CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

NHỮNG TỔ CHIM DỒNG DỘC ĐÃ XA - TỪ KẾ TƯỜNG



 


NHỮNG TỔ CHIM DỒNG DỘC ĐÃ XA

Ngày nhỏ tôi ở quê ngoại, phía trước nhà tôi là một giồng cát, chu vi rộng bằng 2 công đất, cứ theo hai mùa mưa nắng mà mẹ tôi trồng hoa màu. Mùa nắng thì trồng dưa, mùa mưa thì trồng bí, xen kẽ vào mỗi thời vụ trồng thêm cà, đậu xanh, đậu phộng, bắp… nên giồng cát quanh năm phủ một màu xanh ngăn ngắt dưới nền trời cũng xanh thăm thẳm những đám mây màu trứng sáo xa ngút mắt như những cơn mơ thời tuổi nhỏ.
Bao quanh giồng cát ở 3 mặt là 3 hàng keo gai ken dày, cây keo gai lá nhỏ, xanh mướt chỉ có hai loài thích ăn, dưới đất là đàn dê luôn háu đói ăn tạp, trên không là bầy quýt tàu, một loại bọ cánh cứng to cỡ bọ rầy màu xanh rất đẹp đẻ trứng nhỏ xíu như trứng thằn lằn, nhiều màu mà trẻ con thích mê, thường bắt về nuôi trong hộp thuốc Tàu để… ngắm chơi. Những con quýt tàu thường đậu trên những tán keo gai ngủ ngày, lừ đừ, lười biếng cứ gặm lá keo gai non chứ không muốn bay nên trẻ con lấy cây thọc là rơi xuốn đất mà những con quýt tàu thích ngủ ngày vẫn chưa tỉnh ngủ.
Trong ký ức của tôi mùa keo gái chín cũng là mùa chim dồng dộc làm tổ. Những trái keo gai khi còn non thì màu xanh, đặc biệt khi chín thì… màu trắng sữa, vỏ nứt ra có thể nhìn thấy những “mắt” trái keo gai màu tím trắng ngon mắt bên trong, không chỉ có loài chim cưỡng bông thích ăn mà trẻ con cũng rất thích vì nó có mùi vị rất lạ, một loại trái cây hoang dại, rất đồng quê và ghi đậm vào hoài niệm một thời thơ ấu của bất kỳ ai luôn thổn thức với nỗi nhớ quê nhà.
Thủa ấy, tôi không nhớ chính xác bằng ngày tháng, chỉ khi một sáng thức đậy thấy giồng bắp của mẹ tôi trái no tròn, ngậm những tua râu hung hung đỏ nhưng chưa tới lúc hạt dày, đang đợi ngày hái trái và thảm lúa trên cánh đồng trước mặt đang trĩu bông, ngả màu vàng ươm như nắng mai thì cũng là lúc trên hàng keo gai trĩu trái chín chi chít lũ chim dồng dộc đang về xây tổ, đẻ trứng.
Không hiểu sao tôi rất thích nhìn những đôi vợ chồng chim dồng dộc tha “nguyên vật liệu” xây dựng từ trong thiên nhiên về chăm chỉ đan cái tổ hình chiếc vớ to treo lơ lững trên những nhánh cây keo gai. Có lẽ trong họ hàng nhà chim không loài nào siêng năng, cần mẫn, chăm chỉ và kỳ công xây chiếc tổ đẹp lạ lùng như chim dồng dộc. Và cũng không loài chim nào như dồng dộc chọn lựa loại “nguyên vật liệu” xây dựng tổ “cực kỳ” thơm mùi thiên nhiên, cây cỏ từ khi còn tươi đến khi khô giòn thành chiếc tổ tuyệt đẹp.
Mỗi ngày từ sáng sớm đôi vợ chồng dồng dộc khoác bộ cánh nâu, sọc đen trống mái phân biệt rất rõ bởi chim trống có cái đầu màu vàng nghệ (nên còn gọi là dồng dộc nghệ) bay đi bay về, miệng ngậm một sợi chỉ rất mảnh, đó là chỉ mà đôi vợ chồng chim dùng chiếc mỏ nhỏ xíu tướt trên những cọng lá tranh, lá sả, yếm bọc buồng dừa để về đan tổ. Bởi thế nên tổ chim dồng dộc ngoài sự kỳ công còn có mùi thơm đặc trưng của mùi lá sả, lá tranh mãi đến khi chúng ấp trứng nở con vẫn không bay thứ mùi đặc trưng đồng nội này.
Chiếc tổ của chim dồng dộc hình chiếc vớ, miệng tròn chúc xuống đất, đường kín miệng tổ chỉ cỡ cổ tay trẻ con nối với phần thân tổ phình ra giống cái bao tử (dạ dày) là nơi dùng ấp trứng lại nối với đoạn cuối của chiếc tổ tóp lại, toàn bộ độ dài chiếc tổ dồng dộc khoảng 3-4 tấc được treo lơ lửng trên chót nhánh cây keo gai mang đặc tính vùa cảnh giác, vừa phòng hộ đến độ gần như tuyệt đối an toàn để không có một “ địch thủ” nào vào được bên trong chiếc tổ kiến tạo đơn giản mà rất hiểm hóc này để ăn trứng hay ăn chim con.
