CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÙY BÚT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÙY BÚT. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

MỘT BƯỚC VỌT CỦA THỜI ĐẠI - HUỲNH TÂM HOÀI

 

Có thể là đồ họa về văn bản


MỘT BƯỚC VỌT CỦA THỜI ĐẠI

Từ những năm 1950 đến hôm nay, năm 2026, chỉ hơn bảy mươi năm trôi qua, nhưng khoa học và kỹ thuật đã tạo nên một bước tiến thật khó tưởng tượng.
Tôi còn nhớ thuở nhỏ, tôi ở xứ hóc bà tó Cồn Cù, chung quanh chỉ thấy ruộng muối, rừng và đồng ruộng. Những gì quen thuộc với tôi lúc ấy là con trâu, cái cày và những người nông dân chân lấm tay bùn.
Lần đầu tiên nhìn thấy một chiếc xe hơi, tôi ngạc nhiên lắm. Nhìn chiếc xe to như vậy, trong bụng tôi nghĩ: “Chắc phải hai con trâu mới kéo nổi!”
Rồi tôi thấy người ta khởi động xe bằng một thanh sắt cắm vào phía trước đầu máy, dùng sức của hai cánh tay quay thật mạnh cho động cơ nổ.
Điều làm tôi kinh ngạc hơn cả là chiếc xe chẳng cần con trâu nào kéo mà vẫn tự chạy bon bon trên đường.
Với một đứa trẻ lớn lên giữa ruộng đồng Cồn Cù thời ấy, đó quả thật là một điều kỳ diệu.
Vậy mà ngày nay, xe chỉ cần bấm nút là khởi động, có thể chỉ đường, cảnh báo nguy hiểm, giữ khoảng cách, thậm chí có loại còn tự lái trong một số điều kiện.
Ngày xưa, muốn gửi một lá thư đi xa phải chờ nhiều ngày, có khi nhiều tuần. Ngày nay, chỉ cần chạm tay vào màn hình, lời nói và hình ảnh đã vượt nửa vòng trái đất trong khoảnh khắc. Người ở cách nhau hàng ngàn cây số vẫn có thể nhìn thấy và trò chuyện với nhau như đang ngồi trước mặt.
Từ chiếc radio, ngọn đèn dầu, điện thoại quay số, máy đánh chữ của một thời, con người đã đi đến máy vi tính, điện thoại thông minh, Internet và trí tuệ nhân tạo. Máy móc ngày nay có thể nghe, nói, dịch thuật, tìm kiếm tài liệu, sáng tác âm nhạc, tạo hình ảnh Từ chiếc radio, ngọn đèn dầu, điện thoại quay số, máy đánh chữ của một thời, con người đã đi đến máy vi tính, điện thoại thông minh, Internet và trí tuệ nhân tạo.
Ngày nhỏ, đọc chuyện, Đường Minh Hoàng lên cung trăng, tôi cứ nghĩ chuyện con người lên tới Mặt Trăng chỉ có trong huyền thoại và trí tưởng tượng. Vậy mà rồi chính trong đời mình, tôi đã được chứng kiến con người phóng phi thuyền vào không gian và thật sự đặt chân lên Mặt Trăng..
Nhìn lại từ năm 1950 đến năm 2026, tôi có cảm tưởng mình không chỉ sống qua hơn bảy mươi năm, mà như đã đi qua nhiều thời đại khác nhau. Từ đứa trẻ nhìn chiếc xe hơi mà nghĩ phải có hai con trâu mới kéo nổi, đến ngày thấy chiếc xe tự chạy,được thấy con người lên Mặt Trăng, rồi con người chuyện trò với trí tuệ nhân tạo — quả thật là một bước vọt lớn của thời đại. Có lẽ những người đã sống qua cả hai thời kỳ như chúng tôi mới cảm nhận hết sự kỳ diệu nầy. Bởi chính đôi mắt này đã từng nhìn thấy một thế giới cũ, rồi cũng chính đôi mắt này lại được nhìn thấy những điều tưởng chỉ có trong mơ trở thành hiện thực. Tương lai chắc còn nhiều điều nữa nhưng rất tiếc chắc tôi không còn để chứng kiến.


HUỲNH TÂM HOÀI

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

LỜI HẸN - HUỲNH TÂM HOÀI

 


May be an image of one or more people and text that says 'Ở xα nhau... nhưng còng luôn Hen một ngày không xa, ta chung một mái nhà, sống bên nhau đến hết cuộc Cu CALIFORNIA Khoáng sdich 2,800 miles FLORIDA California Anh oi! Chiều nay nắng đẹp, nhưng lòng nhồ anh. bên nhau, Mang ngày mình uống chung tách trà, ngắm hoàng hôn... Em yeи! Đém nay gió mát, anh lại nhớ nhiêu Ráng giữ sức khỏe nhé, ngày ây minh không xa nnoM Hua... Florida Hẹn ngày ẹgày... về...'


LỜI HẸN.

(Chuyện hai người bạn già)
Chúng tôi là hai người bạn gìa,hai người quen nhau từ trước qua văn chương. Ban đầu chỉ là những người bạn chữ nghĩa, đọc bài của nhau, đôi khi trò chuyện và chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Khi bà biết tôi sống một mình, còn bà cũng đã trải qua một cuộc hôn nhân không trọn vẹn và sống một mình như tôi, có lẽ từ sự cô lẻ ấy mà chúng tôi dần gần nhau hơn.
Tôi ngỏ lời. Sau vài lần đắn đo, bà nhận lời.
Chúng tôi sống ở hai tiểu bang xa nhau nên mỗi năm chỉ gặp được vài lần. Những cuộc gặp ở tuổi này chẳng cần những lời yêu đương ồn ào. Chỉ cần được ngồi cạnh nhau, cùng ăn một bữa cơm, uống một tách cà phê, kể nhau nghe đôi chuyện đời thường cũng đã đủ ấm lòng.
Bà hứa với tôi rằng khi về hưu, sau khi thu xếp xong công việc và những bổn phận còn lại, bà sẽ về sống bên tôi đến cuối đời.
Tôi hiểu và không muốn thúc giục. Bởi ở tuổi chúng tôi, ai cũng có một cuộc đời phía sau, có gia đình, trách nhiệm và những điều không thể nói bỏ là bỏ. Tôi chỉ mong một ngày bà về không phải vì thương hại tôi cô độc, cũng không phải vì nghĩ mình có trách nhiệm chăm sóc tôi, mà đơn giản vì bà muốn sống bên tôi.
Như thế mới là tình.
Nếu ngày ấy đến, tôi cũng mong bà hiểu rằng trong căn nhà này vẫn còn những kỷ niệm của tôi . Có những tấm hình tôi vẫn giữ, những món đồ tôi không thể bỏ và đôi khi có những phút tôi ngồi lặng nhớ về một đoạn đời xưa.
Nhưng ký ức không phải là sự phản bội hiện tại.
Chúng tôi già rồi, ai cũng có quá khứ. Nếu một người thương tôi ở tuổi này, tôi mong người ấy thương cả con người tôi hôm nay lẫn những dấu vết của cuộc đời đã làm nên tôi.
Bởi chúng tôi đâu còn là hai tờ giấy trắng gặp nhau.
Chúng tôi giống như hai cuốn sách đã viết gần hết, mỗi cuốn đều có những chương vui buồn và những trang không bao giờ muốn quên. Nếu một ngày được sống chung dưới một mái nhà, có lẽ chỉ là lúc hai cuốn sách ấy cùng viết thêm một chương cuối.
Tôi không mong một tình yêu màu mè,rực rỡ. Tôi chỉ mong một tình yêu bình yên. Buổi sáng có hai tách cà phê trên bàn, bữa cơm có hai người ngồi đối diện. Khi còn khỏe thì cùng nhau đi; một người yếu thì người kia đi chậm lại; nếu cả hai cùng yếu thì nắm tay nhau mà bước.
Ở tuổi này, hạnh phúc đâu còn đo bằng năm tháng.
Nếu trời cho chúng tôi mười năm, tôi quý mười năm. Nếu chỉ còn năm năm, tôi quý năm năm. Và nếu ngắn hơn nữa, tôi vẫn quý đoạn đời ấy.
Tôi vẫn chờ bà.
Không thúc giục, nhưng có mong.
Và đôi khi nhìn tách cà phê một mình trên bàn, tôi lại nghĩ:
Rồi một ngày, tôi sẽ pha hai tách.
Một cho tôi.
Một cho bà.
Nếu ngày ấy thật sự đến, có lẽ tôi chỉ cần nói:
“Cảm ơn bà đã về.”


