
.








.








Giai Thoại Văn Chương vui :
NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY
SƠN HẢI QUAN 山海關 là một quan ải hiểm yếu nằm ở tỉnh Hà Bắc vùng Đông bắc Trung Hoa sát với biển Đông, và là nơi khởi điểm của Vạn Lý Trường Thành, nên thường được gọi là "Thiên hạ đệ nhất quan 天下第一關" là "Quan ải số một trong thiên hạ". Trên sườn núi phía đông của Sơn Hải Quan có một ngôi cổ miếu có tên là MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟, là miếu thờ nàng Mạnh Khương.
Như ta đã biết trong "Tứ Đại Ái Tình Truyền Thuyết 四大愛情傳說" của Trung Hoa xưa là : Ngưu Lang Chức Nữ, Bạch Xà Truyện, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài và Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành. Bỏ qua ba truyện trên, truyện Mạnh Khương Nữ có tích như sau :

Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành
Chàng thanh niên thư sinh Phạm Hỉ Lương 范喜良 (còn được gọi là Vạn Hỉ Lương 萬喜良) trốn vào hoa viên nhà họ Mạnh để tránh quân Tần đuổi bắt các thanh niên tráng đinh đi xây Vạn Lý Trường Thành, tình cờ làm quen với tiểu thư nhà họ Mạnh là Mạnh Khương Nữ 孟姜女. Hai bên nam nữ cùng ái mộ nhau và đính ước hôn nhân. Khi đôi bên làm lễ thành hôn mới được ba ngày, vợ chồng đang ân ái mặn nồng thì Vạn Hỉ Lương bị lính Tần bắt đi xây Vạn Lý Trường Thành. Mùa đông năm đó, sau khi đã chờ đợi mõi mòn, nàng Mạnh Khương mới đan áo ấm cho chồng rồi khăn gói vượt đường xa muôn dặm để thăm chồng. Nào ngờ khi đến nơi thì được tin chồng đã chết và cùng một nhóm phu phen bị chôn thây vào với trường thành. Nàng khôn xiết bi thương sầu thảm khóc đến "máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao", khóc đến chết đi sống lại trong ba ngày ba đêm, khóc đến mưa sầu gió thảm và sấm sét nổi lên đánh sập cả bức trường thành, xác chết của các tráng đinh xây trường thành bày ra la liệt, trong đó có xác của Phạm Hỉ Lương. Vua Tần nổi giận định trị tội nàng, nhưng khi thấy nàng là một giai nhân xinh đẹp nên định nạp làm phi tần. Nàng muốn vua Tần phải an táng chồng mình cho chu đáo rồi mới chịu nhập cung. Nhưng sau khi được vua Tần chôn cất chồng xong, nàng bèn nhảy xuống biển đông để tự trầm mà chết theo chồng. Dân làng cảm thương cho sự trung trinh tiết liệt của nàng nên mới lập miếu MẠNH KHƯƠNG NỮ để thờ tự hương hỏa quanh năm mãi cho đến hiện nay.

MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟
Miếu được xây một cách uy nghi cổ kính trên sườn núi nhìn ra biển, sau khi phải đi lên một trăm linh tám (108) bậc thang đá mới đến được cổng sơn môn của miếu, và trước điện thờ chính có một đôi câu đối mà nhà văn cận đại Quách Mạt Nhược 郭沫若 (1892—1978) gọi là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联" (Đôi liễn kỳ lạ nhất thiên hạ) Vì nếu mới trông qua lần đầu người ta sẽ không biết phải đọc như thế nào. Đôi liễn kỳ lạ đó như sau :
海 水 朝 朝 朝 朝 朝 朝 朝 落,
浮 雲 長 長 長 長 長 長 長 消。
Như ta đã biết, trong Lục Thư để tạo hình chữ Nho có phép thứ sáu là GIẢ TÁ 假借 có nghĩa : Mượn chữ có sẵn để chỉ một nghĩa khác, như câu đối trên có chữ 朝. Nếu đọc là...
- 朝 TRIÊU thì có nghĩa là Buổi sáng : như trong hai câu trong bài hát nói "Giai Nhân 2" của Cao Bá Quát là : "Giai nhân khứ khứ hành hành sắc, tài tử TRIÊU TRIÊU MỘ MỘ tình 佳人去去行行色,才子朝朝暮暮情" (Vẻ đẹp giai nhân đi đi lại lại; Tình riêng tài tử SỚM SỚM CHIỀU CHIỀU). Nếu đọc là...
- 朝 TRIỀU (có dấu huyền) có nghĩa là Triều đại 朝代, lại đồng âm với chữ TRIỀU 潮 là Nước Thủy Triều 水潮. Còn...