Tôi cho rằng chiếc tổ chim dồng dộc là một công trình kiến trúc độc đáo, vừa công phu, mà lại vừa… đơn giản khiến cho bàn tay con người, hoặc tay nghệ nhân tuyệt kỹ cũng khó mà bắt chước được. Thế nhưng trong thời gian ngắn những đôi chim dồng dộc chăm chỉ ấy đã hoàn thành những chiếc tổ màu xanh lá cỏ hình chiếc vớ dành cho chim mái ấy, treo lủng lẳng khắp hàng keo gai bên cạnh những chiếc tổ dành cho chim trống đứng bảo vệ tổ thời kỳ chim mái ấp trứng được đan kết đơn giãn hơn giống như nửa quả bóng cao su của trẻ con chơi úp lại có một sợi dây kéo ngang cho chim trống ngủ. Và rồi cũng trong chớp mắt khi lúa chín vàng đồng cũng là lúc tôi nghe thấy tiếng chim non kêu lít nhít đòi chim bố mẹ mớm mồi trên những chiếc tổ đã ngã màu vàng rơm, thôi thúc tôi kiếm cách trèo lên khám phá thế giới không gian đầy tiếng chim ấy.
Nhưng để thò tay vào được những tổ chim dồng dộc mát mịn da tay, thơm mùi hương ngai ngái của cỏ tranh hoang dại để khám phá xem tổ chim có mấy trứng hoặc nở được bao nhiêu chim non, đã “ra ràng”, tập bay chưa, để bắt xuống nuôi thật không phải dễ dàng. Cây keo gai tất nhiên cành nhánh đầy gai nhọn không leo lên được, nếu leo lên cũng không thể bám cành đu ra tận tổ chim treo lắt lẻo giữa không gian. Lũ trẻ con chúng tôi rất sáng tạo, bắt hai cây thang tre chéo nhau, một đứa dứng vịn bên này tạo thế vững chắc, đứa bên kia leo từng bậc lên tới tổ chim dồng dộc.
Thường một tổ chim dồng dộc nở 3-4 con chim non, chim tập bay là bắt xuống nuôi được bằng cách nhai gạo sống mớm cho chim cho đến khi chúng mổ được gạo, thóc thì… thả ra cho chúng trở về với thiên nhiên cao rộng chứ chim dồng dộc chỉ biết kêu rít rít tối ngày mà không hót được. Người ta, đặc biệt là trẻ con chỉ nuôi chim sáo, chim cưỡng, chim nhồng để chúng nói, hoặc chích chòe, chào mào… để chúng hót chứ không ai tốn công sức để nuôi chim dồng dộc.
Và cũng kỳ lạ thay, hết mùa chim non này tới mùa chim non khác, những bầy chim dồng dộc đông đảo dần, rồi vào một hôm cánh đồng quê làng vừa xong vụ gặt bầy chim dồng dộc con theo cha mẹ chúng rời tổ bay khỏi những hàng keo gai, để lại những chiếc tổ hình “dạ dày”, hình “vớ” lắt lẻo, đong đưa, hoàn toàn trống vắng, lặng im trên những nhành keo gai trong gió lộng thổi suốt qua giồng bắp nhà tôi.
Không ai biết bầy chim dồng dộc bay về phương nào cho tới mùa lúa xây bông vàng rực năm sau chúng lại rủ nhau về kêu tíu tít, bận rộn đan những chiếc tổ mới bên cạnh những chiếc tổ cũ cái còn, cái mất vì bọn trẻ con chúng tôi thường thọc những tổ chim dồng dọc xuống, nhét một trái bưỡi non vào, cuộn tròn lại thành một quả banh rơm để chơi đá banh.
Đặc tính của loài chim dồng dộc không bao giờ sống trong tổ cũ mà phải xây chiếc tổ mới và, cũng chỉ trong chớp mắt trên những hàng keo gai trước nhà tôi lại lủng lẳng những tổ chim hình chiếc vớ và lại ríu rít tiếng chim non.
Nhưng đó là chuyện của ký ức, của thời thơ ấu. Sau này tôi về lại quê làng tìm đỏ mắt cũng không thấy một tổ chim dồng dộc của tuổi thơ.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

