CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGỌC HẠ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGỌC HẠ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2024

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

NHẠC ...NGHÈO - TRẦN HỮU NGƯ

 


Ảnh Ban Hợp ca Thăng Long:
-Hàng trên từ trái sang: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, (ca sĩ Hoài Bắc), Phạm Đình Viêm ca (sĩ Hoài Trung)
-Hàng dưới từ trái sang: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh.


NHẠC… NGHÈO!

“Nhạc nghèo” của một thời Chiến tranh đã làm tôi say mê, nghiêng ngã theo từng lời ca tiếng hát. “… Đời nghèo mà vui, hỏi ai không hé môi cười…” (nhạc phẩm Tôi yêu của Trịnh Hưng và Hồ Đình Phương). “Nhạc nghèo” đã theo tôi từ thuở tôi nghèo cho đến bây giờ.
Nhạc nghèo vẫn biết còn thiếu sót, nhưng những bài hát nghèo dưới đây cũng đủ nói lên cái “nghèo rớt mồng tơi” rồi.
Cảm nhận về nhạc nghèo để thấy… mình bớt nghèo!
Có phải vậy không, xin mời bạn đọc:
“… Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói,
có những cánh đồng cát dài, có lũy tre còn tả tơi.
Ruộng khô có những ông già rách vai
cuốc đất bên đàn trẻ gầy
có người bừa thay trâu cày…”
(Nhạc phẩm Quê nghèo – Phạm Duy).
Nghe lại nhạc phẩm này, tôi ứa nước mắt, nhớ về quê tôi từ những năm 1960 trở về trước, ngày ấy quả thật “Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói…”, nhưng dân làng nghèo, nhạc sĩ Phạm Duy đưa lên một hình ảnh này nghe rất xót xa, đối nghịch nhau giữa thành thị và thôn làng đến độ… tàn nhẫn! Nghèo, một định mệnh của dân Việt, khởi nguồn đi tìm sự sống trên ruộng rẫy, nương khoai, đánh bắt, trồng tỉa…, nghĩa là tám mươi lăm phần trăm sống bằng nông nghiệp.
Nghèo là điều bất hạnh của con người. Nhưng có không ít người nghèo lại làm được những điều vĩ đại để tiếng cho đời mà người giàu không làm được. Sinh thời cố nhạc sĩ Văn Cao nghèo lắm, nghèo đến nỗi không tiền mua rượu, thuốc lào, dù chỉ một chén nhỏ, một điếu, và ngay cả bậc tiền bối Nguyễn Công Trứ: “... Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no…”. Không biết Nguyễn Công Trứ làm thơ có được trả nhuận bút không, chớ thời nay trả… ít lắm. Có người hỏi ít là bao nhiêu? 100 đến 200 ngàn… Thế là may, chớ những bài thơ của nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh thì thê thảm hơn: “… Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm nay lại bảo dí thơ vào… mông!”. Còn cố nhạc sĩ tài hoa Văn Cao (ông còn là họa sĩ, thi sĩ) để lại cho đời nhiều tuyệt phẩm, nhưng đến cuối đời ông là một người nghèo.
Người nghèo muốn một công việc gì đó để thoát nghèo, đôi khi thèm… trúng số! Và cũng thương thay, xót thay không ít những cô gái nghèo “chồng gần không lấy lại lấy chồng xa”, lấy chồng ngoại để mong thoát nghèo và những “đêm dài tình… ngắn”, đã để lại nhiều “di chứng chồng ngoại”, rồi sực tỉnh không mơ thoát nghèo nữa mà chỉ kêu gào sớm được thoát… ly, quy cố hương, và đôi khi vì nghèo mà trót dại phạm pháp.
Nhạc… nghèo thì cả giàu lẫn nghèo ai cũng thích nghe. Người giàu nghe nhạc nhạc… nghèo để giải trí, hoặc nghe cho nó vui, hoặc nghe để mà nghe, chẳng hạn:
“… Nhớ, nhớ thuở nào,
anh đi cày thuê, em đi dắt trâu,
đôi ta chừ mà gặp nhau dưới cầu…”
Nhạc phẩm Vợ chồng quê – Phạm Duy).



