CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHẬN ĐỊNH PHÊ BÌNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHẬN ĐỊNH PHÊ BÌNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

CÁI NHÌN NHÀN NHÃ VỀ THƠ VĂN TRẦN YÊN HOÀ- CUNG TÍCH BIỀN

 

ẢNH CUNG TÍCH BIỀN


CÁI NHÌN NHÀN NHÃ VỀ THƠ VĂN TRẦN YÊN HOÀ

Tôi đọc khá nhiều, thượng vàng hạ cám. Suy ra một điều, viết văn giản dị, gọn nhẹ rất khó. Những tài năng lớn, người ta viết như đùa. Như một hơi thở. Ở họ, sự giản dị, dung dị đến dị thường. Và, sự tầm thường đến lạ thường.

<!> 

Trần Yên Hòa không tới chỗ đó. Chỗ khác, anh thật thà, nồng nàn một cuộc Rong Chơi, với đời, chỉ là thông qua chữ nghĩa.

Trần Yên Hòa đến với văn chương thi ca, như chiều lên, ta thả một con diều trong gió vàng. Con diều bay. Lây lất rung chuyển thế nào? Tùy tâm thái nơi mỗi người nhìn. Có cái nhìn nhục / tục nhãn đến cái suy tưởng của nhìn tâm nhãn, trí/ tuệ/ huệ nhãn. 

Cái tên người nó cũng vận vào mệnh đời người. Nó nói khá rõ cái thế đời của người đó. Trần Yên Hòa, 3 âm Bình, không có Trắc nào. Một dòng lãng đãng êm trôi.

Theo tôi hiểu, một cái hiểu mạo muội. Trong Hán tự, phát âm theo thuần âm Việt, có nhiều từ Yên đồng âm, khác nghĩa. Trong đó có 2 [hai] từ Yên, nên bàn qua sẽ rõ đôi điều.

Trần Yên Hòa. Yên này không phải Yên là khói [煙]. Yên ba là khói sóng. // Nhật mộ hương quan hà xứ thị / Yên ba giang thượng sử nhân sầu // Chiều hôm chẳng thấy cổng làng, trên sông khói sóng gợi lòng sầu ai. [Hoàng Hạc Lâu - thơ Thôi Hiệu, tôi tạm dịch]

Yên Hòa. Yên đây chính là An [安] ; an lành, an vui, thái an, an cư lạc nghiệp. Theo cấu trúc hội ý của Hán tự, chữ An gồm phần trên là bộ Miên [mái nhà], nửa dưới là chữ Nữ. Con gái ở trong nhà, dưới mái nhà cùng cha mẹ anh em, là an toàn, phúc hạnh.

Yên là một thông vận với An. Tục lệ xưa, có tế  lễ Kỳ yên, chính là lễ Cầu an. Phép nước có Trị yên, nghĩa là trị an.

Hán tự có nhiều thông vận tùy thời mà đọc khác nhau, nhưng cùng nghĩa. Chính/chánh; nghênh/nghinh; yên/an;  mệnh/mạng; thì/thời… Xa xưa, là chánh trị, hành chính, tài chính, hoan nghinh, bình yên, cách mệnh…nay là chính trị, hành chánh, tài chánh, hoan nghênh, bình an, cách mạng, lâm thời…

Nói dài dòng văn tự vậy, để thấy Yên Hòa đây không phải nóng bừng, bốc khói. “Nổi lửa lên em”. Sớm mai chiều tà, xuân lan thu cúc, chỉ là một Trần Yên Hòa một khuôn mặt phúc hậu, luôn tươi vui, giọng nói nhỏ nhẹ, hành tung hiền hòa ổn định, cư xử với anh em có cái chí tình, chân thiện. Ngồi nhậu với Hòa là bổ đổm an lành, chung rượu nghĩa tình, thầm lắng trong mỗi niềm riêng, vắng biệt những lời giận hờn, mắng mỏ đặt điều bôi nhọ sau lưng.

Hiền hòa, nhưng rất mực chịu chơi. Nhậu tới bến. Tận tụy với văn chương. Nhiều chục năm, thiết trang mạng riêng để giới thiệu văn chương cổ kim, đó đây, bạn bè. Trân trọng, lễ phép, nhiều giao tình với anh em.

*

Khi đọc tác phẩm Mẫu Hệ của Hòa, Nguyễn Lương Vỵ đã viết :

 "Mẫu Hệ", với nghệ thuật dẫn truyện lôi cuốn người đọc, tái hiện được hiện thực sinh động bằng bút pháp tỉnh táo nhưng nhạy cảm, nhất là những mẫu đối thoại dung dị nhưng lột tả được tính cách từng nhân vật. Cốt truyện được thu nhỏ trong gia đình của Nại Hiên và Soại, nhưng bối cảnh không gian, thời gian và những nhân vật phụ khác trong truyện, đã cho người đọc hình dung một cách khá rõ nét về những bi kịch của miền Nam trong thời điểm lịch sử đó.

"Mẫu Hệ", tuy chưa đạt tới tầm cao văn chương như nhà văn đã khiêm tốn tỏ bày trong "Lời Mở" ở đầu sách, chỉ là do ngó nhìn bốn phương tám hướng vào thời điểm lịch sử đó mà nhà văn "động lòng viết chơi", nhưng khi đọc xong truyện, gấp sách lại, người đọc vẫn còn rung động tâm can. Nỗi đau vẫn còn đó! Như vậy, nhà văn đâu phải "động lòng viết chơi", mà viết bằng tất cả tâm lực, rung cảm của mình, không phải là "hư cấu" mà trung thực bằng những điều mắt thấy tai nghe của một người vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của giai đoạn lịch sử đầy bi thương ấy. Đây cũng chính là giá trị nhân văn của "Mẫu Hệ" vậy.

[Đọc Lại Mẫu Hệ, Nỗi Đau Còn Đó]

Vào Cõi thơ của Trần Yên Hòa, Phan Tấn Hải đã nhìn với cái nhìn khá tinh tế:

“Đó là một tập thơ, khi bạn mở ra đọc vài trang, sẽ thấy như bị lôi cuốn đi mãi theo dòng ngôn ngữ. Bởi vì, thơ Trần Yên Hòa có nơi không còn là chữ, mà đã là cái gì rất gần gũi với chính bạn. Tuyển tập thơ của anh không chỉ là dấu mốc sáng tạo thi ca Trần Yên Hòa, mà cũng là một tấm gương soi mặt hồn thơ cho một một thế hệ, những người sinh ra và trưởng thành trong một cuộc nội chiến, và đã đào tỵ vào thơ như một thế giới hòa bình bay bổng riêng.

