CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÔ ĐÔNG PHA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÔ ĐÔNG PHA. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2021

GÓC ĐUÒNG THI, TỐNG TỪ : BỐC TOÁN TỬ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 




Bốc Toán Tử 卜算子 :

          HOÀNG CHÂU ĐỊNH TUỆ VIỆN NGỤ CƯ TÁC. 
                       黄州定慧院寓居作



                                  蘇軾 (東坡)
                              Tô Thức (Đông Pha) 
                                                                   
* XUẤT XỨ :

       Người ta hay nói : "Đường Thi, Tống Từ". Tô Đông Pha người đời Tống, nên bài Bốc Toán Tử của ông làm là một bài Từ vì có câu dài ngắn khác nhau. Sang đời Tống, có thể vì bị qúa gò bó trói buộc bởi Luật cuả thơ Đường, nên thi nhân mới buông thả cho câu thơ dài ngắn khác nhau, vừa dễ diễn ý, diễn tình, vừa dễ dùng từ, vừa dễ phổ nhạc cho du dương trầm bổng... Nên thể TỪ xuất hiện,(giống như phong trào THƠ MỚI cuả ta hồi thời Tiền Chiến vậy!).
         Đây là bài Từ được Tô Đông Pha làm vào tháng 12 năm Nguyên Phong thứ 5, để gởi gắm tâm sự khi bị biếm đến Hoàng Châu ngụ ở Định Tuệ Viện sau vụ án Ô Đài Thi.
         Bốc Toán Tử 卜算子 chỉ là tên cuả một Thể loại Từ. Loại từ nầy gồm có 44 chữ chia làm hai vế, vế trên 22 chữ, vế dưới cũng 22 chữ, với bố cục 5-5-7-5 và gieo hai vần trắc ở cuối câu 2 và cuối câu 4. Bài Bốc Toán Tử nầy có tựa chính thức là :


黃州定慧院寓居作 HOÀNG CHÂU ĐỊNH TUỆ VIỆN NGỤ CƯ TÁC

 缺月挂疏桐,        Khuyết nguyệt quải sơ đồng, 
   漏斷人初靜。        Lậu đoạn nhân sơ tịnh.
   時見幽人獨往來,  Thời kiến u nhân độc vãng lai,
   縹緲孤鴻影。        Phiếu diễu cô hồng ảnh. 
   驚起卻回頭,        Kinh khởi khước hồi đầu,
   有恨無人省。        Hữu hận vô nhân tỉnh.
   揀盡寒枝不肯棲,  Giản tận hàn chi bất khẳng thê,
   楓落吳江冷。        Phong lạc Ngô giang lãnh .
           蘇軾 (東坡)                Tô Thức (Đông Pha).

* CHÚ THÍCH :
   - Sơ Đồng 疏桐 : SƠ 疏 nầy là Thưa thớt, hời hợt; nên SƠ ĐỒNG là Cây ngô đồng đã xơ xác lá vì trời đã ở buổi cuối đông.
   - Sơ Tịnh 初靜 : SƠ 初 nầy là Bắt đầu, là vừa mới. "Nhân chi Sơ, tính bản thiện" là chữ SƠ nầy, nên SƠ TỊNH là mới bắt đầu yên lặng.
   - U Nhân 幽人 : chỉ con người lặng lẽ thâm trầm như có tâm sự gì đó.
   - Phiếu Diễu 縹緲 : Xa xôi ẩn hiện, chập chờn như có như không.
   - Kinh Khởi 驚起 : Chợt giật mình, chợt kinh ngạc...
   - Tỉnh 省 : Xem xét, Khuyên lơn, VÔ NHÂN TỈNH 無人省 : Không có người nào để chia xẻ, tâm sự, an ủi nhau.
   - Giản 揀 : là Chọn lựa, chắc lọc.
   - Thê 棲 : là Đậu lại, là Nương tựa.

