặt buồn bã.
- Suy Mấn 衰鬢 : Tóc mai nhuốm bạc, muối nhiều hơn tiêu...
* Nghĩa bài thơ :
ĐÊM GIAO THỪA TRỌ DỊCH QUÁN THẠCH ĐẦU
Ở nơi lữ quán nầy đâu có ai hỏi thăm ai đâu, chỉ độc có ngọn đèn đêm lạnh lẽo là thân cận với ta mà thôi. Một năm sẽ sắp hết trong đêm nay mà ta vẫn còn là người ở ngoài xa muôn dặm chưa về được nhà. Nhìn lại những việc bôn ba lận đận đã qua trong cuộc đời không có gì thành đạt mà cảm thấy buồn lòng; rồi cười cho cái thân phiêu bạc nổi trôi cả đời của mình. Nay chỉ còn lại cái vẻ mặt ưu sầu và mớ tóc mai bạc trắng nầy để ngày mai lại phải đón thêm một mùa xuân mới nữa !
Tâm sự của Đới Thúc Luân cũng giống như những kẻ lưu vong sau 30 tháng 4 năm 1975. Tết nhứt gần kề mà thân vẫn luôn ở xa quê muôn dặm, nhìn lại thời gian qua cũng chẳng làm nên được trò trống gì cả, giờ chỉ còn lại tấm thân tàn già nua cằn cổi, chỉ còn đợi ngày về với ông bà tiên tổ. Xuân về Tết đến chỉ gắng gượng vui với con cháu mà thôi :
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu...
Mang chi xuân đến gợi thêm sầu!...
( Xuân Diệu)
* Diễn Nôm :
ĐÊM GIAO THỪA TRỌ DỊCH QUÁN THẠCH ĐẦU
Inline image
Lữ quán ai người han hỏi,
Chỉ mình đèn lạnh làm thân.
Một năm theo đêm tàn hết,
Muôn dặm đường về xa xăm.
Dang dở lòng buồn chuyện cũ,
Nổi trôi cười nhạo bản thân.
Âu sầu dung nhan tóc bạc,
Mai ngày lại đón chúa xuân.
Lục bát :
Cô đơn lữ quán ai màng,
Một mình với ngọn đèn tàn quạnh hiu.
Giao thừa năm hết cô liêu,
Quê nhà muôn dặm nghe nhiều xót xa.
Cuộc đời lận đận bôn ba,
Mấy phen chìm nổi tóc đà bạc phơ.
Dung nhan sầu muộn bơ phờ,
Mai ngày xuân đến bơ vơ một mình.
Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
5. Bài thơ THỦ TUẾ của Lý Thế Dân :
Lý Thế Dân là Đường Thái Tông 唐太宗 (598-649), ông vua củng cố và mở rộng thêm bờ cỏi của nhà Đường, ông cũng là một ông vua văn võ song toàn . Ta hãy đọc bài thơ Đón Giao Thừa của ông dưới đây sẽ rõ.
Inline image
守歲 THỦ TUẾ
暮景斜芳殿, Mộ cảnh tà phương điện,
年華麗綺宮。 Niên hoa lệ ỷ cung.
寒辭去冬雪, Hàn từ khứ đông tuyết,
暖帶入春風。 Noãn đới nhập xuân phong.
階馥舒梅素, Giai phức thư mai tố,
盤花捲燭紅。 Bàn hoa quyển chúc hồng.
共歡新故歲, Cộng hoan tân cố tuế,
迎送一宵中。 Nghinh tống nhất tiêu trung !
李世民 Lý Thế Dân
Inline image
* Chú thích :
- Thủ Tuế 守歲 : Chờ để nhận thêm tuổi mới; chờ cho hết năm. Có nghĩa là Đón Giao Thừa.
- Phương Điện 芳殿 : Điện thơm, là Cung điện thơm tho đẹp đẽ. Cũng như từ Ỷ CUNG 綺宮 là Cung điện đẹp đẽ thơm tho.
- LỆ 麗 : là Đẹp; Động từ có nghĩa là "Làm cho đẹp"; LỆ Ỷ CUNG 麗綺宮 là Làm cho cái cung điện đẹp càng đẹp hơn lên.
- Giai Phức 階馥 : là Thềm thơm; THƯ 舒 :là Giãn ra, là Lan tỏa.
