CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn TỪ KẾ TƯỜNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TỪ KẾ TƯỜNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

BÓNG TÌNH KHÔNG - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 



BÓNG TÌNH KHÔNG


Sớm mai nào chẳng mênh mông

Ta ngồi ôm bóng tình không nhớ người

Nỗi buồn như lá còn tươi

Bâng khuâng hạ đỏ thu rười rượi xa


Thời gian như một ngụm trà

Môi chưa thấm đượm đã qua muôn trùng

Tay cầm vạt nắng rưng rưng

Ngoài thềm nguyệt quế hoa từng cánh rơi


Từ em cách biệt phương trời

Trăng treo bóng lẻ đèn phơi mắt buồn

Ôi mờ mịt cõi mù sương

Tóc gầy vai đã xa đường cúc hoa


Khép đêm, ngày rộn tiếng gà

Ta về dựa bóng quê nhà nhớ ai

Rửa chân thu lại dặm dài

Tìm tăm cá lặn miệt mài nắng mưa


Ngày xưa đâu phải đã xưa

Nhớ từng nhịp võng ta đưa em nằm

Ru người mắt biếc xa xăm

Ta còn nỗi nhớ đăm đăm tháng ngày


TỪ KẾ TƯỜNG

(Bến Lặng 26-6-2026)


Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

ÁO VÀNG LÀM CHI ? - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 


ÁO VÀNG LÀM CHI?

Đội nắng đội mưa
Anh về
Một buổi
Sợ ngày mau
Tối
Sợ đêm
Mau về
Lối cỏ
Đường quê
Không hoa dại
Nở
Không con bướm
Nhỏ
Khoe đôi cánh
Vàng
Mùa
Thu
Vội sang
Mặt hồ xanh nước
Làm sao
Biết được
Một người ra đi
Nắng mưa
Tiếc nắng mưa gì
Ôi hoa cúc cũ
Khép mi
Bỏ chiều
Sân nhà liêu xiêu
Mấy nhành
Rêu biếc
Anh
Ngồi tưởng tiếc
Dấu thời gian
Qua
Sương khói quê nhà
Tiếng chim
Gọi cửa
Cuối mùa hoa
Nở
Áo vàng
Làm chi?


TỪ KẾ TƯỜNG

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

MÊ VỌNG - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 



MÊ VỌNG

Hỏi ai người tri kỷ
Uống ngụm trà sớm mai
Ngày tháng trôi vô vị
Sá chi cuộc tình hoài

Hỏi ai người tri kỷ
Uống ngụm trà sớm mai
Ngày tháng trôi vô vị
Sá chi cuộc tình hoài

Với mây khói quê nhà
Ta thân người quán trọ
Lãng đãng trời mưa gió
Vẫn trông vời cố hương

Áo nào qua ngang cổng
Tóc thả mùi hương xưa
Ta hỏi lòng mê vọng
Nôn nao tiết giao mùa

Mấy lần tìm tăm cá
Trong gợn sóng muôn trùng
Vớt nhành rêu hối hả
Cớ gì hồn rưng rưng


TỪ KẾ TƯỜNG
(Bến Lặng 26-6-2026)

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

CỔ TÍCH TA VÀ BÉ - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG



 CỔ TÍCH TA VÀ BÉ


Có những lúc ta ngồi buồn nhớ bé
Ta ngày xưa và bé của hôm nay
Như ong bướm đùa vui cùng hoa cỏ
Hoa rất vàng mà cỏ biếc đâu hay

Nếu thương nhớ chỉ là mưa và nắng
Nắng và mưa đôi lúc cũng chung đường
Chiếc lá úa màu xưa bay rất nặng
Xuống bên trời cho bé tuổi yêu thương

Tay giông bão ta đã từng qua hết
Dấu chân tròn in lối cũ màu rêu
Ta gặp bé chẳng biết sau hay trước
Mỗi sớm mai, đầu nắng, cuối trăng chiều

Bé gặp ta để mùa xuân chín rộ
Trần gian này hoa trái sẽ thơm hơn
Dẫu mai mốt ta ngồi nghe thác đổ
Cuộc phân ly đâu đó rất u buồn

Ta và bé gặp nhau là quá đủ
Chuyện thần tiên trang sách mở ra rồi
Nơi gửi gắm ước mơ thời thơ ấu
Để bây giờ… mơ ước vẫn đang trôi.



