CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

ÁNH XUÂN VỀ TRÀN DÂNG NẮNG MỚI... TRẦN HỮU NGƯ


Có thể là hình ảnh về đàn hạc và văn bản 


ÁNH XUÂN VỀ TRÀN DÂNG NẮNG MỚI…

“…Ánh xuân về tràn dâng nắng mới…”
Đó là câu mở đầu trong ca khúc “Mộng Lành” của Hoàng Trọng-Hồ Đình Phương .
Nhạc Xuân ở miền Nam trong thời Chiến tranh, nói chung, và nhạc Xuân miền Nam nói riêng… bài hát nào cũng hay! Và trong những ngày Tết, thường thì nhạc Xuân không thiếu trong mọi gia đình. Riêng nhạc phẩm LY RƯỢU MỪNG của Phạm Đình Chương là đứng đầu danh sách. Đêm Giao thừa, sáng Mùng Một… nhà nhà, người người, đều nghe:
“… Ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…”
Riêng ca khúc MỘNG LÀNH, một bài hát chút phúc mỗi độ Xuân về.
Đây là một bài hát Xuân ra đời từ năm 1956, lúc bấy giờ ở miền Nam cuộc chiến chưa đến hồi ác liệt! Cũng lúc bấy giờ, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ đi học trường làng, quanh năm suốt tháng không có gì vui chơi giải trí, nên hát nhạc cũng là một thú vui. Cho nên, thầy cô chúng tôi lồng vào giờ học, dạy chúng tôi hát những bài hát mà lúc bấy giờ toàn dân đều hát mỗi độ Xuân về:
“… ÁNH XUÂN VỀ TRÀN DÂNG NẮNG MỚI
TƠ TRỜI MỪNG SAY GIÓ TỚI
NGÀN ĐÓA HOA BỪNG CHÀO ĐỜI…”
Đó là câu mở đầu ca khúc MỘNG LÀNH của Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương, mang giai điệu Tango, một ca khúc Xuân đã ra đời từ những ngày Chiến tranh - hát để quên Chiến tranh - hát để hy vọng Hòa bình - hát để vui với Tết, nhưng tiếc thay, MỘNG LÀNH đã bị bỏ lại phía sau trong những ngày Hòa bình!
Lại là ông hoàng Tango Hoàng Trọng - người nhạc sĩ Tango chưa ai thay thế được - ca khúc Tango của Hoàng Trọng là những thác nước âm thầm chảy mãi trong lòng người nghe của những năm tháng Chiến tranh, dù nó không đi vào con đường “chính ngạch” như “Con đường âm nhạc” mà chỉ là con đường “tiểu ngạch” trong những năm tháng Hòa bình.
Bây giờ, nhạc Xuân được hát rùm trên TV mỗi khi Tết đến, phần đông nhạc Xuân là của những nhạc sĩ mới, nhưng thành thật mà nói, đó chỉ là những bài hát được gọi là “bài hát” nghĩa là lấy nốt nhạc và nhịp gắn lên những bánh tét, bánh chưng, đào mai, sum vầy, sum họp…, rồi tự sướng, tự hào, lan tỏa, nghĩa là bài nào cũng có chữ VN… chớ không phải những “ca khúc” Xuân. Vì viết được một ca khúc, nhất là ca khúc Xuân đâu có dễ, xét cho cùng thì trong 100 nhạc sĩ miền Nam trước đây thì chỉ có chừng 10 nhạc sĩ viết được nhạc Xuân, nghĩa là 10/100? Thế mới biết sáng tác nhạc Xuân cũng khó như ăn cá Dứa biển, còn cá Dứa nuôi thì đầy.
Hình như nhạc sĩ bây giờ sáng tác bài nào mà có mai, đào, lan, huệ, cúc, bánh chưng, bánh tét, đoàn tụ… là nhạc Xuân? Hiểu như thế thì làm sao mà viết được nhạc Xuân?
Và cũng thành thật xin lỗi mà nói rằng, trong những “bài hát” Xuân mới được trình chiếu trên TV, nếu không có ca khúc Xuân cũ xen vào thì nghe nó không có Xuân chút nào!
