CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIÊN KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIÊN KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

TRỤC KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG CẤU TRÚC ĐỊA VĂN HOÁ CHĂMPA- HỒ XUÂN TỊNH


hon-den-va-hon-tau-nhin-tu-song-thu-bon.jpg 

Hòn Đền và Hòn Tàu nhìn từ sông Thu Bồn. Ảnh: H.X.T


TRỤC KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG CẤU TRÚC ĐỊA VĂN HOÁ CHĂMPA


ĐNCT - Vùng rừng núi phía tây xứ Quảng là một cấu trúc địa chất cổ, được hình thành từ các trầm tích biển cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam. Qua quá trình vận động kiến tạo, các lớp đá phiến, sa thạch và cuội kết được uốn nếp, tạo thành những dãy núi kéo dài theo hướng tây - đông.

Địa hình phân hóa rõ rệt thành hai bậc: Vùng núi cao trên 1.000m chạy dọc biên giới Việt - Lào và vùng núi thấp dưới 1.000m tỏa xuống các đồng bằng Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình và Tam Kỳ. Từ đây hình thành các nhánh núi riêng biệt như Bạch Mã - Hải Vân, Sơn Trà, Bà Nà, Hòn Tàu - Hòn Đền...

Núi thiêng và Thánh địa

Trong không gian địa mạo ấy, thung lũng Mỹ Sơn là một lòng chảo khép kín, được bao bọc bởi dãy núi Hòn Tàu - Hòn Đền, Dương Thông... Theo ghi chép của Đại Nam nhất thống chí, hệ thống núi này phân thành nhiều chi, trong đó núi Tào Sơn giữ vai trò “trấn sơn”, tạo thế vững chãi cho toàn vùng. Đỉnh cao nhất của dãy là Ấn Sơn cao khoảng 950m, từ đây có thể quan sát rộng đồng bằng Quảng Nam và vùng ven biển Đà Nẵng.

Trong hệ thống núi này, Hòn Đền còn được gọi là núi Răng Mèo - núi thiêng Mahaparvata, không phải đỉnh cao nhất nhưng lại giữ vị trí đặc biệt trong tâm thức dân gian và trong cấu trúc thiêng của Chămpa. Tên gọi “núi Chúa” vốn phổ biến ở nhiều vùng, thường chỉ những đỉnh núi được xem là nơi cư ngụ của thần linh. Với Hòn Đền, ý nghĩa ấy càng được củng cố bởi mối liên hệ trực tiếp với thánh địa Mỹ Sơn và những truyền thuyết bản địa.

Từ góc nhìn địa - văn hóa, GS. Trần Quốc Vượng cùng một số chuyên gia Đông Nam Á nhận định rằng Hòn Đền có thể được xem như Lingaparvata (núi Linga) theo quan niệm Ấn Độ giáo. Trong cấu trúc biểu tượng này, thung lũng Mỹ Sơn đóng vai trò như Yoni, còn dòng suối Khe Thẻ chảy qua trung tâm thánh địa chính là dòng năng lượng phồn thực kết nối hai yếu tố âm - dương. Sự kết hợp giữa địa hình tự nhiên và biểu tượng tôn giáo đã khiến Mỹ Sơn được chọn để xây dựng trung tâm tín ngưỡng bậc nhất của Chămpa.

Từ Thánh địa đến biển cả

Tuy nằm biệt lập trong thung lũng, Thánh địa Mỹ Sơn không tách rời khỏi đời sống kinh tế - xã hội xung quanh. Theo ghi nhận của Georges Maspero trong tác phẩm Vương quốc Chămpa, mỗi khu đền tháp được dâng cúng một lãnh địa rộng lớn, bao gồm đất đai, cư dân và nguồn sản vật phục vụ cho việc duy trì hoạt động tôn giáo. Điều này cho thấy cấu trúc kinh tế - tôn giáo của Chămpa mang tính tích hợp cao, trong đó quyền lực thần linh và quyền lực thế tục luôn song hành.

Từ Mỹ Sơn, nếu nhìn theo trục không gian dọc sông Thu Bồn, có thể nhận ra một mô hình quy hoạch lãnh thổ đặc trưng của tiểu quốc Amaravati. Ở thượng nguồn là núi thiêng và thánh địa; xuống trung lưu là kinh đô Trà Kiệu (Simhapura), gắn với vùng châu thổ nông nghiệp trù phú; và cuối cùng là cảng thị ven biển Hội An (Champapura), cùng cụm đảo tiền tiêu Cù Lao Chàm. Đây là một trục liên hoàn, thể hiện tư duy tổ chức không gian vừa mang tính thực dụng vừa mang chiều sâu biểu tượng.

Kinh đô Trà Kiệu, nằm cách Mỹ Sơn khoảng 10 km về phía đông, giữ vai trò trung tâm chính trị và kinh tế. Bao quanh khu vực này là những cánh đồng rộng lớn, được Lê Quý Đôn mô tả trong Phủ biên tạp lục là “đại đồng điền”. Không chỉ phát triển nông nghiệp lúa nước, cư dân Chămpa còn trồng dâu nuôi tằm, sản xuất tơ lụa và dệt vải, tạo nên những mặt hàng có giá trị cao trong thương mại.

Ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An thời Chămpa là một cảng thị quốc tế quan trọng, nằm trên tuyến hàng hải kết nối từ Trung Hoa đến Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á. Nhờ nguồn lâm thổ sản như trầm hương, quế, hồ tiêu… được đưa về từ thượng nguồn và các sản phẩm tơ lụa, Champapura trở thành đầu mối giao thương sầm uất, góp phần đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế và củng cố quyền lực chính trị của vương quốc.

Ngoài khơi, Cù Lao Chàm đóng vai trò như một “tiền cảng”, nơi các thương thuyền quốc tế dừng chân để lấy thêm nước, lương thực và tránh bão. Đây không chỉ là điểm neo đậu tàu thuyền mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc kiểm soát tuyến hàng hải khu vực.

Bên cạnh trục Mỹ Sơn - Trà Kiệu - Cù Lao Chàm, có thể nhận diện một trục không gian thứ hai theo hướng đông bắc, nối Mỹ Sơn - Hòn Đền với bán đảo Sơn Trà, thông qua hệ thống sông Vĩnh Điện - Cẩm Lệ. Trên trục này, vùng đồng bằng Điện Bàn - Hòa Vang đóng vai trò châu thổ, với các khu đền tháp Bằng An và Phong Lệ.

Đặc biệt, Ngũ Hành Sơn giữ vị trí trung gian giữa nội địa và biển cả. Nơi đây hiện diện những cơ sở tín ngưỡng Ấn Độ giáo và Phật giáo, đồng thời là vị trí quan trọng về quân sự và hàng hải. Từ trên đỉnh Thủy Sơn, có thể quan sát toàn bộ tuyến đường biển ven bờ và hệ thống sông dẫn vào nội địa; lợi thế này đã được triều Nguyễn khai thác khi dựng các đài quan sát Vọng Hải Đài và Vọng Giang Đài dưới thời vua Minh Mạng.

Xa hơn về phía đông, núi Sơn Trà trở thành một bức bình phong tự nhiên che chắn cho vịnh Đà Nẵng, kết hợp với dãy Bạch Mã - Hải Vân tạo thành một vùng biển kín gió, thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu.