- Bàn Hoa 盤花 : là Cái mâm dựng hoa, là cái Chậu hoa.
- Quyển 捲 : là Quyện, là Cuốn lấy, quấn quít lấy.
* Nghĩa bài thơ :
ĐÓN GIAO THỪA
Bóng chiều nghiêng chiếu vào cung điện thơm tho đẹp đẽ, ngày tháng càng làm cho cung điện đã đẹp đẽ càng đẹp đẽ hơn lên. Cái lạnh của tuyết phủ trong mùa đông đã đi qua và gió xuân cũng đã mang cái ấm áp thổi đến. Những bậc thềm thơm phức ngào ngạt bởi hương của hoa mai và những chậu hoa cũng hoà quyện một cách rực rỡ dưới các ngọn đuốc sáng hồng. Cùng vui với cái thời khắc của giữa năm cũ và năm mới và cũng chỉ trong một đêm thôi mà ta phải vừa tiễn đưa lại phải vừa chào đón.
Lời thơ đẹp đẽ hoa mỹ với các hình dung từ Phương (điện), Ỷ (cung), Giai (phức), Bàn (hoa)... và các động từ và danh động từ như Tà, Lệ, Khứ, Nhập, Thư Quyển... làm cho cảnh trí mùa xuân đón Tết ở trong cung rực rỡ hơn, sống động hơn lên, để cùng vui với cảnh tống cựu nghinh tân diễn ra trong cùng một đêm giao thừa đón chào năm mới.
* Diễn Nôm :
ĐÓN GIAO THỪA
Inline image
Ánh chiều nghiêng chiếu điện vàng,
Tháng năm thêm đẹp cung hoàng đêm nay.
Hết rồi cái lạnh tuyết bay,
Gió xuâm ấm áp càng say lòng người.
Thềm thơm hương tỏa hoa mai,
Đuốc hồng rực rỡ hoa khai tư bề.
Cùng vui đưa đón đề huề,
Một đêm tiễn cũ mới về một đêm.
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Chúc tất cả đồng môn, thân bằng quyến thuộc đều có được một mùa
Xuân Phúc Lộc Thọ
Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017
TIẾT TRÙNG CỬU , LỄ ÔNG BÀ NGÀY XƯA - ĐỖ CHIÊU ĐỨC
LỜI THƯA:
NM nhận được qua email một bài biên khảo cuả Thầy Đỗ Chiêu Đức , xin chân thành cảm ơn Thầy và xin được chia xẻ cùng bạn bè Blog của NM
.
TIẾT TRÙNG CỬU
Lễ Ông Bà ngày xưa của ta
Sau Tết Trung Thu là Tết Trùng Cửu, chữ Tết do chữ Tiết đọc trại ra mà thành. TIẾT 節 là Thời Tiết 時節 chỉ Khí hậu có liên quan đến mùa màng. TIẾT cũng có nghiã là ngày Lễ Tết trong năm. Một năm có mấy cái Tết lớn. Nguyên Đán là cái Tết lớn nhất mở đầu cho một năm nằm trong tháng Giêng, Thanh Minh là Tết nằm trong tháng 3, Đoan Ngọ là Tết của tháng 5, Tháng 8 thì có Tết Trung Thu và Tháng 9 thì ta có Tết Trùng Cửu.
Trùng Cửu, Trùng là Trùng lắp, là lặp lại. Cửu là số 9. Nên Trùng Cửu 重九 là 2 số 9 được lặp lại, tức là ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch. Theo Kinh Dịch thì số 9 thuộc Dương, nên Trùng Cửu còn được gọi là Trùng Dương 重陽. Đây là cái Lễ tiết cuối cùng sau mùa thu hoạch, rồi trời sẽ trở lạnh để vào đông cho đến Tiết Đông Chí về, sẽ lại chuẩn bị để đón mừng năm mới !
