CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

MƠ ĐƯỢC HÁI SEN - THƠ NGUYỄN DU, ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 


Góc Việt Thi :

                         MƠ ĐƯỢC HÁI SEN của NGUYỄN DU    


                       

      Trong "Nam Trung Tạp ngâm 南中雜吟" của cụ Nguyễn Du 阮攸, ghi lại tất cả những bài thơ mà ông đã làm trong thời gian "Làm quan ở kinh đô Huế" (1805-1808). Sau đây là chùm thơ "Hái Sen" nổi tiếng của ông đã được trích làm những bài học thuộc lòng trong văn thơ cổ lớp 11 của chương trình THPT. Kính mời các bạn cùng đọc và thưởng thức hệ thống 5 bài thơ "MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN 夢得採蓮 Mơ Được Hái Sen" của Nguyễn Du sau đây :


                 其一                    Kỳ nhất

             緊束蛺蝶裙     Khẩn thúc kiệp điệp quần

             採蓮棹小艇     Thái liên trạo tiểu đĩnh

             湖水何浺瀜     Hồ thủy hà xung dung

             水中有人影     Thủy trung hữu nhân ảnh


                 其二                   Kỳ nhị

             採採西湖蓮     Thái thái Tây Hồ liên

             花實俱上船     Hoa thực câu thướng thuyền

             花以贈所畏     Hoa dĩ tặng sở úy

             實以贈所憐     Thực dĩ tặng sở liên


                 其三                  Kỳ tam

             今晨去採蓮     Kim thần khứ thái liên

             乃約東鄰女     Nãi ước đông lân nữ

             不知來不知     Bất tri lai bất tri

             隔花聞笑語     Cách hoa văn tiếu ngữ


                 其四                  Kỳ tứ

             共知憐蓮花     Cộng tri liên liên hoa

             誰者憐蓮幹     Thùy giả liên liên cán

             其中有真絲     Kì trung hữu chân ti

             牽連不可斷     Khiên liên bất khả đoạn


                 其五                  Kỳ ngũ

             蓮葉何青青     Liên diệp hà thanh thanh

             蓮花嬌盈盈     Liên hoa kiều doanh doanh

             採之勿傷藕     Thái chi vật thương ngẫu

             明年不復生     Minh niên bất phục sanh


            * Chú thích :

    - Khẩn Thúc 緊束 : KHẨN là chặt; THÚC là buộc. KHẨN THÚC là buộc cho chặt.

    - Kiệp Điệp Quần 蛺蝶裙 : là Quần (váy) có thêu hình bươm bướm bay. Có xuất xứ từ bài thơ "Học Thư 學書"(Học viết thư pháp) của Dương Duy Trinh 楊維楨 đời Nguyên 元 như sau :


             歌徹陽春酒半醺,     Ca triệt dương xuân tửu bán huân,

             玉尖搦管蘸香雲。    Ngọc tiêm nhược quản trám hương vân.

             新詞未上鴛鴦扇,     Tân từ vị thướng uyên ương phiến,            

             醉墨先污蛺蝶裙。    Túy mặc tiên ô Kiệp Điệp Quần !

    Có nghĩa :

                    Hát hết Dương xuân nửa tỉnh say,

                    Tay thon nắn nót phiếm mây trời.

                    Ý thơ chưa viết uyên ương quạt,

                    Mực đã lắm lem váy bướm rồi !


    - Trạo 棹 : Danh từ là Cây dằm, cây chèo; Động từ là Bơi, Chèo, Chống.

    - Xung dung 浺瀜 : Chỉ thế nước rộng và sâu; là Lai láng, là mênh mông.

    - Thái 採 : là Hái. Hai chữ THÁI đi liền nhau THÁI THÁI 採採 có nghĩa Hái rồi lại hái, hái không ngừng tay, hái lia hái lịa...

    - Hoa Thực 花實 : HOA là Bông; THỰC là Trái. Trong bài thơ chỉ Hoa sen và Gương sen.

    - Sở 所 : là Phiếm chỉ Đại từ có nghĩa : Cái mà...; Người mà... như trong bài thơ : SỞ UÝ 所畏 là Người mà ta kính sợ; SỞ LIÊN 所憐 là Người mà ta thương xót.

    - Kim Thần 今晨 : KIM là Hôm nay; THẦN là Buổi sáng. KIM THẦN là Sáng nay.

    - Đông Lân Nữ 東鄰女 : Theo sách LỄ KÝ xưa 《禮記》中有記載 có ghi rằng :「Chủ nhân tựu Đông giai, Khách nhân tựu Tây giai 主人就東階,客人就西階」Có nghĩa : Chủ nhân thì ngồi ở thềm phía đông, còn người làm khách thì ngồi ở thềm phía Tây. Sau dùng rộng ra, gọi ĐÔNG GIA 東家 là Nhà chủ, nhà làm Cái. ĐÔNG LÂN 東鄰 là gọi một cách tôn trọng người hàng xóm là "Ông chủ mé Đông"; Nên ĐÔNG LÂN NỮ 東鄰女 là cô gái xóm đông, là "Cô Hàng xóm" như trong bài thơ "Năm Qua" của thi sĩ J. Leiba thời Tiền chiến :

                  Duyên mình hờ hững hộ duyên ai,

                  CÔ GÁI ĐÔNG LÂN dáng ngậm ngùi...


