CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn CAO BÁ QUÁT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CAO BÁ QUÁT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2024

GÓC VIỆT THI : THƠ XUÂN CAO BÁ QUÁT (5)

 



Góc Việt Thi : 

                      Thơ Xuân  Cao Bá Quát (5)          
                           
     
* Bài thơ LẬP XUÂN HẬU NHẤT NHẬT TÂN TÌNH :

立春後一日新晴      LẬP XUÂN HẬU NHẤT NHẬT TÂN TÌNH
 
去日春來破舊寒,    Khứ nhật xuân lai phá cựu hàn,
今朝紅紫鬥千般。    Kim triêu hồng tử đấu thiên ban.
何當世事如花事,    Hà đang thế sự như hoa sự,
風雨江山盡改觀。    Phong vũ giang sơn tận cải quan.
         高伯适                         Cao Bá Quát





* Chú thích :
    - Tân Tình 新晴 : là Nắng mới (Sau ngày Lập Xuân).
    - Khứ Nhật 去日 : là Những ngày đã đi qua.
    - Kim Triêu 今朝 : là Sáng hôm nay.
    - Hồng Tử Đấu Thiên Ban 紅紫鬥千般 : Muôn hồng ngàn tía tranh nhau khoe sắc. 
               Thiên Ban 千般 : là Cả Ngàn vẻ, chỉ rất nhiều dáng vẻ.
    - Hà Đang 何當 : Sao mà có thể; Sao mà được...
    - Thế Sự 世事 là Chuyện đời; Hoa Sự 花事 là Chuyện chơi hoa.
    - Cải Quan 改觀 : là Thay đổi cách nhìn, thay đổi quan niệm.

* Nghĩa bài thơ :
                         Một Ngày Nắng Ráo Sau Tiết Lập Xuân
        Những ngày qua mùa xuân đã ngự về phá tan đi cái lạnh lẽo của những ngày tháng cũ. Sáng hôm nay hồng tía muôn ngàn dáng vẻ đang khoe sắc. Ước sao có thể xem chuyện đời như là chuyện chơi hoa, Sau một cơn mưa gió thì tất cả giang sơn đều đổi mới, đều có cái nhìn mới mẻ khác hơn xưa.




* Diễn Nôm :

                  Xuân đến hôm qua xua lạnh tan,
                   Sáng nay hồng tía thắm muôn ngàn.
                   Ước chi thế sự như hoa sự,
                   Đổi mới non sông đổi cảm quan.
      Lục bát :
                   Ngày qua xuân đến lạnh đi,
                   Sáng nay hồng tía hoa thi sắc màu.
                   Chuyện hoa như chuyện đời sao ?
                   Núi sông chuyển đổi sắc màu sau mưa ! 
                      
* Bài thơ BẠC XUÂN GIẢN NGUYỄN CHÍNH TỰ :

 薄春簡阮正字         BẠC XUÂN GIẢN NGUYỄN CHÍNH TỰ
  
薄暮思君君不來,      Bạc mộ tư quân quân bất lai,
披襟時借好風催。      Phi khâm thì tá hảo phong thôi.
過橋忽動聲聲履,      Quá kiều hốt động thanh thanh lý,
入室還傾滿滿杯。      Nhập thất hoàn khuynh mãn mãn bôi.
四海知交無我拙,      Tứ hải tri giao vô ngã chuyết,
百年心事共誰開。      Bách niên tâm sự cộng thuỳ khai.
多情為謝檳榔月,      Đa tình vị tạ tân lang nguyệt,
曾伴幽人孤夢回。      Tằng bạn u nhân cô mộng hồi.                                                                                   高伯适                              Cao Bá Quát

       

   
  
* Chú thích :
    - Bạc Xuân 薄春 : là Mùa xuân mỏng, là Đầu Xuân, còn gọi là Tảo Xuân 早春 hay Sơ Xuân 初春. Giản 簡 : là Cái thẻ tre dùng để viết chữ ngày xưa khi chưa có giấy. Động từ có nghĩa là Gởi cái đã viết đi.
    - Bạc Mộ 薄暮 : Trời vừa mới ngã chiều, là hoàng hôn.
    - Phi Khâm 披襟 : Khoát vạt áo lên mình.
    - Lý 履 : là Bước chân, dấu giày. Lý Lịch 履歷 : là Những bước chân đã đi qua; Những việc đã từng trải.   
    - Vô Ngã Chuyết 無我拙 : CHUYẾT là Vụng về; nên VÔ NGÃ CHUYẾT là Không có ai vụng về như tôi.
    - Cộng Thùy Khai 共誰開 : Khai với ai đây ? Biết ngỏ cùng ai đây !
    - Tân Lang Nguyệt 檳榔月 : là Ánh trăng treo ở trên đầu cây cau. 
    - U Nhân 幽人 : Con người U nhã, người ẩn cư.

