CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIỚI THIỆU SÁCH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIỚI THIỆU SÁCH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

HOÀNG XUÂN SƠN ''CŨNG CẦN CÓ NHAU'',NGUYỄN ĐÔNG NGẠC ''NHỮNG TRUYỆN NGẮN HAY NHẤT CỦA QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA '' - PHAN NI TẤN GIỚI THIỆU

 

May be an image of text that says 'HOANG XUAN SON CŨNG CẤN CÓ NHAU PHÒNG PHÔNGBÚT BOT 2'


HOÀNG XUÂN SƠN, CŨNG CẦN CÓ NHAU
Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, từ khi tôi quen biết gần 45 năm qua, đến nay tên tuổi anh vẫn sáng chói trên vòm trời thi ca Việt Nam. Khởi viết từ trong nước trước 1975, một người mang danh thi sĩ như Hoàng Xuân Sơn đã sống hết lòng với sự chân thành, mê đắm, dâng hiến trọn vẹn đời minh cho thi ca. Sau bốn thi tập Viễn Phố, Huế Buồn Chi và Lục Bát Hoàng Xuân Sơn, Thơ Quỳnh cũng như rất nhiều thơ phổ biến trên các tạp chí các diễn đàn internet, tôi nhận thấy thơ Hoàng Xuân Sơn là thơ của quê hương, đất nước, của tình yêu, thân phận và tình người. Chính vì thế mà người ta quen gọi Hoàng Xuân Sơn là nhà thơ, dù đứa con tinh thần thứ năm của anh đã xuất bản mang tên Cũng Cần Có Nhau bằng văn xuôi trong đó kèm theo những trang thơ mà anh gọi là “phóng bút”.
Ai cũng biết mỗi con người chúng ta đều chất chứa trong tâm khảm một nỗi niềm đặc biệt. Đó là tình bạn lúc nào ta cũng trân trọng và cần đến. Với Hoàng Xuân Sơn, tình bằng hữu không những được ghi nhận qua thơ văn, mà ngoài đời, dù ở hoàn cảnh nào, bằng hữu cũng chiếm cứ một phần quan trọng trong cuộc sống của anh. Nhìn lại một đời sinh hoạt văn học nghệ thuật của nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, người ta không thể phủ nhận sự thành tựu rực rỡ ở lãnh vực thi ca của anh.
Hoàng Xuân Sơn sinh năm 1942 tại Vỹ Dạ, Huế. Cựu học sinh trường Quốc Học Huế, Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Tốt nghiệp Cử Nhân Triết. Công chức ngành bưu điện. Khởi viết từ năm 1970 với các bút hiệu Sử Mặc, Hoàng Hà Tĩnh, Vô Định. Công tác nhiều tạp chí trong và ngoài nước. Định cư tại Montreal, Canada từ tháng 12 năm 1981 đến nay.
Tác phẩm đã xuất bản:
– Viễn Phố (thi tập) Việt Chiến 1989
– Huế Buồn Chi (thi tập) tác giả tự xuất bản 1993
– Lục Bát Hoàng Xuân Sơn (thi tập) Thư Ấn Quán 2004
- Thơ Quỳnh (thi tập) Văn Học Mới 2020
- Cũng Cần Có Nhau (phóng bút) Nhân Ảnh 2021.

May be an image of text that says 'NHỮNG TRUYÊN NGẮN HAY NHẤT CỦA QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA ៥ HAI MƯƠI NĂM VĂN HỌC MIỀN NAM 54-73'

NGUYỄN ĐÔNG NGẠC (1937-1996)
NHỮNG TRUYỆN NGẮN HAY NHẤT CỦA QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA
Nguyễn Đông Ngạc, tác giả tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta, đã lâu lắm, cũng trên bốn chục năm nay, tôi vẫn nhớ, tôi nhớ người bạn cũ Nguyễn Đông Ngạc, dù anh đã mất từ lâu.
Dựa theo chủ trương và tâm niệm của nhà văn Nguyễn Đông Ngạc với văn học Việt Nam trong tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta được xuất bản cuối giai đoạn chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc, thì lời mở đầu trong tuyển tập nói trên, anh viết như một lời tình tự:
“Đây là một trong những đóng góp một đời còn lại dành tặng quê hương trong cuộc chiến hơn một phần tư thế kỷ hầu như đã phá vỡ gần hết tất cả gia tài nổi chìm của chúng ta. Sự đóng góp vào cái gia sản tinh thần bất diệt của tổ tiên của những người làm việc trong lặng lẽ giữa tiếng ồn ào của đạn bom này, đã nói lên hùng hồn ý nghĩa của tranh đấu cho Tự Do và những giá trị Nhân Bản. Những người của phần đất bên này giòng Bến Hải".
Nhưng đó là Nguyễn Đông Ngạc của nửa thế kỷ đã trôi qua ở quê nhà; gần gũi hơn, thân thiết hơn nên dễ nhớ hơn, là những lần Nguyễn Đông Ngạc từ Montreal về Toronto thăm bạn bè lần nào anh cũng réo tôi đi nhậu. Từng là nhà mô phạm nhưng tánh tình anh rất cởi mở, hào phóng với bạn hữu, nói cười văng mạng, nhậu cũng ra trò.
Tôi nhớ nhất là khoảng cuối năm 1995, Nguyễn Đông Ngạc lại về Toronto chơi, không quên gọi phone rủ tôi đi nhậu, đáng tiếc tôi bận việc gì đó không tới được hẹn anh lần khác. Nhưng chính Nguyễn Đông Ngạc và cả tôi đều không ngờ đó là lần cuối cùng anh rủ tôi đi nhậu. Ngày 18 tháng 2, 1996, vài giờ trước giao thừa Bính Tý, Nguyễn Đông Ngạc bị đứt mạch máu não qua đời lúc 9 giờ sáng ngày 21 tháng 02 năm 1996 tại bẹnh viện Jan Talon, Montreal, Canada.
Nguyễn Đông Ngạc sinh ngày 10 tháng 9, 1937 tại làng Thường Lệ tỉnh Phú Yên. Quê tổ ở làng Đông Ngạc tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội) nên trong khai sanh anh được vinh hạnh mang tên làng tổ. Theo gia đình vào Sài Gòn năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An, Quốc Gia Hành Chánh và Đại Học Sư Phạm. Ra trường lần lượt dạy Việt văn ở các trường trung học Trịnh Hoài Đức, Cộng Đồng Quận 6, Mạc Đĩnh Chi và Trưng Vương.
Có thơ và truyện đăng trên Thái Độ, Văn Học, Quần Chúng, Đất Nước, Hành Trình, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Tìm Hiểu. Chủ trương nhà xuất bản Sóng chuyên in sách dịch từ các tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn ngoại quốc. Cuối cùng là tác phẩm đồ sộ của Nguyễn Đông Ngạc là tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta, phát hành năm 1974. Biến cố tháng 4/1975 đẩy Nguyễn Đông Ngạc ra ngoài nước.
Tác phẩm đã xuất bản:
Hết Rồi Mùa Thu Hà Nội (thơ, nxb Hoa Nắng, 1971). Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta (tuyển tập truyện ngắn, nxb Sóng, 1974).