Trong cấu trúc không gian ấy, Hòn Đền - Mahaparvata nổi lên như một “chủ sơn” mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa lý. Không phải là đỉnh núi cao nhất trong vùng, nhưng chính sự hội tụ của yếu tố địa hình, tín ngưỡng và biểu tượng đã khiến nơi đây trở thành trung tâm thiêng liêng trong thế giới quan Chămpa. Từ Mahaparvata, các trục không gian tỏa đi, kết nối thánh địa Mỹ Sơn với kinh đô, đồng bằng và biển cả, tạo nên một chỉnh thể hài hòa giữa tự nhiên và văn hóa.

Có thể nói, trên nền tảng địa lý tự nhiên, người Chăm xưa đã kiến tạo không gian liên kết từ núi thiêng đến biển cả, hình thành tư duy tổ chức lãnh thổ hướng biển, trong đó núi - sông - đồng bằng - hải đảo gắn kết thành một chỉnh thể. Sự kết hợp giữa không gian thiêng, trung tâm chính trị, vùng sản xuất và mạng lưới hàng hải không chỉ tạo nên nền tảng cho sự phát triển lâu dài của Chămpa, mà còn để lại di sản địa văn hóa đặc sắc, tiếp tục hiện diện trong không gian đất Quảng hôm nay.


HỒ XUÂN TỊNH • 20/09/2026 11:10

Nguồn : Báo ĐÀNẴNG .VN

https://baodanang.vn/truc-khong-gian-thieng-trong-cau...



Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG: SỬA THƠ TRONG MƠ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


          

       GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG:

            SỬA THƠ TRONG MƠ

 Năm Đại Hòa thứ 6 (832) đời Đường, chàng thư sinh thi sĩ Hứa Dụng Hối 許用晦 trúng cử Tiển sĩ Cập đệ, đang lúc thanh vân đắc ý chàng bèn làm một chuyến du ngoạn vùng Hà trung đất Sơn Tây. Vì qúa vui với cảnh non xanh nước biếc, nên lạc cực sanh bi chàng bị cảm nặng và hôn mê bất tỉnh suốt ba ngày đêm...
       Trong cơn mê, chàng mơ thấy mình đi đến một vùng núi non hùng vĩ với cung thất lâu đài nguy nga tráng lệ. Hỏi ra mới biết rằng đây là vùng núi Côn Lôn, lâu các cao vút tận mây xanh kia chính là Dao Đài của Tây Vương Mẫu. Phút chốc bỗng có tiên nương hiện ra mời vào dự tiệc cho đến lúc chiều tà. Trong cơn say chàng đã mơ hồ cất bút viết nên bài tứ tuyệt như sau lên tường :

               曉入瑤臺露氣清,    Hiểu nhập Dao Đài lộ khí thanh,
               坐中唯有許飛瓊。    Tọa trung duy hữu Hứa Phi Quỳnh.
               塵心未斷俗緣在,    Trần tâm vị đoạn tục duyên tại,
               十里空山下月明。    Thập lý không sơn hạ nguyệt minh !
       Có nghĩa :
            Buổi sáng khi lạc vào Dao Đài trong khi khí trời và sương sớm còn rất trong lành; Trong bàn cùng ngồi với ta còn có tiên nương Hứa Phi Quỳnh. Vì lòng trần còn chưa dứt nên cái duyên trần tục vẫn hãy còn đây; Xuống núi trong cảnh mười dặm núi non vắng lặng nầy chỉ còn có vầng trăng sáng mà thôi !



                        
                      Lạc bước Dao Đài sương sớm hanh,
                      Cùng ngồi chuốc chén Hứa Phi Quỳnh.
                      Lòng trần chưa dứt còn duyên tục,
                      Mười dặm không sơn bóng nguyệt thanh !

        Hồn mộng vấn vương, đêm sau lại mơ vào Dao Đài hôm trước để gặp lại Hứa Phi Quỳnh; Nhưng tiên nương đã hờn dỗi trách rằng :"Sao lại mang cả tên thiếp đưa vào chốn nhân gian thế kia !?" Hứa bèn tạ lỗi và sửa câu thứ hai lại thành "天風吹下步虛聲 Thiên phong xuy hạ bộ hư thinh". Có nghĩa : Dưới cơn gió trời thổi bước chân nhẹ nhàng như hư như thật". Phi Quỳnh bèn cười đáp "Tốt!". Nên bài thơ còn có thêm một dị bản như sau :

               曉入瑤臺露氣清,     Hiểu nhập Dao Đài lộ khí thanh,
               天風吹下步虛聲.     Thiên phong xuy hạ bộ hư thinh
               塵心未斷俗緣在,     Trần tâm vị đoạn tục duyên tại,
               十里空山下月明.     Thập lý không sơn hạ nguyệt minh !
      Có nghĩa :
                     Lạc bước Dao Đài sương sớm hanh,
                     Gió trời lay động bước mong manh.
                     Lòng trần chưa dứt còn duyên tục,
                     Mười dặm không sơn bóng nguyệt thanh !          

             
     
      Hứa Dụng Hối 許用晦 còn một ngoại hiệu nữa là Hứa Trọng Hối 許仲晦, tên thật là...
       HỨA HỒN 許渾(788—860)sanh năm Trinh Nguyên thứ tư (788), người đất Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (thuộc tỉnh Giang Tô hiện nay). Ông là cháu 6 đời của Tễ Tướng Hứa Ngự Sư 許圉師, là một trong những thi nhân nổi tiếng dưới thời Vãn Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Đại Hòa thứ 6 (832) và giữ nhiều chức vụ. Cả đời ông không làm thơ Cổ thể, chỉ chuyên về Luật thi; Đề tài thường lấy điền viên hoặc hoài cổ, lời thơ công đối chỉnh tề, thường miêu tả về sơn thủy, cảnh trước sau mưa... được đánh giá là ngang hàng với thi thánh Đỗ Phủ với câu :"Hứa Hồn thiên thủ thấp, Đỗ Phủ nhất sinh sầu 許渾千首溼,杜甫一生愁". Có nghĩa : "Ngàn bài thơ của Hứa Hồn đều có vẻ ướt át; Còn thơ cả đời của Đỗ Phủ đều có vẻ ưu thời mẫn thế". Như ta đã biết...
      Khi lên Hoàng Hạc Lâu thấy cảnh trí nên thơ hùng vĩ của vùng sông nước bày ra trước mắt, thi Tiên Lý Bạch đã gợi hứng nguồn thơ, nên cất bút toan đề thơ, nhưng khi nhìn lên vách thấy bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu bèn quẳng bút đi mà than rằng :"Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu 眼前有景道不得,崔颢题詩在上頭" Có nghĩa :"Trước mắt có cảnh mà không sao tả được, vì Thôi Hiệu đã đề thơ phía trên đầu ta rồi !". Vì Lý biết chắc rằng, nếu mình có miễn cưỡng làm thơ, thì chắc chắn cũng chẳng bao giớ bằng được bài thơ mà Thôi Hiệu đã làm, nên thôi. Nhưng nỗi lòng ấm ức vẫn cứ âm ĩ mãi trong tim, cho nên khi đến đất Kim Lăng, lên ngắm cảnh trên Phụng Hoàng Đài, ông mới xúc cảnh sinh tình, mà làm nên bài thơ "Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài 登金陵鳳凰台" rất xuất sắc, gieo vần và âm hưởng đều tương tự như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu...


       Hứa Hồn cũng thế, bài thơ luật "Hàm Dương Thành Đông Lâu 咸陽城東樓" của ông cũng có âm điệu và phong cách giống như là bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, kể cả vần được gieo cũng làm cho người đọc cảm thấy như đang đọc lại câu "Yên ba giang thượng sử nhân sầu 煙波江上使人愁" vậy...  