* Nghĩa bài thơ :
                               Đầu Xuân Gởi cho Nguyễn Chính Tự
        Trời đã về chiều đợi anh mà chẳng thấy anh tới. Khoát tà áo lên mình đứng đây mượn nhờ làn gió mát thổi. Lê bước chân sột soạt bước qua cầu để đi về (vì không đợi được nữa). Vào nhà rồi thì rót từng chén rượu đầy ăm ắp mà uống. Bạn bè trong bốn biển chẳng có ai vụng về và tệ như tôi cả. Tâm sự trăm năm ở trong lòng biết phải ngỏ cùng ai đây ? Tình cảm đầy ắp trong lòng chỉ còn biết nhờ vào ánh trăng trên đầu ngọn cau đã từng làm bạn với con người u ẩn nầy về với giấc mộng cô đơn mà thôi.  
        Cao Chu Thần đợi bạn không tới, không ai để đối ẩm, không ai để giải bày tâm sự, nên đâm ra lẫy hờn, nghĩ mình là người vụng về nên bạn chê không thèm đến, chỉ còn biết làm bạn với áng trăng trên đọt cau, rồi về với giấc mộng đơn côi của mình mà thôi !   





* Diễn Nôm :

                 Trời chiều nhớ bạn bạn không sang,
                 Khoát áo đợi chờ mượn gió than.
                 Lê gót xạc xào chân bước chậm,
                 Vào nhà ăm ằp rượu ly tràn.
                 Tri giao bốn bể như ta tệ,
                 Tâm sự trăm năm chẳng kẻ màng.
                 Gởi lại ngọn cau vầng trăng bạc,
                 Đã từng bầu bạn... giấc mơ tan !
   Lục bát :
                 Chiều trời đợi bạn không sang,
                 Áo tơi khoát vội gió tràn hơi xuân.
                 Qua cầu lê bước bâng khuâng,
                 Vào nhà đầy ắp ly gần ly xa.
                 Bạn bè tệ nhất là ta,
                 Trăm năm tâm sự khề khà với ai ?
                 Đa tình trăng ngọn cau đây,
                 Đã từng bầu bạn giờ nầy một thân.


* Bài Thơ XUÂN LAI TÂM LỰC LƯỠNG KHAM TĂNG :

春來心力兩堪憎 (病中) XUÂN LAI TÂM LỰC LƯỠNG KHAM TĂNG (BỆNH TRUNG)
  
春來心力兩堪憎,      Xuân lai tâm lực lưỡng kham tăng,
損盡腰圍瘦不勝。      Tổn tận yêu vi sấu bất thăng.
入世隻身千里馬,      Nhập thế chích thân thiên lý mã
看書雙眼萬年燈。      Khan thư song nhãn vạn niên đăng.
拙妻倚枕梳蓬鬢,      Chuyết thê ỷ chẩm sơ bồng mấn,
稚子牽衣藉曲肱。      Trĩ tử khiên y tạ khúc quăng.
一笑那知閒未得,      Nhất tiếu na tri nhàn vị đắc,
小爐煎茗淡於僧。      Tiểu lô tiên mính đạm ư tăng?
              高伯适                                Cao Bá Quát




     
* Chú Thích :
    - BỆNH TRUNG 病中 : Không phải Ở TRONG BỆNH, mà là ĐANG TRONG CƠN BỆNH.
    - TĂNG 憎 : Có bộ Tâm đứng 忄bên trái, nên có nghĩa là Ghét.
      TĂNG 僧 : Có bộ Nhân đứng 亻bên trái, nên có nghĩa là Thầy chùa (câu 8).
    - Yêu Vi 腰圍 : là Cái vòng eo.
    - Sấu Bất Thăng 瘦不勝 : Ốm đến không thể ốm hơn, Ốm nhách.
    - Chuyết Thê 拙妻 : CHUYẾT là Vụng về, THÊ là VỢ. CHUYẾT THÊ là Bà VỢ VỤNG VỀ. Ở đây có nghĩa là : Bà Vợ nhà tôi. Đó là cách nói theo phép lịch sự. Gọi vợ nhà là CHUYẾT THÊ; còn gọi vợ người là QÚY PHU NHÂN... 
    - Bồng Mấn 蓬鬢 : Tóc mai rối như cỏ bồng, chỉ "Đầu bù tóc rối".