HTH

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

VỀ HUẾ THẢ OM - TRẦN KIÊM ĐOÀN

 


VỀ HUẾ THẢ OM

Trong gần nửa thế kỷ phiêu bạt, tôi đã có dịp tìm đến và cúi nhìn bóng mình trên nhiều dòng sông được xem là “thiêng” của thế giới: Mississippi mênh mang, Seine thơ mộng, Thames trầm mặc, Hoàng Hà cuộn màu lịch sử, Hằng Hà chở nặng đức tin, Tiền Đường dậy sóng, Nile âm thầm nuôi dưỡng một nền văn minh… Chỉ riêng Amazon: dòng sông hùng tráng và bạo liệt bậc nhất hành tinh; là tôi chưa một lần được thấy.
Nhưng sông lớn đến đâu cũng chỉ chảy qua miền đất lạ. Có những dòng sông không cần nổi tiếng mà vẫn chảy suốt một đời người. Chúng không nằm trên bản đồ thế giới, mà nằm trong bản đồ tâm tưởng; càng đi xa càng thấy gần, càng lớn tuổi càng nghe tiếng nước gọi về.
Với tôi, đó là sông Bồ quê Cha và sông Hương xứ Huế; nơi tôi từng bước trưởng thành mở rộng trí óc và nhân rộng hướng đời.
Tôi đã từng dầm mình trong nước sông Bồ để thương, từng vốc nước sông Hương để nhớ. Sông Bồ đục trong theo mùa, chở phù sa qua những bãi bờ Nam Thanh, An Thuận, Hương Cần, Liễu Cốc Hạ, Cổ Lão, Dương Sơn… sông Hương thành Huế của tôi xanh một màu gần như hư ảo, đi ngang kinh thành mà vẫn giữ dáng thong dong của một dòng sông biết mình đẹp.
Sông Bồ để vớt om.
Sông Hương để thả om.
Răng lạ rứa hè?
Chỉ bốn tiếng thôi mà nghe đã ra giọng Huế. “Răng lại rứa?” không hẳn chỉ là “Why is that?”, “Why so?” hay “Why did that happen?”. Trong câu hỏi ấy còn có chút ngạc nhiên, chút trách yêu, chút ngậm ngùi và cả một nụ cười rất nhẹ. Người Huế hỏi mà như không cần trả lời; bởi đôi khi câu trả lời đã nằm sẵn trong giọng nói.
Cũng như “Thả Om”: nghe qua tưởng chỉ là một động tác bình thường, nhưng bước vào thế giới Huế, nó lại mở ra cả một miền văn hóa.
Om là chiếc nồi đất nhỏ, thường dùng để nấu cơm, nấu cháo, kho cá. Một vật dụng quê mùa, khiêm nhường, quanh năm nằm bên bếp lửa. Om không quý như đồ ngự dụng, không sang như chén kiểu, không được đặt trong tủ kính để người đời ngắm nghía. Nhưng chính chiếc om đất ấy đã nuôi sống biết bao mái nhà, giữ hơi ấm cho biết bao phận người. Bởi thế, khi lâm vào cảnh tận cùng tuyệt vọng, người Huế chỉ còn biết kêu lên: “Rứa là xong om rồi đời!”
“Om” và “niêu” đều là nồi làm bằng đất nung, nhưng khác nhau đôi chút về cách gọi, hình dáng và công dụng:
Niêu là từ phổ thông trên toàn quốc, thường chỉ chiếc nồi đất nhỏ, thân tròn thấp, miệng tương đối rộng, nắp đậy kín; chủ yếu dùng nấu cơm.
Om là tiếng cổ và tiếng địa phương miền Trung, đặc biệt quen thuộc ở Huế. Om thường có thân tròn sâu, bụng phình, miệng thu nhỏ hơn; dùng nấu cơm, kho cá, rim thịt hoặc sắc thuốc. Om Phước Tích nổi tiếng từng được dùng để nấu cơm tiến vua nên còn gọi là “om ngự”.
Nói gọn lại thì là:
Niêu là tên gọi phổ thông; om là tên gọi đậm chất Huế.
Niêu thiên về nấu cơm; om có công dụng rộng hơn.
Trong đời sống Huế xưa, hai chữ đôi khi được dùng thay nhau. Nhưng “om” mang hồn quê và sắc thái văn hóa rõ hơn: nghe chữ “om” là gợi đến bếp lửa, làng gốm Phước Tích và bữa cơm xứ Huế.
Cơm niêu xứ Bắc nên đổi tên thành Cơm Om xứ Huế.
Thả om, theo nghĩa đen, là buông chiếc om xuống nước.
Nhưng người Huế có tài làm cho một việc nhỏ trở thành một câu chuyện dài; đem cái bình thường phủ lên một lớp sương huyền thoại, để khi sương tan rồi, lòng người vẫn còn vương vấn.
Chiều nay, 25 - 8 - 2026, chúng tôi được vợ chồng bạn Vinh và Tôn Nữ Cẩm Tú mời họp mặt ở “THẢ OM VIÊN” (THA OM GARDEN: DRIFTING POT GARDEN) 12/12 Nguyễn Phúc Nguyên Huế. Cụm từ hay nhóm chữ giới thiệu tên riêng và địa chỉ này là do Trí Tuệ Nhân Tạo AI cung cấp khi tôi lạc đường và hỏi Chat GPT đó nhé.
Một buổi chiều “Thả Om” không bị trôi mất chi cả mà được vớt lại cả hàng chục món ăn Huế Cột Cờ toàn ròn do chủ nhân biến tấu tài hoa từ sản vật địa phương và cây trái trong vườn.
Cuộc họp mặt đã thú vị; tinh thần Huế Thả Om lại càng thú vị hơn.
Theo giai thoại lưu truyền ở vùng Kim Long mà tôi được nghe chàng Bá Vinh một nghệ nhân tài hoa và Một Nửa Bên Tê của chàng là nàng Cẩm Tú ; một Tôn Nữ vắng bóng Hoàng Thành kể lại, chuyện xảy ra vào thời vương triều Nguyễn đã thoái trào dưới bóng chế độ thực dân Pháp.
Thuở ấy, nhiều gia đình hoàng phái không còn quyền thế và sản nghiệp như xưa. Cung điện đã xa, bổng lộc không còn, nhưng phong thái vương giả vẫn chưa dễ gì rời khỏi nếp sống. Nhà có thể nghèo, áo có thể cũ, bữa ăn có thể đạm bạc, nhưng cái “lề” thì vẫn phải giữ. Giấy đã rách mà đường gấp vẫn còn nguyên.
Một buổi chiều Rằm tháng Bảy, có vị vương tôn ở miệt Kim Long, trong nhà chỉ còn chút gạo đủ nấu một om cháo loãng. Khi trời nhá nhem, “Mệ” mang chiếc om xuống bến sông Hương rửa. Chẳng may, một người hàng xóm có phần tọc mạch đi tới, cất tiếng hỏi:
“Mệ đem om chi xuống rứa?”
Không muốn người ta nhìn thấy đáy om, càng không muốn ai biết bữa chiều của mình chỉ có một chút cháo nghèo, Mệ không phân bua, cũng chẳng than thở. Mệ chỉ lặng lẽ buông tay.
Chiếc om đất rời khỏi bàn tay, chạm mặt nước rồi chầm chậm trôi theo dòng sông.
Một gia sản cuối cùng đã được thả đi để giữ lại một điều không thể cầm nắm: lòng tự trọng.