TỪ KẾ TƯỜNG


Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

BÓNG DÁNG MỘT CON PHÀ - TỪ KẾ TƯỜNG



Có thể là hình ảnh về thuyền


BÓNG DÁNG MỘT CON PHÀ

Thủ Thiêm nằm bên kia sông Sài Gòn cách đây một trăm năm là khu vực ngoại thành, toàn đồng ruộng, bưng biền, nhà lá lụp xụp. Ngoài nông dân thuần túy ngày ngày bám chân trên ruộng đồng còn có một tầng lớp thầy, thợ sớm tối xuôi ngược con phà Thủ Thiêm bám nghề bươn chãi làm ăn. Con phà như một cầu nối giữa hai bờ sông ngày ấy còn nhiều dừa nước, bần, đước, dẹt ken dày, xanh biệt mù phía Thủ Thiêm và lũ chim hải âu lượn lờ kiếm mồi trên sóng nước.
Có bao nhiêu lượt người, bao thế hệ từ tuổi thơ cho đến tuổi già bao gồm nam, phụ, lão, ấu đã đi qua con phà mang bóng dáng của một trăm năm ấy có lẽ không có con số thống kê đầy đủ. Nhưng thời gian đã ghi được dấu ấn mãnh liệt trên con phà đã làm xong nhiệm vụ lịch sử nối hai bờ sông Sài Gòn lui về quá khứ khi cửa hầm chui Thủ Thiêm mở ra cho những dòng xe xuôi ngược từ đáy sông trồi lên mang dấu ấn của giai đoạn lưu thông hiện đại rút ngắn khoảng cách giữa hai bờ sông, từ Sài Gòn qua Thủ Thiêm chỉ còn 5-7 phút thay vì 20-25 phút.
Tôi còn nhớ lần đầu tiên qua phà Thủ Thiêm là năm tôi học lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) trường Nguyễn Văn Khuê, một ngôi trường tư thục, danh tiếng nằm trên đường Nguyễn Thái Học quận 1. Cả nhóm bạn ngồi cùng bàn rũ nhau qua Thủ Thiêm vớt cá lia thia, đi bộ qua phà, quần thảo với những đám ruộng lầy, đầy cỏ năn tìm bọt cá lia thia đóng trong dấu chân trâu cả buổi trưa rồi đi bộ, qua phà về lại bên này sông. Phà Thủ Thiêm hồi ấy còn ọp ẹp như một chiếc xà lan có mui loay hoay mất hơn nửa giờ mới đưa được khách qua sông.
Trẻ em được mua “nửa vé”, nhưng tôi và nhóm bạn thường không mua vé mà đi chui theo đúng nghĩa đen vì trước khi lên cầu xuống phà có hàng rào chặn, ông soát vé loay hoay với hàng lô hàng lốc những người lớn và xe đạp, xe gắn máy, lũ “trẻ em” đi bộ chúng tôi thừa cơ chui qua giữa dòng người qua khỏi cửa ải là tung tăng chân sáo qua cầu. Khi phà tách bến tôi dựa lan can tha hồ mà nhìn sông nước, lũ chim hải âu hồi đó rất dạn dĩ, cứ bay theo phà tìm mồi, cứ tưởng đưa tay lên là đụng được cánh những con chim đang chấp chới trước mắt.
Khi con phà Thủ Thiêm hiện đại hơn, vượt sông nhanh hơn lũ trẻ em chúng tôi đã thành người lớn, đi xe máy, chở nhau qua phà, rẽ theo hướng tay phải tìm đến quán vịt ba món nổi tiếng, hoặc uống cà phê sân vườn trong những dịp sinh nhật, thi đỗ. Thủ Thiêm đã không còn cảnh “ngoại ô đèn vàng” nữa mà đồng ruộng đã thu hẹp dần, nhà cửa mọc lên san sát thành phố chợ, những con đường lầy lội đã tráng nhựa thẳng tắp.
Có giai đoạn tôi lại thích qua Thủ Thêm để được chạy xe thong dong trên những con đường cũ, tìm lại bóng hình xưa, một bóng trăng xưa sáng vằng vặc trong ký ức, những phút giây hoài niệm. Nghe lại tiếng vạt sảnh trong vệ cỏ, tiếng dế gáy khan, hoặc tiếng ếch kêu trong ao đầm, bưng lác nhưng tuyệt không thấy đâu, chỉ quán xá xập xình và những con đường đầy bụi, ồn ào tiếng xe và đủ thứ âm thanh cuồng nộ.
Lần cuối cùng tôi qua phà Thủ Thiêm là đi ăn với một cô bạn từ nước ngoài về. Cô ấy xa quê hương nhiều năm, về nước muốn ăn món vịt nấu chao ở chính ngôi quán xưa mà cả nhóm bạn thời cấp III thường tới ăn. Trùng hợp làm sao, hôm ấy cũng là đêm cuối cùng của con phà Thủ Thiêm đi hết cuộc hành trình lịch sử một trăm năm của mình giữa hai bờ sông đầy bóng dáng kỷ niệm của chúng tôi. Lúc trở về, đứng trên phà nhìn xuống mặt nước sông sóng gợn dập dềnh, tôi và cô bạn có lẽ đều chìm đắm trong tâm trạng tiếc nuối, nhớ tưởng tới khoảng thời gian ngàn trùng sắp sửa khuất bóng theo con phà mà chút nữa thôi, vào lúc nửa đêm nó cũng sẽ lùi vào quá khứ.
Sáng sớm ngày mai, những người đi dạo dọc bờ sông Sài Gòn trong sương sớm chắc cũng nhớ ngẩn ngơ bóng dáng con phà Thủ Thiêm mờ mờ ảo ảo lầm lũi vượt khoảng sông rộng, tiếng máy u u của nó như vẫn còn trộn lẫn vào những con sóng xô đẩy nhau tiến vào bờ đá xanh không còn bóng dáng cây cầu phà nối dài như một cánh tay chới với, hụt hẫng hướng ra ra ngấn nước giũa sông.
Cô bạn gái của tôi đã trở ra nước ngoài mà không có dịp đi qua hầm Thủ Thiêm, xem thông tin trên mạng cô gọi về hỏi tôi đã qua hầm chui hiện đại ấy mấy lần rồi, chắc là đẹp lắm, còn đi nhanh thì khỏi phải nói rồi, đúng không?. Tôi bảo với cô ấy đã đi tham quan một chuyến ngày khánh thành hầm và một lần đi uống cà phê Rio trên đường Trần Não. Hầm rất đẹp, xe máy chạy rất nhanh, không kịp hết buồn nếu người ta yêu nhau và nói lời chia tay ở bên kia cửa hầm Thủ Thiêm. Cô bạn tán thành ngay và tỏ vẻ tiếc nuối cho con phà Thủ Thiêm đã lùi vào quá khứ.
Con người ta rất mâu thuẫn về mặt tình cảm và phát triển kinh tế còn xã hội thì hầu như không chút lãng mạn khi dứt bỏ những con phà mà trên đó không biết bao nhiêu cập tình nhân đã gặp gỡ, quen nhau, yêu nhau rồi thành chồng vợ hoặc chia tay. Những con phà chở thời gian và năm tháng, chở cả bao mùa mưa nắng mà thành những kỷ niệm khó quên cho một đời người.
Có lẽ tôi là một trong nhiều người dân thành phố không thể quên con phà Thủ Thiêm. Từ ngày về lại quận 4, mỗi sáng tôi vẫn cố ý đi qua cầu Quây đã được xây lại rộng, dài, hiện đại hơn xưa, và đã được đổi tên là cầu Khánh Hội. Dưới gầm cầu có con đường chạy qua phía Q1, đó là cửa hầm Thủ Thiêm hoặc để ra Bến Bạch Đằng (theo cách gọi của dân cố cựu đất Sài Gòn) và chạy ngang bến phà Thủ Thiêm. Không còn bóng dáng con phà sơn màu trắng, lầm lũi quay đầu, xa bờ bên này hướng ra sông về phía Thủ Thiêm nữa, nhưng bóng dáng thời gian trên 100 năm đó hiện diện và bao kỷ niệm từ thủa ấu thơ cho tới ngày hôm nay vẫn còn. Rất đậm nét và khó phai mờ.



TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

NHỮNG TỔ CHIM DỒNG DỘC ĐÃ XA - TỪ KẾ TƯỜNG



 