* NGHĨA BÀI THƠ:
                    Sáng tác khi cư ngụ ở Định Tuệ Viện
                                xứ Hoàng Châu

      Vầng trăng khuyết treo trên cây ngô đồng xơ xác lá, canh đã tàn tiếng người cũng mới vừa yên. Nhưng lại có một người  u nhã còn luôn đi lại một mình, như bóng chim hồng nhạn cô độc đang chấp chới bên trời, bỗng  giật mình quay đầu lại. Ôm mối hận trong lòng mà không ai người biết đến hỏi han. Đã chọn gần hết những cành cây lạnh mà vẫn chưa chịu đậu vào cành nào, đành chịu như chiếc lá phong rơi rụng xuống dòng Ngô Giang lạnh lẽo mà thôi !
          Mượn hình tượng của con chim nhạn cô độc giữa đêm trăng mà gởi gắm tâm sự cuả mình, cao ngạo như cánh hồng cô độc trên cao mà xem thường miệt thị những thói tục tầm thường thấp kém ! 
         Bài từ nầy còn có một dị bản nữa với câu cuối cùng là :
                寂寞沙洲冷.      Tịch mịch sa châu lãnh.
Có nghĩa :
           Những cồn cát giữa sông (sa châu) lạnh lẽo vắng tanh !                
         
* DIỄN NÔM :
                     Inline image

                         Trăng khuyết ngô đồng thưa,
                         Canh tàn người đà vắng.
                         Thơ thẩn kià ai vẫn vãng lai,
                         Cánh hồng hun hút bóng.

                         Giật mình chợt quay đầu,
                         Hận này ai người thấu ?
                         Cành lạnh khắp cùng khó tìm nơi,
                         Bãi vắng không nơi đậu !
       Lục bát :
                         Cành thưa trăng khuyết ngô đồng,
                         Canh tàn lặng tiếng người không ồn ào.
                         Một mình ngơ ngẩn ra vào,
                         Như cánh hồng vút trời cao một mình.

                         Quay đầu ngơ ngác làm thinh,
                         Hận không người tỏ biết tìm ai đây ?
                         Vòng quanh cành lạnh ngàn cây,
                         Vắng tanh cồn cát lạnh đầy ven sông !


                                                   杜紹德
                                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC



Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

TỐNG TỪ : THỦY ĐIỆU CA ĐẦU - TÔ ĐÔNG PHA - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


Chieu Duc
09:10, Th 4, 11 thg 9

Inline image

         Nhân mùa Trung Thu, mời tất cả cùng đọc bài từ "THỦY ĐIỆU CA ĐẦU" của Tô Đông Pha để cùng nhớ về nơi ngàn dặm xa xôi nào đó ...

Tống Từ : 

                   THỦY ĐIỆU CA ĐẦU   
                                      TÔ ĐÔNG PHA

                    
      Trung Thu Tống Hi Ninh năm thứ 9 (1076), Tô Thức 蘇軾 (Đông Pha 東坡) đang là Tri Châu Mật Châu. Vì chính kiến bất đồng với Tể Tướng đương triều là Vương An Thạch, nên mới bị trích hoạn đến nơi nầy. Trong khi Trung Thu là ngày trăng to nhất tròn nhất trong năm,và cũng là ngày Tết Đoàn Viên của mọi gia đình, thì ông lại phải ở nơi xa. Buồn nhớ gia đình và nhất là nhớ người em trai cùng chung chí hướng là Tô Triệt 蘇轍 (Tử Do 子由), nên nhân lúc tửu hứng mới viết nên bài từ bất hũ nầy với những câu mở đầu để đời là : 明月幾時有?把酒問青天。Minh nguyệt kỷ thời hữu ? Bả tửu vấn thanh thiên ... mà ta sẽ đọc dưới đây.
               