Khi mở ra các trang sách Trần Yên Hòa, tôi tự thấy chính hồn mình hiện ra lơ lửng giữa những dòng thơ của anh. Sức mạnh thi ca của Trần Yên Hòa là, qua thơ, anh hòa nhập với tình tự của hồn nước, với dòng chảy ngôn ngữ của dân tộc. Hãy hình dung thơ như một dòng sông đón nhận trăm suối trôi vào. Thơ Trần Yên Hòa là một dòng sông, nơi đó tôi đứng nhìn thấy cả chân dung dân tộc, có hình tôi, hình anh, hình ảnh cả một dòng chảy dân tộc. Của những năm khốn khó, gian nan, và thơ mộng.

[Đọc Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ của Trần Yên Hòa]

Trần Yên Hòa làm thơ viết văn khá dễ dàng như một thú vui thường nhật. Nhàn nhã bình thản. Tưởng như là không cho thơ văn của mình quảy trên lưng vác trên vai, đội đầu những sứ mệnh, những liên lụy sử lịch, những bụi hồng trần. Nhưng khi tôi tình cờ đọc bốn câu thơ dưới đây, tôi hiểu Trần Yên Hòa không xa cách với cáí tình dân tộc, nỗi cảm hoài với vận mệnh chung của lịch sử và riêng mỗi phận người. Quả là cái rùng mình lạnh toát đêm thâu.

Đêm thức trắng dòng dòng câu cổ lục

Rớt xuống hồn thành giọt lệ ứa khô

Quả đã quá sáu trăm năm Nguyễn Trãi

Trái tim người còn để lại ngàn sau

[Đêm thức trắng nhớ Côn Sơn]

*

Trần Yên Hòa là người bạn vong niên của tôi. Trong cùng một vận mệnh chung, kẻ trước người sau, cùng áo lính, hát vang lừng “Ngày bao hùng binh tiến lên”, quân trường Thủ Đức; cùng bầm dập trước con mảnh thú thời cuộc, chinh chiến, bạn thù, tư tưởng, những hy vọng khôn cùng và bao thất vọng cháy lòng. Cùng một quê hương xa hút tâm trạng Thôi Hiệu, cùng một tha hương trên đất Mỹ. Cùng một nhớ nhung cuống rốn chưa lìa nơi Đất tổ. Chính thế, chúng tôi có rất mực tương phùng trong chữ nghĩa. Có tâm giao rõ thực, tận lòng cuộc đời thường.  Cùng trong đêm đất Mỹ nhớ “Trăng Sài Gòn” / Du Tử Lê”. Cùng một nòi tình, đêm bỗng dài dặt những mộng đời. Nói theo cách khuynh loát ngôn ngữ Phạm Công Thiện, “Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất”.

Có thể, để chấm dứt bài viết, nên ghi lại một nhận xét của Du Tử Lê, một nhà thơ nhìn về nhà thơ, như một kết luận:

“Ở mặt nào của quá khứ hay hiện tại, thơ, văn Trần Yên Hòa cũng cho thấy tính nồng nàn, tha thiết, chân thực với từng cảnh đời. Có người cho rằng, Trần Yên Hòa không chủ tâm làm văn chương, hiểu theo nghĩa không hề tô vẽ thêm cho mọi trạng huống đời sống ông kinh qua - Luôn cả những phân cảnh hư cấu, cho thấy, ông giống như một người ngoài cuộc… Bởi vì căn bản, văn chương của ông, là những trang nhật ký, viết riêng cho mình, trước nhất. Luôn cả”.

(Du Tử Lê, nhật ký đời sống trong thơ, văn Trần Yên Hòa)



CUNG TÍCH BIỀN

Thị Trần Giữa Đàng

6- 2022.


Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

NHỮNG NGƯỜI NỮ TRONG THƠ TRẦN YÊN HOÀ - PHAN NI TẤN



 TRẦN YÊN HÒA hơn năm mươi lăm năm THƠ là tập thơ phản ánh tâm trạng của nhà thơ qua nhiều thể loại thơ khác nhau. 

Từ một cậu học trò xuất thân trong một gia đình văn hóa xứ Quảng, Trần Yên Hòa bắt đầu làm thơ lúc mười hai tuổi. Từ những bước đầu chập chững đến nay, sau hơn năm mươi lăm năm làm thơ, nhà thơ nhìn lại chặng đường dài đã đi: "Cha tôi cũng mê thơ. Ông có làm thơ đường, thơ thất ngôn bát cú và họa thơ (…). Hay mẹ tôi, thường hát ru tôi bằng những câu ca dao thắm đượm mùi vị quê hương, tình yêu trai gái, nên tôi thấm sâu vào lòng những âm thanh ấy, để rồi sau này tôi yêu thơ và làm thơ…"

   

Phần tự sự trên đăng trong tập thơ TRẦN YÊN HÒA hơn năm mươi lăm năm THƠ là một phần đời của Trần Yên Hòa được tác giả kể lại bằng thi ca. Sáng tạo nghệ thuật trong suốt tập thơ dầy 338 trang gồm 123 bài, Trần Yên Hòa đã hình dung được hình tượng, phác họa ra chữ nghĩa vọng âm như một tiếng thở dài. Bài thơ Khúc Tôi mở đầu trang thơ cho tới bài Tạ ở cuối tập, đã là một tiếng thở dài. Nỗi hoài vọng trong suốt Khúc Tôi là hình ảnh quá khứ những người thân từ hồi nào đã không ở cùng tác giả mà… ở đâu đó. Ngữ pháp u trầm nhưng rất sắc qua quan hệ tình cảm ruột rà của tác giả là một thí dụ: 

 

… Mẹ yêu dấu cũng trở về với đất

đất thì im lặng tiếng, mịt tăm 

nên lời mẹ đã ngút ngàn phơ phất 

bỏ mình tôi cùng đá cuội, lăn tăn

 

