CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHIẾM LUẬN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHIẾM LUẬN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

VŨ VÔ MÔN HỘ NĂNG LƯU KHÁCH - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 


Giai Thoại Văn Chương  :  

                VŨ VÔ MÔN HỘ NĂNG LƯU KHÁCH

      Một hôm, khi vừa giảng xong bài và lớp cũng vừa tan học, thì trời đổ mưa, các sinh đồ không về được. Nên cụ đồ Đàm Thận Huy mới ra một vế đối như sau để cho các học trò đối lại cho vui và cũng để thử tài của các học trò mình. Vế ra như sau :
            Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách, 雨無鉗鎖能留客,
Có nghĩa :
        Mưa không cần phải cầm cọng gì cả mà vẫn giữ được khách ở lại (Kiềm là Cây Kềm. Tỏa là Khoá. nên KIỀM TỎA là Kềm khóa lại, ý chỉ hết lòng giữ khách lại, Miền Nam nói là CẦM CỌNG ).
    Một anh học trò tên Nguyễn Chiêu Huấn bèn đối lại rằng :
           Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân  月有彎弓不射人.
Có nghĩa : 
        Trăng có vành cong như cánh cung, nhưng không bắn người bao giờ

.

         
    Cụ đồ khen : 
       - Con người tài hoa phúc hậu, sẽ có hậu vận tốt về sau !
    Một anh học trò khác bộp chộp đối là :
         Phân bất uy quyền dị sử nhân  糞不威權易使人.
Có nghĩa :
         Cứt(phân) không có quyền uy gì cả mà dễ sai khiến con người (ý nói khi "mắc đi cầu" thì không ai có thể cưỡng lại được cả !).
    Cụ đồ Huy cười mà phán :
       - Thứ đồ thô lậu, có tài nhưng chỉ đáng là hàng trọc phú mà thôi !

     Lúc bấy giờ, anh học trò Nguyễn Giản Thanh mới thủng thỉnh đối lại rằng :
           Sắc bất ba đào dị nịch nhân  色不波濤易溺人.
Có nghĩa :
         Sắc đẹp không có sóng gió gì cả nhưng dễ làm cho con người bị chìm đắm.

    Cụ đồ Huy vổ bàn đánh đét một tiếng, khen :
       - Thật tuyệt ! tài hoa sắc sảo đáng bậc Trạng Nguyên, nhưng e hậu vận sẽ bị lụy vì nữ sắc.



    Lời nhận xét của cụ đồ Đàm Thận Huy đã thành lời tiên tri trong những năm sau đó. Nguyễn Giản Thanh thi đỗ thủ khoa, rồi đỗ Trạng Nguyên đời Vua Lê Uy Mục (1508), làm quan lễ bộ Thượng thư, nhưng vì say đắm một cô gái đẹp ở kinh thành mà đến ô danh bại tiết. Còn Chiêu Huấn chỉ đỗ Bảng Nhãn nhưng làm quan và sống yên ổn đến già. Riêng người học trò kia sau cũng vào hàng hào phú trong vùng, nhưng ai cũng chê là hạng thô lỗ, bỉ lậu.
     Nguyễn Giản Thanh, người làng Ông Mặc (làng Me), huyện Ðông Ngàn (nay là Từ Sơn), Bắc Ninh. Ông sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI, sinh năm 1482, mất năm nào không rõ. Lúc nhỏ ông rất thông minh, mới 16 tuổi đã thông hiểu rất nhiều sách vở, sau đỗ Trạng Nguyên, nên tục gọi là Trạng Me.

     Đó là "Giai Thoại Văn Chương Việt Nam" ta, còn "Giai Thoại Văn Chương Trung Hoa" thì vế ra như sau :
                        雨無門戶能留客    Vũ vô MÔN HỘ năng lưu khách



     Theo truyện kể trong dân gian Trung Hoa như sau đây:

     Đường Dần 唐寅(1470—1524)tự Bá Hổ 伯虎, Tử Úy 子畏, hiệu là Lục Như Cư Sĩ 六如居士、Đào Hoa Am Chủ 桃花庵主... Người Ngô Huyện, Trực Lệ thuộc đất Tô Châu, là nhà thơ, nhà văn học và nhà thư họa nổi tiếng trong đời nhà Minh, là một trong Ngô Trung Tứ Tài Tử 吳中四才子 và cũng là một trong "Giang Nam Tứ Đại Tài Tử 江南四大才子" đương thời. Năm Hoằng Trị thứ 11 (1498) Đường Bá Hổ đậu đầu khoa Ứng Thiên Mậu Ngọ ở Nam Kinh, nên người đời thường gọi là Đường Giải Nguyên. 
     Một hôm, Đường Bá Hổ cùng một nhóm bạn bè rủ nhau ra ngoại thành du ngoạn. Đang trong lúc cả nhóm xướng họa nói cười vui vẻ thì trời bỗng đổ cơn mưa to. Cả nhóm nhốn nháo tìm nơi trú mưa; May sao phía trước mặt không xa thấp thoáng thấy có một trang viên, bèn cùng nhau kéo đến gỏ cửa xin trú mưa. Chủ trang viên là một Viên Ngoại Lang họ Từ, tuổi trạc ngoại ngũ tuần tiếp đón niềm nở. Sau khi pha trà đãi khách và trao đổi qua lại, biết đây là những thư sinh Tú tài trong vùng nên càng ân cần tiếp đãi hơn lên. 


                                   Đường Bá Hổ và Giang Nam Tứ Đại Tài Tử qua Điện ảnh

     Nguyên Từ Viên Ngoại tuy ở vùng ngoại thành, nhưng cũng thuộc dòng dõi thư hương. Dưới trướng không con trai, chỉ có một gái nên hết mực cưng chiều. Từ Tiểu thư ngoài công ngôn dung hạnh còn giỏi cả thi từ ca phú nữa. Nghe trong nhóm thư sinh đến trú mưa có cả tài tử Giang Nam Đường Bá Hổ mà mình hằng nghe tiếng là giỏi giang, bèn xin phép cha cùng được ra diện kiến và trao đổi văn thơ. Từ Viên Ngoại là người cởi mở phóng khoáng nên cho phép Từ Tiểu Thư cùng ra uống trà và đàm đạo. Nhân nói đến trời mưa, Từ Tiểu thư bèn gợi ý và ra một vế đối để mọi người cùng đối lại cho vui. Vế ra như sau :

                 雨無門戶能留客    Vũ vô MÔN HỘ năng lưu khách,
      Có nghĩa :
           - Mưa không có nhà cửa gì cả mà có thể giữ được khách.

      Vế ra nghe như đơn giản, nhưng hàm ý của Từ Tiểu thư muốn nói là : Tôi nhờ có nhà cửa mới lưu được khách qúy ở đây, nhưng MƯA thì không có NHÀ CỬA gì cả mà cũng lưu được khách qúy; Biết rằng khách qúy có lưu được mãi hay không, hay khi mưa tạnh thì lại đi mất rồi ?!.
      Một thư sinh Tú tài đứng dậy, nắm vạt áo ướt của mình đưa lên đối rằng :

                 雲有彩裳不借人   Vân hữu thái thường bất tá nhân.  
      Có nghĩa :
           - Mây trời có áo đủ màu nhưng không cho người mượn bao giờ !

            
      Cả bọn đều vổ tay khen hay, vì câu đối vừa chỉnh vừa vui : Mây trên trời như các tà áo màu, nhưng làm sao mượn cho được, áo ướt thì rán chịu đi ! Một thư sinh khác đứng lên đưa hai tay lên trời như than oán, đối rằng :

                 天有風雲易惱人   Thiên hữu phong vân dị não nhân.
      Có nghĩa :
           - Trời có gió mây bất thường nên dễ làm phiền lòng người !

           
      Một thư sinh khác đứng dậy nói rằng :"Gió mưa là bệnh của trời mà, làm sao trách trời cho được !?" Đoạn anh ta hướng về phía Từ Tiểu thư tủm tỉm cười mà đối lại rằng :

                 野有花香易縛人    Dã hữu hoa hương dị phược nhân
      Có nghĩa :
           - Ngoài đồng nội có hoa thơm nên cũng dễ trói buộc con người !


              
      Ý anh ta ví Từ Tiểu thư như là một cánh hoa thơm ngoài đồng nội đã trói buộc được "trái tim" của anh ta rồi ! Ý tình qúa lộ liễu, mọi người còn đang lo sợ là Tiểu thư sẽ nổi giận, thì ngoài trời mưa cũng đã tạnh hẵn. Cả bọn bèn đứng lên nói lời cảm tạ và từ biệt gia chủ để ra về. Khi ra đến cổng ngoài, Từ Tiểu thư như chửa cam tâm, bèn đến bên Đường Bá Hổ mà thỏ thẻ rằng :"Đường Giải Nguyên có thể hạ cố cho một vế đối được chăng ?". Biết là Từ Tiểu thư bất chấp thị phi là đã có tình ý với mình, nhưng ở nhà Đường Bá Hổ đã có đến tám vị phu nhân rồi, nên còn đang bối rối chưa biết phải từ chối như thế nào, chợt nhìn lên bầu trời đối diện, sau cơn mưa một chiếc cầu vồng ngũ sắc hiện lên thật đẹp ở chân trời; Đường Bá Hổ bèn vòng tay thi lễ và đối rằng :

                虹有橋梁不渡人    Hồng hữu kiều lương bất độ nhân
      Có nghĩa :
           - Cầu Vồng có cầu đó nhưng không để cho người nào đi qua được cả !