- 長 đọc là TRƯỜNG (dấu huyền) thì có nghĩa là Dài, đồng âm Quan thoại với chữ THƯỜNG 常 là Thường xuyên, là Luôn luôn. Còn đọc là...
- 長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thí có nghĩa : Sinh ra, Lớn lên, tràn lên. Nên...
Câu đối mỗi vế gồm mười (10) chữ trên, có thể đọc được nhiều cách. Sau đây chỉ là 3 cách đọc tiêu biểu :
* Cách thứ nhất : Đọc theo chấm câu 3, 3, 4. như sau :
海 水 朝, 朝 朝 朝, 朝 朝 朝 落,
浮 雲 長, 長 長 長, 長 長 長 消。
Hải thuỷ triều, triêu triêu triều, triêu triều triêu lạc;
Phù vân trưởng, trường trường trưởng, trường trưởng trường tiêu.
Có nghĩa :
- Nước thuỷ triều của biển, mỗi buổi sớm đều có thủy triều, có buổi sớm thuỷ triêu lên, có buổi sớm truỷ triều xuống;
- Mây nổi ở trên trời, thường thường được sinh sôi ra, thường được sinh ra nên cũng thường được tiêu tán đi.

* Cách thứ nhì : Đọc theo chấm câu 4, 3, 3. như sau :
海 水 朝 朝, 朝 朝 朝, 朝 朝 落,
浮 雲 長 長, 長 長 長, 長 長 消。
Hải thủy triêu triều, triêu triêu triều, triêu triêu lạc;
Phù vân trường trưởng, trường trường trưởng, trường trường tiêu.
Có nghĩa :
- Nước thủy triều lên xuống của biển, mỗi ngày đều đầy lên, mỗi ngày đều rút xuống;
- Mây nổi được sinh ra ở trên trời, thường xuyên được sinh ra, thường xuyên tiêu mất đi.
* Cách thứ ba : Đọc theo chấm câu 5, 5. như sau :
海 水 朝 朝 朝, 朝 朝 朝 朝 落,
浮 雲 長 長 長, 長 長 長 長 消。
Hải thủy triêu triêu triều, triêu triều triêu triêu lạc;
Phù vân trường trường trưởng, trường trưởng trường trường tiêu.
Có nghĩa :
- Nước thủy triều của biển dâng lên mỗi buổi sáng, nên mỗi buổi sáng nước triều đều lại rút đi;
- Đám mây nổi trên trời thường xuyên được sinh ra, thường xuyên được sinh ra nên cũng thường xuyên tiên tán đi.
Tóm lại, dù cho đọc theo cách nào, hiểu theo nghĩa nào thì cũng nằm trong cái ý vô thường và tuần hoàn của sự vật ; Có sinh có trưởng thì có tiêu có tán, cũng như nước thủy triều có lên thì có xuống, chỉ có lòng trung trinh tiết liệt , ý chí kiên cường thiết thạch như nàng Mạnh Khương Nữ là còn trường tồn mãi mãi với thời gian mà thôi !
Mặc dù được nhà văn Quách Mạt Nhược khen là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联": Câu đối gồm có 20 từ, nhưng chỉ có 8 mặt chữ, nên đã làm khó người xem không ít ! Tác giả ẩn danh nào đó đã "lười biếng" tìm từ nên chỉ sử dụng có 8 mặt chữ mà thôi. Sau đây là đôi câu đối 14 từ : Mỗi câu 7 từ, nhưng chỉ có 4 mặt chữ, lại "càng lười biếng và cầu kỳ hơn" với "Vế Sau lặp lại y chang Vế Trước" của Từ Văn Trường.
TỪ VĂN TRƯỜNG 徐文長 ( 1521-1593 ) tên là VỊ 渭, tự là Văn Trường 文長, hiệu là Thanh Đằng 青藤, sanh năm Chánh Đức thứ 16 đời nhà Minh. Người đất Sơn Âm (Huyện Thiệu Hưng ngày nay), lớn lên trong một gia đình quí tộc đang hồi xuống dốc. Sáu tuổi đã đi học, nổi tiếng là THẦN ĐỒNG, 20 tuổi đậu Tú Tài, là một nhà văn, nhà thơ, nhà thư pháp và là một họa sư nổi tiếng ở cuối đời Minh đầu đời Thanh.
Ông là người phóng khoáng, không chịu gò bó vào khuôn phép, nên thi hoài 8 khoa mà vẫn không đậu Cử Nhân giống như Trần Tế Xương của ta :"Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui!" vậy. Tài hoa thì có thừa, nên hay dùng văn thơ châm biếm người đời, bởn cợt kẻ quyền thế, rất được giới bình dân hâm mộ giống như là Trạng QUỲNH của ta vậy !