Cha thương nhớ cách xa như cổ tích

 

mệt nhoài tôi đứng lặng, thư phòng

nhìn quanh quất đâu dấu hài, tịch mịch? 

dấu hài em lặn mất giữa dòng

 

Còn lại chị, còn lại anh, đâu đó 

không thấy ai, hú gọi tôi về

còn lại con… con còn đang cất vó… 

hồng ân chưa cập bãi sông mê…

 

Nhưng thiết nghĩ hình ảnh cố nhân, là đối tượng Em của tác giả mới là tâm ý của bài thơ, có điều cuối cùng cũng xa lắc từ bao giờ:

  

Tôi còn lại em, mà em xa lắc 

nên còn lại tôi, chỉ một tôi thôi 

vì em, biển, còn tôi, là cát biển

lũ dã tràng kia, xe, cũng, lở, bồi

Khúc Tôi, tr. 16

 

Đọc trang tự sự của Trần Yên Hòa cho thấy người thơ cô đơn cả ngoài đời lẫn trong thơ, vì chiến tranh, Trần Yên Hòa đã nhận rõ vị trí lính chiến của mình, xông pha ngoài mặt trận. Do đó, bài thơ viết trên ba-lô, trên mặt đá hay bên bờ sông, dốc núi, bìa rừng khẽ bật lên một lời xin nhỏ, dù chỉ một lần thôi: 

 

Cho tôi được ngủ nhà đêm nay 

cho tôi ngủ nhà đêm nay rồi mai đưa tôi đi đâu cũng được

bao nhiêu tháng bao nhiêu năm

 

tôi sẽ xa thành phố xa mái tóc em xa những đứa con yêu dấu

hãy cho tôi ngủ nhà đêm nay

không còn gì để van xin

sao đẩy tôi đi quá xa như vậy quá xa như vậy

hở chiến tranh loài người…

Lời Xin, tr. 20

 

Ngoài tình thương gia đình, có thể nói tình yêu đôi lứa trong thơ Trần Yên Hòa là một loạt tình yêu không có màu xanh của bầu trời và biển cả. Đồng ý sức mạnh tinh thần của người thơ tạo ra thơ, nhưng hình ảnh những người tình trong thơ đều như gió bay đi xa lăng lắc, không để lại một vạt áo nào để người thơ rưng rưng đề thơ. Cho nên Em có bàng bạc bay đi, bay về, qua lại từng trang thơ trữ tình, rốt cuộc vẫn là Em… lê thê bào ảnh: 

 

Em đến thăm anh trong chốc lát

trời bên ngoài đổ cơn mưa

mưa rất dầy, mù mịt

làm sao anh giữ được em

 

Chốc lát em trở thành thánh nữ 

ở đâu cũng thấy em ngời sáng 

cả vườn đời anh nở rộ 

những đóa hoa hồng thắm

Rồi em ra về như gió bay

Bỗng dưng em xa lắc 

Bỗng dưng em mịt mù như cơn mưa… (Em Xa Lắc, tr.31)

 

Ngay cuộc tình thứ nhất vì cơn mưa đã làm cho ủ dột: 

 

Có lẽ rất xưa - ngày em vào xuân 

đôi má em hồng như trái bồ quân 

đôi mắt em đen như nhung, ướt rượt 

đốt cháy hồn anh cùng nắng sân trường

 

Rồi thế rồi thôi lạc mất nhau

lạc nhau đành đoạn suốt nửa đời

lạc nhau trong giấc chiêm bao cũ

biển loạn đời ta, thân nổi trôi…

Bài Trăm Năm, tr.39

 

Mưa miền Trung thường dầm dề. Mưa của nhà thơ Trần Yên Hòa cũng không khác. Từ cuộc tình thứ nhất mưa đành đoạn, mưa dầm dề, lê thê cho tới cuộc tình cuối vẫn mưa không ngớt hột:

 

Em về đâu từ bao lâu nay

Anh xa em như chim xa bầy

Mưa bay ướt áo em đang mặc

Đành đoạn rời đi như đám mây

         Mưa Em, tr. 326 

Rón rén lần theo những cuộc tình thơ đẹp mà buồn được miêu tả qua từng trang Rượu Tình Say, Gởi Khổ Lụy Một Đời, Tạ Tình, Xa Người, Phượng Hề, Cô Gái Tam Kỳ Đất Khổ, Nhớ Em Khi Qua Cầu Cỏ May, Tôi Và Em, Tình Quay Lưng, Tình Em Xa Ngái, Bài Tình Cho Diên Khánh, Thà Người Phụ Ta v.v…, người ta cảm thương cho người thơ tội nghiệp ra sức bơi trên sóng tình yêu hầu mong tìm nguồn hạnh phúc khổ đau. Từ bơi ngửa với cuộc tình dịu ngọt vội xấp mặt trên dòng nước lạnh tê. Từ vòng ôm rưng rưng xiết chặt chợt hụt hẫng giữa khung trời hiu hắt. 

Trần Yên Hòa với hơn năm mươi lăm năm ăn nằm cùng thơ đã trở thành một mối lợi cho sự hình thành tập thơ gối đầu. Thế nhưng trong khi mượn thơ để thổ lộ tâm tình, lịch sử tình yêu lại làm chứng cho cơn thất tình rực rỡ của người thơ. Nhưng không phải lần duy nhất người tình bỏ đi mà về sau… trở thành Em xa lắc như tranh cổ tích, em thiên thu đâu tận cõi ngoài, như Trần Yên Hòa thở than vản. Rồi em trích tiên, em điệu, em phù thủy cũng là một cái "khổ ách" xô người thơ ra khỏi "mái hiên đời":

 

Em, tình ta, mái hiên đời nắng dịu

sao bỏ đi xa ngút tận trời nào 

Khan Cổ Gọi Tình, Về (1), tr. 68

 

Em ơi, đã quá xa tay với 

mù mịt người từ độ chiến chinh 

mù mịt nhau nên đành lạc mất

Khan Cổ Gọi Tình, Về (2), tr. 70

 

Từ em, bỏ cội bỏ nguồn 

bỏ con sông nước đứng buồn nhìn theo

nhánh sông chảy miết qua đèo

anh heo hút đợi, chèo queo một mình

Khan Cổ Gọi Tình, Về (3), tr. 75

 