PHAN NI TẤN

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2024

THƠ VIẾT TRÊN NƯỚC MỸ - TẬP THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 


GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN AN BÌNH

THƠ VIẾT TRÊN NƯỚC MỸ

ĐÂY LÀ TÁC PHẨM THƠ THỨ 20 TRONG TỦ SÁCH “TÌNH THƠ” CỦA

NGUYỄN AN BÌNH, SÁCH DÀY 124 TRANG DO NHÀ XUẤT BẢN HỘI

NHÀ VĂN CẤP PHÉP, GIÁ 100.000 đồng MIỄN SHIP. CÁC BẠN YÊU THƠ

CÓ THỂ LIÊN HỆ VỚI TÁC GIẢ QUA MESSENGER TRÊN FACEBOOK

HAY EMAIL luongmanh2106@gmail.com .

RẤT MONG ĐƯỢC SỰ ĐỒNG CẢM VÀ ỦNG HỘ CỦA CÁC BẠN YÊU THƠ







Thứ Ba, 25 tháng 6, 2024

ĐOM ĐÓM QUÊ NHÀ - TẬP TẢN VĂN CỦA NGUYỄN AN BÌNH

 


GIỚI THIỆU TẬP TẢN VĂN MỚI CỦA NGUYỄN AN BÌNH
 ĐOM ĐÓM QUÊ NHÀ

  TẬP TẢN VĂN “ĐOM ĐÓM QUÊ NHÀ”  CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN AN BÌNH GỒM 28 BÀI TẢN VĂN, DÀY 208 TRANG. ĐÂY LÀ TÁC PHẨM THỨ 19 TRONG TỦ SÁCH TÌNH THƠ CỦA TÁC GIẢ, ĐƯỢC CẤP PHÉP BỞI NXB HỘI NHÀ VĂN, PHÁT HÀNH CUỐI THÁNG 06 NĂM 2024. GIÁ 120.000 ĐỒNG, LIÊN HỆ VỚI TÁC GIẢ, MIỄN SHIP. MONG THÂN HỮU TÌM ĐỌC VÀ ỦNG HỘ.








Thứ Bảy, 27 tháng 1, 2024

ĐỌC ''ĂN MÀ KHÔNG CHƠI'' CỦA ĐỖ DUY NGỌC - SONG THAO

 