Ngoài việc được gọi là Tiết Trùng Dương 重陽節 ra, Trùng Cửu còn được gọi là Tiết Đạp Thu 踏秋節, có nghĩa là Đạp lên lá vàng khô của mùa Thu, tức là Đi dạo chơi trong mùa Thu trước khi trời trở lạnh. Trong dân gian xưa còn gọi ngày này là Ngày Của Người Già : LÃO NHÂN TIẾT 老人節 hoặc KÍNH LÃO TIẾT 敬老節. Có thể là do sau khi mùa màng được thu hoạch vào mùa Thu, con cháu có nhiều món ngon vật quý để dâng hiến cho Ông Bà, hoặc đã có tiền để chăm lo săn sóc đến đời sống của Ông Bà hơn. Khi ông bà cha mẹ già đã quá cố, thì con cháu cũng nhân dịp Đạp Thu mà kéo nhau lên núi để Tảo Mộ ( Ở những nơi có đồi núi thì người chết được chôn cất ở trên cao, vùng đồng bằng để trồng trọt canh tác. Cho nên ta thấy Cụ Nguyễn Du tả cảnh Tảo mộ của Tiết Thanh Minh là : " Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng hồ rắc tro tiền giấy bay, là thế ! ). Vì vậy, mà Tiết Trùng Cữu còn được gọi là Tiết ĐĂNG CAO 登高節. Ngoài ra, Tiết Trùng Cửu cón được gọi là Tiết THÙ DU 茱萸節, Tiết CÚC HOA 菊花節....
Cây lá và trái Thù Du ( trái cherry ở Mỹ? )
THÙ DU là loại cây ăn trái được thu hoạch vào khoảng cuối tháng 6. Cây lá có tính sát trùng tiêu độc, ngừa phong đón gió, nên trong ngày Lễ Trùng Cữu dân gian hay bẻ một nhánh lá nhỏ giắt bên mình để " trừ tà ", để được bình an khoẻ mạnh nên ngày lễ nầy còn được gọi là Tiết Thù Du là vì thế.
Hoa Cúc và tục lệ uống rượu Cúc trong ngày Trùng Cửu
Trong bài thơ " Bốn mùa ăn chơi " của người xưa thì câu thứ 3 là " Thu ẩm Hoàng Hoa tữu ". Hoàng Hoa tức là Hoa Cúc đó, loại hoa có màu vàng và nở vào mùa thu, nên được dùng để ủ rượu uống cho ấm vào những ngày cuối thu lạnh lẽo nầy, để ngừa cảm cúm, như ta chích " flu shot " vào mùa nầy ở Mỹ vậy ! Nên Tiết Trùng Cữu còn được gọi là Tiết Cúc Hoa là vì thế !
Theo truyền thuyết thì ...
Vào thời Nam Bắc Triều, người của Nam Triều là Ngô Quân Chi thuộc nước Lương, ghi trong " Tục Tề Hài Ký " rằng :
Đời Đông Hán, ở huyện Nhữ Nam có một người tên là Hoàn Cảnh, cha mẹ đều chết vì bệnh ôn dịch ở cuối thu, nên anh ta quyết định lên núi tầm sư học đạo để trừ ôn dịch ôn thần. Đạo nhân Phí Trường Phòng dạy cho phép tiên dưỡng sinh và y học. Một năm, sau Trung Thu, đạo nhân gọi Hoàn Cảnh đến mà bảo rằng : Mùng 9 tháng 9 năm nay, ôn thần lại đến gieo rắc bệnh dịch, con hãy về quê mà cứu nhân độ thế. Nói đoạn bèn trao cho anh ta một cây Thanh Long Kiếm, một bao lá Thù Du và một bình Rượu Cúc, căn dặn mọi người phải lên cao mà tránh nạn.
Đến hôm mùng 9 tháng 9, Hoàn Cảnh gọi hết bà con lối xóm cùng đăng cao lên núi, giắt cho mỗi người một lá Thù Du và uống một ly rượu Cúc, rồi đơn thân độc mã đứng chặn ở sườn núi, chiến đấu và tiêu diệt ôn thần. Từ đó về sau không ai còn bị chết về bịnh dịch nữa, và cũng từ đó về sau mới có tục Đăng Cao, cài lá Thù Du lên áo và uống rượu Cúc trong ngày Tiết Trùng Cửu cho đến hiện nay.
Trùng Cữu xưa Trùng Cữu nay
Trong văn học, nhất là trong Đường Thi, ngày Trùng Cửu luôn luôn được nhắc đến một cách thân thiết gần gũi qua các thi nhân nổi tiếng như Lưu Trường Khanh với ...
