



GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN AN BÌNH
THƠ VIẾT TRÊN NƯỚC MỸ
ĐÂY LÀ TÁC PHẨM THƠ THỨ 20 TRONG TỦ SÁCH “TÌNH THƠ” CỦA
NGUYỄN AN BÌNH, SÁCH DÀY 124 TRANG DO NHÀ XUẤT BẢN HỘI
NHÀ VĂN CẤP PHÉP, GIÁ 100.000 đồng MIỄN SHIP. CÁC BẠN YÊU THƠ
CÓ THỂ LIÊN HỆ VỚI TÁC GIẢ QUA MESSENGER TRÊN FACEBOOK
HAY EMAIL luongmanh2106@gmail.com .
RẤT MONG ĐƯỢC SỰ ĐỒNG CẢM VÀ ỦNG HỘ CỦA CÁC BẠN YÊU THƠ
Ảnh tác giả Song Thao
ĐỌC “ĂN MÀ KHÔNG CHƠI” CỦA ĐỖ DUY NGỌC

TẬP THƠ DẤU TRĂNG XƯA CỦA NGUYỄN AN BÌNH
Nhà thơ Nguyễn An Bình vừa phát hành tập thơ DẤU TRĂNG XƯA vào cuối tháng 10 – 2023. Sách dày 130 trang do Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn cấp phép phát hành, giá 120.000 đống. Sách in từ nguồn hỗ trợ sáng tác văn học của Hội Nhà Văn Tp. Hồ Chí Minh năm 2023. Đây cũng là tác phẩm thứ 18 trong tủ sách TÌNH THƠ của nhà thơ Nguyễn An Bình. Các bạn có ủng hộ tác phẩm xin liên hệ qua mail tác giả: luongmanh2106@gmail.com .
Xin chân thành cám ơn các bạn.
AMAI B'LAN, NƯỚC MẮT CỦA RỪNG
Amai B’Lan là bút hiệu của một cô giáo từng dạy học thiện nguyện ở miền cao. Cô còn rất trẻ và dù chỉ dạy một quãng thời gian ngắn tại một buôn làng heo hút của miền Thượng du nhưng cũng đủ để cô thực hiện được ước mơ nhỏ bé của mình là viết ra tập bút ký mang một cái tên hết sức “miền Thượng”: Nước Mắt Của Rừng (*).
Đọc Nước Mắt Của Rừng, người đọc dễ nhận thấy ngay Amai B’lan viết về cao nguyên với biết bao thiện chí chân thành như viết về cuộc đời mình: “Tôi mê cao nguyên không đơn thuần chỉ vì vẻ đẹp trinh khôi của nó, mà còn vì trong chuyến đi mạo hiểm đầu đời, tôi được những con người tốt bụng của cao nguyên đùm bọc khi sa cơ lỡ bước. Giờ đây, tôi muốn làm một cái gì đó cho vùng đất đáng yêu này.”
Tuổi 18 là lứa tuổi đẹp như bông hoa vươn lên quãng trời xanh bát ngát mà cũng là một lứa tuổi đầy lý tưởng, tuổi của phiêu lưu mạo hiểm từ trong máu. Đoạn cô tả cảnh thân gái dặm trường, một mình đạp xe đi từ Di Linh lên tận Kontum ròng rã suốt một tháng trời với biết bao may rủi dọc đường mưa nắng, đói khát, mệt mỏi… đủ thấy cô có duyên có nợ từ kiếp nào với cao nguyên đến trời đất cũng phải kinh động.
Với Amai B’Lan, cao nguyên nói chung hay Cheo Reo, Phú Bổn, Ayunpa, Krông Pa nói riêng là quê hương đất nước, là buôn làng, mà cũng là chỗ dựa tinh thần của cô. Chỉ cần một không gian nhỏ bé là vùng đất hẻo lánh của Ayunpa và một quãng thời gian ngắn ngủi thôi cũng đủ sinh ra Amai B’Lan, đủ để tạo nên số phận cô, duyên nợ cô, con người và cuộc đời cô. Chính cuộc sống nội tâm đã thúc đẩy cô hướng về phía núi, nên qua một hoạt động mục vụ của nhà thờ cô tìm thấy niềm vui trong công việc dạy học để giúp cho các em người Jrai học tốt hơn, dạy cho các em biết phân biệt tốt xấu để tránh bị người đời lừa đảo.