TẾT ĐOAN NGỌ ĐỌC THƠ PHẠM NGUYỄN DU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC



Góc Việt Thi : 
                      TẾT ĐOAN NGỌ đọc thơ PHẠM NGUYỄN DU



                                                              Nhà thờ Phạm Nguyễn Du ở Đặng Điền

       Ai cũng biết NGUYỄN DU 阮攸 (1766-1820) tác giả của Truyện Kiều được người Việt kính trọng và tôn xưng là "Đại Thi Hào Dân Tộc", được UNESCO vinh danh là "Danh nhân Văn hóa Thế giới". Nhưng rất ít ai biết đến PHẠM NGUYỄN DU 范阮攸 (1740-1786) là nhà sử học, nhà thơ Việt Nam thời Lê trung hưng đi trước NGUYỄN DU một thế hệ. Nay nhân Tiết Đoan Ngọ cận kề, ta cùng đọc thơ và tìm hiểu về nhà thơ này nhé.                         
       PHẠM NGUYỄN DU 范阮攸 (1740-1786) vốn tên là Vĩ Khiêm 撝謙, tự là Hiếu Đức 好德, Dưỡng Hiên 養軒, hiệu là Thạch Động 石洞. ông là người làng Đặng Điền, tổng Đặng Xá, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An (nay là xóm Tiên Lạc, xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Năm 1773, ông dự thi Hương, đỗ Giải nguyên. Khi chúa Trịnh Sâm cử tướng Hoàng Ngũ Phúc mang quân vào đánh Nam Hà, chiếm được vùng Thuận Hóa (1774), ông nhận lệnh vào đấy giúp việc cho viên tướng này. Năm 1779, ông đỗ Hội nguyên (Hoàng giáp), cùng khoa với Phạm Quý Thích dưới triều vua Lê Hiển Tông. Ông là anh vợ của Nguyễn Hữu Chỉnh, từng giữ các chức vụ Giám sát ngự sử đạo Hải Dương, Thiêm sai, Đông các Đại học sĩ tại triều. Một thời gian sau, ông được về làm Đốc đồng tại quê nhà (Nghệ An). Khi quân Tây Sơn ra Bắc Hà (1786), ông không ra giúp mà lánh vào rừng rồi mất cùng năm đó, ôm theo lòng trung với nhà Lê lúc chỉ mới 47 tuổi.

      Phạm Nguyễn Du có 5 tác phẩm đều bằng chữ Hán, đó là :
         - Thạch Động Tiên Sinh Thi Tập 石洞先生詩集
         - Đoạn Trường Lục 斷腸錄
         - Độc Sử Si Tưởng 讀史癡想
         - Thạch Động Văn Sao 石洞文抄
         - Thạch Động Thi Sao 石洞詩抄

      Sau đây là 3 bài thơ trong Đoạn Trường Lục 斷腸錄; tập thơ khóc vợ làm từ lúc đưa linh cữu vợ xuống thuyền về quê cho đến khi trở lại Thăng Long. Trên đường đi nhằm lúc Tiết Đoan Ngọ nên ông mới xúc động tâm tình làm ba bài thơ thương nhớ vợ có tựa rất dài như sau :"Sơ Ngũ Nhật Trực Đoan Ngọ Tiết Tể Sinh Vi Lễ Nhân Thành Tam Luật 初五日直端午節宰牲為禮,因成三律". Có nghĩa : "Ngày mồng 5 nhằm Tiết Đoan Ngọ, giết thịt làm lễ, nhân đó làm ba bài thơ luật". Ba bài thơ lần lượt như sau :


                                       Bia mộ của Phạm Nguyễn Du

                其一                           Kỳ Nhất
         客中端午蓋年年,    Khách trung Đoan Ngọ cái niên niên,
         此度鰥夫又在船。    Thử độ quan phu hựu tại thuyền.
         文字無神生死骨,    Văn tự vô thần sinh tử cốt,
         江山有恨葬良緣。    Giang sơn hữu hận táng lương duyên.
         他鄉不欲高聲哭,    Tha hương bất dục cao thanh khốc,
         悶思仍逢俗口喧。    Muộn tứ nhưng phùng tục khẩu huyên.
         一段奇愁娘信否,    Nhất đoạn kỳ sầu nương tín phủ ?
         想今已是廣寒仙。    Tưởng kim dĩ thị Quảng Hàn tiên !