            

      Ý của Đường Bá Hổ là : Tiểu thư ơi, Tôi chỉ hào nhoáng được như cánh cầu vồng mà thôi, thấy thì đẹp mà không thể đi qua được đâu ! Từ Tiểu thư chừng như cũng hiểu ý của Đường Bá Hổ nên cũng đành buồn thương mà chấp nhận cho số kiếp và duyên phận của mình.

      Nói thì nói thế, chứ ngoài tám bà vợ ở nhà ra, Đường Bá Hổ còn nổi tiếng với những kịch bản, sân khấu, điện ảnh... với truyện tình thứ 9 là "ĐƯỜNG BÁ HỔ ĐIỂM THU HƯƠNG 唐伯虎點秋香" lưu truyền rộng rãi trong dân gian mãi cho đến hiện nay với hai câu thơ :


 ĐƯỜNG BÁ HỔ ĐIỂM THU HƯƠNG qua Sân khấu và Điện ảnh


                     聞道禁中時節異,  Văn đạo cấm trung thời tiết dị,
                     九秋香滿鏡臺前。  Cửu THU HƯƠNG mãn kính đài tiền !
       Có nghĩa :
                             Nghe nói trong cung thời tiết khác,
                             Thu Hương thứ chín ngập đài gương !

                                    

       Hẹn bài viết tới !

                                             
                           杜紹德
                         ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                                                                                   

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Giai Thoại Văn Chương  vui :

                       NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY

      SƠN HẢI QUAN 山海關 là một quan ải hiểm yếu nằm ở tỉnh Hà Bắc vùng Đông bắc Trung Hoa sát với biển Đông, và là nơi khởi điểm của Vạn Lý Trường Thành, nên thường được gọi là "Thiên hạ đệ nhất quan 天下第一關" là "Quan ải số một trong thiên hạ". Trên sườn núi phía đông của Sơn Hải Quan có một ngôi cổ miếu có tên là MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟, là miếu thờ nàng Mạnh Khương.

       Như ta đã biết trong "Tứ Đại Ái Tình Truyền Thuyết 四大愛情傳說" của Trung Hoa xưa là : Ngưu Lang Chức Nữ, Bạch Xà Truyện, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài và Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành. Bỏ qua ba truyện trên, truyện Mạnh Khương Nữ có tích như sau :


                                  Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành

       Chàng thanh niên thư sinh Phạm Hỉ Lương 范喜良 (còn được gọi là Vạn Hỉ Lương 萬喜良) trốn vào hoa viên nhà họ Mạnh để tránh quân Tần đuổi bắt các thanh niên tráng đinh đi xây Vạn Lý Trường Thành, tình cờ làm quen với tiểu thư nhà họ Mạnh là Mạnh Khương Nữ 孟姜女. Hai bên nam nữ cùng ái mộ nhau và đính ước hôn nhân. Khi đôi bên làm lễ thành hôn mới được ba ngày, vợ chồng đang ân ái mặn nồng thì Vạn Hỉ Lương bị lính Tần bắt đi xây Vạn Lý Trường Thành. Mùa đông năm đó, sau khi đã chờ đợi mõi mòn, nàng Mạnh Khương mới đan áo ấm cho chồng rồi khăn gói vượt đường xa muôn dặm để thăm chồng. Nào ngờ khi đến nơi thì được tin chồng đã chết và cùng một nhóm phu phen bị chôn thây vào với trường thành. Nàng khôn xiết bi thương sầu thảm khóc đến "máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao", khóc đến chết đi sống lại trong ba ngày ba đêm, khóc đến mưa sầu gió thảm và sấm sét nổi lên đánh sập cả bức trường thành, xác chết của các tráng đinh xây trường thành bày ra la liệt, trong đó có xác của Phạm Hỉ Lương. Vua Tần nổi giận định trị tội nàng, nhưng khi thấy nàng là một giai nhân xinh đẹp nên định nạp làm phi tần. Nàng muốn vua Tần phải an táng chồng mình cho chu đáo rồi mới chịu nhập cung. Nhưng sau khi được vua Tần chôn cất chồng xong, nàng bèn nhảy xuống biển đông để tự trầm mà chết theo chồng. Dân làng cảm thương cho sự trung trinh tiết liệt của nàng nên mới lập miếu MẠNH KHƯƠNG NỮ để thờ tự hương hỏa quanh năm mãi cho đến hiện nay.

                                       MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟

  Miếu được xây một cách uy nghi cổ kính trên sườn núi nhìn ra biển, sau khi phải đi lên một trăm linh tám (108) bậc thang đá mới đến được cổng sơn môn của miếu, và trước điện thờ chính có một đôi câu đối mà nhà văn cận đại Quách Mạt Nhược 郭沫若 (1892—1978) gọi là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联" (Đôi liễn kỳ lạ nhất thiên hạ) Vì nếu mới trông qua lần đầu người ta sẽ không biết phải đọc như thế nào. Đôi liễn kỳ lạ đó như sau :

              海  水  朝  朝  朝  朝  朝  朝  朝  落,

              浮  雲  長  長  長  長  長  長  長  消。

       Như ta đã biết, trong Lục Thư để tạo hình chữ Nho có phép thứ sáu là GIẢ TÁ 假借 có nghĩa : Mượn chữ có sẵn để chỉ một nghĩa khác, như câu đối trên có chữ 朝. Nếu đọc là...

      - 朝 TRIÊU thì có nghĩa là Buổi sáng : như trong hai câu trong bài hát nói "Giai Nhân 2" của Cao Bá Quát là : "Giai nhân khứ khứ hành hành sắc, tài tử TRIÊU TRIÊU MỘ MỘ tình 佳人去去行行色,才子朝朝暮暮情" (Vẻ đẹp giai nhân đi đi lại lại; Tình riêng tài tử SỚM SỚM CHIỀU CHIỀU). Nếu đọc là...

      - 朝 TRIỀU (có dấu huyền) có nghĩa là Triều đại 朝代, lại đồng âm với chữ TRIỀU 潮 là Nước Thủy Triều 水潮. Còn...

      - 長 đọc là TRƯỜNG (dấu huyền) thì có nghĩa là Dài, đồng âm Quan thoại với chữ THƯỜNG 常 là Thường xuyên, là Luôn luôn. Còn đọc là...

      - 長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thí có nghĩa : Sinh ra, Lớn lên, tràn lên. Nên...

       Câu đối mỗi vế gồm mười (10) chữ trên, có thể đọc được nhiều cách. Sau đây chỉ là 3 cách đọc tiêu biểu :

      * Cách thứ nhất : Đọc theo chấm câu 3, 3, 4. như sau :

                    海  水  朝,  朝  朝  朝,  朝  朝  朝  落,

                    浮  雲  長,  長  長  長,  長  長  長  消。

           Hải thuỷ triều, triêu triêu triều, triêu triều triêu lạc;

           Phù vân trưởng, trường trường trưởng, trường trưởng trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thuỷ triều của biển, mỗi buổi sớm đều có thủy triều, có buổi sớm thuỷ triêu lên, có buổi sớm truỷ triều xuống;

       - Mây nổi ở trên trời, thường thường được sinh sôi ra, thường được sinh ra nên cũng thường được tiêu tán đi.

     * Cách thứ nhì : Đọc theo chấm câu 4, 3, 3. như sau :

                     海  水  朝  朝,  朝  朝  朝,  朝  朝  落,

                     浮  雲  長  長,  長  長  長,  長  長  消。

           Hải thủy triêu triều, triêu triêu triều, triêu triêu lạc;

           Phù vân trường trưởng, trường trường trưởng, trường trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thủy triều lên xuống của biển, mỗi ngày đều đầy lên, mỗi ngày đều rút xuống;

       - Mây nổi được sinh ra ở trên trời, thường xuyên được sinh ra, thường xuyên tiêu mất đi.

     * Cách thứ ba : Đọc theo chấm câu 5, 5. như sau :

                    海  水  朝  朝  朝,  朝  朝  朝  朝  落,

                    浮  雲  長  長  長,  長  長  長  長  消。

          Hải thủy triêu triêu triều, triêu triều triêu triêu lạc;

          Phù vân trường trường trưởng, trường trưởng trường trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thủy triều của biển dâng lên mỗi buổi sáng, nên mỗi buổi sáng nước triều đều lại rút đi;

       - Đám mây nổi trên trời thường xuyên được sinh ra, thường xuyên được sinh ra nên cũng thường xuyên tiên tán đi.                   

      Tóm lại, dù cho đọc theo cách nào, hiểu theo nghĩa nào thì cũng nằm trong cái ý vô thường và tuần hoàn của sự vật ; Có sinh có trưởng thì có tiêu có tán, cũng như nước thủy triều có lên thì có xuống, chỉ có lòng trung trinh tiết liệt , ý chí kiên cường thiết thạch như nàng Mạnh Khương Nữ là còn trường tồn mãi mãi với thời gian mà thôi ! 