NHỮNG TỔ CHIM DỒNG DỘC ĐÃ XA

Ngày nhỏ tôi ở quê ngoại, phía trước nhà tôi là một giồng cát, chu vi rộng bằng 2 công đất, cứ theo hai mùa mưa nắng mà mẹ tôi trồng hoa màu. Mùa nắng thì trồng dưa, mùa mưa thì trồng bí, xen kẽ vào mỗi thời vụ trồng thêm cà, đậu xanh, đậu phộng, bắp… nên giồng cát quanh năm phủ một màu xanh ngăn ngắt dưới nền trời cũng xanh thăm thẳm những đám mây màu trứng sáo xa ngút mắt như những cơn mơ thời tuổi nhỏ.
Bao quanh giồng cát ở 3 mặt là 3 hàng keo gai ken dày, cây keo gai lá nhỏ, xanh mướt chỉ có hai loài thích ăn, dưới đất là đàn dê luôn háu đói ăn tạp, trên không là bầy quýt tàu, một loại bọ cánh cứng to cỡ bọ rầy màu xanh rất đẹp đẻ trứng nhỏ xíu như trứng thằn lằn, nhiều màu mà trẻ con thích mê, thường bắt về nuôi trong hộp thuốc Tàu để… ngắm chơi. Những con quýt tàu thường đậu trên những tán keo gai ngủ ngày, lừ đừ, lười biếng cứ gặm lá keo gai non chứ không muốn bay nên trẻ con lấy cây thọc là rơi xuốn đất mà những con quýt tàu thích ngủ ngày vẫn chưa tỉnh ngủ.
Trong ký ức của tôi mùa keo gái chín cũng là mùa chim dồng dộc làm tổ. Những trái keo gai khi còn non thì màu xanh, đặc biệt khi chín thì… màu trắng sữa, vỏ nứt ra có thể nhìn thấy những “mắt” trái keo gai màu tím trắng ngon mắt bên trong, không chỉ có loài chim cưỡng bông thích ăn mà trẻ con cũng rất thích vì nó có mùi vị rất lạ, một loại trái cây hoang dại, rất đồng quê và ghi đậm vào hoài niệm một thời thơ ấu của bất kỳ ai luôn thổn thức với nỗi nhớ quê nhà.
Thủa ấy, tôi không nhớ chính xác bằng ngày tháng, chỉ khi một sáng thức đậy thấy giồng bắp của mẹ tôi trái no tròn, ngậm những tua râu hung hung đỏ nhưng chưa tới lúc hạt dày, đang đợi ngày hái trái và thảm lúa trên cánh đồng trước mặt đang trĩu bông, ngả màu vàng ươm như nắng mai thì cũng là lúc trên hàng keo gai trĩu trái chín chi chít lũ chim dồng dộc đang về xây tổ, đẻ trứng.
Không hiểu sao tôi rất thích nhìn những đôi vợ chồng chim dồng dộc tha “nguyên vật liệu” xây dựng từ trong thiên nhiên về chăm chỉ đan cái tổ hình chiếc vớ to treo lơ lững trên những nhánh cây keo gai. Có lẽ trong họ hàng nhà chim không loài nào siêng năng, cần mẫn, chăm chỉ và kỳ công xây chiếc tổ đẹp lạ lùng như chim dồng dộc. Và cũng không loài chim nào như dồng dộc chọn lựa loại “nguyên vật liệu” xây dựng tổ “cực kỳ” thơm mùi thiên nhiên, cây cỏ từ khi còn tươi đến khi khô giòn thành chiếc tổ tuyệt đẹp.
Mỗi ngày từ sáng sớm đôi vợ chồng dồng dộc khoác bộ cánh nâu, sọc đen trống mái phân biệt rất rõ bởi chim trống có cái đầu màu vàng nghệ (nên còn gọi là dồng dộc nghệ) bay đi bay về, miệng ngậm một sợi chỉ rất mảnh, đó là chỉ mà đôi vợ chồng chim dùng chiếc mỏ nhỏ xíu tướt trên những cọng lá tranh, lá sả, yếm bọc buồng dừa để về đan tổ. Bởi thế nên tổ chim dồng dộc ngoài sự kỳ công còn có mùi thơm đặc trưng của mùi lá sả, lá tranh mãi đến khi chúng ấp trứng nở con vẫn không bay thứ mùi đặc trưng đồng nội này.
Chiếc tổ của chim dồng dộc hình chiếc vớ, miệng tròn chúc xuống đất, đường kín miệng tổ chỉ cỡ cổ tay trẻ con nối với phần thân tổ phình ra giống cái bao tử (dạ dày) là nơi dùng ấp trứng lại nối với đoạn cuối của chiếc tổ tóp lại, toàn bộ độ dài chiếc tổ dồng dộc khoảng 3-4 tấc được treo lơ lửng trên chót nhánh cây keo gai mang đặc tính vùa cảnh giác, vừa phòng hộ đến độ gần như tuyệt đối an toàn để không có một “ địch thủ” nào vào được bên trong chiếc tổ kiến tạo đơn giản mà rất hiểm hóc này để ăn trứng hay ăn chim con.
Tôi cho rằng chiếc tổ chim dồng dộc là một công trình kiến trúc độc đáo, vừa công phu, mà lại vừa… đơn giản khiến cho bàn tay con người, hoặc tay nghệ nhân tuyệt kỹ cũng khó mà bắt chước được. Thế nhưng trong thời gian ngắn những đôi chim dồng dộc chăm chỉ ấy đã hoàn thành những chiếc tổ màu xanh lá cỏ hình chiếc vớ dành cho chim mái ấy, treo lủng lẳng khắp hàng keo gai bên cạnh những chiếc tổ dành cho chim trống đứng bảo vệ tổ thời kỳ chim mái ấp trứng được đan kết đơn giãn hơn giống như nửa quả bóng cao su của trẻ con chơi úp lại có một sợi dây kéo ngang cho chim trống ngủ. Và rồi cũng trong chớp mắt khi lúa chín vàng đồng cũng là lúc tôi nghe thấy tiếng chim non kêu lít nhít đòi chim bố mẹ mớm mồi trên những chiếc tổ đã ngã màu vàng rơm, thôi thúc tôi kiếm cách trèo lên khám phá thế giới không gian đầy tiếng chim ấy.
Nhưng để thò tay vào được những tổ chim dồng dộc mát mịn da tay, thơm mùi hương ngai ngái của cỏ tranh hoang dại để khám phá xem tổ chim có mấy trứng hoặc nở được bao nhiêu chim non, đã “ra ràng”, tập bay chưa, để bắt xuống nuôi thật không phải dễ dàng. Cây keo gai tất nhiên cành nhánh đầy gai nhọn không leo lên được, nếu leo lên cũng không thể bám cành đu ra tận tổ chim treo lắt lẻo giữa không gian. Lũ trẻ con chúng tôi rất sáng tạo, bắt hai cây thang tre chéo nhau, một đứa dứng vịn bên này tạo thế vững chắc, đứa bên kia leo từng bậc lên tới tổ chim dồng dộc.
Thường một tổ chim dồng dộc nở 3-4 con chim non, chim tập bay là bắt xuống nuôi được bằng cách nhai gạo sống mớm cho chim cho đến khi chúng mổ được gạo, thóc thì… thả ra cho chúng trở về với thiên nhiên cao rộng chứ chim dồng dộc chỉ biết kêu rít rít tối ngày mà không hót được. Người ta, đặc biệt là trẻ con chỉ nuôi chim sáo, chim cưỡng, chim nhồng để chúng nói, hoặc chích chòe, chào mào… để chúng hót chứ không ai tốn công sức để nuôi chim dồng dộc.
Và cũng kỳ lạ thay, hết mùa chim non này tới mùa chim non khác, những bầy chim dồng dộc đông đảo dần, rồi vào một hôm cánh đồng quê làng vừa xong vụ gặt bầy chim dồng dộc con theo cha mẹ chúng rời tổ bay khỏi những hàng keo gai, để lại những chiếc tổ hình “dạ dày”, hình “vớ” lắt lẻo, đong đưa, hoàn toàn trống vắng, lặng im trên những nhành keo gai trong gió lộng thổi suốt qua giồng bắp nhà tôi.
Không ai biết bầy chim dồng dộc bay về phương nào cho tới mùa lúa xây bông vàng rực năm sau chúng lại rủ nhau về kêu tíu tít, bận rộn đan những chiếc tổ mới bên cạnh những chiếc tổ cũ cái còn, cái mất vì bọn trẻ con chúng tôi thường thọc những tổ chim dồng dọc xuống, nhét một trái bưỡi non vào, cuộn tròn lại thành một quả banh rơm để chơi đá banh.
Đặc tính của loài chim dồng dộc không bao giờ sống trong tổ cũ mà phải xây chiếc tổ mới và, cũng chỉ trong chớp mắt trên những hàng keo gai trước nhà tôi lại lủng lẳng những tổ chim hình chiếc vớ và lại ríu rít tiếng chim non.
Nhưng đó là chuyện của ký ức, của thời thơ ấu. Sau này tôi về lại quê làng tìm đỏ mắt cũng không thấy một tổ chim dồng dộc của tuổi thơ.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2026

BUỔI TRƯA TÔI - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG



 BUỔI TRƯA TÔI


Buổi trưa buồn

Đi tìm

Buổi trưa

Gặp buổi trưa buồn trong quán cà phê không em

Dãy ghế đông người ngồi

Vẫn vắng

Tôi ngồi với tôi

Lênh đênh trên khúc nhạc đồng quê

Chợt nhớ quê

Cũng buổi trưa buồn

Tiếng gà trưa đưa tôi sang sông. Con bìm bịp chiều gọi lại

Thành phố hiện tại sao hóa ra ký ức

Ngày nắng lửa

Tiếng ve sôi

Chiếc gương mây trong vắt phản chiếu cành phượng đầu mùa

Tôi đi tìm

Buổi trưa tôi.