                其二                           Kỳ Nhị
         娘今安在在仙鄉,    Nương kim an tại tại tiên hương ?
         此日前年蓋此娘。    Thử nhật tiền niên cái thử nương.
         造化何仇誅淑慧,    Tạo hóa hà cừu tru thục tuệ,
         文章無力起糟糠。    Văn chương vô lực khởi tào khang.
         薄儀草草陳船次,    Bạc nghi thảo thảo trần thuyền thứ,
         暗淚汪汪染柩旁。    Ám lệ uông uông nhiễm cữu bàng.
         岸上白沙流上客,    Ngạn thượng bạch sa lưu thượng khách,
         漠然誰可話衷腸。    Mạc nhiên thuỳ khả thoại trung trường ?

                其三                            Kỳ Tam
         香魂今日定隨吾,    Hương hồn kim nhật định tùy ngô,
         醒不相逢夢又無。    Tỉnh bất tương phùng mộng hựu vô.
         使我必生卿必死,    Sử ngã tất sanh khanh tất tử,
         蓋余為婦妳為夫。    Cái dư vi phụ nễ vi phu.
         江山不可埋愁恨,    Giang sơn bất khả mai sầu hận,
         天地何如儉樂娛。    Thiên địc hà như kiệm lạc ngu.
         心事獨知還獨笑,    Tâm sự độc tri hoàn độc tiếu,
         剩將盃酒輔嗚呼。    Thặng tương bôi tửu phó ô hô !

* Chú thích :
    - Quan Phu 鰥夫 : Chỉ người đàn ông góa vợ hay lớn tuổi rồi mà chưa có vợ.
    - Vô Thần 無神 : Ý nói Không có phép thần thông.
    - Nhưng Phùng 仍逢 : là Không muốn gặp mà vẫn gặp.
    - Nhất Đoạn Kỳ Sầu 一段奇愁 : Không phải là một mối sầu kỳ quặc, mà là một nỗi buồn đăc biệt khác thường.
    - Quảng Hàn Tiên 廣寒仙 : Vốn là tên riêng của Quế Hoa. Theo truyền thuyết Trung Hoa xưa, trên cung trăng có cây Nguyệt Quế, nên cung trăng còn được gọi là "Cung Quế" hay "Cung Quảng Hàn". Như trong thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :
                  Cung Quế có ai ngồi đấy chửa ?
                  Cành đa xin chị nhắc lên chơi !
"Quảng Hàn Tiên" trong bài thơ chỉ mượn ý trên để chỉ "... nàng đã là Tiên ở cung trăng rồi" mà thôi.
                     
    - An Tại 安在 : AN ở đây là Nghi vấn tự, thường dùng để đặt vấn đề, như :
       * AN TẠI ? là "Ở đâu ?"; "Còn ở đâu ?"...
       * AN NĂNG ? là "Sao có thể ?", là "Làm sao có thể được ?"...
    - Tiên Hương 仙鄉 : là Quê hương của tiên, là Cỏi tiên.
    - Thục Tuệ 淑慧 : Hiền thục và thông tuê; Hiền lành và thông minh.
    - Tao Khang 糟糠 : Ta hay đọc nhầm thành TÀO KHANG. TAO là TAO PHÁCH 糟粕 là Cặn bã; KHANG 糠 là Cám, là trấu. Nên TAO KHANG là phần cặn bã của hạt lúa sau khi đã xay thành gạo, tức là cám và tấm mẳn. Ngày xưa, chỉ có nhà giàu sang khá giả mới được ăn cơm, còn nhà nghèo khó chỉ ăn tấm mẳn mà thôi. Nên thành ngữ TAO KHANG CHI THÊ 糟糠之妻 là Người vợ tấm mẳn, chỉ người vợ cả đã cùng chồng sống qua những ngày nghèo khổ khó khăn của lúc ban đầu. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Hậu Hán Thư như sau :
     Đầu đời Đông Hán, Quang Võ Đế Lưu Tú trọng dụng thị thần là Tống Hoằng, phong làm Thái Trung Đại Phu. Chị của Lưu Tú ở góa lâu ngày lại phải lòng Tống Hoằng, nên Lưu Tú muốn gả chị mình cho Tống Hoằng, bèn hỏi Hoằng về phép giao tế ở đời với cái nhìn "Giàu đổi bạn, Sang đổi vợ" như thế nào?. Hoằng đáp là : "Bần tiện chi giao bất khả vong, TAO KHANG chi thê bất hạ đường 貧賤之交不可忘,糟糠之妻不下堂". Có nghĩa :"Những người bạn lúc ta còn nghèo hèn thì không thể quên; Người vợ tấm mẳn lúc nghèo khó thì không thể bỏ được". Quang Võ Đế Lưu Tú nghe xong bèn thôi, không dám ép Tống Hoằng lấy chị của mình nữa. Nên...
     TAO KHANG chỉ người vợ gắn bó với ta từ thuở nghèo hèn, nói chung là vợ lớn, vợ cả thì không thể bạc đãi được. Trong Truyện Kiều, khi đã được Thúc Sinh chuộc về từ lầu xanh, Thúy Kiều cũng biết thân phận lẻ mọn của mình, nên khuyên Thúc về thăm vợ cả là Hoạn Thư. Cụ Nguyễn Du đã viết nên tình cảnh lúc bấy giờ là :
                        Tin nhà ngày một vắng tin,
                  Mặn tình cát lũy, nhạt tình TAO KHANG.