* Nghĩa bài thơ :
                             病中 BỆNH TRUNG : TRONG CƠN BỆNH

     Câu 1 :  Xuân lai tâm lực lưỡng kham tăng 春來心力兩堪憎, Có nghĩa : Từ vào xuân đến nay, tâm và lực cả hai đều đáng ghét .  
     Câu 2 : Tổn tận yêu vi sấu bất thăng 損盡腰圍瘦不勝。 Có nghĩa : Vòng eo bị tổn thương ốm đến hết mức.(Ta có Thành ngữ : SẤU BẤT THẮNG Y 瘦不勝衣 là Ốm đến nỗi chịu không nỗi sức nặng của chiếc áo đang mặc. Chữ BẤT THẮNG 不勝 là Không chịu được, là Không thể. Ví dụ : BẤT THẮNG BI 不勝悲 là Buồn không chịu được, Buồn quá cở buồn. Ở trong câu nầy THẮNG phải đọc thành THĂNG cho đừng bị THẤT VẬN ).
   Câu 3. Nhập thế chích thân thiên lý mã 入世隻身千里馬, Có nghĩa : Vào đời như con ngựa đơn lẻ phải chạy trên con đường thiên lý. Ngầm ý của câu nầy là : Cao Bá Quát tự ví mình như con Thiên Lý Mã nhưng vào đời chỉ một thân một bóng !.
   Câu 4. Khán thư song nhãn vạn niên đăng 看書雙眼萬年燈。 Có nghĩa : Xem sách thì hai con mắt sáng như là hai ngọn đèn của muôn năm vậy.
   Câu 5. Chuyết thê ỷ chẩm sơ bồng mấn 拙妻倚枕梳蓬鬢, Có nghĩa : Vợ thì dựa gối mà chải cái đầu tóc rối bù (Thay vì phải ngồi trước bàn trang điểm, trước gương soi để chải tóc, nhưng nhà nghèo lấy đâu ra những thứ đó. Thức dậy quơ đại cây lược gần đâu đó rồi dựa vào gối mà chải đở cho đầu bớt rối để còn đi làm việc nhà, lo nấu nước pha trà cho chồng chẳng hạn !).
   Câu 6. Trĩ tử khiên y tịch khúc quăng 稚子牽衣藉曲肱。 Có nghĩa : Con thơ kéo áo rồi (mượn tà áo đó, Chữ TẠ :là Nhờ vào, Vựa vào. Nếu đọc là TICH thì có nghĩa là HỘ TỊCH, THƯ TỊCH...) gác tay gối đầu (mà nằm).Ta có Thành Ngữ : KHÚC QUĂNG NHI CHẨM 曲肱而枕 là Co cánh tay lại mà gối đầu lên, chỉ cách nằm nhàn nhã vô tư của các đứa bé.
   Câu 7. Nhất tiếu na tri nhàn vị đắc 一笑那知閒未得, Có nghĩa : Cười khẩy một tiếng biết đâu rằng còn chưa thể nhàn nhã được. NHẤT TIẾU : Cười ruồi, cười khẩy, cười buồn một cái, cười không phải tại vui mà cười !
   Câu 8. Tiểu lô tiễn mính đạm ư tăng 小爐煎茗淡於僧。Có nghĩa : Cái lò nhỏ nấu trà cho sắc lại (TIỄN : là Nấu cho sắc lại, là Chiên)  để đừng quá nhạt nhẽo như trà của các nhà sư uống ! Thơ xưa có câu : Bố y sơ phạn đạm ư tăng 布衣蔬饭淡於僧 có nghĩa : Áo vải cơm rau đạm bạc (nhạt nhẽo) như các nhà sư. Trong câu nầy có chữ MINH 茗 là Trà, phải đọc thành MÍNH cho đừng THẤT LUẬT.