TỪ KẾ TƯỜNG


Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

MỜI EM CÀ PHÊ SÁNG - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG


Kết quả hình ảnh cho ẢNH LY CÀ PHÊ


 MỜI EM CÀ PHÊ SÁNG


Mời em cà phê sáng
Ta pha hồn tháng năm
Có dấu chân phiêu lãng
Buồn vui bước thăng trầm

Nắng quê nhà khoe sắc
Vàng cánh bướm cầu ao
Hoa dừa rơi trắng đất
Mùi thơm bay ngọt ngào

Sá gì ngày tháng cạn
Tiết giao mùa qua tay
Đêm dài trời hửng sáng
Thời gian lúc vơi đầy

Nghe chim cu gáy Tết
Hồn lặng gió thanh bình
Đường nhà xanh cỏ biếc
Mây ngang trời mông mênh

Sá gì cây lẻ bạn
Gió thổi lúc mồ côi
Sương giăng chiều bãng lãng
Bóng,hình thôi lẻ loi


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

THÚ VUI MÙA NƯỚC LỢ Ở MIỆT VƯỜN - TỪ KẾ TƯỜNG

 

 See original image


THÚ VUI MÙA NƯỚC LỢ Ở MIỆT VƯỜN

Khi những cơn gió chuyển mùa đẩy nước từ rạch vào mương vườn mà vốc tay hớp thử ngụm nước mát lạnh có lẫn mùi vị phù sa lờ lợ thì người miệt vườn, miệt ruộng biết là mùa câu cua đã tới. Mùa này vào khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, kéo dài cho đến lúc mưa sa thì cua rút vào hang đợi kỳ lột vỏ. Theo người quê tôi thì cua vào độ nước lợ rất chắc thịt, gạch son, mai xanh màu rêu và đôi càng vàng lườm lượm màu gạch, một màu đặc trưng của phù sa châu thổ không trộn lẫn. Cua cuối tháng ba đầu tháng tư, tháng năm mười con như một, luộc cũng ngon mà nướng lửa than miễng gáo thì bay mùi khắp xóm.
Để chuẩn bị cho việc câu cua, trẻ con lứa tuổi chúng tôi ở miệt ruộng, miệt vườn thường tranh thủ vào những ngày nghỉ học cuối tuần khi sắp bước vào mùa nghỉ hè chuẩn bị đồ nghề cho việc câu cua. Tất cả dụng cụ câu cua đều làm bằng “cây nhà lá vườn”, tuyệt không có thứ gì phải bỏ tiền ra mua ngoài chợ, vì chắc chắn ngoài chợ không có bán.
Trước tiên là cục dằn dây câu. Thủa đó tôi thường lên đồng móc đất sét dẻo ở những thửa ruộng khô, hoặc xuống vườn tìm những hang tèn hen, lựa đám bùn dẻo do chúng đùn lên miệng hang đem về làm thứ dụng cụ không thể thiếu này. Một tảng đất sét ước lượng vừa đủ để làm chừng 20-30 chục cục dằn dây câu, đất được ngắt từng cục, vo tròn trong lòng bàn tay đến khi nó tròn như một viên bi lớn cỡ mặt đồng hồ đeo tay, lấy cây que xoi lỗ rồi mang ra sân phơi nắng cho khô trắng. Thường phải mất một buổi.
Chiều, đợi lúc mẹ nấu cơm xong, than miễng gáo còn trong bếp chỉ việc lấy ống thổi, thổi bùng lên, cho thêm miễng gáo vào, đợi chúng bén lửa tỏa hơi nóng rát mặt thì cho những cục đất tròn ấy vào nung cho đến khi cháy đỏ rực thì lấy ra để nguội. Những cục đất ấy bây giờ đã chuyển màu gạch và thực chất chúng đã trở thành những viên gạch cứng không tan khi dìm trong nước để thay cho những cục chì nặng đủ sức dằn sợi dây câu không bị dòng nước cuốn trôi. Những cục đất tròn này càng nung lửa già thì càng cứng, có thể bền vững suốt một mùa câu cua mà khỏi phải thay mới.
Việc kế tiếp là xuống vườn tìm chặt những cây bình linh non, bao nhiêu cần câu thì bấy nhiêu cây bình linh, đặc biệt của cây bình linh non để làm cần câu cua lý tưởng vì nó tròn, to cỡ ngón tay và thẳng, trong khi nếu làm cần câu cua bằng tre hay trúc thì phải hơ lửa uốn mới thẳng được, việc này mất rất nhiều công sức và thời gian. Cần câu cua làm bằng cây bình linh sau khi chặt ngọn, đẵng gốc còn dài cỡ 1,5m, tướt vỏ xanh còn lại lõi trắng.
Dây câu chắc và không sợ bị cua kẹp đứt ngoài loại nhợ gai màu trắng, sợi to cỡ cây tăm tre là chuẩn, dây câu độ dài cũng cỡ 1,2m một đầu cột chặt vào cần câu, đầu khia xỏ ngang qua cục dằn dây câu, dưới đó là một vòng kẽm để móc mồi câu. Sau khi móc mồi thì gài lại bằng cách bẻ cong hai đầu vòng kẽm móc lại là xong.
Mồi để câu cua là lươn, lịch, đẻn ruộng, cá kèo hoặc cóc. Nếu chọn mồi không phải là cóc thì chặt khúc cỡ lóng tay móc vào vòng kẽm, nếu mồi cóc thì chặt con cóc làm hai để móc vào vòng kẽm. Cua mùa nước lợ háu ăn, chúng ăn đủ thứ, nhưng món khoái khẩu của lũ cua là lươn chặc khúc và cóc chặt làm đôi.
Sẽ không đủ bộ dụng cụ câu cua nếu thiếu cây vợt cán dài cỡ 1m bằng tre to cỡ ngón chân cái, vợt là một tấm lưới cá luồn qua cái vòng bằng thép nhọn phần đáy và đủ độ thòng khoảng 6 tấc cho chú cua nằm gọn trong đó không thoát ra được. Cuối cùng là một cái giỏ đựng cua, dây trói cua bằng nylon hay dây chuối, lạt dừa tùy điều kiện của người câu. Cần câu cua móc mồi sẵn, vác lên vai người câu cùng với cây vợt, vai bên kia mang cái giỏ cua và canh khi nước vừa “nhữn lớn” từ rạch bò vào mương vườn thì đi “trãi câu”.
Mỗi cây cần câu cua cắm gốc sau vào mép mương vườn sao cho đủ sức chịu đựng được lực trì kéo của chú cua ham mồi, mồi câu thả đụng đáy mương, dây câu để thẳng góc với mép bờ, cần này cắm cách cần kia khoảng 10 bước chân và… chỉ việc chờ đợi để cua ăn câu mà vợt lên thôi. Nhưng không phải chú cua nào ngoạm mồi cũng bắt được dễ dàng nếu không có kinh nghiệm của người lão luyện “tay nghề”.
Khi đi thăm câu, thấy cần câu nào mà dây câu bị kéo thẳng về một hướng, có chú cua thích kéo ngược nước, có chú cua thích kéo xuôi nước nhưng dù ngược nước hay xuôi nước người câu cua tay phải cầm vợt, tay trái nhổ cần, từ từ nhấc cần lên khỏi mặt nước sao cho khéo léo để chú cua càng “tức khí”, càng “mê mồi” không bỏ nửa chừng. Đây là cả một nghệ thuật, vì nếu nhấc mạnh thì chú cua sẽ sợ, bỏ mồi và… người câu sẽ tiếc hùi hụi. Nên nhớ câu cua không phải bằng lưỡi câu mà chỉ bằng cục mồi móc vào vòng kẽm và cua chỉ dùng hai càng ngoạm mồi đưa vào miệng “rỉa từ từ” nên rất dễ “sẩy”.
Khi người câu nhấc cần lên, vừa thấy hai càng chú cua quơ quơ ngoạm cục mồi khỏi mặt nước là lập tức đưa vợt xuống ngay xuống phía dưới cục mồi vớt chú lên, giây phút này rất quan trọng, quyết định việc thành bại của ngườ câu cua, nếu đưa vợt xuống nhanh quá thì làm chú cua hoảng loạn bỏ mồi, nếu đưa vợt xuống chậm quá thì “hỏng ăn” vì chú cua đủ thời gian lặn mất.
Cua ăn câu đủ dạng, từ chú cua “nhé” chỉ bằng miệng tách cà phê đến chú cua kình khệnh khạng nặng trên ký lô chỉ nhìn thấy đôi càng quơ quơ ngoạm cục mồi đã “ khoái chí tử” muốn run tay. Sau khi vợt chú cua lên, nếu chú còn bé quá thì thả chú xuống mương, chỉ bắt những chú cua “ trưởng thành”và rút dây trói chú lại bỏ vào giỏ. Một con nước gọi là mùa câu cua như thế không kéo dài, từ lúc nước “ nhữn lớn” đến khi nhìn thấy “nước đứng” trong mương thì nhổ cần chuẩn bị ra về. Tính ra thời gian khoảng 2-3 tiếng đồng hồ. Người câu cua giỏi, gặp ngày “trúng mánh” sẽ bắt được 5-7 ký cua là chuyện bình thường.
Câu cua là môt thú vui đồng quê, rất căng thẳng, hồi hộp và là một nghệ thuật tổng hợp bao gồm sự khéo léo, chí kiên nhẫn và rèn luyện tư duy đối phó giữa người câu cua trên bờ và một chú cua dưới nước khá gay cấn nhưng lại rất thú vị. Cuối cùng là ai thắng ai, đó mới là kết quả cuối cùng. Bảo đảm ai đã từng câu cua mà lỡ để “sẩy” một chú cua kình cỡ 500 gram đến 1 ký lô thì… ăn không ngon ngủ không yên, cả trong giấc mơ cũng thấy tái hiện cuộc “chiến đấu” lãng mạn này và sẽ tiếc mãi, ám ảnh mãi thành... kỷ niệm khó phai.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