Từ Văn Trường văn hay chữ tốt nổi tiếng trong vùng, nên một hôm, có người đến nhờ ông viết dùm bảng hiệu "Tỉm Xấm" bán đồ ăn điểm tâm. Ba chữ "ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店" vừa treo lên thì người ra vào ăn điểm tâm nườm nượp suốt cả tháng trời, ông chủ tiệm cười híp cả mắt, mặc sức hốt bạc... Nhưng có một điều hết sức ngạc nhiên là thực khách nào ăn xong khi đến tính tiền đều nói với chủ tiệm là :" Ông ơi, 3 chữ ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店 của ông, chữ TÂM sao viết thiếu mất một chấm ở giữa ?!". Như ta đã biết, hình dạng chữ TÂM được Cụ NGUYỄN DU diễn tả lúc Thúy Kiều nhớ Thúc Kỳ Tâm (Thúc Sinh) là :
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành TRĂNG KHUYẾT BA SAO giữa trời.

Chữ 心 có hình dạng như Nửa Vành Trăng Khuyết và 3 vì sao, 2 cái 2 bên, 1 cái ở giữa, nhè Từ Văn Trường không có chấm cái chấm ở giữa. Ông chủ tiệm là dân thị tứ đâu có biết gì là chữ nghĩa, nghe mọi người đều nói vậy nên tìm Từ Văn Trường để nhờ anh ta chấm thêm cho một chấm. Nhưng sau khi chấm xong chấm đó, thì suốt cả tháng trời buôn bán ế ẩm. Ông chủ quán lại gặp Từ Văn Trường than thở rằng, từ khi chấm cái chấm đó xong thì buôn bán không còn như trước nữa. Từ Văn Trường cười bảo ông ta rằng : "Chữ TÂM là cái lòng, cái bụng, bụng có trống thì người ta mới ghé lại mà ĐIỂM Tâm, nay đã chấm thêm một chấm là bụng đã no rồi, không cần phải ĐIỂM TÂM nữa, ế là phải !". Ông chủ mới té ngữa ra, bây giờ muốn xóa chấm đó đi thì đã không còn được nữa rồi !
Sự thật thì Từ Văn Trường chỉ lợi dụng cái tâm lý hiếu kỳ và hiếu sự của quần chúng để "câu khách" cho tiệm. Ai trông thấy chữ Tâm thiếu mất một chấm đều "ngứa ngáy" muốn nói cho chủ quán biết, sẵn đã vào tiệm nên ăn điểm tâm luôn mà thôi !
Tương truyền, một hôm có một công tử con nhà giàu trong huyện Thiệu Hưng đến tìm gặp ông để bái sư học đạo. Ông thấy chàng qúi tử nầy đã ngoại tam tuần lại mày râu nhẵn nhụi, ăn mặc bảnh bao, trông giống một kẻ ăn chơi hơn là một người cầu học, bèn viết cho anh ta đôi liễn như thế nầy :
好 讀 書, 不 好 讀 書;
好 讀 書, 不 好 讀 書。

Tất cả mặt chữ anh ta đều biết đọc, nhưng không hiểu được nghĩa lý gì cả; Vả lại 2 vế lại toàn là những chữ giống nhau như đúc, là nghĩa làm sao ?! Thì ra đây cũng là cách chơi chữ của Từ Văn Trường theo kiểu GIẢ TÁ 假借 mà thôi. Này nhé...
- Chữ 好 khi đọc là HẢO thì có nghĩa là TỐT, NGON, ĐẸP, KHỎE, ĐÚNG LÚC... Như : Hảo Nhân là Người Tốt, Hảo Thực là Ăn Ngon, Hảo Cảnh là Cảnh Đẹp...
- Chữ 好 khi đọc là HÁO hay HIẾU thì có nghĩa là HAM, THAM, THÍCH, NHIỀU... như : Hiếu Học là Ham Học, Háo Ăn là Tham ăn, Hiếu Chiến là Thích đánh nhau, Hiếu Sự là Nhiều chuyện...
- Còn 讀 書 ĐỘC THƯ : là Đọc sách. Ngày xưa Đọc Sách tức là Học Hành đó. Nên ĐỘC THƯ theo "Tập Quán ngôn Ngữ" có nghĩa là HỌC, là ĐI HỌC, là HỌC HÀNH, HỌC TẬP.
Nên Câu đối trên được đọc như sau đây :
好讀書,不好讀書; HẢO độc thư, bất HÁO(Hiếu) độc thư;
好讀書,不好讀書。 HÁO(Hiếu) độc thư, bất HẢO độc thư !
Có nghĩa :
* HẢO ĐỘC THƯ 好讀書 có nghĩa "Học tập tốt", mà cũng có nghĩa "Có điều kiện hay hoàn cảnh tốt" để Học hành.
* HÁO ĐỘC THƯ 好讀書 là "Thích học tập", là "Muốn học hành cho đàng hoàng, cho tốt".
* BẤT HÁO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không thích học tập", là "Không chịu học tập cho đàng hoàng nghiêm chỉnh".