Chuyện thật đến đâu, chẳng ai dám quả quyết. Giai thoại vốn không phải là sử ký. Nhưng có những câu chuyện không cần đúng từng chi tiết mà vẫn đúng đến tận đáy tâm hồn của một vùng đất. “Thả Om” là một câu chuyện như thế.
Trong khoảnh khắc ấy, cái nghèo được giấu kín, thể diện được giữ nguyên, còn nỗi buồn thì gửi lại cho sông Hương. Đó là một dáng vẻ vừa đáng thương, vừa đáng kính; vừa kiêu hãnh, vừa ngậm ngùi. Có chút phù hoa của một thời đã khuất, nhưng cũng có khí tiết của người không muốn đem cảnh ngộ riêng mình làm phiền đôi mắt thế gian.
Người ngoài có thể cho rằng đó là sĩ diện. Người Huế lại hiểu đó là lòng tự trọng. Giữa sĩ diện và tự trọng đôi khi chỉ cách nhau một làn nước mỏng. Sĩ diện là giữ cái nhìn của người khác; tự trọng là giữ phẩm giá trong chính mắt mình. Vị vương tôn nghèo kia có lẽ mang cả hai. Nhưng chính sự pha trộn không hoàn toàn rạch ròi ấy mới làm nên con người thật, và cũng làm nên cái “rất Huế”.
Huế xưa sống nhiều bằng uyển ngữ. Nghèo không nói là nghèo, chỉ bảo “nhà tui còn cực!” Buồn không nói là buồn, chỉ thở dài: “Răng mà lạ rứa tề!” Thương ai không dễ nói rằng thương, chỉ hỏi một câu: “Đi mô mà lâu rứa?” Trách ai cũng không nỡ trách thẳng, chỉ buông nhẹ: “Răng ri hè…”
Ngôn ngữ Huế không đi thẳng như đường tên bắn. Nó quanh co như lối vào nhà vườn, phải qua bình phong, qua hàng chè tàu, qua giàn hoa giấy rồi mới đến hiên nhà. Người chưa quen dễ thấy cầu kỳ; người đã hiểu mới hay cái quanh co ấy không hẳn để che giấu, mà để tránh làm đau lòng nhau.
Huế xưa quý sự kín đáo. Nhà giàu không phô của, người sang không nói mình sang, người đau không muốn ai thấy mình đau. Cái đẹp nằm sau bức rèm, nỗi buồn nằm dưới vành nón, còn tình yêu đôi khi suốt đời chỉ hiện ra trong một tiếng “dạ” thật mềm.
Bởi thế, “Thả Om” không chỉ là chuyện một chiếc nồi đất. Đó còn là một ẩn dụ về cách người Huế ứng xử với sự mất mát: không níu kéo quá ồn ào, không phô bày vết thương, chỉ âm thầm buông xuống dòng đời.
Nhưng Huế nay đã khác.
Huế hôm nay có phố mới, cầu mới, ánh đèn mới. Tiếng xe át dần tiếng guốc mộc; những nhà vườn thâm u mở cửa thành quán trà, nhà hàng, chốn lưu trú. Con cháu hoàng tộc đã bước ra khỏi bóng kinh thành để sống giữa một xã hội không còn đo phẩm giá bằng tước vị. Người trẻ Huế nói nhanh hơn, đi xa hơn, mạnh dạn hơn và biết giới thiệu quê mình với thế giới.
Đó là một chuyển động cần thiết. Một thành phố không thể sống mãi bằng ký ức, cũng như một dòng sông không thể chỉ soi bóng quá khứ mà không chảy về biển lớn.
Tuy nhiên, giữa nhịp sống mới, Huế đôi khi cũng đang “thả” đi nhiều thứ: một mái nhà rường, một khu vườn cũ, một giọng nói thanh tao, một cách thưa gửi có trước có sau, một nếp sống không vội vàng. Có những thứ mất đi vì thời thế; cũng có những thứ bị đánh đổi quá dễ dàng vì người ta chưa kịp hiểu giá trị của chúng.
Ngày xưa, người Huế thả chiếc om để giữ lòng tự trọng. Ngày nay, có khi người ta giữ chiếc om như một món trang trí, nhưng lại vô tình thả trôi cái hồn đã từng làm cho chiếc om ấy có ý nghĩa.
Cho nên, bảo tồn Huế không phải chỉ là giữ thành quách, lăng tẩm hay vài căn nhà cổ. Giữ Huế trước hết là giữ một phong cách sống: biết chậm lại trước cái đẹp, biết kín đáo trước nỗi đau, biết nhường nhau trong lời nói, biết giữ phẩm giá ngay cả khi cảnh đời sa sút. Huế không chỉ ở trong di tích. Huế ở trong tiếng “dạ thưa”, trong chén trà mời khách, trong cách đặt một bình hoa, trong bữa cơm đạm bạc mà vẫn tươm tất, và trong thái độ không lấy sự giàu nghèo để cân đo con người.
Tên nhà vườn “Thả Om” ở Kim Long vì thế nghe vừa dân dã, vừa u hoài, lại phảng phất cốt cách của những vương tôn thất thế. Đó không phải là nỗi hoài cổ muốn quay lui, mà là một lời nhắc dịu dàng: ta có thể bước tới tương lai, nhưng xin đừng bước nhanh đến nỗi đánh rơi chính mình.
Rằm tháng Bảy, đứng bên sông Hương, tôi chợt nghĩ: chiếc om năm xưa chắc đã tan thành đất từ lâu. Đất trở về với nước, nước trôi về biển, còn câu chuyện thì ở lại. Có lẽ đó cũng là một cách phóng đăng không ánh lửa, một cuộc phóng sinh cho lòng kiêu hãnh và một nghi thức tiễn đưa thời vương giả đã qua.
Dưới bóng Hoàng Thành, người Tôn Nữ năm xưa có thể đã khuất. Chàng vương tôn nghèo cũng không còn. Nhưng tiếng “răng lại rứa” vẫn bay qua hàng cau, giọng “dạ thưa” vẫn còn đâu đó trong những căn nhà vườn Kim Long, và sông Hương vẫn lặng lẽ chở những điều người Huế không nói thành lời.
Tôi trở về, không tìm lại chiếc om đã mất.
Tôi chỉ muốn đứng bên dòng sông cũ, thả xuống nước một chút phù hoa, một chút hơn thua, một chút bụi đường gần nửa thế kỷ xa quê. Rồi cúi xuống vốc một ngụm sông Hương, nghe sông Bồ vọng lại trong lòng.
Sông Bồ để vớt om như tâm tưởng vớt lại quê nhà.
Sông Hương để thả om, như tâm lý bù thả đi thế sự.
Và Huế, sau bao nhiêu dâu bể, vẫn là Huế:
Nghèo mà không hèn,
buồn mà không lụy,
đẹp mà không phô,
thương mà không nói hết.
Chỉ khẽ hỏi đời một tiếng:
“Răng lại rứa…”
Rồi mỉm cười, buông tay, thả cả chiếc om và chính bóng mình vào dòng nước hư không.
Thả chiếc om và bóng mình theo nước, mà giữ cả quê hương ở lại trong lòng.