* Diễn Nôm :                     
                      
                            Xuân nay tâm lực thảy ưu sầu,
                            Thân ốm mình gầy chẳng nói đâu.
                            Chiếc bóng vào đời như ngựa lẻ,
                            Ngàn năm đọc sách tựa đèn thâu.
                            Vợ nghèo chảy tóc tai bù rối
                            Con trẻ trì tay áo gối đầu. 
                            Cười khẻ muốn nhàn sao thế được,
                            Tựa chùa trà nhạt rõ đun lâu !            
             Lục bát :
                           Ghét sao tâm lực xuân nay,
                           Ốm o thân xác bao ngày bệnh trung.
                           Vào đời tựa ngựa chiếc thân,
                           Xem thơ đọc sách sáng ngần đôi ngươi.
                           Vợ nghèo chảy tóc rối nùi,
                           Con kéo tay áo lui cui gối đầu.
                           Nực cười nhàn có được đâu,
                           Trà chùa vốn nhạt đun lâu... nhạt phèo !
                                                              Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

      Hẹn bài dịch tới !


                                                        杜紹德
                                                     ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                


Thứ Hai, 15 tháng 1, 2024

GÓC VIỆT THI : THƠ XUÂN CAO BÁ QUÁT (4) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM

 


Góc Việt Thi : 

                  Thơ Xuân Cao Bá Quát (4)


         
                   XUÂN NHẬT TUYÊT CÚ THẬP THỦ 
                            (Mười bài thơ Tuyệt Cú Ngày Xuân)

7. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 7) :

 春日絕句 其七       XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ  (Kỳ 7)

城北城南處處家,     Thành bắc thành nam xứ xứ gia,
斷蓬枯蔓繚籬斜。     Đoạn bồng khô mạn liễu ly tà.
趁蕃餘樹忙人事,     Sấn phồn dư thụ mang nhân sự,
閑日迢催未報衙。     Nhàn nhật thiều thôi vị báo nha.
              高伯适                                   Cao Bá Quát



* Chú thích :
    - Đoạn Bồng Khô Mạn 斷蓬枯蔓 : là Cỏ bồng gãy, dây leo khô.
    - Liễu Ly Tà 繚籬斜 : LIỄU là quấn quanh; LY là Hàng rào; Tà là Nghiêng đổ.
    - Sấn Phồn 趁蕃 : Nhân lúc (cây cỏ) rậm rạp.
    - Mang 忙 : là Bận rộn. MANG NHÂN SỰ là Bận rộn với chuyện người đời.
    - Thiều Thôi 迢催 : là Điều Đệ Thôi Thúc 迢递催促, là Xa xôi Hối Thúc, Ý chỉ : Thời gian vằng vặc nhưng qua cũng rất nhanh. 
    - Báo Nha 報衙 : là trình báp đến nha môn, cửa quan.

* Nghĩa bài thơ :
         Từ thành bắc đến thành nam, nơi nào nhà cửa cũng san sát nhau. Cỏ bồng dây leo khô gãy quấn quanh bờ giậu xiêu vẹo. Nhân lúc cây cỏ rậm rạp các cây lớn khác như đang bận rộn với chuyện của người đời (đang ăn Tết). Những ngày nhàn rỗi thấy như dài nhưng lại qua rất nhanh đến chưa kịp báo quan hay.

* Diễn Nôm :
                    Thành bắc thành nam rợp những nhà,
                    Dây khô cỏ gãy quấn rào ta.
                    Rậm rạp cây kia như bận rộn,
                    Ngày dài nhàn rỗi thoáng đà qua !
        Lục bát :
                    Bắc nam thành rợp nóc gia,
                    Cỏ khô dây quấn rào hoa nghiêng chiều.
                    Cây kia bận bịu bấy nhiêu,
                    Ngày nhàn thoáng chốc quên điều báo quan.