    - Lân 鄰 : có Bộ ẤP 阝là thôn xóm đứng bên phải, nên có nghĩa là Hàng xóm. Như ĐÔNG LÂN 東鄰 là Xóm Đông; LÂN LÝ 鄰里 là Làng xóm, như Kim Trọng nói với Thúy Kiều :

                       Chàng rằng LÂN LÝ ra vào,

                    Gần đây chớ phải người nào xa xôi ! 


    - Lân 憐 : có Bộ TÂM 忄là lòng dạ đứng bên trái, nên có nghĩa là Thương. Như KHẢ LÂN 可憐 là Đáng thương; LÂN TUẤT 憐恤 là Thương xót, như cụ Nguyễn Du đã viết khi gia đình Thúy Kiều gặp nạn, lúc "Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi", thì :

                       Hạ từ van lạy suốt ngày,

                   Điếc tai LÂN TUẤT, phũ tay tồi tàn.


    - Cán 幹 : là Thân, là Cọng (sen).

    - Khiên Liên 牽連 : KHIÊN là Dẫn, dắt; LIÊN là Liền nhau; Nên KHIÊN LIÊN là nắm níu, là Dây dưa, là Vướng mắc.

    - Doanh Doanh 盈盈 : là Đầy đặn, nhởn nhơ, tả cái dáng vẻ yêu kiều dễ thương của các cô gái; Trong bài thơ chỉ hoa sen tươi đẹp đáng yêu.


               

* Nghĩa các bài thơ :

                                   MƠ ĐƯỢC HÁI SEN

    -Bài 1 :

            Buộc chặc lại cái váy có thêu hình các con bươm bướm; rồi chống chiếc thuyền nhỏ đi hái sen; Nước hồ ôi sao mà mênh mông và chập chờn có bóng hình người in trong nước.

   - Bài 2 : 

           Hái lấy hái để sen Tây Hồ; Hoa sen và gương sen đều cho cả lên thuyền; Hoa sen thì để tặng cho người ta kính trọng, còn gương sen thì để tặng cho người ta thương yêu.

   - Bài 3 :

           Sáng nay lại đi hái sen, cùng hẹn với cô gái ở xóm đông lân; Cũng không biết là cô ấy đến hay không đến, chỉ nghe tiếng cười nói trong lá hoa sen vang vọng lại mà thôi !

   - Bài 4 :

           Cùng biết với nhau rằng phải thương xót hoa sen, nhưng ai là người biết thương xót cả những cọng sen nữa. Vì trong những cọng sen kia còn có những tơ lòng thật, và những sợi tơ đó sẽ vương vấn không bao giờ đứt cả !

   - Bài 5 :

           Ôi, lá sen sao mà xanh xanh như thế kia, và hoa sen lại đẹp một cách yêu kiều dễ thương như thế kia. (Khuyên ai đó) có hái sen thì đừng để tổn thương đến củ sen và ngó sen, (Nếu làm cho thương tổn) thì sang năm sen sẽ không còn sinh sôi nẩy nở nữa !    

                 

* Diễn Nôm :

                     MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN


                              Bài 1.

                   Xắn lại quần cánh bướm,

                   Chống thuyền đi hái sen.

                   Nước hồ sao lai láng,

                   Thấp thoáng bóng người quen !


                              Bài 2.

                   Hái , hái sen Hồ Tây,

                   Hoa gương thuyền chất đầy.

                   Hoa tặng người ta qúy,

                   Gương tặng người thương đây !


                              Bài 3.

                   Sáng nay hái sen hồng,

                   Hẹn cô gái xóm đông.

                   Đến không nào ai biết...

                   Tiếng cười nói trong bông !


                              Bài 4.

                   Cùng biết yêu hoa thôi,

                   Ai người yêu ngó, chồi ?

                   Tơ lòng trong ngó ấy...

                   Vương vấn mãi không thôi !...


                              Bài 5. 

                   Lá sen sao xanh xanh,

                   Hoa sen đẹp xinh xinh.

                   Hái khéo chớ thương tổn,

                   Sang năm sen chẳng sinh !


       Lục bát :

             

                               Bài 1.

                    Xắn quần cánh bướm chập chờn,

                Hái sen chống chiếc thuyền con lửng lờ.

                    Nước hồ lai láng nên thơ,

                Thấp thoáng trong nước mập mờ bóng ai.


                              Bài 2.

                     Hái vội sen của Hồ Tây,

                Thuyền con bỗng chốc đã đầy hoa, gương.