Còn người nghèo nghe “Vợ chồng quê” để thương nhớ cánh đồng.
Nhạc… nghèo, nhưng không nghèo về ca từ, giai điệu, mà là dùng âm nhạc để diễn tả cái nghèo, một thực trạng của muôn dân nông thôn phải gánh chịu trong những năm triền miên chiến tranh.
Bây giờ đất nước đã đi lên, đời sống con người đã khá hơn những thập niên trước đây, nhưng còn một bộ phận không nhỏ vẫn chưa thoát nghèo, và tôi vẫn thấy, vẫn nghe những hình ảnh đã cách xa chúng ta hơn nửa thế kỷ, nhưng nó còn hiện diện đâu đây:
“… Đường về canh thâu
Đêm khuya ngõ sâu như không màu
Qua phên vênh có hai mái đầu
Hắt hiu vàng ánh điện câu…”
(Nhạc phẩm Xóm đêm – Phạm Đình Chương)
“… Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen
Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm…”
(Nhạc phẩm Phố buồn – Phạm Duy).
Nhạc… nghèo có được bao nhiêu bản? Hàng trăm bản, nhưng mang cái tựa “Nghèo” hình như có bốn bản (?): Xóm nghèo (Hùng Lân), Kiếp nghèo (Lam Phương), Nắng lên xóm nghèo (Phạm Thế Mỹ), Quê nghèo (Phạm Duy):
“… Nửa đêm thanh vắng không một bóng trai
Có tiếng o nghèo thở dài
Vỗ về trẻ thơ bùi ngùi
Từ khi quê hương lan tràn sông núi
Quê cũ đã nghèo lắm rồi
Thêm đói thêm sầu mà thôi…”
(Nhạc phẩm Quê nghèo – Phạm Duy)
“… Đời nghèo lòng nào dám mơ tình chung…”
(Nhạc phẩm Kiếp nghèo – Lam Phương)
“… Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên
Hương lúa ngọt tình quê thêm trìu mến”…
(Nhạc phẩm Nắng lên xóm nghèo – Phạm Thế Mỹ)
“ …Tôi yêu xóm nghèo nhà tranh mái thấp liêu xiêu…”
(Nhạc phẩm Xóm nghèo – Hùng Lân).
Thời buổi này mà còn nghe nhạc con trâu, cái cày, ruộng lúa, nương khoai… quả là lạc hậu “đi ngược lại trào lưu tiến hóa của âm nhạc?”, người sành điệu phải nghe “Hôn môi xa, Trả nợ tình xa, Tình thôi xót xa…”. Ôi, sao nhiều “xa” quá, hèn chi nó đến rất ồn ào chỉ một vài lần rồi đi xa không thèm trở lại!
Thú thật, tôi nghèo và già nên không nghe được nhạc giàu (giàu trống, giàu đờn, giàu kỹ thuật âm sắc, nhưng khổ nỗi lại nghèo về ca từ). Đôi khi bực mình nộ nạt con cháu: “Mày nghe cái quái quỷ gì vậy?”. Nó sửng cồ: “Thời ông khác, thời cháu khác”. Tôi giựt mình! Đúng, thời tôi không có cái thứ nhạc kỳ cục, cái thứ nhạc làm trẻ con giựt mình, làm điếc tai hàng xóm, nhạc như bị điện giựt, nghe mà không hiểu bài hát ấy nói gì, có lẽ mình già rồi chăng? Có lần, một buổi trưa thanh vắng, tôi mở bản nhạc “Gợi giấc mơ xưa” của Lê Hoàng Long… đứa cháu gái chăm chú nghe, rồi hỏi: Chú ơi, bài hát tên gì, của ai mà hay quá vậy? Cũng một lần nữa, tôi mở nghe CD “Hiên cúc vàng” của Nguyễn Đình Toàn, sau khi nằm im nghe, cũng đứa cháu ấy hỏi, CD này của ai vậy, mà Khánh Ly ca hay quá, chỉ chỗ cho cháu mua? Tôi nói, nhạc cũ, người cũ viết, mà cháu có chịu nghe đâu?
Tôi đã từng gối đầu nằm ca khúc Phố buồn của Phạm Duy. Khoảng 1955, thời bấy giờ ở nhà quê dễ gì có được một bản nhạc in rời? Tôi phục sát đất Phạm Duy, vì trong Phố buồn ông đã “Thay lời muốn nói”:
“… Đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em
Bùn lầy không vơi bôi thêm lối ngõ không tên
Em bước chân qua thềm
Mưa vẫn rơi êm đềm
Và chỉ làm phố buồn thêm…”
Và đến nhạc sĩ Lam Phương viết nhạc phẩm Kiếp nghèo. Nghèo đến nỗi gọi là “Kiếp” thì không có cái nghèo nào hơn:
“… Đường về đêm nay vắng tanh
Dạt dào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…”