                           咸陽城東樓           HÀM DƯƠNG THÀNH ĐÔNG LÂU           

        一上高城萬里愁,    Nhất thướng cao thành vạn lý sầu,
        蒹葭楊柳似汀洲,    Kiêm hà dương liễu tự thinh châu, 
        溪雲初起日沉閣,    Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
        山雨欲來風滿樓。    Sơn vũ dục lai phong mãn lâu. 
        鳥下綠蕪秦苑夕,    Điểu hạ lục vu Tần uyển tịch,
        蟬鳴黃葉漢宮秋,    Thiền minh hoàng diệp Hán cung thu,
        行人莫問當年事,    Hành nhân mạc vấn đương niên sự,
        故國東來渭水流。    Cố quốc đông lai Vị Thủy lưu. 
                   許渾                             Hứa Hồn.   
 
                            
            
* Chú thích :
    - Kiêm Hà 蒹葭 : Là Lau sậy, theo tiếng gọi của ngày xưa. Trong Kinh Thi chương Tần Phong có câu "Kiêm Hà thương thương 蒹葭蒼蒼" có nghĩa là "Lau sậy xanh xanh".
    - Thinh Châu 汀洲 : Có 2 nghĩa :
      * Những cồn cỏ, cù lao giữa dòng sông nước.
      * Địa danh thuộc tỉnh Phước Kiến, nay là Huyện Trường Thinh.
    - Khê Vân 溪雲 : Hơi nước từ trong khe suối bốc lên thành mây.
    - Lục Vu 綠蕪 : Vu là Rậm rạp, hoang vắng. LỤC VU là Bãi xanh hoang vu.
    - Vị Thủy 渭水 : Tên con sông phát nguyên từ tỉnh Cam Túc, chảy qua tỉnh Thiểm Tây đổ vào sông Hoàng Hà rồi chảy ra biển Đông..

* Nghĩa bài thơ :
                      TRÊN LẦU ĐÔNG CỦA THÀNH HÀM DƯƠNG.
       Lên đến tận trên lầu cao của đông thành thì nỗi sầu lại dài thêm vạn dặm. Trước mắt, lau sậy hòa vào màu xanh của dương liễu mường tượng như màu xanh của những cồn đất trên sông. Những làn hơi nước trong khe suối vừa bốc lên thành những làn mây mỏng thì mặt trời cũng đã chìm xuống phía sau lầu rồi, Và cơn mưa núi chưa kịp đổ xuống thì gió đã ào ạt đầy cả lầu ! Lũ chim bay xà xuống bãi xanh hoang vu của vườn thượng uyển đời Tần ngày xưa trong buổi chiều tà. Và lũ ve cuối mùa cố cất tiếng ngâm trong đám lá vàng của cung viên nhà Hán vào buổi chiều thu se lạnh. Ôi thôi ! Người qua đường xin đừng hỏi đến chuyện của năm xưa nữa, Cố quốc từ hướng đông mà đến cũng như dòng Vị Thủy theo hướng của tất cả những dòng sông đổ vào Hoàng Hà rồi cũng đều chảy về với biển Đông mà thôi... 

* Diễn Nôm :



                     HÀM DƯƠNG THÀNH ĐÔNG LÂU  

                     Vòi vọi thành cao vạn dặm sầu,
                     Lau xanh liễu rũ ngỡ thinh châu.
                     Mây vờn khe suối vầng ô khuất,
                     Mưa chửa thành cơn gió ngập lầu.
                     Chim lượn xập xòe Tần thượng uyển,
                     Ve sầu rả rít Hán cung thâu.
                     Nào người chớ hỏi đời xưa cũ,
                     Sông Vị về đông vẫn chảy mau !
          Lục bát :
                     Thành cao cho vạn dặm sầu,
                     Vi lô tơ liễu tựa màu thinh châu.
                     Mây lên mặt nhựt khuất lầu,
                     Mưa chưa thành hạt gió sầu đầy song.
                     Chim xà Tần uyển vườn không,
                     Ve ngâm rả rít Hán cung thu sầu.
                     Nào ai chớ hỏi vì đâu ?!
                     Về đông sông Vị chảy mau, lệ thường !!!...
                                                             
      Mặc dù không làm rung động lòng người và còn để lại dư âm như Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, Hàm Dương Thành Đông Lâu của Hứa Hồn cũng nói lên một niềm hoài cổ não lòng, xót xa đến... dửng dưng, vì biết đó là cái lẽ của cuộc sống, cái lý của sự vật ở trên đời "Vật cực tất phản", Âm cực dương hồi, hết thịnh rồi lại suy... cứ thế luân lưu mãi, như tất cả những dòng sông đều chảy về đông...

                 Hành nhân mạc vấn đương niên sự,  行人莫問當年事,     
                 Cố quốc đông lai Vị Thủy lưu !!!        故國東來渭水流...


      Bài thơ lại nổi tiếng và để đời với đôi Thực :

                 溪雲初起日沉閣, Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
                 山雨欲來風滿樓。 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu. 

                     Mây vờn khe suối vầng ô khuất,
                     Mưa chửa thành cơn gió ngập lầu.

      Nhất là câu "山雨欲來風滿樓 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu" đã trở thành như một câu ngạn ngữ của dân miền núi khi trời sắp đổ mưa. Đây cũng là một đặc điểm độc đáo của thơ Hứa Hồn, bài thơ nổi tiếng nào của ông cũng "ướt nhẹp" với mây mưa, suối khe, sông nước... 
Sau đây là một bài thơ tiễn bạn trên "Sông Nước" dưới bầu trời đầy "Mưa Gió" nữa của ông :



            謝亭送別               TẠ ĐÌNH TỐNG BIỆT

          勞歌一曲解行舟,     Lao ca nhất khúc giải hành chu,
          紅葉青山水急流。     Hồng diệp thanh sơn thủy cấp lưu.
          日暮酒醒人已遠,     Nhật mộ tửu tinh nhân dĩ viễn,
          滿天風雨下西樓。     Mãn thiên phong vũ há tây lâu !
                          許渾                                       Hứa Hồn

* Chú thích :
    - TẠ ĐÌNH 謝亭 : Còn có tên là TẠ CÔNG ĐÌNH 謝公亭(Đình của ông họ Tạ) nằm ở mặt bắc của Tuyện Thành, do Thái Thú Tuyên Thành là TẠ THIỂU 謝朓 đời Nam Tề dựng nên để tiễn bạn là Phạm Vân. Về sau TẠ ĐÌNH thành nơi tiễn biệt nổi tiếng của Tuyên Thành.
    - Lao Ca 勞歌 : là "Bài ca ly biệt" vốn được hát ở Lao Lao Đình 勞勞亭 để đưa bạn tiễn khách. Sau LAO CA thành biểu tượng của bài ca ly biệt, như trong 2 câu thơ của Thi Tiên Lý Bạch : "Thiên hạ thương tâm xứ, Lao Lao tống khách đình 天下傷心處,勞勞送客亭" Có nghĩa :"Nơi mà thiên hạ thương tâm nhất, chính là cái đình tiễn khách tên Lao Lao nầy đây".
    - Giải 解 : là Cởi, mở ra, tháo ra.
    - Hồng Diệp 紅葉 : là "Lá đỏ", còn có dị bản là HỒNG THỌ 紅樹 là Cây lá đỏ.
    - Thuỷ Cấp Lưu 水急流 : là "Nước chảy xiết" hàm ý "Thuyền đi nhanh".
    - Tây Lâu 西樓 : là "Lầu Tây" là nơi khách ở, nên thường mượn từ "Lầu Tây" để chỉ nơi tiễn khách; cũng như NAM PHỐ 南浦 là Bến nước phía Nam, cũng là bến nước để đưa bạn, tiễn khách. Nên trong cổ thi thường mượn từ TÂY LÂU và NAM PHỐ để chỉ nơi đưa tiễn.