               Ảnh tác giả Song Thao



ĐỌC “ĂN MÀ KHÔNG CHƠI” CỦA ĐỖ DUY NGỌC


Nhà văn Đỗ Duy Ngọc ra đời tại Quảng Bình, di cư năm 1954, học hành tại Đà Nẵng, trưởng thành tại Sài Gòn. Tôi ra đời tại Hà Nội, di cư năm 1954, sống tại Sài Gòn. Chúng tôi có những điểm chung trừ sanh quán. Vậy mà sao ông lại có những hồi ức về ăn uống thời trẻ giống tôi. Chẳng hạn như ông tàu bán đậu phụng rang húng lìu. “Đó là một ông người Hoa khoảng năm sáu chục tuổi, người hom hem, mặc bộ đồ “xá xẩu” đen, có khi màu xám cũ kỹ. Áo có hai vạt như như áo cánh, tay lửng, nút áo bằng vải, cài ở giữa, ông mặc cái “quần tiều” dài quá đầu gối một chút, ống rộng. Ông đội cái nón rộng vành đan bằng tre, đỉnh nón nhọn, nhìn như các hiệp khách giang hồ trong phim kiếm hiệp Hồng Kông. Ông mang trước ngực một thùng thiếc vuông, có lẽ là thùng bánh biscuit Lu, một loại bánh tây nổi tiếng thời ấy. Trong thùng đựng đậu phụng rang. Khi có khách ông lấy ra một gói giấy cuốn nhọn đầu bé tí, bỏ vào khoảng hai chục hạt đậu rang. Ít thế nên lúc nào ăn cũng còn thèm…Đậu rang của ông thơm húng líu, mùi từa tựa như ngũ vị hương… Đậu phụng rang húng lìu của ông này ngon lắm, thơm, bùi,béo giòn ăn mãi không ngán. Nó có một mùi thơm rất đặc biệt. Nó cũng là món ăn vặt của tuổi thơ tui”. Nếu ông Đỗ Duy Ngọc rộng lượng mang ông già tầu này từ Đà Nẵng ra Hà Nội, đặt vào tháp Hòa Phong bên hồ Hoàn Kiếm Hà Nội thì đúng là ông tầu bán phát xa húng lìu thời thơ ấu của tôi. Trên đường tới trường Dũng Lạc, hầu như ngày nào tôi cũng phải ghé tới tháp Hòa Phong nộp tiền cho ông già có bộ răng lúc nào cũng nhe ra như cười. Sao cái bốc tay của ông đểu tới như vậy. Thọc sâu vào hộp lạc rang một cách mạnh bạo nhưng móc ra chỉ chục hột cho vào cái tổ sâu kèn bằng giấy.
Những ngày Hà Nội đó, chuyện ăn uống của chúng tôi quanh bờ hồ hay trước cửa trường Dũng Lạc ngày đó vẫn bám lấy ký ức của tôi. Món bánh mì của mấy đứa trẻ ôm bao bố chứa những chiếc bánh mì nho nhỏ bán dạo quanh hồ, phía trước cửa báo Cải Tạo, ngon hết biết. Chú nhỏ rọc bánh theo chiều dọc, nhét vào miếng ba-tê mỏng dính, rắc muối tiêu, vậy là xong. Chỉ có vậy sao ngon ơi là ngon. Bánh mì giò chả của anh chàng Lý bán trước cửa trường còn ngon ác ôn hơn. Nhưng dễ chi gặm được ổ bánh mì của chàng Lý được chúng tôi gọi thân mật là Lý Toét dù mắt anh không toét! Phải chi ra số tiền gấp bội bánh mì bờ hồ. Ông Đỗ Duy Ngọc cũng nhắc tới “thần tượng” của chúng tôi ngày đó. Nhưng ông chỉ biết ông Lý Toét khi ông đã di cư vào Sài Gòn, trở thành cụ Lý Toét. Từ Hà Nội vào Sài Gòn, bánh mì Lý Toét vẫn là bánh mì Hà Nội. “Bánh mì cụ Lý ngon mà giá bình dân. Chả đủ loại: chả lụa, chả chiên, giò thủ, chả mỡ. Chả nóng hổi, phảng phất mùi hương của thì là. Chả của cụ Lý không cắt lát như những xe bánh mì khác mà cụ cắt từng miếng lớn, lộn xộn để lung tung trên mẹt lót lá chuối xanh rờn. Từ lúc dừng xe dựa vào hàng rào, cụ cắt không ngơi tay, khách hỏi chuyện, cụ lại nhón miếng chả đưa khách ăn chơi. Xé ổ bánh mì, hồi trước bánh mì nướng củi, vỏ bánh vàng, ruột bánh trắng phau chứ không như bánh mì bây giờ, cụ nhét đại mấy miếng chả vào, bốc một nắm hành tây, rắc chút muối tiêu, xì dầu hay nước mắm theo yêu cầu của khách, thế là xong một ổ bánh, không ba-tê, chẳng dưa chua, hành ngò chi cả. Khách chen nhau, lần lượt. Cầm ổ bánh mì nóng, chả tràn trề, cắn một miếng, ngon nhức xương”.
Di cư vào Sài Gòn năm 16 tuổi, thế hệ của tôi dễ hòa nhập vào Sài Gòn. Nếu tuổi thơ của tôi là Hà Nội thì tuổi thanh niên là Sài Gòn. Cả hai nơi đều là những tháng ngày hạnh phúc mà chuyện ăn uống góp một phần lớn vào hạnh phúc đó. Cụ Lý Toét là cái gạch nối giữa hai thành phố, nhưng phá lấu, nước mía thì đặc sệt Sài Gòn. Hơn hai chục năm sống ở Sài Gòn, đi học rồi đi làm, cu ky một mình rồi bồ bịch, thú “ăn mà không chơi” vẫn dính lấy những người Hà Nội chuyển sang Sài Gòn thời đó. Ông Đỗ Duy Ngọc “ăn mà không chơi”. Chữ “chơi” của ông được giải thích như sau: “Đặt tên sách “Ăn Mà Không Chơi” vì tôi chỉ rành ăn mà không biết gì các món chơi bời của Sài Gòn”.
Khi mới tới nhà ông Luân Hoán nhận cuốn sách, đọc cái tựa, tôi lại nghĩ khác. Người ta thường nói “ăn chơi ngon hơn ăn thiệt” để diễn tả cái “chơi” ăn đứt cái “thiệt”. Những ngày những năm Sài Gòn, ăn chơi không thể nào bỏ qua món phá lấu, bò khô, nước mía tại góc đường Lê Lợi – Pasteur. Thỉnh thoảng, nhớ Sài Gòn, tôi vẫn vào YouTube coi các clip quay cảnh phố phường Sài Gòn. Khi ống kính quay tới cái ngã tư “ăn chơi” này, tôi không thể nén tiếng thở dài. Tòa nhà có hai chữ “Viễn Đông” nghễu nghện nay đã không còn dấu vết. Đó là thiên đàng ăn chơi, hiểu theo nghĩa ăn chơi ăn thiệt, của chúng tôi ngày đó. Chúng tôi đây nhất định không thể thiếu ông sành ăn Đỗ Duy Ngọc.
Tôi phải thú nhận chết mê chết mệt với món bò khô, còn gọi là gỏi khô bò. Từ những ngày Dũng Lạc. Hồi đó ít có ngày tôi không mải mê với tiếng kéo lách cách rao hàng của ông bán bò khô trước cửa trường. Chỉ là những lát đu đủ, chút rau thơm, khô bò, thêm xì dầu, giấm, tỏi, ít tương ớt mà sao ngon lạ ngon lùng. Nhìn hai tay ông điệu nghệ hai chai, một trắng chứa giấm tỏi, một nâu sậm xì dầu, rắc đều xuống đĩa gỏi, đã thấy ngon. Cái ngon đó tôi bắt gặp lại tại Sài Gòn. Ông Đỗ Duy Ngọc cũng rứa. Cho tới nay tôi đã từng nếm thử gỏi khô bò tại nhiều tiệm ở Montreal này mà chưa bắt được cái vị của bò khô Pasteur. Ông Đỗ nhem thèm: “Chủ chiếc xe bò khô là một ông Bắc kỳ tuổi trung niên, chuyên mặc bộ đồ đen, đôi khi hiếm hoi cũng mặc chiếc áo nâu. Chiếc xe đẩy của ông chứa trọn bộ đồ nghề. Ở giữa là những chiếc đĩa nhôm, một bên đựng bò khô, bên kia chứa đu đủ bào. Phần còn lại để mấy chai nước tương, ớt, giấm. Khô bò của ông ngon vô phương. Vừa bùi lại vừa giòn, ngòn ngọt, cay cay. Miếng bò khô thơm phức, dày, hơi đen cháy cạnh chứ không đỏ như khô bò của người Hoa. Khô của ông được chế biến từ lá lách bò, thịt ở má bò vì má bò có gân nên vừa mềm vừa dai, nhai sướng miệng lắm. Hồi đó xe gỏi của ông nổi tiếng Sài Gòn không chỉ khô bò ngon đặc biệt mà nước chan giấm ớt, nước tương cũng ngon hết biết. Ăn một đĩa chưa đã thèm, ăn thêm đĩa nữa lại muốn ăn thêm. Miệng đã thấy cay, má đã hơi bừng bừng, mồ hôi rịn trên mắt, đã gì đâu”.
Xe nước mía Viễn Đông kế bên là thứ nước làm dịu đi cái cay cay xoắn xuýt miệng lưỡi. Ly nước mía vừa ép ra, tươi mát, ngọt thanh, bọt trắng bám quanh thành ly, uống tới đâu ruột gan nở ra tới đó.