Ba nhạc phẩm Phố buồn, Xóm đêm, Kiếp nghèo là những bản nhạc nghèo, vào đầu là “Đường về…” và cũng có “Mưa…”. Lạ thay! Một sự trùng hợp ngẫu nhiên tràn đầy thú vị. Và cũng lạ thay, ba bản nhạc nghèo này đều đứng được với thời gian.
Ba nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Lam Phương là những tư tưởng lớn gặp nhau chăng? Cùng mở đầu Phố buồn, Xóm đêm, Kiếp nghèo bằng chữ “Đường về”. Phạm Duy thì “Đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em…”, còn Phạm Đình Chương “Đường về canh thâu…”, Lam Phương “Đường về đêm nay vắng tanh…”. Ba nhạc phẩm cũng đều có “Mưa”: “Em bước chân qua thềm, mưa vẫn rơi êm đềm” (Phạm Duy), “Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn” (Phạm Đình Chương), và “Dạt dào hạt mưa rớt nhanh, lạnh lùng mưa xuyên áo tơi” (Lam Phương).
Ba nhạc phẩm mỗi người một vẻ, đó là ba mảnh đời nghèo khác nhau, nhưng cùng chung một “Đường về”. Cuộc đời là một “Đường đi”, dù đi thẳng, đi cong, đi lòng vòng, đi tắt, đi nhanh, đi chậm… rồi cũng sẽ về dù sớm hay muộn. Không gian của “Đường về” là đêm, thời tiết có mưa, đường về đã… đến.
Một kiếp người đi-đi-về-về, cái điệp khúc thường nhật ấy có đôi khi lắm nỗi chuân chuyên, và cuộc đời này trong bao la trời đất, trong biến đổi khôn lường:
“… Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương…”
(Cung oán ngâm khúc).


TRẦN HỮU NGƯ

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2023

MỘNG BAN ĐẦU - TRẦN HỮU NGƯ



                                        


                                 MỘNG BAN ĐẦU


   -Nhạc kháng-chiến đánh Tây nghe sao nó êm dịu.

   -Nhạc chống Mỹ nghe nó dữ dằn

   -Nhạc Hòa-bình nghe như giặc

   -Nhạc Thanh-bình thì hãy… đợi đấy!

   Nhạc Thanh-bình sinh ra tronh Chiến-tranh, điều này tưởng là nghịch lý, nhưng âm nhạc Việt-Nam đã chứng minh rằng “Những bài ca Thanh-bình đi qua qua trong Chiến-tranh” đã làm nên một nền âm nhạc nhạc Việt-Nam có một không hai trên thế giới? 

   Biết nói làm sao cho hết đây?

   Lấy những bài hát của Hoàng-Trọng để chứng minh điều đã nói ở trên, dẫu biết rằng còn hằng ngàn bài hát Thanh-bình khác đã được sinh ra vuông tròn trên đống đổ nát vì Chiến-tranh.

Nhạc sĩ Hoàng-Trọng, người có nhiều mộng nhất Việt-Nam, cho dẫu những ngày ấy Chiến-tranh cứ MKN (mặc kệ nó), nhưng vẫn phải “Mộng” để có một niềm tin mà vui sống:

   -Mộng ban đầu (1956)

   -Mộng đẹp ngày xanh (1956)

   -Mộng lành (1956)

   -Mộng ngày hồi hương (1956)

   -Mộng cô đơn (1964)

   -Mộng đầu (1970)

  -Mộng đẹp tình xuân (1957)

   -Mộng cô đơn (1969)

   Tám bài hát này, bài nào cũng để lại dấu ấn trong lòng người yêu mến âm nhạc.

   Hoàng-Trọng sau khi MỘNG, anh đã dẫn chúng ta VÀO MỘNG:

   “… Từ ngày đường tơ lưu luyến vướng trên câu thơ

   Từ ngày tình mơ len lén bước sang tâm tư

   Từ ngày mình yêu mong nhớ biết đến bao chiều

   Cho dẫu có hết muôn điều

   Luôn bâng khuâng như còn thiếu…”

     (Ca khúc Vào Mộng viết 1962)

   Gần 30 bài hát Tango của Hoàng Trọng, biết chọn bài nào? Lấy tập nhạc Tango Hoàng-Trọng để trước mặt, tôi bói như bói Kiều: Lật đại một trang ra xem: Gặp bài hát Tango “Mộng ban đầu”! Ồ, cuộc đời này chỉ là… mộng? Tôi hát rất nhỏ: 

   “Em ơi, nếu mộng không thành thì sao”? 