           
    - Bạc Nghi Thảo Thảo 薄儀草草 :BẠC NGHI là Nghi thức đạm bạc; THẢO THẢO là làm hoa loa đơn giản.
    - Trần Thuyề Thứ 陳船次 : TRẦN là Trần Liệt 陳列 là bày ra; THUYỀN THỨ là Thuyền dùng cho khách thuê để đi xa.  
    - Ám Lệ Uông Uông 暗淚汪汪 : ÁM LỆ là Khóc thầm, khóc không ai hay; UÔNG UÔNG là chỉ nước mắt chảy ròng ròng không dứt.
    - Mạc Nhiên 漠然 : là Chểnh mảng, coi thường, là Thờ ơ, hờ hững.
    - Hương Hồn 香魂 : là "Hồn thơm". Cái gì đó của các bà các cô hay được thêm chữ "HƯƠNG là Thơm" vào. Như "Xe Hương, Nhà Hương, Hương Khuê...". Trong Truyện Kiều khi khuyên Thúc Sinh về thăm Thúc ông rồi thì Hoạn Thư cũng lên "xe hương" về nhà mét má :
                         Gió câu vừa gióng dặm trường,
                     XE HƯƠNG nàng cũng thuận đường quy ninh.
      Hay như khi Thúc Sinh buồn vì ngỡ Thúy Kiều đã chết nên về thăm Hoạn Thư, thì...
                        NHÀ HƯƠNG cao cuốn bức là,
                    Buồng trong kíp gọi nàng ra lạy mừng.
      Hay như khi Thúc Sinh nghe tiếng đến lầu xanh tìm Thúy Kiều :
                        Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi,
                    Thiếp danh tìm đến HƯƠNG KHUÊ gởi vào.
    - Ngô 吾 : Danh xưng Đại từ ngôi thứ nhất là Tôi, Ta, Tao...
    - Nễ 妳 (你) : Danh xưng Đại từ ngôi thứ hai là Mày, Anh, Chị, Ông, Bà...
    - Nương : Nàng, Đại từ Phiếm chỉ ngôi thứ 2 gọi chung phái nữ còn trẻ.
    - Khanh : Đại từ Phiếm chỉ ngôi thứ 2 gọi chung những người yêu dấu, như Vua gọi bề tôi; Chồng gọi vợ...
    - Lạc Ngu 樂娛 : là Vui chơi, giải trí, thoải mái.

* Nghĩa các bài thơ :
                      Ngày Mồng 5 gặp Tết Đoan Ngọ, giết thịt làm lễ, 
                              nhân đó làm ba bài thơ luật 
    - Bài 1.
            Hết năm nầy đến năm khác, Tết Đoan Ngọ ta đều ở nơi đất khách; Năm nay người khách góa vợ nầy lại ở trên thuyền khách. Chữ nghĩa không có thần thông làm sống lại nắm xương đã chết; Núi sông thì lại có cái oán hận là đã chôn đi một mối duyên lành. Nơi tha hương nầy ta không muốn cất cao giọng khóc lóc kể lể; Cõi lòng sầu muộn lại gặp phải người đời lải nhải huyên thuyên. Một mối sầu đặc biệt khác thường của ta nàng có tin không ? Nghĩ rằng nay thì nàng đã là tiên ở trên cung Quảng Hàn rồi !
    - Bài 2.
            Nay nàng đang ở đâu, ở tại quê hương của tiên chăng ? Ngày này năm trước nàng vẫn còn là nàng ở đây. Tạo hóa có thù oán gì sao lại giết đi người thông minh hiền thục; Văn chương thì đành bất lực không thể vực dậy người vợ tao khang. Lễ nghi đạm bạc qua loa bày ra trên chiếc thuyền mướn nầy; Dòng lệ âm thầm ngổn ngang nhuốm cả bên cạnh linh cữu. Cát trắng trên bến và những người khách trên sông đều thờ ơ hờ hững biết ai là kẻ để gởi gắm cõi lòng đây ?!
    - Bài 3. 
            Hương hồn của nàng hôm nay chắc chắn đã theo ta, nhưng sao tỉnh cũng không gặp được nhau mà mộng thì cũng chẳng có ?! Khiến cho người phải sống là ta và người phải chết là nàng; Phải chi cho ta được làm vợ và nàng làm chồng (để ta chết thay cho nàng). Núi sông không thể chôn vùi được nỗi hận sầu; Trời đất sao lại tiếc chi những điều vui thú của con người. Nên tâm sự của ta chỉ một mình mình biết một mình mình cười; Thôi thì hãy đem chén rượu thừa nầy hòa lẫn vào tiếng than "Ô Hô" não nuột mà thôi !