Amai B’Lan đến với người Jrai hoàn toàn không mang theo hoài bão của con người thời đại, như cô nhỏ nhẹ phân trần “Không dám có ước muốn tìm hiểu một dân tộc thẳm sâu và lạ lùng trong quãng thời gian ngắn như thế”. Nhưng sâu trong một tâm hồn hiền hòa, chất phác như nương rẫy, Amai B’Lan đến với cao nguyên bằng tinh thần thiện chí, bằng hơi thở, bằng nhớ thương, bằng nỗi ám ảnh trước cảnh đời không như cô mơ ước, người đọc mới cảm nhận tự đáy lòng cô dâng lên những gợn sóng u hoài. Chúng ta hãy nghe Amai B’Lan diễn tả tâm trạng này: “Tôi đã tới nơi cần tới sau nhiều ngày mơ tưởng về thủ phủ của người Jrai, về vùng đất của Pơtao Apui, về những căn nhà sàn đêm đêm bập bùng ánh lửa kể akhan, về một dân tộc có đời sống tâm linh vô cùng sâu sắc, nhưng sao cảm giác trong tôi thật lạ, có gì đó như là tan vỡ.”
Đọc Amai B’Lan, ta thường gặp những lời trần tình biểu hiện lòng biết ơn vô lượng những con người miền cao, cũng như cô bộc lô nhận thức một loại triết lý trăn trở, cảm thông về cuộc đời con người đã mất đất, mất cả chủ quyền. Chia sẽ nỗi trầm luân của người bản địa, Amai B’Lan thổ lộ: “Người Jrai đã từng là chủ vùng đất này (tên Gia Lai đọc từ chữ “Jrai” mà ra). Tổ tiên họ đã sống và đã chết ở đây. Họ có cách sống và văn hóa của riêng họ… Trên đầu họ là bầu trời tự do. Dưới chân họ là đất rừng linh thiêng. Họ sống như thế biết bao thế hệ. Mọi chuyện cứ diễn ra như thuở ban đầu cho tới khi người Kinh tới.”
Chính vì thế mà xuyên qua Nước Mắt Của Rừng, ta thấy cuộc sống của đồng bào miền núi đã bị đồng hóa vào đời sống thành thị đầy hỗn tạp, tục lụy, méo mó, chao đảo, ngụy tạo. Sau cơn bão thời thế, những cái đẹp, những cái bình dị, mộc mạc của con người thuần lương, cái hoang dại nên thơ, cái hào hùng cao cả… đã bị thay thế bằng những cái bi thương, những cái thấp hèn dung tục, cái ác tâm, ác tính. Rõ ràng là bầu không khí thiêng liêng và bí ẩn nằm sâu trong bản chất cuộc sống như biểu tượng tâm hồn dân tộc của đồng bào thiểu số đã hoàn toàn đảo lộn từ gốc rễ.
Tôi xa quê lâu rồi, có hơn nửa đời người chưa từng trở lại nên thầm tiếc cho cái khố thân yêu của người đàn ông Thượng và cái xà-gạc trên vai, hay cái eng (yêng) truyền thống của người đàn bà Thượng với cái gùi trên lưng có còn theo họ lên rừng lên rẫy, ra chợ búa hay không. Còn những biểu tượng muôn thuở của đại ngàn như cái ná, cái tên, cái tù và có còn treo trên vách nứa? Còn nữa, con chim ông lão, con chim kơ-tia hay con chim ka-lơi có còn… tức tiếng hót của con chim sơn ca mà hót vang trên rừng trên núi, và cả cái nai, cái hoẵng dễ gì tồn tại trên nương rẫy thân thương?
Đọc Nước Mắt Của Rừng, người đọc mới xót xa, hoài cảm vì giữa cuộc sống hiện đại đã mọc lên những hàng quán café, quán nhậu, cửa hàng điện thoại và các dịch vụ khác, người đọc không còn tìm thấy nhiều dấu vết hiền hòa, êm ả của buôn làng, không còn bếp lửa nhà sàn ấm áp, không còn tiếng chầy giã gạo ngoài sân, không còn tiếng mõ trâu, không cả những lũy tre làng vươn lên xanh ngát, có những chiếc lá tre rơi trong hiu hiu gió về. Amai B’Lan hết sức chua chát: “Người ta đã thay nhà sàn bằng nhà xây, vật dụng trong nhà cũng là của người Kinh. Giới trẻ thay cái váy truyền thống bằng quần jeans bó sát. Ở một góc của buôn, đàn ông tụ tập gầy sòng bạc, uống rượu và chửi tục. Người trong buôn nói: “Người Jrai bây giờ đã biết học theo người Kinh rồi. Con gái Jrai đã biết làm đĩ còn con trai đã biết ăn cắp rồi.” Chính những ấn tượng nặng nề đó đã ám ảnh Amai B’Lan, làm tâm hồn cô nghiêng xuống nỗi đau trước những nền tảng đạo đức lâu đời đã làm con người băng hoại.