* Nghĩa bài thơ :
                    ĐƯA TIỄN Ở TẠ CÔNG ĐÌNH
        Sau một khúc Lao ca tiễn biệt thì dây thuyền đã được mở ra và thuyền đi nhanh theo dòng nước cuốn nhanh trong cảnh núi xanh lá đỏ; Khi chiều đã xuống, rượu cũng đã tỉnh ra thì người cũng đã đi xa rồi; Ta bước xuống lầu tây trong cảnh đầy trời mưa gió não nùng.


* Diễn Nôm :
                     TẠ ĐÌNH TỐNG BIỆT

                 Lao ca một khúc mở thuyền đi,
                 Lá đỏ núi xanh nước cuốn đầy.
                 Chiều xuống tỉnh ra người đà khuất,
                 Ngập trời mưa gió xuống lầu tây !...
       Lục bát :
                 Lao ca một khúc thuyền đi,
                 Núi xanh lá đỏ nước thì cuốn trôi.
                 Tỉnh ra người đã xa rồi,
                 Ngập trời mưa gió bồi hồi xuống thang.
         

      Hẹn bài viết tới !

                                                                    杜紹德
                                                                 ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ ! - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自君之出矣


   Giai Thoại Văn Chương :

                              TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ !
                                        

       "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自君之出矣" là một câu thường thấy dùng để mở đầu trong một bài thơ ca cổ; Sau mới diễn biến thành "tựa đề" của "thơ Nhạc phủ", là một loại thơ có thể phổ nhạc và hát được. TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ thường dùng để diễn tả nỗi biệt ly và lòng tưởng nhớ của một người vợ có chồng đi xa. Có xuất xứ như sau :
       Cuối đời Đông Hán, một trong "Kiến An Thất Tử 建安七子", Bảy người giỏi nhất thời Kiến An là Từ Cán 徐幹, tự Vĩ Trường 偉長 làm một bài thơ trường thiên tựa là "Thất Tứ 室思"; Có vế thứ ba như sau :

              其三               KỲ TAM
           浮雲何洋洋,    Phù vân hà dương dương ?
           願因通我辭。    Nguyện nhân thông ngã từ.
           飄颻不可寄,    Phiêu diêu bất khả ký!
           徙倚徒相思。    Tỉ ỷ đồ tương tư.
           人離皆復會,    Nhân ly giai phục hội,
           君獨無返期。    Quân độc vô phản kỳ.
           自君之出矣,    TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ,
           明鏡暗不治。    Minh kính ám bất trị,
           思君如流水,    Tư quân như lưu thủy,
           何有窮已時。    Hà hữu cùng dĩ thì ?!


* Chú thích :
    - Thất Tứ 室思 : là Những suy nghĩ tơ tưởng của người ở lại nhà.
    - Dương Dương 洋洋 : chỉ trôi nổi lang thang vô định.
    - Thông Ngã Từ 通我辭 : là Truyền đạt lời muốn nói của ta.
    - Tỉ Ỷ 徙倚 : là "Đổi chỗ tựa"; Ý chỉ "Thẩn thơ, ngơ ngẩn".
    - Đồ Tương Tư 徒相思 : ĐỒ là Trống không, Vô ích. Nên ĐỒ TƯƠNG TƯ là Nhớ nhau một cách vô ích; là Thương nhớ khơi nhơi, không có tác dụng.
    - Phục Hội 復會 : là Hội ngộ trở lại; là Gặp lại nhau.
    - Phản Kỳ 返期 : là Kỳ hạn phản hồi; là Ngày quay trở lại.
    - Bất Trị 不治 : Không lo lắng, không màng đến; Trong bài có nghĩa là Không lau chùi.

* Nghĩa bài thơ : 

                          NỔI NHỚ Ở NHÀ (bài 3)        
        Đám phù vân sao mà ung dung trôi nổi bay về đâu thế kia ? Ta muốn nhờ nó truyền đạt dùm những lời nói trong lòng của ta. Nhưng nó cứ trôi nổi phiêu bạt thế kia thì làm sao mà gởi gắm cho được ! Nên ta đành thơ thẩn mà tương tư một cách vô ích mà thôi. Những người ra đi đều đã trở lại, riêng chỉ có chàng là không hẹn được ngày về. TỪ CHÀNG RA ĐI RỒI thì chiếc gương sáng cũng phai mờ vì không ai lau chùi. Thiếp nhớ chàng như dòng nước cứ chảy xuôi chảy mãi, làm sao có thể có lúc nào ngưng chảy được chứ ?!

* Diễn Nôm :



                     THẤT TỨ (Kỳ tam)
              
                  Mây nổi sao thảnh thơi,
                  Có cho ta nhắn lời.
                  Trôi nổi làm sao gởi,
                  Đành thương nhớ suông thôi.
                  Người đi còn trở lại,
                  Chỉ chàng biệt chân trời !

                  Từ ngày chàng đi rồi,
                  Gương sáng cũng mờ thôi.
                  Nhớ chàng như dòng nước,
                  Chảy mãi chẳng ngừng trôi !
      Lục bát :
                  Phù vân sao lại thảnh thơi,
                  Cho ta nhắn nhủ đôi lời nhớ thương.
                  Nổi trôi khó gửi lòng buồn,
                  Thẩn thờ chiếc bóng vấn vương tơ lòng.
                  Người đi đều trở lại trông,
                  Riêng chàng biền biệt khó mong ngày về !

                  Từ Ngày Chàng Bước Chân Đi,
                  Gương trong mờ nhạt biếng khi lau chùi.
                  Nhớ chàng như nước sông trôi,
                  Nước trôi trôi mãi chẳng thôi chẳng dừng !



                     
       Bốn câu cuối của vế thơ trên là "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, 自君之出矣,Minh kính ám bất trị, 明鏡暗不治。Tư quân như lưu thủy, 思君如流水,Hà hữu cùng dĩ thì ?!何有窮已時?!" nói lên mối tình thắm thiết của người vợ luôn tưởng nhớ đến người chồng đi xa của mình, đã là niềm cảm hứng vô tận cho các thi nhân sau nầy; Mọi người đều cùng nhau lấy câu "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, 自君之出矣" để làm tựa và để mở đầu bài thơ với muôn màu muôn vẻ, nói lên lắm nỗi trăm nhớ ngàn thương của người khuê phụ ở chốn phòng không với trên hai trăm bài ngũ ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn bát cú sau nầy.
       Thực ra thì Từ Cán chỉ nổi tiếng về văn thời Đông Hán (25-220) chớ không phải về thơ, bài thơ trên lúc đó cũng không mấy ai để ý, thậm chí hơn hai trăm năm sau cũng không mấy người biết đến, mãi cho đến thời Nam Bắc Triều(420—589) thì Nam Triều Tống Hiếu Võ Đế Lưu Tuấn 劉駿 (430-464) mới nhại khổ thơ trên mà viết một bài ngũ ngôn tứ tuyệt như sau : 

              自君之出矣,     Tự quân chi xuất hỉ,
              金翠暗無精。     Kim thúy ám vô tinh.
              思君如日月,     Tư quân như nhật nguyệt,
              迴環晝夜生。     Hồi hoàn trú dạ sinh!

