CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

VĂN TẾ UY VIỄN TƯỚNG CÔNG. - KHA TIỆM LY



Ảnh  tác giả KHA TIỆM LY (bìa phải )



Ngày 14.11 âl vừa qua (26/12/2023), bài văn tế ngài Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ đã chính thức được chấp nhận, và được UBND huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh cho đọc trước đền thờ cụ qua giọng đọc của nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Trọng Tuấn, (người đã đọc Văn Tế Đại Thì Hào Nguyễn Du 3 năm trước)
***


VĂN TẾ UY VIỄN TƯỚNG CÔNG

Mảng nghe,
1. Nôi địa linh luôn phát sinh người anh kiệt, bảo quốc an dân thanh sử rạng ngời,
Chốn hàn môn thường xuất hiện bậc cao hiền, múa bút khoa nghiên phương danh chói lọi.
2. Khí thiêng Lam Hồng cho ra đời Năng Văn nữ sĩ (1), nào thủy chung, nào hiền đức, vua ban “Trinh Tiết Khả Phong”, một chữ “HẠNH” vạn tải không mờ,
Đất linh Nghi Xuân hun đúc ngài Uy Viễn Tướng Công, là võ tướng, là văn quan, sắc phong “Lao Năng Khả Tướng”, một chữ “TÀI” thiên thu sáng chói.
3. Làng xuất khanh tướng, huyện xuất khanh tướng; làng có thanh quan, huyên có thanh quan, chuyện khó thấy nhưng trang sử dễ tìm,
Cha đoạt giải nguyên, con đoạt giải nguyên; cha thọ bát tuần, con thọ bát tuần, sự lý thú cổ kim khó gặp (2)
Nhớ Cố Lớn quê ta,
4. Nếp nho phong luôn nhường trên kính dưới, dùng văn chương, dùng lời biếm, đấng trượng phu hiên ngang với bạo lực cường quyền,
Tuổi thanh xuân muốn giúp nước phò vua, tự lập chí, tự lập thân, cội tùng bách ngất ngưởng cùng mây trời nước cõi.
5. Ba mươi năm cân đai áo mão, một tiếng thanh liêm,
Hết nửa đời cửa khuyết sân chầu, vạn lời ca ngợi.
6. Thương dân nghèo nên quai đê lấn biển, mở huyện Kim Sơn, mở huyện Tiền Hải ,… mở tới đâu, đời muôn người hạnh phúc ấm no,
Nhận lịnh vua liền dẹp loạn điều binh, dẹp Phan Bá Vành, dẹp Nông Văn Vân,…dẹp tới đâu, dân quân vui mừng hồ hởi.
7. Mũi Can -Tương (3) rạch ngang biên địa, phá loạn quân mang cuộc sống yên bình,
Bút Văn Khuê (4) xoẹt thẳng lưng trời, xé mây đen che vùng trời tăm tối.
8. Dâng vua mười thuật “Thái Bình Thập Sách”, là trí tuệ, là bản lĩnh, là tâm huyết, là niềm tin một lòng vì ích nước lợi dân,
Ngự ban bốn chữ “Lao Năng Khả Tướng”, là mồ hôi, là nước mắt, là xương máu, là công trạng cả đời cho gia an quốc thái.
9. Đời làm quan chịu bể dâu thăng giáng, công lao tỏa rạng mấy miền, mưa ân đức tràn trề dưới biển trên non,
Thân làm tướng luôn trên dưới nghiêm minh, đức độ lưu truyền bao thuở, gương liêm khiết sáng trưng trong triều ngoài nội.
10. Làm quan không vinh, làm lính không nhục, chất kiêu bạc oai hùng như ngọn núi một cõi nghinh mây,
Khinh phường siểm nịnh, khinh kẻ ngu trung, tính uy vũ hiên ngang tựa cội tùng bốn bề thách gió.
11. Bậc đại thần khinh tài trọng nghĩa, màng chi xuống thấp lên cao, một lời một tiếng, bề trên lớp dưới hân hoan,
Dòng Nho gia lãnh ấn tiên phong, dốc lòng đánh Nam dẹp Bắc, trăm trận thắng trăm, ba quân muôn nhà hồ hởi.
Nào ai hay?
12.Thời thư sinh bạch diện đã đành bữa đói bữa no,
Khi đắc lộ phong vân lại phải ba chìm bảy nổi!
13. Lúc còn thắp đèn đọc sách, trên bạn dưới bè đã tuyệt thế phong lưu,
Đâu chờ múa bút giương cung, ngoài quận trong triều mới hồng nhan đắm đuối?
14. Có những lúc thanh gươm yên ngựa, cũng không quên bên chén rượu cuộc cờ,
Dù bao phen nón dấu giáo dài (5), vẫn luôn nhớ thú ả đào hát nói!
15. Đường hoạn lộ bốn mươi năm trọng trách, dù võ dù văn, vẫn ngất ngưởng, tự tại, thong dong,
Cõi phù sinh hưởng tám chục tuổi trời, lúc vinh lúc nhục, luôn bản lĩnh, trung can, khí khái.
16. Chí nam nhi đã xong ý nguyện, miền tiêu dao thưởng quạt gió, đèn trăng, nghĩ công danh như sóng vỗ bập bềnh,
Chuyện quan trường gởi lại triều ca, thú điền viên nhấp rượu cúc, trà thông, buông thế sự mở miệng cười sảng khoái!
17. An nhiên cưỡi bò vàng lạc ngựa, lấy mo cau che “miệng thế gian”! (6)
Lếch thếch theo dăm đứa tiểu đồng, (7) buông thế sự vui đời khoáng dật.
Tướng công ta,
18. Tại giang hồ vốn là kỳ sĩ ngông nghênh,
Tra sử sách mới thấy công lao lồ lộ!
19. Giữa đồng liêu dở dở ương ương, đấng anh hùng tựa sao Tâm, sao Chấn (😎, rực rỡ cùng soi đêm trường tăm tối âm u,
Trước giông bão vùi vùi dập dập, đại trượng phu như cội bách cội tùng, sừng sững đứng cạnh non ngàn vút cao vòi vọi.
20. Sống làm tướng, thác làm thần, bao công trạng, muôn đời thanh sử đã ghi,
Thương cho nước, nghĩ cho dân, lắm nghĩa ân, thiên thu đá bia còn chói!
21. Ai công hầu? Ai khanh tướng? Đâu hùng binh? Đâu tuấn mã? Ngẫm mấy người được dựng miếu đình, dưới trên một dạ phụng thờ?
Ai cánh chuồn? Ai giáp trụ? Đâu đại công? Đâu thần chước, đếm bao vị được lập sinh từ, gần xa bốn mùa hương khói?
22. Dằn chén rượu, tuốt lưỡi gươm chính khí, xung phong ra trận tiền vào lúc tuổi tám mươi,
Thắng yên cương, phất cờ soái oai hùng, cương quyết diệt Lang sa dù còn vài hơi thở. (9)
23. Tướng công bình Nam phạt Bắc, để bốn phương cuộc sống yên bình, ơn so như biển như non,
Thành Hoàng lấn biển quai đê, cho vạn dân cơm no áo ấm, đức sánh bằng sông bằng suối.
24. Sử xanh đâu chỉ ba triều chép,
Cương thường tất cả ánh sao soi! (10)
Cố Lớn ôi!
25. Nhớ Dinh Điền Sứ đâu riêng Kim Sơn, Tiền Hải sụt sùi,
Khóc Đức Thành Hoàng nào chỉ Uy Viễn , Nghi Xuân nức nở!
26. Ý từ long phi phụng vũ, trác tuyệt văn chương, chúng hậu sinh nguyện chung tay năm tháng đắp bồi,
Vó ngựa đông chiến tây chinh, lẫy lừng võ nghiệp, phận cháu con thề góp sức cả đời vun xới.
27. Xa gần vọng bái, chốn đền thiêng nghi ngút khói trầm bay,
Nhỏ lớn khiêm cung, miền linh địa đớn đau dòng lệ nhỏ!
Nay kẻ hậu sinh chúng con,
28. Muôn kiếp không quên ân sâu bất tận, kính tiễn đấng hùng anh hổ bộ đăng trình,
Trăm họ khắc ghi đức lớn vô cùng, cầu xin đại tướng quân thần uy chiếu cố.
29. Một nén hương thơm tỏa thấu trời cao,
Vạn tấm lòng thành tưởng về Cố Lớn.
Ngài vốn hiển linh,
Niệm tình thụ bái!