Linh hồn của khu ăn chơi này là những mẹt phá lấu. “Trên khay để đầy phá lấu nhiều màu, toàn những màu sẫm là lòng heo, dồi trường, tim, lưỡi, lá sách, bao tử, gan, ruột non, phèo, phổi. Nói chung là toàn bộ đồ lòng của con heo lại thêm lòng gà đầy đủ gan, tim, ruột lòng thòng xoắn xoắn. Miếng phá lấu được cắt nhỏ lủm một miếng chưa đầy miệng, cắm một cây tăm. Trên khay còn có tương đen, tương đỏ. Khách lái xe xuôi đường Pasteur, thắng xe ghé lại, thích gì ăn nấy, cây tăm khi đã bỏ miếng phá lấu vào miệng thì chú Ba Tàu lại ghim một cây tăm khác vào cổ tay của ông, có sợi cao su buộc ngang. Khách ăn xong chú Ba căn cứ vào số tăm trên tay mà tính tiền. Miếng phá lấu ở đấy bây giờ nhớ lại thấy ngon lạ lùng. Miếng lá sách có gai như miếng khăn lông nhai sần sật, miếng ruột non, ruột già beo béo, miếng gan bùi bùi, miếng lưỡi, miếng phèo hơi dai càng nhai càng ngọt mùi… Gần nửa thế kỷ rồi, nhắc lại món phá lấu ở địa chỉ ấy bỗng dưng trên đầu lưỡi phảng phất cái mùi ngũ vị hương, cái mùi húng lìu, nước tương hòa lẫn vị béo, dai, bùi của phá lấu năm xưa. Nhắc để gậm nhấm kỷ niệm của một thời chở cô bạn gái ghé vào đây, hoặc đi với mấy thằng bạn, chấm chấm, nhai nhai sao đời nghèo mà vui thế”. Bao nhiêu năm ở Sài Gòn là bấy nhiêu năm tôi la cà nơi chốn “thiên đàng” này. Từ những ngày học sinh dắt chiếc xe đạp, tới những ngày trưởng thành đi làm, lên đời xe máy rồi xe vespa. Từ những lao xao bạn bè tới những hân hoan người tình, những ngày tháng chẳng bao giờ quên được.
Ông Đỗ Duy Ngọc chơi ác. Vết nhớ chưa liền da đã bị ông vực dậy làm thêm phần ray rứt. Thành phố đó đã chở chuyên những tháng ngày ngọt lịm của thế hệ tôi, thư sinh rồi râu tóc vào đời. Trách ông nhưng cũng ơn ông đã cho tôi một lần sống lại quá khứ ngọt ngào của lớp tuổi đẹp nhất trong đời.
Trong 350 trang sách gồm 85 bài viết, tác giả đã bàn tới nhiều món ăn chơi cũng như ăn thiệt. Thiệt là một tay hảo ăn. Tôi vốn khoái nước mắm và các thứ mắm, từ mắm tôm mắm tép tới mắm ruốc mắm rươi nên không thể không đu đưa về những bài ông viết về nước mắm và mắm. Có tới bốn bài lận. Nước mắm là thứ được chế biến từ cá và muối. Đó là thứ nước mắm truyền thống. Ngày nay người ta giết chết nước mắm khi thứ nước mắm bán trên thị trường phần lớn là nước mắm công nghiệp pha bằng hóa chất. Ông gọi đó là thứ nước mắm giả của những kẻ thiếu lương tâm. Tôi cũng đã nhiều lần viết về chuyện giả thật của nước mắm, điều mà ngay các bà nội trợ nhiều bà vẫn không phân biệt được. Ông Đỗ coi bộ phẫn nộ hơn tôi. “Trước 1975, ở miền Nam, luật pháp khá rõ ràng, kỷ cương còn được tôn trọng. kẻ phạm pháp sẽ bị trừng trị đích đáng, do đó việc làm giả nước mắm khó hoạt động và không phổ biến. Giờ đây, chính những kẻ cầm cân nảy mực, thi hành luật pháp lại tiếp tay mở đường cho nước mắm giả với cái tên mỹ miều là “nước mắm công nghiệp” và họ tìm mọi cách để những thứ giả này xuất hiện trên bàn ăn của những gia đình người Việt. Loại này không thể gọi là nước mắm bởi nó không làm ra từ cá và muối mà từ những hương liệu và hóa chất. Gọi tên cho đúng thì đó là “nước chấm công nghiệp”. Một chai gọi là nước mắm đó cõng trên nó 17 lọai hóa chất, thế thì sao gọi là nước mắm được”.
Tôi mê phở, chuyện thường. Dân Hà Nội mà không mê phở mới là chuyện đáng nói. Nhưng dân Quảng Bình, sống tại Đà Nẵng và Sài Gòn như ông Đỗ Duy Ngọc mê phở như mê người tình mới là chuyện lạ. Ông viết về Phở Hoàng, Phở Minh, Phở “Cậu Hai Sài Gòn”, Phở Kỳ Đồng, Phở Lý Quốc Sư, Phở gà Hà Nội, Phở Cao Thắng nhưng tâm ông dành trọn cho Phở Dậu. Chà! Phở Dậu! Tôi với ông ý hợp tâm đầu dữ.
Nhà văn Đỗ Duy Ngọc đã trên năm chục năm liên tục say đắm phở Dậu, trừ ít năm qua Pháp. Tôi cũng là fan cứng chỉ ít lâu sau khi phở Dậu ra lò vào năm 1958 cho tới khi tôi đi Canada vào năm 1985. Bà Dậu là người tiên phong mở quán nhưng sau đó nhường tiệm lại cho bà Uy. Tiệm ngày đó xộc xệch, bàn ghế vá ráp, không tên tuổi chi. Gọi phở Dậu là thực khách truyền miệng nhau thôi. Còn tiệm không bảng hiệu chi cả. Gọi là tiệm cũng là khiên cưỡng. Nó như một quán nhỏ thân tình, thực khách hầu như đều biết nhau. Bà Uy thì biết từng sở thích của khách. Ông Đỗ nhớ lại: “Hồi đó chỉ là một quán phở nhỏ lợp tôn, trên có chừa một khoảng trống lớn, nắng dọi vào làm thành một vệt ánh sáng mà mấy cha nhiếp ảnh rất mê. Luồng sáng dọi xuống trên người hai bà cụ với làn khói xanh từ bếp củi bay lên rất là nhiếp ảnh. Người bán là hai bà cụ già, nên tôi gọi là phở bà cụ. Ngày trước dân văn nghệ thường ăn sáng tại đây. Tui thường gặp họa sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn”.
Phở Dậu ngày cũ là phở nhà, nơi ai cũng biết nhau. Sau 1975, muốn biết tin tức bạn bè, ai dzọt được, ai đi tù chưa về, ai vượt biên bị tóm, cứ tới phở Dậu khắc biết. Trong một bài viết về phở Dậu, tôi đã ghi: “Sau 1975, phở Dậu là ngã ba hẹn hò của giới ăn phở Dậu trước đó, khi thành phố chưa đổi tên. Ngày đó, bạn bè chúng tôi tan tác sau cơn bão dữ, ai còn, ai đi thoát, ai chưa “cải tạo” về, cứ tới phở Dậu là biết hết. Gọi là “ngã ba hẹn hò” cho thêm phần tình cảm chứ thật ra chúng tôi chẳng ai hẹn ai. Cứ thuận chân tới. Tới sẽ gặp. Gặp rồi đấu láo chửi thề. Thường chúng tôi mắng mỏ nhau sao chậm lụt thế. Trông thấy cái mặt nào còn trình diện là thêm một ngao ngán. Chuyện đi đứng có lẽ là chuyện rổn rảng nhất. Tôi có giấy bảo lãnh đi Canada. Bà Uy mà ai cũng mặc nhiên tưởng bà tên Dậu, cũng cùng một trường hợp. Bà và tôi có thêm thân tình của người đồng hội đồng thuyền. Bà ôm riết tiệm chẳng có thời giờ. Tôi rảnh chân chạy chỗ này chỗ kia nên có một số tin tức. Mỗi lần tôi tới, bà ngước mắt hỏi. Chúng tôi lại to nhỏ. Có lần bà xếp tôi ngồi vào góc chiếc bàn trong bếp, bên cạnh những hành ngò, nằm bẹp giữa những thùng bánh phở, những chậu xương còn máu me đỏ lòm. Chẳng phải để bàn chuyện bí mật quốc gia chi mà chỉ vì tiệm hết chỗ”.
Viết tới đây tôi thấy mình vô duyên hết cỡ. Tôi đã lợi dụng cuốn “Ăn Mà Không Chơi” của nhà văn Đỗ Duy Ngọc để mang chuyện ăn uống của tôi hồi nhỏ ra chèn ép cuốn sách. Sách không chỉ bàn tới phát xa húng lìu, bánh mì Lý Toét, bò khô, phá lấu và nước mía Viễn Đông, nước mắm và mắm, hay phở Dậu. Trong 85 bài viết, tác giả đã dành nhiều trang cho các món khác. Món cá chuồn, các món xứ Quảng, bún suông, mì Cao Vân, món Huế, cháo huyết, cháo lòng, rươi, con bù tọt, xe mì, khoai lang khô ngào đường, bún cá ngừ, cá kình, cá đối cồi, cá ồ, cá hố kho dưa cải, cá he, hủ tiếu sa tế nai, lòng heo xào nghệ, bún bò Huế, canh mít non, bún ốc, hủ tiếu Thanh Xuân, bánh canh, chả cá, mắt cá ngừ đại dương hầm thuốc bắc, thịt vịt, món xà bần, bún vịt, canh cá giếc nấu rau răm, hột vịt lộn, cá chép cá trắm kho. Đủ thập bát ban đớp hít.
Nhà văn Đỗ Duy Ngọc hiện sống tại Sài Gòn, đánh bạn với hai ông Tiến Chỉnh và Đỗ Trung Quân. Ông Tiến Chỉnh trước đây là tay guitar bass trong ban nhạc trẻ nổi tiếng Spotlight hát hò cùng với các ông Đức Huy, Billy Shane. Sau chán cây đàn ông gia nhập không quân lái máy bay chiến đấu Skyraider bắn đì đoàng. Ông này cũng là đệ tử ruột của phở Dậu, luôn rủ tôi về tới Dậu ăn cho thỏa chí tang bồng. Ông Đỗ Trung Quân, chắc cũng có máu Bắc kỳ vì ông là dân Ngã Ba Ông Tạ, lại chống phở Dậu mà phò mì Quảng. Xin mách với ông là trong cuốn sách này ông Đỗ Duy Ngọc có tới hai bài viết về mì Quảng. Thấy chưa, ông Đỗ chơi với bạn rất chí tình, cỡ nào ông cũng chiều được!
Đọc xong cuốn “Ăn Mà Không Chơi” tôi khoái ông Đỗ Duy Ngọc hơn. Chúc ông răng cứng lưỡi mềm để tiếp tục nếm các món ngon vật lạ, độc giả của ông, trong đó có tôi, sẽ lại được ăn hàm thụ. Ăn giả mà ngon như ăn thiệt!