Tôi ở nhà “ôm cái TV” trong những ngày Tết để xem và nghe nhạc Xuân. Hình như bây giờ nhạc nào cũng có MÚA kể cả những bài hát không cần phải MÚA? Có những “bầy múa” không ăn nhập với bài hát, vì giả dụ những bài hát này mà không có “bầy múa” thì nghe nó… cô đơn lắm!
Và bây giờ người ta phải nói cho hợp thời 4.0 rằng thì là:
-Chương trình CA MÚA mới đúng, chớ nói CA NHẠC là thiếu mất một vế sau là MÚA thì sẽ không còn là ca nhạc nữa!
Để phân biệt giữa nhạc cũ và nhạc mới thì:
-Hát nhạc mới thì… có múa.
-Hát nhạc cũ là… không có múa.
MỘNG LÀNH, một bài Tango ngắn, nhưng MỘNG LÀNH dài theo năm tháng từ lúc ra đời năm 1956 cho nay là cả một đời người. Và nếu chúng ta không hát lại, MỘNG LÀNH sẽ bị mai một như những ca khúc cũ mà những người được gọi là BTV Âm nhạc đụng tới như… đỉa đụng phải vôi. Người ta thường nói “Bịnh gì mà cử”, nhưng đây có bịnh, “bịnh phân biệt chủng tộc” mới cử? Và nếu “MỘNG LÀNH” được hát lại mà có Múa kèm theo thì sẽ không còn MỘNG LÀNH nữa mà là MỘNG CỨNG. (Hì hì hì…)
Năm mới tôi nghe ca khúc MỘNG LÀNH, chỉ để mong rằng một năm mới có được mộng lành! (Nhưng đừng quên thi sĩ Hổ ĐìnhPhương viết lời MỘNG LÀNH. Người thi sĩ đã viết lời cho hằng trăm ca khúc của hằng chục nhạc sĩ miền Nam, mà ca khúc nào cũng đứng được với thời gian. Anh đã từng tốt nghiệp hạng ưu trường QGHC và cũng đã từng làm Phó Tỉnh trưởng tỉnh Ninh Thuận, và đã chết trên đại dương sau 1975).
Ca khúc MỘNG LÀNH, Nhịp ¾ Tango, Gamme Ré thứ :
“… Ánh xuân về tràn dân nắng mới
Tơ trời mừng say gió tới
Ngàn đóa hoa bừng chào đời
Từng bày én trông đẹp mùa màng
Vờn cánh vui đùa nhịp nhàng
Hòa tiếng chung tình nồng nàn…
Có riêng một mình ta với bóng
Không bạn gần ai ấm cúng
Mà chẳng nghe lòng lạnh lùng
Vì người ấy luôn chờ một lời
Là hiến ta trọn một đời
Thề ước đem tình sánh vai…
Ôi đôi mắt long lanh như ánh trăng thanh
Soi sáng đất lành một đêm thái bình
Ôi muôn thắm mầu hoa năm tháng dần qua
Buông những lời ca như gợi lòng ta…
Ấy tơ đồng cùng ta chấp nối
Nhưng nào hồn ta dám nói
Vì muốn duyên còn đẹp hoài
Vì tình ấm không là tình hòa
Mà ấm khi lòng còn chờ
Thầm ước mơ rồi ước mơ…”
Tuy là ca khúc mang Giai điệu Tango, nhưng MỘNG LÀNH rất dễ ca, dễ thuộc. Vì theo tôi, ca khúc nào có “văn hóa”, có “chiều sâu”, không “hư cấu”, không “nói láo”, không “triết lý ba xu”, không “cường điệu”, không “sáo rỗng”… đó mới là ca khúc khắc khi vào lòng người nghe mà không có dễ gì quên được.
Năm mới, nghe và hát MỘNG LÀNH, tôi thành kính đốt 3 nén nhang:
-Một nén gởi trời
-Một nén gởi đất
-Một nén gởi đến hai anh
Xin kính cẩn nghiêng mình tỏ lòng biết ơn nhạc sĩ Hoàng Trọng và thi sĩ Hồ Đình Phương, vì hai đã để lại cho đời nhiều nhạc phẩm sắc hương khó phai.



TRẦN HỮU NGƯ

MÙA TRĂNG THÁNG CHẠP - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 

Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Những Mùa Trăng Tháng Chạp'


MÙA TRĂNG THÁNG CHẠP


Có phải trăng xưa soi thềm cũ 

Ánh sáng diệu huyền trải mênh mông

Gió cuối năm băng đồng châu thổ

Rắc hạt vàng trên sóng long đong.