KHA TIỆM LY phụng bút


Chú thích:
(1) Năng Văn nữ sĩ: Tên thật là Nguyễn Thị Muội, người chị cùng cha khác mẹ với cụ Nguyễn Công Trứ; Bà là người phụ nữ xinh đẹp, phẩm hạnh, chữ tốt văn hay. Chồng mất lúc bà mới 20 tuổi, bà thủ tiết ở vậy, sau đó bà đi tu. Bà được vua Minh Mạng ban cho bốn chữ “ Tiết Hạnh Khả Phong”.
(2) Đức Ngạn Hầu Nguyễn Công Tấn là thân sinh của cụ Nguyễn Công Trứ, đỗ Giải Nguyên trước Nguyễn Công Trứ 80 năm. Cả hai đều thọ 80 tuổi
(3).Can -Tương: Tên hai thanh gươm quý thời Đông Châu
(4).Văn Khuê: ngôi sao chủ về văn chương
(5). Nón dấu giáo dài: Chỉ người lính xưa
(6). “Che miệng thế gian”: Giai thoại kể rằng, khi về hưu, Nguyễn Công Trứ thường cưỡi bò vàng có đeo lạc ngựa, bên sau là dăm đứa tiểu đồng, ngao du sơn thủy. Thấy người, cụ liền lấy mo cau che trôn ngựa. Hỏi: “Cố Lớn làm gì đấy?” – “Ta che miệng thế gian”
(7) Trộm ý thơ Cố Lớn: “Dăm ba đứa tiểu đồng lếch thếch. Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn”
(😎. Sao Tâm sao Chấn: Hai vì sao trong nhị thập bát tú
(9) Khi giặc Pháp tấn công Đà Nẵng, Cụ Nguyễn Công Trứ xin vua đi đánh Pháp. Cụ nói: “…Dù là chiếc lọng rách, dù chỉ còn vài hơi thở, ta cũng quyết dẹp giặc”
(10) Trộm ý câu: “Vạn cổ cương thường thiên địa đại/Cửu trùng luân bột nhựt tinh lâm” (Muôn thuở cương thường trời đất rộng/Chín tầng ơn sáng ánh sao soi)


Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2022

VĂN TẾ ANH HÙNG THIÊN HỘ DƯƠNG - KHA TIỆM LY

 




VĂN TẾ ANH HÙNG THIÊN HỘ DƯƠNG 


Than ôi!

Rừng Gò Tháp mấy dặm sầu giăng,

Dân Cao Lãnh muôn hàng lệ đổ!

Nhớ người hào kiệt, cỏ cây lúc thảm lúc sầu

Xót kẻ hùng anh, trăng sao khi mờ khi tỏ!

Nhớ xưa,

Sông Côn (1) trùng trùng linh mạch, sản sinh bao liệt nữ kiên trung,

Núi Thơm (1) ngân ngất khí thiêng, phát tích những anh tài văn võ.

Thôn Cù Lâm (1) xuất thiếu niên tài tuấn, đấu vỏ, kéo bè, sức mạnh siêu quần, dân lành cùng thời tôn gọi Ngũ Linh (2)

Đất Ba Giồng (3) nạp hào kiệt hảo bằng, đánh Tây, dẹp Rợ, công cán hơn người, vua sáng đương triều sắc phong Thiên Hộ.

Súng Lang Sa đạn bay sáu tỉnh, gót giày đinh dẫm nát xóm thôn; tàn ác sao loài quỷ trắng hung tàn.

Người Nam Kỳ lệ ngập chín sông, tiếng than oán thấu tận trời xanh, thương xót quá kiếp dân đen thống khổ !

Kẻ im miệng thì bị rỉa thịt rút xương,

Người phản kháng phải chịu cắt  hầu chặt cổ!

Vì thế, Võ tướng quân:

Trương cờ nghĩa nạp đệ huynh bốn hướng; cờ bảo quốc, cờ an dân, cờ giành lấy độc lập tự do,

Tuốt gươm thiêng kết giao hào kiệt ba miền; gươm trừ ác, gươm diệt thù, gươm chém tan ba đào giông tố.