SONG THAO
01/2024

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2023

TẬP THƠ DẤU TRĂNG XƯA CỦA NGUYỄN AN BÌNH

 


TẬP THƠ DẤU TRĂNG XƯA CỦA NGUYỄN AN BÌNH

Nhà thơ Nguyễn An Bình vừa phát hành tập thơ DẤU TRĂNG XƯA vào cuối tháng 10 – 2023. Sách dày 130 trang do Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn cấp phép phát hành, giá 120.000 đống. Sách in từ nguồn hỗ trợ sáng tác văn học của Hội Nhà Văn Tp. Hồ Chí Minh năm 2023. Đây cũng là tác phẩm thứ 18 trong tủ sách TÌNH THƠ của nhà thơ Nguyễn An Bình. Các bạn có ủng hộ tác phẩm xin liên hệ qua mail tác giả: luongmanh2106@gmail.com .

Xin chân thành cám ơn các bạn.









Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2023

AMAI B'LAN, NƯỚC MẮT CỦA RỪNG- PHAN NI TẤN




 

               AMAI B'LAN, NƯỚC MẮT CỦA RỪNG


      Amai B’Lan là bút hiệu của một cô giáo từng dạy học thiện nguyện ở miền cao. Cô còn rất trẻ và dù chỉ dạy một quãng thời gian ngắn tại một buôn làng heo hút của miền Thượng du nhưng cũng đủ để cô thực hiện được ước mơ nhỏ bé của mình là viết ra tập bút ký mang một cái tên hết sức “miền Thượng”: Nước Mắt Của Rừng (*).

    Đọc Nước Mắt Của Rừng, người đọc dễ nhận thấy ngay Amai B’lan viết về cao nguyên với biết bao thiện chí chân thành như viết về cuộc đời mình: “Tôi mê cao nguyên không đơn thuần chỉ vì vẻ đẹp trinh khôi của nó, mà còn vì trong chuyến đi mạo hiểm đầu đời, tôi được những con người tốt bụng của cao nguyên đùm bọc khi sa cơ lỡ bước. Giờ đây, tôi muốn làm một cái gì đó cho vùng đất đáng yêu này.”

    Tuổi 18 là lứa tuổi đẹp như bông hoa vươn lên quãng trời xanh bát ngát mà cũng là một lứa tuổi đầy lý tưởng, tuổi của phiêu lưu mạo hiểm từ trong máu. Đoạn cô tả cảnh thân gái dặm trường, một mình đạp xe đi từ Di Linh lên tận Kontum ròng rã suốt một tháng trời với biết bao may rủi dọc đường mưa nắng, đói khát, mệt mỏi… đủ thấy cô có duyên có nợ từ kiếp nào với cao nguyên đến trời đất cũng phải kinh động.

    Với Amai B’Lan, cao nguyên nói chung hay Cheo Reo, Phú Bổn, Ayunpa, Krông Pa nói riêng là quê hương đất nước, là buôn làng, mà cũng là chỗ dựa tinh thần của cô. Chỉ cần một không gian nhỏ bé là vùng đất hẻo lánh của Ayunpa và một quãng thời gian ngắn ngủi thôi cũng đủ sinh ra Amai B’Lan, đủ để tạo nên số phận cô, duyên nợ cô, con người và cuộc đời cô. Chính cuộc sống nội tâm đã thúc đẩy cô hướng về phía núi, nên qua một hoạt động mục vụ của nhà thờ cô tìm thấy niềm vui trong công việc dạy học để giúp cho các em người Jrai học tốt hơn, dạy cho các em biết phân biệt tốt xấu để tránh bị người đời lừa đảo.

    Amai B’Lan đến với người Jrai hoàn toàn không mang theo hoài bão của con người thời đại, như cô nhỏ nhẹ phân trần “Không dám có ước muốn tìm hiểu một dân tộc thẳm sâu và lạ lùng trong quãng thời gian ngắn như thế”. Nhưng sâu trong một tâm hồn hiền hòa, chất phác như nương rẫy, Amai B’Lan đến với cao nguyên bằng tinh thần thiện chí, bằng hơi thở, bằng nhớ thương, bằng nỗi ám ảnh trước cảnh đời không như cô mơ ước, người đọc mới cảm nhận tự đáy lòng cô dâng lên những gợn sóng u hoài. Chúng ta hãy nghe Amai B’Lan diễn tả tâm trạng này: “Tôi đã tới nơi cần tới sau nhiều ngày mơ tưởng về thủ phủ của người Jrai, về vùng đất của Pơtao Apui, về những căn nhà sàn đêm đêm bập bùng ánh lửa kể akhan, về một dân tộc có đời sống tâm linh vô cùng sâu sắc, nhưng sao cảm giác trong tôi thật lạ, có gì đó như là tan vỡ.”

    Đọc Amai B’Lan, ta thường gặp những lời trần tình biểu hiện lòng biết ơn vô lượng những con người miền cao, cũng như cô bộc lô nhận thức một loại triết lý trăn trở, cảm thông về cuộc đời con người đã mất đất, mất cả chủ quyền. Chia sẽ nỗi trầm luân của người bản địa, Amai B’Lan thổ lộ: “Người Jrai đã từng là chủ vùng đất này (tên Gia Lai đọc từ chữ “Jrai” mà ra). Tổ tiên họ đã sống và đã chết ở đây. Họ có cách sống và văn hóa của riêng họ… Trên đầu họ là bầu trời tự do. Dưới chân họ là đất rừng linh thiêng. Họ sống như thế biết bao thế hệ. Mọi chuyện cứ diễn ra như thuở ban đầu cho tới khi người Kinh tới.”