TRẦN KIÊM ĐOÀN
Huế mùa Vu Lan 2026

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

NIỀM ĐAU DĨ VÃNG - TRẦN HỮU NGƯ


 See original image


 NIỀM ĐAU DĨ VÃNG


   Tôi lấy tên ca khúc NIỀM ĐAU DĨ VÃNG của nhạc sĩ Nguyễn Văn đông làm tựa cho bài viết nhớ về Nguyễn Văn Đông.

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua đời năm 2018 tại Saigon.

   Anh là một nhạc sĩ quân đội mang cấp bậc khá lớn, nhưng anh không sống vì chức vụ, quyền hạn, mà anh sống vì nhạc. (Khác này ngày người ta sống vì chức vụ và nhạc).

   Sau 1975, anh lên đường vào trại “cải huấn” để làm tròn bổn phận của một công dân dưới chế độ mới như bao sĩ quan khác.

   Những ngày ở trại “cải huấn” từ Nam chí Bắc… Chị Thu vợ anh ở nhà trông trồng như “Hòn vọng phu”, không tính bằng ngày tháng, mà tính chục bằng năm. 

    Chế dộ cũ đã nuôi sống anh bằng âm nhạc, những ngày “làm người tù không chân dung”, cũng chính nhạc anh đã cứu sống anh.

   Những ngày mưa tầm tả, anh nhớ CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI, những ngày Tết ngồi trong trại anh nhớ PHIÊN GÁC ĐÊM XUÂN, những ngày Hè anh nhớ bãi biển Honolulu Với SẮC HOA MÀU NHỚ… Và chính bài hát của anh là những viên thuốc không màu, không vị, đã cứu sống anh!

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sáng tác không nhiều như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Lam Phương, Hoàng Thi Thơ… Nhưng thành thật mà nói, nhạc anh không có bài nào dở. Khi bài hát của Nguyễn Văn Đông ra đời, đã được ca sĩ “hát trên từng cây số”, và người nghe đón nhận nồng nhiệt từ thành thạnh thị cho đến thôn quê, ngay cả những vùng “xôi-đậu”.

   Chỉ cần một ca khúc CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI cũng đủ để Nguyễn Văn Đông làm người nhạc sĩ của hôm nay và mai sau.

   Anh có nhiều bút hiệu như: Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân, Đông Phương Tử, và anh viết nhạc đủ mọi chủ đề. Ghi danh trong ca khúc những bút hiệu như trên, nhưng người nghe khi nghe đã biết cái “air” nhạc của Nguyễn Văn Đông.

   Việt Nam nói chung và Miền Nam nói riêng, ca khúc CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI là một bài hát đầu tiên xuất cảng sang Pháp được ca sĩ Trần Văn Trạch hát, đã làm dân Pháp thích thú! Và cũng chính CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI đã bị Tổng thống Ngô Đình Diệm cấm hát vì “làm nhụt chí khí quân đội”, anh đã bị “trọng cấm” về bài hát này! “Trọng cấm” một thời gian khá dài, nên không anh đã được lên Tướng chớ không phải cấp Tá sau 1975.

   Có một điều ít ai biết:

   -Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là người đầu tiên nghĩ ra  chương trình kết hợp TÂN CỔ GIAO DUYÊN và anh đã viết nhạc nền và đạo diễn 50 tuồng cải lương, như: Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạt trong trăng, Sân khấu về khuya, Tiếng cướp Bạch Hải Đường, Mưa rừng…

   Tôi đã từng đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, lần nào tôi cũng xin phỏng vấn anh, nhưng đều bị anh từ chối. Anh nói với tôi rằng, không phải anh từ chối em, mà tất cả các nhà báo trong và ngoài nước anh đều từ chối! Em đừng buồn anh nhé!

   Tôi vẫn kiên trì… 

   Sáng ngày 30.4.2016, đúng 41 năm sau 30.4.1975, tôi đến thăm anh và nhắc lại chuyện phỏng vấn. 

   Anh suy nghĩ trước khi trả lời tôi:

   “… Nghĩ lại, cuộc đời này dẫu sao cũng còn nhiều người tốt, vì tốt nên anh em mình vẫn còn sống đến ngày hôm nay (anh cười). Chúng ta là những con chim đã một lần trúng đạn nên rất sợ những cành cong, và cho dù thời gian sẽ làm lành vết thương, nhưng tiếc rằng chúng ta không còn trẻ nữa!...”

   Sau lời nói ấy, anh đồng ý cuộc phỏng vấn của tôi!

   Tôi ngạc nhiên và mừng khôn xiết.

   Anh nói:

   -Đây là cuộc phỏng vấn đầu tiên anh dành cho em, và là cuộc phỏng vấn độc quyền (anh đã từ chối tất cả), vì em đã hiểu và thuộc nhạc anh và em cũng thấm thía những năm tháng “làm lại cuộc đời” như anh sau 1975.

   Đặc biệt, sở dĩ anh đồng ý vì: EM LÀ NHÀ BÁO KHÔNG CÓ BÁO! Và em là người kiên nhẫn không bỏ cuộc! (Anh cười). 

   Bài phỏng vấn độc quyền này, tôi có đăng trong cuốn sách ỦA, SAO KỲ LẠ VẬY? Do NXB MỸ THUẬT phát hành tháng 3 năm 2016 và đã được nhà báo Lam Điền viết bài giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ.

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đi “nghỉ mát” khoảng 10 năm, và được tha vào năm 1985. Lúc ra Trại anh bị bịnh nặng, tưởng ngày trở về để chờ “di tản qua bên kia thế giới”, nhưng nhờ chị Nguyệt Thu vợ anh, nuôi anh với phép mầu, nên anh sống thêm 33 năm nữa để nhìn đất nước đổi mới!

   Những ngày tôi đến thăm anh, lúc nói chuyện, anh thường gõ nhẹ những ngón tay tật nguyền (hậu quả của những ngày lao động cải tạo) xuống bàn… Tôi hỏi anh chuyện cải tạo, chuyện đời, chuyện nghề… và lúc thấy anh vui, tôi hỏi về “chuyện tình một thời với một một người đàn bà nghệ sĩ trước 1975 có tên tuổi, và sau 1975 nổi tiếng…”  Với đôi mắt buồn xa xăm, anh nói nhỏ với tôi:

   -Chuyện cũ đã qua rồi, đó là MIỀN ĐAU DĨ VÃNG!