Xứ Ba Giồng chiêu dân lập ấp, gạo trắng nước trong: chỗ lý tưởng cho nghĩa sĩ ẩn mình.

Đất Gò Tháp xây lũy ngăn thù, bưng rộng trấp sâu: vùng đắc địa để  anh hùng dụng võ.

Bài quyền Yễm Bách (4), nhắm quân thù giương mạnh thần cung, tên bắn mút tầm,

Đường roi Song Đôi (4), cùng hảo hán chỉ thẳng bảo đao, ngựa phi thẳng vó!

Rõ ràng!

Tháp Mười đầm lầy miên dã, tạo bao tử địa quỷ khốc thần sầu.

Cao Lãnh cạm bẫy kinh người, góp những chiên công trời long đất lỡ.

Trận Mỹ Trà (5) giáp công ba mũi; phá tàu thủy, phá nhà việc, phá hết kho tàng; quân thù nghẹt xác.

Trận hỏa công lửa cháy bốn bề; đốt thằng lính, đốt thằng quan, đốt rụi cánh đồng; lính Tây phơi sọ (6).

Rắn thần (7) nhe nanh há họng, mổ thằng nhỏ, mổ thằng to, đám quan binh súng bỏ đầy đường.

Trâu binh (😎 hữu đột tả xông, chém đằng trước, chém đằng sau, lũ cướp nước thây nằm vô số!

Dân Mỹ Ngãi, dân Ba Giồng, Rạch  Ruộng (9)…,  sát cánh kề vai, bám thế đất, quyết đưa thuyền độc lập cặp bờ.

Đốc Binh Kiều, Lãnh Binh Thăng, Bà Bướm (10)…chung lưng đấu cật, dựa lòng dân cùng trương buồm tự do căng gió.

Cao quý thay!

Trời cao lồng lộng, vì độc lập giống nòi, chí anh hùng đặt tại non cao.

Súng đạn ầm ầm, vì cơm áo muôn dân, chuyện sanh tử xem như cây cỏ!

Xông pha sóng gió, tay giữ vững chèo,

Đối mặt quân thù, gươm bung khỏi vỏ.

Đồng Tháp Mười thập phần hiểm trở, địch quân càng mạnh, càng kiên định chống thù.

Dòng Cửu Long chín khúc liệt oanh, giông tố  càng to càng oai hùng sóng vỗ

Oanh liệt thay!

Dù nửa đời oanh liệt, mà dân Nam Kỳ chích đầu với mảnh khăn tang,

Bởi một trận cuồng phong, mà thần Biển Cả rước người về cùng tiên tổ!

Sống một lần, uy danh làm khiếp vía với vạn vạn địch quân, nào cần chi sắc phán đại thần,

Thác một lần, tên tuổi được tôn thờ trong triệu triệu trái tim, đâu cầu được siêu thăng tịnh độ!

Máu ghi công, xương ghi đức, sử sách thiên thu ghi nét chữ rành rành.

Sống làm tướng, thác làm thần, nhật nguyệt nghìn năm soi tiếng tăm lồ lộ.

Người đương thời than:

“Ai về Đòng Tháp mà coi,

Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng”

Ô hô!

Máu cần phải đỏ, máu cần phải tươi, máu đổ vì dân, không hổ thẹn muôn người.

Mộ đâu cần lớn, mộ đâu cần cao; mộ ở lòng người mới trường tồn thiên cổ.

Sống vì dân, sống vì nước, bia đá khắc sâu người ái quốc vạn kỷ không phai

Nghĩa bằng biển, nghĩa  bằng non, sử xanh đậm nét tiếng anh hùng thiên thu còn đó.

Xót thương thay!

Thương anh hùng xả thân cứu nước, bao ngày vào tử ra sinh.

Thương nghĩa binh đổ máu phơi xương, cả đời dầm sương dãi gió!

Thương người quên mình vì nước mà xác thân dập vùi nơi góc biển ven gành.

Thương người gởi xác sa trường mà hồn phách dật dờ chốn ngàn lau nội cỏ!

Thương người tăm hơi vời vợi, chập chờn trong con sóng lênh đênh,

Thương ai chiếc bóng lạnh lùng, hiu hắt dưới đèn khuya mờ tỏ!

Nợ tổ quốc, nợ đồng bào dù đã vẹn toàn,

Nợ anh hùng, nợ tào khang vẫn còn dang dở!

Tướng quân ôi!

Nợ dân đã trả, thần nhân sao chẳng nghênh ngang gõ bước về trời,

Chí lớn đền xong, anh hùng sao chưa ung dung vén mây lướt gió?

Ân như sông, ân như núi, đã được muôn người ghi dạ khắc xương,

Danh dậy đất, danh dậy trời, đâu cần mấy tiếng khua chiêng đánh mõ? 

Hôm nay,

Muôn người vọng bái, chốn đền thiêng nghi ngút khói trầm bay,

Một dạ hướng về, miền linh địa đớn đau dòng lệ nhỏ!

“Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục”(11) ; hình hài dẫu nát tan, nhưng ô nhục vạn kỷ vẫn lưu truyền,

“Khả mai cốt bất khả mai danh” (12); xương cốt bị chôn vùi, mà thanh danh thiên thu không hoen ố.

Ngôn từ vụng dại mà tâm ý vô cùng, kính tiễn đấng hùng anh ngọc bộ đăng trình.

Lễ vật thô sơ nhưng thâm tình viên mãn, ngưỡng mong đại tướng quân thần uy chiếu cố.

Bậc tiên hiền một thuở ban ân, 

Chúng hậu sinh muôn đời ngưỡng mộ!

Thượng hưởng!

 

KHA TIỆM LY


 

Chú thích:

(1). Những địa danh tại quê hương Thiên Hộ

(2). Ngũ linh: 5 trái linh, mỗi trái 60kg, Võ Duy Dương xách 2 trái, cặp nách 2 trái, cắn 1 trái. Người đời thấy ông sức khỏe thần kỳ nên tôn ông là Ngũ Linh Dương.