                    Hoa thì tặng người kính thương,

                 Gương thì tặng kẻ ta thường dấu yêu.  


                              Bài 3.

                     Sáng nay đi hái sen hồng,

                  Hẹn cô gái ở xóm đông đi cùng.  

                     Biết không, biết có tới không ?

                 Chỉ nghe cười nói trong lòng hồ sen.     


                              Bài 4.

                     Cùng là thương xót hoa sen,

                 Ai người thương xót ngó sen đâu nào?

                      Trong ngó có tơ thật sao,

                 Vấn vương vương vấn chẳng bao giờ rời.   


                              Bài 5.

                     Lá sen sao khéo xanh xanh,

                 Hoa sen sao khéo xinh xinh khác thường.

                     Hái sen chớ khá tổn thương,

                 Sang năm sen sẽ hết đường xinh tươi !   

     

                    

        Qủa là những vần thơ đầy thi tình họa ý, phác họa nên toàn cảnh của các cô gái hái sen trong mùa hè nóng bức một cách thực tế, hiển hiện trước mắt chớ không phải trong mơ như cụ Tiên Điền "Mơ được hái sen"(Mộng đắc thái liên) nữa, mà là cảnh sống động của các cô nàng hái sen tươi mát cùng tranh kiều diễm với các "Liên diệp thanh thanh" và "Liên hoa doanh doanh" một cách nửa cân tám lạng :


                     Lẫn trong ao vẳng tiếng cười,

                  Nghe ca mới biết có người hái sen !   


         Qủa là một chuổi thơ hái sen rất nên thơ lý thú và tràn đầy thi vị của cụ Nguyễn Du trong khoảng thời gian làm quan ở triều đình Huế.


         Hẹn bài dịch tới  !


                                                 杜紹德

                                                 ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

ĐÒ NGANG CHỞ NHỚ - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI


 


ĐÒ NGANG CHỞ NHỚ

Hò ơ... ơ... hò...
Ai qua bến nước chiều nay,
Cho em nhắn gởi câu này sang sông.
Con đò còn đợi bên dòng,
Mà người năm cũ biệt tăm phương nào...
Hò ơi... hò ơ... hờ ơi…..
Đò ngang lặng lẽ giữa dòng sông,
Chở khách qua rồi chở nhớ mong.
Con nước xuôi hoài không ngoảnh lại,
Để người đứng đợi lạnh bờ trông.
Ngày ấy em qua chuyến đò chiều,
Áo trắng bay bay giữa nắng xiêu.
Tôi nhìn theo mãi con đò khuất,
Nghe cả lòng mình gợn sóng yêu.
Em đâu biết được người bên ấy,
Ngày ngày mong ngóng bóng đò ngang.
Mỗi lần nghe tiếng chèo khua nước,
Lại ngỡ người thương đứng đón sang.
Bến cũ còn đây hàng dừa nước,
Gió chiều vẫn hát khúc mênh mang.
Mà sao năm tháng trôi xa quá,
Người với người như cách ngút ngàn.
Đò ngang ơi... đò còn sang bến,
Có chở giùm em chút ân tình.
Bên kia sông ấy người còn nhớ,
Hay đã quên ai một bóng hình…..
Hò ơ...Đêm nghe tiếng nước vỗ bờ,
Nghe như ai gọi câu thơ năm nào...
Hò ơi...Gió đưa ngọn trúc lao xao,
Hò ơ...Lục bình trôi tím lênh đênh,
Mang theo nỗi nhớ lênh đênh phận người...
Hò ơi...Dòng sông còn chảy không nguôi,
Mà sao duyên phận một đời cách xa...
Chiều nay tôi lại ra đầu bến,
Nghe tiếng chèo khua động nước mềm.
Tưởng đâu người cũ về qua đó,
Chỉ thấy hoàng hôn tím xuống êm.
Hò ơi...
Nếu có một lần quay lại bến sông xưa...
Em vẫn nhận ra người đứng đợi...
Vẫn còn nguyên như buổi ban đầu...
Đò ngang năm tháng còn đưa khách,
Mái tóc người chèo đã bạc phai.
Chỉ riêng nỗi nhớ còn nguyên vẹn,
Như buổi người đi của một ngày.
Hò ơ...
Con đò còn đợi bên sông...
Mà người năm cũ đã không đường về...


HTH

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

DẪU LÌA NGÓ Ý CÒN VƯƠNG TƠ LÒNG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC




Thành ngữ Điển tích :

             DẪU LÌA NGÓ Ý CÒN VƯƠNG TƠ LÒNG

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

Dẫu lìa ngó ý còn vuông tơ lòng

       Trong bài thơ VÔ ĐỀ nổi tiếng của Lý Thương Ẩn, một thi nhân đời Đường,  có một câu thơ "Bất Hủ" với thời gian và với Văn học Việt Hoa, đó là câu :

            春 蠶 到 死 絲 方 盡 , Xuân tàm đáo tử ti phương tận.  

       Có nghĩa : "Con tằm xuân đến chết mới hết nhả tơ " 

     ... và chàng Thúc Sinh đã mượn NÓ để than vản với Thúy Kiều khi Hoạn Thư..."phải buổi vấn an lại nhà" là :

                      Dù cho sông cạn đá mòn,

               Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ ! 

       Trong văn học Việt Nam, ngoài TƠ TẰM, ta còn có TƠ NHỆN như :

                     Buồn trông con nhện giăng tơ,

                  Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?!

       Nhưng...

                    Tằm vương tơ nhện cũng vương tơ,

                    Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm ?!

      Còn một thứ tơ nổi tiếng trong văn học và trong tình yêu nữa, đó là TƠ LÒNG... Trong LÒNG nào có TƠ ? Thưa, tròng lòng của Củ Sen, Cọng Sen và Ngó Sen. Khi ta bẻ một ngó sen, mặc dù cọng sen đã gãy đôi, nhưng trong LÒNG của 2 đầu ngó sen vẫn còn vướng mấy sợi TƠ chưa có dứt hẵn. Trong Văn học Cổ có thành ngữ : NGẪU ĐOẠN TY LIÊN 藕斷絲連. NGẪU là Củ Sen, Ngó sen. ĐOẠN là đứt. TY là Tơ. LIÊN là dính liền. Chỉ Củ sen, ngó sen mặc dù đã gãy đứt, nhưng những sợi tơ trong đó vẫn còn dính liền nhau. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những cặp đôi yêu nhau khi đã chia tay, hoặc vợ chồng mặc dù đã ly dị, nhưng vẫn còn vương vấn, dan díu nhau, như Thúy Kiều khi đã yên phận về với Từ Hải rồi, nhưng trong thâm tâm vẫn còn nhớ tới Thúc Sinh và Kim Trọng, Cụ Nguyễn Du đã hạ 4 câu thơ thật hay là :

                       Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

                   Dẫu lìa NGÓ Ý  còn vương TƠ LÒNG ! 

                        Duyên em dù nối chỉ hồng,

                   May ra khi đã tay bồng tay mang.


           

       Còn trong Văn học Mới thì TƠ LÒNG là "Tiếng Tơ Lòng", là Tiếng đàn phát xuất từ sự rung động của con tim như Nhạc Sĩ NGUYỄN VĂN TÝ đã viết lời ca rất hay cho bản nhạc DƯ ÂM rất nổi tiếng của ông là :

                 "Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn Tiếng Tơ..." 

       Trong phạm vi Văn học cổ, thì câu "Dẫu lìa NGÓ Ý còn vương TƠ LÒNG!" có xuất xứ từ thành ngữ "NGẪU ĐOẠN TY LIÊN 藕斷絲連", mà thành ngữ nầy lại có xuất xứ từ bài thơ KHỨ PHỤ 去婦 của Thi Tù MẠNH GIAO 孟郊 như sau :


         去婦                 KHỨ PHỤ


      君心匣中鏡,   Quân tâm hạp trung kính,

      一破不復全。   Nhất phá bất phục tuyền.

      妾心藕中絲,    Thiếp tâm ngẫu trung ty,

      雖斷猶牽連。   Tuy đoạn do khiên liên.

      安知御輪士,   An tri ngự luân sĩ,

      今日翻回轅。   Kim nhật phiên hồi viên.

      一女事一夫,   Nhất nữ sự nhất phu,

      安可再移天。   An khả tái di thiên.

      君聽去鶴言,   Quân thính khứ hạc ngôn,

      哀哀七絲絃。   Ai ai thất ti huyền.


       


* Chú thích :

    - KHỨ PHỤ 去婦 : KHỨ 去 là Phóng Khứ 放去 hay Khứ Điệu 去掉; có nghĩa là Buông bỏ, Bỏ đi. PHỤ 婦 là Người đàn bà, là người Vợ. Nên... KHỨ PHỤ 去婦 là BỎ VỢ, là Thôi Vợ. 

    - HẠP 匣 : là cái Hộp, cái Tráp. HẠP TRUNG KÍNH 匣中鏡 :là cái Kiếng cái Gương trong tráp của các bà các cô dùng để trang điểm.

    - NGẪU 藕 : là Củ sen, Ngó sen . NGẪU TRUNG TY 藕中絲 : là Tơ trong củ sen, ngó sen .

    - KHIÊN LIÊN 牽連 : KHIÊN là Dẫn, dắt; LIÊN là Liền nhau; Nên KHIÊN LIÊN là nắm níu, là Dây dưa, là Vướng mắc.

    - AN 安 : Ở đây là Nghi vấn tự, là từ dùng để đặt câu hỏi, như :

      AN TRI 安知 là "Làm sao mà biết được ?... Có biết đâu rằng ?...

      AN KHẢ 安可 là "Làm sao có thể ?... Sao mà có thể ?...

      AN NĂNG 安能 là "Làm sao có thể được ?... Sao mà được ?...

         ..................

    - NGỰ LUÂN SĨ 御輪士 : là Người lính cởi trên bánh xe; Ý chỉ người lái xe, là người chủ động. Trong bài thơ chỉ "người chồng".

    - PHIÊN HỒI VIÊN 翻回轅 : PHIÊN là Lật ngược; HỒI là Trở lại; VIÊN là Cái Càng xe; Nên PHIÊN HỒI VIÊN là "Lật ngược cái càng xe trở lại", là "Quay về đường cũ".

    - SỰ PHU 事夫 : là Thờ chồng. SỰ NHẤT PHU 事一夫 là "Chỉ thờ một chồng" như câu ngạn ngữ trong Sử Ký của Tư Mã Thiên :"Trung thần bất sự nhị quân; Liệt nữ bất sự nhị phu 忠臣不事二君,烈女不事二夫"; là "Trai trung thần không thờ hai chúa, Gái tiết liệt chẳng lấy hai chồng".

    - DI THIÊN 移天 : là Dời Trời, là Lấy chồng. Theo lễ tiết của thời phong kiến Trung Hoa xưa : Con gái khi còn ở nhà thì phải thờ cha như Trời; Lấy chồng rồi thì phải thờ chồng như là Trời. Nên lấy chồng là dời Trời từ Cha sang Chồng, gọi là DI THIÊN, và Lấy Chồng thêm một lần nữa gọi là TÁI DI THIÊN 再移天. Câu thơ "安可再移天 An khả Tái Di Thiên" có nghĩa : "Làm sao có thể lấy chồng thêm một lần nữa chứ ?!"

    - KHỨ HẠC NGÔN 去鶴言 : là "Lời của con chim hạc khi bay đi", chỉ tiếng kêu của con chim hạc khi phải lìa đàn.

    - Ai Ai 哀哀 : là bi ai, là buồn thương vô hạn...


                    


* Nghĩa bài thơ :

         BỎ VỢ

       Lòng chàng thì như là chiếc gương trong tráp, hễ vỡ rồi thì khó mà làm cho lành lặn lại như xưa. Còn lòng thiếp thì như những sợi tơ trong ngó sen vậy, mặc dù ngó sen đã gãy rồi nhưng những sợi tơ vẫn còn vương vấn. Nhưng... Biết đâu được người lính đã lái xe đi rồi, hôm nay lại quay càng xe trở lại thì sao ?! Còn thiếp là phận gái chỉ biết thờ một chồng, làm sao có thể lại tái giá được chứ ?! Chàng hãy nghe kìa... tiếng kêu thương của con hạc lìa đàn, nó ai oán não nề như là tiếng thất huyền cầm vậy !!!...

      Đây qủa tiếng lòng não nuột chân thành của một người vợ bị chồng bỏ rơi, cam chịu với số phận hẫm hiu của mình. Chàng bỏ thiếp như gương vỡ khó lành, còn lòng thiếp thì như ngó sen kia, tuy đã gãy lìa nhưng tơ tình vẫn còn vương vấn, vẫn ôm lấy hi vọng một ngày nào đó chàng sẽ "quay xe trở lại". Bị chồng bỏ rơi nhưng không chút oán trách mà vẫn thủ tiết để sẵn sàng chờ ngày chàng hồi tâm chuyển ý, mặc dù luôn sống trong cảnh bi ai buồn thương sầu não như cánh hạc lìa đàn kêu thương như bảy dây đàn ai oán !!!... 

      Hai câu 3,4 của bài thơ trên là xuất xứ của thành ngữ "NGẪU ĐOẠN TI LIÊN 藕斷絲連". Có nghĩa : "Ngó sen, củ sen tuy đã gãy lìa, nhưng những sợi tơ bên trong vẫn còn dính liền không đứt". Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ : Việc gì đó tuy đã kết thúc, giải quyết dứt điểm rồi; nhưng vẫn còn vướng mắc, dính líu đến những hệ lụy trước mắt hay về sau... Như : Đã lập gia đình rồi, nhưng vẫn còn tưởng nhớ đến người yêu cũ... Như Thúy Kiều khi đã an phận với Từ Hải rồi, nhưng vẫn nhớ về chàng Thúc Sinh và Kim Trọng năm xưa; Cụ Nguyễn Du đã viết :


                ... Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

                    Dẫu lìa NGÓ Ý còn vương TƠ LÒNG.

                    Duyên em dù nối chỉ hồng,

                    May ra khi đã tay bồng tay mang !...


                   


* Diễn Nôm :

             KHỨ PHỤ

              Lòng chàng như kính điểm trang,

              Vỡ rồi khó vá biết làm sao hơn ?

              Lòng thiếp như ngó sen thường,

             "Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng"!

              Xe chàng rong rủi thong dong,

              Biết đâu nay lại hồi tâm quay về ?!

              Phận thiếp cam chịu một bề,

              Thờ chồng suốt kiếp chẳng hề thở than,

              Chàng ơi, nghe tiếng hạc ngàn,

              Não nề tựa bảy dây đàn bi ai !!!

        Có ông chồng nào còn "nhẫn tâm" không chịu "quay xe trở lại" khi nghe những lời chung tình đầy bi thương ai oán trung trinh tiết liệt nầy nữa chứ ?!...     


* Tiểu sử Tác giả :

            MẠNH GIAO 孟郊(751-814)tự Đông Dã 東野, người đất Võ Khang thuộc Hồ Châu (Nay thuộc huyện Thanh Đức tỉnh Chiết Giang) Tổ quán là Bình Xương (Nay thuộc Lâm Ấp tỉnh Sơn Đông). Công danh lận đận, 46 tuổi mới đậu Tiến sĩ. Một đời khốn đốn, nên thơ thường là những tiếng lòng bất bình, dùng chữ trúc trắc, rắn rỏi. Mê thơ đến trễ nãi cả công vụ. Nổi tiếng là THI TÙ 詩囚 (Tù nhân của Thơ) ngang hàng với GIẢ ĐẢO 賈島 là THI NÔ 詩奴 (Nô lệ của Thơ). Người đời xưng cả hai là "Giao Hàn Đảo Xấu 郊寒島瘦" (Giao thì lạnh, Đảo thì ốm). Tác phẩm tiêu biểu để đời của ông là bài "Du Tử Ngâm 游子吟" và "Đăng Khoa Hậu 登科後". Năm Đường Nguyên hòa thứ 9, ông bị bệnh và mất lúc 64 tuổi, để lại "Mạnh Đông Dã Tập 孟東野集" trên 500 bài thơ, đa số là thơ ngũ ngôn.            

      Sau đây là bài thơ ngũ ngôn nổi tiếng nhất của Mạnh Giao, đó chính là bài "DU TỬ NGÂM 遊子吟" như sau :


                 慈 母 手 中 线,    Từ mẫu thủ trung tuyến,              

                 遊 子 身 上 衣.    Du tử thân thượng y.                             

                 临 行 密 密 缝,    Lâm hành mật mật phùng,                       

                 意 恐 遲 遲 歸.    Ý khủng trì trì quy.             

                 誰 言 寸 草 心,    Thùy ngôn thốn thảo tâm,                

                 報 得 三 春 暉?    Báo đắc tam xuân huy ?


                   

      Bài thơ có tựa là "KHÚC NGÂM của NGƯỜI DU TỬ", người lãng du phiêu bạt giang hồ nhớ về Mẹ như sau :

      Sợi chỉ trong tay bà mẹ hiền, khâu nên chiếc áo ở trên mình người du tử. Lúc ra đi, mẹ đã từng mũi từng mũi một khâu thật chắc, ý sợ rằng con mình mê mãi thú giang hồ mà nấn ná dần dà trễ tràng trở về quê cũ. Ai bảo rằng tấc lòng của cọng cỏ non kia, có thể báo đáp được ánh nắng ấm áp của ba tháng mùa xuân chứ ?.(Trong mùa đông thì cỏ chết rụi cả, chỉ sống lại nhờ ánh nắng của ba tháng mùa xuân mà thôi!).

                

                         DU TỬ NGÂM


                    Kim chỉ trên tay từ mẫu,

                    Khâu nên áo lãng du nhân.

                    Khi đi chắc chiu từng mũi,

                    Sợ ngày về lắm lần khần.

                    Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,

                    Báo đền được nắng ba xuân ?!

        Lục bát :

                    Đường kim mũi chỉ mẹ hiền,

                    Khâu nên chiếc áo trên mình lãng du,

                    Chắc chiu từng mũi từng khâu,

                    Sợ e con trẻ đi lâu chửa về

                    Ai rằng tấc cỏ bên lề,

                    Báo đền được ánh nắng về ba xuân ?!

      Ôi, nỗi lòng thương con của bà mẹ thật tỉ mỉ, chi li, nhưng lại bao la sâu rộng vô cùng. Bà không trách con đi lâu, cũng không buộc con phải về sớm, vì bà biết tánh lãng tử của con mình. Bà chỉ âm thầm chắc chiu từng mũi kim cho thật chặc, chỉnh e khi ở xứ lạ quê người, áo của con bị sứt chỉ đường tà sẽ không có ai khâu hộ. Việc tuy nhỏ nhặt, nhưng lại hàm chứa biết bao nỗi thương yêu lo lắng của Mẹ Hiền. Mạnh Giao đã kết bằng cách mượn nỗi lòng của một tấc cỏ nhỏ nhoi, thì làm thế nào có thể báo đáp cho được ánh nắng ấm áp của 3 tháng mùa xuân đã mang sức sống và xanh tươi đến cho cây cỏ và vạn vật muôn loài cho được !

      Khi diễn tả Thúy Kiều cân nhắc giữa tình và hiếu, rồi quyết định bán mình chuộc tội cho cha. Hành động bán mình là việc làm cao cả, vĩ đại, nhưng đối với công lao trời biển, sanh thành dưỡng dục của cha mẹ thì Nguyễn Du vẫn cho là chưa đủ, cho nên ông đã dùng chữ "Liều" một cách rất tài tình :

                          Hạt mưa xá nghĩ phận hèn

                  LIỀU đem TẤC CỎ quyết đền BA XUÂN !

      Sự thật, bán mình chuộc cha thì Thúy Kiều có thể nói đã hoàn toàn trả được chữ hiếu rồi !(hết đời rồi , còn gì nữa !) : "Bán mình là hiếu, cứu người là nhân" mà, và như Sư Tam Hợp đã nói : "Bán mình đã động hiếu tâm đến trời". Nỗi lòng "tấc cỏ" của Thúy Kiều khả dĩ nói là đã đáp đền được "ánh nắng của ba xuân" rồi. (hay chưa ?!).


                           Bản viết tay của ĐCĐ 2011  và  Bản chữ Thảo trên mạng 


      Tuy nói là Mạnh Giao chuyên về thơ ngũ ngôn, nhưng thơ thất ngôn của ông cũng rất đặc sắc...

      Năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), Thi Tù Mạnh Giao đã 46 tuổi, phụng mệnh của mẹ đi ứng thi lần thứ ba, và lần nầy thì ông đậu ngay Tiến Sĩ cập đệ. Nỗi mừng biết lấy chi cân, ông vội vả về ngay quê nhà để báo tin vui với mẹ. Và cũng trong ngày vui trọng đại có hơi muộn màng nầy, ông đã làm một bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt "Đăng Khoa Hậu 登科後" để đời như sau :

                昔日齷齪不足夸,  Tích nhật ác xúc bất túc khoa,

                今朝放蕩思無涯。  Kim triêu phóng đãng tứ vô nha.

                春風得意馬蹄疾,  Xuân phong đắc ý mã đề tật,

                一日看盡長安花。  Nhất nhật khán tận Trường An hoa !

Có nghĩa :

                Ngày xưa hèn mọn chẳng cần bàn,

                Phóng đảng hôm nay tứ ngút ngàn. 

                Đắc ý gió xuân mau vó ngựa,

                Một ngày ngắm hết hoa Trường An !    

                   

           

         Bài thơ đắc ý nêu trên đã hình thành đến hai thành ngữ để đời mãi cho đến hiện nay vẫn còn thông dụng là XUÂN PHONG ĐẮC Ý 春風得意 để chỉ những việc ĐẮC Ý trong đời sống hàng ngày như : Thi đậu, làm ăn thành đạt, trúng số, có được người yêu, kết hôn... và TẨU MÃ QUAN HOA 走馬觀花, ta nói là CỞI NGỰA XEM HOA. Thành ngữ nầy lúc ban đầu dùng để chỉ gặp được việc xứng ý toại lòng và tâm lý vui vẻ, nhưng hiện nay thường dùng để chỉ việc gì đó chỉ làm hoa loa, lấy có, làm một cách hời hợt chiếu lệ cho xong việc ... "Cởi Ngựa Xem Hoa" thì làm sao mà xem cho kỹ được !


         Hẹn bài viết tới


                  杜紹德                                                                                  

                                          ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

QUÊ XA - THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


QUÊ   XA

1.

 

Tôi về một sớm bình minh

Vịn vào nỗi nhớ tìm hình tuổi thơ…

Mái tranh khói tím giăng mờ

Gió đưa hương lúa đơn sơ mơ hồ

Nghiêng vành nón lá nhấp nhô

Giữa làn sóng lúa xanh xô bềnh bồng

Heo May thả gió trên đồng

Lúa mùa đến cử đòng đòng trổ bông

Cánh cò trắng, cánh gió đồng

Cánh diều treo giữa mênh mông trời chiều

Cánh chim chao gió liêu xiêu

Đồng xanh chao gió hiu hiu ngọt ngòn

Chiều tà nắng xế đầu non

Ai đem giấu nắng hoàng hôn cuối đèo

Gió mơn man, gió hanh hao

Thổi vào mái lá ngọt ngào tái tê… 


2.


Tôi giờ xa xứ, xa quê

Nhớ quay quắt nhớ lời thề đinh ninh

Nhớ mông lung, nhớ vô hình

Thèm trông một cụm lục bình xa khơi

Nhớ nhiều tiếng hát à ơi

Ngọt ngào, chân chất những lời thương yêu

Giữa đồng bóng Mẹ liêu xiêu

Áo nâu đã bạc vá nhiều đường may…

Hoa sen nở những ngón tay

Cánh hoa tim tím hương bay bồi hồi

Phù sa bên lở bên bồi

Quê hương thương lắm một thời đắm say…

Trên trời mây trắng vẫn bay

Dòng sông vẫn chảy, hàng cây vẫn còn

Lâu rồi lòng dạ héo hon

Người đi biệt xứ héo mòn tình quê…

             

 

            Nha Trang, tháng  06. 2026

                 LÊ KIM THƯỢNG


Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026

PH. - THƠ HOÀNG XUÂN SƠN


 


PH.
[Tặng Trần Thị NgH,
  với Điểm Mù phát sáng]

 
khi anh rặn thốt chữ [ phờ ]
bỗng nghe [phạc] đến ngù ngờ nói năng
em phụng phịu bảo trăng rằm
đâu phương phi sáng đẹp
bằng 5
[thua]
                   10
phởn phơ thanh xuân
nói
cười 
phong phanh tấm áo lụa
tươi 
vàng mềm
xin em cứ phơ phất nhìn
anh trong sắc giới đã chìm phôi pha 

 
HOÀNG XUÂN SƠN
@hxs.27mai26
Nguồn:Thơ Văn Trần Yên Hoà

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026

NIỆM CHIỀU - THƠ NGUYỄN GIA KHANH

 



Có thể là hình ảnh về chạng vạng


NIỆM CHIỀU
(Lộc lư ngũ bộ)
1.
NÍU MẢNH TÀ DƯƠNG ĐÃ VỘI TÀN
Nghe hồn quạnh quẽ nắng chiều đan
Đường xa lữ thứ mờ tin nhạn
Nẻo vắng hoàng hôn thẫm dặm ngàn
Nghĩ đến kim bằng hoa mộng lảng
Trông về viễn xứ lệ sầu chan
Ngoài khơi vạn lý màu trăng vỡ
Chạnh ngóng vì chim mãi lẻ đàn.
2.
Ta ngồi rót những giọt buồn tan
NÍU MẢNH TÀ DƯƠNG ĐÃ VỘI TÀN
Giữa lối bơ phờ phên cỏ dại
Trên dòng lạc lõng mảnh thuyền nan
Tràn cơn sóng rạc ngùi hương cũ
Bủa nỗi lòng đau lạnh gió hàn
Mặc nẻo phong trần giăng bĩ thái
Nên đành phải gượng tiếng cười khan.
3.
Ruổi quãng trời sương trắng một màn
Bên đồng não ruột cuốc hòa ran
Tìm men ảo giác còn toan bỡn
NÍU MẢNH TÀ DƯƠNG ĐÃ VỘI TÀN
Những trận chen đường thêm mỏi gối
Bao mùa lỡ cuộc luống mềm gan
Đà muôn lá rụng cùng hoa đổ
Lại phải oằn lưng giữ lấy giàn.
4.
Quê nghèo những buổi khói chiều lan
Chợt tủi lòng ta nỗi nhớ tràn
Bữa đói cha cày bao khổ lụy
Vai gầy mẹ cõng bấy lầm than
Tìm hương huyễn cảnh vừa mau úa
NÍU MẢNH TÀ DƯƠNG ĐÃ VỘI TÀN
Trải gót tang bồng thêm rệu rã
Đâu là phiến mộng giữa trần gian ?
5.
Hẹn buổi về trong cõi Niết Bàn
Ta cùng ủ trọn giấc bình an
Đà thôi khát vọng vài mơ ảo
Cũng chẳng cuồng si chút mộng gàn
Để nỗi vô thường lai láng rụng
Cho mùa hữu ái ngọt ngào ban
Lòng thanh thản ngắm đời hư huyễn
NÍU MẢNH TÀ DƯƠNG ĐÃ VỘI TÀN !



NGUYỄN GIA KHANH
*

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

MÙI MỰC TÍM - THƠ NGUYỄN NGỌC TÚ ANH

 

                        Tuổi Thần Tiên [Official Full HD ...


MÙI MỰC TÍM


Ve hát khúc giao mùa

nắng ửng vàng gọi hạ

đỏ phượng trời xanh lá

gió gọi lời chia xa


Ngày áo trắng em qua

tóc dài lưng thắt bím

sách thơm mùi mực tím

mắt liếc nhìn thơ ngây


Bước nào phấn hương bay

cho hồn anh bối rối

bài thơ tình viết vội

chưa một lần gửi trao


Em về nắng trên cao

anh ru lời sương khói

và bao điều chưa nói

giữ lại cho mai sau


Áo em trắng một màu

lung linh ngày tháng cũ

hạ về thêm lần nữa

nỗi nhớ dài chưa phai


Về đâu tóc mây bay

chiều vàng thêm xa vắng

anh quay về với nắng

mùa hạ buồn chơi vơi.

 


        NGUYỄN NGỌC TÚ ANH 

Nguồn : Thơ Văn Trần Yên Hoà