   Những ngày mưa tháng 8.2026, tôi nghe CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI và nhớ Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Và bỗng dưng tôi nhớ MIỀM ĐAU DĨ VÃNG một ca khúc của Nguyễn Văn Đông đề tên Phượng Linh.

   Nhạc viết về DĨ VÃNG không nhiều, chỉ có một số bài khó quên:

   -Dĩ vãng (Trịnh Nam Sơn).

   -Giọng ca dĩ vãng (Bảo Thu. Tôi đã có bài viết riêng)

   -Chuyện tình không dĩ vãng (Tâm Anh. Tôi đã có bài viết riêng)

   -Gĩa từ dĩ vãng (Nguyễn Đức Trung)

   -Tango dĩ vãng (Anh Bằng. Tôi sẽ có bài viết riêng Tango dĩ vãng) 

   Và NIỀM ĐAU DĨ VÃNG của Nguyễn Văn Đông:

   “… Ngày hai đứa ân tình vỡ đôi

   Đời hai lối phương trời lẻ loi

   Thuyền tình em lạc bến lâu rồi

   Niềm tin đã trót trao rồi

   Âm thầm em khóc khi biệt ly

   Người yêu thuở ban đầu khó quên

   Ngày xa anh, em càng nhớ thêm

   Dù mai đây vật đổi sao dời

   Đường tơ đã lỗi cung rồi

   Tình yêu một thuở không hề vơi

   Yêu nhau chiều nào

   Rồi xa nhau chiều nay

   Lòng ai không đảo điên

   Xót xa tình đầu tiên

   Anh ơi một phút bên nhau rồi

   Tình ấy cao vời vợi

   Lòng nhớ mãi khôn nguôi

   Lời ân ái đâu ngờ chóng phai

   Tình dang dối nên nhiều đắng cay

   Hồn em xin trọn kiếp theo chàng

   Dù duyên tình dở dang rồi

   Buồn theo ngày tháng âm thầm trôi…”

   Bài viết để tưởng nhớ vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và chị Trần Thị Nguyệt Thu vĩnh biệt Saigòn về bên kia thế giới.

   Ở thế giới mơi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sẽ không còn đau niềm đau dĩ vãng, và chị Nguyệt Thu đã đến bên anh một thời dĩ vãng:

   “… Em đến thăm áo anh mùi thuốc súng

   Ngoài trời mưa lê thê

   Qua ngàn chốn sơn khê

   Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông

   Kết trong lòng thế hệ

   Nghìn sau nối nghìn xưa…”

   (Ca khúc MẤY DẶM SƠN KHÊ của Nguyễn Văn Đông)



   TRẦN HỮU NGƯ

   (Bo léro Xóm Gà-Giađinh, 12.8.2026)


Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

NHỮNG CHUYẾN MƯA QUA - TRẦN YÊN HOÀ

 

Nguyen Khai Market Overview: Auction Results & Art for Sale

TRANH NGUYÊN KHAI


Những chuyến mưa của đời tôi, đến từ tuổi ấu thơ, đầy màu hoa cải, hoa cúc, hoa vạn thọ. Tôi yêu mưa và tôi cũng ghét mưa. Mưa, nằm trong chăn ăn bắp rang, ăn khoai chà ngào đường và nghe mẹ tôi hát ru những câu hát nhơn ngãi. Mưa đêm nằm nghe cha tôi kể chuyện đời xưa có ông hoàng nào đó đã '' rấm đậu thành binh'' giúp vua tiêu diệt giặc thù. 

<!>  

Cơn mưa  rã rích đêm ngày của xứ miền Trung làm thúi đất thúi đai, đi đâu cũng lè kè trên mình chiếc áo tơi được chằm bằng lá nón. Cơn mưa tuổi thơ thắm đượm mùi vị quê hương cơ khổ. Tôi yêu mưa và tôi ghét mưa, trong những tháng ngày lớn lên làm lính tráng, lội đồi, trèo núi, dưới những cơn mưa dài không bao giờ dứt ở các địa danh : Sơn Hà, Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, Gia Vực hay Quế Sơn, Tam Kỳ, Tiên Phước. Tất cả những cơn mưa chập chờn trong tôi nhiều cảm giác yêu thương lẫn buồn chán. 

     Tôi đã tập tành viết văn làm thơ cũng từ những cơn mưa ấu thơ ngủ trong chiếc mền ấm, cùng cha và  anh Giảng, nằm gát chân lên nhau, lim dim ngủ và nghe tiếng mưa rơi tí tách ngoài hè. 
     Có lẽ, tình cảm tôi cũng lớn dần lên theo những cơn mưa, mưa giông tháng bảy, mưa phùn tháng giêng, hay mưa dầm lê thê tháng mười, tháng mười một. Tôi coi những chuyến mưa qua là những chặng đời tôi đã sống, cảm giác thật mơ hồ, nhưng cũng thật tuyệt vời với tôi, từ những cơn mưa, tôi trở thành con người lãng mạn, tôi mê văn chương tự lúc nằm trong chăn nghe tiếng mưa ngoài trời, rã rích. Có lẽ thế cũng nên.
      Tôi mê trở thành nhà văn hay nhà thơ trong những năm tôi mới chín mười tuổi đầu, khi tôi đã đi học và đọc được sách. Thuở đó, chị Khiêm tôi có một người yêu tên là H, anh H dạy lớp nhất trường tiểu học trong xã, anh tặng cho chị tôi mấy cuốn tiểu thuyết, đó là những cuốn ''Lá Ngọc Cánh Vàng'' của Nguyễn Công Hoan, ''Nắng Hanh Vàng'' của Lê Tràng Kiều, ''Bên Giòng Sông Trẹm'', ''Cho Tôi Sống Lại Một Ngày ' của Dương Hà. Tôi lén lút đọc mê mãi và khóc hết nước mắt, khóc chan hoà, khóc trêu trạo, khóc như cha mẹ chết, khóc như bị đánh đòn. Tôi cảm động vì những câu chuyện tình éo le, bi thảm, những kết cục chia lìa, đau thương của các nhân vật, như vậy gọi là đa cảm sao, là lãng mạn sao? và tôi yêu quá đi nhà văn đã viết ra các tiểu thuyết đó, tôi có một uớc mơ lớn nhất đời tôi là được trở thành nhà văn, được gọi  là nhà văn thì sướng quá đi mất.
Và tôi cũng muốn tôi trở thành nhà thơ nữa, tôi tham lam, cũng trong một bài thơ viết tay của anh H  viết cho chị Khiêm tôi, khi mối tình tan vỡ, tôi đọc cũng chãy nước mắt, cũng bù lu bù loa. Đó là bài '' Thuyền đã xuôi dòng '' của tác giả là ai tôi không biết: 

Người ơi, thuyền đã xuôi dòng
Thì thôi đừng nhắc chuyện lòng ngày xưa
Đã đành qua nắng cùng mưa
Còn đâu bóng cũ mà mơ làm gì
Ngày xưa đã vỡ gương thề
Ngày xưa người đã yên bề tơ duyên
Tưởng rằng người đã vui quên
Bóng xưa lặng lẽ bóng thuyền đã xa
Người đi trên chiếc xe hoa
Người đi có kẻ xót xa tiêu điều
Thế rồi hết sớm trưa chiều
Mượn thời gian lấp mộ yêu một người
Cũng thì thôi thế thì thôi
Đã không duyên kiếp là đôi chúng mình
................................................................


   Sau nầy, tôi cũng đã rỏ  không biết bao nhiêu là nước mắt cho những tiểu thuyết cũng như những bài thơ tương tự, loại nầy. 