      Mặc dù được nhà văn Quách Mạt Nhược khen là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联": Câu đối gồm có 20 từ, nhưng chỉ có 8 mặt chữ, nên đã làm khó người xem không ít ! Tác giả ẩn danh nào đó đã "lười biếng" tìm từ nên chỉ sử dụng có 8 mặt chữ mà thôi. Sau đây là đôi câu đối 14 từ : Mỗi câu 7 từ, nhưng chỉ có 4 mặt chữ, lại "càng lười biếng và cầu kỳ hơn" với "Vế Sau lặp lại y chang Vế Trước" của Từ Văn Trường.

                      

      TỪ VĂN TRƯỜNG 徐文長 ( 1521-1593 ) tên là VỊ 渭, tự là Văn Trường 文長, hiệu là Thanh Đằng 青藤, sanh năm Chánh Đức thứ 16 đời nhà Minh. Người đất Sơn Âm (Huyện Thiệu Hưng ngày nay), lớn lên trong một gia đình quí tộc đang hồi xuống dốc. Sáu tuổi đã đi học, nổi tiếng là THẦN ĐỒNG, 20 tuổi đậu Tú Tài, là một nhà văn, nhà thơ, nhà thư pháp và là một họa sư nổi tiếng ở cuối đời Minh đầu đời Thanh. 

      Ông là người phóng khoáng, không chịu gò bó vào khuôn phép, nên thi hoài 8 khoa mà vẫn không đậu Cử Nhân giống như Trần Tế Xương của ta :"Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui!" vậy. Tài hoa thì có thừa, nên hay dùng văn thơ châm biếm người đời, bởn cợt kẻ quyền thế, rất được giới bình dân hâm mộ giống như là Trạng QUỲNH của ta vậy !  

      Từ Văn Trường văn hay chữ tốt nổi tiếng trong vùng, nên một hôm, có người đến nhờ ông viết dùm bảng hiệu "Tỉm Xấm" bán đồ ăn điểm tâm. Ba chữ "ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店" vừa treo lên thì người ra vào ăn điểm tâm nườm nượp suốt cả tháng trời, ông chủ tiệm cười híp cả mắt, mặc sức hốt bạc... Nhưng có một điều hết sức ngạc nhiên là thực khách nào ăn xong khi đến tính tiền đều nói với chủ tiệm là :" Ông ơi, 3 chữ ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店 của ông, chữ TÂM sao viết thiếu mất một chấm ở giữa ?!". Như ta đã biết, hình dạng chữ TÂM được Cụ NGUYỄN DU diễn tả lúc Thúy Kiều nhớ Thúc Kỳ Tâm (Thúc Sinh) là : 

                                 Đêm thu gió lọt song đào,

                       Nửa vành TRĂNG KHUYẾT BA SAO giữa trời.

              Chữ 心 có hình dạng như Nửa Vành Trăng Khuyết và 3 vì sao, 2 cái 2 bên, 1 cái ở giữa, nhè Từ Văn Trường không có chấm cái chấm ở giữa. Ông chủ tiệm là dân thị tứ đâu có biết gì là chữ nghĩa, nghe mọi người đều nói vậy nên tìm Từ Văn Trường để nhờ anh ta chấm thêm cho một chấm. Nhưng sau khi chấm xong chấm đó, thì suốt cả tháng trời buôn bán ế ẩm. Ông chủ quán lại gặp Từ Văn Trường than thở rằng, từ khi chấm cái chấm đó xong thì buôn bán không còn như trước nữa. Từ Văn Trường cười bảo ông ta rằng : "Chữ TÂM là cái lòng, cái bụng, bụng có trống thì người ta mới ghé lại mà ĐIỂM Tâm, nay đã chấm thêm một chấm là bụng đã no rồi, không cần phải ĐIỂM TÂM nữa, ế là phải !". Ông chủ mới té ngữa ra, bây giờ muốn xóa chấm đó đi thì đã không còn được nữa rồi !

      Sự thật thì Từ Văn Trường chỉ lợi dụng cái tâm lý hiếu kỳ và hiếu sự của quần chúng để "câu khách" cho tiệm. Ai trông thấy chữ Tâm thiếu mất một chấm đều "ngứa ngáy" muốn nói cho chủ quán biết, sẵn đã vào tiệm nên ăn điểm tâm luôn mà thôi ! 

      Tương truyền, một hôm có một công tử con nhà giàu trong huyện Thiệu Hưng đến tìm gặp ông để bái sư học đạo. Ông thấy chàng qúi tử nầy đã ngoại tam tuần lại mày râu nhẵn nhụi, ăn mặc bảnh bao, trông giống một kẻ ăn chơi hơn là một người cầu học, bèn viết cho anh ta đôi liễn như thế nầy :

                       好  讀  書, 不  好  讀  書;

                       好  讀  書, 不  好  讀  書。



      Tất cả mặt chữ anh ta đều biết đọc, nhưng không hiểu được nghĩa lý gì cả; Vả lại 2 vế lại toàn là những chữ giống nhau như đúc, là nghĩa làm sao ?! Thì ra đây cũng là cách chơi chữ của Từ Văn Trường theo kiểu GIẢ TÁ 假借 mà thôi. Này nhé...

      - Chữ 好 khi đọc là HẢO thì có nghĩa là TỐT, NGON, ĐẸP, KHỎE, ĐÚNG LÚC... Như : Hảo Nhân là Người Tốt, Hảo Thực là Ăn Ngon, Hảo Cảnh là Cảnh Đẹp...

      - Chữ 好 khi đọc là HÁO hay HIẾU thì có nghĩa là HAM, THAM, THÍCH, NHIỀU... như : Hiếu Học là Ham Học, Háo Ăn là Tham ăn, Hiếu Chiến là Thích đánh nhau, Hiếu Sự là Nhiều chuyện...

      - Còn 讀 書 ĐỘC THƯ : là Đọc sách. Ngày xưa Đọc Sách tức là Học Hành đó. Nên ĐỘC THƯ theo "Tập Quán ngôn Ngữ" có nghĩa là HỌC, là ĐI HỌC, là HỌC HÀNH, HỌC TẬP.

      Nên Câu đối trên được đọc như sau đây :

              好讀書,不好讀書;  HẢO độc thư, bất HÁO(Hiếu) độc thư;

              好讀書,不好讀書。  HÁO(Hiếu) độc thư, bất HẢO độc thư !

Có nghĩa :

    * HẢO ĐỘC THƯ 好讀書 có nghĩa "Học tập tốt", mà cũng có nghĩa "Có điều kiện hay hoàn cảnh tốt" để Học hành.

    * HÁO ĐỘC THƯ 好讀書 là "Thích học tập", là "Muốn học hành cho đàng hoàng, cho tốt".

    * BẤT HÁO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không thích học tập", là "Không chịu học tập cho đàng hoàng nghiêm chỉnh".

    * BẤT HẢO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không học tập tốt", mà cũng có nghĩa là "Không còn hoàn cảnh hay điều kiện để học tập cho tốt nữa". Nên...

      Câu đối trên có nghĩa :

         - Lúc cần Học Tập tốt thì Không Thích học tập cho đàng hoàng; còn...

         - Lúc Thích học tập, thì không còn hoàn cảnh Tốt để học tập nữa !

      Và không chỉ viết cho chàng thanh niên công tử ăn chơi ở huyện Thiệu Hưng, câu đối nầy còn được Từ Văn Trường dùng để răn đe và khuyên dạy con cháu trong nhà nữa : "Lúc còn nhỏ, còn trẻ, có điều kiện học tập tốt thì không chiụ học cho đàng hoàng; Đến khi lớn, khi già muốn học tập lại thì đã không còn điều kiện và thời gian để học tập nữa" rồi !.

      Câu đối 14 từ mà chỉ có 4 mặt chữ (BẤT 不, HẢO 好, ĐỘC 讀, THƯ 書) đã là câu đối "lười biếng dùng chữ" lắm rồi; Nhưng sau đây còn có câu đối "Siêu lười biếng" vì cũng có 14 đơn vị từ nhưng lại chỉ có MỘT (1) mặt CHỮ duy nhất mà thôi.

      Truyện kể...

      Một hôm đang dạo phố, khi đi ngang qua khu chợ bán rau cải thì ông chủ sạp giá mời Từ Văn Trường dừng chân uống một ly trà nóng buổi sáng, rồi khẩn khoản xin Từ Văn Trường viết cho đôi câu đối để treo lên hai bên sạp cho đẹp vừa để câu khách đến mua. Thấy ông chủ sạp nhiệt tình và có thành ý, nhìn quanh các mặt hàng bày bán thì thấy nào là Giá đậu xanh, Giá đậu nành, Giá đậu phọng và các loại cải... nên Từ Văn Trường chợt lóe lên một ý dí dỏm độc đáo, rồi đặt bút viết luôn cho ông chủ sạp 14 chữ sau đây :

                 長 長 長 長 長 長 長,

                 長 長 長 長 長 長 長。

      

      Ông chủ sạp và mọi người chung quanh đều rất ngạc nhiên cùng Ồ lên một tiếng lớn, vì không ai biết phải đọc như thế nào và ý nghĩa của Nó ra làm sao. Từ Văn Trường mới mĩm cười đắc ý giải thích :

      Chữ 長 nếu đọc là TRƯỜNG thì có nghĩa là DÀI, mọc dài,còn nếu đọc là...