    8. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 8) :  
          
 春日絕句 其八      XUÂN NHẬT TUYẸT CÚ  (Kỳ 8)
  
故園今日草依依,    Cố viên kim nhật thảo y y,
春滿池塘夢到稀。    Xuân mãn trì đường mộng đáo hi.
悵望無情珥江水,    Trướng vọng vô tình Nhĩ Giang thủy,
悠悠何事向南歸。    Du du hà sự hướng nam quy ?
                高伯适                            Cao Bá Quát



* Chú thích :
    - Cố Viên 故園 : là Vườn xưa, mà cũng có nghĩa là Quê xưa nữa.
    - Y Y 依依 : là Bịn rịn, lưu luyến; Nhưng ở đây Y Y là Hình Dung Từ bổ nghĩa cho THẢO, nên THẢO Y Y 草依依 là Cỏ mọc dài mơn mởn trong mùa xuân.
    - Trì Đường 池塘 : là Ao chuôm, những ao nước nhỏ.
    - Trướng Vọng 悵望 : là Trông ngóng một cách bâng khuâng buồn bã.
    - Nhĩ Giang 珥江 : tên riêng của sông Hồng.
    - Du du 悠悠 : là Dằng dặc xa xôi tiếp nối mãi.

* Nghĩa bài thơ :
        Nơi quê cũ hôm nay chắc cỏ đã mọc dài một cách mượt mà mơm mởn; Mùa xuân chắc cũng đã về trên khắp ao chuôm, mà ta thì vẫn ít mộng thấy quê nhà. Bồi hồi nhìn dòng sông Nhĩ Giang vẫn tuôn chảy một cách vô tình, cứ dằng dặc chảy mãi về hướng nam là cớ tại làm sao ?!
        Hỏi tức là đã trả lời, vì dòng sông đổ ra biển Nam Hải, không chảy về nam thì chảy về đâu ? Cũng như lòng của Cao Bá Quát luôn luôn hướng về vườn cũ của quê nhà để chỉ nhớ đến cỏ xuân mượt mà và các ao chuôm nước đọng. Nhưng những thứ tầm thường đó là hình ảnh của quê hương, của nơi chôn nhau cắt rốn mà không ai có thể quên đi được !.




* Diễn Nôm :
                                
                 Vườn cũ hôm nay cỏ mọc dài,
                 Ao chuôm xuân đến khó mơ hoài.
                 Buồn trông sông Nhĩ vô tình chảy,
                 Dằng dặc về nam như nhớ ai !
     Lục bát :
                 Cỏ non quê cũ xuân xanh,
                 Ao chuôm xuân sắc khó thành giấc mơ.
                 Buồn trông sông Nhĩ lững lờ,
                 Xuôi nam chảy mãi như chờ đợi ai.

 9. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 9) : 
     
 春日絕句 其九        XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ  (Kỳ 9)
 
懶非性耐渾思懶,     Lãn phi tính nại hồn tư lãn,
閑是生餘未即閑。     Nhàn thị sanh dư vị tức nhàn.
笑剎年年較晴雨,     Tiếu sát niên niên giảo tình vũ,
孤山吟思滿江關。     Cô sơn ngâm tứ mãn giang quan.
              高伯适                                 Cao Bá Quát




* Chú thích :
    - Lãn 懶 : là Lười biếng. 
    - Nại 耐 : là Chịu đựng; TÍNH NẠI là Tánh chịu đựng.
    - Hồn 渾 : là Tữ nhiên, là Thường tình.
    - Sinh Dư 生餘 : là Sống thừa, chỉ Sống mà không làm nên được gì cả.
    - Tiếu Sát 笑剎 : là Nực cười, là Tức cười.

* Nghĩa bài thơ :
        Lười biếng không phải là tính chịu đựng của ta, nhưng tự nhiên ta cũng nghĩ đến chuyện lười; Vì nhàn rỗi một cách vô tích sự, thì vị tất đã là nhàn rỗi. Nực cười thay chuyện nắng rồi mưa , mưa rồi lại nắng hằng năm cứ thế. Như ngọn núi đơn độc nhưng khi ngâm vịnh lên thì cũng đầy rẫy cả núi sông quan ải.

* Diễn Nôm :
                    Chẳng lười nhưng lại tự nhiên ngông,
                    Nhàn chẳng đúng thời nhàn tựa không.
                    Nực cười mưa nắng năm năm vẫn...
                    Núi côi ngâm vịnh khắp non sông.




        Lục bát :

                   Chẳng lười lại tự nhiên lười,
                   Nhàn vô tích sự nực cười nắng mưa.
                   Năm năm mưa nắng giao mùa,
                   Núi côi ngâm vịnh như đùa non sông.

10. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 10) : 
 
 春日絕句 (其十)       XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ (Kỳ 10)

襭取長春萬里風,      Hiệt thủ trường xuân vạn lý phong,
憑高揮洒欲回空。      Bằng cao huy sái dục hồi không.
生憎浪泊一篙水,      Sinh tăng Lãng Bạc nhất cao thuỷ,
日日輕帆送醉翁。      Nhật nhật khinh phàm tống tuý ông.
         高伯适                          Cao Bá Quát

    

* Chú thích :
    - Hiệt Thủ 襭取 : là Lấy vạt áo đùm vật gì đó lại.
    - Bằng Cao 憑高 : Dựa vào cái thế trên cao; Từ trên cao.
    - Tăng 憎 : là Ghét.
    - Khinh Phàm 輕帆 : Một cánh buồm nhẹ.

* Nghĩa bài thơ :
         Ta muốn dùng vạt áo nầy để gói cả làn gió xuân của muôn dặm; Rồi lên cao vung tay áo một cách phóng khoáng để thả gió về lại với tầng không. Bình sinh ta rất ghét chống thuyền đi trên hồ Lãng Bạc, chỉ muốn ngày ngày đều có cánh buồm nhẹ đưa lão già say đi về.
         Người đời thường bảo là Cao Bá Quát ngông cuồng. Quả không ngoa ! Bọc hết gió xuân muôn dặm rồi lên cao thả ra theo ý thích của mình. Không muốn chèo chống chiếc thuyền nan trên hồ, mà chỉ muốn mỗi ngày đều có cánh buồm nhẹ lướt sóng để đưa người say trở về.

* Diễn Nôm :



     - Song thất Lục bát :

                Vạt áo gom gió xuân vạn dặm,
                  Phất tay cao thả gió về không.
                  Chống thuyền Lãng Bạc chẳng mong,
                  Ngày ngày buồm nhẹ đưa ông say về !
     - Lục bát :
                  Muốn gom muôn dặm gió xuân,
                  Lên cao thả gió cho lòng hả hê.
                  Chống thuyền Lãng Bạc vốn chê,
                  Chỉ mong buồm nhẹ đưa về ông say.
                                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

      Hẹn bài dịch tới !



                                          杜紹德
                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

THƠ XUÂN CAO BÁ QUÁT (3) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 




Góc Việt Thi : 

                          Thơ Xuân CAO BÁ QUÁT(3)



                   XUÂN NHẬT TUYÊT CÚ THẬP THỦ 
                            (Mười bài thơ Tuyệt Cú Ngày Xuân)

4. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 4) :

春日絕句(其四)        XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ (Kỳ 4)

韋杜佳人繡鳳鞋,     Vi Đỗ giai nhân tú phụng hài,    
蹅春共趁賣花來。     Đạp xuân cộng sấn mại hoa lai.
西湖寺外醉何處,     Tây Hồ tự ngoại túy hà xứ ?
鎮武觀頭遊幾回。     Trấn Võ Quán đầu du kỷ hồi !
             高伯适                                    Cao Bá Quát



* Chú thích :
    - Vi Đỗ 韋杜 : Tên một con phố ở đất Tràng An (Tây An) xưa, ở đây mượn để chỉ kinh thành Thăng Long của ta.
    - Tú Phụng Hài 繡鳳鞋 : Giày có thêu hình chim phượng.
    - Đạp Xuân 蹅春 : là Đi trong mùa xuân, là đi dạo chơi lúc xuân về; tương đương với từ ĐẠP THANH 踏青 là Đi dạo chơi trên thảm cỏ xanh non vậy.
    - Sấn 趁 : là Thừa dịp, Sẵn dịp.
    - TỰ 寺 : là Chùa của các Hòa thượng tu hành; QUÁN 觀 là ĐẠO QUÁN 道觀 là Chùa của các Đạo sĩ tu tiên.

* Nghĩa bài thơ :
                       TUYỆT CÚ NGÀY XUÂN (4)

       Các giai nhân của phố Vi đỗ trong kinh thành mang những đôi hài có thêu hình chim phượng; Các nàng đi dạo chơi trong mùa xuân rồi sẵn dịp lại ghé mua hoa xuân. Bên ngoài các chùa ở Tây Hồ nơi nào có thể say được đây ? (ý nói nơi nào có quán rượu); Ở đầu đường của Đền Trấn Võ ta đã dạo chơi qua mấy lượt ở đó rồi !(Ý chỉ nơi đó là nơi có quán rượu !).