(3). Ba Giồng: Đia danh ở Cao Lãnh, căn cứ địa của nghĩa quân

(4). Hai thế võ bí truyền của Thiên Hộ Dương

(5). Mỹ Trà: Một địa danh ở  Cao Lãnh, nơi xảy ra trận đánh khốc liệt; quân Pháp đại bại

(6). Phơi sọ: Trong trận hỏa công, quân Pháp chết như rạ, thây phơi đầy đồng; cánh đồng nầy gọi là Đồng Phơi Sọ

(7). Rắn thần: Tương truyền Thiên Hộ Dương có rắn thần giúp sức.

(😎. Trâu binh: Thiên Hộ Dương có một vị tướng có tài điều khiển trâu bằng mõ, được phong là Ngưu Quân Thượng Tướng.

(9). Những địa danh tại Đồng Tháp

(10). Tên những tướng lãnh của Thiên Hộ Dương

(11). “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (câu nói xưa):Thà chịu chết chớ không chịu nhục

(12). “Khả mai cốt bất khả mai danh” (câu nói xưa): : Có thể chôn xương cốt chớ không thể chôn danh tiếng./.

*

Nói thêm: Hằng năm tư ngày 14 đến 16 tháng 11 âm lịch số người đi viếng khu di tích Gò Tháp nơi đền thờ Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều lên tới VÀI TRĂM NGÀN NGƯỜI 


 

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2021

VĂN TẾ ĐỒNG BÀO SAIGON TỬ NẠN VÌ DỊCH CO VI - KHA TIỆM LY


 





VĂN TẾ ĐỒNG BÀO SÀI GÒN TỬ NẠN VÌ DỊCH CÔ VI

Than ôi!
1. Núi đùn mây bốn đợt ngậm ngùi
Rừng trút lá hai mùa tan tác!
2. Nước ba miền ruột tím gan bầm
Người trăm triệu tim đau dạ thắt.
Có câu:
3. “Phong Châu hạo nhiên nguyên khí, vạn đại cao hiền,
Thăng Long linh mạch địa dư, phi thường uyên bác!”
Nhớ nước ta xưa,
4. Hồng Hà trùng trùng nước xoáy, tay mài kiếm, tay diệt thù, mà người dịu dàng như lời dặm, câu thơ,
Cửu Long cuồn cuộn sóng gào; người mở đất, người khai sơn; mà lòng hiền hòa như củ khoai, cục đất.
5. Đất Gia Định mưa hòa gió thuận, đây sông Tiền, đây sông Hậu; trời nước mênh mông làm nên khí phách anh hùng,
Người Trường An chữ tốt văn hay, đây hồ Gươm, đây Trấn Quốc; thổ nhưỡng uy linh tạo thành ngàn năm văn vật.
6. Tình no đầy như trái bưởi trái dưa,
Đời êm ả tợ cánh cò cánh vạc.
Nào ngờ đâu,
7. Niềm vui còn hòa quyện cùng cây cỏ nước Nam,
Tai họa vội lỏi len từ biên cương phía Bắc!
8. Chẳng mang vũ khí mà đúng là quân địch, các địa phương lo đứng lo ngồi, xuôi ngược lao đao,
Không chấp hai cánh nhưng y hệt thiên thần, ngành y tế quên ngủ quên ăn, ngày đêm tất bật.
9. Người ấm no tự dưng đói rách, thương đời bá tánh lầm than,
Trẻ cười vui chợt phải nghẹn ngào, giận giặc Cô vi hiểm ác!
10. Nó làm ta phải ngăn sông cấm chợ, khiến nhiều người không gạo không tiền, đành kéo nhau ngủ bụi ngủ bờ,
Nó làm ta phải đón ngõ chặn đường, gây bao kẻ thiếu áo thiếu cơm, phải cam chịu mưa nam gió bấc.
11.Vợ ôm con đèn khêu hiu hắt, biết cậy ai chén nước chén cơm,
Đường về quê nắng cháy chang chang, mong làng xóm cọng rau cọng rác.*
12. Chợ Bến Thành đường ngang đường dọc, ngó trẹo đầu không thấy bóng ma trơi,
Bình Hưng Hòa xe nhỏ xe to, đợi sái cổ chờ hóa thân tro cát!


Gia Định ơi!
13. Đâu hồi Sài Gòn diễm lệ, đâu hồi Hòn Ngọc Viễn Đông, người người mỏng áo cao hài,
Đâu hồi Thành đô hoa gấm , đâu hồi Vựa Lúa Miền Nam, năm năm no lòng ấm cật!
14. Đang buổi mưa sa đất tốt, cây vườn liền nẩy lộc đâm chồi, cành nhánh sum suê,
Nào ngờ gió tụ mây đen, Cô vi làm héo nụ tàn hoa, trái rơi tan tác!
Hỡi ôi!
15. Khói lò thiêu xót xa giờ ly biệt; chồng lìa vợ, vợ lìa chồng, lệ rơi nhầy đất đau thương,
Mảnh khăn tang đau đớn kiếp đơn côi, con khóc mẹ, mẹ khóc con, uất nghẹn đầy trời bi đát.
16. Thương trẻ thơ chịu côi cút vào tuổi nằm nôi,
Thương chồng vợ chia lìa trong tuần trăng mật!
17. Thương kẻ làm thuê ở mướn, ngày mong no cơm ấm áo, đâu dè vất vưởng vất vơ,
Thương người ở đậu sống nhờ, bữa cầu ấm chỗ êm nơi, nào ngờ cù bơ cù bất.
18. Thương kẻ mồ côi màn trời chiếu đất, sức mỏi mòn cơm cặn canh thừa,
Thương kẻ già nua gối đất nằm sương, đời lận đận áo ôm khố rách.
May thay!


19. Trong màu áo trắng luôn có nhiều đôi cánh thiên thần,
Giữa chốn bụi hồng vẫn còn thừa tấm lòng bồ tát!
20. Dù đường dài có lắm khúc gai góc chông chênh,
Nhưng đêm vắng luôn nhiều ánh sao trời vằng vặc!
21. Nghìn bàn tay đã chia phần cho bao mảnh đời áo rách cơm thiu,
Vạn tấm lòng vẫn nhường chỗ cho những phận người nhà xiêu cửa nát.