Bị tước mất tình yêu, không thể níu lại chút mảnh vụn của thế thái nhân tình, người thơ cay đắng mà thiệt thà biến những Em xinh tươi, lộng lẫy, thành giấy bút trắng tinh khôi, một trang vở mới (Thuở Em Là Nữ Sinh), Thiên nga bé nhỏ (Bài Tình Năm 2000), Mùa vàng rưng hoa cúc (Lãng Mạn Thu), Con chim nhỏ (Thảng thốt tôi)… Thậm chí, biến Sài Gòn thành em; cả con mắt cũng hóa trăng rằm "Mắt em một thuở trời trăng rằm" (Chung Một Nhánh Sông). Lãng mạn thật nhưng cũng thật cảm động với lời Tự Tình Cùng Đất Nước: "Vì Em cùng nghĩa với Mẹ. Cùng nghĩa với Quê Hương, Đất Nước" (tr.63).

 

Mà cũng lạ. Giữa nỗi buồn chênh vênh tưởng người thơ không toét nổi miệng cười, người đọc bất ngờ nhận ra câu ví von khá ngộ nghĩnh về mưa. Nhà thơ xứ Quảng ra Huế đụng phải cây mưa mà ngẫu hứng nảy sinh một ý tưởng đầy thi vị, cái thi vị không giống với bất cứ nhà thơ nào. Nhờ sự thành tâm của tác giả khiến đặc tính của câu thơ trong bài Huế Mưa được miêu tả theo kiểu "kích thích tính dục" bỗng trở nên hào hứng, vuốt ve tình tứ mà trong trẻo khác thường: 

tôi nghĩ mùa mưa ở Huế nồng nàn như đêm hợp cẩn 

bởi vì cái lạnh tê da ngoài Huế cho ta cảm giác ái ân.

Huế Mưa, tr. 23

Cái cảm giác ái ân của người thơ Quảng Nam đâu có khác chi cái ái ân tái tê cuồng dại:

 

Xin ca tụng em bài thơ mới viết

Giữa ta và say, như một tình cờ

Ta chếnh choáng em, mùi hương mới

Là chanh và sả buổi mai tươi

Em đã xông em. Trong ngày thứ bảy

 

Nên em thơm lừng, hương gió bay

Nên em thơm lừng, mùi da thịt

Anh cúi xuống vùng em, mùi thơm ngát

Vùng em thơm rất đượm. Tình Ơi.

Ru Tình Tôi, tr.188 

 

Đặc tính trong thi pháp Trần Yên Hòa là ngữ vựng. Bài thơ dài hơi "Nhặt Khoan Cho Ngày Sinh Nhật" gồm 64 câu, đã có 5 lần kêu Huớ, nghe ra thật ồn ào: 

 

Huớ em tôi, những ngày tình với Nẫu

Huớ em tôi, hãy bỏ xa tiền kiếp 

Huớ em tôi, mùa xuân xanh lại đến

Huớ em tôi, ngày mai anh sinh ra

Huớ em tôi, không quay lui lại nữa

 

Tiếng Huớ diễn tả niềm vui trong ngày sinh nhật của tác giả, với tôi là lạ tai. Dù vậy, tiếng Huớ dễ thương của "dân nẫu" có phải là tiếng Bớ của người miền Nam: Bớ người ta! Bớ làng nước ơi! Bớ em!?

 

Bài "Bắt Đầu" có hai câu: Mới rợi này em, ngày mới rợi. Bỏ đàng sau, năm tháng, cô đơn. "Mới rợi"nghĩa là gì? Có phải là "Mới tới"? 

Bài  "Bờ Em": Khi tình cuốn ta trôi chấp chới. Giữa cuồng lưu biết bíu vào dâu. "Bíu" có phải lài Níu?Chao ôi! Ngôn ngữ của Nẫu quả là… nẫu nẹt, là lạ tai tôi.

Trần Yên Hòa sống trọn đời, tận tụy cho nghiệp thơ. Làm thơ vì đời, vì người (nghệ thuật vị nhân sinh). Hơn năm mươi lăm năm hướng về 

thế giới thơ, nghệ thuật Trần Yên Hòa nặng nợ với những đối tượng rực rỡ, thủy chung với những hình thể chói lòa để rồi chất chứa nỗi u 

sầu rã mục, dẫn lối vào không gian đơn chiếc độc thoại với âm u. Nghĩ lại mà tội người thơ đã lầm yêu phải thứ tình yêu chớp mắt, thứ tình yêu con bướm (đậu rồi bay đi), nó ray rứt não nề, nó ruồng rẫy biệt ly ngay từ cuộc tình đầu tay. Ta đọc lại đoạn cuối "Bài Trăm Năm" (tr.37):

 

Nửa đời ta như mưa phơ phất 

Bỗng nhặt được lòng nhân ái từ tâm 

của em, đánh rơi vào tình thứ nhất 

để ta ôm hoài đi giữa nhân gian

 

Nhân gian ở đây rõ ràng không bình thường như người bình thường sống giữa đời thường mà nhân gian của người thơ là lai láng "sông mê" không bờ bến. Con sông mê muội chảy ngược xuôi giữa hồn đời sắc sắc, không không rồi thấm vào Bát Nhã. Người thơ thất tình lục dục lúc bấy giờ hốt nhiên đốn ngộ, dứt bỏ hết khổ ách (năng trừ nhất thiết khổ), biến thành "sa di" gánh cái chân tình tự ngã lững thững đi vào trang Tự kinh: 

 

Thầm thì, thầm thì, rậm rịt 

Tiếng cầu kinh trong đêm thâu 

Ba la mật đa yết đế

Hãy quên cuộc sống nát nhầu

 

Đã qua bên bờ bỉ ngạn

Lời kinh chảy suốt qua tâm

 

Gió ngoài hiên tuôn thốc tháo

Dội qua tiếng kệ âm thầm

 

Ba la mật đa thời

Quên giọt máu bầm năm tháng

Quên hết những trò gian lận

Trở về gốc cội nghỉ ngơi

 

Thầm thì, thầm thì, tiếng mõ

Ngũ uẩn phút giây cuồng nộ

Hãy quên, hãy quên, hãy quên

Nằm kề trang kinh bát nhã.