               
* Chú thích :
    - Kim Thúy 金翠 : chỉ vàng ròng và ngọc phỉ thúy làm thành đồ trang sức.
    - Tinh 精 : là Tinh minh, sáng sủa, rực rỡ.
    - Hồi Hoàn 迴環 : là quay vòng, là lần lượt tuần tự theo quy trình.
    - Trú Dạ 晝夜 : Trú là ngày, Dạ là đêm.

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng ra đi rồi, thì đồ trang sức vòng vàng phỉ thúy của thiếp cũng không còn rực rỡ nữa. Nhớ chàng như là mặt trăng mặt trời vậy, cứ lần lượt mọc rồi lại lặn hết ngày rồi lại tới đêm (và cứ tuần tự như thế mãi!).

* Diễn Nôm :



                     TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                     Từ ngày chàng đi rồi,
                     Vàng ngọc cũng mờ thôi.
                     Nhớ chàng như nhật nguyệt,
                     Mọc lặn đêm ngày trôi !
         Luc bát :
                     Từ ngày chàng bước chân đi,
                     Trâm vàng phỉ thúy cũng mờ nhạt thôi.
                     Nhớ chàng nhật nguyệt dần trôi,
                     Ngày đêm mọc lặn không thôi nhớ chàng !            

        Kết cấu của bài thơ hoàn toàn giống như là vế thơ của Từ Cán : Ngoài việc lặp lại câu đầu, câu thứ hai cũng ở dạng phủ định, câu thứ ba cũng ở dạng so sánh với từ "NHƯ" và kết bằng ý chính ở câu thứ tư. Được ông vua tài hoa nhắc lại như là được một quảng cáo siêu cấp, nên mọi người đều đổ xô nhau dùng "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" để làm thơ, để mô phỏng, để tiếp tục... không ngừng về thể thơ nầy khiến NÓ trở thành một "Tựa đề" trong Nhạc phủ;
cũng có những bài thơ đột phá khỏi cách thức nầy, nhưng tất cả đều cùng dùng câu "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" để mở đầu bài thơ. Sau đây là diễn tiến của "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" qua các thời đại... Bắt đầu từ bài thơ của Vương Dung 王融 nước Tề của Nam Triều : 
 
              自君之出矣,    Tự quân chi xuất hĩ,
              金爐香不燃。    Kim lô hương bất nhiên.
              思君如明燭,    Tư quân như minh chúc,
              中宵空自煎。    Trung tiêu không tự tiên.


                
* Chú thích :
    - Kim Lô 金爐 : là cái lò được dát vàng dùng để đốt trầm hương cho thơm phòng.
    - Nhiên 燃 : có bộ HỎA 火 là Lửa ở bên trái, nên có nghĩa là Đốt.
    - Minh Chúc 明燭 : Ngọn đuốc sáng; Trong bài chỉ ngọn đèn sáp được thắp sáng hằng đêm.
    - Trung Tiêu 中宵 : là Giữa đêm, là nửa đêm về sáng; Trong bài chỉ suốt đêm.

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng ra đi rồi; Lò vàng trầm hương cũng không còn đốt nữa. Nhớ chàng như ngọn đuốc nến đang cháy sáng; Suốt đêm cứ tự mình thiêu đốt mình một cách ngẩn ngơ mà không người biết đến.

* Diễn Nôm :


                   TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                   Từ ngày chàng đi rồi,
                   Lò hương biếng đốt thôi.
                   Nhớ chàng như đuốc nến,
                   Đêm tự đốt mình thôi !
        Lục bát :
                   Từ ngày chàng bước chân đi,
                   Lò vàng thiếp cũng biếng vì đốt hương.
                   Nhớ chàng như nến đêm trường,
                   Đêm đêm tự đốt tự thương thân mình !

       Tể Tướng Nam Đường là Trần Thúc Đạt 陳叔達, là em khác mẹ của Trần Hậu Chúa Trần Thúc Bảo thì có thơ như sau :

               自君之出矣,   Tự quân chi xuất hĩ,
               紅顏轉憔悴。   Hồng nhan chuyển tiều tụy.
               思君如明燭,   Tư quân như minh chúc,
               煎心且銜淚。   Tiễn tâm thả hàm lệ !

               自君之出矣,   Tự quân chi xuất hĩ,
               明鏡罷紅妝。   Minh kính bãi hồng trang.
               思君如夜燭,   Tư quân như dạ chúc,
               煎淚幾千行。   Tiễn lệ kỷ thiên hàng !

  
* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng ra đi rồi, thì nhan sắc hồng hào của thiếp cũng chuyển sang tiều tụy võ vàng; Nhớ chàng như là ngọn nến đang đốt sáng; Vừa đốt tim nến của mình lại vừa phải ngậm những giọt lệ nến chung quanh (Vừa đau lòng vừa nuốt lệ!).
        Từ ngày chàng ra đi rồi, thì gương sáng đã không còn soi được dung nhan đẹp đẽ của thiếp nữa. Nhớ chàng như là ngọn nến trong đêm; cứ đốt mãi thân mình cho lệ nến rơi đến mấy ngàn hàng !

* Diễn Nôm :



                    TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                         Từ ngày chàng ra đi,
                    Dung nhan thiếp tiều tụy.
                    Nhớ chàng như nến sáng,
                    Đốt lòng còn nuốt lệ !

                    Từ ngày chàng đi rồi,
                    Gương sáng cũng biếng soi.
                    Nhớ chàng như ngọn nến,
                    Ngàn hàng lệ tuôn rơi !
         Lục bát :
                    Từ ngày chàng bước chân đi,
                    Hồng nhan tiều tụy còn gì đẹp xinh.
                    Nhớ chàng như nến năm canh,
                    Đốt tim đốt dạ nuốt dòng lệ rơi !

                    Từ ngày chàng ra đi rồi,
                    Thẩn thờ gương sáng ngậm ngùi biếng soi.
                    Nhớ chàng như nến đơn côi,
                    Ngàn hàng lệ nhỏ ngậm ngùi đêm đêm !

    ... Và sau đây là 2 trong 6 bài TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ của Trần Hậu Chúa Trần Thúc Bảo 陳叔寶 của Nam Triều :

              自君之出矣,     Tự quân chi xuất hĩ,
              綠草遍堦生。     Lục thảo biến giai sinh.
              思君如夜燭,     Tư quân như dạ chúc,
              垂淚著雞鳴。     Thùy lệ chước kê minh.

              自君之出矣,     Tự quân chi xuất hĩ,
              愁颜难复睹。     Sầu nhan nan phục đổ.
              思君如蘗條,     Tư quân như bách điều,
              夜夜只交苦。     Dạ dạ chỉ giao khổ !




* Chú thích :
    - Biến Giai 遍堦 : BIẾN là Khắp cùng; GIAI là Bậc thềm; nên BIẾN GIAI là Khắp cả bậc thêm, là Đầy thềm.
    - Thuỳ Lệ 垂淚 : là Nhỏ hai hàng nước mắt.
    - Kê Minh 雞鳴 : là Gà gáy, chỉ trời rựng sáng.
    - Phục Đổ 复睹 : là Nhìn rồi, nhìn lại một lần nữa.
    - Bách Điều 蘗條 : BÁCH là Cây Hoàng Bách 黃蘗, còn được đọc là Huỳnh Bách 黃蘗 hay Huỳnh Bá 黃柏, có vị đắng dùng làm thuốc giải nhiệt. Trong truyện "Lục Vân Tiên" của cụ Đồ Chiểu, thầy thuốc Triệu Ngang khi trị bịnh cho Lục Vân Tiên đã nói câu :
                 Huỳnh liên Huỳnh Bá huỳnh cầm,
               Gia vào cho bội nhiệt tâm mới bình.
       Còn trong ca dao dân ca thì nói:
                 Huỳnh Cầm, Huỳnh Bá, Huỳnh Liên,
               Ba Huỳnh hiệp lại thì khiêng ra đồng.
       Hay :
                 Huỳnh Liên, Huỳnh Bá, Huỳnh Cầm,
               Uống vào một miếng thì nằm ngay đơ !