      長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thì có nghĩa là LỚN, mọc lớn lên, cao lên... Nên...

      Câu đối trên được đọc như sau :

          長長,長長,長長長;  Trường trưởng, trường trưởng, trường trường trưởng;

          長長,長長,長長長。 Trưởng trường, trưởng trường, trưởng trưởng trường ! 

Có nghĩa :

               Dài lớn, dài lớn, dài dài lớn;

               Lớn dài, lớn dài, lớn lớn dài !

       Trồng cải và ủ (gói) giá, bà con mong được gì nào ?! Mau dài mau lớn, mau lớn mau dài... để trông vừa tốt, vừa ngon, vừa bắt mắt và vừa... bán đắt hàng. Mọi người cùng cười xòa vỗ tay tán thưởng cho câu đối vừa giản dị, dí dỏm, lại vừa có ý nghĩa thực tế và cũng vừa làm cho người đọc cảm thấy thích thú.  

       Trở lại với tên của Từ Văn Trường 徐文長 cũng vậy, người Quảng Đông thì đọc là Từ Văn TRƯỜNG, nhưng người Tiều Châu thì lại đọc thành Từ Văn TRƯỞNG, còn âm Quan Thoại của Từ Văn Trường thì đọc là Xú-Wén-Cháng 徐文長. 

             

       Một hôm gần Tết, Từ Văn Trường thả bộ ra chợ xem bà con nhóm chợ Tết, gặp một Thầy Đồ là một lão Tú Tài già đang bày hàng viết liễn (Câu đối). Tính rắn mắt nổi lên muốn ghẹo chơi cho vui , Từ Văn Trường đi xề tới cất tiếng hỏi : 

      - Thưa Thầy, Thầy viết liễn có nghĩa là Liễn gì Thầy cũng viết được hết phải không ?. Nghe hỏi lạ, ông đồ già nhướng mắt lên thấy Từ Văn Trường, biết là chàng trai nầy định phá mình đây, bèn trả lời rất tự tin : 

      - Dĩ nhiên, cậu muốn viết liễn gì ?

      - Liễn dán chuồng heo !  Sau giây phút sựng lại vì ngạc nhiên, ông đồ bèn  ra giá :

      - Một lạng bạc ! Từ Văn Trường vui vẻ :

      - Không thành vấn đề, nhưng liễn phải hay và có ý nghĩa mới được Thầy nhé !

        Thường các Lão Tú Tài nầy người Việt ta quen gọi là "TÚ MỀN" rất giỏi chữ nghĩa và già giặn kinh nghiệm . Ông đồ bình tĩnh lặng lẽ đưa những nét bút thiệt đẹp như rồng bay phượng múa lên 2 tờ giấy hồng đơn đã rọc sẵn. Bây giờ tới phiên Từ Văn Trường ngạc nhiên, vì trên 2 tờ giấy hồng đơn mỗi bên 7 chữ, tổng cộng là 14 chữ TRƯỜNG 長 thật đẹp. Biết ông thầy đồ già muốn "chơi" mình, anh ta cũng rất bình tĩnh và lễ phép :

     - Thưa thầy, nhờ thầy đọc và cắt nghĩa dùm ạ ! Ông thầy đồ dõng dạc cất giọng :

                長 長, 長 長, 長 長 長;  

                長 長, 長 長, 長 長 長 ! 

     - Trường trường, trưởng trưởng, trường trường trưởng. 

       Trưởng trưởng, trường trường, trưởng trưởng trường !  

       Nuôi heo, anh mong được gì nào ? Heo mau dài mau lớn phải không ? Thì đây đôi liễn nầy có nghĩa :


                         DÀI DÀI, LỚN LỚN, DÀI DÀI LỚN;

                         LỚN LỚN, DÀI DÀI, LỚN LỚN DÀI !

             

      Chuyên chọc phá thiên hạ, lần nầy bị Tổ trác, liễn dán chuồng heo là câu đối 14 chữ đều là tên của mình cả, lại phải nhăn mặt móc hầu bao trả cho ông Thầy Đồ một lạng bạc, thế mới đau !

      Cho hay, chuyện đời có lúc "Kiến ăn cá", nhưng cũng lắm khi kiến té xuống nước thì "Cá cũng ăn kiến" như thường !


       Hẹn bài viết tới !

                                                             杜紹德

                                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

CHỮ ĐIỀN CỦA TRẠNG NGUYỄN HIỀN - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Giai Thoại Văn Chương Vui:

             CHỮ ĐIỀN CỦA TRẠNG NGUYỄN HIỀN


1. Giai thoại Văn Chương Việt Nam :

      NGUYỄN HIỀN (1234-1255), người làng Dương A, huyện Thượng Hiền, thuộc tỉnh Nam Định hiện nay. Ông đậu Trạng Nguyên năm 12 tuổi, Vì còn thiếu niên nên vua cho ông về quê 3 năm tu dưỡng để học thêm về lễ. Tương truyền sứ thần Trung Hoa đem một bài thơ ngũ ngôn sang thử nhân tài nước Nam. Bài thơ như sau:

                Lưỡng nhật bình đầu nhật,         兩日平頭日,
                Tứ sơn điên đảo sơn,              四山顛倒山。
                Lưỡng vương tranh nhất quốc,      兩王爭一國,
                Tứ khẩu tung hoành gian.          四口縱橫間。
      Có nghĩa :
                Hai mặt nhựt bằng đầu nhau,
                Bốn trái núi nghiêng ngã vào nhau.
                Hai vua cùng tranh nhau một nước,
                Bốn miệng cùng ngang dọc nhau.

      Vua và các quan trong triều đều không ai hiểu là nghĩa gì, nên mới cho mời Trạng Nguyên Nguyễn Hiền đến. Khi sứ thần đưa bài thơ, Trạng xem xong đã giảng như thế nầy :
       * Hai chữ Nhật 日 đặt bằng đầu sát vào nhau thì thành chữ ĐIỀN 田.
       * Bốn chữ Sơn 山 trên, dưới, phải, trái ghép lại cũng là chữ ĐIỀN 田.
       * Hai chữ Vương 王 một ngang một dọc nhập lại cũng thành chữ 田.
       * Bốn chữ Khẩu 口 trên dưới ngang dọc nhập lại cũng là chữ ĐIỀN 田.


      Nên 4 câu thơ trên chỉ là chiết tự của chữ ĐIỀN là Ruộng mà thôi ! Sứ thần và triều thần đều phải chịu ông là giỏi !

2. Giai Thoại Dân Gian Trung Hoa :

        Vào đời nhà Minh, ở trấn Thanh Khê của vùng đất Giang Nam trù phú, có một thương nhân họ Kỷ buôn bán tơ lụa. Kỷ Viên Ngoại gia đình giàu có nhưng lại không có con trai, chỉ sinh được một gái nên xem như là chưởng thượng minh châu (hạt châu sáng trong tay : ý chỉ rất qúy trọng cưng chiều), đặt tên là Du Nhiên 悠然, lấy ý ở 2 câu thơ của Đào Uyên Minh là "Thái cúc đông ly hạ; Du Nhiên kiến Nam san 採菊東籬下, 悠然見南山". Cô bé Kỷ Du Nhiên 紀悠然 thông minh dĩnh ngộ, được cha mẹ hết lòng thương yêu chiều chuộng, lại mướn thầy về nhà dạy học, nên tiểu thư Du Nhiên mới 16 tuổi đã giỏi cả cầm kỳ thi họa. Cha mẹ rất tự hào về cô con gái giỏi giang nầy nên muốn kén một chàng rể tài hoa xuất chúng cho xứng hợp với con mình. Nhưng Tiểu thư Du Nhiên không muốn cho các bà mai mối lựa chọn, mà muốn chính bản thân mình chọn người phu quân lý tưởng cho mình, mới xin với cha mẹ cho nàng "Xuất đối chiêu thân", là "Ra câu đối để tìm người hôn phối". Vì thương con nên ông bà họ Kỷ đều đồng ý. Nhân Tiết Nguyên Tiêu đầu năm mới tiểu thư Kỷ Du Nhiên mới trương ra câu thách đối như sau :

                田字扒開全是口,    ĐIỀN tự bái khai toàn thị KHẨU;
      Có nghĩa :
               Chữ ĐIỀN 田 mà bung ra thì toàn là chữ KHẨU 口;


                       
      Ý là ruộng đất mà đem chia ra thì sẽ có rất nhiều nhân khẩu đến để nhận, cũng có ý là hễ chia ruộng đất là ắt cũng có nhiều khẩu thiệt nói ra nói vào. Câu đối cừa chiết tự vừa mang một triết lý xâu xa. 
      Câu đối vừa treo ra thì các chàng thư sinh trai trẻ đầu trên xóm dưới đều kéo nhau đến để xem và để... đối thử, may ra có trúng được ý của người đẹp hay chăng. Một chàng công tử con phú hộ ở đầu thôn xung phong lên trước đối rằng :

                鑫字剝開全是金。  HÂM tự bác khai toàn thị KIM.
     Có nghĩa : 
              Chữ HÂM 鑫 bóc rời ra thì toàn là KIM 金.