ĐỜI CHỢ & CHỢ ĐỜI - TỪ KẾ TƯỜNG



 ĐỜI CHỢ & CHỢ ĐỜI

Bất cứ ở đâu, ngôi chợ vẫn là hình ảnh tượng trưng cho sinh hoạt đời sống của một địa phương, ngoài việc buôn bán, trao đổi trong chợ, quanh ngôi chợ còn là cảnh nhà phố, hàng quán, tiệm thuốc. Ấn tượng nhất vẫn là tiệm thuốc Bắc với những dãy hộc dài cả 3 mặt tường, chủ tiệm là người Tàu đứng trước bàn hốt thuốc, bắt mạch cho bệnh nhân. Mùi thuốc Bắc thơm hăng hắc từ trong tiệm tỏa ra tới ngoài đường.
Tôi ở làng Phú Vang, ngày nhỏ làng chỉ có trường tiểu học sơ cấp, học theo chương trình Pháp, lớp đếm ngược: lớp năm, lớp tư, lớp ba (tức lớp 1,2,3 bây giờ). Thầy giáo đều là nam, thầy giáo dạy lớp ba đồng thời là hiệu trưởng. Tôi học hết lớp ba, học cực giỏi, luôn đứng bảng danh dự, bảng danh dự có 3 hạng nhất, nhì ba…tôi ít khi nào rơi xuống hạng ba. Hết lớp ba thi sơ học, đậu lên lớp nhì phải xuống trường tiểu học xã Lộc Thuận học ké, lên lớp nhất, đậu tiểu học phải học lớp tiếp liên, gọi là lớp chuyển cấp để thi lên lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ).
Có lẽ Lộc Thuận là xã lớn nên có trường tiểu học tới lớp tiếp liên và có tới 2 cái chợ cũng khá lớn: chợ Lộc Thuận ngoài và chợ Lộc Thuận trong. Chợ ngoài vì ở gần sông, chợ trong vì ở gần lộ đá, con lộ lớn từ trung tâm thị trấn (hồi đó còn là huyện) chạy lên tỉnh Bến Tre (quẹo trái ở ngã tư huyên Châu Thành, quẹo phải ra phà Rạch Miễu xã Tân Thạch qua Mỹ Tho, Tiền Giang). Ngày nhỏ, 5-6 tuổi tôi thường được má tôi dẫn theo lúc bà đi chợ Lộc Thuận ngoài (vì chợ Phú Vang là chợ nhỏ, chợ chồm hổm chỉ bán vài thức lặt vặt). Ký ức của một đứa trẻ theo mẹ đi chợ xa, trên con đường đất viền hai vạt cỏ xanh, chạy giữa hai cánh đồng làng mênh mông vào mùa lúa cấy hay khi xong vụ gặt giáp tết thật đẹp. Tôi nhớ mãi.
Khi được học trường tiểu học Lộc Thuận tôi đã 9-10 tuổi, vì nhà xa nên mang theo cà men cơm để buổi trưa ở lại lớp ăn, chờ giờ học buổi chiều (hồi đó học ngày 2 buổi). Buổi trưa ăn cơm xong tại lớp, tôi và mấy mấy đứa bạn rủ nhau ra chợ Lộc Thuận ngoài chơi, buổi trưa chợ thưa người, nhà lồng chợ rộng thênh thang thoang thoảng mùi vải mới, mùi cây trái, mùi hành tỏi hăng hắc, mùi đường ngòn ngọt…cái mùi chợ trưa vắng người cứ đi mãi vào ký ức tôi tới tận bây giờ. Loanh quanh nhà lồng chợ tìm tổ chim sẻ chán, tôi và mấy đứa bạn đi dọc theo phố chợ nhặt những trái me tây chín khô đen, rụng lăn lốc trên vỉa hè dùng đá đập ra nhấm nháp lớp cơm mỏng bao quanh cái hột trái me tây có vị ngọt ngọt nồng, đắng đắng. Ăn nhiều quá có thể bị say, tê tê đầu lưỡi.
Thỉnh thoảng tôi mới có địp được vào chợ Lộc Thuận trong, tất nhiên cuốc bộ, đi thẳng từ nhà vào lộ đá tới chợ thì đường xa hơn là đi từ trường tôi học vào chợ. Nhưng đường nào cũng tới ngã ba Lộc Thuận và lộ đá, đây là khu vực thị tứ, sầm uất, phố sá buôn bán, tiệm cà phê, hũ tiếu, tiệm sửa xe, hớt tóc… chợ nằm sát lộ đá, đối diện ngã ba, nhà lồng chợ Lộc Thuận cũng lớn như nhà lồng chợ Lộc Thuận ngoài, thỉnh thoảng có gành hát cải lương về, hoặc đoàn mô tô bay ghé lại diễn, nhà lồng chợ được bao lại bằng vải bạt dày, xe lôi quảng cáo chạy khắp mấy làng Phú Vang, Lộc Thuận, Tân Định, Vang Quới… tiếng trống thùng thùng, thúc giục người làng đi xem hát.
Bây giờ về ở quê tôi vẫn hay đi chợ Lộc Thuận ngoài và chợ Lộc Thuận trong như đi tìm kỷ niệm xưa, lần theo dấu vết tuổi thơ trên đường đất lầy lội, bụi cát, gió lộng, tóc khét nắng… với nỗi ngậm ngùi sâu kín, nhớ lại trường học, những gương mặt thầy cô, những đứa bạn kẻ mất người còn nhưng không được gặp lại. Đặc biệt chợ Lộc Thuận trong có mấy quán cà phê cóc ven chợ, ngay ngã ba tôi rất thích ngồi ở đây để nhìn qua cửa chợ ngắm người mua, kẻ bán, quầy sạp, như một người đi tìm hình bóng xưa, gương mặt cũ. Có một lúc, chợ Lộc Thuận trong không biết nghĩ sao người ta đổi tên thành chợ Lộc Sơn, cái tên rất xa lạ, chẳng tạo xúc cảm gì, với tôi cái tên ấy lại càng vô cảm.
Nhưng may sao, gần đây chợ được xây mới, khang trang hơn, đổi lại tên cũ là chợ Lộc Thuận. Mỗi lần về quê, đi chợ, chỉ để uống cà phê, tôi thích ngồi cái quán cà phê cóc ven đường chợ, ngay ngã ba chợ để ngắm chợ, như ngắm bóng dáng tuổi thơ thôi đã gắn liền với mấy đời chợ sớm, chợ trưa và bồi hồi, xúc động như đã tìm được thứ hạnh phúc vàng đã đánh mất sau những năm tháng bụi mờ.
Nhưng cũng tiếc thay, chợ Lộc Thuận ngoài ngày xưa sầm uất bao nhiêu bây giờ trở nên đìu hiu vắng vẻ bấy nhiêu. Ngày xưa chợ Lộc Thuận ngoài có khu nhà lồng chợ rất rộng, chia ra nhiều khu vực, ngoài bác thịt cá, rau cải, củ quả còn bán vải, quanh chợ là nhà phố, buôn bán tạp hóa, tiệm chụp hình, tiệm nước…bây giờ đóng cửa, trông vẻ xác xơ. Nguyên nhân? Có lẽ do bây giờ người ta di chuyển, buôn bán hang bằng đường bộ với phương tiện xe buýt, xe đò ngược xuôi. Đường sông với phương tiện đò máy cũ kỹ chạy chậm rì rì không còn nữa.
Tuy vậy, chợ Lộc Thuận ngoài vẫn là hình ảnh đậm nét trong ký ức tuổi thơ của tôi. Ngôi chợ này không chỉ là nơi buôn bán tấp nập ban ngày mà ban đêm còn là nơi giải trí, thường có những gánh hát về đây biểu diễn. Ngày đó các gánh hát thường đi bằng ghe lớn, ghe đậu sát mé rạch. Đôi khi có cả đoàn Mô Tô Bay về dựng rạp biểu diễn. Ngày đó Mô Tô Bay gọi là xiếc, Xiếc Mô Tô Bay, rất hấp dẫn. Hấp dẫn không chỉ vì các cô gái trẻ đẹp, mặc bikini ngồi trên những chiếc mô tô bay vòng vòng mà còn bí ẩn ở chỗ không ai hiểu vì sao họ bay vòng vòng như vậy mà không bị té ngã.
Theo thời gian, xã hội phát triển, những ngôi chợ làng ngày xưa nếu không biến mất cũng đã thu hẹp phạm vi buôn bán, sinh hoạt nhường chỗ cho siêu thị, hoặc hệ thống của Bách hóa xanh rộng khắp tới các vùng quê gần, quê xa. Nơi tôi ở bây giờ cũng thế. Có lẽ một khoảng thời gian không xa, những ngôi chợ làng rồi cũng sẽ biến mất, đến một lúc nào đó hình ảnh chợ quê chỉ còn trong ký ức xa xăm.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