*

    Quê tôi là một vùng quê hun hút xa phố thị, tôi lớn lên cũng khô cằn như con nít quê tôi, đi học tiểu học chỉ bận quần xà lỏn và áo bà ba bằng vải thô. Hình như tôi chỉ có một hai bộ gì đó, đi học, đi chơi, đá bóng lá chuối, đánh bóng chuyền, u mọi, đánh trổng, hoặc đi giữ bò, cắt cỏ, hốt phân, tưới rau, đến lúc ngủ, nghỉ, học bài, cũng chỉ trong một hai bộ áo quần kia thôi, chuyện nầy là chuyện thường của những học trò nhà quê, dù gia đình tôi cũng thuộc vào hạng khá giả trong xã. Chín mười tuổi tôi đã biết đi xa đến năm bảy cây số để cắt lá, cắt rạ, về bỏ chuồng bò làm phân, biết tát nước bằng gàu giai, gàu sòng để tưới  những đám thổ cha tôi đang trồng đâu phộng hay trồng thuốc lá. Chín mười tuổi, buổi trưa nắng rát da người, tôi cởi trần dầm mình trên sân nắng, phơi lúa, phơi rơm, phải luôn luôn ''trở'' rơm bằng mủi đòn xóc cho rơm mau khô, hay đứng trên cối giả rau heo, với cái nóng khô rang, hừng hực. Cứ như vậy, tôi vừa đi học, vừa làm việc phụ giúp gia đình và lầm lủi, âm thầm đọc sách, âm thầm mê chuyện văn chương, thi phú.
      Buổi tối tôi thường ngủ chung với cha tôi và anh Giảng trên bộ ván mít vàng au được kê giữa nhà, phía trên là bàn thờ thờ ông bà tổ tiên. Cha tôi thường hay xoa lưng tôi và ru tôi ngủ bằng những chuyện cổ tích không đầu không đuôi. Thấp thoáng trong những câu chuyện kể là hình ảnh của  gia phả giòng họ nhà tôi. Quê tôi chính không phải ở đây, xứ An Mỹ nầy, đây chỉ là quê hương thứ hai từ ngày ông nội tôi, trên bước phiêu linh dừng lại. Có phải cái máu phiêu linh đó đã ẩn chứa trong tôi đến mãi bây giờ để tôi trở thành một kẻ mộng mơ, ưa lang bạt kỳ hồ. Gia phả tôi có ghi rõ về một giòng họ  ''con nhà quan'' của tôi. Ông cố của tôi là một  quan Án Sát và sau lên quan Tuần Vũ. Sao hồi nhỏ tôi thấy chuyện làm quan to lớn và hãnh diện thế kia, hình như cả họ nhà tôi đều ngưỡng vọng ông và coi ông như là ngôi sao sáng để con cháu sau nầy noi theo và hãnh diện. ''Ông Ngài'', Đại Danh Từ vừa trọng vọng vưà tôn kính. Mẹ tôi, nhất là mẹ tôi, khi gọi đến ''Ông Ngài'' bà thường chắp tay và miệng luôn luôn khấn vái, như ông Ngài là đức bồ tát sẽ cứu nạn cứu khổ cho mẹ những lúc nguy nan. Cả họ nhà tôi đều trọng vọng ông, ngôi mộ của ông được đúc bằng đá tảng, loại đá quí hiếm, bia mộ cũng được khắc trên một tảng đá to, được viết li ti những chữ Hán kể nào công đức của ông, cùng những sắc phong vua ban. Tôi cũng trọng vọng và hãnh diện vì ''Ngài'' lắm chứ sao không? nhưng sự ngưỡng vọng đó dần dần giảm đi khi lớn lên, không biết là cái mảnh bằng ông đậu để ra làm quan có hơn mảnh bằng của những anh em tôi trong họ hàng đang có? 
     Những ngày bên nội có giổ kỵ, cha tôi thường dậy rất sớm, quần áo chỉnh tề, dẫn tôi về nội ăn giổ. Tôi phải lội bộ hàng mười mấy cây số, băng qua những cánh đồng, đi trên con đường thiên lý (quốc lộ một), qua ''vạn'' Tam kỳ rồi mới tới nhà của người cháu đích tôn trong giòng họ. Căn nhà của ông xã Ba, người cháu đích tôn ấy, nằm bên giòng sông Tam kỳ. Ngôi nhà ngói, ba gian hai chái rộng thênh thang, ngày giổ ông Ngài nên con cháu về đông lắm, ông xã Ba đã đem những bức hoành phi, những câu đối, câu liễn mà ngày trước ông ''Ngài'' đi làm quan đã được vua ban hay bạn bè đồng liêu biếu tặng, ra treo đầy trên bàn thờ, trên những cây cột to của nhà tự đường. Nhìn lên bàn thờ nghi ngút khói hương, cứ mỗi cây cột là treo một tấm liễn, tôi thấy căn nhà tự đường như chật lại, đầy khói thuốc lá, đầy hơi người. Tôi thường bỏ ra mé bờ sông ngồi nhìn dòng nước lặng lờ trôi, những con chim bay trên trời xanh, và cả  tiếng chim đâu đó hót trong lùm cây.
      Hình như một hai năm tôi mới được cha tôi dẫn về nội một lần, mỗi lần đi bộ trên đường thiên lý, đi chân không trên lớp nhựa đường nóng bỏng, nên lớp da chân của tôi bị lột, đỏ au, rát rạt, nên tôi không muốn theo cha về quê nội nữa.
     Bên nội tôi có được một ông Ngài để suy tôn, con cháu đời sau không còn chế độ quân chủ nữa nên không có ai ra làm quan để nối danh ''Ngài'',  cho nên ''Ngài'' vẫn sừng sững trong lòng con cháu một cách lâu dài.
     Ông nội tôi là một ông đồ thất chí, là một cậu ấm con cháu nhà quan nhưng học hành không đỗ đạt gì, ôm mớ chữ nho lỗi thời đem đi bán rong ở các xứ ''nguồn'', nơi chưa có trường dạy chữ quốc ngữ. Ông đi dạy học ở  vùng Trường Xuân, Khánh Thọ, rồi lấy bà nội tôi và lập nghiệp ở đó, đến mấy năm sau, làm ăn không khá nổi nên ông dời xuống đất Quán Rường, ông bà lập nghiệp luôn ở đây và nơi nầy tôi được sinh ra.
    Cho nên quê tôi ở không có giòng sông nào chảy qua, chỉ có những con suối, những con suối mùa đông mưa xuống nước lũ tràn bờ, muà hè nắng cháy, nước cạn chỉ còn trơ cát. Tôi tắm suối khi thả bò ra đồng, mỗi khi lùa bò về chuồng là tôi thả bò xuống suối bơi, tôi leo lên lưng bò bơi ra đàng xa, ra đến giữa giòng mà những con bò húc nhau thì tôi bị  té lọt tỏm xuống giòng nước sâu, loi ngoi lúc ngúc một hồi lâu mới nắm được cái đuôi bò kéo mạnh, tôi mới thót đưộc lên lưng bò trở lại. Tôi chỉ giữ bò chứ chưa giữ trâu nên không được cảm cho lắm bài hát ''ai bảo chăng trâu là khổ''. Quê tôi ít ai nuôi trâu để cày, tôi thương những con bò trung thành với gia đình tôi, sống với tôi đến cả năm, mười năm, có con bò Sinh già quá, mẹ tôi đem bán cho ''bảy đáp'' giết làm thịt, tôi thương con bò, khóc đến mấy hôm liền.    