* BẤT HẢO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không học tập tốt", mà cũng có nghĩa là "Không còn hoàn cảnh hay điều kiện để học tập cho tốt nữa". Nên...
Câu đối trên có nghĩa :
- Lúc cần Học Tập tốt thì Không Thích học tập cho đàng hoàng; còn...
- Lúc Thích học tập, thì không còn hoàn cảnh Tốt để học tập nữa !
Và không chỉ viết cho chàng thanh niên công tử ăn chơi ở huyện Thiệu Hưng, câu đối nầy còn được Từ Văn Trường dùng để răn đe và khuyên dạy con cháu trong nhà nữa : "Lúc còn nhỏ, còn trẻ, có điều kiện học tập tốt thì không chiụ học cho đàng hoàng; Đến khi lớn, khi già muốn học tập lại thì đã không còn điều kiện và thời gian để học tập nữa" rồi !.
Câu đối 14 từ mà chỉ có 4 mặt chữ (BẤT 不, HẢO 好, ĐỘC 讀, THƯ 書) đã là câu đối "lười biếng dùng chữ" lắm rồi; Nhưng sau đây còn có câu đối "Siêu lười biếng" vì cũng có 14 đơn vị từ nhưng lại chỉ có MỘT (1) mặt CHỮ duy nhất mà thôi.
Truyện kể...
Một hôm đang dạo phố, khi đi ngang qua khu chợ bán rau cải thì ông chủ sạp giá mời Từ Văn Trường dừng chân uống một ly trà nóng buổi sáng, rồi khẩn khoản xin Từ Văn Trường viết cho đôi câu đối để treo lên hai bên sạp cho đẹp vừa để câu khách đến mua. Thấy ông chủ sạp nhiệt tình và có thành ý, nhìn quanh các mặt hàng bày bán thì thấy nào là Giá đậu xanh, Giá đậu nành, Giá đậu phọng và các loại cải... nên Từ Văn Trường chợt lóe lên một ý dí dỏm độc đáo, rồi đặt bút viết luôn cho ông chủ sạp 14 chữ sau đây :
長 長 長 長 長 長 長,
長 長 長 長 長 長 長。

Ông chủ sạp và mọi người chung quanh đều rất ngạc nhiên cùng Ồ lên một tiếng lớn, vì không ai biết phải đọc như thế nào và ý nghĩa của Nó ra làm sao. Từ Văn Trường mới mĩm cười đắc ý giải thích :
Chữ 長 nếu đọc là TRƯỜNG thì có nghĩa là DÀI, mọc dài,còn nếu đọc là...
長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thì có nghĩa là LỚN, mọc lớn lên, cao lên... Nên...
Câu đối trên được đọc như sau :
長長,長長,長長長; Trường trưởng, trường trưởng, trường trường trưởng;
長長,長長,長長長。 Trưởng trường, trưởng trường, trưởng trưởng trường !
Có nghĩa :
Dài lớn, dài lớn, dài dài lớn;
Lớn dài, lớn dài, lớn lớn dài !
Trồng cải và ủ (gói) giá, bà con mong được gì nào ?! Mau dài mau lớn, mau lớn mau dài... để trông vừa tốt, vừa ngon, vừa bắt mắt và vừa... bán đắt hàng. Mọi người cùng cười xòa vỗ tay tán thưởng cho câu đối vừa giản dị, dí dỏm, lại vừa có ý nghĩa thực tế và cũng vừa làm cho người đọc cảm thấy thích thú.
Trở lại với tên của Từ Văn Trường 徐文長 cũng vậy, người Quảng Đông thì đọc là Từ Văn TRƯỜNG, nhưng người Tiều Châu thì lại đọc thành Từ Văn TRƯỞNG, còn âm Quan Thoại của Từ Văn Trường thì đọc là Xú-Wén-Cháng 徐文長.
Một hôm gần Tết, Từ Văn Trường thả bộ ra chợ xem bà con nhóm chợ Tết, gặp một Thầy Đồ là một lão Tú Tài già đang bày hàng viết liễn (Câu đối). Tính rắn mắt nổi lên muốn ghẹo chơi cho vui , Từ Văn Trường đi xề tới cất tiếng hỏi :
- Thưa Thầy, Thầy viết liễn có nghĩa là Liễn gì Thầy cũng viết được hết phải không ?. Nghe hỏi lạ, ông đồ già nhướng mắt lên thấy Từ Văn Trường, biết là chàng trai nầy định phá mình đây, bèn trả lời rất tự tin :
- Dĩ nhiên, cậu muốn viết liễn gì ?
- Liễn dán chuồng heo ! Sau giây phút sựng lại vì ngạc nhiên, ông đồ bèn ra giá :
- Một lạng bạc ! Từ Văn Trường vui vẻ :
- Không thành vấn đề, nhưng liễn phải hay và có ý nghĩa mới được Thầy nhé !