九日登李明府北樓 CỮU NHẬT ĐĂNG LÝ MINH PHỦ BẮC LÂU
九月登高望, Cữu nguyệt đăng cao vọng,
蒼蒼遠樹低。 Thương thương viễn thọ đê.
人煙湖草裡, Nhân yên hồ thảo lý,
山翠現樓西。 Sơn thuý hiện lầu tê. ( tây )
劉長卿 Lưu Trường Khanh
Diễn nôm :
NGÀY CHÍN LÊN BẮC LÂU CỦA LÝ MINH PHỦ
Tháng chín lên cao ngắm,
Xanh xanh cây cỏ xa.
Hồ mờ sương người vắng,
Lầu tây núi biếc nhòa !
Đỗ Chiêu Đức diễn nôm

Còn Thi tiên Lý Bạch với ...九月十日即事
CỮU NGUYỆT THẬP NHẬT TỨC SỰ 昨日登高罷, Tạc nhật đăng cao bãi
今朝再舉觴。 Kim triêu tái cử trường.
菊花何太苦, Cúc hoa hà thái khổ,
遭此兩重陽。 Tao thử lưỡng TrùngDương
李白 Lý Bạch
Chú Thích :
Mùng 9 tháng 9 gọi là Tiết Trùng Dương, hái hoa cúc, uống rượu cúc, nhưng...
Mùng 10 tháng 9 gọi là Tiểu Trùng Dương, lại hái hoa cúc, lại uống rượu cúc.
Chỉ trong hai ngày, hoa cúc BỊ HÁI, BỊ VÙI DẬP đến 2 lần. Lý Bạch ví thân phận đi đày của mình giống như là hoa cúc liên tiếp bị vùi dập vậy, nên mới hạ 2 câu cuối là : " Cúc hoa hà thái khổ, Tao thử lưỡng Trùng Dương ". Có nghĩa : Hoa Cúc sao mà lại khổ thế, phải gặp cái nạn của 2 lễ Trùng Dương nầy !
KHỔ 苦 là Khổ sở, Cực khổ. KHỔ cũng có nghĩa là ĐẮNG nữa ! Tân là Cay, nên Tân Khổ là Cay Đắng, Đắng Cay!
Diễn nôm :
Chuyện của ngày mười tháng chín
Hôm qua sau leo núi,
Sáng nay lại nâng ly.
Hoa Cúc sao mà khổ,
Trùng Dương đến nhị kỳ !
Đỗ Chiêu Đức diễn nôm
Nhưng nổi tiếng và tiêu biểu nhất cho lễ Trùng Cửu là bài thơ của Thi Phật Vương Duy....
Đôc tại dị hương vi dị khách,
Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.
Diêu tri Huynh đệ đăng cao xứ,
Thiên tháp thù du thiểu nhất nhân !
Vương Duy
Chú Thích :
Khi làm bài thơ nầy Vương Duy chỉ mới 17 tuổi, đang xa nhà đến Trường An để mưu cầu công danh. Nhà ông ở Bồ Châu, phía đông của núi Hoa Sơn, nên mới đề tựa là " Ức Sơn Đông Huynh Đệ ". Bài thơ nổi tiếng với 2 câu đầu mà không có người du tử nào không trầm trồ với 2 từ " dị hương, dị khách ".
Nghĩa bài thơ :
Mùng chín tháng chín nhớ anh em ở phía đông núi.
Ta một mình ở nơi đất lạ làm người khách lạ, nên mỗĩ lần gặp Lễ Tết là lại nhớ người thân thêm bội phần. Ta biết rằng ở nơi xa xôi kia, anh em ta đang đăng cao trong ngày lễ nầy, và mỗi người đều có giắt một lá Thù Du lên áo, chỉ thiếu có một người không được giắt là ta mà thôi !
Diễn nôm :
Xứ lạ quê người làm khách lạ,
Mỗi lần lễ tết nhớ khôn nguôi.
Anh em mùng chín đăng cao đó,
Đều giắt thù du thiếu một người !
Lục bát :
Đơn thân xứ lạ quê người,
Mỗi khi lễ tiết ngậm ngùi nhớ nhau.
Quê xa huynh đệ đăng cao,
Thù du giắt áo nghẹn ngào riêng ta !
九月九日忆山东兄弟 王维雕像
ĐỖ CHIÊU ĐỨC biên khảo.