                   
    - Giao Khổ 交苦 : Chỉ những cây Huỳnh bá mới mọc giao nhau cái vị đắng của cây; (Mượn vị đắng để chỉ cái khổ sở đang dày xéo trong lòng).

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng bước chân đi rồi, thì cỏ xanh cũng mọc đầy khắp cả bậc thềm (vì không còn ai đi lên xuống cả). Nhớ chàng như cây nến thắp ban đêm; cứ nhỏ lệ mãi cho đến lúc gà gáy sáng.
        Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi, thì thiếp buồn rầu đến nỗi khó thấy lại được dung nhan của ngày xưa. Nhớ chàng như là những cây huỳnh bách mới mọc, cứ đêm đêm lại đắng thêm ra.

* Diễn Nôm :

                    TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                    Từ ngày chàng ra đi,
                    Đầy thềm cỏ xanh rì.
                    Nhớ chàng như lệ nến,
                    Gà gáy vẫn nhỏ lì !
        
                    Từ ngày chàng đi rồi,
                    Mặt buồn gương chẳng soi.
                    Nhớ chàng như huỳnh bá,
                    Đêm đêm ngậm đắng thôi !
        Lục bát :
                    Từ ngày chàng bước chân đi,
                    Thềm hoang cỏ dại xanh rì khắp nơi.
                    Nhớ chàng như lệ nến rơi,
                    Lệ rơi rơi mãi gà thời gáy vang !

                    Từ ngày chàng ra đi rồi,
                    Mặt buồn nên chẳng buồn soi gương vàng.
                    khổ như huỳnh bá nhớ chàng,
                    Đêm đêm ngậm đắng khổ càng khổ hơn !

       Đến đời Đường thì có Ung Dụ Chi 雍裕之 (765-813) với bốn câu thơ sau :

               自君之出矣,    Tự quân chi xuất hĩ,
               寶鏡為誰明?    Bảo kính vị thùy minh?
               思君如隴水,    Tư quân như Lũng thủy,
               長聞嗚咽聲。    Trường văn ô yết thinh.



* Chú thích :
    - Lũng Thủy 隴水 : Tên một con sông ở vùng Cam Túc, Thiểm Tây. Vì phát nguyên từ trong núi đá quanh co chảy ra, nên tiếng nước chảy nghe róc rách như oán như than.
    - Trường Văn 長聞 : VĂN 聞 nầy có bộ NHĨ 耳 là Lổ Tai ở bên trong chữ MÔN 門 là cửa : Chỏ lổ tai ra ngoài cửa, nên VĂN có nghĩa là Nghe Ngóng. Vì thế TRƯỜNG VĂN có nghĩa là : Nghe dài dài, là Nghe mãi...
    - Ô Yết 嗚咽 : Tiếng nấc tức tưởi nghẹn ngào từ trong cổ họng vang lên.

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng ra đi rồi, thì gương báu còn biết sáng vì ai đây ? Nhớ chàng như dòng sông Lũng Thủy, cứ nghe róc rách như nghẹn ngào tức tưởi mãi không thôi !

* Diễn Nôm :
                    TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                    Từ ngày chàng đi rồi,
                    Gương báu vì ai soi ?
                    Nhớ chàng như sông Lũng,
                    Róc rách mãi không thôi !
        Lục bát :
                    Từ ngày chàng bước chân đi,
                    Bỏ mặc gương báu sáng vì ai đây ?
                    Nhớ chàng như nước Lũng đầy,
                    Róc rách tức tưởi nghe hoài đêm đêm !
 
       Trong rừng thơ mô phỏng TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, có ý mới và xuất sắc nhất là của Tễ Tướng Trương Cửu Linh 宰相張九齡 mà ta đã biết :

               自君之出矣,     Tự quân chi xuất hĩ,
               不復理殘機。     Bất phục lý tàn ki (cơ).
               思君如滿月,     Tư quân như mãn nguyệt,
               夜夜減清輝。     Dạ dạ giảm thanh huy !


                  
* Chú thích :
    - Phục Lý 復理 : LÝ là xử lý, là Sữa chữa; Nên PHỤC LÝ là Sữa chữa lại.
    - Tàn Cơ 殘機 : CƠ là Khung cửi; Nên TÀN CƠ là Khung vửi đà tàn tạ, hư hao. Vì muốn cho ĂN VẬN với từ HUY ở câu 4 nên CƠ mới đọc là KI.
    - Mãn Nguyệt 滿月 : là Vầng trăng đầy đặn trong sáng của ngày rằm.
    - Thanh Huy 清輝 : THANH 清 có ba chấm THỦY 氵bên trái, nên có nghĩa là Trong trẻo; nên THANH HUY là Ánh sáng trong trẻo dịu dàng của ánh trăng ban đêm.   
            
* Nghĩa bài thơ :
            Từ ngày chàng buớc chân ra đi, thiếp cũng đã chẳng thèm ngó ngàng sửa chửa gì đến cái khung cửi đã tàn tạ kia nữa. Thiếp nhớ chàng như ánh trăng rằm đầy đặn, rồi đêm đêm cứ giảm dần giảm dần ánh sáng trong trẻo một cách mõi mòn !

* Diễn Nôm :

                     TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 
                  
                     Từ ngày chàng đi rồi,
                     Khung cửi chẳng sửa thôi,
                     Nhớ chàng như mãn nguyệt,
                     Đêm đêm bớt sáng rồi !
        Lục bát :
                     Từ ngày chàng bước chân đi,
                     Cửi khung bỏ mặc cần gì sửa sang. 
                     Nhớ chàng tựa ánh trăng vàng,
                     Đêm đêm bớt sáng võ vàng đêm đêm !

       Bài thơ của Trương Cửu Linh đã được nhạc sĩ Đàm Tiểu Lân 譚小麟 (1912-1948) phổ nhạc. Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :

           
       Nữ thi nhân nước Tống thời Nam Triều là Bào Lệnh Huy 鮑令暉 thì viết hẵn thành một bài Ngũ ngôn Cổ phong với nhiều tình tiết nhớ thương và mong đợi... như sau :

               自君之出矣,     Tự quân chi xuất hĩ,
               臨軒不解顏。     Lâm hiên bất giải nhan.
               砧杵夜不發,     Châm chữ dạ bất phát,
               高門晝恆關。     Cao môn trú hằng quan.
               帳中流熠耀,     Trướng trung lưu tập diệu,
               庭前華紫蘭。     Đình tiền hoa tử lan.
               物枯識節異,     Vật khô thức tiết dị,
               鴻來知客寒。     Hồng lai tri khách hàn.
               游用暮冬盡,     Du dụng mộ đông tận,
               除春待君還。     Trừ xuân đãi quân hoàn !