KHÔNG PHẢI CỬA THIÊN ĐƯỜNG - TỪ KẾ TƯỜNG




KHÔNG PHẢI CỬA THIÊN ĐƯỜNG
Truyện ngắn
Quân vẫn thường ngồi bệt ở vỉa hè chơi vài ván cờ tướng với mấy ông anh trong đội Xe ôm Tự quản. Trong đội Quân là người nhỏ tuổi nhất, hiền lành, tốt bụng, non tuổi nghề và chiếc Honda kiếm “tiền học phí” của Quân cũng thuộc vào loại tàn nhất. Mỗi lần tới tài, có khách, Quân đạp máy xe là mọi người xung quanh cười chế dĩu: Cái này là nhà máy xay lúa chứ không phải xe. Quân lúng túng, xấu hỗ như muốn độn thổ, nhưng muốn đổi chiếc xe mới hơn, loại đề chứ không phải đạp, chắc Quân phải dành dụm vài năm nữa. Bởi lẽ, tiền phòng trọ, tiền học phí, ăn uống, sách vở đã chiếm tới hai phần ba thu nhập từ nghề xe ôm của Quân sau một ngày vắt óc ở giảng đường. Quân là sinh viên ở tỉnh lên thành phố trọ học, đang năm thứ ba đại học Y Dược.
“Chiếu”. Quân vừa đặt con ngựa bức tử, buộc con tướng của ông anh trong đội không thể cục cựa để chiếu bí thì chuyến xe buýt 6 giờ chiều vừa tắp vào bến. Quân rời bàn cờ, đứng lên chạy tới cửa trước chiếc búy để đón khác. Trên xe bước xuống là một cô gái trẻ, khỏang 18 tuổi, cao ráo, mặt trái xoan, mắt to đen, tóc dài, nước da trắng đúng nghĩa của gái miệt vườn. Cô gái mặc bộ jeans xanh, áo thun ngắn tay màu đen càng làm tăng thêm nước da trắng hồng. Cô gái bước xuống xe, đôi mắt ngơ ngác nhìn quanh, chiếc túi xách cầm hờ hững trong tay. Quân mời chào:
- Em về đâu, anh chở cho. Cẩn thận chiếc túi xách, hớ hênh là bị giật đó. Kẻ xấu thường trà trộn trong đám đông khi xe buýt vào bến.
Cô gái thu chiếc giỏ xách, ôm chặt trong tay. Quân đoán chiếc giỏ xách chắc không có tài sản gì quý giá ngoài mấy bộ quần áo và vật dụng cá nhân của cô gái.
- Anh có đi về ngã tư Phú Nhuận không?
- Đi chứ.
- Bao nhiêu?
- 40.000 đồng.
- Sao mắc vậy?
- Không mắc đâu em, biết em ở tỉnh lên nên không nói thách. Đây là đội Xe ôm Tự quản, chỗ khác họ nói ít nhất cũng 60.000 đồng.
Cô gái mím môi, nhìn Quân dò xét. Gương mặt trắng trẻo, hiền lành, bộ đồng phục xe ôm màu xanh trên vai áo cón in 4 chữ cái màu trắng XOTQ có đã tạo cho cô gái sự yên tâm.
- Anh chở em tới địa chỉ này.
Cô gái chìa ra mảnh giấy, ghi nguệch ngoạc mấy dòng chữ to bằng bút bi: Nhà hàng karaoke Đông Châu, đường…Quân trả mảnh giấy, nhìn sững cô gái:
- Em biết chỗ này là chỗ gì không?
- Nhà hàng ăn uống, có hát karaoke. Đang tuyển tiếp viên phục vụ.
- Sao em biết?
- Một chị bạn dưới quê làm quản lý bảo em lên đây để đi làm. Mẹ em xin chị đó, nhờ bà con xa nên em mới được nhận, hôm nay em lên đi làm.
- Em biết đây là nhà hàng bia ôm không?
- Bia ôm là gì?
- Đàn ông vào trong đó uống bia, hát karaoke. Nếu em làm tiếp viên là phải ngồi với khách, tiếp bia và để cho khách…ôm để nhận tiền boa.
Cô gái ngỡ ngàng:
- Sao chị ấy nói là nhà hàng ăn uống bình thường?
- Bình thường…con mắt em đó. Em làm tiếp viên là phải chiều khách, mấy ông uống bia xỉn, hát karaoke…bằng tay. Em biết chứ?
- Hồi nào tới giờ em có làm tiếp viên đâu mà biết. Nhưng thôi, dù sao em cũng tới gặp chị đó, làm được hay không thử mới biết. Không gặp chị đó mẹ em đánh chết, mẹ em bắt em nghỉ học để đi làm kiếm tiền về trả nợ, xây nhà, giống như mấy chị ở xóm. Làm nhà hàng kiếm tiền nhiều lắm.
Quân thờ dài:
- Em không nên thử, có những việc không thể thử được, như nghề làm tiếp viên nhà hàng bia ôm.
- Nhưng em không thể trở về mà không gặp chị ấy. Chị ấy bảo 3-4 giờ là nhà hàng hoạt động, chị ấy chờ em. Do không biết đường em đi lạc tuyến xe buýt nên giờ tới trễ. Anh chở em tới đó giùm, nhanh lên.