    Quê tôi nắng cháy da, mưa nhão đất, mưa kéo hết ngày nầy qua ngày khác, mưa rã rích, như đời tôi, những thăng trầm, hệ luỵ, những niềm vui, nỗi buồn, những thành công, thất bại, trong hồi ức, tưởng niệm, tôi coi như đó là “những chuyến mưa qua”.
    Thật thà mà nói, là ngày tôi lớn lên, tôi chỉ đọc ''vụng'' sách mà thôi, như mèo ''ăn vụng''  niêu cá vậy. Chị tôi được anh H cho mượn mấy cuốn truyện đó, cất kỹ trên máng xối, sợ mẹ tôi bắt gặp vì mối tình không môn đăng hộ đối, tôi để ý theo dõi và chộp ngay để đọc, đọc trong góc tối, trong bất cứ mọi xó xỉnh nào để chị tôi không bắt được, cốc trên đầu mấy cái và đòi lại. Tôi đọc miên man, thèm thuồng như trẻ con được cái kẹo quá ngon mà có chút xíu, ăn không thấm vào đâu cả, nên phải ăn dè xẻn, ăn xong, vẫn còn thèm thuồng .
     Hồi đó, quê tôi chưa có một phòng đọc sách nào, chưa có một thư viện nào, nên tôi không có sách đọc. Ơi, sách hiếm hoi cho tuổi thơ tôi, tôi lục lọi những quyển sách cũ của cha tôi, cuốn Cổ Học Tinh Hoa, và những cuốn đặc san cổ học xuất bản hằng tháng của hội cổ học Quảng Nam, mà cha tôi là hội viên. Những cuốn nầy được quay ronéo, màu sắc nhoè nhoẹt, được in với một loại giấy nhám xấu, thế mà tôi vẫn đọc say mê.
     Đọc sách, thú đam mê của tôi thuở thiếu thời, tôi thích làm thơ nhưng chưa làm được bài nào, tôi thích viết nhạc và hát hò nhưng tôi biết tôi không có năng khiếu về bộ môn nầy, tôi thích viết văn nhưng chưa giám thử, đầu óc tôi chưa thoát ra khỏi cái làng An Mỹ nhỏ bé của tôi, với đàn bò, buổi chiều nghỉ học phải thả ra khu Đồng Cát hay khu Gò Chùa, gò Ông Đốc để cho bò ăn cỏ, một miền Trung nắng cháy, cỏ không đủ xanh cho bò gặm nên mỗi chiều tối, khi cho bò về chuồng tôi phải rút rơm cho bò ăn thêm.
     Những buổi trưa nắng cháy như thế, những lúc được nghỉ ngơi, tôi thường nằm trên võng, trong một lùm cây rậm mát, ngó lên trời. Buổi trưa trời trong và nắng chói chan, nhìn những đàn chim chao lượn, chim trày trãy có màu lông xanh đỏ thường bay lượn rất cao và hót véo von, chim chiền chiện cũng vậy, bay tít lên trời xanh, đứng trên đó mà hót, tôi lơ mơ nghĩ đến một nơi chốn xa xôi nào mà trong trí tưởng tôi nghĩ không ra, đó có thể là một Tam Kỳ, Hội An, Đà Nẵng, Huế hay Sài Gòn, Ơi, Sài Gòn, địa danh quyến rũ tâm tưởng tôi vô cùng.
     Tôi biết Tam Kỳ từ ngày tôi đi thi đệ thất và học ở đây suốt bảy năm trung học, ngôi trường Trung Học Trần Cao Vân thân yêu đã gần gũi, ấp ủ tuổi học trò thơ dại của tôi biết bao nhiêu kỷ niệm. Tôi còn nhớ rất rõ phía bên trái ngôi trường, lúc đó còn lợp tôn, tường quét vôi trắng, có một cây đa cổ thụ cành lá xum xuê. Vào những ngày cuối thu, trời bắt đầu trở lạnh và cây lá bắt đầu vàng thì hàng đàn sáo rừng từ đâu bay về tụ tập trên tàng cây kêu inh oỉ, đàn sáo ngày xưa duới mái trường trung học là hình ảnh đậm nét trong tôi cho đến mãi bây giờ.      
    Trọ học ở thị xã Tam Kỳ suốt bảy năm trung học, tôi đã thuộc lòng hết những ngõ ngách, những đường mòn, những lối đi ngang về tắt, từ Khổng Miếu đến toà hành chánh tỉnh, khu truờng Nữ Trung học, bệnh viện tỉnh lỵ, đến Khu Nam, Phủ Cũ, rồi ga xe lửa, thôn Trường Xuân, qua An Thổ đi vào Phường Một.  Phường Một có con đường mòn nhỏ duy nhất, khi qua khỏi cầu Tam Kỳ, con đường nhỏ chạy theo mé bờ sông với những hàng dương liểu xõa tóc reo vi vu, nơi đây là nơi hẹn hò tình tự của những cặp tình nhân yêu nhau, thường là những học trò áo trắng, những ai sống ở Tam Kỳ, đã qua đó một lần chắc chẳng bao giờ quên được.
      Khu An Thổ có một con đường trồng đầy cây sưa, cây sưa không có gì lạ, nhưng hoa sưa có một màu vàng rất riêng, đến mùa sưa trổ bông, nhìn lên hàng cây sưa ta thấy như được nhìn một khoảng trời vàng rực, màu vàng của áo hoàng hậu, màu hoàng yến trộn lẫn với màu vàng hoa cúc, màu vàng rất riêng nầy thật khó pha màu, màu vàng nhìn đến sững sờ, nhức nhối. 
     Ở Tam Kỳ,  sau nầy có một phòng thông tin, đầy báo và tạp san, những tờ báo được gởi từ Sài Gòn ra, báo được kẹp bằng hai cây nẹp theo chiều dài để giữ được lâu, mỗi khi có những giờ nghỉ học, tôi là khách thường xuyên ở đây. Tôi đọc hết các nhật báo không chừa một tờ báo nào, mê nhất là các tiểu thuyết đăng từng kỳ của các tác giả, như bà Tùng Long, Dương Hà, Tô Nguyệt Đình, An Khê, Hoàng Trúc Ly, Lê Xuyên, đọc và mê, chỉ biết vậy thôi. Tôi thương những mối tình dang dở, những éo le, thấm đầy nước mắt, những hẹn hò của những cặp tình nhân, những hôn hít, những rờ mó nhau của thanh niên thiếu nữ, những cuộc ái ân vụng trộm trong tiểu thuyết, làm cháy bỏng những khát khao trong tôi, mơ ước về dáng dấp một thiếu nữ nào đó trong mộng tưởng, một mối tình có chuyện hoan lạc, nhưng nhìn lại, tôi thuở đó hãy còn bé lắm, thời kỳ tiền dậy thì của một chú bè học trò mười hai mười ba tuổi.
     Tôi thích đọc những tiểu thuyết diễm tình hơn là đọc chuyện kiếm hiệp. Hình như tôi thích những chuyện thật hơn là những chuyện viễn mơ, con người thật với những yêu thương, sự gian dối. lọc lừa, những trò trai gái cũng thật như con trai, con gái, quê tôi, Họ, khi lớn lên, biết yêu, thường tìm đến nhau, hẹn hò ở các con đường vắng, dưới mái ''dỏ'' của xóm, dưới mái đình làng, trên cánh đồng lúa bát ngát không có ai thấy, hay trong những lùm cây rậm. Ở  vùng quê, vườn tược nhà ai cũng rộng, cây cối bát ngát, có hẹn hò nhau ở đâu đó thì cũng ít có người để ý, đó là những mối tình thật được các tác giả như Lê Xuyên, An Khê, Dương Hà viết lên, nên tôi thích hơn những chuyện kiếm hiệp như xa vời quá với tôi .
     Đó là một thời trẻ dại, những tiểu thuyết lãng mạn, rẻ tiền đã thâm nhập vào tâm hồn tôi một cách vô tôị vạ, dù tôi, trong trường học, trong những giờ Việt Văn tôi cũng được học về các tác giả của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Những Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, những Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Đinh Gia Trinh, Nguyễn Công Hoan. Trong những bài Giảng Luận được trích những đọan văn hay của các tác giả nầy, tôi yêu bài '' Hoa Súng'' của Đinh Gia Trinh lắm, học thuộc lòng đến độ bây giờ vẫn còn thuộc, yêu mối tình của Dũng và Loan trong Đoạn Tuyệt, yêu Mai trong Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, yêu Nắng Trong Vườn của Thạch Lam, nhưng tôi cũng vẫn tiếp tục đọc những truyện diễm tình của Dương Hà, Thanh Thuỷ, An Khê, Lê Xuyên. (Sau nầy lớn lên tôi thấy sao không có một dòng văn học sử nào ghi về các tác giả nầy, tôi cũng nhận định là các tác giả nầy viết văn diễm tình, rẻ tiền, đượm mùi ''sến'',  nếu có những bậc thang phân định giá trị văn học, nhưng theo tôi, các tác giả nầy với hàng trăm tác phẩm dầy cộm đã ra đời, đã để lại, cũng là hàng ngàn đêm tác giả đã thao thức viết, làm kiếp con tằm nhã tơ cũng đáng trân trọng, nhắc nhở lắm chứ, còn hơn, hiện nay, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, có người không viết được một tác phẩm nào, chưa làm được một bài thơ nào ra hồn, cũng luôn luôn xưng danh là nhà văn, nhà thơ. Theo tôi, với nhà văn, nhà thơ, chỉ có tác phẩm là khẳng định chỗ đứng của họ thôi, còn danh từ chỉ toàn là mạo hóa. 
      Đến năm tôi học đệ tứ, anh Giảng tôi có một người bạn học gái cùng quê, đó là chị Lạc. Chị Lạc có mấy ông anh học lớp trên tôi, có nhiều sách lắm, anh Giảng tôi mượn được những cuốn sách nầy, đó là những cuốn Xóm Cầu Mới, Cô Mùi, Dòng Sông Thanh Thuỷ  của Nhất Linh đến Khu Rừng Lau, Dòng Sông Định Mệnh của Doãn Quốc Sĩ, cùng cơ mang nào là tạp chí, nhất là các tạp chí Sáng Tạo, Bách Khoa, Thế Kỷ Hai Mươi. Lần đầu tiên tâm hồn nhỏ bé của tôi được tiếp xúc với một nền văn học miền Nam đồ sộ, với những cây bút miền Bắc di cư lẫy lừng, tôi say mê đọc, ngấu nghiến đọc, từ đó tôi biết được Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trần Lê Nguyễn, Nguyên Sa. Nguyễn Đình Toàn...cả Võ Hồng, Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Tất Điều...Rồi Phan Du, Cung Tích Biền... thế giới văn học trong tôi mở rộng thêm ra. Dù vậy, những lúc không còn sách đọc, tôi vẫn chui vào phòng thông tin thị xã Tam Kỳ tìm đọc Dương Hà, An Khê, Hoài Điệp Tử…