* Chú thích :
    - Lâm Hiên  臨軒 : là đến trước mái hiên nhà.
    - Giải Nhan 解顏 : là Mở mày mở mặt, chỉ vui vẻ. Nên Bất Giải Nhan là mặt mày không vui chút nào cả.
    - Châm Chữ 砧杵 : CHÂM 砧 có bộ THẠCH 石 bên trái, là cái Chày bằng đá, mà cũng có nghĩa là tấm thớt nữa. CHỮ 杵 có bộ MỘC 木 bên trái, là Chày bằng cây. Nói chung CHÂM CHỮ là dụng cụ dùng để giặt giũ ngày xưa. Vì vải thô và dầy nên thường phải đập bằng chày.
    - Hằng Quan 恆關 : HẰNG là Thường; QUAN (động từ) có nghĩa là Đóng; nên HẰNG QUAN là Thường đóng kín lại.
    - Tập Diệu 熠耀 : TÂP là Sáng lắp lánh; DIỆU là Sáng choang, sáng chói. Nên Tập Diệu là Sáng lắp lánh rực rỡ. Lưu Tập Diệu 流熠耀 là chỉ những con đom đóm bay nhấp nháy trong màn.
    - Tử Lan 紫蘭 :là một loại hoa lan, có màu tím, trắng, lam, vàng...
    - Tiết Dị 節異 : là Thời tiết đã khác đi.
    - Hồng Lai 鴻來 : là Chim hồng nhạn bay đến.
    - Du Dụng 游用 : Chỉ người du tử dạo chơi khắp chốn.
    - Trừ Xuân 除春 : Chỉ cuối đông đầu xuân.

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng ra đi rồi, thiếp thường ra đứng ở mái hiên để trông ngóng chàng một cách buồn bã vì chẳng thấy chàng đâu.
        Thớt chày đêm đêm cũng không còn vang lên tiếng giặt giũ; và cửa nhà luôn được đóng kín lúc ban ngày.
        Trong trướng thì mỗi đêm đều có đom đóm bay chập chờn lắp lánh; Trong sân nhà thì các loại hoa tử lan lại nở đầy.
        Vạn vật cứ khô héo dần nên thiếp biết là thời tiết đã thay đổi khác đi rồi; và chim hồng nhạn bay đến nên thiếp biết là ở nơi đất khách trời đã trở lạnh rồi.
        Chàng dạo chơi khắp chốn nhưng cũng nên biết là mùa đông đã sắp tàn rồi, và đầu xuân nầy thiếp sẽ mong đợi chàng về (để đôi ta được đoàn tụ).

* Diễn Nôm :



                   TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                        Từ ngày chàng đi xa,
                   Buồn ngóng mái hiên nhà.
                   Tiếng chày đêm hết giặt,
                   Cửa ngày chẳng mở ra.
                   Trong trướng đóm bay lượn,
                   Ngoài sân lan nở hoa.
                   Vật khô thời tiết đổi,
                   Nhạn về lạnh khách xa.
                   ngao du đông đà hết,
                   Đầu xuân đợi về nhà !
         Lục bát :
                   Từ ngày chàng bước chân đi,
                   Bên hiên buồn ngóng vui chi sao đành.
                   Chày giặt im tiếng đêm thanh,
                   Cửa nhà đóng chặc không đành mở ra.
                   Trong màn đóm lượn lấp la,
                   Ngoài sân lan đã nở hoa khắp cùng.
                   Sao vời vật đổi mông lung,
                   Nhạn về đất khách lạnh cùng khắp nơi.
                   Ngao du đông đã hết rồi,
                   Đầu xuân thiếp đợi, chàng ơi hãy về !

        Sau đây là bài thơ của Ngu Hi 虞羲, môt thi nhân của buổi Tề Lương, khi thơ ngũ ngôn bát cú vừa mới manh nha thành hình :

              自君之出矣,     Tự quân chi xuất hỉ,
              楊柳正依依。     Dương liễu chính y y.
              君去無消息,     Quân khứ vô tiêu tức,
              唯見黃鶴飛。     Duy kiến hoàng hạc phi.
              關山多險阻,     Quan sơn đa hiễm trở,
              士馬少光輝。     Sĩ mã thiểu quang huy.
              流年無止極,     Lưu niên vô chỉ cực,
              君去何時歸。     Quân khứ hà thời quy ?!
                 
* Chú thích :
    - 依依 Y Y : Y là dựa dẵm. Y Y là Lưu luyến, nắm níu không nở rời nhau.
    - Tiêu Tức 消息 : là Tin tức; những việc xảy ra mà mình muốn biết.
    - Quan Sơn 關山 : QUAN là Cửa ải; Sơn là Núi non. Nên QUAN SƠN là nơi quan ải với núi non hiểm trở.
    - Sĩ Mã 士馬 : Lính và Ngựa; chỉ quân đội ngày xưa.
    - Quang Huy 光輝 : là Sáng sủa. Trong bài là THIỂU QUANG HUY 少光輝 Không phải là "Thiếu sáng sủa"; mà chỉ "Rất vất vả, lao nhọc".
    - Lưu Niên 流年 : là Suốt năm, cũng có nghĩa là "Hết năm nầy qua năm khác".
    - Chỉ Cực 止極 : CHỈ là ngừng; CỰC là Hết mức. Nên CHỈ CỰC là Hết mức rồi nên dừng lại. VÔ CHỈ CỰC 無止極 là "Không có điểm để dừng lại", có nghĩa là "Cứ tiếp tục mãi như thế".
    - Hà Thời 何時 : là Chừng nào, lúc nào, khi nào...

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi, thì cũng chính là lúc thiếp như nhành dương liễu cứ nắm níu lưu luyến mãi không nở rời xa.
        Chàng ra đi rồi thì bặt tin bặt tức (không có chim nhạn đưa thư gì cả!) chỉ thấy có những con hạc vàng bay vút tận chân trời.
        Trên con đường quan ải núi non trùng điệp nhiều hiễm trở khó đi; Chắc binh sĩ và ngựa chiến cũng rất là gian nan vất vả.
        Suốt năm nầy qua năm kia đều không có điểm dừng chân ngừng nghỉ; Thế thì chàng ra đi biết đến khi nào mới được trở lại đây ?!

* Diễn Nôm :


                   TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                  Từ ngày chàng lên đường,
                  Liễu rũ cũng vấn vương.
                  Tin nhạn đâu không thấy,
                  Hạc vàng bay tứ phương.
                  Ải núi nhiều hiễm trở,
                  Binh mã cũng thê lương.
                  Hết năm nầy năm khác,
                  Khi nào về quê hương ?!
       Lục bát :
                  Từ ngày chàng bước lên đường,
                  Thiếp như liễu rũ vấn vương khác nào...
                  Chàng đi biệt tích âm hao,
                  Trông trời chỉ thấy bay cao hạc vàng.
                  Quan sơn hiễm trở muôn vàng,
                  Lính ngựa vất vả ngổn ngang núi rừng.
                  Năm nầy năm, nữa chẳng dừng...
                  Ngày nào chàng mới trùng phùng hồi quê ?!

       Đột phá nhất là Tể Tướng Vương An Thạch 王安石 đời Tống, ông làm thơ TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ theo vần Trắc để tưởng nhớ bạn bè chớ không phải tình yêu của người cô phụ trông chồng. Ta cùng đọc bài "Hoài Nguyên Độ 懷元度"(Nhớ đến nhà sư Nguyên Độ) sau đây :
                  
             自君之出矣,    Tự quân chi xuất hĩ,
             何其掛懷抱。    Hà kỳ quải hoài bão.
             孤坐屢窮辰,    Cô tọa lũ cùng thần,
             山林跡如掃。    Sơn lâm tích như tảo.
             數枝石榴發,    Sổ chi thạch lựu phát,
             豈無一時好。    Khởi vô nhất thời hảo ?
             不可持寄君,    Bất khả trì ký quân,
             思君令人老。    Tư quân lệnh nhân lão !