    Chính vì thế mà xuyên qua Nước Mắt Của Rừng, ta thấy cuộc sống của đồng bào miền núi đã bị đồng hóa vào đời sống thành thị đầy hỗn tạp, tục lụy, méo mó, chao đảo, ngụy tạo. Sau cơn bão thời thế, những cái đẹp, những cái bình dị, mộc mạc của con người thuần lương, cái hoang dại nên thơ, cái hào hùng cao cả… đã bị thay thế bằng những cái bi thương, những cái thấp hèn dung tục, cái ác tâm, ác tính. Rõ ràng là bầu không khí thiêng liêng và bí ẩn nằm sâu trong bản chất cuộc sống như biểu tượng tâm hồn dân tộc của đồng bào thiểu số đã hoàn toàn đảo lộn từ gốc rễ.

    Tôi xa quê lâu rồi, có hơn nửa đời người chưa từng trở lại nên thầm tiếc cho cái khố thân yêu của người đàn ông Thượng và cái xà-gạc trên vai, hay cái eng (yêng) truyền thống của người đàn bà Thượng với cái gùi trên lưng có còn theo họ lên rừng lên rẫy, ra chợ búa hay không. Còn những biểu tượng muôn thuở của đại ngàn như cái ná, cái tên, cái tù và có còn treo trên vách nứa?  Còn nữa, con chim ông lão, con chim kơ-tia hay con chim ka-lơi có còn… tức tiếng hót của con chim sơn ca mà hót vang trên rừng trên núi, và cả cái nai, cái hoẵng dễ gì tồn tại trên nương rẫy thân thương?

    Đọc Nước Mắt Của Rừng, người đọc mới xót xa, hoài cảm vì giữa cuộc sống hiện đại đã mọc lên những hàng quán café, quán nhậu, cửa hàng điện thoại và các dịch vụ khác, người đọc không còn tìm thấy nhiều dấu vết hiền hòa, êm ả của buôn làng, không còn bếp lửa nhà sàn ấm áp, không còn tiếng chầy giã gạo ngoài sân, không còn tiếng mõ trâu, không cả những lũy tre làng vươn lên xanh ngát, có những chiếc lá tre rơi trong hiu hiu gió về. Amai B’Lan hết sức chua chát: “Người ta đã thay nhà sàn bằng nhà xây, vật dụng trong nhà cũng là của người Kinh. Giới trẻ thay cái váy truyền thống bằng quần jeans bó sát. Ở một góc của buôn, đàn ông tụ tập gầy sòng bạc, uống rượu và chửi tục. Người trong buôn nói: “Người Jrai bây giờ đã biết học theo người Kinh rồi. Con gái Jrai đã biết làm đĩ còn con trai đã biết ăn cắp rồi.” Chính những ấn tượng nặng nề đó đã ám ảnh Amai B’Lan, làm tâm hồn cô nghiêng xuống nỗi đau trước những nền tảng đạo đức lâu đời đã làm con người băng hoại.

Amai B’Lan, với tâm hồn hoài cổ luôn luôn nuối tiếc quá khứ, thiết tha với con người cũ, yêu mến mảnh đất thiên nhiên màu mỡ của núi của rừng. Chính vì lẽ đó, mang tâm trạng của nghệ sĩ với tất cả rung cảm chân thành, cô đã hết lòng làm cho rừng núi và những con người hoang dã này sống lại trong văn chương miền cao. 

Nhìn họ qua những trang giấy trắng, mực đen, người đọc còn có thể “chạm” vào quá khứ để gặp lại một vị thừa sai người Pháp đáng kính trọng là cha Jacques Dournes, người đã hy sinh một đời của mình để mang tình thương Thiên Chúa đến cho những người Thượng hoang sơ, điêu đứng khổ cực, áo quần lam lũ, ánh mắt thì xa xăm. Cũng xuyên qua những trang văn này, ta cũng có thể chuyện trò thân thiết với những con người thông tục như Mơai, Ama H’siu, Ami H’siu, Ơi H’hiam, chị H’nhao, bé H’mái… hoặc người già làng đại diện cho ý chí và quyền lực của cộng đồng sắc tộc, ngay cả những nhân vật tâm linh Pơtao nước (Thủy Xá), Pơtao lửa (Hỏa Xá)… là những con người sinh ra từ cuộc sống sơn lâm huyền bí.

    Nhưng mà con người Amai B’Lan cũng lạ lắm. Lạ ở cái chỗ, bằng cái giọng cảm khái thâm trầm, cô đang rưng rưng kể cho chúng ta nghe về những nỗi buồn mênh mông trước cái thế thái nhân tình, rồi đột ngột như một thứ lịch sử sang trang, ta lại gặp, lại nghe cái giọng cà tửng như đùa cợt của cô, khi cô săng sái lên giọng kể về cách sống hòa mình với người bản địa. Hãy lật lại những trang đầu mà coi. Amai B’Lan đã để cho ngòi bút của mình hồn nhiên, thơ thới vẽ nên những con người một thời thuộc về hoang sơ rừng rú làm cho người đọc cảm giác rằng mọi vấn đề của đời sống miền núi vẫn cứ như xưa, sinh sống trong yên bình, tự tại.

    Nhà văn trẻ tuổi của chúng ta sầu đời, giận đời, thương đời nhưng không căm hận cuộc đời. Là vì cái vẻ đẹp nhân bản của Amai B’Lan trong Nước Mắt Của Rừng chứa đựng một triết lý thuần khiết mà nồng nàn, thấm đượm một tinh thần lạc quan của phương Đông. Mặc dù cuộc sống hiện nay đã khiến cho mọi vẻ đẹp về tình người của người Jrai bị hao mòn, nhưng chính cái thiện mỹ của cô, dựa trên nền tảng lấy niềm tin hăm hở soi vào vùng hiu hắt nhất, tăm tối nhất để tạo cho sức sống con người một bộ mặt tươi sáng hơn, đáng yêu hơn. 

    Nước Mắt Của Rừng là tập bút ký đầu tay của Amai B’lan, qua đó, cô đã vẽ lại một bức tranh phong phú, vừa hoang dại nên thơ vừa khơi dậy một sức sống tiềm tàng của những người con của núi rừng đại ngàn mà tổ tiên của họ đã từng dũng cảm tranh đấu với thiên nhiên và thú dữ, bón vào lòng đất xương máu của mình để hình thành một Tây nguyên mênh mông, hùng vĩ như ngày nay. Chính vì thế, Amai B’Lan sống giữa nền văn minh cơ khí hiện đại, giữa ánh sáng phù phiếm của đô thị đầy vật chất cám dỗ vẫn không chi phối tâm hồn cô. Ở Amai B’Lan, suốt một dẫy cao nguyên hùng vĩ đã được ngòi bút của cô khoanh lại thành một vùng đất hiu quạnh, nhỏ bé mang tên Ayunpa. Ở đó, đất pha cát mọc lên những chóp núi, những cụm rừng, những mái nhà cũ kỹ và những con người Jrai thật thà, chất phác bên cạnh những truyền thuyết, huyền thoại, sử thi, chuyện cổ tích dân gian vô cùng phong phú từ hình thể tới màu sắc.