 

Mang âm hưởng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của Phật Giáo Đại Thừa trải qua từ bảy thế kỷ đến nay, bài "Tự Kinh" (tr. 229) của Trần Yên Hòa với thi phong an nhiên tự tại thấm thía một đạo lý thâm hậu.

 


PHAN NI TẤN


Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

ĐỌC TẬP THƠ 'NÍN THỞ'' CỦA NGUYỄN HỮU THUỴ - PHAN NI TẤN

 

Có thể là hình minh họa về ‎văn bản cho biết '‎כולן こちい nthở thở nin ty TiL 2 Hữu m Nguyễn NHÀXUÁTBAĐÀNĂNG NHÀ XUATE BÀ ĐÀ ÀNANG‎'‎

Nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy ở bên nhà có nhờ cô Biên Huỳnh Phạm gởi cho tôi một tập thơ tựa đề Nín Thở, tôi đọc:

NÍN THỞ

Nín Thở, tựa đề tập thơ của Nguyễn Hữu Thụy gồm 56 bài, 142 trang. Lẽ ra còn nhiều bài hơn, như nhà thơ cho biết số phận tập thơ Nín Thở đã trải qua rất nhiều nhà xuất bản vẫn không cấp cho giấy phép – cuối cùng phải bỏ đi một số bài mới qua truông kiểm duyệt. Nguyễn Hữu Thụy tâm sự: "Ở đây những người làm thơ ngoài luồng, đứng độc lập như tôi rất hiếm hoi và cô đơn lắm". Mà thật, thơ Nín Thở mới vào đề đã mang lời lẽ ngông nghênh, trái nết, tuy "không giống ai" nhưng được cái là khí phách, nhất là giữ được chất thơ hào sảng, ngang tàng mà "đám ruồi bu" khó chấp nhận:
Không giống ai - ta chỉ giống chính mình
Thằng trái tính khó ưa mà rất thiệt
Trái thời cuộc lâu ngày thành trái nết
Ít người thương mà đứa ghét lại nhiều
Sách đắc nhân tâm chỉ dạy đủ điều
Ai làm được đã danh nhân hiền triết
Lại nghe nói "Cái tôi là đáng ghét"
Nghiệm lại chính mình bù trất cả hai
Thấy đám ruồi bu mà ngứa lỗ tai
Nghe thở hơi đồng xốn con mắt đỏ
Trong suy nghĩ thắp treo mình đèn bão
Tim – bấc sắp tàn vừa đủ tự soi
Cứ sống chính danh đủ biết lỗi thời
Như phần mềm nằm sâu trong bộ não
Khi được lập trình dưới tay tạo hóa
Ngay từ đầu lộn cái bị điên điên
Cõi tạm dung đời có một cõi riêng
Ai thương ghét khác nhau thì đã rõ
Xin cúi xuống cảm ơn lời hỉ… nộ
Trong xa vời để ngó mảnh vườn rêu.
(Không Giống Ai, tr. 5, 6)
Thuở ấy, cái thời trai trẻ vốn hoang phí ấy, nhà thơ Nín Thở ngất ngưởng phán đời đã buồn lại trôi như nước thì giữ làm gì, chỉ có rượu trên tay uống quên đời mới khai thông trí hóa, giải phá cơn sầu, lùa sầu vào trong máu:
Ta đã phí một khoảng đời trai trẻ
Rượu thâu đêm suốt sáng với trăng tà
Đời đã buồn héo úa cả thịt da
Thì lắm lúc tiếc gì cho cuộc sống
Ngày đã qua như một trang lịch mỏng
Thì tiếc gì khi ngọn lửa đang lên
Đời đã trôi như dòng nước không tên
Thì giữ lại làm chi thêm phiền muộn
Đời chỉ có một đôi lần sung sướng
Trăm ngàn lần quờ quạng trước đau thương
Nên uống đi cho lấp hết nỗi buồn…
(Rượu Trên Tay, tr.7, 😎
Có ai từng thấy… "màu thơ" chưa? Mà màu thơ là màu gì? Trời xanh, mây trắng, bông lê, bông lựu, bốn mùa xuân hạ thu đông… là những cảnh vật ở thể nổi mới có màu sắc tự nhiên. Vẽ ra một hình thể hay khắc nên một hình tượng, ngay cả viết thành chữ cái, nét chữ đậm nếu có màu vàng hay thau thì còn nhận thấy, đằng này thơ vốn trừu tượng thì thơ làm sao có màu, cho dù "những câu thơ có tiềm tàng nội lực" thì thơ cũng khó mà có… màu thơ.
Nói là nói vậy chớ màu thơ của Nguyễn Hữu Thụy có khác gì màu thơ rực rỡ của Xuân Diệu đâu: "Thu biếc tỏ, hè nâu thơm vị quế. Xuân ngát hồng, đông xám cũng đầy mơ". Cũng ở ngoài Bắc, màu thơ của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ cũng thật đặc sắc: "Cây bàng lên búp nhỏ. Xanh như là thương nhau". Cho nên "màu thơ" của Nguyễn Hữu Thụy là ngôn ngữ thơ gợi lên cái đẹp, lạ và hay, được tô điểm bằng một tấm lòng dạt dào rung cảm tứ thơ:
Vàng sẽ là vàng
Thau sẽ là thau
Quyền tối thượng chỉ dành cho độc giả
Và thời gian sẽ dũa mài tất cả
Những râu ria sơn phết màu thơ…
(Thơ Mai Sau, tr. 13)
Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn là bản tình ca bất hủ, nội dung gởi gắm một nỗi buồn ray rức khôn nguôi. Ca khúc này ra đời từ năm 1960 đến nay vẫn thong dong hát mãi trên đầu môi chót lưỡi con người, cho nên người trần gian dựa vào đó mà khéo ví von cái gì xưa đều thành… xưa rồi Diễm. Trong Nín Thở, bài thơ "Xưa Rồi Diễm" của Nguyễn Hữu Thụy cũng bày tỏ một loại ngôn ngữ mất mát, trăn trở, hư hao là trạng thái của một người thất tình. Toàn bài gồm 32 câu chung qui nếu chỉ dẫn chứng bốn câu cũng đủ gợi lên một nỗi bẽ bàng:
Yêu nhau chịu phận cùng oan nghiệt
Rồi ra không đủ sức gánh gồng
Lẳng lặng chia xa là chấm hết
Mỗi phận đời riêng mỗi nhánh sông … (tr.11)
Xưa nay thi sĩ vốn là nòi tình, là loài trời sinh để yêu cho dù có bị hất hủi thậm chí còn bị đánh đập, bị đạp xuống bùn nhơ, bị knock out đến bất tỉnh vẫn không chừa, khi tỉnh lại vẫn một mực… làm thơ:
Tạ lỗi hồng nhan – khi nào ta còn thấy
Mắt biếc đưa tình là tim đập xôn xao
Đã bao lần lãnh đủ cú knock out
Vẫn thích thú làm thơ khi tỉnh lại.