            

     HÂM là Giàu có, Thịnh vượng; KIM là Vàng ròng, là Kim tiền. Kỷ tiểu thư khen hay nhưng lại phê là "Qúa nặng mùi tiền bạc của cải". Lại một chàng trông có vẻ lãng tử giang hồ đang giương dù đi tới, đối rằng :

                傘字去骨成五人。  TẢN tự khứ cốt thành ngũ NHÂN.
      Có nghĩa :
              Chữ TẢN 傘 bỏ đi cái xương ở giữa thì thành năm chữ NHÂN 人.


     TẢN 傘 là Cây Dù (Ô) bỏ đi cái xương ở giữa là chữ THẬP 十 ra, thì còn lại 5 chữ NHÂN 人 là 5 Người (Một chữ NHÂN ở trên cùng và bốn chữ NHÂN ở dưới). Kỷ tiểu thư khen là "đối rất khéo, nhưng có vẻ ô họp, lấy thịt đè người". Một chàng tiều phu đang vác bó củi đi ngang qua, thấy mọi người đang tụ họp đông đúc, không biết chuyện chi cũng chen vào xem và gật gù lẩm bẩm. Mọi người đang cười nhạo là Tiều phu cũng muốn đối hay sao, thì chàng Tiều phu bèn lớn tiếng đối rằng :

                困字分開只見木。  KHỐN tự phân khai chỉ kiến MỘC.
     Có nghĩa :
              Chữ KHỐN 困 chia ra thì chỉ thấy có chữ MỘC 木 ở bên trong.


     KHỐN là Khốn cùng, Khốn khó; Còn MỘC là Cây; với ý là : Vượt qua được khốn khó thì sẽ vương lên như là sức sống của một cái cây vậy. Mọi người đang ngạc nhiên thì Kỷ tiểu thư đã ứng tiếng phê rằng :"Ý thì rất hay, không chê vào đâu được, nhưng BẰNG TRẮC thì vẫn còn chưa ổn. Đọc lên nghe vẫn còn chỏi với vế ra nhiều lắm". Chàng tiều phu không chịu thua lại đọc tiếp thêm một vế đối khác nữa là :

                木林聚合便成森。   MỘC LÂM tụ họp tiện thành SÂM. 
     Có nghĩa :
              MỘC LÂM 木林 tụ họp lại thì trở thành SÂM 森.

             
     MỘC LÂM là Cây Rừng; còn SÂM là Râm rạp (Hình dung từ). Ý là "Cây Rừng" mà tụ họp lại thì sẽ trở nên "Rậm rạp". Đối với tiều phu thì một rừng cây rậm rạp là nguồn sống vô biên vô tận, ý rất hay lại rất "ăn" Bằng Trắc, nhưng lại "không ăn" tự loại; Vì SÂM là Hình dung từ chớ không phải Danh từ. Khi mọi người còn đang cân nhắc, thì bỗng có một gả ăn mày, tay cầm gậy đánh chó chen vào xin đối. Mọi người chung quanh đều buông lời cười cợt "Thứ cái đồ ăn xin mà không biết thân biết phận, bày đặt học đòi !". Kỷ Tiểu thư thấy gã ăn xin mặc dù ăn mặc lam lũ, nhưng mi thanh mục tú mặt mày sáng sủa, bèn ra hiệu cho thị nữ chấp thuận cho anh ta đối. Chàng ăn mày bèn lớn tiếng nói rằng :"Tiểu thư đã dùng chữ ĐIỀN và chữ KHẨU để ra vế đối, thì tôi cũng xin dùng hai chữ đó để đối lại như sau :

                口才四處易成田。   KHẨU tài tứ xứ dị thành ĐIỀN.
      Có nghĩa :
               KHẨU 口 mà tài thì tứ xứ khắp chốn đều dễ thành ĐIỀN 田.

                
      Có KHẨU TÀI là có tài về miệng lưỡi, ăn nói giỏi, thì khắp nơi khắp chốn đều rất dễ thành đạt mà có nhiều Điền sản, ruộng đất. Cũng có hàm ý là : Ăn xin giỏi cũng dễ có được ruộng đất như thường ! Về kỹ xảo của câu đối thì có nghĩa : "Ghép chữ KHẨU 口 bốn bên lại với nhau thì sẽ thành chữ ĐIỀN 田"; đối lại với vế ra của Kỷ Tiểu thư là : "Chữ ĐIỀN 田 mà bung ra thì toàn là chữ KHẨU 口". Kỷ Tiểu thư rất vừa ý, nhưng lại gợi ý cho thị tỳ chất vấn tiếp là :"Có khẩu tài là thế, sao lại phải đi xin ăn thế kia?". Chàng ăn mày lại đáp bằng một vế đối khác là : 
               
                日日平安也是田。    NHẬT NHẬT bình an dã thị ĐIỀN.
      Có nghĩa :
           Ngày ngày sống bình yên cũng là Điền sản đó. Cũng hàm ý là "2 chữ NHẬT đứng sát liền nhau thì cũng thành chữ ĐIỀN " đó.

      Kỷ Tiểu thư nghe xong rất ngạc nhiên hỏi :"Còn có thể đối thêm một vế về chữ ĐIỀN nữa không ? Chàng ăn mày suy nghĩ giây lâu rồi đáp :

                四山顛倒便成田。    Tứ SƠN điên đảo tiện thành ĐIỀN.

       Có nghĩa :
              Bốn chữ SƠN 山 nằm nghiêng ngã vào nhau cũng thành chữ ĐIỀN. Ý là :"Nếu núi non bị khai phá cho nghiêng ngã đổ sập xuống thì cũng trở thành ruộng đất cả thôi !".

      Vẫn chưa chịu buông tha vì cái bộ dạng ăn mày, nên Kỷ Tiểu thư truy đuổi tới cùng :"Nếu có thể làm thêm một vế đối về chữ ĐIỀN nữa thì sẽ đính ước việc chung thân, mà không còn ngần ngại gì nữa !". Mọi người đều lo lắng thay cho chàng ăn mày, thì chàng lại rất bình tĩnh suy tư trong giây lát bèn cất tiếng đọc to :

                兩王爭國總為田。    Lưỡng VƯƠNG tranh quốc tổng vi ĐIỀN.

                       Có nghĩa :
              Hai VƯƠNG tranh nhau một nước cũng vì ĐIỀN thổ mà thôi. Hai chữ VƯƠNG 王 một ngang một dọc chồng lên nhau trong một ô thì cũng thành chữ ĐIỀN. Đến nước nầy thì Kỷ Tiểu thư cũng rất vui lòng mát dạ mà e thẹn rút lui; rồi lệnh cho thị nữ mời chàng ăn mày tài hoa vào đại sảnh gặp ông bà Kỷ Viên Ngoại  để bàn việc hôn ước.   

          Tiểu Đăng Khoa  (cưới vợ)          Đại Đăng Khoa  (thi đậu làm quan)

       Sau Tiểu Đăng Khoa mật ngọt của đôi tài tử giai nhân, thì năm sau nhờ vào sự hỗ trợ của gia đình nhà gái, chàng thư sinh ăn mày đã lai kinh ứng thí và đậu ngay Bảng Nhãn cập đệ. Vợ chồng sống hòa hợp êm ấm trong cảnh phu xướng phụ tùy cho đến răng long đầu bạc. Truy nguyên thì là nhờ vào những câu đối xoay quanh chữ ĐIỀN 田 mà thôi !

                    

      Hẹn bài viết tới !

                                                杜紹德
                                              ĐỖ CHIÊU ĐỨC 
                    

                   

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

BỨC THƯ PHÁP THƠ ĐỖ PHỦ CỦA PHÙNG KIẾN NGÔ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

                 Bức thư pháp chụp ở nhà hàng 28, Washington DC. Mỹ.


Tạp ghi và Phiếm luận :

          BỨC THƯ PHÁP Thơ ĐỖ PHỦ của PHÙNG KIẾN NGÔ 


       Đó là bức thư pháp của nhà thư pháp nổi tiếng đương đại của Trung Quốc là Phùng Kiến Ngô 馮建吳 (1910–1989) viết vào tháng 6 năm 1982 tại Trùng Khánh Quốc Họa Viện 重慶國畫院 (Viện Hội Họa Quốc Gia của TP Trùng Khánh thuộc tỉnh Tứ Xuyên). Bức thư pháp đó chép lại bài thơ Ngũ ngôn Luật thi của Thi Thánh Đỗ Phủ 杜甫 có tựa là "Du Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há hiệp 渝州候嚴六侍御不到,先下峽". Có nghĩa : "Đợi Nghiêm Lục Thị Ngự ở Du Châu không đến, nên xuống eo Tam Hiệp trước". 
       Năm Vĩnh Thái nguyên niên đời Đường (756), Đỗ Phủ rời đất Thục hướng về đông, trên đường phiêu bạc ngang qua đất Du Châu định đợi bạn là Nghiêm Lục Thị Ngự để cùng đến Qùy Châu, nhưng đợi mãi mà vẫn không thấy bạn đến, nên bèn xuống eo Tam Hiệp trước; Vì thế mà làm bài thơ nầy; Bài thơ tiêu biểu cho sự phiêu bạc của Đỗ Phủ lúc về già.    

     渝州候嚴六侍御不到,先下峽 Di Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há Hiệp.