22. Ngành y tế đâu màng giấc ngủ, dậy sớm thức khuya, vì nhiều suy tính dập dồn,
Người chiến binh nào quản sớm hôm, ăn vội uống vàng, bởi lắm lo toan chồng chất.
23. Dịch bệnh sáng chiều tới tấp, những thiên thần đâu thể làm ngơ,
Bịnh nhân sớm tối liên miên, các chiến sĩ đâu đành ngoảnh mặt.




24. Cứu binh như cứu hỏa, miền Bắc thân thương tức tốc tiếp quân hăm hở lên đường,
Chống dịch như chống thù, bộ đội anh hùng sẵn sàng ra trận hiên ngang gánh vác.
25. Người tặng thuốc men, người cho thực phẩm, người gói thi hài,
Người tặng máy thở, người biếu quan tài, người lo liệm xác!
26. Giương cao lời thề y đức, đã bao người đối diện “quân thù”, rồi hiên ngang thanh thản bước về trời,
Sải rộng đôi cánh từ tâm, có lắm kẻ cận kề “giặc dữ”, đã kiêu hãnh an nhiên nằm với đất!



27. Đẹp đẽ sao! “Máu đỏ chảy ruột mềm”,.
Cao cả thay! “Lá lành đùm lá rách!”
Vong linh hỡi!
28. Miền âm cảnh vật vờ hồn phách, lúc giã từ đâu kẻ tiễn đưa.
Trại cách ly chua xót phận người, giờ trăn trối không ai vuốt mặt!
29. Đò vô thường sào neo thuyền đợi, đâu chọn má phấn môi son hay tóc bạc da mồi,
Kiếp nhân sinh sống gởi thác về, không hiềm vách đất nhà tranh hay lầu vàng gác bạc.
30. Bốn cảnh khổ, thì luyến lưu chi chốn Ta Bà,
Vạn niềm vui, hãy thanh thản về miền Cực Lạc!
31. Chướng chưa đến, sao kéo theo bấc lạnh lùng?
Người đã đi, nên bỏ buông điều u uất!
32. Đây lòng thành kính, hãy nhâm nhi, miếng trầu điếu thuốc đơn sơ,
Kia đường xa xăm, xin bỏ bụng ly rượu chén cơm đạm bạc!
Ô hô! Có linh xin hưởng!



KHA TIỆM LY
Chú: * Muốn nói việc đồng bào miền Trung kéo nhau về quê

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2020

VĂN TẾ ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU - KHA TIỆM LY

*Chúc mừng Tác giả văn thi sĩ Kha Tiệm Ly  (vốn nổi tiếng với thể văn cổ điển như phú , văn tế, văn bia...)
  có bài văn tế đã đoạt giải nhứt do Hà Nội tổ chức với sự tham gia cuả mọi công dân VN và kiều bào hải ngoại.

        



            VĂN TẾ ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU
                                                                                

Than ôi!

1. Gió dìu mây, mây phủ màu tang,
Sương thức lá, lá rơi nước mắt.
2. Khóc người tuấn kiệt, núi thẳm ngậm ngùi,
Chạnh khúc đoạn trường, dòng sâu man mác!

Nhớ văn hào xưa,

3. Vốn nòi thế phiệt, lời lời hoa thêu gấm dệt, hàng hàng ý ngọc lời châu,
Nhằm cửa danh gia, ngày ngày ngọc dát châu đeo, bữa bữa đũa ngà chén bạc.
4. Hồng Lĩnh đỉnh cao vòi vọi, muôn khí thiên hun đúc bậc anh tài,
Lam Giang bờ rộng thênh thênh, vạn nguồn mạch sản sinh người khoáng dật.
5. Thông minh đĩnh ngộ, bút văn chương sánh bậc Đỗ, Vương, (1)
Hòa ái khiêm cung, điều nhân nghĩa noi thầy Khổng, Mặc. (2)
6. Cao bằng hiền hữu luôn chọn bậc trọng nghĩa khinh tài, đâu hiềm nhà cao cửa rộng hay điếm cỏ cầu sương,
Tri kỉ hồng nhan, chỉ lựa người nhả ngọc phun châu, chẳng màng cổng kín tường cao hay lầu ca viện hát.
7. Tài năng đó khó khăn chi bảng hổ danh đề, vinh hiển tổ tông?
Nhân cách ấy trở ngại gì tế thế an bang, chấn hưng xã tắc?

Ngờ đâu,

8. Thời li loạn hốt bạch vân thương cẩu, còn đâu hồi áo gấm hài thêu,
Lửa chiến chinh biến thương hải tang điền, nào ngờ lúc nhà tan cửa nát!
9. Buổi giao thời chia đường hai lối, về phương nào khi thay chúa đổi tôi,
Tiếng đao binh tạo khúc đoạn trường, đàn làm sao khi lạc cung sai bậc?
10. Kinh luân một bụng, đâu anh hùng, đâu tri kỉ, đường trần ai ngoảnh lại bơ vơ.
Kinh điển năm xe, nào trung can, nào khí tiết, đạo thần tử ngẫm càng chua chát!
11. Hùng tâm tráng khí, mà bóng quần hào sau trước vắng tênh,
Viễn trí cao tài, nhưng đường tiến thoái dọc ngang bế tắt!
12. Mộng phù Lê tàn phai lần lữa; làm được gì khi bóng lẻ thân cô?
Vọng  cố hương đau xót não nùng; thương biết mấy ngày canh rau cơm lạt!
13. Dằn câu khí tiết, chốn sân chầu che mặt uốn lưng tôm,
Ngậm tiếng thị phi, nơi cửa khuyết nén lòng khum gối hạc!
14. Đã trót đánh rơi thanh kiếm, vinh dự chi lơ láo phận hàng thần.
Thôi đành nương náu bệ rồng, thẹn thùng lắm lất lây hồi đầu bạc!
15. Qua quan ải, giận cuồng ngôn tên ác tướng Phục Ba, (3)
Nhớ Hát Giang, trọng khí tiết vị nữ vương Trưng Trắc.
16. Dù Đồng Trụ chữ đã rêu xanh,
Nhưng Đằng Giang cọc còn nhọn hoắt!(4)
17.  Đến viễn phương thấy đời đau khổ, kẻ tù đày, người đói rách, nhớ quê xưa tấc dạ bồi hồi.
Viếng danh nhân chạnh  nỗi đoạn trường, nào oan khiên, nào bi phẫn, cảm thân phận  cõi lòng u uất.
18. Bởi bạo quyền giấu nanh che vuốt, nhai xương người ngọt tợ cao lương. (5)
Nên lê dân bóp bụng thắt hầu, ăn rau dại thường hơn cơm vắt!
19. Đầu Ban Siêu (6) phơ phơ màu tóc, nợ sơn hà tấc đất ngọn rau,
Mây Hoành Sơn bàng bạc đầu non, xót phần số hồng nam nhạn bắc!
20. Đường công danh phủ bao lớp trần ai,
Màu danh lợi nhuộm mấy lần bạch phát!
21. Mãi trông đàn nhạn vỗ cánh nhịp nhàng hướng  đỉnh Hồng Sơn,
Mà mặc vó ngựa gõ nhịp u buồn về miền Kinh Bắc!
22. Mỗi bước li hương, mỗi bước não nùng,
Từng hồi nhớ quê, từng hồi quặn thắt!

Mới hay,

23. Li ngự tửu không ngon ngọt lại đắng cay,
Tình đồng liêu chẳng mặn mòi mà nhợt nhạt!
24. Chốn quan trường lỡ thầy lỡ tớ, ích lợi gì chữ tốt văn hay?
Nơi triều trung gượng nói gượng cười, sượng sùng lắm mũ vàng đai bạc!
25. Chán khòm lưng quỳ nơi chín bệ, thùng thình vướng áo rộng hài cao,
Muốn phanh ngực nằm dưới cội tùng, thư thả ngắm trăng thanh gió mát.
26. Sờ tóc trắng thẹn cùng Hồng Lĩnh, thẹn cùng tảng đá, chòm cây,
Nhìn mây chiều nhớ đến Lam Giang, nhớ  đến cội tùng, dòng thác.
27. Thanh Hiên Thi Tập, gởi gắm phận mình lỡ thời thất thế, đá nát vàng phai,
Bắc Hành Tạp Lục, xót thương bao người ách nước tai trời, mưa vùi gió dập.

Dù cho,

28. Sao văn chương xé toạc ngang trời,
Lòng nhân ái trải dày mặt đất.
29. Viết văn tế độ người thảm tử, xót thập loại chúng sinh sống đọa chết đày,
Mượn tân thanh phổ khúc đoạn trường, thương lắm phận hồng nhan hoa trôi bèo dạt!
30. Cảnh tang thương triền miên khắp hướng, nơi ta bà bao người lạc chợ, trôi sông,
Khói binh đao mờ mịt chín tầng, xương vô định bấy kẻ chôn nghiêng, liệm sấp!
31. Sổ đoạn trường hàng hàng lớp lớp, nào giai nhân, nào tài tử, lượn sóng đời dập cuồn cuộn oan khiên,
 Đường định mệnh lối lối thênh thênh, nào trung can, nào nghĩa khí, dây oan nghiệt kết trùng trùng u uất!

Ôi!

32. Mang chữ “mệnh” thì nơi đâu không phải bến Tiền Đường?
Chẳng chữ “duyên” làm sao dễ náu nương Quan Âm các?
33. Phận bạc luôn đọa đày bậc khoát luận cao đàm, tú khẩu cẩm tâm,
Con tạo khéo ghét ghen kẻ ngọc diện hồng nhan, thiên hương quốc sắc!
34. Dù bể tang thương nghìn trùng gió bão, đầu bút thần vẫn tỏa ánh hào quang,
Ngặt lửa sa trường ngun ngút núi sông, câu khí tiết làm đau lòng ngọc phác!
35. Đâu má hồng mười lăm năm trường đoạn, mà bên tình, bên hiếu luôn sắt son cùng sông núi thênh thênh?
Đâu danh nhân chịu nửa kiếp phong trần, mà chữ tiết, chữ nhân vẫn mênh mang như trăng sao vằng vặc?

Đáng xứng danh:

36. Không tiền nghệ sĩ aó bố hài gai,
Khoáng hậu thi hào lòng son bút sắt.
37. Sánh với nguyệt thì sáng trong hơn nguyệt; trong rừng bảo điển vĩ nhân, cụ Tiên Điền xứng danh “vạn đại thi hào” .
Chẳng là hoa lại thơm ngát hơn hoa; trong vườn phong tình cổ lục, truyện Thúy Kiều đáng gọi “kỳ thư tuyệt tác”.
38. Cạnh muôn hoa, vua mẫu đơn chẳng muốn tỏa hương, (7)
Giữa quần điểu, chúa phượng hoàng đâu cần khoe sắc! (8)
39. Đẹp làm sao! Nhân dân ngưỡng mộ ngài với biết bao lời châu ngọc thiết tha,
Xứng làm sao! Thế giới tôn vinh ngài cùng trăm linh bảy danh nhân lỗi lạc! (9)

Ôi! Hỡi ôi!

40. Đang cơn mây tạnh ngờ đâu gió thổi ngậm ngùi,
Trong lúc trời quang bỗng dưng mưa bay lất phất!
41. Thu vừa chớm mà vùng đất Tiên Điền (10) mây nhuộm âm u,
Chướng chưa về mà hàng cây Nghi Xuân (10) lá rơi lác đác!
42. Đao định mệnh luôn cướp đường sinh tử, dù thân chẳng còn mà tiếng để danh lưu,
Trận phong lôi sao át sấm tài danh, nên đèn vẫn tỏ dù mưa lùa gió tạt.
43. Lẽ vô thường lại đùa cợt nhân sinh,
Đò li biệt luôn đưa sầu vạn vật!
44. Ơn văn hào tợ trái đồi trái núi, chừng như nước lấp đại dương,
Lời hậu sinh như hạt bụi hạt sương, cầm bằng cát rơi sa mạc!

Hôm nay,

45. Chưa ba trăm năm, mà cả non sông đã đổ lệ vì người nghệ sĩ phong lưu,
Bởi khắp bốn cõi, cứ mỗi tấm lòng đều nghiêng mình trước một thi hào uyên bác.
46. Dù văn chương, dù son phấn, khi thác rồi hậu thế còn ghi,
Dù vô mệnh, dù hữu thần, lúc lìa đời người sau vẫn nhắc.(11)
47. Ba tuần rượu kính dâng người tài đức, lượng thứ chúng hậu sinh ý thiển lời thô,
Nén tâm hương tưởng nhớ bậc cao hiền, cung thỉnh đấng tiền bối lòng thành lễ bạc.
Thượng hưởng!

                                                                                   KHA TIỆM LY
…

Chú thích:

(1) Đỗ, Vương: Đỗ Phủ, Vương Bật
(2) Khổng, Mặc: Khổng Tử, Mặc Tử
(3) Sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng. Mã Viện dựng trụ đồng ở biên giới với hàng chữ khắc trên đó: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (nếu trụ đồng mà bị gãy thì Giao Chỉ bị diệt vong”
(4)Trộm ý của hai câu:
“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục,
Đằng giang tự cổ huyết do hồng”
(Trụ đồng đến nay rêu còn xanh biếc,
Nước sông Bạch Đằng từ xưa đến giờ vẫn còn đỏ au)

(5) Cao lương: Trong “cao lương mỹ vị”, chỉ thức ăn ngon. Nguyên câu trộm ý 2 câu trong bài Phản Chiêu Hồn của cụ Tiên Điền:
“Bất lộ trảo nha dữ giác độc,
Giảo tước nhân nhục cam như di!”
(Không để lộ ra nanh vuốt và sừng (có nọc) độc
Mà cắn xé thịt người ngọt như kẹo như đường)
(6) Ban Siêu: Vị tướng tài thời Đông Hán. Bình định Tây Vực hồi 40 tuổi, đến 71 tuổi mới trở về kinh đô Lạc Dương; lúc đó đầu ông đã bạc trắng .
(7) (8): Mẫu đơn là chúa loài hoa; Phụng hoàng là chúa loài chim (theo quan niệm xưa)
(9) Ngày 25/10/2013, tại kỳ họp lần thứ 37 của Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) họp ở Paris đã chính thức ban hành Nghị quyết số 37C/15 phê chuẩn Quyết định số 191EX/32 và 192EX/32, nhất trí vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du cùng với 107 danh nhân văn hóa toàn thế giới. Theo đó, hoạt động tôn vinh được triển khai ở Việt Nam và tại các nước trong cộng đồng UNSESCO (niên độ 2014 - 2015).
(Nguồn: https://hanam.gov.vn/Pages/Danh-nhan-van-hoa-the-gioi--%C4%90ai-thi-hao-Nguyen-Du-(1765---2015)2118879219.aspx)

 (10) Làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tĩnh là quê hương của cụ Nguyễn Du (mộ cụ nằm tại làng Tiên Điền)
(11) Trộm ý 2 câu trong  bài “Độc Tiểu Thanh Kí”:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.”
( Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết .
Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở).

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

VĂN TẾ 5 VẠN BỆNH NHÂN UỔNG TỪ DỊCH COVID19 – NGUYỄN PHÚC VĨNH BA










Văn Tế 5 Vạn Bệnh Nhân Uổng Tử Dịch Covid 19 – Nguyễn Phúc Vĩnh Ba


1. Hỡi ơi,

Oan trái mù mờ.
Họa tai dồn dập.

Đất một trái hơn chục tỷ người chung sống, tưởng trời xanh mây trắng thảnh thơi,
Trời bốn phương gần hai trăm nước cùng chia, bỗng lửa đỏ than hồng tới tấp.
Quả nhân đâu đã tinh tường,
Bệnh tử nay đành oan khấp.
Xót bàng dân khốn khổ, mực mài giấy trải, viết đôi hàng khóc số bạc kiếp đen
Thương cô quỉ lênh đênh, hoa cúng đèn chong, bày một lễ tế dân hèn phận thấp.

2. Có ngờ đâu, 

Thành Vũ Hán thiên tai giáng xuống, ngang đầu sét đánh, người người ngơ ngác hoài nghi,
Xứ Trung Hoa ôn dịch lan ra, đang tối lũ dâng, chốn chốn rộn ràng cứu cấp.
Bác sĩ Lượng (1) kinh hồn thư nhắn, dịch phát rồi nhanh lây nhiễm phố phường,
Quan tỉnh Hồ (2) hoảng hốt ra tay, lịnh ban ngay mau kiểm tra xuất nhập.
Đang mạnh khỏe, không hề thấy bệnh, bỗng mỏi cả châu thân,
Vẫn bình thường, chẳng chút nghi đau, lại viêm đường hô hấp.
Sốt đôi lần e lai rai cảm cúm, ấy cũng bình thường,
Ho vài tiếng tưởng mô đó tấy sưng, hóa ra nguy ngập.
Nhiều chú nói cười trên phố, ba hoa trổ tài chém gió, khéo đã vướng rồi,
Đôi anh đi đứng ngoài đường, ngổ ngáo giữ thế đàn anh, tự nhiên đổ sập.
Từ trước Chạp (3 )tin còn bưng bít, tội thay người phát hiện phao ra,
Qua khỏi Giêng (3 )báo đã công khai, hoảng quá dân ùa đi lánh nấp (4.)
Y viện tràn đầy người bệnh, bệnh sao quá lạ, chỉ hỏi chào mấy phút đã lây,
Chính quyền quyết liệt tách dân, dân phải ngồi yên, ra khỏi ngõ gãy chân cũng đập.

3. Ôi thôi,

Thoắt ba tháng, gần một triệu người (5) nhiễm khuẫn, từ Bắc Kinh, Nữu Ước … cho tới Luân Đôn,
Hơn chục tuần, non năm vạn vị mệnh chung, cả Nhật Bản, Nam Hàn, … cộng thêm Ai Cập.

Nơi giáo đường hòm gỗ sắp như tôm,
Nhà tang lễ hủ tro dày tựa đập.
Chết đột ngột phút giây, phải hay chăng vô thường quỷ hẹn hò,
Sống lo sợ đêm ngày, họa đã có câu hồn ma rình rập.
Nghĩ nát óc tìm phương khống chế, nhiều quốc gia bế quan tỏa cảng, bao lãnh đạo vò đầu,
Thức bạc tóc lo chỗ cách ly, lắm cơ quan phân loại điều tra, mọi ban ngành thở gấp.
Ra phố xá bịt khẩu trang kín mũi, hàng quán eo sèo vắng vẻ, nhìn thoáng đã rầu,
Vô nhà thương đeo mặt nạ tận mày, bệnh thầy đông đúc chen chân, tránh đâu cũng vấp.
La Mã Luân Đôn ngày nao tráng lệ, sàn nhảy quầy ba … ngơi trót tháng, tường nhà sẫm sẫm mốc ăn,
Ba Lê Bá Linh thuở trước huy hoàng, quán ăn tiệm uống … nghỉ lâu ngày, cửa kính mờ mờ bụi lấp.
Nay thành phố không người đi kẻ lại, như tha ma nghĩa địa, lạnh lẽo hoang vu,
Đâu quảng trường xưa kèn thổi đờn ca, tựa nhạc hội diễn binh, tưng bừng tấp nập.
Kinh tế cả toàn cầu rúng động, nhà nhà nước nước, bao sức lực chẳng chút bảo tàng,  
An ninh toàn thế giới đảo chao, của của tiền tiền, mọi khí tài thảy đều trưng tập.

4. Thảm thay,

Người bị bệnh kể từ nhập viện, buồn bã thân đơn bóng lẻ, vợ con chẳng được trông nom,
Kẻ thân quen cũng phải cách ly, lạc loài trạm lạ phòng xa, tin tức lấy đâu phổ cập.
Dễ lây nhiễm khiến đề phòng nghiêm nhặt, ngăn rào mấy lớp bao vây.
Khó phục hồi nên điều trị khó khăn, đo đếm từng giờ mới cập.
May mắn gặp thuốc men hữu hiệu, nhiệt tình bác sĩ hỏi han,
Xẻo xui thì tim phổi suy tàn, tơi tả siêu vi vùi dập.
Than thở biết ai chia sẻ, thỏ thẻ mỏi mòn,
Trối trăn đâu kẻ lắng nghe, phều phào lấp bấp.
Ác sao ác tổn, Cô Vy này chê trẻ chọn già,
Ngặt quá ngặt nghèo, Thần Chết lại vơ gầy vét mập.
Bệnh đông thuốc thiếu, lắm ông lão tuổi trời đã bộn, thôi mặc tiêu luôn,
Viện chật người nhiều, bao cụ già dưỡng lão lâu đời, kệ cho chết rấp. 

4. Ai hay,

Nguyên thủ phạm con dơi chịu tiếng, cứ than thầm ôn dịch thiên tai,
Đích căn nguyên vi khuẫn gây ra, giờ mới rõ Cô – na (6) nhân lập.
Tung hoành tám hướng, tồn tại lâu trong vật liệu bình thường,
Phát tán bốn phương, truyền nhiễm nhanh ở môi trường ẩm thấp.
Ác chi ác thế, tội này là vạn kiếp xương chẻ thịt băm,
Độc quá độc ghê, trị phải đến thiên thu đầu đè đá ngập (7.) 
Jin Ping (8 )mạnh miệng, truyền thủ hạ bảo tại bác Trump,
Đô Nán (9 )to mồm, tự bản thân nói vì chú Tập.
Trắng đen thế nào, cần bàn luận phân minh,
Sai đúng ra sao, chờ điều tra thu thập.
Cái kim giấu lâu ngày cũng lộ, hoàng thiên hữu nhãn còn soi,
Của trộm tiêu bao tháng đã xong, quốc pháp vô tư cứ chấp.
Chỉ mỗi tội nạn nhân tử bệnh, chút tro tàn như nuối tiếc khôn nguôi,
Mà thêm thương thể tử thọ tang, bó nhang ngút dường buồn đau khuất lấp.

5. Ô hô,

Một nén hương tàn,
Bốn lạy mặt sấp.

Hoa lá cỏ cây ủ rủ, cảnh dài thêm bao nét thương tâm,
Bạn bè thân quyến lơ thơ, lịnh cấm ngặt đông người tụ tập.
Dịch bệnh trách chi ai ái ngại, không đưa nhau cũng nghĩa xóm phường
Tóc tang đâu xét kẻ hững hờ, chẳng thăm hỏi vẫn tình thôn ấp.
Người nằm đó mặc đời xuôi ngược, sinh thành hoại diệt, hồn xin thanh thản ra đi,
Tôi đứng đây nhìn cõi đảo diên, phẫn nộ bi ai, lòng những giá băng chìm ngập.

Chết có linh thiêng,

Hãy về thụ cấp. 


NGUYỄN PHÚC VĨNH BA, ngày 02.04.2020.


Chú thích: 

1. Bác sĩ nhãn khoa Lý Văn Lượng, người phát hiện ca bệnh Covid 19 đầu tiên ở Hồ Bắc, Trung Quôc vào ngày 01.12.19 (06.11. Kỷ Hợi, âm lịch). Ông nhắn tin cho 07 bạn bè….

2. Quan chức tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.

3. Bác Sĩ Lượng bị Công An Vũ Hán kết tội phát tán thông tin sai sự thật vào ngày 03.01.20 (08, tháng Chạp, Kỷ Hợi, âm lịch). Đến ngày 30.01.20 (01.tháng Giêng, Kỷ Hợi, âm lịch), WHO tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Vào ngày 12.3.20 WHO tuyên bố dịch viêm hô hấp Covid 19 là đại dịch toàn cầu.

4. Dân chúng thành phố Vũ Hán vơi đi ½ khi dịch Covid 19 này bạo phát vào tháng Giêng.

5. Theo thống kê đến 12g00 ngày 02.4.2020 có đến 939.366 người lây nhiễm khuẫn SARS-CoV-2 và trong đó hơn 47.300 người chết. E vài hôm nữa thì bệnh nhân lên đến triệu người, người chết 5 vạn vì đỉnh dịch chưa đến và nhiều thành phố lớn chưa khống chế được dịch.

6. Viết tắt tên vi khuẫn Corona chủng mới.

7. Bị núi đá đè ngàn năm như Tề Thiên Đại thánh trong truyện Tây du ký.

8. Xi Jin Ping là Tập Cận Bình, tổng bí thư đảng CS Trung Quốc.

9. Donald Trump là đương kim tổng thống Mỹ quốc.