       Cảnh dạo chơi trong mùa xuân của các tài tử giai nhân trong ngày Lễ Tết khi xưa ở kinh thành Thăng Long. Cao Bá Quát cũng là một trong những chàng tài tử đi du xuân để nhìn ngắm các giai nhân mang hài có thêu hình chim phượng !

* Diễn Nôm :





                      XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ (Kỳ 4)

                    Hài phụng giai nhân Vi Khúc phố,
                    Mua hoa mượn dịp để du xuân.
                    Hồ Tây có thể say đâu nhỉ ?
                    Trấn Võ đền xưa dạo mấy lần !
       Lục bát :
                    Phố Vi hài phượng giai nhân,
                    Du xuân sẵn dịp xa gần mua hoa 
                    Hồ Tây say khước đâu ta ?
                    Đền ngoài Trấn Võ la cà mấy phen !

                                           Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm.

5. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 5) :





春日絕句(其五)        XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ (Kỳ 5)
  
綺石欄窗綵縷門,     Ỷ thạch lan song thái lũ môn,
少年翁對鬱金樽。     Thiếu niên ông đối uất kim tôn.
三多矮枝佛手架,     Tam đa ải chi Phật thủ giá,
五福皺葉水仙盆。     Ngũ phúc trứu diệp thủy tiên bồn.
               高伯适                            Cao Bá Quát


* Chú thích :
    - Ỷ 綺 : Còn đọc là KHỈ, thuộc bộ MỊCH 糸 là sợi tơ bên trái, nên Ỷ 綺 là dải lụa có hoa văn đẹp đẽ; Trong bài thơ là Ỷ THẠCH 綺石 : chỉ những tảng đá có màu sắc rực rỡ, đẹp đẽ. Ỷ THẠCH ở đây cũng có thể chỉ Hòn Non Bộ giả làm cảnh cho đẹp.
    - Lan Song 欄窗 : LAN là Lan Can, nên LAN SONG là Cửa sổ có trấn song.
    - Thái Lũ Môn 綵縷門 : là Cửa có treo rèm màn có những sợi tơ màu đẹp đẽ.
    - Thiếu Niên Ông 少年翁 : là Ông chủ còn trẻ, chỉ người thành đạt mà còn trẻ tuổi.
    - Uất Kim Tôn 鬱金樽 : Chai đựng rượu có màu vàng của hoa Uất Kim Hương.
    - Câu 3 : ý nói trái Phât Thủ thường có 3 ngón vươn dài ra (như hình minh họa đính kèm) tượng trưng cho Tam Đa là 3 cái nhiều (là Đa Phúc, Đa Thọ, Đa Nam Tử 多福,多寿,多男子).
    - Câu 4 : Ý chỉ hoa của Hoa Thủy Tiên mặc dù 6 cánh nhưng lại trông giống như 5 cánh của hoa Bạch mai tượng trưng cho Ngũ Phúc là 5 điều Phước (là Thọ, Phú, Khang ninh, Du hảo Đức, Khảo chung mệnh 寿,富,康寜,攸好德,考终命. Có nghĩa là : Sống Thọ, Giàu sang, Khoẻ mạnh, có tiếng Đức tốt và Già Chết an lành).

                         

                                   Phật Thủ                      Thủy Tiên

* Nghĩa bài thơ :

                          Tuyệt Cú Ngày Xuân (5) 

       Song cửa sổ có trấn song, trước cửa lại có treo rèm màn với các tua màu sắc đẹp đẽ lại có những tảng đá cảnh đầy màu sắc. Trong nhà thì ông chủ nhà là một thiếu niên trẻ trung bên cạnh các chai rượu màu vàng của uất kim hương rực rỡ. Cái gía thấp để cành nhánh ngắn của quả Phật Thủ vươn dài ra như ba ngón tay tượng trưng cho Tam Đa và Giò Thuỷ Tiên với các lá quăn queo tượng trưng cho Ngũ Phúc.
       Cảnh đón xuân trong giàu sang phú qúy của một người trẻ tuổi mà thành đạt, thiếu niên đắc chí, nếu không phải làm giàu trong chốn thương trường thì cũng là một đại khoa tuổi trẻ, quan trường đắc chí; quả là "Mãn môn xuân sắc thị vinh hoa" có khác !