Nguyễn Hữu Thụy vốn sở trường về thơ bảy chữ, tám chữ và tự do, thỉnh thoảng mới chuyển qua thể thơ lục bát. Như ta đều biết lục bát là thể thơ truyền thống mười bốn chữ của dân tộc Việt Nam, xuất hiện từ cuối thế kỷ XV. Thuở cha ông ta, những người làm thơ vô danh nơi thôn dã dùng lục bát để thể hiện tâm ý mình: ngắn gọn không khuôn sáo, sinh động ở nét uyển chuyển, mềm ngại, ngân nga và tràn đấy thi tính.
Thơ lục bát của Nguyễn Hữu Thụy cũng có sự luyến láy, mềm mại, diễn tả tình cảm ngọt ngào, trầm lắng, thiết tha. Trong Nín Thở, nhan đề Hạt Muối mô tả mối tình keo sơn trong sáng gợi cho người đọc nhớ tới câu ca dao về muối và gừng gắn liền với sự thủy chung, son sắt, nghĩa tình sâu nặng "Muối ba năm muối đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa". Ta đọc ở đây vài câu lục bát mặn mòi, lấp lánh của Hạt Muối, là một thể thơ trữ tình thuần túy mang đậm nét thủy chung như nhất:
Muối thường nhắc nhở cho đời
Gừng cay muối mặn ướp lời yêu thương
So cùng nước biếc đại dương
Muối đây một nắng hai sương ướp tình
Giữ lòng hạt muối kết tinh
Mặn trên đầu lưỡi dặn mình chớ quên (tr.20).
Thơ mà ca ngợi quê hương đất nước, ngợi ca tình tự dân tộc bao giờ cũng đánh động lương tâm những ai vốn yêu nước thương nòi. Lịch sử Việt Nam, sau đại họa tháng 4/75, những bậc tri thức ưu thời mẫn thế, những văn nhân thi sĩ chân chính có ý thức đấu tranh đã mang vào thơ văn những ngôn từ, hình ảnh khá mới mẻ, dù băn khoăn trước thời thế vẫn không để mất giá trị nghệ thuật, điển hình là tác giả tập thơ Nín Thở. Nguyễn Hữu Thụy là một nhà thơ có tài trong cách sử dụng hình ảnh và nhạc điệu để gởi gắm đất nước khổ nạn vào dòng chảy của con sông quê, dòng sông mà tác giả ví như dòng máu tổ tiên:
Đất nước bao đời ở với dòng sông
Từ ngày khai thiên đến ngày lập quốc
Những dòng chảy mang đầy tiềm lực
Có linh hồn và hơi thở linh thiêng
Những dòng sông đã nối tiếp nhau
Căng no gió thuyền buồm xuôi ra biển
Đã bồi lỡ nổi chìm bao trận chiến
Giữ cho còn tên gọi một quê hương
Lời tỏ cùng sông thương nhớ dặm dài
Nứt nẻ những bàn chân cầu Trời khấn Phật
Thân cóng lạnh trôi dài trên mặt đất
Đến tận cùng khổ nạn vận sông quê.
(Tỏ Lời Cùng Những Dòng Sông. tr.27, 28)
Ta yêu nước dặm dài bao thế kỷ
Chở ca dao nhịp võng Mẹ ru hời
Nghe tiếng thoi đưa bóng hạc bỏ xa trời
Thơ yêu nước nồng nàn nuôi ta lớn
(Thơ – Với Thơ Đầu Năm. tr.33)
So với ba miền, thiết tưởng đất phương Nam tương đối là đất lành, dân tình rộng lượng thương người lỡ bước vốn là "tình Phương Nam như Mẹ kế đỡ đàn". Học sử ta đều biết Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là người mở đầu cho sự nghiệp mở đất phương Nam đời đời ai cũng một lòng tưởng nhớ công ơn đúng như lời thơ tha thiết của Nguyễn Hữu Thụy "ghi nợ đất phương này":
Ơn chúa Nguyễn Hoàng khi xưa mở đất
Đời chúng ta còn hưởng xái chút tình
Cuối đường cong chữ S đã tượng hình
Có khoảng trời xanh ngoi lên để thở…
(Phương Nam. tr.37)
Nghiên cứu về nguồn gốc và quê quán dòng tộc Nguyễn Hữu thì tộc này đã trải qua nhiều đời từ Ninh Bình đến Gia Miêu, Thượng Trung, Thanh Hóa… Riêng ở Nghệ An, vào thế kỷ XVI, tộc Nguyễn Hữu có bề dầy lịch sừ hơn 300 năm gồm 17 đời 6 chi hậu duệ sâu sắc nhất với truyền thống khoa bảng, nhân từ, trung hậu, môt tấm gương sáng ngời có công trong việc mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước.
Đó là lược sử nước Nam được ghi chép từ đời xa xưa. Đi tìm cái đẹp của nếp thời gian thăm thẳm đó, Nguyễn Hữu Thụy đã cung cấp cho ta một hình ảnh đặc biệt từ một bản chất sâu xa, đó là "Cây phổ hệ" là loại cây chỉ việc ghi chép lại lịch sử, nguồn gốc của một dòng họ hoặc gia đình có công trạng từ xưa đến nay. Tác giả cũng cho biết cây phổ hệ đời thứ mười hai của tộc Nguyễn Hữu tại vị Phúc Khương bị vỡ tổ vì thiên tai chiến tranh đành phải hướng tới một cuộc sống lưu dân trôi giạt vào Nam.
Dưới ngòi viết gốc Quảng Nam của Nguyễn Hữu Thụy, bài thơ tự sự "Nguyễn Hữu Phía Nam" gồm mười sáu đọan, mỗi đoạn bốn câu mô tả hoàn cảnh và tình cảm của tộc Nguyễn Hữu với biết bao cái ngổn ngang, ngóc ngách của cuộc đời vốn rối rắm khởi từ cái rất xưa đến cái hiện nay. Vẻ đẹp của những câu thơ có chứa chan chân tình mà cũng trớ trêu, ngang trái nhưng đọc lên không có gì là ồn ào, cường điệu, phá phách mà cái khí cốt của hồn thơ "phía Nam đi tới" lại đậm đà, chân chất và thi vị nhằm bày tỏ một thái độ đối với nhân sinh nhọc nhằn cho dù bộ tộc rất nhỏ bé nhưng "Chắc cũng tròn đều bọc trứng Âu Cơ". Xin trích đoạn bài thơ trên để kết thúc bài viết về tập Nín Thở này.
Thiên hạ tộc to họ lớn
Gặp được thời xưng bá xưng vương
Nguyễn Hữu đời ta tại vị Phúc Khương
Phúc chẳng thấy – Khương đâu chẳng thấy!
Từ Nghệ An khó nghèo biết mấy
Vào Quảng Nam theo Chúa Nguyễn Hoàng
Ba trăm năm dựng nghiệp nông tang
Cây phổ hệ sum suê cành gốc ngọn
Nguyễn Hữu phía Nam – phía Nam đi tới
Cây liếp cây xanh thay lá đổi màu
Nguyễn Hữu đời ta tại vi Phúc Khương
Phúc khởi sáng Khương nay khởi sáng
Trà rượu trống chiêng – tinh thần hào sảng
Ta đọc bài hành cúng buổi tế xuân thơm.