Tập bút ký được chia ra nhiều tiểu đoạn, nhưng mỗi tiểu đoạn lại là một chuỗi tiếp nối như một bức phác họa bằng tư tưởng nghệ thuật đầy màu sắc và âm điệu, thể hiện niềm đam mê sáng tạo của tác giả mô tả nhiệt tình về cuộc đời, về tình thương, về con người du canh du cư vì thời thế mà trôi theo dòng đời phù vân, tụ tán, dở dang , luôn luôn mất mát, thua thiệt trước những “Yuăn”, những âm mưu toan tính của những loại người ác tính ác tâm.

    Đọc Nước Mắt Của Rừng quả là có nhiều niềm vui, nỗi buồn như chính dòng đời trôi nổi những buồn vui, nhưng sáng tác của Amai B’Lan có tâm huyết tự sự bằng chữ nghĩa, đã thả trên trang giấy một thứ tình yêu da diết dành riêng cho những con người từng đến rồi đi, sống và chết trong niềm tự hào được làm người với ý nghĩa đích thực của nó.


PHAN NI TẤN


Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2023

KHẢO BÌNH VỀ “SỐNG CHỤ SON SAO” (BÀI 3) - NGUYỄN KHÔI




SO SÁNH CÁC BẢN DỊCH “SỐNG CHỤ SON SAO” VỚI BẢN GỐC (Tiếng Thái phiên âm)



- Sống (xống) = Tiễn đưa
- Chụ = nhân tình, người tình
- Son = răn, dạy bảo, (son tạy = dạy dỗ), dặn dò
- Sao = gái, cô gái
Sống chụ son sao = Tiễn đưa người tình, dặn dò cô gái.
 
So sánh một số đoạn thơ hay, đẹp nhất:
 
*-1,
Cộp chụ tạu cáy khăn
Pa lăng phăn mữa xú hườn hươn chọi
Hên tò, mek dắn dọi lồng tồng xí puông
Mươi luông tặp cháy cá hươn ông pên piếng
Tản chụ pên niếng nắc hặc chụ pên niếng niêu
Hứa chaư điêu bánh xong xừ đảy.
 
Dịch xuôi của Cầm Cường:
 
Bên nhau tận thâu đêm gà gáy
Đèo giấc mơ về tới nhà, trăng xế đầu núi
Màn sương buông đồng làng bốn mảng
Sương lạnh sa mái nhà “Ông” thành tảng
Lời tình xôi nén chặt
Thương tình xôi nén chắc vào xôi
Mảnh tim này ai nỡ xẻ làm đôi.
 
Mạc Phi:
 
Đôi ta ngồi khuống tận khi gà gáy
Đeo mộng về nhà lúc xế vầng trăng
Bốn phía sa mù dâng
Mịt mùng sương buông lấp mái
Lời hẹn hò bền chắc
Tình đôi ta nhuyễn chặt
chung trái tim không thể xẻ đôi.
 
Điêu Chính Ngâu:

Ta yêu nhau cùng chơi “khuống” tận gà gáy
Mang mộng về nhà lúc vầng trăng xế đầu non
Thấy mịt mùng sương phủ bốn bề
Sương sa lấp mái, đông thành tuyết
Mối tình càng vương ván
yêu nhau như nắm xôi nhuyễn chặt
Tría tim này nỡ xẻ làm đôi
 
Nguyễn Khôi:
 
Có đêm chuyện chừng quên gà gáy
Đeo mộng về trăng rải như mơ
Mù dâng sương tỏa mịt mờ
Tơ duyên xe lối hẹn hò bền lâu
 

*-2, 
Pan đắng cởn hin lạn mà lắn tặp mữ
Tặp mữ tắp phái khoa niu cơi
Lượt háu dọi, xẩm xép naư mốc
Lượt baứ tốc, xẩm xép naư chau
Tộc cuông chaư báu ni phaư hụ
Tộc ná chu, hảy dú cuông pha.
 
Cầm Cường:
 
Ví như phiến đá tảng đập trúng vào tay
Đẹn tay đúng ngón út phía phải
Máu chưa chảy mà xót nỗi lòng
Máu chưa rơi, mà nhức mhối trong tim
Đau nỗi lòng, ai có thấu chăng?
Tủi nỗi lòng, vò võ gối chăn.
 
Mạc Phi:
 
Như nậy đá to, đá sập
Vần đá tảng đè tay
Đè tay, đè tay phải,ngón út
Máu không rớt mà đau tận ruột
Máu không rơi mà buốt tận tim
Đau trong ruột, không người đoái hoài
Buốt trong tim, thăm hỏi nào ai?
xót xa em trùm chăn thầm khóc.
 
Điêu Chính Ngâu:
 
Như nậy đá, đá sập phải tay
Đè tay đè ngón út
Máu không chảy mà xót tận tim
Máu không rơi xót đau cõi lòng
Buồn trong lòng nào có ai hay?
Tình thương đành trùm chăn thầm khóc.
 
Nguyễn Khôi:
 
Như vần đá, đá lăn đổ sập
Dập ngón tay rút ruột mà đau
Máu không rơi buốt tận đầu
Nhói trong tim hỏi ai nào biết cho?
Trùm chăn kín xót xa thầm khóc
 
*-3,….
Nham bók pục, đất bók pục nằng cong
Nhám bók tong, đất bók tong nằng thả
Nham bók mạ, đất bók mạ nằng thả hướm lay
 
……..
 
Cầm Cường:

Mùa hoa bưởi, ngắt hoa bưởi ngồi trông
Mùa hoa vông, ngắt hoa vông ngồi chờ
Mùa hoa mạ, ngắt hoa mạ ngồi ngóng đợi hoài
 
Mạc Phi:
 
Dù thành vợ người ta, cứ xẻ lòng chờ, em ạ!
Mùa hoa bưởi ngắt hoa bưởi ngồi mong
Mùa hoa vông ngắt hoa vông ngồi đợi
Mùa hoa mạ, ngắt hoa mạ ngồi chờ
Hoa sắp héo, sương mai em nhúng
Hoa sắp tang, nước rượu em ngâm
Hoa gói khăn đào 20 năm không phai
19 đời Tạo quan vẫn thắm
Đôi ta yêu nhau lấy gì gửi mặt?
Gửi vải sợ vải sờn
Gửi đàn sợ đàn gãy
Gửi bạc vụn sợ không đáng lòng
Gửi bạc nén ? nhưng anh của khó nhà không!
Gửi vật tre mây sợ hóp
Đôi ta yêu nhau, anh gửi chiếc đàn môi đồng
Còn thương anh, đàn môi đồng nhớ mãi
Duyên mai sau, đàn môi đây, hãy lấy nhận người
Cất kỹ trong lòng, em ơi, đừng nhầm lẫn nhận sai!
Con khóc giơ đàn môi dỗ nín
Ngày về Trời (chết) treo trên cổ ngựa (giấy) bay
Đàn bay lên thành một cánh bướm vàng
Lời thương đặt trong lòng đừng phai
Trầu têm đặt trong giỏ đừng úa
Lạc phương trời đừng buồn
Vòng bảy cõi Mường xa đừng đổi thay!
 
Điêu Chính Ngâu:
 
Em lấy ai hãy xẻ lòng chờ
Mùa hoa bưởi em ngắt hoa bưởi ngồi mong
Mùa hoa vông em ngắt hoa vông ngồi đợi
Mùa hoa mạ em ngắt hoa mạ ngồi chờ
Hoa sắp héo đem dấp sương mai hoa sẽ tưoi lại
Hoa sắp phai đem ngâm rượu quế
Hoa sắp tàn đem gói khăn hồng
Khăn hồng để 20 năm không phai
Mười chín đời vẫn tươi
Đôi ta yêu nhau biết gửi gì làm kỷ vật?
 
Nguyễn Khôi:
 
Cho dù đã vợ người ta
Đã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhau
Mùa hoa bưởi hoa ngâu hẹn đợi
Hoa mạ vàng chờ tới tàn phai
Hoa tàn em nhúng sương mai
20 năm gói khăn mùi còn thơm
19 đời Tạo quan vẫn thắm
Mặt thân thương gửi gắm gì hơn
Vải ư ? sợ vải chóng sờn
Đàn ư ? lại sợ gãy đàn ngang cung
Gửi bạc vụn sợ l\không xứng đáng
Bạc nén ư ? Anh kiếm chưa ra
Gửi tre lại sợ tre già
Đàn môi cất kỹ kẻo mà nhận sai
Con khóc lấy đàn môi dỗ nín
Ngày về Trời theo cánh ngựa bay
Lời thương em nhớ đừng phai
Hồn thương đừng có đổi thay cõi trời
Như hóa phép vàng tươi cánh bướm
Qua hè về đông đến cưới nhau
 
*-4,
Mứa lồng hươn, phác cát hính pên bứa
Bát lau lửa, xửa ón nọi ma ták têm chăn
……..
 
Cầm Cường:
 
Lúc ra đi hạt cải mới nảy mầm
Tới ngày về, áo con tre phơi đã đầy sân
….
 
Mạc Phi:
 
Khi anh ra đi cải chia cánh bướm
Khi anh trở về cải già đơm hoa
Lâu ngày, em đã quên hơi hết lạ.
Khi anh ra đi, khăn Piêu đen em còn vắt sào ngang
Khi anh trở về, áo con nhỏ đã giăng đầy sân
Dây trầu không cũng xào xạc rụng cuống
Sâu khoét trong lòng cây tươi được chăng?
bạn lứa đều nên duyên may mắn
Thiệt riêng anh ở vắng một mình!
 
Điêu Chính Ngâu:
 
Khi anh đi rau cải mới mọc mầm
Chiếc Piêu đen còn phơi sào giữa
Lúc anh về áo con nhỏ phơi đầy sân
Rì rào lá Trầu rơi khỏi cuống
Tre kém tươi phải chăng sâu khoét?
Bạn cũ đều nên đôi nên lứa
Còn ta thời lẻ loi đơn độc!
 
Nguyễn Khôi:
 
Khi anh đi cải ngồng cánh bướm
Anh trở về, cải muộn đơm hoa
Khi đi Piêu mới rủ là
Khi về áo trẻ khắp nhà dăng phơi
Lá trầu vàng rụng rơi khỏi cuống
Cây tre sầu chết đứng vườn bên
bạn bè nên lứa nên duyên
Riêng anh đơn độc nhìn em bẽ bàng.
 
Thơ Thái phổ biến khổ thơ gồm 3 câu một, đây là một cách chia khổ thơ đặc sắc để tạo ra sự nhấn mạnh (tạo thành 1 ý, kiểu vần Lưng của hát KHẮP rất vần,có tính cân đối nhịp nhàng dễ đọc, dễ ngâm). Thể KHẮP phải chăng là gần với thể ngâm khúc (song thất lục bát - độc nhất vô nhị chỉ Người Kinh mới có) ?…Vì thế nên NK tâm đắc “vận” vào (áp vào) mà dịch Sống Chụ Son Sao.

Trong các bản Sống Chụ Son Sao còn lại đến nay thì:
1, Bản Điêu Chính Ngâu (1914-1958) -Thái trắng Quỳnh Nhai – Sơn La, là người sưu tầm dịch đầu tiên (nxb Hội Nhà Văn-1957) được coi là bản dịch sát nghĩa nhất, tuy không đầy đủ bằng các bản sau.
2, Bản do Nhà văn Mạc Phi (1928-1996)-Hoa, tên thật là Lưu Huy Hòa, sinh tại Mông Tự -Vân Nam (Trung Quốc), lấy vợ Thái, từng là Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Lai Châu.
Bản này (1960) dài hơn bản 1957 tới 242 câu… được coi là những câu thơ có giá trị làm cho ý nghĩa và hình ảnh các đoạn thơ trở nên tinh tế sống động hẳn lên. Trước khi tiến hành dịch, Mạc Phi đã so sánh đối chiếu chỉnh lý giữa các bản sưu tầm năm 1957, 1958 và 5 bản chép tay khác ở Thuận Châu, Mai Sơn, Mường La (Sơn La). Sau đó Ông còn hiệu đính lần cuối với sự tham gia của 1 số nghệ nhân người bản địa. Đây có thể coi là một bản Truyện thơ dược hiệu đính (nhuận sắc) công phu... Tuy nhiên, theo các nhà sưu tập nổi tíếng của Dân tộc Thái như Điêu Chính Ngâu, Hà Hem, Quàng Văn Đôi, Pánh Túng, Phóng Nói, Lù Văn Nhớ, Cầm Bao, Cầm Biêu, Lò Văn Sỹ, Lò Văn Cậy, Cầm Cường… thì trên đại thể,tất cả các bản truyện thơ Sống Chụ Son Sao đều chỉ khác nhau ở một số chữ đệm đầu câu hoặc cuối câu thơ, hoặc khác nhau về cách sắp xếp một số câu trong một số đoạn (do là thể KHẮP - hát thơ).

PGS – TS Cầm Cường (1934-1996) - Thái đen Sơn La, Đại học Tổng hợp Hà Nội, mới công bố một số đoạn dịch khá sát nghĩa…
Một điều ngẫu nhiên thú vị là: các dịch giả (Điêu Chính Ngâu, Mạc Phi, Nguyễn Khôi) có thời đều ở Bản Nà Coóng, xã Chiềng Cơi, huyện Mường La, tỉnh Sơn La- nơi khu gia đình cán bộ Khu Tây Bắc và tỉnh Sơn La cư trú – phải chăng đó là duyên tiền định để các “Nhà” cùng Hứng khởi trước sau cất công thả hồn “dịch” Sống Chụ Son Sao” cho mọi người (các Dân tộc anh em trong mái nhà Việt Nam) cùng ngâm nga thưởng thức thiên tình sử bất hủ này!
 
Trích “Tiễn dặn người yêu” toàn tập - Nguyễn Khôi (biên soạn) 418 trang, khổ 13×19,nxb VH Dân tộc-Hà Nội - năm 2000.

Bài đã đăng “Kỷ yếu Hội Nghị Chương trình Thái Học” Hà Nội 2002

                                                          NGUYỄN KHÔI
 
Nguồn:
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/dao-tao/2206-kho-binh-v-sng-ch-son-sao.html