              聞道乘驄發,    Văn đạo thừa thông phát,
              沙邊待至今。    Sa biên đãi chí câm (kim).
              不知雲雨散,    Bất tri vân vũ tán,
              虛費短長吟。    Hư phí đoản trường ngâm.
              山帶烏蠻闊,    Sơn đới Ô Man khoát,
              江連白帝深。    Giang liên Bạch Đế thâm.
              船經一柱觀,    Thuyền kinh Nhất Trụ Quán,
              留眼共登臨。    Lưu nhỡn cộng đăng lâm !

* Chú thích :
    - Du Châu 渝州 : là tên của đất Ba Thục xưa; Nay là Phủ Trùng Khánh.
    - Hậu 候 : là Đẵng Hậu 等候 có nghĩa là Chờ đợi, là Chực chờ.
    - Há 下 : Vốn là chữ HẠ , Hình dung từ là "Bên dưới, phía dưới". Khi là Động từ thì đọc là HÁ (dấu sắc) có nghĩa là "Đi Xuống".
    - Hiệp 峽 : là Eo đất hay Eo núi, như Trường Giang Tam Hiệp 長江三峽 chẳng hạn; Chữ nầy còn được đọc là HẠP, là GIÁP, như Vu sơn Vu giáp 巫山巫峽...
    - Thông 驄 : là con ngựa xám (lông có màu trắng xanh lẫn lộn); THỪA THÔNG 乘驄 là Cưởi con ngựa màu xám.
    - Sa Biên 沙邊 : là Bên bờ cát (ven sông).
    - Đãi 待 : là ĐẲNG ĐÃI 等待 có nghĩa là "Chờ đợi", giống như từ Đẵng Hậu 等候 ở trên. 
    - Kim 今 : đọc là CÂM cho Ăn với các Vận khác trong bài thơ.
    - Vân Vũ Tán 雲雨散 : là "Mây mưa tan", lấy ý trong thơ của Vương Xán đời Đông Hán là "Phong lưu vân tán, nhất biệt như vũ 風流雲散,一别如雨" Có nghĩa : "Chia tay nhau như sau cơn mưa, gió đã thổi qua và mây cũng đã trôi đi"; Ý nói : Không biết đâu mà lường được !
    - Đoản Trường Ngâm 短長吟 : là đão ngữ tên một khúc ngâm trong Cổ thi là "Trường Đoản Ngâm 長短吟". Ý nói : Trong khi chờ đợi ai đó thì ngâm dài ngâm vắn cho đỡ thấy lâu.
    - Ô Man 烏蠻 : Theo "Đường Thư, Nam Man Truyện 唐書·南蠻傳" Chỉ các bộ tộc ở phía nam của đất Nam Chiếu rộng lớn, có các bộ tộc như Bạch Man, Ô Man...


                                   Thành Bạch Đế và Nhất Trụ Quán

    - Bạch Đế 白帝 : là Thành Bạch Đế ở cách Qùy Châu năm dặm, đưa đến eo núi Tây lăng với nước sông cuồn cuộn từ trên đổ xuống với khí thế hùng vĩ, là yết hầu của đất Thục Sở.
    - Nhất Trụ Quán 一柱觀 : QUÁN là ĐẠO QUÁN 道觀 là nơi tu tập của các đạo sĩ. NHẤT TRỤ QUÁN là một di tích ở huyện Tòng Tư tỉnh Hồ Bắc, do Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh thời Nam bắc Triều xây dựng nên; Vì to lớn và chỉ như một cột trụ lớn, nên được gọi là NHẤT TRỤ QUÁN.
    - Lưu Nhỡn 留眼 : Không phải là "để con mắt lại", mà là muốn lưu cái tầm nhìn lại để cùng bạn cùng nhau ngắm cảnh trên cao nhìn xuống.

* Nghĩa bài thơ :
           Đợi Nghiêm Lục Thị Ngự ở Du Châu không đến, nên xuống eo Tam Hiệp trước.

       Nghe nói rằng bạn sẽ cưởi con ngựa màu xám đến để cùng đi với ta; Nên ta đợi mãi ở bãi cát ven sông mãi cho đến tận bây giờ. Nhưng bạn thì như gió cuốn mây trôi không biết đâu là tung tích, làm cho ta cứ ngâm thơ dài thơ vắn mà chờ đợi uổng công (Hư Phí 虛費 thời gian một cách vô ích). Ở đây núi non trùng điệp trải dài đến các bộ tộc Ô Man rộng lớn và sông Trường giang hùng vĩ nồi liền với thành Bạch Đế xa xa. Khi thuyền đi ngang qua Nhất Trụ Quán cao ngất ở Giang Lăng, ta muốn lưu lại cái tầm nhìn để được cùng bạn lên cao mà ngắm xuống cảnh núi non nước sông hùng vĩ nầy !

* Diễn Nôm :
              Du Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há hiệp.

                   Nghe anh cởi ngựa thông,
                   Bờ biển mãi ngóng trông.
                   Như mây tan gió thổi,
                   Uổng vài vắn thơ ngâm.
                   Núi nối Ô Man rộng,
                   Sông liền Bạch Đế thâm.
                   Thuyền qua Nhất Trụ Quán,
                   Ước cùng ngắm nhìn chung !
       Lục bát :
                   Nghe tin anh cưởi ngựa thông,
                   Thẩn thơ bờ cát ngóng trông đến giờ.
                   Mây trôi gió cuốn ơ hờ,
                   Mất công dài vắn vần thơ ngâm vùi.
                   Ô Man liền núi ngút trời,
                   Bạch Đế sóng cuộn tơi bời Trường giang.
                   Thuyền đi qua Nhất Đạo Quan,
                   Ước cùng bạn ngắm bạt ngàn trên cao !
                                                        (Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

         

Góp ý :
        Bức "thư pháp" được viết cách điệu với nhiều thể loại chữ, thiếu nghiêm chỉnh và không đâu ra đâu cả ! Này nhé : 


Văn đạo     Phát      Sa biên   Bất tri  Ngâm Sơn   Giang      Cộng   Thuyền kinh Lưu nhởn 

  - Từ Văn đạo Sa biên,Lưu nhởn  được viết theo lối chữ Lệ (LỆ THƯ 隸書), nhưng phép "Tàm đầu yến vĩ" không rõ ràng.
  - Chữ Phát  có phần đầu theo lối chữ Triện; phần dưới theo chữ Lệ. 
  - Chữ Giang có phần đầu ''Ba chấm Thủy" bên trái, được viết theo lối Giáp Cốt Văn của chữ Thủy.
  - Chữ Ngâm,Sơn ,Cộng được viết theo lối chữ Đại Tiểu Triện, nhưng nét bút không nghiêm cẩn, tùy tiện.
  - Từ Thuyền kinh  được viết theo lối chữ Hành (HÀNH THƯ 行書), bỏ bớt nét cho gọn chữ.
  - Từ Bất tri được viết theo lối chữ Thảo (THẢO THƯ 草書), nhưng nét bút không bay bướm.
      ................
        Tóm lại : là một nhà Thư pháp nỗi tiếng, nhưng bức thư pháp nầy của Phùng Kiến Ngô 馮建吳 được viết một cách tùy tiện, bát nháo. Chủ đạo là chữ LỆ, nhưng hình như tác giả muốn  cố ý khoa trương những hiểu biết của mình về "Thư pháp" hơn là muốn thực hiện một bản thư pháp đẹp. 
      Sau đây xin được giới thiệu một bản "Thư pháp đẹp một cách nghiêm chỉnh" của Phùng Kiến Ngô khi viết lại bài thơ "Đăng Quán Tước Lâu 登鸛鵲樓" của Vương Chi Hoán 王之渙 đời Đường bằng hai thể chữ Giáp Cốt Văn và Đại Tiểu Triện :


                  Bài thơ Đăng Quán Tước Lâu  và  Danh họa Phùng Kiến Ngô 

              白日依山盡,    Bạch nhật y sơn tận,
              黃河入海流。    Hoàng hà nhập hải lưu,
              欲窮千里目,    Dục cùng thiên lý mục,
              更上一層樓。    Cánh thướng nhất tằng lâu!

* Nghĩa bài thơ :
                     Lên lầu Quán Tước.
      Mặt trời sáng trắng đang theo ngọn núi mà mất hút (chỉ mặt trời lặn).
      Sông Hoàng Hà thì cứ cuồn cuộn chảy đổ vào biển.
      Nếu như muốn nhìn cho mút tầm mắt ngoài ngàn dặm, thì mời bạn...
      Hãy lên thêm một tầng lầu nữa !...


                     
* Diễn Nôm :
                     ĐĂNG QUÁN TƯỚC LÂU

                    Mặt trời theo núi lặn,
                    Hoàng Hà biển chảy mau.
                    Muốn nhìn mút tầm mắt,
                    Lên thêm một tầng lầu !
      Lục bát :
                    Mặt trời trắng, lặn núi xanh,
                    Hoàng Hà ra biển chảy nhanh suốt ngày.
                    Muốn nhìn cho mút mắt ai,
                    Lầu Quán Tước đó lên ngay một tầng !