PHAN NI TẤN

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

HỒN VIỆT TRONG ''CỔ PHÁP CỐ SỰ '' CỦA NGUYỄN KHÔI - PHẠM NGỌC HIỀN

 


Hồn Việt trong "CỔ PHÁP CỐ SỰ" của NGUYỄN KHÔI
16:53 | 06/02/2009
PHẠM NGỌC HIỀN
Chưa lúc nào trong lịch sử Việt , các nhà văn hoá ta lại sốt sắng ra sức kêu gọi bảo tồn nền văn hoá dân tộc như lúc này. Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế công nghiệp cộng với xa lộ thông tin đã mang theo những ngọn gió xa lạ thổi đến từng luỹ tre, mái rạ làm cho "Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều". Mà "Trách nhiệm của mỗi dân tộc là phải thể hiện rõ bản sắc của mình trước thế giới" (R. Tagor).

Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu có tâm huyết đang từng ngày, từng giờ miệt mài sưu tầm, khảo cứu những giá trị văn hoá cổ truyền của cả dân tộc hay từng vùng, miền. Thậm chí, có người chỉ chú trọng đến phong tục, tập quán của một làng mà in thành một tập khảo cứu có giá trị hẳn hoi. Như làng Đình Bảng trong "Cổ pháp cố sự" của Nguyễn Khôi.

Có lẽ Đình Bảng là cái tên làng nổi danh bậc nhất trong các làng xã ở Việt . Nó đã được ghi vào chính sử Việt từ hơn 1000 năm trước. "Tiểu Thăng Long thành" này nằm trên mảnh đất Kinh Bắc vốn đã "tích tụ bao đời những tinh anh nhiều mặt của dân tộc". Vùng đất Bắc Ninh còn lưu giữ khá nhiều những dấu tích văn hoá cổ truyền, trong đó có thể coi Đình Bảng là một làng quê điển hình của Việt . Nhưng Nguyễn Khôi không chỉ vì chú ý đến cái tính điển hình đó mà ông viết về vùng quê này xuất phát từ sự thôi thúc của một con tim nặng nợ với quê hương. Sau mấy mươi năm đi đây đi đó khắp nơi, lên Tây Bắc, rồi từng bước chân đến trên 20 nước khác nhau, cuối cùng, chàng trai Đình Bảng này dừng chân ở góc Thành Nam (Thăng Long) để chiêm nghiệm về nét đẹp của "ao ta". Nguyễn khôi đóng vai trò như một người con của làng nay đã lớn tuổi, kể lại chuyện xưa cho lớp trẻ của làng và những ai muốn làm bạn với làng. Bởi vậy, ta thấy ông lặp lại rất nhiều những từ: làng Đình Bảng ta, dân làng mình, làng nhà, làng tôi... rồi rộng hơn là: thành Thăng Long ta, người Việt ta... Để tăng tính chân thật và thân mật, ta cũng thường nghe tác giả nói: thầy tôi kể rằng, mẹ tôi bảo, dân làng kể rằng, các cụ xưa đã răn dạy... Và Nguyễn Khôi đã dẫn dắt bạn đọc làm một chuyến du lịch kỳ thú đi lui về hơn 1000 năm trước. Từ cái thời Cao Biền biến hạt đậu thành binh mã đến sự kiện Lý Công Uẩn sinh ra và sự tồn tại 216 năm của nhà Lý. Cuối cùng là cái thời mà "Chủ tịch xã Đình Bảng hôm nay chỉ đạo công việc bằng máy tính điện tử nối mạng tới 15 thôn và các công ty, xí nghiệp, hợp tác xã, trường học... ở Khu công nghiêp Đình Bảng, Khu văn hoá du lịch đền Đô...".

Xét về không gian, làng Đình Bảng chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ Việt . Nhưng từ đó, tác giả triển khai cho ta thấy toàn bộ diện mạo nền văn hoá dân tộc. Có thể nói:  "Cổ Pháp cố sự" là bộ bách khoa toàn thư về vùng quê Việt . Ngoài những trang khảo cứu tỉ mỉ về địa lý, lịch sử của vùng đất vốn được coi là "huyệt đất quý, phát tích đế vương" này, tác giả đã dành 45 chương mục để nói về văn hoá truyền thống. Trong đó, có những cái được coi là "quốc tuý" như đình Đình Bảng, dân ca quan họ, các trò chơi dân gian, lễ nghi đình đám, trang phục ("Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng" - HC). Tác giả miêu tả tỉ mỉ những món ăn "thể hiện một trình độ đời sống cao, một nền "văn hoá ẩm thực" "tầm cỡ quốc tế" như món giò chả... đến những món đậm mùi dân dã như "cỗ thịt chuột"...”. Bên cạnh tự hào về những mặt mạnh của người Đình Bảng như học tài, buôn giỏi... tác giả cũng mạnh dạn nói đến những mặt chưa tốt của một số nông dân như cờ bạc, trộm cắp, tính cục bộ địa phương... Tất cả những yếu tố văn hoá kể trên đều được thể hiện thông qua những câu chuyện nhỏ có liên quan tới gia đình tác giả. Mà gia đình là một xã hội thu nhỏ. Trong đó, "mỗi số phận con người đều chứa đựng một phần lịch sử", câu nói ấy của Evtusenko hẳn rất có lý.

Thực ra, nếu tác giả chỉ dừng lại ở việc mô tả các hiện tượng bề ngoài thì có thể tác phẩm này cũng na ná như nhiều tập sách khác viết về Bắc Ninh. Điều đáng ghi nhận là ở chỗ lý giải của tác giả, ông đã phát hiện ra nhiều quy luật và bản chất đời sống mà ít người nhận thấy. Chẳng hạn, từ câu chuyện Nguyên phi Ỷ Lan, ông có cái nhìn so sánh với nhiều nước khác: "Từ cô Tấm trở thành phi tần... ở Việt Nam ta xưa nay không hiếm, khác với nhiều nước trên thế giới (giới quý tộc thường không lấy thứ dân), tính dân tộc, tính bình dân ở người Việt Nam quả là một đặc thù". Người ta thường nghe trai Đình Bảng rất tự hào về mình (điều này cũng được phản ảnh trong tập thơ "Trai Đình Bảng" của Nguyễn Khôi). Tác giả lý giải như sau: bởi Trai Đình Bảng được làng cấp cho nhiều ruộng, "Do vậy, con trai Đình Bảng có giá trị là thế !".Nhưng kèm theo đó là một nghịch lý: Những đấng mày râu ấy lại ít thạo việc cày bừa mà chỉ "ở nhà ngồi trông coi nhà cửa và dạy dỗ con cái" cho vợ đi buôn. Đình Bảng "là làng buôn mà lạ thay làng lại không có chợ...". Đó cũng là nét riêng độc đáo của làng quê này.

"Cổ Pháp cố sự" còn hấp dẫn bạn đọc ở lối kể chuyện bằng một thứ văn phong thập cẩm do kỹ sư kiêm nhà thơ Nguyễn Khôi gia công chế biến để món ăn tinh thần khỏi bị đơn điệu. Có khi ta gặp một loại văn phong khoa học hiện đại miêu tả tỉ mỉ chính xác đến từng con số. Có khi là giọng văn đĩnh đạc, cổ kính, chứng tỏ tác giả là người rất am tường chữ Hán. Bên cạnh loại ngôn ngữ gọt dũa, trang trọng là thứ ngôn ngữ đời thường, dân dã ngay trong giọng kể tác giả: ấy thôi, thôi thì, nữa kia, vậy chăng, biết chừng nào, là vậy, là thế, chao ôi, lạ thay... Để thấy được bản sắc ngôn ngữ của Đình Bảng, tác giả làm một bản liệt kê những "lời ăn tiếng nói" của vùng này so với cả nước. "Chao ôi, còn đình đền, còn tiếng nói, còn phong tục có bản sắc riêng... âu cũng là một động lực cho người Đình Bảng ta luôn vượt ngang tầm thời đại là thế". Người đọc cũng khó quên những trang văn thấm đẫm chất thơ: "Nơi ấy có những con cò lặn lội, những cánh cò bồng bế nhau đi; những đàn chim ngói chở heo may về, những đám lục bình trôi nổi với những chùm hoa tím ngát. Sông là lòng quê, tình quê chở đầy ắp hồn làng... "Có lẽ hiếm thấy có tập khảo cứu nào mà đưa thơ vào nhiều như tập này. Trong  sốá đó, ta bắt gặp nhiều bài thơ của Nguyễn Khôi viết về làng mình, như bài "Ao làng" đã được nhiều người biết đến: "Vượt biển, chơi hồ, trở quá giang/ Bỗng dưng lại thấy nhớ ao làng/ Cái đêm hè ấy ai ra tắm/ Để cả bầu trời phải tắt trăng". Đọc văn Nguyễn Khôi, ta có cảm tưởng như nhà thơ đang trên đường đi tìm đến dãy Thi Sơn nhưng nửa chừng thì mỏi chân nên ghé lại Rừng Văn và kết duyên cùng Khảo Cứu, nhưng trong lòng vẫn chưa dứt tơ tưởng Nàng Thơ.

Hẳn sẽ có nhiều người tự hỏi: nên xếp "Cổ Pháp cố sự" vào thể loại nào? Biên khảo, truyện phong tục, hồi ký hay tuỳ bút?... Xin hãy nghe theo lời của nhà mỹ học Đức Letxing: Việc phân loại tác phẩm chỉ có trong các sách giáo khoa. Còn trong thực tế, có nhiều nhà thơ kết hợp nhiều thể loại khác nhau để nhằm mục đích cao hơn, "Chúng ta chỉ nên hỏi liệu cái mục đích cao hơn đó có đạt được hay không mà thôi". Mục đích cao nhất của Nguyễn Khôi là góp phần bảo lưu nền văn hoá dân tộc. Mục tiêu đó cũng đã được thể hiện qua nhiều tác phẩm của ông như: "Bắc Ninh thi thoại", "Xứ Thái mù sương", "Tiễn dặn người yêu" (biên dịch) v.v... (trong số đó có những tác phẩm đaî được giới thiệu ở nước ngoài qua mạng Internet). Nguyễn Khôi viết "Cổ Pháp cố sự" không chỉ nói riêng cho một làng Đình Bảng, không chỉ dành cho "người đương thời" mà xa hơn nữa còn dành cho các thế hệ mai sau ở khắp mọi nơi



P.N.H

(nguồn: TCSH số 192 - 02 - 2005)