- Nhưng…
- Nếu anh không đi em sẽ nhờ mấy chú kia…
Sau khi dừng xe trước cửa nhà hàng Đông Châu cho cô gái xuống, Quân chỉ lấy 30.000 đồng tiền xe, vừa đủ đổ một lít xăng rồi chỉ kịp đưa cái cart nghề nghiệp cho cô gái và dặn:
- Có gì cần giúp đỡ em cứ gọi di động cho anh. Tên và số điện thoại của anh có in trong cart.
***
Khoảng 11 giờ đêm, trong lúc Quân đang học bài thì điện thoại của anh có người gọi tới. Một số máy lạ, Quân bấm nghe, từ đâu dây giọng một cô gái hấp tấp, vẻ cầu cứu:
- Anh xe ôm ơi, anh Quân phải không, tới chỗ hồi chiều chở em ra bến xe miền Tây giùm. Anh đến ngay nghe, đậu xa xa cửa nhà hàng rồi em ra, em tên Lan Anh, cô gái hồi chiều…
Điện thoại cúp không để cho Quân kịp nói câu nào. Quân vội vã dẫn xe ra cửa, đạp máy, phóng nhanh tới nhà hàng Đông Châu. Anh dừng xe ngay góc ngã ba, gần nhà hàng hồi hộp đợi. Khoảng 15 phút sau Lan Anh loáng thoáng hiện ra trong ánh đèn đường và đi tới chỗ Quân. Cô có vẻ đã say, giọng luýnh quýnh:
- May quá, anh đã tới. Em trốn chị quản lý nói là đi tắm cho bớt xỉn rồi theo chị ấy về nhà. Nhưng em trốn cửa sau ra đây. Anh chở em ra bến xe miền Tây để em về quê. Em không thể làm tiếp viên nhà hàng đó đâu.
- Giờ này khuya rồi, biết xe còn chạy không?
- Xe chạy sáng đêm mà anh.
- Nhưng em đang say.
- Không sao đâu anh.
Quân chở Lan Anh ra tới bến xe đã nửa đêm. Bến xe vắng khách. Chuyến sớm nhất cũng xuất bến lúc 3 giờ sáng. Sau khi vào quầy mua cho Lan Anh chiếc vé về Bến Tre, Quân đề nghị hai người đi ăn khuya, uống cà phê lề đường trước cổng bến xe chờ giờ xe chạy.
Lan Anh đã bớt say, giọng bớt luýnh quýnh, nhưng đôi mắt đẹp của cô vần còn long lanh, ửng đỏ. Lan Anh nhìn Quân nói:
- Cám ơn anh đã giúp đỡ em trong lúc tứ cố vô thân. Anh là người tốt. Anh là sinh viên chạy xe ôm để kiếm thêm tiền học à?
- Còn em học lớp mấy rồi sao nghỉ học?
- Em học hết lớp 11, mẹ em bảo con gái không nên học nhiều mà cần đi làm để kiếm tiền giúp cha mẹ, trang trải nợ nần cho gia đình, xây nhà bào hiếu cho cha mẹ giống như mấy chị ở xóm em cũng nghỉ học sớm để lân thành phố đi làm. Em không nghĩ làm tiếp viên lại ghê như vậy?
- Ghê là sao?-Quân cười cười.
- Mấy ông đàn ông uống bia xỉn kéo áo em xuống…
- Anh đã nói mà em không tin.
- Em đúng là dại dột.
- Nếu em bỏ làm tiếp viên về quê sẽ ăn nói sao với mẹ?
- Em nói chỗ đó rất bậy bạ không phải chỗ đàng hoàng. Nếu mẹ em cứ áp lực buộc em phải làm tiếp viên để kiếm tiền thì em bỏ nhà lên thành phố tìm việc làm lương thiện hơn, như công nhân mấy khu công nghiệp chẳng hạn.
- Tốt nhất là em cố gắng học nữa, trường hợp phải đi làm công nhân cũng phải tranh thủ học thêm. Em cố gắng tốt nghiệp lớp 12 nếu vượt qua đại học càng tốt. Áp lực kiếm tiền của gia đình quả nặng nề, nhưng không vì áp lực đó mà sa chân lỡ bước.
- Anh Quân quả là người tốt. Nếu không gặp anh chắc em…cám ơn anh rất nhiều.
- Không cần phải nói cám ơn anh đâu. Em ăn đi rồi uống cà phê cho tỉnh táo đợi giờ lên xe. Về nhà rồi, có gì cần cứ gọi cho anh. Em vẫn giữ tấm cart của anh chứ?
- Em vẫn giữ đây.
Rồi cũng tới giờ chia tay. Lan Anh lên xe. Quân chờ ở cổng để nhìn thấy Lan An vẫy tay tạm biệt anh và cười, nụ cười trong sáng, yên bình của cô gái vừa thoát nạn. Quân cũng thật vui chạy xe trên con đường thưa người để trở về nhà trọ. Một ngày mới lại bắt đầu.


TỪ KẾ TƯỜNG


Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

NGỒI DỰA LÃO MAI - TỪ KẾ TƯỜNG


 