    (Duyên kiếp-Lam Phương). 

   Bài hát “Mộng ban đầu” Hoàng-Trọng viết từ năm 1956. Mãi đến năm 1960, từ xóm nghèo ven biển gần điện Kê-Gà, tôi khăn gói lên tỉnh học trung học và một vài năm sau đó tôi mới được nghe “Mộng ban đầu”. 

   Khi hát, người ta chỉ giới thiệu nhạc sĩ Hoàng-Trọng và tôi cũng chỉ đinh ninh rằng một mình Hoàng-Trọng viết nên tác phẩm này, và mới thoáng nghe, tôi đã mê “Mộng ban đầu”. Nhưng sau này, có trong tay tập nhạc Hoàng-Trọng, tôi mới biết,  Hoàng Trọng phổ thơ Hồ Đình Phương.

   Thơ phổ nhạc là Thơ có trước, Nhạc có sau. Hoàng-Trọng là người tự trọng “có văn hóa” nên đầu bản nhạc “Mộng ban đầu” ông ghi tên Hồ Đình Phương trước và tên ông sau. Không như một số nhạc sĩ phổ thơ mà quên đề tên tác giả bài thơ, hoặc tên nhạc sĩ trước và tên thi sĩ sau!

   Nhân việc phổ thơ thành nhạc, hoặc nhờ người khác viết lời, Tôi cho rằng, bài hát thành công, được công chúng ưa thích là nhờ LỜI, chớ không phải nhờ NHẠC? Quên điều này, sẽ thất bại, dù anh có là nhạc sĩ tốt nghiệp trường lớp, mà viết lời dở, dù có nhờ Diva hát, nhạc anh cũng… khó đi vào lòng người nghe?

   Ngày nay tưởng dễ ăn, dễ nổi tiếng, dễ kiếm tiền, rất nhiều nhạc sĩ “tay ngang” xuất hiện như nấm sau mưa, nhưng muốn làm nhạc sĩ và viết được một bài hát hay đâu có dễ? 




   Trở lại “Mộng ban đầu”, dù Hồ-Đình-Phương và Hoàng-Trọng đã ra người thiên cổ, dù bài hát “Mộng ban đầu” ra đời cách nay đã 66 năm (2023-1956), nhưng vẫn thấy quê hương miền thùy dương vẫn xanh biếc như thuở nào:

   “… Quê em miền thùy dương

   Lúa ngọt ngào hoa mới

   Gió mang mùa xuân tới

   Hôn liếp dừa lên hương

   Thơm thơm tràn muôn lối

   Quê em dậy bình minh

   Nắng đẹp lòng thôn xóm

   Quán tranh hiền vui đón

   Dâng bát nước chè xanh

   Chan chứa mộng yên lành…”

   Quê tôi có thùy dương trên những động cát trắng ven biển, có những hàng dừa lả ngọn vì gió biển. Những bình minh mang tia nắng rọi qua mái nhà tranh như làm khô sương đêm ướt mái. Từ nhạc phẩm “Mộng ban đầu”, tôi thương những mối tình đơn sơ của những thôn nữ quê mùa, nhớ những mái nhà tranh trống hơ trống hoác làm sao che được gió? 

   “Mộng ban đầu”, một bức tranh vẽ nên nhạc một làng quê êm đềm không mộng và rất thực lại còn đẹp nữa. Xét cho cùng, ông bà, cha mẹ chúng ta phần đông cũng từ một làng quê mà sinh ra, và chúng ta cũng từ một làng quê mà bước tới…

   Hồ-Đình-Phương viết bài thơ “Mộng ban đầu” chỉ là cái mơ ước, cái mộng của một cô gái quê, giống hàng triệu cô gái quê khác, chờ người mà mình yêu thương trở lại quê nhà trong lúc Chiến-tranh, lời nhắn nhủ giản dị nhưng chan chứa yêu thương:

   “… Nhớ về thăm em nhé!

   Đừng van nỗi đường xa

   Đây tiếng hát câu hò

   Đang canh cánh mong chờ

   Anh nhớ về anh nhé!...”