* Diễn Nôm :





                     XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ (Kỳ 5) 
                    
                  Non bộ ngoài song cửa rực màn,
                  Thiếu niên chủ cả chén ly vàng.
                  Tam Đa phật thủ bày trên giá,
                  Ngũ Phúc Thủy Tiên chậu lá quăn.
     Lục bát :
                  Màn che đá cảnh song rèm,
                  Thiếu niên đắc chí chai vàng uất kim.
                  Tam Đa phật thủ bày bên,
                  Ngũ Phúc lá cuốn Thủy Tiên một giò !

                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
                     
6. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 6) :




春日絕句(其六)        XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ (Kỳ 6) 
  
巧偷誰差米家神,     Xảo thâu thùy sái Mễ gia thần,
畫取江城一片春。     Họa thủ giang thành nhất phiến xuân.
煙柳如今更顏色,     Yên liễu như kim cánh nhan sắc,
等閒迎送上年人。     Đẳng nhàn nghinh tống thượng niên nhân.
              高伯适                                    Cao Bá Quát



* Chú thích :
    - Xảo Thâu 巧偷 : THÂU có nghĩa là Trộm mà cũng có nghĩa là Lén nữa; nên XẢO THÂU vừa có nghĩa là Trộm một cách khéo léo, vừa có nghĩa là Len lén mộ cách khéo léo.
    - Sái 差 : Còn đọc là SAI. Có nghĩa là Khiến; nên THÙY SÁI 誰差 Có nghĩa là "Ai khiến cho", "Ai đã làm nên... cái gì đó".
    - Mễ Gia Thần 米家神 : là "Cái thần của nhà họ Mễ" là Hội Họa, Vì MỄ PHẤT 米芾 là một danh họa đời Tống, ông cũng là người đầu tiên viết về "Lịchh Sử Hội Họa" của Trung Hoa để đời với quyển "HỌA SỬ 畫史" nỗi tiếng đương thời.
    - Họa Thủ 畫取 : là Vẽ lấy, vẽ ra, vẽ nên.
    - Cánh Nhan Sắc 更顏色 : là Càng có nhan sắc hơn, ý nói "Càng đẹp hơn ra".
    - Đẳng nhàn 等閒 : là Tầm thường, bình thường, không quan trọng.
    - Thượng Niên Nhân 上年人 : là Người của những năm trước; hoặc là "Người đã có tuổi", Người đã già. Cao Bá Quát không sử dụng từ KHỨ NIÊN NHÂN 去年人 là Người của năm trước, mà dùng từ THƯỢNG NIÊN NHÂN là Người của những năm trước kể cả người đã già.

* Nghĩa bài thơ :

                       Tuyệt Cú Ngày Xuân (6) 

      Khen ai khéo lén mượn nét bút thần của nhà Mễ Phất để vẽ nên một vùng cảnh đẹp của xứ giang thành khi đã vào xuân; với sương khói mơ màng của những cành liễu hiện nay như ngày càng đẹp thêm ra, và vẫn như đón đưa du khách bình thường như những năm qua kể cả những người đã cao niên.

      Mùa xuân và cảnh đẹp chẳng của riêng ai, không phải nét bút thần của nhà họ Mễ mới vẽ nên được, mà thiên nhiên tạo hóa đã vẽ nên một bức tranh xuân tuyệt đẹp cho tất cả mọi người không phân biệt già trẻ lớn bé gì cả. Ai biết thưởng ngoạn thì cảnh đẹp của mùa xuân sẽ là của người đó thôi !

* Diễn Nôm :



                    XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ (Kỳ 6) 

                   Khéo lén khen ai mượn bút thần,
                   Vẽ nên cảnh sắc buổi đầu xuân.
                   Giang thành tơ liễu càng xinh đẹp,
                   Đưa đón năm qua khách thưởng xuân.
     Lục bát :
                   Mễ gia ai trộm bút thần,
                   Vẽ nên một bức tranh xuân Giang thành.
                   Khói sương tơ liễu buông mành,
                   Năm năm đưa đón cho đành khách xuân !

                                      Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

Hẹn bài dịch tới !



                                     杜紹德
                                ĐỖ CHIÊU ĐỨC