水調歌頭                  THỦY ĐIỆU CA ĐẦU

明月幾時有?           Minh nguyệt hà thời hữu ?
把酒問青天。           Bả tửu vấn thanh thiên.
不知天上宮闕,          Bất tri thiên thượng cung khuyết,
今夕是何年?           Kim tịch thị hà niên ?
我欲乘風歸去,        Ngã dục thừa phong quy khứ, 
唯恐瓊樓玉宇,        Duy khủng quỳnh lâu ngọc vũ,
高處不勝寒。          Cao xứ bất thắng hàn,
起舞弄清影,          Khởi vũ lộng thanh ảnh,
何似在人間。          Hà tự tại nhân gian.

轉朱閣,低綺戶,    Chuyển chu các, đê ỷ hộ,
照無眠。不應有恨, Chiếu vô miên. Bất ưng hữu hận,
何事長向別時圓?   Hà sự trường hướng biệt thời viên ?
人有悲歡離合,      Nhân hữu bi hoan ly hợp,
月有陰晴圓缺,      Nguyệt hữu âm tình viên khuyết,
此事古難全。         Thử sự cổ nan toàn.
但願人長久,         Đản nguyện nhân trường cửu,
千里共嬋娟。         Thiên lý cộng thuyền quyên.
        蘇軾                                           TÔTHỨC

    Inline image

* CHÚ THÍCH :

     - THỦY ĐIỆU CA ĐẦU 水調歌頭 : là Tên của một Từ Bài : Một thể loại Từ, chớ không phải tựa của bài Từ. Thường thì người ta hay lấy câu đầu để làm tựa cho bài Từ, nên bài Từ nầy được gọi là : 明月幾時有?Minh nguyệt kỷ thời hữu ?
     - Bả Tửu 把酒 : là cầm ly rượu nâng lên.
     - Thiên Thượng Cung Khuyết 天上宮闕 : là những cung điện ở trên trời.
     - Quỳnh Lâu Ngọc Vũ 瓊樓玉宇 : là Lâu đài được cất bằng ngọc quỳnh ngọc dao, chỉ nơi thần tiên ở trong thần thoại.
     - Bất Thắng Hàn 不勝寒 : Không thắng được cái lạnh, có nghĩa là rất lạnh, lạnh chịu không nổi.
     - Chu Các Ỷ Hộ 朱閣綺戶 : Chu Các là Lầu son; Ỷ Hộ là Cửa sổ có treo rèm đẹp.
     - Bi Hoan Ly Hợp 悲歡離合 : là Buồn, vui, tan, hợp.
     - Âm Tình Viên Khuyết 陰晴圓缺 : (Trăng có lúc) Mờ, Tỏ, Tròn, Mẻ (khuyết).
     - Thuyền Quyên 嬋娟 : là Cô gái đẹp, là những sự việc tốt đẹp, trong bài từ Tô dùng để chỉ Mặt Trăng tròn và đẹp.

* NGHĨA BÀI TỪ :

        Từ lúc nào đã có vầng trăng sáng ? Ta nâng ly rượu mà hỏi trời xanh. Không biết là cung điện ở trên trời cao kia, đêm nay là năm tháng nào ? Ta muốn cởi gió để đi về trên ấy, chỉ e rằng cung vàng điện ngọc ở trên cao kia giá lạnh vô cùng. Khi ta múa lên thì bóng của ta cũng vũ lộng thanh tao dưới ánh trăng không giống như là ở nhân gian nầy.
        Bóng trăng chiếu qua lầu son, len lỏi xuống tận khung cửa sổ có rèm hoa đẹp, chiếu vào ta là người chưa ngủ được. Trăng chắc cũng chẳng có oán hận gì với người, nhưng tại sao lại cứ tròn vành vạnh trong khi con người đang chia ly cách biệt ? Người thì có bi hoan ly hợp, trăng thì có tỏ mờ tròn khuyết. Đó là chuyện từ xưa đến nay khó mà chu toàn cho được. Chỉ mong là người mãi mãi được trường cửu an lành cho dù cách xa ngàn dặm vẫn có thể cùng ngắm vầng trăng đẹp với nhau.
     