   Và một ngày xa xưa ấy tôi cũng biết yêu, biết chờ đợi, biết thất tình, biết đau khổ… Nhìn thấy ai đó hạnh phúc, để rồi mình đi tìm, có đôi khi tình yêu không tìm mà có, không đợi mà gặp, không chờ mà được. “Tình là tình khi không mà có/ tình là tình nhiều lúc có như không” (Trần-Thiện-Thanh)

   Người thiếu nữ trong “Mộng ban đầu” này, nếu ai gặp được chắc hạnh phúc suốt đời:

    “… Hôm qua buồn nhìn đâu

    Thoáng mẹ già mom thấy

    Hỏi con chờ ai đấy

    Em níu lấy cành dâu

    Che dấu mộng ban đầu…”.

     Vẫn biết “Mộng ban đầu” trước 75 có nhiều ca sĩ ca, nhưng trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, ca sĩ Ngọc Hạ ở hải ngoại hát “Mộng Ban đầu” đã đem đến cho người nghe, buồn muôn thuở của những ngày xa quê.  

   “Mộng ban đầu” có câu mở đầu “Quê em miền thùy dương…”, dù đã bao năm xa cách, nhưng tôi vẫn canh cánh bên lòng và tôi  mong rằng  miền thùy dương đừng chìm sâu, khuất nẻo, và đừng… biến dạng trước cơn bão đất!



   TRẦN-HỮU-NGƯ


Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2023

VỀ MIỀN TRUNG - TRẦN HỮU NGƯ

 



                                        VỀ MIỀN TRUNG

Mỗi năm có một mùa mưa, trong mưa có giông bão…
Tôi mượn bài hát “Về miền Trung” của nhạc sĩ Phạm-Duy, để làm tựa cho bài viết này. Tôi là dân “nửa Trung, nửa Nam” sống trên vùng đất tỉnh Bình-Tuy. Bình-Tuy quê-hương tôi trước 75, là một tỉnh cuối Trung đầu Nam, thuộc QK III, thành lập rất muộn so những tỉnh khác. Tôi yêu vùng đất nắng cháy da này, và đất có nơi cày lên sỏi đá, mặc dù Bình-Tuy, cái tên gọi thân thương ấy nay không còn nữa. Và cũng là một tỉnh có nhiều sự kiện đặc-biệt cuối đường từ sông Bến-Hải đến sông Dinh Lagi trước tháng 4.1975. (Người viết sử, xin đừng quên Bình-Tuy nhé?)
Nhạc viết về miền Trung có rất nhiều. Có đến 80% nhạc sĩ miền Nam viết về miền Trung, ít nhất mỗi người viết một bài. Lũ-lụt miền Trung từ ngàn xưa cho tới đời nay là chuyện bình thường, chỉ có bất thường là ngày nay hể có bão lụt là có người chết, có nhà xập, có núi đổ… Và người dân bị “trời hành cơn lụt mỗi năm” kêu không thấu trời, “Bề dưới” chỉ nghe đâu văng vẳng lời vàng thước ngọc của “Bề trên”:
-Lụt là tại mưa.
-Người chết là tại số
-Đói vì không có gạo
- Khát vì không có nước
Hi hi hi… cuộc đời này suy cho cùng,cũng… Bởi, Tại, Vì.
Ngoài ra, những “luận chứng” có khoa học:
-Cháy nhà là tại lửa
-Tai nạn giao-thông là tại xe
- Rừng mất gỗ là tại cưa
- Bùn trôi tại nước
-Núi xập tại núi già (giống như người già thì phải… xập!)
- Lũ lụt là tại nước
- Nước nhiều là tại mưa!
Và cũng “Không phải tại Toa, cũng không phải tại Moa, tại trời xui khiến… nên cả làng phải Mort” (Lời bài hát “Không phải tại chúng mình” của Ngọc-Văn &Thương-Linh: “Không phải tại em, cũng không phải tại anh, tại trời xui khiến nên chúng mình xa nhau”. Trớt quớt !
Ngày xưa, tôi đi bộ trên bờ biển từ Hải đăng Kê-Gà qua Khe-Cả đến Phan-Thiết, khát nước, tôi lấy tay đào cát biển, sẽ có nước mội chảy ra… “Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong-veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành” (*)…
“… Chính rừng Tây- Nguyên, từ trên Trường-sơn rất xa xôi kia, đêm ngày hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ-đại, bao-dung mà tảo-tần, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời. cất lấy, để dành, tằn-tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào. Để từng ngày, từng ngày chắt-chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi nảy nở, trường tồn trên dải đất trông chừng rất khắc nghiệt kia…” (**)
(Nói như vầy mới là “Luận-chứng” Khoa-học chứ!)
Ngày xưa, Chiến-tranh, miền Trung chìm trong biển lửa, ngày ngay, Hòa-bình, miền Trung lại chìm trong biển nước, đúng là “thủy hỏa đạo tặc”. Dân những vùng bị lũ mất niềm tin, chỉ còn tin ở ông trời, nên hỏi rằng: “Bao giờ mới được bình yên”? Ông trời trả lời: Bao giờ hết phá hoại, hết nói láo, hết nói dốc… mới được bình yên. (Ô, hãy đợi đấy, còn lâu lắm…)
Nhạc viết về miền Trung rất nhiều so với nhạc viết về miền Nam. Có lẽ miền Trung thiên-nhiên đã cho một phần đất ốm tong, triền dốc, biển thấp núi cao, nên chứa nhiều tai-ương nghiệt-ngã, làm ăn khó khăn. Cho nên người Trung biết tiết kiệm, làm 10 đồng, ăn 2 đồng thôi, còn 8 đồng để dành “tối lửa tắt đèn”, người Nam “ruộng cò bay thẳng cánh”, làm 9 đồng mượn thêm 1 đồng nữa cho đủ 10 đồng để xả láng, sáng làm… làm tiếp!
Nhìn chung, những nhạc sĩ miền Nam, trong đó có nhạc sĩ, ca sĩ Duy-Khánh viết nhạc về miền Trung nhiều nhất. Có lẽ ông là dân Quảng-Trị, sinh ra đã thấy bom đạn, đói nghèo, nắng cháy da, mưa thúi đất?
Bây giờ, tôi đã nghe nhạc “thiên tai, bão lũ” miền Trung, miền Bắc, Tây Nguyên Dalat (ngày xưa làm gì có bão lụt ở Dalat?) nhạc mới viết, mới toanh, của một vài nhạc sĩ cũng mới toanh, cũng đã chia sẻ tình thần nỗi đau dân của những miền có lũ lụt… Nhưng thành thật nói, nhạc sĩ đã nắm bắt thị trường, viết những bài hát mới này, không có điều gì mới lạ, chỉ quanh-quẩn những điều mà nhạc sĩ miền Nam trước 75 đã viết rồi, nhưng lại viết hay hơn! (Biết lắm-khổ-rồi-nói-mãi)
Trong vài ba chục bài hát viết về miền Trung, tôi xin chọn “Về miền Trung” của Phạm-Duy, và “Tiếng sông Hương” của Phạm-Đình-Chương, để cảm nhận cho bài viết ngắn này.
“… Về miền Trung!
Miền thùy dương bóng dừa ngàn thông
Thuyền ngược xuôi suốt một giòng sông dài
Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa
Con sông xưa thành phố cũ
Về miền Trung!
Người về đây sống cùng người dân
Lửa chinh chiến cháy bùng thôn làng điêu tàn…”
Người đi trên đống tro tàn
Thương em nhớ mẹ hương vàng về đâu
Chiều khô nước mắt rưng sầu
Thương thân thiếu phụ
Khóc đầu hài nhi…”
(Về miền Trung - Phạm-Duy)



Hết chinh chiến, rồi đến bão lụt:
“… Quê hương em nghèo lắm ai ơi
Mùa đông thiếu áo hè thì thiếu ăn
Trời rằng trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi
Khiến đau thương thấm tràn lấp
Thuận An để lan biển khơi ơi hò ơi…”
(“Tiếng sông hương” trong Hội Trùng-dương - Phạm-Đình-Chương)
Hai nhạc sĩ Phạm-Duy và Phạm-Đình-Chương chỉ cần hai bài hát nêu trên cũng thấy hai ông mến yêu đất nước miền Trung đến dường nào ! Hai bài nhạc này nằm trong số những nhạc phẩm “bất hủ” của thiên tài, vậy mà nó… “bất hát”!
Chiến-tranh đã hết, nhưng bão lụt vẫn còn.
Chiến-tranh là do con người, bão lụt do ông trời, phải vậy không ?



TRẦN-HỮU-NGƯ
(*)&(**) Tôi đọc bài viết của Hoài Nam, trích mấy câu trong “Minh triết của rừng” của Nguyên-Ngọc.