Trăng dõi bước theo người xa xứ

Có tiếng chim gốc mận sau vườn

Rót vào đêm câu hò tháng chạp

Khúc huê tình thuở ấy còn thương.


Có phải trăng xưa in dáng mẹ

Chuyện tích xưa còn nhớ tôi chăng

Thương quá đỗi mỗi lần mẹ kể

Chuyện đời mình từ thuở thanh xuân.


Em giữ nhé dòng sông bến nước

Đợi tôi về chải lược bên sông 

Chút mưa xuân hoa vàng đầu ngỏ

Mùa trăng tháng chạp đến nao lòng.



NGUYỄN AN BÌNH


Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

SÀI GÒN NGỒI NHỚ : 'CHÍ MÈ PHỦ'' TRONG TIẾNG RAO ĐÊM - TỪ KẾ TƯỜNG


 


SÀI GÒN NGỒI NHỚ:
“CHÍ MÀ PHỦ” TRONG TIẾNG RAO ĐÊM
Sài Gòn lắm ngõ ngách, có những con ngõ, con hẻm được đặt tên và phần lớn là không tên. Nhưng dù ngõ ngách, hẻm hóc có tên hoặc không tên đều tượng trưng cho những khu xóm lao động nghèo nằm sâu cạnh những vùng thị tứ tấp nập của thành phố và ở đó ngày nắng cháy bỏng da hay những đêm mưa rét cóng của một thời “đèn Sài Gòn” ngọn lu ngọn tỏ” tiếng rao của những người bán hàng gánh, thúng bưng vẫn là mối hoài niệm khó quên đối với những ai là dân cố cựu của đất Sài Gòn.
Ngày ấy, khoảng năm 1963-1964 nhà tôi ở hẻm Nam Tiến đường Bến Vân Đồn Q4 (Hồi đó còn gọi là Khánh Hội) bị hỏa hoạn, trận hỏa hoạn kinh hồn từ 16 giờ đến 3 giờ sáng hôm sau mới được dập tắt đã thiêu rụi cả một khu vực rộng lớn gồm toàn dân lao động nghèo. Gia đình tôi cũng như những người dân khác trong khu hỏa hoạn phải tìm chỗ trọ mới. Tôi về ở trọ nhà một người bác, bà con xa ở hẻm Hàng Phân. Đây là con hẻm nhỏ nằm trên đường Bến Vân Đồn Q4 gần hãng thuốc lá Bastos dẫn sâu vào chợ Hãng Phân ăn luồn qua một khu vực khác cũng thuộc Q4. Tôi ở trên căn gác gỗ trần lợp tôn ẩm thấp và nóng hầm hập như lò bánh mì. Năm ấy tôi chuẩn bị thi Trung học Đệ nhất cấp, một kỳ thi rất quan trọng thời bấy giờ nhưng điều kiện học tập thiếu thốn do ở trọ, nhất là thiếu ánh sáng học bài. Mỗi tối tôi ngủ ngoài mái hiên gác trọ và học bài nhờ ngọn đèn đường vàng hoe từ trên cây cột điện trước cửa nhà chiếu xuống.
Nhà bác tôi rất đông người, căn gác nhỏ kẻ lớn, người nhỏ ngủ sấp lớp, trên gác lại có mấy khạp mắm lóc, mùi mắm trong đêm khuya bốc lên ngợp thở nên tôi ngủ ngoài mái hiên gác trọ được hít thở không khí trong lành, không có mùi mắm và được tự do ngồi ngắm sinh hoạt trong con hẻm sâu hun hút dần thưa vắng người lúc nửa đêm khiến tôi thích thú như được ở chốn…thiên đàng. Nhưng ở ngoài mái hiên có khó khăn trong việc đi lại, cửa trước dưới nhà thì đóng, muốn xuống đường dạo chơi tôi phải…leo cột đèn, khi lên cũng phải leo cột đèn để lên. Tuy nhiên như thế cũng là sự tự do, không phiền lụy đến người trong nhà.
Những buổi tối nằm trong mùng, hay ngồi dựa lan can gác học bài dưới ánh đèn bóng tròn, vàng hoe tôi thường chú ý đến những người bán hàng rong khi họ cất tiếng rao từ đầu hẻm. Chị bán chè bà ba có giọng rao lanh lãnh, trong vắt :” ai ăn chè bột khoai nước dừa đường cát h…ô…n”, chú “chệc” bán bánh tiêu, bánh bò đạp chiếc xe có cái lồng kiếng đựng bánh phía trước giọng lơ lớ: “ Ai bánh tiêu bánh bò ché q…u…ả…y lớ”. Không hiểu sao cuối câu rao lại có chữ lớ lên cao giọng khá ngô nghĩnh.
Rồi ông đấm bóp giác hơi đạp xe rè rè vào hẻm với tiếng rao rất đặc trưng không thành lời mà vang lên một âm điệu “xập xòe” của xâu nút khoén đong đưa, lắc lư. Nhưng ấn tượng với tôi hơn cả là người bán “chí mà phủ” tức chè mè đen, một loại chè đặc trưng của người “khách trú” theo tên gọi thời bấy giờ. Đó là người đàn bà Tàu tấp người, lưng hơi còng với thời gian, mặc bộ đồ sẫm màu đen, cũ, đầu đội nón rộng vành có cái chóp nhọn, chân mang dép cao su lẹp xẹp, gánh trên vai thùng chè tròn có nắp đậy phía dưới là cái lò than đỏ rực phía trước. Gánh phía sau là thùng nước rửa chén , đậy bằng một cái khai nhôm, trên có mấy cái chén và mấy cái muỗng. Người đàn bà Tàu bán “chí mà phủ” này mỗi lần gánh chè vào hẻm đều cất giọng rao rất đặc trưng: “ chí mà p…h…ụ” âm thanh nghe đục, ngắn, cất lên đột ngột mà chấm dứt cũng rất đột ngột khiến người nghe thấy thiếu thiếu và tức tức đâm ra tò mò và muốn…ăn chè mè đen của bà một lần cho biết.
Và tôi đã ăn thử một lần cho biết rồi…ghiền luôn. Phải nói “chế mà phủ” của người đàn bà Tàu này có bí mật “gia truyền”, nó có hương vị đặc biệt, béo, bùi, thơm không ngọt gắt, ngon…không tả được và không giống như chè mè đen người khác bán mà tôi cũng thường ăn, kể cả ông già người Tàu bán bên hông phía nhà chú Hỏa đường Nguyễn Thái Bình Q1 (bây giờ). Tôi đã trở thành mối ruột cùa người đàn bà Tàu bán “chí mà phủ” từ những đêm trèo cột đèn xuống khi bà cố ý ngồi lại dưới chân cột đèn, đặt gánh chè xuống và rao: “chí mà p…h…ụ”. Ngày nắng gánh chè của bà vơi gần đáy, nhưng gnày mưa thường ế nên bà mời tôi ăn ủng hộ cũng với giọng khàn khàn, đục đục, lơ lớ:” hầy, mưa gió ế quá lị ăn ủng hộ ngộ một hai chén li”. Ăn thì được, nhưng học trò nghèo ăn chịu hơn là trả tiền “tươi”. Và mãi tới tận bây giờ tôi nhớ là vẫn còn…nợ bà người Tàu bán “chí mà phủ” mấy chén chè chưa trả.
Những tiếng rao dài ngõ hẻm, âm vang tiếng rao hàng gánh, thúng bưng rất đặc trưng của những người bán quà rong Sài Gòn thủa ấy vẫn còn đi theo mãi với tôi cho tới tận bây giờ với nỗi nhớ hẻm, nhớ Sài Gòn thời “đèn ngọn xanh ngọn đỏ” khôn nguôi.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



 Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và đàn ghi ta


LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH
(Gởi người dệt nhạc, ca ngâm)

Xin cúi đầu cảm tạ những bàn tay
Âm thầm dệt nốt trầm – cung thăng
Từ nhịp thở đời thường, từ giọt lệ mong manh
Thành khúc nhạc ru người qua dâu bể.
Cảm ơn những nhạc sĩ
Lấy cô đơn làm khuôn nhạc
Lấy nhân gian làm giai điệu
Để nỗi buồn vui cũng biết hát,biết ca.
Cảm ơn những ca sĩ
Luôn gửi trọn tâm tư vào giọng hát
Cho một chữ yêu ngân lên ấm áp
Cho một chữ đau không còn lẻ loi.
Tiếng hát bay qua những phận người
Chạm vào tim kẻ vui – người khổ
Làm đời bớt cằn khô, bớt hoang vắng
Thêm thi vị giữa tháng ngày mưu sinh.
Nếu nhân gian còn chút dịu dàng
Ấy là nhờ những nốt nhạc, những lời ca
Xin gửi một lời cảm ơn rất khẽ
Mà rất sâu – đến những người làm cho đời biết nghe.
(Chặng đời còn ở nhân gian)


HUỲNH TÂM HOÀI


MÙA ĐÔNG RIÊNG ANH - THƠ ĐỖ ANH TUYẾN



Sương mù



MÙA ĐÔNG RIÊNG ANH

 

Gió bấc về lùa qua kẽ tay

Phố cũ mình anh bước hao gầy

Em đi bên ấy môi cười ấm

Chẳng biết nơi này gió bủa vây.

 

Anh gom chút nắng cuối chiều rơi

Sưởi ấm tình câm chẳng thốt lời

Sợ nói ra rồi như khói thuốc

Tan vào sương giá biệt mù khơi.

 

Bàn tay giá buốt giấu vào túi

Anh đứng một mình dưới đêm khuya

Người ta sưởi ấm bằng chăn đệm

Anh sưởi tim mình bằng nhớ em.

*


ĐỖ ANH TUYẾN


Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

TỐNG CỰU NGHINH TÂN (2) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 


Góc Cổ Thi :  
                                  TỐNG CỰU NGHINH TÂN  (2)
 

      Nhắc đến "Tống Cựu Nghinh Tân 送舊迎新" trong đêm Giao thừa, thì không thể không nhắc đến câu ngạn ngữ cổ xưa đã truyền tụng trong dân gian là :

                  一夜連雙歲,   Nhất dạ liên song tuế,
                  五更分二年.   Ngũ canh phân nhị niên.
        Có nghĩa :
                  Một đêm nối liền hai tuổi,
                  Năm canh chia đều hai năm.
        Qủa là :
                    Một đêm hai tuổi liền nhau,
               Năm canh sau trước chia đều hai năm.

      Không phải chỉ trong dân gian mà cả trong cung của vua Đường; nhà vua tài hoa văn võ song toàn Đường Thái Tôn Lý Thế Dân 唐太宗李世民 cũng có bài thơ "Thủ Tuế" trong đó có các câu rất hay như sau :

                 寒辭去冬雪,   Hàn từ khứ đông tuyết,
                 暖帶入春風。   Noãn đới nhập xuân phong.
        Có nghĩa :
             - Cái lạnh giả từ ra đi mang theo cả tuyết của mùa đông, và...
             - Cái ấm về lại mang cả gió xuân ấm áp theo về.

                     Lạnh đi mang cả tuyết đông,
                 Ấm về mang cả xuân phong theo về !
       Và...

               
                 共歡新故歲,   Cộng hoan tân cố tuế,
                 迎送一宵中。   Nghinh tống nhất tiêu trung !
       Có nghĩa :
            - Cùng vui vẻ với tuổi cũ và tuổi mới, vì...
            - Đón năm mới và đưa năm cũ chỉ trong một đêm mà thôi !

                              Cùng vui tuổi mới cũ vong,
                     Nghinh tân tống cựu trong vòng một đêm !     

       Rõ nét nhất, cụ thể nhất và cũng thi vị nhất là bài thơ Ngũ ngôn tuyệt cú《Trừ Dạ 除夜》là "Đêm Trừ tịch" của Tào Tung 曹鬆 đời Đường :  

                殘臘即又盡,     Tàn lạp tức hựu tận,
                東風應漸聞.     Đông phong ưng tiệm văn.
                一宵猶幾許,     Nhất tiêu do kỷ hử,
                兩歲欲平分.     Lưỡng tuế dục bình phân ?
       Có nghĩa :
            - Tháng Chạp sẽ tàn lụi ngay trước mắt đây thôi (Tức hựu tận).
            - Đã dần dần nghe có tiếng gió xuân (Đông phong) thổi đến rồi.
            - Một đêm là thời gian còn có bao lâu (kỷ hử) đâu, mà...
            - Hai tuổi, hai năm lại muốn chia đều (bình phân) với nhau ?!...

                
       Qủa là :
                   Tháng Chạp đã sắp tàn rồi,
                   Đã nghe tiếng gió xuân bồi hồi sang.
                   Một đêm ngắn chẳng đầy gang,
                   Chia đều hai tuổi chia làm sao đây ?!

       "Tống cựu nghinh tân" cũng có nhiều điều rất thi vị và lý thú, nên thơ  đến... ngẩn ngơ !

       Trong đêm trừ tịch, khi nghe tiếng pháo tre đì đà đì đẹt nổ để đón giao thừa, thì tất cả mọi người trong gia đình đều cùng nhau nâng ly rượu "Đồ Tô" trừ tà, trừ dịch bệnh lên để cùng nhau "Chúc Mừng Năm Mới". Tiêu biểu nhất là bài thơ "Nguyên Nhật 元日" là "Ngày đầu một năm" của một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" là Tể Tướng Vương An Thạch 王安石 đời Tống như sau :

               爆竹聲中一歲除,     Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ,
               春風送暖入屠蘇.     Xuân phong tống noãn nhập Đồ tô.
               千門萬戶曈曈日,     Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật,
               總把新桃換舊符.     Tổng bả tân đào hoán cựu phù.


                     Có nghĩa :
           - Trong tiếng pháo tre nổ thì một tuổi (một năm) đã được trừ đi,
           - Gió xuân đưa làn hơi ấm áp vào trong ly rượu Đồ tô.
           - Muôn nhà ngàn hộ đang đón ánh nắng ban mai theo mặt trời mọc...
           - Đều cùng "Gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".
      * Đào Phù 桃符 : là "Lá bùa được viết để dán lên cành đào". Ta gọi là "Lá bùa nêu". Thường được viết trên giấy đỏ và đều là những lời viết tốt đẹp. Sau phát triển thành những câu "Liễn Tết" mà ta gọi là "Câu Đối Đỏ". Nên "Tổng bả tân đào hoán cựu phù 總把新桃換舊符 là "Đều cùng gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".

                   Một tuổi qua đi trong tiếng pháo,
                   Gió xuân đưa ấm rượu Đồ tô.
                   Muôn nhà chờ nắng ngày xuân mới,
                   Thay liễn đều cùng đón ước mơ !

       Trên đây là những gia đình được đoàn tụ, sum họp trong đêm Ba mươi Tết để cùng đón giao thừa, cùng vui hưởng cái thiên luân của một gia đình đoàn viên hạnh phúc; Còn những người tha phương cầu thực, gởi thân nơi đất khách, phiêu bạc nơi xứ lạ quê người thì đón Giao thừa trong đêm Trừ tịch như thế nào đây ? Ta hãy cùng đọc bài thơ 《TRỪ DẠ 除夜》của thi nhân TỪ BÍ 徐賁 đời Nguyên như sau đây :


                 
               客舍無人更寂寥,  Khách xá vô nhân cánh tịch liêu,
               聲傳爆竹隔林遙。  Thanh truyền bộc trúc cách lâm diêu.
               幾多時節何堪恨,  Kỷ đa thời tiết hà kham hận,
               送卻流年是此宵。  Tống khước lưu niên thị thử tiêu !
      Có nghĩa :
           - Nhà khách không người nên càng (cánh) cảm thấy cô đơn vắng vẻ,
           - Tiếng pháo tre văng vẳng đưa lại từ mé rừng xa xa...
           - Biết bao lễ tiết đi qua làm sao nói cho hết được cái hận ở trong lòng ?
           - Lại phải đưa quách đi cái lễ tiết cuối cùng của năm nay trong đêm nay !

       Đưa tiễn năm cũ qua đi một cách dỗi hờn trong đêm trừ tịch. Quả là một cách đưa tiễn hờn mát của một kẻ xa nhà khi năm tàn Tết đến mà chẳng được cùng gia đình đoàn tụ .


                        
                    Nhà khách không người càng vắng lặng,
                    Pháo tre đì đẹt cách rừng xa...
                    Bao nhiêu lễ Tết còn chi hận...
                    Đưa quách năm tàn  đêm đã qua !

      Sau đây là tâm sự buồn thương day dứt của Thi Bá Bạch Cư Dị 詩霸 白居易 phải đón giao thừa nơi đất khách khi công chưa thành danh chưa toại qua bài thơ  KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ 客中守歲 (Đón Giao thừa nơi đất khách) của ông :   

              守歲樽無酒,   Thủ tuế tôn vô tửu,
              思鄉淚滿巾。   Tư hương lệ mãn cân.
              始知爲客苦,   Thủy tri vi khách khổ,
              不及在家貧。   Bất cập tại gia bần.
              畏老偏驚節,   Úy lão thiên kinh tiết,
              防愁預惡春。   Phòng sầu dự ố xuân.
              故園今夜裏,   Cố viên kim dạ lý,
              應念未歸人。   Ưng niệm vị quy nhân.
                        白居易                    Bạch Cư Dị


            
* CHÚ THÍCH :
    - Khách Trung 客中 : là Trong lòng đất khách, có nghĩa là Đang ở nơi đất khách.
    - Thủy Tri 始知 : Mới biết được rằng ...
    - Bất Cập 不及 : Không bằng được ....
    - Úy 畏 : là Sợ, mà Kinh 驚 : cũng là Sợ, ta có từ kép Kinh Úy 驚畏 là Sợ Hãi.
    - Ố 惡 : là Ghét. ta có từ KHẢ Ố 可惡 : là Đáng ghét.
    - Cố Viên 故園 : là Vườn Xưa, từ dùng để chỉ Quê Nhà, Quê Xưa, Quê hương.
    - Ưng Niệm 應念 : là Chắc là đang nhớ đến, nhắc đến...                    

* NGHĨA BÀI THƠ :

              ĐÓN GIAO THỪA NƠI ĐẤT KHÁCH
             
       Đón giao thừa mà trong chai đã hết rượu rồi.
       Nước mắt nhớ quê hương ướt đẫm cả khăn tay. 
       Mới biết rằng làm người khách xa quê hương là rất khổ, 
       Không bằng nghèo khó mà được ở quê nhà. Vì...
       Sợ gìa nên cũng sợ luôn cả các lễ Tết...
       Dự phòng sầu muộn nên cũng ghét luôn cả mùa xuân. 
       Ở nơi quê nhà trong đêm nay, chắc mọi người cũng...
       Đang nhắc đến cái người đi chưa về là mình đây !

      Lễ Tết đến mà lại phải tha phương cầu thực. Đón giao thừa nơi đất khách mà chai thì hết rượu, túi lại không tiền, Mới biết rằng thà nghèo khổ mà Tết được ở nhà còn hơn đi tìm chữ công danh mà lang thang chân trời góc bễ. Trong khi tuổi già cứ sồng sộc ập xuống đầu nên càng sợ xuân về Tết đến hơn bao giờ hết, như lời thơ của nhà thơ Chế Lan Viên thời Tiền Chiến :

                     Tôi có chờ đâu có đợi đâu,
                   Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

* DIỄN NÔM :           
                 KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ



                Giao thừa chai hết rượu,
                Nhớ quê lệ ướt khăn.
                Mới hay tha hương khổ,
                Không bằng nghèo yên thân.
                Ngại gìa lại e Tết,
                Sợ buồn cũng ghét xuân.
                Quê nhà đêm nay chắc...
                Nhớ người đi bâng khuâng.
   Lục bát :
                Giao thừa chai rượu lại không,
                Nhớ quê lệ ướt đầm khăn đêm này.
                Mới hay lưu lạc khổ thay,
                Không bằng nghèo khó ngày ngày yên thân.
                Sợ gìa sợ cả nàng xuân,
                Sợ ngày tháng lụn năm cùng ngổn ngang.
                Đêm nay chắc cả thôn làng,
                Ngóng trông những kẻ lang thang chưa về !
                                       
       Buồn cho thân phận tha phương đón Tết của mình, Bạch Cư Dị cũng buồn luôn cho những thân nhân đang đón giao thừa nơi quê nhà : Chắc mọi người cũng đang khoắc khoải trông ngóng lo lắng cho mình, là kẻ còn lưu lạc phương trời, không biết sẽ đón giao thừa và  ăn Tết ra sao ?!    

       Hẹn bài dịch tới !

                                                 
                  杜紹德
            ĐỖ CHIÊU ĐỨC