        Bài từ nầy Tô Đông Pha làm để nhớ về người em trai tài hoa suýt soát tuổi với mình là Tô Tử Do (Tô Triệt). Hai anh em đã cùng vùi mài kinh sử, cùng đậu đạt, cùng làm quan và nhất là cùng chính kiến với nhau, nhưng giờ phải cách biệt vì mình bị đày đi xa trong đêm trăng tròn và sáng nhất trong năm : Đêm Trung Thu, cũng là đêm Đoàn Viên của gia đình. Nhớ em trai, nhưng vì lời thơ qúa đẹp qúa mượt mà ướt át, nên đời sau lại vận dụng và mượn những câu từ nầy để nhớ về người yêu dấu ở nơi xa. Ví dụ như hai câu cuối :
                 但願人長久,      Đản nguyện nhân trường cửu,
                 千里共嬋娟。      Thiên lý cộng thuyền quyên.
Có nghĩa :
                      Những mong người vẫn an lành,
               Nghìn trùng cùng ngắm trăng thanh đêm này.
   

               Inline image

* DIỄN NÔM :

                THỦY ĐIỆU CA ĐẦU


             Trăng thanh có tự khi nào ?
             Nâng ly ta hỏi trời cao mấy lời.
             Đêm nay cung khuyết trên trời,
             Là năm nào của cỏi đời thế gian ?
             Thừa phong ta muốn về ngang,
             Chỉnh e lầu ngọc điện vàng lạnh căm.
             Một mình đối bóng đêm trăng,
             Phiêu diêu thanh thản cỏi trần nào hơn !
             .....
             Trăng ngà bóng xế lầu son,
             Xuyên qua song đẹp người còn trở trăn.
             Ánh trăng chẳng hận chẳng rằng,
             Cớ sao người khuyết mà trăng lại tròn ?
             .....
             Người đời vui hợp buồn tan,
             Trăng mờ rồi tỏ khuyết tròn bao năm.
             Cổ kim luyến ánh trăng rằm,
             Sự đời khó vẹn trách lầm trời xanh.
             Những mong người vẫn an lành,
             Nghìn trùng cùng ngắm trăng thanh đêm này !

                                                ĐỖ CHIÊU ĐỨC
           
* Bài từ nầy đã được phổ nhạc. Mời bấm vào link dưới đây để nghe cố ca sĩ nổi tiếng của Đài Loan là ĐẶNG LỆ QUÂN hát.

    

Inline image






Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

NHỮNG BÀI THƠ CHỮ HÁN DO NHÃ MY PHỎNG DỊCH

 


桃花溪  
隱隱飛橋隔野煙,
石磯西畔問漁船。
桃花盡日隨流水,
洞在清溪何處邊。
 張旭

ĐÀO HOA KHÊ 
TRƯƠNG HÚC

 Phiên âm Hán Việt

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên
Thạch ky tây bạn vấn ngư thuyền
Đào hoa tận nhựt tùy lưu thủy
Động tại thanh khê hà xứ biên?

 Dịch:

 SUỐI ĐÀO HOA

 Cầu treo ẩn hiện khói đồng
Hỏi ông thuyền đậu bên dòng bờ tây
Hoa đào theo nước lao xao
Biết chăng lối động đường vào ở đâu?






烏棲曲    

姑蘇台上烏棲時,
吳王宮裡醉西施。
吳歌楚舞歡未畢,
青山欲含半邊日。
銀箭金壺漏水多,
起看秋月墜江波,
東方漸高奈樂何。

 李白
Ô THÊ KHÚC 
LÝ BẠCH

 Phiên âm Hán Việt

Cô tô đài thượng ô thê thì
Ngô Vương cung lúy túy Tây Thi
Ngô ca Sở vũ hoan vị tất
Thanh sơn dục hàm bán biên nhật
Ngân tiển kim hồ lậu thủy đa
Khởi khan thu nguyệt trung giang hà
Đông phương tiệm cao nại lạc hà


Dịch:
 KHÚC CA QUẠ ĐẬU

 Cô Tô đàn quạ tụ về
Vua Ngô Tây Tử mãi mê vui vầy
Hát Ngô múa Sở kéo dài
Mặt trời xuống thấp non đoài xa xa
Bình vàng tên bạc trôi qua
Trăng thu đã lặn sóng xa trập trùng
Phương tây trời đã ửng hồng
Cuộc vui kéo mãi vẫn không chịu tàn



TÂY THI 

TÔ ĐÔNG PHA


Phiên âm Hán Việt

Thủy quang liễm diễm tình phương hảo
Sơn sắc không mông vũ diệc kỳ
Dục bá Tây Hồ tỉ Tây Tử
Đạm trang nồng mật tốn tương nghi

Dịch :

TÂY THI


Nắng dọi lượn lờ bóng nước xao
Mưa tuôn vẫn sắc nước xanh màu
Tây hồ ví tựa Tây Thi vậy
Trang điểm thế nào đẹp như nhau


西施石  
西施昔日浣紗津
石上青苔思殺人
一去姑蘇不復返
岸傍桃李為誰春


 樓穎-


TÂY THI THẠCH 

LÂU DĨNH 

(Phiên âm Hán Việt)

Tây Thi tích nhựt tẩy sa tân
Thạch thượng thanh đài sầu sát nhân
Nhứt khứ Cô Tô bất phục phản
Ngạn bàng đào lý vị thùy xuân

Dịch :
PHIẾN ĐÁ TÂY THI

Tây Thi giặt lụa bến sông này
Đá bám rêu buồn dạ xót thay
Cô Tô một chuyến đi không lại
Đào lý bên sông vẫn nở đầy.

  
 閨怨   
                          閨中少婦不知愁,                       
春日凝妝上翠樓。
忽見陌頭楊柳色,
悔教夫婿覓封侯
 王昌齡



KHUÊ OÁN
Phiên âm Hán Việt

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhựt hương trang thượng thúy lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu
VƯƠNG XƯƠNG LINH
Dịch:

 LỜI THAN KHUÊ PHỤ

Trong cung thiếu phụ không sầu
Ngày xuân trang điểm lên lầu nhìn quanh
Giật mình thấy sắc liễu xanh
Tiếc chồng vạn dặm công danh chưa về.


           春望                   XUÂN VỌNG

                                  ( Phiên âm Hán Việt)
      
    國破山河在,         Quốc phá sơn hà tại,
    城春草木深。         Thành xuân thảo mộc thâm.
    感時花濺淚,         Cảm thời hoa tiễn lê,
    恨別鳥驚心。         Hận biệt điểu kinh tâm.
    烽火連三月,         Phong hỏa liên tam nguyệt,
    家書抵萬金。         Gia thư để vạn kim.
    白頭搔更短,         Bach. đầu tao cánh đoản,
    渾欲不勝簪。         Hồn dục bất thắng trâm.
   杜甫                         ĐỖ PHỦ
。
MN Phỏng dịch:

XUÂN VỌNG
Nước đã mất núi sông còn đó
Trời vào xuân cây cỏ xanh rì
Chim buồn hoảng sợ phân ly
Cỏ hoa rơi lệ sầu bi những ngày
Lửa binh ba tháng dài ly hận
Nhận thư nhà mỗi bận có vui
Bạc đầu tóc rụng dần thôi
Lưa thưa khó búi lấy gì cài trâm !
                           
題都城南莊
去年今日此門中,
人面桃花相映紅;
人面不知何處去,
桃花依舊笑東風
 崔護

ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG 
THÔI HỘ

 Phiên âm Hán Việt

Khứ niên kim nhựt thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong


Dịch:



 ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG


Năm xưa bên cửa ngày này
Đào hoa sánh tựa má ai ửng hồng
Hỏi người năm trước còn không
Hoa đào cùng với gió Đông vẫn cười.