             

* Chú thích :
    - Hà Kỳ 何其 : là Cái gì đó, Cái nào đó...
    - Hoài Bão 懷抱 : Cái mà người ta ôm ấp, ấp ủ ở trong lòng.
    - Cùng Thần 窮辰 : là Hết giờ giấc; có nghĩa là suốt ngày suốt buổi.
    - Thạch Lựu 石榴 : là cây lựu, trái lựu.
    - Khởi Vô 豈無 : Chả lẽ không...
    - Trì 持 : là Cầm, nắm, níu.
    - Lệnh 令 : là Làm cho, Khiến cho...

 * Nghĩa bài thơ :
       Từ ngày bạn ra đi rồi, thì như có cái gì đó cứ vương vấn mãi ở trong lòng tôi.
       Tôi ngồi một mình suốt cả mấy ngày liền, trong rừng núi sạch sẽ như được quét dọn đến không một vết tích nào cả. 
       Có mấy cây lựu đang trổ hoa kết trái; Chả lẽ không có một đôi lúc nào tốt hay sao ?       
       Không thể đem được cái nỗi lòng nầy của tôi để gởi đến bạn; Nhớ đến bạn lại làm cho con nguời ta cảm thấy như già hơn ra.

       Vì là thơ nhớ đến một nhà sư (Nguyên Độ) nên có vẻ cao siêu, như có một ý Thiền ẩn hiện đâu đây trong bài thơ...

* Diễn Nôm :
                   TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                     Từ ngày bạn ra đi,
                   Như có vấn vương gì.
                   Mấy ngày ngồi ngơ ngẩn,
                   Rừng núi được quét đi.
                   Mấy cành hoa lựu nở,
                   Tốt lành cũng có khi ?
                   Không thể gởi gan ruột,
                   Nhớ bạn người già đi !  
       Lục bát :
                   Từ ngày bạn rời chân đi,
                   Lòng tôi như có chút gì vấn vương.
                   Một mình ngồi suốt mấy hôm,
                   Núi rừng được quét sạch trơn ai ngờ.
                   Mấy cành lựu trổ hoa mơ,
                   Tốt lành đâu hẵn phải chờ có khi ?
                   Khó đem gan ruột gởi đi,
                   Nhớ bạn lại khiến người thì già thêm !

        Đến Lư Long Vân 盧龍雲 đời Minh thì phá cách hẵn; Chẳng còn lối phủ định ở câu 2 và lối Tỉ giảo với từ NHƯ 如 ở câu 3 nữa. Ta đọc bài thơ sau đây của ông :

              自君之出矣,    Tự quân chi xuất hĩ,
              時序速如梭。    Thời tự tốc như thoa.
              雪裡春將動,    Tuyết lý xuân tương động,
              流光一歲過。    Lưu quang nhất tuế qua !

                * Chú thích :
    - Thời Tự 時序 : là sự Tuần tự của thời gian; là Thời gian lần lượt...
    - Tốc Như Thoa 速如梭 : là Nhanh như con thoi (trong khung cưởi).
    - Tương 將 : là Sắp, là Sẽ...
    - Lưu Quang 流光 : là Thiều quang qua đi như nước chảy; Ý chỉ Thời gian qua nhanh.

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi; thì thời gian cũng tuần tự qua nhanh như là thoi đưa vậy.  Trong cảnh tuyết rơi, thì mùa xuân cũng đã khởi động rồi; và thời gian nhanh đến nỗi môt năm cũng sắp qua đi rồi !

* Diễn Nôm :


                   TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                   Từ ngày chàng đi rồi,
                   Thời gian tựa như thoi.
                   Trong tuyết xuân đà bén,
                   Một năm sắp qua rồi !
         Lục bát :
                   Từ ngày chàng bước chân đi,
                   Thời gian tuần tự thua gì con thoi.
                   Tuyết rơi xuân cũng đến nơi,
                   Một năm một tuổi qua rồi một năm !

      Cuối cùng là chủ nhân của "Tài Tử Đa Cùng Phú" của ta là Cao Bá Quát cũng  góp phần "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" với một bài Ngũ ngôn Luật thi hẵn hoi, như sau :

              自君之出矣,      Tự quân chi xuất hỹ,
              夜夜守空床.      Dạ dạ thủ không sàng.
              海月照孤夢,      Hải nguyệt chiếu cô mộng,
              江風生暮涼.      Giang phong sinh mộ lương.
              小鏡寄遠篋,      Tiểu kính ký viễn khiếp,
              寒衣留故房.      Hàn y lưu cố phòng.
              持此各自慰,      Trì thử các tự ủy,
              不遣兩相忘!      Bất khiển lưỡng tương vong!


* Chú thích :
    - Cô Mộng 孤夢 : là Giấc mộng cô đơn, lẻ loi chỉ có một mình.
    - Mộ Lương 暮涼 : Cái lạnh lẽo khi chiều xuống đêm về.
    - Viễn Khiếp 遠篋 : KHIẾP là cái Rương, cái Tráp, cái "Va-ly" nhỏ. Nên VIỄN KHIẾP là "Cái tráp của người đi xa".
    - Cố Phòng 故房 : là "Cái phòng cố hữu", là cái phòng xưa nay vẫn ở đó.
    - Trì Thử 持此 : TRÌ là Cầm, là nắm; Nên TRÌ THỬ là "Giữ những thứ nầy".
    - Tự Ủy 自慰 : là Tự mình an ủi mình.
    - Bất Khiển 不遣 : là "Chẳng khiến cho...; Chẳng làm cho...".
    - Lưỡng Tương Vong 兩相忘 : là "Cả hai cùng quên nhau".

* Nghĩa bài thơ :                   
      Từ ngày chàng bước chân đi rồi, đêm đêm em vẫn giữ lấy chiếc giường trống không nầy. 
      Ánh trăng trên biển đêm đêm vẫn chiếu vào giấc mộng cô đơn lẻ loi của em; và gió trên sông thổi đến làm tăng thêm cái lạnh lẽo khi chiều xuống đêm về. 
      Chiếc gương nhỏ thì đã gởi vào cái tráp của người đi xa rồi, còn chiếc áo lạnh thì vẫn hãy còn ở phòng cũ đây. 
      Giữ những thứ nầy để hai ta tự an ủi nhau khi nhìn thấy nó; và để "chẳng làm cho hai ta cùng quên nhau được!"(có nghĩa là : Sẽ mãi mãi nhớ nhau !).

* Diễn Nôm :



                     TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                      Từ ngày chàng đi rồi,
                     Đêm đêm giường không thôi.
                     Trăng biển soi mộng lẻ,
                     Gió sông thổi lạnh người.
                     Gương nhỏ theo tráp mất,
                     Áo lạnh giữ phòng côi.
                     Cùng giữ để yên ủi,
                     Cùng không quên bạn đời !
         Lục bát :
                     Từ ngày chàng bước chân đi,
                     Giường không thiếp giữ xá gì đêm đêm.
                     Trăng soi bể vắng cô miên,
                     Gió sông thổi lạnh màn đêm xuống rồi.
                     Gương nhỏ theo tráp xa xôi,
                     Hàn y giữ lại phòng côi một mình.
                     Cùng giữ để cùng ngắm nhìn,
                     Cùng yên ủy chẳng quên tình đôi ta !

        Đó là tất cả xuất xứ và lịch sử của quá trình diễn tiến hình thành của thể Nhạc phủ có tên rất nên thơ và đượm chút u buồn là TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自君之出矣, có nghĩa là : Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi !...

        Hẹn bài viết tới !


                                            杜紹德
                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC