CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGUYỄN VĂN SIÊU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGUYỄN VĂN SIÊU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

THƠ XUÂN CỦA NGUYỄN VĂN SIÊU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 Góc Việt Thi :  

                          Thơ Xuân của NGUYỄN VĂN SIÊU

      Nguyễn Văn Siêu 阮文超 (1798-1872) tên khác là Định 定, tự Tốn Ban 遜班, hiệu Phương Đình 方亭 và Thọ Xương cư sĩ 壽昌居士, thuỵ Chí Đạo 志道, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Đỗ phó bảng năm 1838 đời vua Minh Mệnh. Ông là người cùng thời với Cao Bá Quát, hai người nổi tiếng có tài văn thơ mà dân gian hay truyền tụng là “thần Siêu thánh Quát”. Vua Tự Đức cũng có lời khen tặng là "Văn như SIÊU, QUÁT vô tiền Hán". Nguyễn Văn Siêu làm quan đến chức Án sát, có sang sứ Trung Hoa. Sau đây là những bài thơ tiêu biểu của ông trong ngày xuân.

1. Xuân Nhật Cảm Hoài 春日感懷 :

             半簾畫永獨成吟,  Bán liêm hoạ vĩnh độc thành ngâm,
             興已多辰感已深。  Hứng dĩ đa thần cảm dĩ thâm.
             閒靜算來難強得,  Nhàn tĩnh toán lai nan cưỡng đắc,
             紛華到底易相侵。  Phân hoa đáo để dị tương xâm.
             猶多仰事俯育責,  Do đa ngưỡng sự phủ dục trách,
             況復先憂後樂心。  Huống phục tiên ưu hậu lạc tâm
             春去春來何太急,  Xuân khứ xuân lai hà thái cấp,
             百花依舊滿園林。  Bách hoa y cựu mãn viên lâm.

                
   * Chú thích :
       - Xuân Nhật Cảm Hoài 春日感懷 : Nỗi lòng cảm xúc trong ngày xuân.
       - Bán Liêm Họa Vịnh 半簾畫永 : Không phải là "Bức rèm chỉ được vẽ có một nửa", mà là "Bức rèm bằng những thanh tre, gỗ hay xâu chuổi có vẽ tranh, đề thơ và có thể xuyên qua các khe kẽ của bức rèm để nhìn ra cảnh vật bên ngoài một cách mông lung mờ ảo và rất... nên thơ. Chữ VĨNH 永 ở đây được đọc là VỊNH, đồng nghĩa với từ NGÂM VỊNH 吟咏; Nên HỌA VỊNH là Tranh vẽ có đề thơ.
       - Phân Hoa 紛華 : Từ có xuất xứ từ Hậu Hán Thư :「Giá thú tống chung, Phân Hoa mi lệ 嫁娶送終,紛華靡麗」Có nghĩa : Cưới gả hay đưa tang, đều rất hoa lệ hào nhoáng. Nên PHÂN HOA là Phồn Hoa Náo Nhiệt 繁華熱鬧. Chỉ cảnh giàu có xa hoa nhộn nhịp.
       - Ngưỡng Sự Phủ Dục Trách 仰事俯育責 : Có xuất xứ từ《Mạnh Tử. Tận Tâm Thượng 孟子·盡心上》Chương "Quân Tử hữu tam lạc 君子有三乐" có câu「Ngưỡng bất qúy ư thiên, phủ bất tạc ư nhân 仰不愧於天,俯不怍於人」Có nghĩa : Ngẩng lên không thẹn với trời, cúi xuống không xấu hổ với người. Nhân gian thường nói cho gọn lại thành “Phủ ngưỡng bất quý thiên địa 仰俯不愧天地" Có nghĩa là người tạo nên sự nghiệp, sống theo luân lý, đạo đức, thì ngẩng lên không thẹn với trời, cúi xuống không xấu hổ với đất.
      - Tiên Ưu Hậu Lạc Tâm 先憂後樂心 : là "Cái lòng lo trước vui sau". Lấy ý từ câu nói của Phạm Trọng Yêm 范仲淹 (989-1052) đời Tống nói lý tưởng của kẻ sĩ là “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” 先天下之憂而憂,後天下之樂而樂. Có nghĩa : Phải lo trước cái lo của thiên hạ, và phải vui sau cái vui của thiên hạ. Câu này trở thành thành ngữ và được rút gọn lại thành ra “tiên ưu hậu lạc”.

    * Nghĩa bài thơ :
                               Nỗi Lòng Cảm Xúc Trong Ngày Xuân 
          Ngồi nhìn xuyên qua bức rèm có vẽ tranh và thơ họa, một mình ta cũng chợt nổi hứng ngâm nga. Hứng đã rất lâu nên cảm cũng rất sâu. Sự nhàn tản thanh tịnh xem ra cũng rất khó cưỡng cầu để có được, còn cuộc sống phồn hoa náo nhiệt thì lại rất dễ làm lay động lòng người. Còn phải có chức trách để sao cho ngẩng lên không thẹn với trời và ngó xuống cũng không hổ với đất; Còn lại phải giữ lòng lo trước cái lo của thiên hạ và vui sau cái vui của thiên hạ nữa. Mùa xuân đi rồi mùa xuân lại đến chớ vội vàng gấp gáp mà chi; trong khi trăm hoa vẫn đua nở đầy sân đầy vườn như cũ !
         Qủa là nỗi lòng của một vị quan thanh liêm cần mẫn, hết lòng lo cho dân cho nước. Lâu lâu mới có được một chút nhàn tản thanh tịnh mà cũng không dám trọn hưởng, lại sợ sự phồn hoa náo nhiệt dễ làm lay động lòng người, nên phải giữ lòng của một quan phụ mẫu : Lo trước cái lo của dân và vui sau cái vui của dân chúng, để sao cho trên không thẹn với trời và dưới thì không thẹn với đất. Hơn nữa ông quan mẫu mực Nguyễn Văn Siêu lại cho rằng : Mùa xuân đi rồi mùa xuân lại về và trăm hoa sẽ lại đua nở đón xuân, và ta cũng lại có dịp để đón xuân ngắm hoa thưởng nhàn, có gấp gáp chi đâu mà vội ! Qủa là một suy nghĩ tích cực của một bậc chính nhân quân tử khi xuất sĩ làm quan; Chả trách nhà vua đã sắc phong ông làm quan đến chức Án Sát.

    * Diễn Nôm :


                      XUÂN NHẬT CẢM HOÀI

                Ngâm nga rèm họa một mình thôi,
                Hứng đã bao ngày cảm chẳng vơi.
                Nhàn tản thì ra càng khó được,
                Phồn hoa vốn dĩ dễ trêu ngươi.
                Sao cho cúi, ngẩng đều không thẹn,
                Lại phải lo, vui với mọi người.
                Chớ vội, xuân đi xuân lại đến...
                Trăm hoa rồi lại vẫn xinh tươi !...
      Lục bát :
                Rèm thưa ngắm mãi thành ngâm,
                Biết bao cảm hứng âm thầm riêng ta.
                Muốn nhàn chẳng dễ chi a...
                Vinh hoa vốn dĩ dễ sa ngã lòng.
                Sao cho cúi, ngẩng đều thông,
                Vui sau, lo trước cùng dân ấy mà...
                Vội chi, xuân đến xuân qua...
                Vườn xuân rồi sẽ trăm hoa nở đầy !!!
                                          Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm.


                
2. XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI :

             春日曉起       XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI 

            宿火明書牖,    Túc hỏa minh thư dũ,
            曉鍾聞佛臺。    Hiểu chung văn Phật đài.
            主人催被起,    Chủ nhân thôi bị khởi,
            小子報花開。    Tiểu tử báo hoa khai.
            夜氣融孤竹,    Dạ khí dung cô trúc,
            晴光弄小梅。    Tình quang lộng tiểu mai.
            流鶯囀不已,    Lưu oanh chuyển bất dĩ,
            應有故人來。    Ưng hữu cố nhân lai !
                  阮文超                    Nguyễn Văn Siêu



              
    * Chú Thích :

        - Túc Hỏa 宿火 : là Lửa đêm, là Đèn hoặc nến ban đêm để thắp sáng.
        - Thư Dũ 書牖 : Cửa sổ bên bàn học.
        - Hiểu Chung 曉鍾 : Chuông chùa công phu buổi sáng.
        - Thôi Bị Khởi 催被起 : Đẩy cái mền ra ngồi dậy, ý chỉ thức giấc.
        - Tiểu Tử 小子 : Ở đây không có nghĩa là CON NHỎ mà là Tiểu Đồng, Thư Đồng để đối với chữ CHỦ NHÂN 主人 ở trên.
        - Dung 融 : là Hòa, Tan, là lẫn vào.
        - Tình Quang 晴光 : là Ánh Nắng.
        - Chuyển 囀 : là Uyển Chuyển 啘囀, là tiếng hót véo von, líu lo.
        - Ưng Hữu 應有 : Chắc có, Có thể có.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                   SÁNG XUÂN THỨC GIẤC 
          Đèn đêm còn chiếu sáng bên song cửa sổ, đã nghe tiếng chuông công phu buổi sáng ở Phật đài. Chủ nhân vừa tung chăn thức giấc thì tiểu đồng đã báo cho biết là hoa sáng đã nở rồi. (Mở cửa ra thì thấy) Hơi đêm còn như đang tan vào bụi trúc cô đơn trước ngõ và ánh nắng ban mai le lói như đang ghẹo cành mai nhỏ trước sân, tiếng chim oanh bay lượn không ngừng hót líu lo, như báo trước chắc là có bạn cũ đến chơi.

* Diễn Nôm :
XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI


                     
                   Đèn đêm còn soi song cửa,
                   Đã nghe chuông sớm ngân nga.
                   Chủ nhân tung chăn thức giấc,
                   Tiểu đồng báo sáng nở hoa.
                   Hơi đêm tan vào tre lạnh,
                   Nắng sớm ghẹo cội mai già.
                   Tiếng oanh líu lo không ngớt,
                   Chắc là bạn đến thăm ta !
         Lục bát :
                   Đèn còn hắt sáng cửa song,
                   Phật đài đã vẳng chuông ngân đầu ngày.
                   Chủ nhân thức giấc vươn vai,
                   Thư đồng đã báo nở vài cành hoa.
                   Hơi đêm nhành trúc la đà,
                   Vài tia nắng sớm ghẹo hoa mai vàng.
                   Chim oanh ríu rít rộn ràng,
                   Chắc là có bạn thuận đàng ghé chơi !
                                    Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

          Thi vị và nhản tản vô cùng ! Quả là nếp sống của một hiền nhân ẩn dật an nhàn như vượt ra ngoài khỏi cuộc sống ồn ào xô bồ xô bộn của thế nhân. Nguyễn Văn Siêu đã rất biết sống, biết tận hưởng cảnh nhàn tản thanh tịnh của một cao nhân hiền triết sau khi đã "lo cái lo trước thiên hạ và Vui cái vui sau thiên hạ" để "ngẩng lên không thẹn với trời và cúi xuống không hổ với đất". So với cuộc sống của Cao Bá Quát luôn luôn gặp phải những gian truân lận đận trắc trở, thì cuộc sống của Nguyễn Văn Siêu an nhàn, thuận lợi và thanh thản hơn nhiều !                                   

       Chúc mọi người đều có được một mùa xuân VUI TƯƠI, HẠNH PHÚC và AN NHÀN như là Nguyễn Văn Siêu vậy !
           
       Hẹn bài dịch tới !


                                   杜紹德
                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC
            

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022

GÓC VIỆT THI: CHÙM THƠ XUÂN - NGUYỄN TỬ THÀNH , NGUYỄN VĂN SIÊU,LÊ CẢNH THÂN,THÁI THUẬN CHU VĂN AN,ĐỖ CHIÊU ĐỮC

 


                         



GÓC VIỆT THI

                         CHÙM THƠ XUÂN


1. Bài thơ NGUYÊN NHẬT :

        Lê Cảnh Tuân 黎景詢 (?-1416?) tên chữ là Tử Mưu, hiệu là Tỉnh Trai, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nguyên trước ở làng Lão Lạt phủ Thanh Hoá). Không rõ ông sinh năm nào. Lê Cảnh Tuân đỗ Thái học sinh vào năm Canh thìn (1400), dưới triều Hồ. Ông là danh sĩ dưới triều Hồ. Hiện chỉ còn lưu lại 12 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Dưới đây là bài Ngũ Ngôn tuyệt cú của ông làm khi Tết đến mà không dám về quê.

  元日               Nguyên Nhật

旅館客仍在,    Lữ quán khách nhưng tại,
去年春復來。    Khứ niên xuân phục lai.
歸期何日是?    Quy kỳ hà nhật thị ?
老盡故園梅。    Lão tận cố viên mai!
          黎景詢                Lê Cảnh Tuân 



     



* Chú thích:
     - Nguyên Nhật 元日 : là Ngày đầu, ta phải hiểu là Ngày Đầu Của Một Năm, như chữ Nguyên Đán Là TẾT NGUYÊN ĐÁN của ta đó.
     - Nhưng 仍 : là Vẫn, Vẫn Cứ...
     - Phục 復 : là Lại, là Trở lại.
     - Quy Kỳ 歸期 : Cái kỳ hạn trở về, là Ngày Về.
     - Lão Tận 老盡 : là Già đến tận cùng, là Già khú, già chát, già khằng!

* Nghĩa Bài Thơ:
                                      NGÀY ĐẦU NĂM
       Người khách tha hương vẫn còn ở nơi quán trọ nầy, nhưng mùa xuân của năm rồi, năm nay lại trở lại. Biết ngày nào mới là ngày về đây? Chắc cành mai già ở quê nhà đã già cỗi hết rồi!

      Não nùng thay tâm trạng của người lìa quê xa xứ trong những ngày xuân đến Tết về. Câu "去年春復來 Khứ niên xuân phục lai" Mùa xuân năm trước lại trở về đây, cho ta thấy ít nhất Lê Cảnh Tuân cũng đã hai năm không được về quê ăn Tết rồi. Cội mai già còn cằn cỗi huống hồ chi là các đấng sanh thành ở quê nhà chắc cũng không tránh khỏi buồn thương sầu não mà càng héo tàn lụm cụm!


       


4. Diễn Nôm:

       NGUYÊN NHẬT

Khách còn nơi quán trọ,
Xuân năm trước lại sang.
Biết ngày nao trở lại ?
Cội mai đã cỗi tàn !

Lục bát:
            Trọ nơi lữ quán khách còn
            Mùa xuân năm trước lon ton lại về
            Ngày nao mới được hồi quê?
            Cội mai vườn cũ xuân về khẳng khiu!
                                         Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

2. Bài thơ SƠ XUÂN :

           Nguyễn Tử Thành 阮子成 hiệu là Tùng Hiên, đời Trần. Quê quán, năm sinh, năm mất cùng sự nghiệp của ông đều chưa rõ, chỉ còn 11 bài thơ chép trong Toàn Việt Thi Lục 全越詩錄.Dưới đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông.

    初春                          SƠ XUÂN

臘梅開盡雪飄零,      Lạp mai khai tận, tuyết phiêu linh,
老大情懷節物驚。      Lão đại tình hoài tiết vật kinh.  
傍水人家楊柳嫩,      Bàng thủy nhân gia dương liễu nộn,
寒天客院半陰晴。      Hàn thiên khách viện bán âm tình .   
遊蜂摘蜜穿花去,      Du phong trích mật xuyên hoa khứ,            
野蝶偷香帶粉經。      Dã diệp thâu hương đới phấn kinh. 
檢點名園供勝賞,      Kiểm điểm danh viên cung thắng thưởng, 
春花一樣百般生。      Xuân hoa nhất dạng bách ban sinh.
              阮子成                               Nguyễn Tử Thành   
  

     


* Chú thích :
    - SƠ XUÂN 初春 : Buổi ban sơ của mùa xuân; là ĐẦU XUÂN.
    - Lạp Mai 臘梅 : LẠP là Tháng Chạp; Nên LẠP MAI là Loại mai nở vào tháng 12 âm lịch.  
    - Tiết Vật 節物 : Thời tiết và cảnh vật.
    - Bàng Thủy 傍水 : Ở cạnh bờ nước; ở gần sông hồ.
    - Bán Âm Tình 半陰晴 : là Nửa râm nửa nắng.  
    - Trích Mật 摘蜜 : là Hái mật, chỉ ong hút mật.
    - Thâu Hương 偷香 : là Trộm hương, ở đây chỉ bướm hút phấn thơm của hoa.
    - Danh Viên 名園 : là Những vườn hoa nổi tiếng. 

* Nghĩa bài thơ : 
                          ĐẦU XUÂN
       Lạp mai trong tháng chạp đã nở cả rồi, tuyết chỉ còn rơi rải rác. Tâm tình của người già thấy thời tiết cảnh vật thay đổi mà phát kinh. Nhà ai bên bến nước dương liễu mới trổ xanh non, Trời còn lạnh nên phòng khách nửa râm nửa nắng. Những con ong bay lượn hút mật rồi bay xuyên qua những cánh hoa, và những con bướm hoang trộm hương hoa mang phấn bay đi. Kiểm điểm lại những vườn hoa nổi tiếng mà người ta thường tán thưởng thì thấy rằng : Hoa xuân nở ra trăm vẻ đều đẹp như nhau mà thôi. (Chớ không phải vườn nổi tiếng thì hoa nở mới đẹp, còn vườn bình thường thì hoa nở không đẹp !).

* Diễn Nôm :


            


                              ĐẦU XUÂN
                
                    Tuyết rơi mai nở báo xuân sang,
                    Cảnh vật đổi thay luống ngỡ ngàng.
                    Bến nước nhà ai xanh liễu mới,
                    Trời râm phòng khách nắng hoe vàng.
                    Ong vui hái mật đùa bay lượn,
                    Bướm hút nhuỵ hoa vội tách ngang.
                    Điểm hết vườn xuân bao thắng cảnh,
                    Hoa xuân trăm vẻ đẹp mơ màng.
       Lục bát :
                    Tuyết rơi mai nở hết rồi,
                    Tuổi già thấy cảnh đổi dời mà kinh.
                    Nhà ai bến nước liễu xinh,
                    Nửa râm nửa nắng sân đình đìu hiu.
                    Ong bay hút mật dập dìu,
                    Bướm hoang lén trộm thật nhiều phấn hoa.
                    Vườn xuân nổi tiếng gần xa,
                    Hoa xuân trăm vẻ mặn mà như nhau.
                                                Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

3. Bài thơ XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI :


       


           Nguyễn Văn Siêu 阮文超 (1798-1872) tên khác là Định 定, tự Tốn Ban 遜班, hiệu Phương Đình 方亭 và Thọ Xương cư sĩ 壽昌居士, thuỵ Chí Đạo 志道, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Đỗ phó bảng năm 1838 đời vua Minh Mệnh. Ông là người cùng thời với Cao Bá Quát, hai người nổi tiếng có tài văn thơ mà dân gian hay truyền tụng là “thần Siêu thánh Quát”. Nguyễn Văn Siêu làm quan đến chức án sát, có sang sứ Trung Hoa. Sau đây là bài thơ tiêu biểu của ông trong ngày xuân.

春日曉起        XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI 

宿火明書牖,    Túc hỏa minh thư dũ,
曉鍾聞佛臺。    Hiểu chung văn Phật đài.
主人催被起,    Chủ nhân thôi bị khởi,
小子報花開。    Tiểu tử báo hoa khai.
夜氣融孤竹,    Dạ khí dung cô trúc,
晴光弄小梅。    Tình quang lộng tiểu mai.
流鶯囀不已,    Lưu oanh chuyển bất dĩ,
應有故人來。    Ưng hữu cố nhân lai !
     阮文超                    Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
    - Túc Hỏa 宿火: Đèn hoặc nến ban đêm để thắp sáng.
    - Thư Dũ 書牖 : Cửa sổ bên bàn học.
    - Hiểu Chung 曉鍾 : Chuông chùa công phu buổi sáng.
    - Thôi Bị Khởi 催被起 : Đẩy cái mền ra ngồi dậy, ý chỉ thức giấc.
    - Tiểu Tử 小子 : Ở đây không có nghĩa là CON NHỎ mà là Tiểu Đồng, Thư Đồng để đối với chữ CHỦ NHÂN ở trên.
    - Dung 融 : là Hòa, Tan, lẫn vào.
    - Tình Quang 晴光 : là Ánh Nắng sáng.
    - Chuyển 囀 : Có bộ KHẨU 口 là Cái miệng bên trái, là (tiếng hót) Uyển Chuyển, véo von, líu lo.
    - Ưng Hữu 應有 : Chắc có, Có thể có.

* Nghĩa Bài Thơ :
                        SÁNG XUÂN THỨC GIẤC 
       Đèn đêm còn chiếu sáng song cửa sổ, đã nghe tiếng chuông công phu buổi sáng ở Phật đài rồi. Chủ nhân vừa tung chăn thức giấc thì tiểu đồng đã báo cho biết là hoa sáng cũng đã nở rồi. (Mở cửa ra thì thấy) Hơi đêm còn như đang tan vào bụi trúc cô đơn trước ngõ và ánh nắng ban mai le lói như đang ghẹo cành mai nhỏ trước sân, tiếng chim oanh bay lượn không ngừng hót líu lo, như báo trước chắc là có bạn cũ đến chơi.



          


* Diễn Nôm :
                      XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI

                   Đèn đêm còn soi song cửa,
                   Đã nghe chuông sớm ngân nga.
                   Chủ nhân tung chăn thức giấc,
                   Tiểu đồng báo sáng nở hoa.
                   Hơi đêm tan vào tre lạnh,
                   Nắng sớm ghẹo cội mai già.
                   Tiếng oanh líu lo không ngớt,
                   Chắc là bạn đến thăm ta !

        Lục bát :
                   Đèn còn hắt sáng cửa song,
                   Phật đài đã vẳng chuông ngân đầu ngày.
                   Chủ nhân thức giấc vươn vai,
                   Thư đồng đã báo nở vài cành hoa.
                   Hơi đêm nhành trúc la đà,
                   Vài tia nắng sớm ghẹo hoa mai vàng.
                   Chim oanh ríu rít rộn ràng,
                   Chắc là có bạn thuận đàng ghé chơi !
                                             Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

4. Bài thơ SƠ XUÂN của THÁI THUẬN :

           Thái Thuận 蔡順 (1440-?) tự Nghĩa Hoà, hiệu Lục Khê, biệt hiệu Lữ Đường, sinh 1440. Đậu tiến sĩ 1475 (niên hiệu Hồng Đức thứ 6). Làm quan ở nội các viện triều Lê Thánh Tông hơn 20 năm, sau được bổ làm tham chính ở Hải Dương, sau nữa được đặc cách giữ chức phó nguyên suý hội Tao Đàn. Tác phẩm còn lại: Lữ Đường Thi di cảo do con trai là Thái Khác và học trò là Đỗ Chính Mô sưu tầm, biên soạn.

   初春                      SƠ XUÂN

三冬過了一春歸,     Tam đông qúa liễu nhất xuân qui,
乍暖東風放放吹。     Sạ noãn đông phong phóng phóng xuy.  
冰雪凍痕鋪水面,     Băng tuyết đống ngân phô thủy diện, 
乾坤生意上林枝。     Càn khôn sanh ý thượng lâm chi. 
柳還舊綠鶯猶靜,     Liễu hoàn cựu lục oanh do tĩnh, 
桃試新紅蝶未知。     Đào thí tân hồng điệp vị tri. 
日暮鄉關迴首望,     Nhật mộ hương quan hồi thủ vọng, 
草心遊子不塍悲。     Thảo tâm du tử bất thăng bi !
               蔡順                                   Thái Thuận

* CHÚ THÍCH :
     - SƠ XUÂN 初春 : Mới bắt đầu mùa xuân, là Chớm Xuân, là Đầu Xuân.
     - TAM ĐÔNG 三冬 : Chỉ 3 tháng của mùa đông.
     - SẠ NOÃN 乍暖 : SẠ 乍 là Bất chợt, Bỗng nhiên. SẠ NOÃN là Chợt ấm lên.
     - NGÂN 痕 : là Vết sẹo, là Dấu vết.
     - SANH Ý 生意 : là Cái ý sống, cái ý sinh tồn. Sau dùng rộng ra chỉ Sự làm ăn buôn bán của con người để kiếm sống.
     - THẢO TÂM 草心 : Nỗi lòng của tấc cỏ.

* NGHĨA BÀI THƠ :
                           CHỚM XUÂN
       Mùa xuân vừa mới trở về sau ba tháng của mùa đông đã qua đi rồi. Trời chợt ấm lại nên gió xuân từ hướng đông đã hay hẩy thổi đến. Dấu ấn của băng tuyết còn sót lại bày ra trên mặt nước, và ý sống của đất trời đã nẩy mầm trên các cành ngọn của cây rừng. Liễu thì vẫn xanh tốt như xưa, và đào thì đã trổ màu hồng mới nhưng bướm vẫn còn chưa hay biết. Trời chiều quay đầu trông ngóng về phía quê xa, tấc lòng của người con du tử không tránh khỏi nỗi xót xa !

      Bài thơ Sơ Xuân của Thái Thuận đọc lên nghe như có âm vang hơi hám của thuở Thịnh Đường, ngay từ câu đầu tiên :

               三冬過了一春歸    Tam đông qúa liễu nhất xuân quy.

     Từ "Tam đông" làm ta nhớ đến từ "Tam xuân" trong 2 câu trong bài "Du Tử Ngâm" của Mạnh Giao đời Đường là :

                   誰言寸草心,      Thuỳ ngôn thốn thảo tâm,
                   報得三春暉.        Báo đắc Tam Xuân huy.

   mà cụ Nguyễn Du đã thoát dịch rất hay là :

               "Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân"

   Ta thấy từ "Thảo Tâm Du Tử" : Tấc lòng của người con du tử, lại được Thái Thuận sử dung ở câu cuối :
           草心遊子不塍悲。    Thảo tâm du tử bất thăng bi ! (Tấm lòng như tấc cỏ của người con du tử không tránh khỏi buồn thương ray rức )...
   và nhất là câu:
                   日暮鄉關迴首望,   Nhật mộ hương quan hồi thủ vọng,

    lại làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ cuối của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu là:

                   日暮鄉關何處是?   Nhật mộ hương quan hà xứ thị
                   煙波江上使人愁。   Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
 ... mà Tản Đà đã dịch rất hay là :

                   Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
                 Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !


       

     
* DIỄN NÔM :
                    CHỚM XUÂN

          Ba tháng đông qua xuân lại thay,
          Gió xuân hây hẩy ấm lòng ai.
          Dấu tàn băng tuyết in dòng nước,
          Chồi mới đất trời biếc ngọn cây.
          Liễu đã xanh om oanh vắng tiếng,
          Đào đà đỏ nụ bướm chưa hay.
          Quay nhìn quê cũ khi chiều xuống,
          Du tử bồi hồi mắt lệ cay !
 Lục bát :
          Đông qua nay lại chớm xuân,
          Khí trời chợt ấm gió đông lào xào.
          Nước trôi băng tuyết dạo nào,
          Rừng cây nẩy lộc chồi cao xanh cành.
          Liễu buồn oanh hãy vắng tanh,
          Đào buồn vắng bướm cành xanh ửng hồng.
          Trời chiều quê cũ vời trông,
          Bồi hồi du tử chạnh lòng xót xa !                                            
                               Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm   



          


5. Bài thơ  XUÂN ĐÁN của CHU VĂN AN :
 
          春旦                         XUÂN ĐÁN                 
    寂寞山家鎮日閒,    Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,
    竹扉斜擁護輕寒。    Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
    碧迷草色天如醉,    Bích mê thảo sắc thiên như túy
    紅濕花梢露未乾。    Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.
    身與孤雲長戀岫,    Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ
    心同古井不生瀾。    Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.
    柏薰半冷茶煙歇,    Bách huân bán lãnh trà yên yết,
    溪鳥一聲春夢殘。    Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.
             朱文安                             Chu Văn An

* Chú thích :
    - Trấn Nhật 鎮日 : là Suốt cả ngày.
    - Tà Ủng 斜擁 : TÀ là Nghiêng , là Xiên; ỦNG là Ôm; nên TÀ ỦNG là Ôm Nghiêng, chỉ cánh cửa tre (trúc phi) xiêu vẹo nghiêng nghiêng ôm lấy cửa rào.
    - Bích Mê 碧迷 : là Xanh biêng biếc; BÍCH MÊ THẢO SẮC 碧迷草色 là màu cỏ xanh biêng biếc.
    - Hồng Thấp Hoa Tiêu 紅濕花梢 : là Đỏ ướt cả đầu cành hoa, vì Sương Chưa Khô : LỘ VỊ CAN 露未乾.
    - Tụ 岫 : Những cái hang trên đỉnh núi, thường có hơi bốc lên thành mây.
    - Lan 瀾 : là những gợn sóng nhỏ; BẤT SANH LAN 不生瀾 Không còn gợn sóng. 
    - Bách Huân 柏薰 : Cây Bách cây thông dùng để đốt lửa hong cho ấm.
    - Trà Yên 茶煙 : YÊN là Khói mà cũng có nghĩa là Thuốc hút nữa (thuốc Lào chẳng hạn); nên TRÀ YÊN là Trà và thuốc hút. 
   - Yết 歇 : là Nghỉ, là thôi, ở đây có nghĩa là Hết, là Cạn.

* Dịch Nghĩa : 
                     Sáng Ngày Xuân
       Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm chợt tỉnh giấc, mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.



       


* DIỄN NÔM :
                            XUÂN ĐÁN
                  
              Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,
              Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.
              Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,
              Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.
              Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,
              Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.
              Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,
              Chim oang oác giật mình tan giấc mộng !
Lục bát :
             Nhà cao vắng vẻ an nhàn,
             Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.
             Trời xanh đồng cỏ mênh mông,
             Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.
             Thân như mây nổi linh đinh,
             Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.
             Đêm tàn lửa tắt trà vơi,
             Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ !
                                           Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

        Chúc mọi người đều có được một cái Tết BÌNH AN,  NHƯ Ý !

        Hẹn bài viết tới !
                                                   杜紹德
                                           ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

THƠ NGUYỄN VĂN SIÊU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


duc do
09:23 (22 giờ trước)
tới tôi
                           
     Thơ NGUYỄN VĂN SIÊU


                                 
                               CHÂN DUNG NGUYỄN VĂN SIÊU         


       Nguyễn Văn Siêu 阮文超 (1798-1872) tên khác là Định 定, tự Tốn Ban 遜班, hiệu Phương Đình 方亭 và Thọ Xương cư sĩ 壽昌居士, thuỵ Chí Đạo 志道, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Đỗ phó bảng năm 1838 đời vua Minh Mệnh. Ông là người cùng thời với Cao Bá Quát, hai người nổi tiếng có tài văn thơ mà dân gian hay truyền tụng là “thần Siêu thánh Quát”. Nguyễn Văn Siêu làm quan đến chức án sát, có sang sứ Trung Hoa.

       Nguyễn Văn Siêu sáng tác rất mạnh, các tác phẩm của ông khá đồ sộ. Về thơ ca, cơ bản ông có các tập thơ:
- Anh ngôn thi tập 英言詩集 (2 quyển, 141+162 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông ở Thăng Long
- Lưu lãm tập 流覽集 (2 quyển, 177+128 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông ở Huế
- Mạn hứng thi tập 漫興詩集 (187 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông rời Huế về Thăng Long
- Vạn lý tập …
                                                                                    ( nguồn : Thiviennet )

       Vua Tự Đức đã từng khen :

                        Văn như SIÊU QUÁT vô Tiền Hán,

để chỉ văn tài siêu việt của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, nhưng có biết đâu rằng Nguyễn Văn Siêu cũng giỏi thơ không thua TÙNG TUY chút nào cả !

       Mời đọc các bài thơ sau của Nguyễn Văn Siêu sẽ rõ !...

1. Bản chữ Hán cổ của bài Xuân Nhật Hiểu Khởi :

春日曉起          XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI

宿火明書牖,    Túc hỏa minh thư dũ,
曉鍾聞佛臺。    Hiểu chung văn Phật đài.
主人催被起,    Chủ nhân thôi bị khởi,
小子報花開。    Tiểu tử báo hoa khai.
夜氣融孤竹,    Dạ khí dung cô trúc,
晴光弄小梅。    Tình quang lộng tiểu mai.
流鶯囀不已,    Lưu oanh chuyển bất dĩ,
應有故人來。    Ưng hữu cố nhân lai !
         阮文超                       Nguyễn Văn Siêu



Image result for 竹林曉起    
 Image result for 竹林曉起


* Chú Thích :

  - Túc Hỏa : Đèn hoặc nến ban đêm để thắp sáng.
  - Thư Dũ : Cửa sổ bên bàn học.
  - Hiểu Chung : Chuông chùa công phu buổi sáng.
  - Thôi Bị Khởi : Đẩy cái mền ra ngồi dậy, ý chỉ thức giấc.
  - Tiểu Tử : Ở đây không có nghĩa là CON NHỎ mà là Tiểu Đồng, Thư Đồng để đối với chữ CHỦ NHÂN ở trên.
  - Dung : là Hòa, Tan, lẫn vào.
  - Tình Quang : là Ánh Nắng.
  - Chuyển : là Uyển Chuyển, là tiếng hót véo von, líu lo.
  - Ưng Hữu : Chắc có, Có thể có.
* Nghĩa Bài Thơ :

                     SÁNG XUÂN THỨC GIẤC
          Đèn đêm còn chiếu sáng song cửa sổ, đã nghe tiếng chuông công phu buổi sáng ở Phật đài. Chủ nhân vừa tung chăn thức giấc thì tiểu đồng đã báo cho biết là hoa sáng đã nở rồi. (Mở cửa ra thì thấy) Hơi đêm còn như đang tan vào bụi trúc cô đơn trước ngõ và ánh nắng ban mai le lói như đang ghẹo cành mai nhỏ trước sân, tiếng chim oanh bay lượn không ngừng hót líu lo, như báo trước chắc là có bạn cũ đến chơi.

* Diễn Nôm :
                   Đèn đêm còn soi song cửa,
                   Đã nghe chuông sớm ngân nga.
                   Chủ nhân tung chăn thức giấc,
                   Tiểu đồng báo sáng nở hoa.
                   Hơi đêm tan vào tre lạnh,
                   Nắng sớm ghẹo cội mai già.
                   Tiếng oanh líu lo không ngớt,
                   Chắc là bạn đến thăm ta !
  Lục bát :
                   Đèn còn hắt sáng cửa song,
            Phật đài đã vẳng chuông ngân đầu ngày.
                   Chủ nhân thức giấc vươn vai,
            Thư đồng đã báo nở vài cành hoa.
                   Hơi đêm nhành trúc la đà,
            Vài tia nắng sớm ghẹo hoa mai vàng.
                  Chim oanh ríu rít rộn ràng,
            Chắc là có bạn thuận đàng ghé chơi !

                             Đỗ Chiêu Đức

Image result for 曉坐對茶甌

  Image result for 曉坐對茶甌

2. Bản chữ Hán cổ bài Hiểu Tọa :

  曉坐                 HIỂU TỌA
曉坐對茶甌,   Hiểu tọa đối trá âu,
空心懶應接。   Không tâm lãn ứng tiếp.
雞鳥聲復聲,   Kê điểu thanh phục thanh,
晴雲布亂蝶。   Tình vân bố loan điệp.
      阮文超             Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
  - Trà Âu : Bình sành, chén sành dùng để uống trà.
  - Lãn : là Lười biếng.
  - Tình Vân : là Mây tạnh, là Trời quang mây tạnh.
  - Bố : là Phân tán, rải khắp.

* Nghĩa Bài Thơ :

                         NGỒI CHƠI BUỔI SÁNG

          Buổi sáng ta ngồi đối diện với bộ đồ trà mà trong lòng cảm thấy trống trải, lười biếng không muốn ứng tiếp với ai cả. Hết tiếng gà gáy rồi tiếng chim kêu nối tiếp nhau, trời quang mây tạnh nên đàn bướm đổ xô ra bay loạn khắp nơi ( thật là bực mình hết sức !).

          Qủa là, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ! Ngồi uống trà buổi sáng, trời quang mây tạnh, có gà gáy, có chim hót, có bươm bướm lượn bay, cảnh đẹp là thế, nhưng vì tâm lý của tác giả không vui, nên mới đâm ra uể hoải lười biếng chẳng muốn giao tiếp với ai và bực mình cả với tiếng gà gáy chim kêu bướm lượn !
                           
 * Diễn Nôm :
                      Sáng ngồi trước ấm trà,
                      Lòng buồn chẳng thiết tha.
                      Gà gáy rồi chim hót,
                      Mây tạnh bướm nhởn nha
 Lục bát :
                 Sáng buồn ngồi trước bình trà
                 Cỏi lòng trống trải chẳng tha thiết gì
                 Chim kêu gà gáy liền khi,
                 Trời quang lũ bướm loạn phi khắp cùn                                  Đỗ Chiêu Đức


Image result for 書永午雞辰一叫,
  Image result for 書永午雞辰一叫, 


3. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Tĩnh Tọa :

      靜坐                       TĨNH TỌA
書永午雞辰一叫,      Thư vĩnh ngọ kê thần nhất khiếu
簾垂到地人過少。      Liêm thùy đáo địa nhân qua thiểu.
無風半樹微微搖,      Vô phong bán thụ vi vi diêu,
葉裡打蟲穿出鳥。      Diệp lý đả trùng xuyên xuất điểu.
             阮文超                               Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
  - Tĩnh Tọa : còn được đọc là Tịnh Tọa, là Ngồi yên một chỗ.
  - Thư : là Động từ, có nghĩa là Đọc sách.
  - Ngọ Thần : là Giờ Ngọ; Ngọ Kê Thần : là Con gà gáy vào giờ Ngọ.
  - Đả Trùng : Không phải Đánh Sâu, mà là Bắt Sâu.
  - Xuyên Xuất : là Chui ra.

* Nghĩa Bài Thơ :

                                LẶNG NGỒI

            Đọc sách cho đến lúc gà gáy trưa gáy lên, Ta lặng ngồi trong phòng có rèm phủ đến mặt đất và rất ít người qua lại mà ngắm cảnh bên ngoài. Trời không có gió lớn nên nửa thân cây chỉ hơi giao động, ta thấy một con chim bắt sâu chui ra khỏi đám lá xanh !

* Diễn Nôm :
                               LẶNG NGỒI

                   Đọc sách đến trưa gà gáy nắng,
                   Buông rèm tới đất người qua vắng.
                   Gió yên cây lặng lá lay lay,
                   Trong lá bắt sâu chim một móng !
 Lục bát :
                   Đọc sách đến gà gáy trưa,
                   Rèm buông sát đất đường thưa vắng người,
                   Gió yên cây lặng êm trời,
                   Chui ra trong lá chim loài bắt sâu !

                                           Đỗ Chiêu Đức


Image result for 西廂遶竹行。    
  Image result for 西廂遶竹行。


4. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Đình Tiền Bộ Nguyệt :

 庭前步月         ĐÌNH TIỀN BỘ NGUYỆT

掃地焚香坐,  Tảo địa phần hương tọa,
空心待月生。  Không tâm đãi nguyệt sanh.
清影移梅至,  Thanh ảnh di mai chí
西廂遶竹行。  Tây sương nhiễu trúc hành.
          阮文超                      Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
  - Đình : là Sân nhỏ ở trong khuôn viên nhà; ĐÌNH TIỀN là Trước sân.
  - Phần Hương : là Đốt nhang, thắp hương.
  - Đãi Nguyệt Sanh : là Đợi trăng mọc.
  - Tây Sương : là Mái nhà mé tây.
  - Nhiễu : là Vòng quanh

* Nghĩa Bài Thơ :

                            ĐI BÁCH BỘ NGẮM TRĂNG TRONG SÂN NHÀ

            Quét sạch đất, thắp nhang rồi ngồi đó, giữ cho lòng thanh thản để đợi trăng lên. Cái bóng của cây mai thanh thanh đang di chuyển đến gần ta, thì ra trăng đã lên rồi, ta theo hướng mái tây mà đi vòng theo những hàng tre bên đó.

     Từ TÂY SƯƠNG ( Mái Tây ) làm cho ta nhớ đến bài thơ trong Tây Sương Ký của Nguyên Chẩn đời Đường :

                待月西廂下,  Đãi nguyệt Tây sương hạ,
                迎風戶半開。  Nghinh phong hộ bán khai.
                拂墻花影動,  Phất tường hoa ảnh động,
                疑是玉人來。  Nghi thị ngọc nhân lai.
Có nghĩa :
                Đợi trăng dưới mái tây,
                Cửa hé gió hây hây.
                Bên tường hoa lay động,
                Phải người ngọc tới đây ?!
                                             Đỗ Chiêu Đức
              Image result for 待月西廂下 迎風戶半開 拂牆花影動 疑是玉人來。

* Diễn Nôm :
                   Quét đất thắp hương ngồi,
                   Thảnh thơi chờ trăng mọc.
                   Bóng mai đã di dời,
                   Mái tây vòng tre trúc !
  Lụcbát :
               Thắp hương quét đất ta ngồi,
               Thảnh thơi đợi giữa lưng trời trăng lên.
               Bóng mai đã xế kề bên,
               Vòng theo bờ trúc bên thềm mái tây !

                              Đỗ Chiêu Đức


Image result for 秋夜聽雨    
  Image result for 秋夜聽雨


5. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Thu Dạ Thính Vũ :

 秋夜聽雨         THU DẠ THÍNH VŨ

海國三秋半,  Hải quốc tam thu bán,
山城一雨初。  Sơn thành nhất vũ sơ.
寂寥群動息,  Tịch liêu quần động tức,
涓滴夜聲疏。  Quyên trích dạ thanh sơ.
隨葉空庭際,  Tùy diệp không đình tế,
敲金萬瓦餘。  Xao kim vạn ngõa dư.
還家此夕夢,  Hoàn gia thử tịch mộng,
不畏路沮洳。  Bất uý lộ tự như.
         阮文超             Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
   - Hải Quốc : Tỉnh thành ở gần biển hay Các nước ở sát bờ biển như VN ta vậy.
   - Tịch Liêu : Tịch mịch cô liêu là Buồn bã vắng vẻ.
   - Quyên Trích : Tiếng mưa dột lộp độp, tí tách.
   - Xao Kim : là Gỏ vào kim loại.
   - Ngõa : là Ngói lợp nhà.
   - Tự Như : là Bùn sình lầy lội.

* Nghĩa Bài Thơ :

                    ĐÊM THU NGHE MƯA

      Ở gần vùng biển đã hơn ba mùa thu rồi, cái thành ở trên núi cao nầy bắt đầu vào mùa mưa. Mọi hoạt động đều ngưng trệ trong vắng lặng buồn bã, tiếng mưa cứ thánh thót rơi đều suốt đêm, tiếng lá cây cứ xào xạt trong sân và hạt mưa đập lên muôn vạn tấm ngói trên mái nhà như tiếng kim loại chạm vào nhau. Đêm nay nếu như mơ được về nhà thì không phải sợ đường xa trơn trợt lầy lội nữa !

* Diễn Nôm :
                    Hơn ba thu gần biển,
                    Thành cao mưa vào mùa.
                    Buồn thiu ngày vắng lặng,
                    Rả rít đêm gió lùa.
                    Lá xạc xào sân vắng,
                    Ngói tí tách nước khua.
                    Mộng về đêm nay sẽ,
                    Chẳng sợ đường lầy mưa !
  Lục Bát :
                 Gần biển hơn ba năm nay,
                 Thành cao trên núi mưa ray rức buồn.
                 Im lìm vắng lặng mưa tuôn,
                 Tí ta tí tách mưa luồn suốt đêm.
                 Xạc xào sân vắng bên thềm,
                 Ngói khua chí chát như kim loại hòa.
                 Đêm nay nếu mộng về nhà,
                 Sẽ không phải sợ mưa sa bùn lầy !

                                 Đỗ Chiêu Đức


Image result for 飛花斷野橋。    
    Image result for 飛花斷野橋。


6. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Dã Khê Độ :

   野溪渡             DÃ KHÊ ĐỘ
細雨埋前路,    Tế vũ mai tiền lộ,
飛花斷野橋。    Phi hoa đoạn dã kiều.
小童簑笠宿,    Tiểu đồng toa lập túc,
孤艇隔鸂招。    Cô đĩnh cách khê chiêu.
         阮文超                Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
   - DÃ KHÊ Độ : là Bến đò Dã Khê.
   - Tế Vũ : Mưa bụi, mưa lất phất.
   - Mai : là Chôn, ở đây có nghĩa là Che lắp.
   - Đoạn : là Đứt, là Gãy, ở đây có nghĩa là Làm cho bít lối.
   - Toa Lạp 簑笠 : Còn đọc là Thoa Lạp, là Áo tơi nón lá.
   - Cô Đĩnh : Chiếc xuồng con nho nhỏ đơn độc.
   - Chiêu : là (đưa tay) Ngoắt, gọi.

* Nghĩa Bài Thơ :

                              BẾN ĐÒ DÃ KHÊ

          Mưa lất phất rơi làm mờ mịt cả con đường trước mắt, hoa rụng bay khắp lối che khuất cả chiếc cầu ngoài đồng nội. Một chú bé con chèo đò nho nhỏ với nón lá áo tơi đang ngủ trên chiếc xuồng con, mặc cho khách ở bên kia bờ sông đang vẩy tay réo gọi !

* Diễn Nôm :
                     Trước mặt mưa che lối,
                     Cầu khuất trong hoa rơi.
                     Tiểu đồng say giấc bướm,
                     Mặc khách gọi ới ơi !
  Lục bát :
                 Mưa rơi che khuất đường dài,
                 Hoa bay phủ kín cầu ngoài đồng không.
                 Áo tơi nón lá giấc nồng,
                 Đưa đò say ngủ... mặc lòng khách kêu !


                  ĐỖ CHIÊU ĐỨC                 
                  Tháng 5 năm 2018.