Amai B’Lan, với tâm hồn hoài cổ luôn luôn nuối tiếc quá khứ, thiết tha với con người cũ, yêu mến mảnh đất thiên nhiên màu mỡ của núi của rừng. Chính vì lẽ đó, mang tâm trạng của nghệ sĩ với tất cả rung cảm chân thành, cô đã hết lòng làm cho rừng núi và những con người hoang dã này sống lại trong văn chương miền cao.
Nhìn họ qua những trang giấy trắng, mực đen, người đọc còn có thể “chạm” vào quá khứ để gặp lại một vị thừa sai người Pháp đáng kính trọng là cha Jacques Dournes, người đã hy sinh một đời của mình để mang tình thương Thiên Chúa đến cho những người Thượng hoang sơ, điêu đứng khổ cực, áo quần lam lũ, ánh mắt thì xa xăm. Cũng xuyên qua những trang văn này, ta cũng có thể chuyện trò thân thiết với những con người thông tục như Mơai, Ama H’siu, Ami H’siu, Ơi H’hiam, chị H’nhao, bé H’mái… hoặc người già làng đại diện cho ý chí và quyền lực của cộng đồng sắc tộc, ngay cả những nhân vật tâm linh Pơtao nước (Thủy Xá), Pơtao lửa (Hỏa Xá)… là những con người sinh ra từ cuộc sống sơn lâm huyền bí.
Nhưng mà con người Amai B’Lan cũng lạ lắm. Lạ ở cái chỗ, bằng cái giọng cảm khái thâm trầm, cô đang rưng rưng kể cho chúng ta nghe về những nỗi buồn mênh mông trước cái thế thái nhân tình, rồi đột ngột như một thứ lịch sử sang trang, ta lại gặp, lại nghe cái giọng cà tửng như đùa cợt của cô, khi cô săng sái lên giọng kể về cách sống hòa mình với người bản địa. Hãy lật lại những trang đầu mà coi. Amai B’Lan đã để cho ngòi bút của mình hồn nhiên, thơ thới vẽ nên những con người một thời thuộc về hoang sơ rừng rú làm cho người đọc cảm giác rằng mọi vấn đề của đời sống miền núi vẫn cứ như xưa, sinh sống trong yên bình, tự tại.
Nhà văn trẻ tuổi của chúng ta sầu đời, giận đời, thương đời nhưng không căm hận cuộc đời. Là vì cái vẻ đẹp nhân bản của Amai B’Lan trong Nước Mắt Của Rừng chứa đựng một triết lý thuần khiết mà nồng nàn, thấm đượm một tinh thần lạc quan của phương Đông. Mặc dù cuộc sống hiện nay đã khiến cho mọi vẻ đẹp về tình người của người Jrai bị hao mòn, nhưng chính cái thiện mỹ của cô, dựa trên nền tảng lấy niềm tin hăm hở soi vào vùng hiu hắt nhất, tăm tối nhất để tạo cho sức sống con người một bộ mặt tươi sáng hơn, đáng yêu hơn.
Nước Mắt Của Rừng là tập bút ký đầu tay của Amai B’lan, qua đó, cô đã vẽ lại một bức tranh phong phú, vừa hoang dại nên thơ vừa khơi dậy một sức sống tiềm tàng của những người con của núi rừng đại ngàn mà tổ tiên của họ đã từng dũng cảm tranh đấu với thiên nhiên và thú dữ, bón vào lòng đất xương máu của mình để hình thành một Tây nguyên mênh mông, hùng vĩ như ngày nay. Chính vì thế, Amai B’Lan sống giữa nền văn minh cơ khí hiện đại, giữa ánh sáng phù phiếm của đô thị đầy vật chất cám dỗ vẫn không chi phối tâm hồn cô. Ở Amai B’Lan, suốt một dẫy cao nguyên hùng vĩ đã được ngòi bút của cô khoanh lại thành một vùng đất hiu quạnh, nhỏ bé mang tên Ayunpa. Ở đó, đất pha cát mọc lên những chóp núi, những cụm rừng, những mái nhà cũ kỹ và những con người Jrai thật thà, chất phác bên cạnh những truyền thuyết, huyền thoại, sử thi, chuyện cổ tích dân gian vô cùng phong phú từ hình thể tới màu sắc.