       Bài thơ nêu lên ý chí tiến thủ không ngừng của Vương Chi Hoán. Trước cảnh núi sông hùng vĩ : Mặt trời khuất sau rặng núi trong cảnh sóng nước Hoàng Hà đang cuồn cuộn không ngừng đổ ra biển cả mênh mông; Nếu bạn muốn nhìn mút tầm mắt cho mãn nhãn ư , thì hãy cùng ta bước lên thêm một tầng lầu nữa đi, bạn sẽ được thỏa mãn ngay  !... Ý chí phấn đấu không ngừng tiến thủ, vươn lên cao cho thỏa chí bình sinh !

         Hẹn bài viết tới !

 
                                           杜紹德
                                        ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

PHIẾM LUẬN VĂN CHƯƠNG :CHÀO MỪNG NẮNG HẠ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC




Phiếm Luận Văn Chương :

                              ĐÓN MỪNG NẮNG HẠ  


                                                                           

                                  

                  Dưới trăng quyên đã gọi hè,

                Đầu tường lửa lưu lập lòe đơm bông.

                                                                                                                      (Truyện Kiều)


       Đó là hai câu thơ tả cảnh mùa hè trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du. Rất đậm nét, rất đặc trưng cho mùa hè như những chuyển cảnh trong điện ảnh : Chim Đỗ Quyên kêu và hoa lựu đỏ rực như lửa thấp thoáng ở mé tường. Tiếng cuốc gọi hè lại làm cho ta nhớ đến hai câu thơ cuối trong bài "Cổ Loa Hữu Cảm 古螺有感" của Chu Mạnh Trinh là : Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu, Ðỗ quyên đề đoạn nguyệt âm âm 寂寞前朝宮外廟,杜鵑啼斷月陰陰 :

                      Triều xưa cung lạnh miếu sầu,

              Tiếng quyên khắc khoải, trăng thâu mờ mờ.


       Hoa Đỗ quyên, hoa Thạch lựu thì đỏ rực như nắng hạ, chỉ có hoa Dương liễu, hoa Hạnh là còn mang màu trắng xóa bay bay trong nắng chiều như bài từ của Thừa tướng Khấu Chuẩn 寇准 đời Tống mà nhà văn Kim Dung 金庸 đã cho chàng thư sinh Đoàn Dự đọc khi bị Cưu Ma Trí bắt đi đến xứ Giang Nam trong truyện "Thiên Long Bát Bộ" là :


                 波渺渺,柳依依;   Ba miểu miểu, liễu y y:

                 孤村芳草遠,         Cô thôn phương thảo viễn,

                 斜日杏花飛...         Tà nhât hạnh hoa phi...   

      Có nghĩa :

                      Sóng lăn tăn, liễu thướt tha;

                      Xóm xa xanh cỏ biếc,

                      Nắng chiều bay hạnh hoa !...


      Đầu tháng tư lại có những cơn mưa đầu mùa hạ, làm cho khí trời trong và thoáng hơn; Không có trăm hoa đua nở như mùa xuân, không còn có hoa dương liễu bay trong gió, chỉ có hoa qùy vẫn luôn hướng dương nở để đón ánh nắng mùa hè rực rỡ như trong bài thơ 《Khách Trung Sơ Hạ 客中初夏》(Đầu mùa hè nơi đất khách) của Tư Mã Quang 司馬光 đời Tống :


                 四月清和雨乍晴,  Tứ nguyệt thanh hòa vũ sạ tình,

                 南山當户轉分明。  Nam sơn đương hộ chuyển phân minh.

                 更無柳絮因風起,  Cánh vô liễu nhự nhân phong khởi,

                 惟有葵花向日傾。  Duy hữu qùy hoa hướng nhật khuynh !

      Có nghĩa :

                       Đầu hạ tháng tư mưa chợt tạnh,

                       Núi Nam đối diện rõ như gương.

                       Đâu nào liễu trắng bay theo gió...

                       Chỉ thấy hoa qùy vẫn hướng dương !


                   

      Trên ao thì sen non và hoa ấu chen lẫn với rêu xanh, trên cành thì chim hoàng oanh như tranh nhau hót líu lo trên khóm hoa tường vi đầy gai góc. Suốt ngày suốt buổi không ai buồn nghe tiếng mưa rào rơi từng cơn, chỉ có đôi uyên ương là đang hí thủy như đang tắm gội giặt giũ cho bộ lông rực rỡ màu sắc đẹp đẻ của mình trong nắng hè. Hình ảnh của buổi đầu hè được thể hiện qua bài thơ " Tề An Quận Hậu Trì Tuyệt Cú 齊安郡后池絕句"(Tuyệt cú tả cảnh sau ao của quận Tề An) của nhà thơ Đỗ Mục 杜牧 đời Đường như sau :


                菱透浮萍綠錦池,    Lăng thấu phù bình lục cẩm trì,

                夏鶯千囀弄蔷薇。    Hạ oanh thiên chuyển lộng tường vi.

                盡日無人看微雨,    Tận nhật vô nhân khán vi vũ,

                鴛鴦相對浴紅衣。    Uyên ương tương đối dục hồng y !

      Có nghĩa :

                     Ấu bèo tựa gấm phủ xanh ao,

                     Oanh hót tường vi tiếng xuyến xao.

                     Suốt buổi mưa rào không thiết ngắm,

                     Uyên ương rỉa cánh rộn trên ao.


                    

       Thường thì từ sáng sớm của mùa hè đã có những trận gió nam ấm áp rao rao thổi đến, làm cho những cánh lá sen non bắt đầu nở ra và hoa tường vi thì rả cánh rụng đầy; Các loại côn trùng sâu bọ màu xanh cũng học đòi theo giấc mộng của Trang Chu mà hóa thành những cánh bướm bay đầy khắp cả nam viên, như trong bài "Sơ Hạ Hí Đề 初夏戲題"(Đề vui trong buổi đầu hè) của Từ Di 徐夤 đời Đường :


               長養薰風拂曉吹,  Trường dưỡng huân phong phất hiểu xuy,

               漸開荷芰落蔷薇。  Tiệm khai hà kị lạc tường vi.

               青蟲也學莊周梦,  Thanh trùng dã học Trang Chu mộng,

               化作南園蛱蝶飛。  Hóa tác nam viên giáp điệp phi !

    Có nghĩa :

                    Hè sớm thói thường dậy gió nam,

                    Ấu sen nhú nhụy tường vi tàn.

                    Sâu xanh cũng học đòi Trang Tử,

                    Hóa bướm bay đầy vườn phía nam !


                    

       Ngày hè say nắng, nằm chập chờn nhìn những cánh bướm bay bay mà ngỡ mình như là Trang Chu mơ hóa bướm... Trong khi trái mai đã trổ vàng, trái hạnh cũng đã xanh om, hoa lúa mạch đà trổ trắng ngoài đồng, còn hoa cải xanh vàng úa đã thưa thớt màu. Ngày hè dài dằng dặc, ngoài phên giậu thưa không một bóng người qua lại, chỉ thấy những con chuồn chuồn và những cánh bướm bay lượn khắp đó đây... Đó là cảnh Điền Viên Tạp Hứng 田園雜興 của Phạm Đại Thành 范成大, một thi nhân đời Tống :


               梅子金黄杏子肥,   Mai tử kim hoàng hạnh tử phì,

               麥花雪白菜花稀。   Mạch hoa tuyết bạch thái hoa hi.

               日長篱落無人過,   Nhật trường li lạc vô nhân qúa,

               惟有蜻蜓蛱蝶飛。   Duy hữu thanh đình giáp điệp phi !

     Có nghĩa :

                     Mai trái trổ vàng hạnh trĩu cành,

                     Mạch hoa trắng xóa cải hoa xanh.

                     Ngày dài rào vắng không người đến,

                     Duy chỉ chuồn chuồn bướm lượn quanh !


        Hình ảnh của con chuồn chuồn như không thể thiếu trong các khung cảnh của mùa hè : "Chuồn chuồn bay thấp thời mưa, Bay cao thời gió bay vừa thời râm !" Chuồn chuồn điểm thủy, ta gọi là chuồn chuồn đạp nước, bay chấp chới như đáp hờ trên mặt nước tạo nên những vòng tròn gợn sóng lăn tăn, đậu trên những hoa ấu, hoa sen và cả những lá sen mới vừa nhú lên trên mặt nước nữa. Những hoa sen còn hàm tiếu, những lá sen non cuốn tròn vừa từ mặt nước nhô lên những góc nhòn nhọn nho nhỏ thì đã thấy ngay có một chú chuồn chuồn con sớm đã đậu lên trên đó rồi. Thật nên thơ làm sao ấy ! Ta hãy đọc bài thơ "Tiểu Trì 小池" của Dương Vạn Lý 楊萬里 đời Tống sau đây sẽ rõ :


               泉眼無聲惜細流,  Tuyền thủy vô thanh tích tế lưu,

               樹蔭照水爱晴柔。  Thọ âm chiếu thủy ái tình nhu.

               小荷才露尖尖角,  Tiểu hà tài lộ tiêm tiêm giác,

               早有蜻蜓立上頭。  Tảo hữu thanh đình lập thượng đầu !

     Có nghĩa :

                    Làn suối lặng im nước chảy dài.

                    Cây râm rủ bóng nắng vàng thay

                    Lá sen nhòn nhọn đưa lên nước,

                    Đã thấy chuồn chuồn đậu xuống ngay !


        

      Trong cảnh mùa hè nóng nực oi bức nầy, hôm nào nhiệt độ của TP. Houston cũng lên gần 100 độ F. Cái nóng hừng hực và khô khan khiến cho người ta cảm thấy như là đang ở trong lò BBQ vậy... Xin được gởi một luồn gió mát mẻ đến với mọi người bằng "KHÚC HÁT HÁI SEN" sau đây...


               採蓮曲                THÁI LIÊN KHÚC

 

           荷葉羅裙一色裁,     Hà diệp la quần nhất sắc tài,

           芙蓉向臉兩邊開。     Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai.

           亂入池中看不見,     Loạn nhập trì trung khan bất kiến,

           聞歌始覺有人來。     Văn ca thủy giác hữu nhân lai !

                         王昌齡                             Vương Xương Linh.


* Chú Thích :

  1. Hà Diệp 荷葉 : là Lá Sen. Sẵn xin nói luôn về các tên của bông Sen như sau :

   - Hà Hoa 荷花 : là Bông Sen. Trong Bát Tiên có một cô Tiên rất đẹp, tay cầm một nhánh bông sen, chính là HÀ TIÊN CÔ 荷仙姑 đó !

   - Liên Hoa 蓮花 : cũng là bông Sen, ta thường thấy 2 loại, hay được dùng đặt tên cho các nàng là Bạch Liên 白蓮 và Hồng Liên 紅蓮.

   - Thủy Phù Dung 水芙蓉 : là Hoa Phù Dung ở dưới nước, cũng là tên riêng của Hoa Sen. Ta sẽ gặp lại từ này trong bài thơ trên.

  2. La Quần 羅裙 : là Cái Quần Là. Một loại Lụa ngày xưa thường dùng để may quần cho các bà các cô.

  3. Văn 聞 : Chữ nầy gồm có bộ Môn 門 bên ngoài và chữ Nhĩ 耳 bên trong, có nghĩa : Chỏ cái lổ tai ra ngoài cửa để... nghe ngóng. Nên Văn Ca 聞歌 : là Nghe có tiếng ca.

  4. Thủy Giác 始覺 : là Mới có cảm giác. Có nghĩa : Mới biết rằng...


* Nghĩa Bài Thơ :

                         KHÚC HÁT HÁI SEN

       Lá sen và quần lụa của nàng cũng cùng một màu xanh xanh, gương mặt đẹp đẻ của nàng giống như hoa Phù Dung dưới nước (hoa sen), hai bên đều cùng nở ra khoe sắc. và... cùng lẫn vào nhau ở trong ao, nên khi nghe thấy có tiếng ca... mới biết là có một nàng hái sen đang bơi đến...


                 

* Diễn Nôm :

                          KHÚC HÁT HÁI SEN.

                    Lá sen quần lụa xếp hai hàng,

                    Mặt tựa phù dung mới điểm trang.

                    Lẫn khuất trong ao nào ai thấy,

                    Nghe ca mới biết có người sang !.

         Lục bát :

                    Lá sen quần lụa một màu,

                    Phù dung mặt đẹp thua nào sen tươi.

                    Lẫn trong ao chẳng thấy người,

                    Nghe ca mới biết ai cười hái sen !


       Đó là KHÚC HÁT HÁI SEN bình thường của các cô gái trong mùa mè nóng nực; Còn sau đây là KHÚC HÁT HÁI SEN của các cô gái vương công qúy tộc nhí nha nhí nhảnh giành nhau khi chèo chống thuyền hái sen...


            採蓮曲(其二)        THÁI LIÊN KHÚC (Kỳ Nhị)

                                                

           吳姬越豔楚王妃,    Ngô cơ Việt diễm Sở vương phi, 

           爭弄蓮舟水濕衣。    Tranh lộng liên chu thủy thấp y.

          來時浦口花迎入,    Lai thời phố khẩu hoa nghinh nhập,

           采罷江頭月送歸。    Thái bãi giang đầu nguyệt tống quy.

                          王昌齡                              Vương Xương Linh.

          


* Chú Thích :

   1. Ngô Cơ, Việt Diễm, Sở Vương Phi 吳姬越豔楚王妃 : là ba người đẹp của ba nước thuộc miền Giang Nam nhiều sông ngòi kinh rạch, và dĩ nhiên có... nhiều ao sen, và những người đẹp nầy lại rất thích hái sen vào mùa hè nóng bức ! Xin được cung cấp thêm một tên nữa của Hoa Sen là : Phù Cừ Vương Phi 芙蕖王妃.

   2. Liên Chu 蓮舟(Châu) : là Thuyền hái sen.

   3. Phố khẩu 浦口 : là Bến nước, Bến sông, Nơi để xuống thuyền.


* Nghĩa Bài Thơ :

        Ba người đẹp của đất Giang Nam tranh nhau đi hái sen, và tranh nhau bơi thuyền hái sen, làm nước bắn tung tóe ướt cả áo xiêm. Khi đến bờ sông thì hoa sen cười đón mời chào, và khi hái xong ra về thì lại có vầng trăng sáng đưa ra đến tận đầu sông.


* Diễn nôm :

                            KHÚC HÁT HÁI SEN

                                    (Bài 2)


                    

                     Gái Ngô, gái Việt , gái vương công,

                     Tranh chống thuyền sen ướt áo bông.

                     Khi đến cả đầm sen chào đón,

                     Lúc về trăng sáng tiễn đầu sông !

         Lục bát :

                     Gái Ngô Việt với Vương công,

                     Tranh nhau ướt áo chèo không buông nào.

                     Đến thì hoa đón mời chào,

                     Hái xong trăng sáng ngàn sao đưa về ! 


      Cũng là THÁI LIÊN KHÚC 採蓮曲, cũng là "KHÚC HÁT HÁI SEN", nhưng không phải của giới qúy tộc, mà là của một thôn nữ vừa đến tuổi cài trâm, được Thi Bá Bạch Cư Dị 白居易 diễn tả lại một cách rất thực tế sống động sau đây :


              採蓮曲                THÁI LIÊN KHÚC


           菱葉縈波荷颭風,   Lăng diệp oanh ba hà chiếm phong,

           荷花深處小船通。   Hà hoa thâm xứ tiểu thuyền thông.

           逢郎欲語低頭笑,   Phùng lang dục ngữ đê đầu tiếu,

           碧玉搔頭落水中。   Bích ngọc tao đầu lạc thủy trung.

                          白居易                                   Bạch Cư Dị


 

               

* CHÚ THÍCH :

   - Lăng Diệp 菱葉 : là Lá Ấu, lá của Củ Ấu.

   - Oanh 縈 (còn đọc là Quanh, Vinh): là Lòng vòng, lẩn quẩn.

   - Chiếm 颭 : là chữ Hình Thanh, gồm có chữ Phong 風 là Gió chỉ ý, và chữ Chiêm 占 chỉ âm, nên CHIẾM có nghĩa là : Bị gió lay động.

   - Tao Đầu 搔頭 : Búi tóc. Danh từ có nghĩa là Cây Trâm.     

   - Bích Ngọc 碧玉 : là Ngọc Bích. là Cẩm Thạch, nên Bích Ngọc Tao Đầu 碧玉搔頭 là Cây trâm bằng Ngọc Bích, bằng Cẩm Thạch. Người Hoa gọi là Ngọc Bích nghe rất qúy giá. Ta gọi là Cẩm Thạch nghe có vẻ bình dân hơn.            

                                                    

* NGHĨA BÀI THƠ :      

                          KHÚC HÁT HÁI SEN.

       Lá ấu phủ trên mặt nước làm gợn sóng lăn tăn và những lá sen lay động trước gió. Trong chỗ sâu thẳm của ao sen chiếc thuyền nhỏ cũng có thể qua lại được. Gặp chàng muốn nói nên cúi đầu cười e thẹn, làm cho cây trâm bằng ngọc bích rớt tỏm xuống ao sen !


* DIỄN NÔM :

                          THÁI LIÊN KHÚC


          

                 Sóng vờn lá ấu gió lay sen,

                 Trong đám hoa xa thuyền nhỏ len.

                 Muốn nói, gặp chàng cười cả thẹn,

                 Cúi đầu trâm ngọc rớt ao sen !  

    Lục bát :

                 Ấu gợn sóng, gió lay sen,

                 Hái hoa thơ thẩn xuồng len trong cùng.

                 Gặp chàng muốn nói thẹn thùng,

                 Cuối đầu trâm rớt xuống bùn trong ao !


       Khéo ngớ ngẩn mà nên thơ và thi vị làm sao ấy ! Không biết "chàng" đây là người cùng xóm hay là người trong mộng của nàng, 4 chữ "Phùng lang dục ngữ 逢郎欲語 : Gặp chàng muốn nói" mới mơ hồ làm sao, vì "Nó" ở giữa hai đàng : "Chàng muốn nói hay là Gặp chàng Nàng muốn nói ?" để thẹn thùa đến nổi cúi đầu lơ đểnh... đánh rơi cành trâm ngọc xuống ao sen !

       Qủa là một bức tranh tâm lý sống động thực tế của các cô gái mới đến tuổi cài trâm rung động bối rối trước mặt người mà mình hằng mơ ước.

              


       Hẹn bài viết tiếp


         杜紹德

             ĐỖ CHIÊU ĐỨC