Thường các Lão Tú Tài nầy người Việt ta quen gọi là "TÚ MỀN" rất giỏi chữ nghĩa và già giặn kinh nghiệm . Ông đồ bình tĩnh lặng lẽ đưa những nét bút thiệt đẹp như rồng bay phượng múa lên 2 tờ giấy hồng đơn đã rọc sẵn. Bây giờ tới phiên Từ Văn Trường ngạc nhiên, vì trên 2 tờ giấy hồng đơn mỗi bên 7 chữ, tổng cộng là 14 chữ TRƯỜNG 長 thật đẹp. Biết ông thầy đồ già muốn "chơi" mình, anh ta cũng rất bình tĩnh và lễ phép :
- Thưa thầy, nhờ thầy đọc và cắt nghĩa dùm ạ ! Ông thầy đồ dõng dạc cất giọng :
長 長, 長 長, 長 長 長;
長 長, 長 長, 長 長 長 !
- Trường trường, trưởng trưởng, trường trường trưởng.
Trưởng trưởng, trường trường, trưởng trưởng trường !
Nuôi heo, anh mong được gì nào ? Heo mau dài mau lớn phải không ? Thì đây đôi liễn nầy có nghĩa :

DÀI DÀI, LỚN LỚN, DÀI DÀI LỚN;
LỚN LỚN, DÀI DÀI, LỚN LỚN DÀI !
Chuyên chọc phá thiên hạ, lần nầy bị Tổ trác, liễn dán chuồng heo là câu đối 14 chữ đều là tên của mình cả, lại phải nhăn mặt móc hầu bao trả cho ông Thầy Đồ một lạng bạc, thế mới đau !
Cho hay, chuyện đời có lúc "Kiến ăn cá", nhưng cũng lắm khi kiến té xuống nước thì "Cá cũng ăn kiến" như thường !
Hẹn bài viết tới !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Giai Thoại Văn Chương Vui:
CHỮ ĐIỀN CỦA TRẠNG NGUYỄN HIỀN
Phiếm Luận Văn Chương :
ĐÓN MỪNG NẮNG HẠ
Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lưu lập lòe đơm bông.
(Truyện Kiều)
Đó là hai câu thơ tả cảnh mùa hè trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du. Rất đậm nét, rất đặc trưng cho mùa hè như những chuyển cảnh trong điện ảnh : Chim Đỗ Quyên kêu và hoa lựu đỏ rực như lửa thấp thoáng ở mé tường. Tiếng cuốc gọi hè lại làm cho ta nhớ đến hai câu thơ cuối trong bài "Cổ Loa Hữu Cảm 古螺有感" của Chu Mạnh Trinh là : Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu, Ðỗ quyên đề đoạn nguyệt âm âm 寂寞前朝宮外廟,杜鵑啼斷月陰陰 :
Triều xưa cung lạnh miếu sầu,
Tiếng quyên khắc khoải, trăng thâu mờ mờ.
Hoa Đỗ quyên, hoa Thạch lựu thì đỏ rực như nắng hạ, chỉ có hoa Dương liễu, hoa Hạnh là còn mang màu trắng xóa bay bay trong nắng chiều như bài từ của Thừa tướng Khấu Chuẩn 寇准 đời Tống mà nhà văn Kim Dung 金庸 đã cho chàng thư sinh Đoàn Dự đọc khi bị Cưu Ma Trí bắt đi đến xứ Giang Nam trong truyện "Thiên Long Bát Bộ" là :
波渺渺,柳依依; Ba miểu miểu, liễu y y:
孤村芳草遠, Cô thôn phương thảo viễn,
斜日杏花飛... Tà nhât hạnh hoa phi...
Có nghĩa :
Sóng lăn tăn, liễu thướt tha;
Xóm xa xanh cỏ biếc,
Nắng chiều bay hạnh hoa !...
Đầu tháng tư lại có những cơn mưa đầu mùa hạ, làm cho khí trời trong và thoáng hơn; Không có trăm hoa đua nở như mùa xuân, không còn có hoa dương liễu bay trong gió, chỉ có hoa qùy vẫn luôn hướng dương nở để đón ánh nắng mùa hè rực rỡ như trong bài thơ 《Khách Trung Sơ Hạ 客中初夏》(Đầu mùa hè nơi đất khách) của Tư Mã Quang 司馬光 đời Tống :
四月清和雨乍晴, Tứ nguyệt thanh hòa vũ sạ tình,
南山當户轉分明。 Nam sơn đương hộ chuyển phân minh.
更無柳絮因風起, Cánh vô liễu nhự nhân phong khởi,
惟有葵花向日傾。 Duy hữu qùy hoa hướng nhật khuynh !
Có nghĩa :
Đầu hạ tháng tư mưa chợt tạnh,
Núi Nam đối diện rõ như gương.