* Diễn Nôm :
            Sơ Ngũ Nhật Trực Đoan Ngọ Tiết Tể Sinh Vi Lễ Nhân Thành Tam Luật


               
                              Kỳ Nhất
                 Đoan Ngọ năm năm nơi đất khách,
                 Năm nay góa vợ lại đi thuyền.
                 Văn thơ chẳng thể hồi sinh tử,
                 Sông núi hận vì táng mối duyên.
                 Đất khách nên khó bề khóc lóc,
                 Lòng sầu bởi miệng thế huyên thuyên.
                 Nỗi buồn khác chúng nàng tin chứ ?
                 Cung Quảng chắc nàng ở cõi tiên. 

                          Kỳ Nhị
                 Nay nàng đâu tá, cõi tiên chăng ?
                 Năm trước hôm nay hãy thấy nàng.
                 Tạo hóa thù chi chôn Thục nữ,
                 Văn chương bất lực dứt tao khang.
                 Trước thuyền đạm bạc bày nghi lễ,
                 Linh cửu âm thầm lệ ngổn ngang.
                 Cát trắng khách sông hờ hững đó,
                 Cùng ai bày tỏ nỗi can tràng !?

                           Kỳ Tam
                 Vẫn biết hương hồn ta mãi mang,
                 Không mơ chẳng gặp chỉ mơ màng.
                 Khiến ta phải sống nàng thì thác,
                 Phải vợ là ta, chồng thế nàng.
                 Sông núi khó chôn bao sầu hận,
                 Đất trời sao tiếc những hân hoan.
                 Nỗi lòng mình biết mình cay đắng,
                 Chén rượu dư thừa lẫn khóc vang !

       Lục bát :
                          Kỳ Nhất
                 Đất khách Đoan Ngọ năm năm,
                 Năm nay góa vợ nằm khoang thuyền về.
                 Hồi sinh chữ nghĩa khó bề,
                 Núi sông chôn chết hận thề mối duyên.
                 Quê người khó thể khóc lên,
                 Lòng sầu lại gặp huyên thuyên miệng đời.
                 Sầu khác chúng, nàng tin rồi ?!
                 Cõi tiên cung Quảng nàng thời thấu chăng !?

                          Kỳ Nhị
                 Nàng ở đâu, ở cõi tiên ?
                 Ngày này năm trước còn nguyên dáng hình.
                 Tạo hóa ghét chi gái lành,
                 Văn chương bất lực sao đành tao khang.
                 Qua loa đạm bạc tế nàng,
                 Ngổn ngang dòng lệ bàng hoàng niềm tây.
                 Khách trên sông, cát trắng này,
                 Hững hờ khó nỗi giải bày tâm can !

                          Kỳ Tam
                 Hương hồn nàng chắc theo ta,
                 Chẳng mơ chẳng gặp chẳng thà chẳng mong.
                 Nàng chết ta lại thong dong,
                 Phải ta là vợ, nàng chồng thay ta.
                 Núi sông khó lắp hận xa,
                 Đất trời sao lại nhạt nhòa niềm vui.
                 Nỗi lòng mình biết mình cười,
                 Chén thừa dạ cũng ngậm ngùi "ô hô" !

