

NGÀY THÁNG TÁM
Ngày tháng tám mùa thu về rất lạ
Em mắt buồn theo cỏ lá heo may
Đường thở dài vàng nắng áng mây bay
Tình cúi mặt để sầu rêu nhánh lá
Ngày tháng tám mùa thu xanh biển cả
Cánh chim về hong ấm nụ môi hôn
Bài thơ yêu nhung nhớ lại gần hơn
Căn gác nhỏ mở lòng vui đất lạnh
Ngày tháng tám mùa thu vàng đất trắng
Tay em mềm gối mộng ngát trùng dương
Con sóng vỗ thềm trăng mòn vách đá
Gió thu về mây trắng đẹp trời hương
Ngày tháng tám mùa thu trùng xuống thấp
Đất khóc thầm tan vỡ mối tình hoa
Em nói dối ta buồn như muốn khóc
Con thuyền nào chở hết cõi lòng ta
Ngày tháng tám mùa thu về thêm tuổi
Đất mẹ nghèo mọc cánh vỗ trời hoang
Và tình ta từ đó cũng lang thang
Khi trước mặt cuộc đởi chưa đáp số
SONG LINH
TÂM NHANG
1.
Quê hương hai tiếng nhẹ nhàng
Mà sao đằm thắm, dịu dàng khôn nguôi
Nhớ bao kỷ niệm buồn vui
Bước chân lữ khách bùi ngùi về quê…
Lưng còng bóng Mẹ trên đê
Áo nâu vất vả đi về hôm mai
Sông quê vương vấn lòng ai
Đẹp như dải lụa trải dài thướt tha…
Nắng chiều đổ bóng sân nhà
Mâm cơm lúa mới, chan hòa tình yêu
Chiều hoang tím cả rừng chiều
Đồng quê yên ắng, hiu hiu gió luồn
Núi cao khuất bóng hoàng hôn
Gió Heo May thổi bồn chồn chơi vơi
Ráng chiều tô đỏ chân trời
Cháy tàn ngọn nắng, đêm mời trăng lên…
2.
Dòng đời trôi mãi lênh đênh
Dở dang, dang dở bồng bềnh xa khơi
Tôi đi chưa trọn kiếp người
Nợ người ray rứt, nợ đời buồn thiu
Cuộc đời cay đắng đã nhiều
Bao nhiêu năm sống hắt hiu nhớ nhà…
Con giờ lưu lạc phương xa
Xứ người biền biệt, quan hà quạnh hiu
Còn đâu bóng dáng Mẹ yêu
Áo tơi, nón lá liêu xiêu giữa trời
Vắng Người, vắng cả nụ cười
Mẹ giờ đã hóa thành Người xa xưa
Nhang trầm theo gió đong đưa
Nghẹn ngào nước mắt như mưa hai hàng
Dẫu cho ngàn nén tâm nhang
Lòng con nhớ Mẹ không tan nỗi buồn…
Nha Trang, tháng 09. 2026
LÊ KIM THƯỢNG
TRANH ĐINH CƯỜNG
NHỮNG NHÁNH ĐỜI CỦA BIỂN
tôi gởi lại bên một dòng sông chiều
tháng bảy những lâm thâm mưa bụi cuốn
trôi đi rác rưới mùa nước lụt về
sông sông trôi đi ánh đèn đêm về
cửa biển mà mẹ tôi bên kia nhà
cứ nghĩ con nó đã về chưa mà
lâu quá trời mưa chắc đường xa còn
ướt lạnh mà nhỏ dại dọc đường có
lỡ chuyến đò qua mùa lụt tháng bảy
nước lớn dâng lên đến thấu thềm nhà
tháng bảy nước nhảy lên bờ mẹ tôi
nói rồi đến nửa đêm mưa mau gió
thổi rì rầm mái tranh lật ngược nước
dột xuống nhà em tôi chị tôi chạy
đi lấy thau hứng đỡ ngồi thức trọn
đêm nghe mưa sau hè đổ ngọn tàu
cau cây chuối ngã rạp xuống mương nước