Tập bút ký được chia ra nhiều tiểu đoạn, nhưng mỗi tiểu đoạn lại là một chuỗi tiếp nối như một bức phác họa bằng tư tưởng nghệ thuật đầy màu sắc và âm điệu, thể hiện niềm đam mê sáng tạo của tác giả mô tả nhiệt tình về cuộc đời, về tình thương, về con người du canh du cư vì thời thế mà trôi theo dòng đời phù vân, tụ tán, dở dang , luôn luôn mất mát, thua thiệt trước những “Yuăn”, những âm mưu toan tính của những loại người ác tính ác tâm.
Đọc Nước Mắt Của Rừng quả là có nhiều niềm vui, nỗi buồn như chính dòng đời trôi nổi những buồn vui, nhưng sáng tác của Amai B’Lan có tâm huyết tự sự bằng chữ nghĩa, đã thả trên trang giấy một thứ tình yêu da diết dành riêng cho những con người từng đến rồi đi, sống và chết trong niềm tự hào được làm người với ý nghĩa đích thực của nó.
PHAN NI TẤN

Cộp chụ tạu cáy khănPa lăng phăn mữa xú hườn hươn chọiHên tò, mek dắn dọi lồng tồng xí puôngMươi luông tặp cháy cá hươn ông pên piếngTản chụ pên niếng nắc hặc chụ pên niếng niêuHứa chaư điêu bánh xong xừ đảy.
Bên nhau tận thâu đêm gà gáyĐèo giấc mơ về tới nhà, trăng xế đầu núiMàn sương buông đồng làng bốn mảngSương lạnh sa mái nhà “Ông” thành tảngLời tình xôi nén chặtThương tình xôi nén chắc vào xôiMảnh tim này ai nỡ xẻ làm đôi.
Đôi ta ngồi khuống tận khi gà gáyĐeo mộng về nhà lúc xế vầng trăngBốn phía sa mù dângMịt mùng sương buông lấp máiLời hẹn hò bền chắcTình đôi ta nhuyễn chặtchung trái tim không thể xẻ đôi.
Ta yêu nhau cùng chơi “khuống” tận gà gáyMang mộng về nhà lúc vầng trăng xế đầu nonThấy mịt mùng sương phủ bốn bềSương sa lấp mái, đông thành tuyếtMối tình càng vương ványêu nhau như nắm xôi nhuyễn chặtTría tim này nỡ xẻ làm đôi
Có đêm chuyện chừng quên gà gáyĐeo mộng về trăng rải như mơMù dâng sương tỏa mịt mờTơ duyên xe lối hẹn hò bền lâu
Pan đắng cởn hin lạn mà lắn tặp mữTặp mữ tắp phái khoa niu cơiLượt háu dọi, xẩm xép naư mốcLượt baứ tốc, xẩm xép naư chauTộc cuông chaư báu ni phaư hụTộc ná chu, hảy dú cuông pha.
Ví như phiến đá tảng đập trúng vào tayĐẹn tay đúng ngón út phía phảiMáu chưa chảy mà xót nỗi lòngMáu chưa rơi, mà nhức mhối trong timĐau nỗi lòng, ai có thấu chăng?Tủi nỗi lòng, vò võ gối chăn.
Như nậy đá to, đá sậpVần đá tảng đè tayĐè tay, đè tay phải,ngón útMáu không rớt mà đau tận ruộtMáu không rơi mà buốt tận timĐau trong ruột, không người đoái hoàiBuốt trong tim, thăm hỏi nào ai?xót xa em trùm chăn thầm khóc.
Như nậy đá, đá sập phải tayĐè tay đè ngón útMáu không chảy mà xót tận timMáu không rơi xót đau cõi lòngBuồn trong lòng nào có ai hay?Tình thương đành trùm chăn thầm khóc.