搗衣篇  
閨里佳人年十余,
顰蛾對影恨離居。
忽逢江上春歸燕,
銜得雲中尺素書。
玉手開緘長嘆息,
狂夫猶戍交河北。
萬里交河水北流,
愿為雙燕泛中洲。
君邊雲擁青絲騎,
妾處苔生紅粉樓。
樓上春風日將歇,
誰能攬鏡看愁發。
曉吹員管隨落花,
夜搗戎衣向明月。
明月高高刻漏長,
真珠帘箔掩蘭堂。
橫垂寶幄同心結,
半拂瓊筵蘇合香。
瓊筵寶幄連枝錦,
燈燭熒熒照孤寢。
有便憑將金剪刀,
為君留下相思枕。
摘盡庭蘭不見君,
紅巾拭淚生氤氳。
明年若更征邊塞,
愿作陽臺一斷雲。

 李白
ĐẢO Y THIÊN

 LÝ BẠCH 


Phiên âm Hán Việt

Khuê lý giai nhân niên thập dư
Tần nga đối ảnh hận ly cư
Hốt phùng giang thượng xuân qui yến
Hàm đắc vân trung xích tố thư
Ngọc thủ khai giam thường khan thức
Cuồng phu do thú Giao hà bắc
Vạn lý Giao hà thủy bắc lưu
Nguyện vi song điểu phiếm trung châu
Quân biên vân ủng thanh ty kỵ
Thiếp xứ đài sinh hồng phấn lâu
Lâu thượng xuân phong nhật tương yết
Thùy năng lãm kính khan sầu phát
Hiểu xuy niên quản tùy lạc hoa
Dạ đảo nhung y hướng minh nguyệt
Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường
Chân châu liêm bạc yểm lan đường
Hoành thùy bảo ác đồng tâm kết
Bán nhất quỳnh diên tô hợp hương
Quỳnh diên bảo ác liên chi cẩm
Đăng chúc quỳnh quỳnh chiếu cô tấm
Hữu sứ bằng tương kim tiển đao
Vi quân lưu hạ tương tư chẩm
Trích tận đình lan bất kiến quân
Hồng cân thức lệ sinh nhân uân
Minh niên nhược canh chinh biên tái
Nguyện tác dương đài nhứt đoạn vân


SL phỏng dịch :



BÀI CA GIẶT ÁO


Mười năm vắng lặng phòng khuê
Chau mày một bóng não nề sầu dâng
Xuân về én liệng bên sông
Trong mây miệng ngậm mấy dòng tin xa
Thở dài tay ngọc mở ra
Biết chàng còn ở ngoài xa Giao hà
Sông Giao cách biệt nơi nào
Nguyện làm đôi én trời cao bay cùng
Ngựa chàng mây phủ mông lung
Lầu hồng phận thiếp xanh cùng cỏ rêu
Gió xuân lặng lẽ đìu hiu
Ngắm gương thấy tóc bạc nhiều tháng năm
Hoa rơi tiếng sáo xa xăm
Áo nhung đấp phủ đêm nằm trăng sao
Trăng lên thời khắc qua mau
Rèm buông phủ kín hiên sau lạnh buồn
Bức màn kết giải đồng tâm
Hương thơm rũ bỏ tràn trên chiếu nằm
Gấm hoa ai dệt chiếu màn
Chỗ nằm hiu quạnh riêng hàng nến soi
Một mai tin đã tới nơi
Tương tư làm gối cùng mời người xưa
Tháng ngày thắm thoát thoi đưa
Khăn hồng thấm lệ người xa chưa về
Năm sau chàng vẫn ngoài biên
Thiếp xin làm áng mây trên Dương đài







所見行                         SỞ KIẾN HÀNH                 NHỮNG ĐIỀU TRÔNG  THẤY
有婦攜三兒,                     Hữu phụ huề tam nhi                         Có mẹ dắt ba con
相將坐道旁。                     Tương tương tọa đạo bàng                Ngồi với nhau bên đường
小者在懷中,                     Tiểu giả tại hoài trung                        Đứa nhỏ ẵm trong bụng                    
大者持竹筐。                     Đại giả trì trúc khuông                      Đứa lớn tay xách giỏ
筐中何所盛,                     Khuông trung hà sở thịnh                 Trong giỏ có những gì        
藜藿雜枇糠。                     Lê hoắc tạp tì khang                          Rau quả và tấm cám 
日晏不得食,                     Nhựt án bất đắc thực                        Trưa rồi vẫn chưa ăn
衣裙何框禳。                    Y quần hà khuông nhương                Áo quần rách thê thảm
見人不仰視,                    Kiến nhân bất ngưỡng thị                 Gặp ai không dám nhìn 
淚流襟浪浪。                     Lệ lưu khâm lang lang                      Nước mắt chảy quanh áo
群兒且喜笑 ,                    Quần nhi thả hỉ tiếu                          Lũ trẻ mãi cười vui
不知母心傷。                      Bất tri mẫu tâm thương                    Đâu biết lòng mẹ khổ       
母心傷如何,                      Mẫu tâm thương như hà                   Lòng mẹ sao đau xót                
歲饑流異鄉。                       Tuế cơ lưu dị hương                         Năm đói lạc quê người         
異鄉稍豐熟,                      Dị hương sảo phong thục                 Quê người mùa màng tốt            
米價不甚昂。                      Mễ giá bất thậm ngang                     Giá gạo không quá cao
不惜棄鄉土,                      Bất   tích khí hương thổ                    Bỏ làng nước ra đi              
苟圖救生方。                      Cầu đồ cứu sinh phương                   Để tìm phương sống sót               
一人竭傭力,                     Nhứt nhân kiệt dung lực                   Cố sức mình làm mướn
不充四口糧。                      Bất sung tứ khẩu lương                    Không đủ bốn miệng ăn    
沿街日乞食,                      Duyên nhai nhựt khất thực               Ngày ngày phải khất thực     
此計安可長。                      Thử kế an khả trường                     Cách ấy đâu lâu dài
眼下委溝壑,                      Nhãn hạ ủy câu thác                      Mai bỏ xác giữa đường
血肉飼豺狼。                      Huyết nhục tự sài lang                   Máu thịt nuôi hùm sói                                  
母死不足恤,                       Mẫu tử bất túc tuất                         Mẹ chết đã đành thôi                  
撫兒增斷腸。                     Phủ nhi tăng đoạn trường                Ôm con càng đứt ruột
奇痛在心頭,                      Kỳ thống tại tâm đầu                      Đau đớn tận tim gan
天日皆為黃。                     Thiên nhựt giai vị hoàng                  Mặt trời xuống úa vàng             
陰風飄然至,                     Âm phong phiêu nhiên chí               Gió lạnh thổi ào ào
行人亦悽惶。                     Hành nhân diệc thê hoàng            Khách qua đường thương xót                    
昨宵西河驛 ,                       Tạc tiêu Tây Hà vực                        Đêm qua ở Tây Hà                                    
供具何張黃。                     Cung cụ hà trương hoàng                Yến tiệc linh đình quá
鹿筋雜魚翅,                     Lộc cân tạp ngư xí                          Gân hưu cùng vi cá                   
滿棹陳豬羊。                     Mãn trác trần  trư dương                  Đầy bàn heo dê gà                   
長官不下箸,                     Trưởng quan bất hạ trợ                   Quan lớn không đụng đuã
小們只略嘗。                     Tiểu   quan chỉ lược thường              Tùy tùng chỉ nếm qua
撥棄無顧惜,                    Bát   khí vô cố tích                          Vứt bỏ không hề tiếc
鄰狗厭膏粱。                    Lân   cẩu yếm cao lương                 Chó còn chán thức ngon
不知官道上,                     Bất   tri quan đạo trường                   Nào ai biết bên đường                                 
有此窮兒娘。                     Hữu   thử cùng nhi nương                Mẹ con đang  đói lã
誰人寫此圖            ,         Thuỳ    nhân tả thử đồ                      Thế gian ai vẽ đươc
持以奉君王。                     Tri   dĩ phụng quân vương             Đem tranh này dâng vua
         阮攸                                           NGUYỄN DU                    NM phỏng dịch