NGỒI DỰA LÃO MAI
Ngôi nhà lầu ấy hiện ra trước mắt tôi giống như trong truyện Liêu Trai của Bồ Tùng Linh. Màu ngói cũ phủ rêu xanh mốc trắng nằm lặng dưới nền trời chiều, cái mái rêu phủ cả sức nặng thời gian ấy, ở những chỗ ngói bể không hiểu sao lại nhô lên mấy bụi cỏ gió trơ gầy, phất phơ như điểm xuyết thêm cho bức tranh gam màu lạnh toát lên cho người ngắm không gian u hoài một cảm xúc nao lòng. Những khoảng tường trống ngày xưa chúng tôi chơi trốn tìm, những bậc cầu thang uốn lượn dẫn lên vuông sân hoang phế với màu gạch của buổi phai tàn ngày xưa chúng tôi tắm mưa đùa giỡn tiếng cười đi xuyên qua các căn phòng trống của ngôi nhà không còn ai, chỉ trơ những cái bóng lừng lững của mấy hàng cột cháy đen.
Dưới chân khoảng bao lơn ôm lấy vuông sân xưa cũ vẫn chi chít những hàng cây lách tách lá xanh, bông tím, nhô ra những chùm trái khô đen có hình dạng như những cây tăm xỉa răng, bê trong có rất nhiều hạt giống như hột é. Chúng tôi vẫn thích trò chơi nghe âm thanh lách tách bằng cách ngắt những chùm trái khô đen này ngâm vào chén nước mưa, lập tức những trái lách sẽ nứt ra làm đôi và những cái hạt bên trong sẽ nổ “ lách tách” giòn tan giữa ánh mắt tròn xoe của đám trẻ con lên chín, lên mười vì đã phát hiện ra một loại trái nghộ nghĩnh. Tất nhiên những hàng cây hoang dại hoa tím, trái khô cong ấy không phải tên “ lách tách”. Chúng có một cái tên khác nhưng tôi không còn nhớ, chỉ nhớ rằng, ngày xưa chúng tôi gọi cây này là cây lách tách.
Ngôi nhà lầu có lẽ xây dựng suýt soát 100 năm,nhưng những viên gạch nền còn sót lại sau những năm tháng thăng trầm của ngôi nhà và nhiều thế hệ chủ nhân vẫn còn như mới tinh khôi, màu xanh da trời, độ bóng láng như gương và hoa văn in chìm rất sắc sảo. Loại gạch này không chỉ lót nền mà còn gắn trên bệ cửa rộng đủ một người nằm, ngày ấy, vào những buổi trưa gay gắt nắng, chúng tôi vẫn nằm ở đây ngắm mây trời bay qua khu vườn rộng mênh mông phía trước ngôi nhà lầu và lắng nghe cảm giác mát lạnh sảng khoái dưới lưng áo. Tôi đã có những buổi trưa tuyệt vời, nằm ngủ miên man trong tiếng chim sẻ kêu ríu rít trên mái ngói hay những hốc tường bể, lỗ hổng của những thanh đòn tay, vì kèo mục ruỗng mà lũ chim sẻ thích chọn làm tổ.
Trong khu vườn mênh mông trồng vú sữa trắng, vú sữa tím mà vào dịp Tết cành nhánh lủng lẵng trái chín rất đẹp, những bụi bông trang vàng, đỏ, bùm sụm, dạ lý thủy bông trắng từng chùm rũ xuống, rất thơm. Rồi những bụi chuối Tây, cau kiểng, thiên tuế giương những tàu là hình răng lược mà ngày đó bọn trẻ con chúng tôi không biết chúng quý hiếm thế nào, chỉ thấy sờ ợ những chiếc răng nhỏ, sắc bén như gai tre này. Đặc biệt nhất trong khu vườn là những cây mai vàng trồng trong chậu xoay to lớn xếp thành hàng dài làm một thứ hàng rào tự nhiên ngăn khu vườn với con đường chạy ngang phía trước ngôi nhà lầu. Những cây mai vàng rất cao cành nhánh bung ra tự nhiên, đẹp hoang sơ sẽ được tuốt hết lá già từ chiều 20 tháng chạp để đơm nụ và kịp nở đúng hôm 30 tết. Tôi là một thành viên luôn có mặt để phụ tuốt lá mai với với ba chị em con của chủ nhân ngôi nhà lầu ấy mà không hiểu sao tôi lại gọi bằng bà ngoại ba, và gọi ba chị em con bà tuổi liền kề nhau bằng dì: dì Mười Điểm, dì Mười Bé và dì Mười Út.
Hồi đó dì Mười Điểm khoảng 16 tuổi, dì Mười Bé 15 và dì Mười Út 14. Dì Mười Điểm đẹp nhất, gương mặt rất thánh thiện, phúc hậu, nước da trắng hồng, mái tóc đen buông dài…họ học trên Mỹ Tho và trở về buổi trưa theo chiếc đò máy ngược nước thủy triều lên với cuộc hành trình tất bật ngày cuối năm ghé ngang Bến Bạ để kịp vào chiều 20 rũ nhau tuốt lá mai. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in ba gương mặt con gái ấy, mỗi người một vẻ “ mười phân vẹn mười”, nghĩa là cả ba cô gái đều đẹp lộng lẫy, rất “ tiểu thư” và hầu như cả ba cô gái đều rất thương mến tôi, nhưng có lẽ thương và gần gũi với tôi hơn cả là dì Mười Điểm. Mỗi năm nghỉ học về nhà ăn tết, bao giờ dì Mười điểm cũng có quà cho tôi, khi thì cây viết mực, khi thì quyển sách, khi thì bộ quần áo. Còn dì Mười Bé và dì Mười Út thường cho tôi những thanh kẹo sô cô la hoặc những trái ổi sẻ, trái lý, trái sa-bô-chê, hoặc trái lựu có rất nhiều trong vườn quanh nhà. Cách tuốt lá mai của ba chị em cũng rất lạ, không bao giờ chia ra mỗi người tuốt một cây mà cả ba cùng xúm nhau tuốt với tôi nữa lá bốn, tướt từ gốc lên tên ngọn mai và khi họ vói tay không tới thì dì Mười Điểm lập tức nhìn tôi bằng đôi mắt có hàng mi dài, mở to, đen tròn, với sức hút mãnh liệt và nở nụ cười rất đẹp, giọng rất ngọt ngào: “ cưng, đi lấy cái thang”.
Hơn ba mươi năm chiến tranh trôi qua, trong thời gian ấy ba chị em dì Mười Điểm cũng qua hết thời thiếu nữ, mỗi người chắc đã có gia đình riêng và nổi trôi theo số phận đời mình. Tôi hoàn toàn không gặp lại cả ba chị em họ trong suốt thời gian chiến tranh và sau ngày giải phóng có dịp trở lại quê nhà tới thăm ngôi nhà lầu, người chủ mà tôi gọi bằng bà ngoại ba đã chết, ngôi nhà dưới phía sau ngôi nhà lầu rộng thênh thang với bàn ghế xưa, tủ thờ khảm xà cừ và những cây cột gõ mun hai người vòng tay ôm mới hết hoàn toàn biến mất, chỉ còn trơ lại nền đất trống hoang tàn. Ngôi nhà lầu vẫn còn đứng vững nhưng giờ trông càng hoang phế hơn, ba chị em con bà ngoại ba mà tôi gọi bằng dì cùng thứ mười nghe nói đã ra nước ngoài. Khu vườn nhiều cây trái đã không còn dấu vết của những chậu thiên tuế, đặc biệt là những cây mai trồng trong chậu xoay to lớn cũng biến mất, khu vườn đầy cỏ dại và lá mục. Trong buổi chiều 30 tết càng toát lên vẻ hoang vắng, thôi thúc lòng tôi một nỗi hoài niệm ngậm ngùi.
Nhưng thật bất ngờ làm sao khi tôi phát hiện ra một gốc mai cổ thụ còn sót lại ở góc trái cuối khu vườn. Đúng là dáng một “ lão mai”, gốc rất to, sù sì gân guốc, tàn lá cao rộng, rậm rì, chí chít lá là lá. Do không ai chăm sóc và tuốt lá nên cho đến giờ này “ lão mai” cũng chỉ lác dác vài ba chồi nụ hiếm hoi trong khi ngày xuân đã chực chờ bên thềm cửa. Tôi vội trèo lên, làm công việc tuốt lá mai giống như ngày xưa với ba chị em dì Mười Điểm. Khi những chiếc lá cuối cùng rơi xuống gốc “ lão mai” tôi đã có một thảm lá héo vàng rất dày bay mùi thơm của nhựa sống vừa tươm ra ở chỗ những “vết thương” còn để lại trên cành nhánh trơ trụi, sần sùi. Ở chỗ những “ vết thương sâu” ấy đã bắt đầu có sự sống mới đang hồi phục, luân chuyển và ngày mai sẽ bung ra chồi nụ xanh tươi để bừng nở một mùa vàng. Tôi ngồi xuống thảm lá mai mới ngắt, tựa lưng vào cái gốc sần sùi vững chắc chứa đựng nhiều năm tháng ấy và ngước lên một khoảng trời chiều sót lại những vạt nắng muộn nhạt màu, bàng bạc như cảm xúc xa vời vợi tận đâu đâu chợt kéo ùa về. Tôi nhắm mắt và thả tâm hồn mình lang thang vào cõi không gian ùn ùn kỷ niệm ấy với hình ảnh của ba chị em dì Mười Điểm trong một chiều cuối năm cùng tuốt lá mai chờ tết. Họ đang ở đâu?
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(thơ Vũ Đình Liên).


TỪ KẾ TƯỜNG