xoáy cuốn trôi đất cát vườn rau vườn
cà rụng trái theo sông sáng mai ngồi
dậy liền đi vớt củi để dành thổi
cơm mẹ dặn nhớ xăn quần cao kẻo
về ướt lạnh khổ lắm con ơi... thời
tuổi trẻ chắc chắn đã trôi qua bên
chiếc cầu ván đong đưa bên bờ ao
rau muống tôi nhìn lại và hai mươi
năm vút đi như vì sao chổi nhưng
sao chiều nay không dưng có cơn mưa
mù trút ngọn rồi mười năm hai mươi
năm chẳng còn là thời gian chờ đợi
lạy trời may thay mẹ tôi vẫn còn
bên kia nửa vòng trải đất anh em
thi mỗi người thất tán mỗi phương như
những nhánh củi rong rêu thuở nào không
biết bây giờ trôi nỗi về đâu mà
tha phương lại vèo thêm một thập niên
lưu lạc sao mẹ cứ dặn hoài đi
đâu rồi cũng nhớ về nhà cho kịp
chạng vạng tối trời khổ lắm con ơi.
HUỲNH LIỄU NGẠN
TRANH ĐINH TRƯỜNG CHINH
TÌNH GỞI NẪU
Hàng cây xanh và hoa lá cũng xanh
Em thì xinh trong màu áo đỏ
Những bông hoa vàng trước ngực... lung linh
Khi em nói tiếng quê hương nở rộ
Em tinh khôi trong âm sắc quê mình
Giọng nói đó không lẫn vào đâu được
Cũng giống như anh - "Nẫu" thiệt tình
Anh Nẫu ngoài và em Nẫu trong
Tiếng Nẫu ngoài cộc cằn hơn là cái chắc
Vì quê anh vốn ăn cục nói hòn
Khi Nẫu nói, anh thấy mình trong đó
Có thịt, da, xương, hòa quyện trong lời
Ơi đất khổ của một thời chinh chiến
Anh băng qua rừng lội nát trường sơn
Anh dừng lại quê em, một miền đất Nẫu
Làm thân tù tội mấy năm trời
Xuân Phước, La Hai, oằn mình nín thở
Cố bơi qua sông, qua trời rộng sông dài
Đất Nẫu của anh, sao anh đi miết
Đi trong vô tâm, tìm kiếm thứ gì?
Nam bộ hiền khô, anh nào có biết
Bến bờ nào anh trở về gặp Nẫu
Giọng nói em cất lên buổi giao thời
Anh nghe lặng đi tim mình thổn thức
Đổ vỡ nào cũng có phút hồi sinh
Gởi Nẫu ơi, Nẫu thương yêu lắm đó
Đất cằn khô nhưng tim Nẫu rạt rào
Trái tim anh đập liên hồi kỳ trận
Sẽ dựng lại đời bên Nẫu. Ôi chao!
Anh đi xa ngái miền quê quán
Chợt nhớ về thương đất Quán Rường
Mai ta dắt Em về bên Mẹ
Nẫu có vui cùng mùi quê hương?
Mai em và ta cùng chung nhịp đập
TRẦN YÊN HOÀ
Hòn Đền và Hòn Tàu nhìn từ sông Thu Bồn. Ảnh: H.X.T
TRỤC KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG CẤU TRÚC ĐỊA VĂN HOÁ CHĂMPA
ĐNCT - Vùng rừng núi phía tây xứ Quảng là một cấu trúc địa chất cổ, được hình thành từ các trầm tích biển cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam. Qua quá trình vận động kiến tạo, các lớp đá phiến, sa thạch và cuội kết được uốn nếp, tạo thành những dãy núi kéo dài theo hướng tây - đông.
Địa hình phân hóa rõ rệt thành hai bậc: Vùng núi cao trên 1.000m chạy dọc biên giới Việt - Lào và vùng núi thấp dưới 1.000m tỏa xuống các đồng bằng Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình và Tam Kỳ. Từ đây hình thành các nhánh núi riêng biệt như Bạch Mã - Hải Vân, Sơn Trà, Bà Nà, Hòn Tàu - Hòn Đền...
Núi thiêng và Thánh địa
Trong không gian địa mạo ấy, thung lũng Mỹ Sơn là một lòng chảo khép kín, được bao bọc bởi dãy núi Hòn Tàu - Hòn Đền, Dương Thông... Theo ghi chép của Đại Nam nhất thống chí, hệ thống núi này phân thành nhiều chi, trong đó núi Tào Sơn giữ vai trò “trấn sơn”, tạo thế vững chãi cho toàn vùng. Đỉnh cao nhất của dãy là Ấn Sơn cao khoảng 950m, từ đây có thể quan sát rộng đồng bằng Quảng Nam và vùng ven biển Đà Nẵng.
Trong hệ thống núi này, Hòn Đền còn được gọi là núi Răng Mèo - núi thiêng Mahaparvata, không phải đỉnh cao nhất nhưng lại giữ vị trí đặc biệt trong tâm thức dân gian và trong cấu trúc thiêng của Chămpa. Tên gọi “núi Chúa” vốn phổ biến ở nhiều vùng, thường chỉ những đỉnh núi được xem là nơi cư ngụ của thần linh. Với Hòn Đền, ý nghĩa ấy càng được củng cố bởi mối liên hệ trực tiếp với thánh địa Mỹ Sơn và những truyền thuyết bản địa.
Từ góc nhìn địa - văn hóa, GS. Trần Quốc Vượng cùng một số chuyên gia Đông Nam Á nhận định rằng Hòn Đền có thể được xem như Lingaparvata (núi Linga) theo quan niệm Ấn Độ giáo. Trong cấu trúc biểu tượng này, thung lũng Mỹ Sơn đóng vai trò như Yoni, còn dòng suối Khe Thẻ chảy qua trung tâm thánh địa chính là dòng năng lượng phồn thực kết nối hai yếu tố âm - dương. Sự kết hợp giữa địa hình tự nhiên và biểu tượng tôn giáo đã khiến Mỹ Sơn được chọn để xây dựng trung tâm tín ngưỡng bậc nhất của Chămpa.
Từ Thánh địa đến biển cả
Tuy nằm biệt lập trong thung lũng, Thánh địa Mỹ Sơn không tách rời khỏi đời sống kinh tế - xã hội xung quanh. Theo ghi nhận của Georges Maspero trong tác phẩm Vương quốc Chămpa, mỗi khu đền tháp được dâng cúng một lãnh địa rộng lớn, bao gồm đất đai, cư dân và nguồn sản vật phục vụ cho việc duy trì hoạt động tôn giáo. Điều này cho thấy cấu trúc kinh tế - tôn giáo của Chămpa mang tính tích hợp cao, trong đó quyền lực thần linh và quyền lực thế tục luôn song hành.
Từ Mỹ Sơn, nếu nhìn theo trục không gian dọc sông Thu Bồn, có thể nhận ra một mô hình quy hoạch lãnh thổ đặc trưng của tiểu quốc Amaravati. Ở thượng nguồn là núi thiêng và thánh địa; xuống trung lưu là kinh đô Trà Kiệu (Simhapura), gắn với vùng châu thổ nông nghiệp trù phú; và cuối cùng là cảng thị ven biển Hội An (Champapura), cùng cụm đảo tiền tiêu Cù Lao Chàm. Đây là một trục liên hoàn, thể hiện tư duy tổ chức không gian vừa mang tính thực dụng vừa mang chiều sâu biểu tượng.
Kinh đô Trà Kiệu, nằm cách Mỹ Sơn khoảng 10 km về phía đông, giữ vai trò trung tâm chính trị và kinh tế. Bao quanh khu vực này là những cánh đồng rộng lớn, được Lê Quý Đôn mô tả trong Phủ biên tạp lục là “đại đồng điền”. Không chỉ phát triển nông nghiệp lúa nước, cư dân Chămpa còn trồng dâu nuôi tằm, sản xuất tơ lụa và dệt vải, tạo nên những mặt hàng có giá trị cao trong thương mại.
Ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An thời Chămpa là một cảng thị quốc tế quan trọng, nằm trên tuyến hàng hải kết nối từ Trung Hoa đến Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á. Nhờ nguồn lâm thổ sản như trầm hương, quế, hồ tiêu… được đưa về từ thượng nguồn và các sản phẩm tơ lụa, Champapura trở thành đầu mối giao thương sầm uất, góp phần đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế và củng cố quyền lực chính trị của vương quốc.
Ngoài khơi, Cù Lao Chàm đóng vai trò như một “tiền cảng”, nơi các thương thuyền quốc tế dừng chân để lấy thêm nước, lương thực và tránh bão. Đây không chỉ là điểm neo đậu tàu thuyền mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc kiểm soát tuyến hàng hải khu vực.
Bên cạnh trục Mỹ Sơn - Trà Kiệu - Cù Lao Chàm, có thể nhận diện một trục không gian thứ hai theo hướng đông bắc, nối Mỹ Sơn - Hòn Đền với bán đảo Sơn Trà, thông qua hệ thống sông Vĩnh Điện - Cẩm Lệ. Trên trục này, vùng đồng bằng Điện Bàn - Hòa Vang đóng vai trò châu thổ, với các khu đền tháp Bằng An và Phong Lệ.
Đặc biệt, Ngũ Hành Sơn giữ vị trí trung gian giữa nội địa và biển cả. Nơi đây hiện diện những cơ sở tín ngưỡng Ấn Độ giáo và Phật giáo, đồng thời là vị trí quan trọng về quân sự và hàng hải. Từ trên đỉnh Thủy Sơn, có thể quan sát toàn bộ tuyến đường biển ven bờ và hệ thống sông dẫn vào nội địa; lợi thế này đã được triều Nguyễn khai thác khi dựng các đài quan sát Vọng Hải Đài và Vọng Giang Đài dưới thời vua Minh Mạng.
Xa hơn về phía đông, núi Sơn Trà trở thành một bức bình phong tự nhiên che chắn cho vịnh Đà Nẵng, kết hợp với dãy Bạch Mã - Hải Vân tạo thành một vùng biển kín gió, thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu.
Trong cấu trúc không gian ấy, Hòn Đền - Mahaparvata nổi lên như một “chủ sơn” mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa lý. Không phải là đỉnh núi cao nhất trong vùng, nhưng chính sự hội tụ của yếu tố địa hình, tín ngưỡng và biểu tượng đã khiến nơi đây trở thành trung tâm thiêng liêng trong thế giới quan Chămpa. Từ Mahaparvata, các trục không gian tỏa đi, kết nối thánh địa Mỹ Sơn với kinh đô, đồng bằng và biển cả, tạo nên một chỉnh thể hài hòa giữa tự nhiên và văn hóa.
Có thể nói, trên nền tảng địa lý tự nhiên, người Chăm xưa đã kiến tạo không gian liên kết từ núi thiêng đến biển cả, hình thành tư duy tổ chức lãnh thổ hướng biển, trong đó núi - sông - đồng bằng - hải đảo gắn kết thành một chỉnh thể. Sự kết hợp giữa không gian thiêng, trung tâm chính trị, vùng sản xuất và mạng lưới hàng hải không chỉ tạo nên nền tảng cho sự phát triển lâu dài của Chămpa, mà còn để lại di sản địa văn hóa đặc sắc, tiếp tục hiện diện trong không gian đất Quảng hôm nay.
HỒ XUÂN TỊNH • 20/09/2026 11:10
Nguồn : Báo ĐÀNẴNG .VN
https://baodanang.vn/truc-khong-gian-thieng-trong-cau...