Đâu nào liễu trắng bay theo gió...
Chỉ thấy hoa qùy vẫn hướng dương !
Trên ao thì sen non và hoa ấu chen lẫn với rêu xanh, trên cành thì chim hoàng oanh như tranh nhau hót líu lo trên khóm hoa tường vi đầy gai góc. Suốt ngày suốt buổi không ai buồn nghe tiếng mưa rào rơi từng cơn, chỉ có đôi uyên ương là đang hí thủy như đang tắm gội giặt giũ cho bộ lông rực rỡ màu sắc đẹp đẻ của mình trong nắng hè. Hình ảnh của buổi đầu hè được thể hiện qua bài thơ " Tề An Quận Hậu Trì Tuyệt Cú 齊安郡后池絕句"(Tuyệt cú tả cảnh sau ao của quận Tề An) của nhà thơ Đỗ Mục 杜牧 đời Đường như sau :
菱透浮萍綠錦池, Lăng thấu phù bình lục cẩm trì,
夏鶯千囀弄蔷薇。 Hạ oanh thiên chuyển lộng tường vi.
盡日無人看微雨, Tận nhật vô nhân khán vi vũ,
鴛鴦相對浴紅衣。 Uyên ương tương đối dục hồng y !
Có nghĩa :
Ấu bèo tựa gấm phủ xanh ao,
Oanh hót tường vi tiếng xuyến xao.
Suốt buổi mưa rào không thiết ngắm,
Uyên ương rỉa cánh rộn trên ao.
Thường thì từ sáng sớm của mùa hè đã có những trận gió nam ấm áp rao rao thổi đến, làm cho những cánh lá sen non bắt đầu nở ra và hoa tường vi thì rả cánh rụng đầy; Các loại côn trùng sâu bọ màu xanh cũng học đòi theo giấc mộng của Trang Chu mà hóa thành những cánh bướm bay đầy khắp cả nam viên, như trong bài "Sơ Hạ Hí Đề 初夏戲題"(Đề vui trong buổi đầu hè) của Từ Di 徐夤 đời Đường :
長養薰風拂曉吹, Trường dưỡng huân phong phất hiểu xuy,
漸開荷芰落蔷薇。 Tiệm khai hà kị lạc tường vi.
青蟲也學莊周梦, Thanh trùng dã học Trang Chu mộng,
化作南園蛱蝶飛。 Hóa tác nam viên giáp điệp phi !
Có nghĩa :
Hè sớm thói thường dậy gió nam,
Ấu sen nhú nhụy tường vi tàn.
Sâu xanh cũng học đòi Trang Tử,
Hóa bướm bay đầy vườn phía nam !
Ngày hè say nắng, nằm chập chờn nhìn những cánh bướm bay bay mà ngỡ mình như là Trang Chu mơ hóa bướm... Trong khi trái mai đã trổ vàng, trái hạnh cũng đã xanh om, hoa lúa mạch đà trổ trắng ngoài đồng, còn hoa cải xanh vàng úa đã thưa thớt màu. Ngày hè dài dằng dặc, ngoài phên giậu thưa không một bóng người qua lại, chỉ thấy những con chuồn chuồn và những cánh bướm bay lượn khắp đó đây... Đó là cảnh Điền Viên Tạp Hứng 田園雜興 của Phạm Đại Thành 范成大, một thi nhân đời Tống :
梅子金黄杏子肥, Mai tử kim hoàng hạnh tử phì,
麥花雪白菜花稀。 Mạch hoa tuyết bạch thái hoa hi.
日長篱落無人過, Nhật trường li lạc vô nhân qúa,
惟有蜻蜓蛱蝶飛。 Duy hữu thanh đình giáp điệp phi !
Có nghĩa :
Mai trái trổ vàng hạnh trĩu cành,
Mạch hoa trắng xóa cải hoa xanh.
Ngày dài rào vắng không người đến,
Duy chỉ chuồn chuồn bướm lượn quanh !
Hình ảnh của con chuồn chuồn như không thể thiếu trong các khung cảnh của mùa hè : "Chuồn chuồn bay thấp thời mưa, Bay cao thời gió bay vừa thời râm !" Chuồn chuồn điểm thủy, ta gọi là chuồn chuồn đạp nước, bay chấp chới như đáp hờ trên mặt nước tạo nên những vòng tròn gợn sóng lăn tăn, đậu trên những hoa ấu, hoa sen và cả những lá sen mới vừa nhú lên trên mặt nước nữa. Những hoa sen còn hàm tiếu, những lá sen non cuốn tròn vừa từ mặt nước nhô lên những góc nhòn nhọn nho nhỏ thì đã thấy ngay có một chú chuồn chuồn con sớm đã đậu lên trên đó rồi. Thật nên thơ làm sao ấy ! Ta hãy đọc bài thơ "Tiểu Trì 小池" của Dương Vạn Lý 楊萬里 đời Tống sau đây sẽ rõ :
泉眼無聲惜細流, Tuyền thủy vô thanh tích tế lưu,
樹蔭照水爱晴柔。 Thọ âm chiếu thủy ái tình nhu.