        Qủa là những lời thương khóc vợ một cách chí tình. Cả núi sông chữ nghĩa văn chương đất trời... đều được ông mang cả vào trong nỗi buồn mất vợ một cách ấm ức của mình; thậm chí còn muốn được làm vợ để chết thay cho vợ, và vợ được làm chồng mà sống để thấu hiểu cho nỗi bi thương sầu não của người cô độc lẻ loi khi mất đi người bạn đời như thế nào !
        ĐOẠN TRƯỜNG LỤC là tập thơ đặc sắc của Phạm Nguyễn Du khóc người vợ trẻ  đang ân ái mặn nồng của ông. Bà là Nguyễn Thị Đoan Hương, người làng Đông Hải, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An, là chị ruột của Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Bà làm vợ Phạm Nguyễn Du từ năm 16 tuổi, sinh sáu bận, nuôi được hai con, đến hai mươi chín tuổi thì mất. ĐOẠN TRƯỜNG LỤC 斷腸錄 là "Ghi chép nỗi đau đứt ruột" gồm 14 bài văn tế, 49 đôi câu đối cúng và phúng điếu, 36 bài thơ tả nỗi nhớ thương đối với người vợ trẻ mà cũng là một "Hồng Nhan Tri Kỷ" của ông.

       Hẹn bài dịch tới !

                                                        杜紹德
                                                 ĐỖ CHIÊU  ĐỨC




* Đôi câu đối trước đền thờ của cụ Phạm Nguyễn Du như sau :
               (đọc theo cổ văn từ phải sang trái)

                石 峝 科 名, 千 古 留 傳 文 化 跡;
          Thạch Động khoa danh, Thiên cổ lưu truyền văn hóa tích;
                鄧 田 詩 子, 萬 年 香 火 廟 堂 存。
          Đặng Điền thi tử, Vạn niên hương hỏa miếu đường tồn.
* Có nghĩa :
         - Khoa danh của ông Thạch Động, ngàn đời sau vẫn còn lưu truyền lại vết tích văn hóa này;
         - Thi nhân của đất Đặng Điền, muôn năm sau miếu đường vẫn còn tồn tại hương hỏa mãi mãi !

* Diễn Nôm :
           - Khoa danh THẠCH ĐỘNG, Văn hóa ngàn đời lưu vết tích;
           - Thi sĩ ĐẶNG ĐIỀN, Muôn năm hương hỏa mãi trường tồn.

                                                                                                
                                                  ĐỖ CHIÊU ĐỨC kính

* Theo tài liệu của Thi Viện và hình ảnh của Trần Mạnh Cường trên mạng.

                              

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

KIẾP SAU - THƠ LÊ KIM THƯỢNG



 KIẾP   SAU 

 

1. 

 

Yêu nhau từ thuở còn thơ

Nào ai biết được… ai ngờ mai sau…

Ru em ngày đã đổi màu

Lời ru có những “… trái sầu rụng rơi…”

Cà phê giọt đắng đọng rơi

Giọt buồn đen thẫm cạn lời thủy chung

Yêu thương dẫu có vô cùng

Nào ai biết được… ngàn trùng nhớ mong

Trái tim rạn vỡ trong lòng

Tình xa, tình lỡ… xoay vòng buồn thiu

Thương nhau ngày ấy thật nhiều

Không duyên, không nợ hắt hiu tình buồn

Thôi đành “…cắt dứt dây chuông…”

Ai thương, ai nhớ, ai buồn, ai say

Cuộc tình mòn mỏi hao gầy

Áo hồng chưa mặc thì nay mất rồi…

 

 

2. 

 

Dù cho ước hẹn thề bồi

Nợ duyên không có, yêu rồi vẫn xa

Tình đầu đâu dễ phôi pha

Cố quên càng nhớ, cố xa càng gần

Lời tình thề hẹn bao lần

Lời tình trôi giữa Sông Ngân mất rồi

Bao năm trông ngóng phương trời

Quầng thâm đôi mắt… nhớ người mai sau

Những chiều trời đổ mưa mau

Nhìn mưa lặng nhớ một câu thơ buồn

Làm sao trời hết mưa tuôn

Để cho nước mắt… ngược nguồn về tim

Bóng em biền biệt khuất chìm

Đã đi… đi mất biết tìm về đâu

Nợ em một Khối Tình Sầu

Tìm em tôi trả…kiếp sau Luân Hồi…   

          

 

            Nha Trang, tháng  06. 2026

                 LÊ KIM THƯỢNG


Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

NẾU ĐIỀU CÓ THẬT - THƠ NGUYỄN VĨNH LONG


 Hoạ sĩ Nguyễn Trung: thế hệ vàng trong ...