Như vần đá, đá lăn đổ sậpDập ngón tay rút ruột mà đauMáu không rơi buốt tận đầuNhói trong tim hỏi ai nào biết cho?Trùm chăn kín xót xa thầm khóc
Nham bók pục, đất bók pục nằng congNhám bók tong, đất bók tong nằng thảNham bók mạ, đất bók mạ nằng thả hướm lay
Mùa hoa bưởi, ngắt hoa bưởi ngồi trôngMùa hoa vông, ngắt hoa vông ngồi chờMùa hoa mạ, ngắt hoa mạ ngồi ngóng đợi hoài…
Dù thành vợ người ta, cứ xẻ lòng chờ, em ạ!Mùa hoa bưởi ngắt hoa bưởi ngồi mongMùa hoa vông ngắt hoa vông ngồi đợiMùa hoa mạ, ngắt hoa mạ ngồi chờHoa sắp héo, sương mai em nhúngHoa sắp tang, nước rượu em ngâmHoa gói khăn đào 20 năm không phai19 đời Tạo quan vẫn thắmĐôi ta yêu nhau lấy gì gửi mặt?Gửi vải sợ vải sờnGửi đàn sợ đàn gãyGửi bạc vụn sợ không đáng lòngGửi bạc nén ? nhưng anh của khó nhà không!Gửi vật tre mây sợ hópĐôi ta yêu nhau, anh gửi chiếc đàn môi đồngCòn thương anh, đàn môi đồng nhớ mãiDuyên mai sau, đàn môi đây, hãy lấy nhận ngườiCất kỹ trong lòng, em ơi, đừng nhầm lẫn nhận sai!Con khóc giơ đàn môi dỗ nínNgày về Trời (chết) treo trên cổ ngựa (giấy) bayĐàn bay lên thành một cánh bướm vàngLời thương đặt trong lòng đừng phaiTrầu têm đặt trong giỏ đừng úaLạc phương trời đừng buồnVòng bảy cõi Mường xa đừng đổi thay!
Em lấy ai hãy xẻ lòng chờMùa hoa bưởi em ngắt hoa bưởi ngồi mongMùa hoa vông em ngắt hoa vông ngồi đợiMùa hoa mạ em ngắt hoa mạ ngồi chờHoa sắp héo đem dấp sương mai hoa sẽ tưoi lạiHoa sắp phai đem ngâm rượu quếHoa sắp tàn đem gói khăn hồngKhăn hồng để 20 năm không phaiMười chín đời vẫn tươiĐôi ta yêu nhau biết gửi gì làm kỷ vật?
Cho dù đã vợ người taĐã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhauMùa hoa bưởi hoa ngâu hẹn đợiHoa mạ vàng chờ tới tàn phaiHoa tàn em nhúng sương mai20 năm gói khăn mùi còn thơm19 đời Tạo quan vẫn thắmMặt thân thương gửi gắm gì hơnVải ư ? sợ vải chóng sờnĐàn ư ? lại sợ gãy đàn ngang cungGửi bạc vụn sợ l\không xứng đángBạc nén ư ? Anh kiếm chưa raGửi tre lại sợ tre giàĐàn môi cất kỹ kẻo mà nhận saiCon khóc lấy đàn môi dỗ nínNgày về Trời theo cánh ngựa bayLời thương em nhớ đừng phaiHồn thương đừng có đổi thay cõi trờiNhư hóa phép vàng tươi cánh bướmQua hè về đông đến cưới nhau
Mứa lồng hươn, phác cát hính pên bứaBát lau lửa, xửa ón nọi ma ták têm chăn
Lúc ra đi hạt cải mới nảy mầmTới ngày về, áo con tre phơi đã đầy sân
Khi anh ra đi cải chia cánh bướmKhi anh trở về cải già đơm hoaLâu ngày, em đã quên hơi hết lạ.Khi anh ra đi, khăn Piêu đen em còn vắt sào ngangKhi anh trở về, áo con nhỏ đã giăng đầy sânDây trầu không cũng xào xạc rụng cuốngSâu khoét trong lòng cây tươi được chăng?bạn lứa đều nên duyên may mắnThiệt riêng anh ở vắng một mình!
Khi anh đi rau cải mới mọc mầmChiếc Piêu đen còn phơi sào giữaLúc anh về áo con nhỏ phơi đầy sânRì rào lá Trầu rơi khỏi cuốngTre kém tươi phải chăng sâu khoét?Bạn cũ đều nên đôi nên lứaCòn ta thời lẻ loi đơn độc!
Khi anh đi cải ngồng cánh bướmAnh trở về, cải muộn đơm hoaKhi đi Piêu mới rủ làKhi về áo trẻ khắp nhà dăng phơiLá trầu vàng rụng rơi khỏi cuốngCây tre sầu chết đứng vườn bênbạn bè nên lứa nên duyênRiêng anh đơn độc nhìn em bẽ bàng.