小荷才露尖尖角, Tiểu hà tài lộ tiêm tiêm giác,
早有蜻蜓立上頭。 Tảo hữu thanh đình lập thượng đầu !
Có nghĩa :
Làn suối lặng im nước chảy dài.
Cây râm rủ bóng nắng vàng thay
Lá sen nhòn nhọn đưa lên nước,
Đã thấy chuồn chuồn đậu xuống ngay !
Trong cảnh mùa hè nóng nực oi bức nầy, hôm nào nhiệt độ của TP. Houston cũng lên gần 100 độ F. Cái nóng hừng hực và khô khan khiến cho người ta cảm thấy như là đang ở trong lò BBQ vậy... Xin được gởi một luồn gió mát mẻ đến với mọi người bằng "KHÚC HÁT HÁI SEN" sau đây...
採蓮曲 THÁI LIÊN KHÚC
荷葉羅裙一色裁, Hà diệp la quần nhất sắc tài,
芙蓉向臉兩邊開。 Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai.
亂入池中看不見, Loạn nhập trì trung khan bất kiến,
聞歌始覺有人來。 Văn ca thủy giác hữu nhân lai !
王昌齡 Vương Xương Linh.
* Chú Thích :
1. Hà Diệp 荷葉 : là Lá Sen. Sẵn xin nói luôn về các tên của bông Sen như sau :
- Hà Hoa 荷花 : là Bông Sen. Trong Bát Tiên có một cô Tiên rất đẹp, tay cầm một nhánh bông sen, chính là HÀ TIÊN CÔ 荷仙姑 đó !
- Liên Hoa 蓮花 : cũng là bông Sen, ta thường thấy 2 loại, hay được dùng đặt tên cho các nàng là Bạch Liên 白蓮 và Hồng Liên 紅蓮.
- Thủy Phù Dung 水芙蓉 : là Hoa Phù Dung ở dưới nước, cũng là tên riêng của Hoa Sen. Ta sẽ gặp lại từ này trong bài thơ trên.
2. La Quần 羅裙 : là Cái Quần Là. Một loại Lụa ngày xưa thường dùng để may quần cho các bà các cô.
3. Văn 聞 : Chữ nầy gồm có bộ Môn 門 bên ngoài và chữ Nhĩ 耳 bên trong, có nghĩa : Chỏ cái lổ tai ra ngoài cửa để... nghe ngóng. Nên Văn Ca 聞歌 : là Nghe có tiếng ca.
4. Thủy Giác 始覺 : là Mới có cảm giác. Có nghĩa : Mới biết rằng...
* Nghĩa Bài Thơ :
KHÚC HÁT HÁI SEN
Lá sen và quần lụa của nàng cũng cùng một màu xanh xanh, gương mặt đẹp đẻ của nàng giống như hoa Phù Dung dưới nước (hoa sen), hai bên đều cùng nở ra khoe sắc. và... cùng lẫn vào nhau ở trong ao, nên khi nghe thấy có tiếng ca... mới biết là có một nàng hái sen đang bơi đến...
* Diễn Nôm :
KHÚC HÁT HÁI SEN.
Lá sen quần lụa xếp hai hàng,
Mặt tựa phù dung mới điểm trang.
Lẫn khuất trong ao nào ai thấy,
Nghe ca mới biết có người sang !.
Lục bát :
Lá sen quần lụa một màu,
Phù dung mặt đẹp thua nào sen tươi.
Lẫn trong ao chẳng thấy người,
Nghe ca mới biết ai cười hái sen !
Đó là KHÚC HÁT HÁI SEN bình thường của các cô gái trong mùa mè nóng nực; Còn sau đây là KHÚC HÁT HÁI SEN của các cô gái vương công qúy tộc nhí nha nhí nhảnh giành nhau khi chèo chống thuyền hái sen...
採蓮曲(其二) THÁI LIÊN KHÚC (Kỳ Nhị)
吳姬越豔楚王妃, Ngô cơ Việt diễm Sở vương phi,
爭弄蓮舟水濕衣。 Tranh lộng liên chu thủy thấp y.
來時浦口花迎入, Lai thời phố khẩu hoa nghinh nhập,
采罷江頭月送歸。 Thái bãi giang đầu nguyệt tống quy.
王昌齡 Vương Xương Linh.
* Chú Thích :
1. Ngô Cơ, Việt Diễm, Sở Vương Phi 吳姬越豔楚王妃 : là ba người đẹp của ba nước thuộc miền Giang Nam nhiều sông ngòi kinh rạch, và dĩ nhiên có... nhiều ao sen, và những người đẹp nầy lại rất thích hái sen vào mùa hè nóng bức ! Xin được cung cấp thêm một tên nữa của Hoa Sen là : Phù Cừ Vương Phi 芙蕖王妃.