    Tranh Nguyễn Trung



NẾU ĐIỀU CÓ THẬT

viết cho ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3 -

  

Nếu có thật cuộc luân hồi số phận

sẽ vì em tôi đón nhận mai này

trong đôi mắt đâu muôn vàn vết cắt

lưỡi dao tình ngọt lịm những bàn tay

 

Nếu có thật cuộc trăm năm đã định

sẽ vì em tôi ngồi lại hiên nhà

đợi cuộc tình dù chẳng hứa hẹn xa

theo chiếc lá mùa rơi vàng cuối ngõ

 

Nếu có thật cuộc đời là bể khổ

sẽ vì em tôi đắm giữa muôn trùng

tiếc chi ngày theo vạt nắng mong manh

trên môi đã một lần thôi cứ ngỡ

 

Nếu có thật đường chỉ tay lầm lỡ

sẽ vì em tôi đi hết con đường

bận chi lòng dù hằn vạn vết thương

tôi vẫn đợi ngày hương tàn phấn nhạt

 

Nếu có thật cõi niết bàn cực lạc

sẽ vì em tôi chọn thế gian buồn.!


 

  NGUYỄN VĨNH LONG

Nguồn: Thơ Văn Trần Yên Hoà



Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

VỌNG EM - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

Nguyen Trung Artist - Vietnam Art Gallery NGUYEN TRUNG

Tranh Nguyễn Trung


 VỌNG EM


Ta ca xang suốt buổi chiều

Vọng em như thể quá nhiều tơ vương

Mà sao như thể lạ giường

Đúng ta thương nhớ suốt đường trường tôi


Ta quang gánh suốt một đời

Ta luay huay với những lời đắng cay

Ta biết ta trong cõi này

Yêu em vô vọng không ngày không đêm


Ta gọi em suốt đời tôi

Sao trong thiên hạ biết bao nhiêu người

Những tà áo trắng bay bay

Tôi nghiêng ngó mãi rớt qua tay mình


Cũng vì chỉ một em xinh

Nên tôi xin đứng đợi tình. Gọi em

Nên  tôi. Chỉ em là em

Tôi ngơ ngác trong cõi đêm nghìn trùng

Không đêm nào tĩnh cơn khùng

Vào ra trông ngóng não nùng xác thân

Tôi quỳ tôi với ăn năn

Xin cho tôi chút vô thần kiếp tôi


*


Xin thưa với em rằng

Đúng tôi Ngơ Ngác Cõi Người*em ơi


 

TRẦN YÊN HÒA

* tên một tập thơ của Luân Hoán


Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

HOẠ KHÚC SÔNG TIỀN - THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG

 



HOẠ KHÚC SÔNG TIỀN


Thổi lồng lên gió Tháp Mười

Hương Giang, ơi hỡi ơi hời ! Hương Giang!

Chút tình Tôn Nữ nặng mang,

Thương ai lửa thắp tro tàn Huế xưa

Buồn vui thầm gọi khẽ thưa

Nam bình thoảng khúc âm thừa đêm sâu

Giăng đồng nước nổi… sáu câu

Lục bình trôi buổi lãng du… anh về

Bổng trầm buông bắt say mê

Nổi trôi rót giọng xuống xề mà đau!

Mời em nâng một chén đầu

Chạm vào một chút thẳm sâu cõi mình

Trời quê trong vắt vòm xanh

So dây tài tử,so tình mênh mang

Tràm Chim xuân đọng giọt đàn

Ghi ta thánh thót ngổn ngang nỗi người

Đến đây cuối đất cùng trời

Đâu ai nỡ cắt ngang lời ai đâu!

Mời em cạn nốt  chén sau

Hương Giang họa khúc sáu câu sông Tiền!

Trăng rằm soi tỏ Tràm Chim

Lênh loang câu hát buộc duyên nôï vào

Hai dòng sông… hợp lưu nhau

Tạ lòng tri kỷ nặng sâu tình nồng!



TRẦN NGỌC HƯỞNG


TÔI VỀ HỨNG NHỮNG TÀN TRO - THƠ NGUYỄN KHÔI


 

TÔI VỀ HỨNG NHỮNG TÀN TRO

( nhân đọc thơ Ngô Tịnh Yên )

             ———————

“ Lòng tôi ai chẻ những tàn tro bay “

( Thơ Ngô Tịnh Yên )


Tôi về hứng những tàn tro

Bếp than em nhóm củi ngo hôm nào

Nỗi buồn tôi hứng hạnh hao

Sóng sông tôi hứng dạt dào tim bay

Hứng đường ngôi , hứng bàn tay

Nhành gai tôi hứng máu rây đóa hồng

Hứng biệt ly những con đường

Hứng tình yêu để vết thương chẻ lòng

Hứng mưa rơi Lệ mơ mòng

Hứng thơm sợi tóc quấn vòng hồn tôi

Tro tàn tôi hứng tình phôi …



 Hà Nội , 26/12/2012-

NGUYỄN K HÔI