    Năm tôi học đệ tam, tôi bắt đầu làm thơ, những bài thơ non dại có những từ như tình đầu, hẹn cuối, đau thương, tha thiết, da diết, hồi hộp, bồn chồn, (tôi không còn nhớ được một bài thơ nào) và tôi gởi đi đăng báo. Lúc nầy các báo và tạp chí như Văn, Văn Học, Bách Khoa là những anh khổng lồ sừng sững, tôi đâu giám leo thang cao, tôi bắt đầu làm quen với các tạp san ra hàng tuần như Tuần San Thứ Tư, Tiểu Thuyết Thứ Năm,  Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai. Lần đầu tiên thơ tôi được đăng ở Tuần San Thứ Tư, tôi ra tiệm sách Nam Ngãi ở Ngã ba Tam Kỳ, đọc báo cộp. Tôi đọc được bài thơ tôi, tôi sung sướng quá, sung sướng đến độ muốn la to lên, muốn mua hết tất cả các cuốn Tuần San Thứ Tư có đăng bài thơ tôi đó, để phát cho bạn bè cùng lớp, khác lớp mỗi người một cuốn, để cho tụi nó “lé mắt, nễ mặt” chơi. Nhưng tôi kí cốp tiền để mua được chỉ một cuốn, tôi đem vào lớp khoe với lũ bạn thân, tôi mắc cở đâu dám khoe với tất cả, nhất là các nữ sinh, mấy thằng bạn đọc xong, không khen lấy một câu, thấy tụi nó không mặn mòi gì với thơ và sự nghiệp thơ ca của tôi, tôi đâm buồn ra mặt, cái ''vĩ đại'' của nhà thơ trong tôi vẫn còn, nhưng tôi không còn hùng hổ nữa.       

     Ngày tôi vào Sài Gòn học Đại Học, mộng tưởng thơ văn vẫn còn đầy ắp trong tôi, tôi suy nghĩ và vẽ vời con đường tương lai ở Sài Gòn, một nửa thời gian tôi đi học chữ để đỗ đạt, còn một nửa thời gian, tôi sẽ dấn thân vào làng văn trận bút. Tôi đã đứng trước tờ báo Sống Mới hàng giờ, tần ngần, lo sợ, hồi hộp khi muốn vào trong tòa soạn để xin gặp nhà văn Dương Hà, vì ông nầy viết tiểu thuyết đăng hàng kỳ ở đây, đứng và cầm trong tay một bì thư dày cộm có tác phẩm của tôi, là một truyện ngắn viết tay, đứng hàng giờ nhìn kẻ ra người vào tòa báo, tôi không can đảm bước vào, mỗi khi đôi chân dợm bước, thì như có ai nắm ghì tôi lại, cuối cùng, tôi lại hộp thư trước toà soạn, bỏ thư vào đó và đạp xe về nhà trọ, bức thư gởi đi cuối cùng không tin tức.
      Tôi cũng muốn gặp nhiều nhà văn, nhà thơ nỗi tiếng lắm, muốn là bạn bè, muốn là thành viên trong đám đó, nhưng cuối cùng thì tôi không gặp ai, không tiếp xúc được với ai, không làm quen thân được với nhà văn, nhà thơ nào. Tôi đi vào lãnh vực thơ văn một mình, tự lực, viết được bài nào thì gởi báo, có đăng được hay không thì tùy, nhiều khi tôi không có tiền mua báo hay tạp chí để coi xem bài mình có đăng được hay không? Thật sự, là vì tính nhút nhát, tôi cảm thấy tôi bơ vơ quá đổi trong cuộc trường chinh của tôi đến với chữ nghĩa.



TRẦN YÊN HOÀ