2. Liên Chu 蓮舟(Châu) : là Thuyền hái sen.
3. Phố khẩu 浦口 : là Bến nước, Bến sông, Nơi để xuống thuyền.
* Nghĩa Bài Thơ :
Ba người đẹp của đất Giang Nam tranh nhau đi hái sen, và tranh nhau bơi thuyền hái sen, làm nước bắn tung tóe ướt cả áo xiêm. Khi đến bờ sông thì hoa sen cười đón mời chào, và khi hái xong ra về thì lại có vầng trăng sáng đưa ra đến tận đầu sông.
* Diễn nôm :
KHÚC HÁT HÁI SEN
(Bài 2)
Gái Ngô, gái Việt , gái vương công,
Tranh chống thuyền sen ướt áo bông.
Khi đến cả đầm sen chào đón,
Lúc về trăng sáng tiễn đầu sông !
Lục bát :
Gái Ngô Việt với Vương công,
Tranh nhau ướt áo chèo không buông nào.
Đến thì hoa đón mời chào,
Hái xong trăng sáng ngàn sao đưa về !
Cũng là THÁI LIÊN KHÚC 採蓮曲, cũng là "KHÚC HÁT HÁI SEN", nhưng không phải của giới qúy tộc, mà là của một thôn nữ vừa đến tuổi cài trâm, được Thi Bá Bạch Cư Dị 白居易 diễn tả lại một cách rất thực tế sống động sau đây :
採蓮曲 THÁI LIÊN KHÚC
菱葉縈波荷颭風, Lăng diệp oanh ba hà chiếm phong,
荷花深處小船通。 Hà hoa thâm xứ tiểu thuyền thông.
逢郎欲語低頭笑, Phùng lang dục ngữ đê đầu tiếu,
碧玉搔頭落水中。 Bích ngọc tao đầu lạc thủy trung.
白居易 Bạch Cư Dị
* CHÚ THÍCH :
- Lăng Diệp 菱葉 : là Lá Ấu, lá của Củ Ấu.
- Oanh 縈 (còn đọc là Quanh, Vinh): là Lòng vòng, lẩn quẩn.
- Chiếm 颭 : là chữ Hình Thanh, gồm có chữ Phong 風 là Gió chỉ ý, và chữ Chiêm 占 chỉ âm, nên CHIẾM có nghĩa là : Bị gió lay động.
- Tao Đầu 搔頭 : Búi tóc. Danh từ có nghĩa là Cây Trâm.
- Bích Ngọc 碧玉 : là Ngọc Bích. là Cẩm Thạch, nên Bích Ngọc Tao Đầu 碧玉搔頭 là Cây trâm bằng Ngọc Bích, bằng Cẩm Thạch. Người Hoa gọi là Ngọc Bích nghe rất qúy giá. Ta gọi là Cẩm Thạch nghe có vẻ bình dân hơn.
* NGHĨA BÀI THƠ :
KHÚC HÁT HÁI SEN.
Lá ấu phủ trên mặt nước làm gợn sóng lăn tăn và những lá sen lay động trước gió. Trong chỗ sâu thẳm của ao sen chiếc thuyền nhỏ cũng có thể qua lại được. Gặp chàng muốn nói nên cúi đầu cười e thẹn, làm cho cây trâm bằng ngọc bích rớt tỏm xuống ao sen !
* DIỄN NÔM :
THÁI LIÊN KHÚC
Sóng vờn lá ấu gió lay sen,
Trong đám hoa xa thuyền nhỏ len.
Muốn nói, gặp chàng cười cả thẹn,
Cúi đầu trâm ngọc rớt ao sen !
Lục bát :
Ấu gợn sóng, gió lay sen,
Hái hoa thơ thẩn xuồng len trong cùng.
Gặp chàng muốn nói thẹn thùng,
Cuối đầu trâm rớt xuống bùn trong ao !
Khéo ngớ ngẩn mà nên thơ và thi vị làm sao ấy ! Không biết "chàng" đây là người cùng xóm hay là người trong mộng của nàng, 4 chữ "Phùng lang dục ngữ 逢郎欲語 : Gặp chàng muốn nói" mới mơ hồ làm sao, vì "Nó" ở giữa hai đàng : "Chàng muốn nói hay là Gặp chàng Nàng muốn nói ?" để thẹn thùa đến nổi cúi đầu lơ đểnh... đánh rơi cành trâm ngọc xuống ao sen !
Qủa là một bức tranh tâm lý sống động thực tế của các cô gái mới đến tuổi cài trâm rung động bối rối trước mặt người mà mình hằng mơ ước.
Hẹn bài viết tiếp
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC