CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

NGƯỜI QUÊ - THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


NGƯỜI  QUÊ

 

1. 

 

Quê nhà xa khuất sơn khê

Ai đi xa cũng mong về với quê…

Cỏ xanh ken lối đi về

Đình làng xưa cũ, đôi Nghê đứng chầu

Sông dài nước chảy về đâu

Sóng xô một khúc nhạc sầu miên man

Trời xanh mây trắng lúa vàng

Cánh đồng no gió mênh mang nắng hồng

Cha còn vất vả trên đồng

Mẹ còn lặn lội long đong tháng ngày

Đường về gánh lúa chiều nay

Áo em thôn nữ gió bay nhẹ nhàng…

Rượu quê uống cạn lại tràn

Người quê say giữa thênh thang đất trời

Thật thà, chân chất người ơi

Hiền hòa, giản dị một đời bình an… 

 

 

2. 

 

Mấy mùa gió chướng, mưa đan

Nhớ hình bóng Mẹ, hai hàng lệ rơi

Tôi đi chưa trọn kiếp người

Nợ Người chữ Hiếu, nợ đời chưa xong

Vọng Phu đá núi trông chồng

Lưng còng như dáng Mẹ trông con về…

Tôi người viễn xứ xa quê

Nhớ quê nỗi nhớ bộn bề rứt ray

Nhớ quê còn một chút này

Rưng rưng, nghèn nghẹn, đong đầy nhớ mong

Nhớ mùa nước lũ mênh mông

Dòng sông chảy nặng, đỏ hồng phù sa…

Đi tìm hạnh phúc quanh ta

Hừng đông nắng nhẹ, chiều tà nắng khan

Cuộc đời bao nỗi gian nan

Sống sao trọn vẹn, chứa chan nghĩa tình…


           

            Nha Trang, tháng 09. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

VỀ HUẾ THẢ OM - TRẦN KIÊM ĐOÀN

 


VỀ HUẾ THẢ OM

Trong gần nửa thế kỷ phiêu bạt, tôi đã có dịp tìm đến và cúi nhìn bóng mình trên nhiều dòng sông được xem là “thiêng” của thế giới: Mississippi mênh mang, Seine thơ mộng, Thames trầm mặc, Hoàng Hà cuộn màu lịch sử, Hằng Hà chở nặng đức tin, Tiền Đường dậy sóng, Nile âm thầm nuôi dưỡng một nền văn minh… Chỉ riêng Amazon: dòng sông hùng tráng và bạo liệt bậc nhất hành tinh; là tôi chưa một lần được thấy.
Nhưng sông lớn đến đâu cũng chỉ chảy qua miền đất lạ. Có những dòng sông không cần nổi tiếng mà vẫn chảy suốt một đời người. Chúng không nằm trên bản đồ thế giới, mà nằm trong bản đồ tâm tưởng; càng đi xa càng thấy gần, càng lớn tuổi càng nghe tiếng nước gọi về.
Với tôi, đó là sông Bồ quê Cha và sông Hương xứ Huế; nơi tôi từng bước trưởng thành mở rộng trí óc và nhân rộng hướng đời.
Tôi đã từng dầm mình trong nước sông Bồ để thương, từng vốc nước sông Hương để nhớ. Sông Bồ đục trong theo mùa, chở phù sa qua những bãi bờ Nam Thanh, An Thuận, Hương Cần, Liễu Cốc Hạ, Cổ Lão, Dương Sơn… sông Hương thành Huế của tôi xanh một màu gần như hư ảo, đi ngang kinh thành mà vẫn giữ dáng thong dong của một dòng sông biết mình đẹp.
Sông Bồ để vớt om.
Sông Hương để thả om.
Răng lạ rứa hè?
Chỉ bốn tiếng thôi mà nghe đã ra giọng Huế. “Răng lại rứa?” không hẳn chỉ là “Why is that?”, “Why so?” hay “Why did that happen?”. Trong câu hỏi ấy còn có chút ngạc nhiên, chút trách yêu, chút ngậm ngùi và cả một nụ cười rất nhẹ. Người Huế hỏi mà như không cần trả lời; bởi đôi khi câu trả lời đã nằm sẵn trong giọng nói.
Cũng như “Thả Om”: nghe qua tưởng chỉ là một động tác bình thường, nhưng bước vào thế giới Huế, nó lại mở ra cả một miền văn hóa.
Om là chiếc nồi đất nhỏ, thường dùng để nấu cơm, nấu cháo, kho cá. Một vật dụng quê mùa, khiêm nhường, quanh năm nằm bên bếp lửa. Om không quý như đồ ngự dụng, không sang như chén kiểu, không được đặt trong tủ kính để người đời ngắm nghía. Nhưng chính chiếc om đất ấy đã nuôi sống biết bao mái nhà, giữ hơi ấm cho biết bao phận người. Bởi thế, khi lâm vào cảnh tận cùng tuyệt vọng, người Huế chỉ còn biết kêu lên: “Rứa là xong om rồi đời!”
“Om” và “niêu” đều là nồi làm bằng đất nung, nhưng khác nhau đôi chút về cách gọi, hình dáng và công dụng:
Niêu là từ phổ thông trên toàn quốc, thường chỉ chiếc nồi đất nhỏ, thân tròn thấp, miệng tương đối rộng, nắp đậy kín; chủ yếu dùng nấu cơm.
Om là tiếng cổ và tiếng địa phương miền Trung, đặc biệt quen thuộc ở Huế. Om thường có thân tròn sâu, bụng phình, miệng thu nhỏ hơn; dùng nấu cơm, kho cá, rim thịt hoặc sắc thuốc. Om Phước Tích nổi tiếng từng được dùng để nấu cơm tiến vua nên còn gọi là “om ngự”.
Nói gọn lại thì là:
Niêu là tên gọi phổ thông; om là tên gọi đậm chất Huế.
Niêu thiên về nấu cơm; om có công dụng rộng hơn.
Trong đời sống Huế xưa, hai chữ đôi khi được dùng thay nhau. Nhưng “om” mang hồn quê và sắc thái văn hóa rõ hơn: nghe chữ “om” là gợi đến bếp lửa, làng gốm Phước Tích và bữa cơm xứ Huế.
Cơm niêu xứ Bắc nên đổi tên thành Cơm Om xứ Huế.
Thả om, theo nghĩa đen, là buông chiếc om xuống nước.
Nhưng người Huế có tài làm cho một việc nhỏ trở thành một câu chuyện dài; đem cái bình thường phủ lên một lớp sương huyền thoại, để khi sương tan rồi, lòng người vẫn còn vương vấn.
Chiều nay, 25 - 8 - 2026, chúng tôi được vợ chồng bạn Vinh và Tôn Nữ Cẩm Tú mời họp mặt ở “THẢ OM VIÊN” (THA OM GARDEN: DRIFTING POT GARDEN) 12/12 Nguyễn Phúc Nguyên Huế. Cụm từ hay nhóm chữ giới thiệu tên riêng và địa chỉ này là do Trí Tuệ Nhân Tạo AI cung cấp khi tôi lạc đường và hỏi Chat GPT đó nhé.
Một buổi chiều “Thả Om” không bị trôi mất chi cả mà được vớt lại cả hàng chục món ăn Huế Cột Cờ toàn ròn do chủ nhân biến tấu tài hoa từ sản vật địa phương và cây trái trong vườn.
Cuộc họp mặt đã thú vị; tinh thần Huế Thả Om lại càng thú vị hơn.
Theo giai thoại lưu truyền ở vùng Kim Long mà tôi được nghe chàng Bá Vinh một nghệ nhân tài hoa và Một Nửa Bên Tê của chàng là nàng Cẩm Tú ; một Tôn Nữ vắng bóng Hoàng Thành kể lại, chuyện xảy ra vào thời vương triều Nguyễn đã thoái trào dưới bóng chế độ thực dân Pháp.
Thuở ấy, nhiều gia đình hoàng phái không còn quyền thế và sản nghiệp như xưa. Cung điện đã xa, bổng lộc không còn, nhưng phong thái vương giả vẫn chưa dễ gì rời khỏi nếp sống. Nhà có thể nghèo, áo có thể cũ, bữa ăn có thể đạm bạc, nhưng cái “lề” thì vẫn phải giữ. Giấy đã rách mà đường gấp vẫn còn nguyên.
Một buổi chiều Rằm tháng Bảy, có vị vương tôn ở miệt Kim Long, trong nhà chỉ còn chút gạo đủ nấu một om cháo loãng. Khi trời nhá nhem, “Mệ” mang chiếc om xuống bến sông Hương rửa. Chẳng may, một người hàng xóm có phần tọc mạch đi tới, cất tiếng hỏi:
“Mệ đem om chi xuống rứa?”
Không muốn người ta nhìn thấy đáy om, càng không muốn ai biết bữa chiều của mình chỉ có một chút cháo nghèo, Mệ không phân bua, cũng chẳng than thở. Mệ chỉ lặng lẽ buông tay.
Chiếc om đất rời khỏi bàn tay, chạm mặt nước rồi chầm chậm trôi theo dòng sông.
Một gia sản cuối cùng đã được thả đi để giữ lại một điều không thể cầm nắm: lòng tự trọng.
Chuyện thật đến đâu, chẳng ai dám quả quyết. Giai thoại vốn không phải là sử ký. Nhưng có những câu chuyện không cần đúng từng chi tiết mà vẫn đúng đến tận đáy tâm hồn của một vùng đất. “Thả Om” là một câu chuyện như thế.
Trong khoảnh khắc ấy, cái nghèo được giấu kín, thể diện được giữ nguyên, còn nỗi buồn thì gửi lại cho sông Hương. Đó là một dáng vẻ vừa đáng thương, vừa đáng kính; vừa kiêu hãnh, vừa ngậm ngùi. Có chút phù hoa của một thời đã khuất, nhưng cũng có khí tiết của người không muốn đem cảnh ngộ riêng mình làm phiền đôi mắt thế gian.
Người ngoài có thể cho rằng đó là sĩ diện. Người Huế lại hiểu đó là lòng tự trọng. Giữa sĩ diện và tự trọng đôi khi chỉ cách nhau một làn nước mỏng. Sĩ diện là giữ cái nhìn của người khác; tự trọng là giữ phẩm giá trong chính mắt mình. Vị vương tôn nghèo kia có lẽ mang cả hai. Nhưng chính sự pha trộn không hoàn toàn rạch ròi ấy mới làm nên con người thật, và cũng làm nên cái “rất Huế”.
Huế xưa sống nhiều bằng uyển ngữ. Nghèo không nói là nghèo, chỉ bảo “nhà tui còn cực!” Buồn không nói là buồn, chỉ thở dài: “Răng mà lạ rứa tề!” Thương ai không dễ nói rằng thương, chỉ hỏi một câu: “Đi mô mà lâu rứa?” Trách ai cũng không nỡ trách thẳng, chỉ buông nhẹ: “Răng ri hè…”
Ngôn ngữ Huế không đi thẳng như đường tên bắn. Nó quanh co như lối vào nhà vườn, phải qua bình phong, qua hàng chè tàu, qua giàn hoa giấy rồi mới đến hiên nhà. Người chưa quen dễ thấy cầu kỳ; người đã hiểu mới hay cái quanh co ấy không hẳn để che giấu, mà để tránh làm đau lòng nhau.
Huế xưa quý sự kín đáo. Nhà giàu không phô của, người sang không nói mình sang, người đau không muốn ai thấy mình đau. Cái đẹp nằm sau bức rèm, nỗi buồn nằm dưới vành nón, còn tình yêu đôi khi suốt đời chỉ hiện ra trong một tiếng “dạ” thật mềm.
Bởi thế, “Thả Om” không chỉ là chuyện một chiếc nồi đất. Đó còn là một ẩn dụ về cách người Huế ứng xử với sự mất mát: không níu kéo quá ồn ào, không phô bày vết thương, chỉ âm thầm buông xuống dòng đời.
Nhưng Huế nay đã khác.
Huế hôm nay có phố mới, cầu mới, ánh đèn mới. Tiếng xe át dần tiếng guốc mộc; những nhà vườn thâm u mở cửa thành quán trà, nhà hàng, chốn lưu trú. Con cháu hoàng tộc đã bước ra khỏi bóng kinh thành để sống giữa một xã hội không còn đo phẩm giá bằng tước vị. Người trẻ Huế nói nhanh hơn, đi xa hơn, mạnh dạn hơn và biết giới thiệu quê mình với thế giới.
Đó là một chuyển động cần thiết. Một thành phố không thể sống mãi bằng ký ức, cũng như một dòng sông không thể chỉ soi bóng quá khứ mà không chảy về biển lớn.
Tuy nhiên, giữa nhịp sống mới, Huế đôi khi cũng đang “thả” đi nhiều thứ: một mái nhà rường, một khu vườn cũ, một giọng nói thanh tao, một cách thưa gửi có trước có sau, một nếp sống không vội vàng. Có những thứ mất đi vì thời thế; cũng có những thứ bị đánh đổi quá dễ dàng vì người ta chưa kịp hiểu giá trị của chúng.
Ngày xưa, người Huế thả chiếc om để giữ lòng tự trọng. Ngày nay, có khi người ta giữ chiếc om như một món trang trí, nhưng lại vô tình thả trôi cái hồn đã từng làm cho chiếc om ấy có ý nghĩa.
Cho nên, bảo tồn Huế không phải chỉ là giữ thành quách, lăng tẩm hay vài căn nhà cổ. Giữ Huế trước hết là giữ một phong cách sống: biết chậm lại trước cái đẹp, biết kín đáo trước nỗi đau, biết nhường nhau trong lời nói, biết giữ phẩm giá ngay cả khi cảnh đời sa sút. Huế không chỉ ở trong di tích. Huế ở trong tiếng “dạ thưa”, trong chén trà mời khách, trong cách đặt một bình hoa, trong bữa cơm đạm bạc mà vẫn tươm tất, và trong thái độ không lấy sự giàu nghèo để cân đo con người.
Tên nhà vườn “Thả Om” ở Kim Long vì thế nghe vừa dân dã, vừa u hoài, lại phảng phất cốt cách của những vương tôn thất thế. Đó không phải là nỗi hoài cổ muốn quay lui, mà là một lời nhắc dịu dàng: ta có thể bước tới tương lai, nhưng xin đừng bước nhanh đến nỗi đánh rơi chính mình.
Rằm tháng Bảy, đứng bên sông Hương, tôi chợt nghĩ: chiếc om năm xưa chắc đã tan thành đất từ lâu. Đất trở về với nước, nước trôi về biển, còn câu chuyện thì ở lại. Có lẽ đó cũng là một cách phóng đăng không ánh lửa, một cuộc phóng sinh cho lòng kiêu hãnh và một nghi thức tiễn đưa thời vương giả đã qua.
Dưới bóng Hoàng Thành, người Tôn Nữ năm xưa có thể đã khuất. Chàng vương tôn nghèo cũng không còn. Nhưng tiếng “răng lại rứa” vẫn bay qua hàng cau, giọng “dạ thưa” vẫn còn đâu đó trong những căn nhà vườn Kim Long, và sông Hương vẫn lặng lẽ chở những điều người Huế không nói thành lời.
Tôi trở về, không tìm lại chiếc om đã mất.
Tôi chỉ muốn đứng bên dòng sông cũ, thả xuống nước một chút phù hoa, một chút hơn thua, một chút bụi đường gần nửa thế kỷ xa quê. Rồi cúi xuống vốc một ngụm sông Hương, nghe sông Bồ vọng lại trong lòng.
Sông Bồ để vớt om như tâm tưởng vớt lại quê nhà.
Sông Hương để thả om, như tâm lý bù thả đi thế sự.
Và Huế, sau bao nhiêu dâu bể, vẫn là Huế:
Nghèo mà không hèn,
buồn mà không lụy,
đẹp mà không phô,
thương mà không nói hết.
Chỉ khẽ hỏi đời một tiếng:
“Răng lại rứa…”
Rồi mỉm cười, buông tay, thả cả chiếc om và chính bóng mình vào dòng nước hư không.
Thả chiếc om và bóng mình theo nước, mà giữ cả quê hương ở lại trong lòng.


TRẦN KIÊM ĐOÀN
Huế mùa Vu Lan 2026

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

MẸ RU CÁNH VÕNG CA DAO - THƠ LIÊN PHƯƠNG

 

See original image


MẸ RU CÁNH VÕNG CA DAO



Ca dao là tiếng mẹ ru con

Đêm trằn trọc giữa cánh đồng thao thức 

Đèn báo bão chập chờn trong lồng ngực

Không thể nào đau hơn nữa mẹ ta

 

Ca dao là tiếng Cuốc bên nhà

Mỗi lần nhớ đất đai về cố thổ

Nơi cắt rốn chôn nhau từ muôn thuở

Đã thấm sâu trong máu thịt đồng bào

 

Ca dao là ngọt bùi vôi mặn trầu cau

Là suối reo  ngựa chòm lên bóng núi

Là thảo nguyên những đồi xanh rong ruổi

Tiếng đàn bầu dưới ánh trăng giêng

 

Ca dao đem con sóng vỗ bên triền

Khi mùa chướng nhánh bần hường ra trái

Bạn xuồng câu họp bè đêm tụ lại

Bài vọng cổ xuống xề 

nhấm trăng sáng đưa cay

 

Ca dao là chái bếp quê nghèo 

tần tảo hạt ngô khoai 

Ngọn lửa ấm theo cánh cò bay lả

Là khói quyện hương đồng rơm rạ

Túp lều tranh nơi cuối xóm ta chờ

 

Ca dao là cánh võng tròn nghe vọng tiếng  ầu ơ

Nôi mẹ ru suốt chiều dài đất nước

Biển và non núi rừng soi ánh đuốc

Dẫn ta đi về phía trời hồng

 

Ca dao là câu hò Đồng Tháp mênh mông

Điệu lý giao duyên Cửu long chiều man mác

Sông Hậu sông Tiền như lời thơ lời ý nhạc

Châu thổ hiền từ nhìn cánh vạc biền bưng 

 

Xin được gieo hạt ngà 

trên đất cằn sỏi đá rưng rưng 

Để thấy nhỏ nhoi 

Mà vươn mình đang lớn dậy 

Để thương những con người từng trải 

Đêm Hiền Lương  nhớ câu ví dậm Quảng Đà

 

Ca dao ươm mầm hạt ngọc phù sa

Vặm vỡ luống cày tháng năm đầy bi tráng

Đất nước anh hùng hóa thi nhân hào sảng

Đem ca dao truyền lại cho người

Bầu tròi xanh chim hót mỗi mùa vui ...


 

LIÊN  PHƯƠNG

Nguồn : THƠ VĂN TRẦN YÊN HOÀ


Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

NIỀM ĐAU DĨ VÃNG - TRẦN HỮU NGƯ


 See original image


 NIỀM ĐAU DĨ VÃNG


   Tôi lấy tên ca khúc NIỀM ĐAU DĨ VÃNG của nhạc sĩ Nguyễn Văn đông làm tựa cho bài viết nhớ về Nguyễn Văn Đông.

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua đời năm 2018 tại Saigon.

   Anh là một nhạc sĩ quân đội mang cấp bậc khá lớn, nhưng anh không sống vì chức vụ, quyền hạn, mà anh sống vì nhạc. (Khác này ngày người ta sống vì chức vụ và nhạc).

   Sau 1975, anh lên đường vào trại “cải huấn” để làm tròn bổn phận của một công dân dưới chế độ mới như bao sĩ quan khác.

   Những ngày ở trại “cải huấn” từ Nam chí Bắc… Chị Thu vợ anh ở nhà trông trồng như “Hòn vọng phu”, không tính bằng ngày tháng, mà tính chục bằng năm. 

    Chế dộ cũ đã nuôi sống anh bằng âm nhạc, những ngày “làm người tù không chân dung”, cũng chính nhạc anh đã cứu sống anh.

   Những ngày mưa tầm tả, anh nhớ CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI, những ngày Tết ngồi trong trại anh nhớ PHIÊN GÁC ĐÊM XUÂN, những ngày Hè anh nhớ bãi biển Honolulu Với SẮC HOA MÀU NHỚ… Và chính bài hát của anh là những viên thuốc không màu, không vị, đã cứu sống anh!

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sáng tác không nhiều như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Lam Phương, Hoàng Thi Thơ… Nhưng thành thật mà nói, nhạc anh không có bài nào dở. Khi bài hát của Nguyễn Văn Đông ra đời, đã được ca sĩ “hát trên từng cây số”, và người nghe đón nhận nồng nhiệt từ thành thạnh thị cho đến thôn quê, ngay cả những vùng “xôi-đậu”.

   Chỉ cần một ca khúc CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI cũng đủ để Nguyễn Văn Đông làm người nhạc sĩ của hôm nay và mai sau.

   Anh có nhiều bút hiệu như: Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân, Đông Phương Tử, và anh viết nhạc đủ mọi chủ đề. Ghi danh trong ca khúc những bút hiệu như trên, nhưng người nghe khi nghe đã biết cái “air” nhạc của Nguyễn Văn Đông.

   Việt Nam nói chung và Miền Nam nói riêng, ca khúc CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI là một bài hát đầu tiên xuất cảng sang Pháp được ca sĩ Trần Văn Trạch hát, đã làm dân Pháp thích thú! Và cũng chính CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI đã bị Tổng thống Ngô Đình Diệm cấm hát vì “làm nhụt chí khí quân đội”, anh đã bị “trọng cấm” về bài hát này! “Trọng cấm” một thời gian khá dài, nên không anh đã được lên Tướng chớ không phải cấp Tá sau 1975.

   Có một điều ít ai biết:

   -Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là người đầu tiên nghĩ ra  chương trình kết hợp TÂN CỔ GIAO DUYÊN và anh đã viết nhạc nền và đạo diễn 50 tuồng cải lương, như: Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạt trong trăng, Sân khấu về khuya, Tiếng cướp Bạch Hải Đường, Mưa rừng…

   Tôi đã từng đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, lần nào tôi cũng xin phỏng vấn anh, nhưng đều bị anh từ chối. Anh nói với tôi rằng, không phải anh từ chối em, mà tất cả các nhà báo trong và ngoài nước anh đều từ chối! Em đừng buồn anh nhé!

   Tôi vẫn kiên trì… 

   Sáng ngày 30.4.2016, đúng 41 năm sau 30.4.1975, tôi đến thăm anh và nhắc lại chuyện phỏng vấn. 

   Anh suy nghĩ trước khi trả lời tôi:

   “… Nghĩ lại, cuộc đời này dẫu sao cũng còn nhiều người tốt, vì tốt nên anh em mình vẫn còn sống đến ngày hôm nay (anh cười). Chúng ta là những con chim đã một lần trúng đạn nên rất sợ những cành cong, và cho dù thời gian sẽ làm lành vết thương, nhưng tiếc rằng chúng ta không còn trẻ nữa!...”

   Sau lời nói ấy, anh đồng ý cuộc phỏng vấn của tôi!

   Tôi ngạc nhiên và mừng khôn xiết.

   Anh nói:

   -Đây là cuộc phỏng vấn đầu tiên anh dành cho em, và là cuộc phỏng vấn độc quyền (anh đã từ chối tất cả), vì em đã hiểu và thuộc nhạc anh và em cũng thấm thía những năm tháng “làm lại cuộc đời” như anh sau 1975.

   Đặc biệt, sở dĩ anh đồng ý vì: EM LÀ NHÀ BÁO KHÔNG CÓ BÁO! Và em là người kiên nhẫn không bỏ cuộc! (Anh cười). 

   Bài phỏng vấn độc quyền này, tôi có đăng trong cuốn sách ỦA, SAO KỲ LẠ VẬY? Do NXB MỸ THUẬT phát hành tháng 3 năm 2016 và đã được nhà báo Lam Điền viết bài giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ.

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đi “nghỉ mát” khoảng 10 năm, và được tha vào năm 1985. Lúc ra Trại anh bị bịnh nặng, tưởng ngày trở về để chờ “di tản qua bên kia thế giới”, nhưng nhờ chị Nguyệt Thu vợ anh, nuôi anh với phép mầu, nên anh sống thêm 33 năm nữa để nhìn đất nước đổi mới!

   Những ngày tôi đến thăm anh, lúc nói chuyện, anh thường gõ nhẹ những ngón tay tật nguyền (hậu quả của những ngày lao động cải tạo) xuống bàn… Tôi hỏi anh chuyện cải tạo, chuyện đời, chuyện nghề… và lúc thấy anh vui, tôi hỏi về “chuyện tình một thời với một một người đàn bà nghệ sĩ trước 1975 có tên tuổi, và sau 1975 nổi tiếng…”  Với đôi mắt buồn xa xăm, anh nói nhỏ với tôi:

   -Chuyện cũ đã qua rồi, đó là MIỀN ĐAU DĨ VÃNG!

   Những ngày mưa tháng 8.2026, tôi nghe CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI và nhớ Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Và bỗng dưng tôi nhớ MIỀM ĐAU DĨ VÃNG một ca khúc của Nguyễn Văn Đông đề tên Phượng Linh.

   Nhạc viết về DĨ VÃNG không nhiều, chỉ có một số bài khó quên:

   -Dĩ vãng (Trịnh Nam Sơn).

   -Giọng ca dĩ vãng (Bảo Thu. Tôi đã có bài viết riêng)

   -Chuyện tình không dĩ vãng (Tâm Anh. Tôi đã có bài viết riêng)

   -Gĩa từ dĩ vãng (Nguyễn Đức Trung)

   -Tango dĩ vãng (Anh Bằng. Tôi sẽ có bài viết riêng Tango dĩ vãng) 

   Và NIỀM ĐAU DĨ VÃNG của Nguyễn Văn Đông:

   “… Ngày hai đứa ân tình vỡ đôi

   Đời hai lối phương trời lẻ loi

   Thuyền tình em lạc bến lâu rồi

   Niềm tin đã trót trao rồi

   Âm thầm em khóc khi biệt ly

   Người yêu thuở ban đầu khó quên

   Ngày xa anh, em càng nhớ thêm

   Dù mai đây vật đổi sao dời

   Đường tơ đã lỗi cung rồi

   Tình yêu một thuở không hề vơi

   Yêu nhau chiều nào

   Rồi xa nhau chiều nay

   Lòng ai không đảo điên

   Xót xa tình đầu tiên

   Anh ơi một phút bên nhau rồi

   Tình ấy cao vời vợi

   Lòng nhớ mãi khôn nguôi

   Lời ân ái đâu ngờ chóng phai

   Tình dang dối nên nhiều đắng cay

   Hồn em xin trọn kiếp theo chàng

   Dù duyên tình dở dang rồi

   Buồn theo ngày tháng âm thầm trôi…”

   Bài viết để tưởng nhớ vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và chị Trần Thị Nguyệt Thu vĩnh biệt Saigòn về bên kia thế giới.

   Ở thế giới mơi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sẽ không còn đau niềm đau dĩ vãng, và chị Nguyệt Thu đã đến bên anh một thời dĩ vãng:

   “… Em đến thăm áo anh mùi thuốc súng

   Ngoài trời mưa lê thê

   Qua ngàn chốn sơn khê

   Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông

   Kết trong lòng thế hệ

   Nghìn sau nối nghìn xưa…”

   (Ca khúc MẤY DẶM SƠN KHÊ của Nguyễn Văn Đông)



   TRẦN HỮU NGƯ

   (Bo léro Xóm Gà-Giađinh, 12.8.2026)


Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

BÓNG TÌNH KHÔNG - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 



BÓNG TÌNH KHÔNG


Sớm mai nào chẳng mênh mông

Ta ngồi ôm bóng tình không nhớ người

Nỗi buồn như lá còn tươi

Bâng khuâng hạ đỏ thu rười rượi xa


Thời gian như một ngụm trà

Môi chưa thấm đượm đã qua muôn trùng

Tay cầm vạt nắng rưng rưng

Ngoài thềm nguyệt quế hoa từng cánh rơi


Từ em cách biệt phương trời

Trăng treo bóng lẻ đèn phơi mắt buồn

Ôi mờ mịt cõi mù sương

Tóc gầy vai đã xa đường cúc hoa


Khép đêm, ngày rộn tiếng gà

Ta về dựa bóng quê nhà nhớ ai

Rửa chân thu lại dặm dài

Tìm tăm cá lặn miệt mài nắng mưa


Ngày xưa đâu phải đã xưa

Nhớ từng nhịp võng ta đưa em nằm

Ru người mắt biếc xa xăm

Ta còn nỗi nhớ đăm đăm tháng ngày


TỪ KẾ TƯỜNG

(Bến Lặng 26-6-2026)


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

CHIM TRỜI - THƠ LÊ KIM THƯỢNG


 

Tranh ĐINH TIẾN LUYỆN


CHIM  TRỜI 

1.

Đôi ta như cánh chim trời

Đôi chim liền cánh không rời xa nhau…

Dừng chân đứng lại bên cầu

Nhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chan

Yêu nhau yêu tới vô vàn

Yêu bờ mi khép, yêu làn môi xinh

Yêu nhau cho cạn lời tình

Những ngày hạnh phúc chúng mình chân quê

Mắt nhìn đăm đắm si mê

Tôi và em giữa bốn bề tình yêu

Nụ hôn trong nắng liêu xiêu

Ngọt ngào thắm thiết với nhiều chút chăm

Ước gì “Hạnh phúc trăm năm…”

Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên

Quên đi cơm áo, gạo tiền

Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…

2.

 Cuối Thu cây lá tiêu điều

Heo May thổi rụng bao nhiêu lá vàng

“Ừ thôi… tình đã sang trang

Chúc em Hạnh phúc…” lỡ làng riêng tôi

Nợ duyên, duyên nợ hết rồi

Nhớ thương một bóng, tim bồi hồi đau…

Mưa rơi nặng hạt về đâu

Giọt thương, giọt nhớ, giọt sầu đêm đêm

Còn gì đâu nữa “Ơi em…”

Con tim đau nhói, lòng thêm đau lòng

Cuộc tình như một dòng sông

Tan vào biển cả mênh mông mất rồi

Tiễn em về xứ xa xôi

Quay lưng ôm nặng đơn côi tình sầu…

Ước gì có được kiếp sau

Tôi em giữ mãi tình đầu… vẹn nguyên…

          

            Nha Trang, tháng 08. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG

 

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ - THƠ NGUYỄN KHÔI


 


GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ
(Tặng: Minh Đức Triều Tâm Ảnh)
.
Lời thưa: Nhân được Nhà thơ Cao Quảng Văn tặng cuốn "Trường Quốc học Huế", trong đó có "Bài thơ bày tỏ" của Sư Giới Đức (sinh 1946) với 56 câu thơ có ý lý giải về sự nhập Thiền của Người. Bài thơ rất HAY, ý mới tứ thơ lạ, hình tượng thơ sống động, ngôn ngữ thơ điêu luyện... NK tôi đọc rất xúc cảm, có lời đáp lại:

*
"Người thơ phong vận như thơ ấy"
Hàn Mạc Tử

Thôi, Người cứ vô tư về núi
Cùng hương rừng gió nội mây bay
Ta ở lại với Đô Thành chật chội
Vùi đầu trong đống sách cao dày.
Người trắng tay mà lòng thanh thản
Ta tiền tài áo mũ xênh xang
Người thiền định gối đầu bên thác ngủ
Ta trong phòng máy lạnh đắp chăn...
Người đã ra đi
bằng bài thơ thứ nhất
vĩnh biệt Tình đầu
áo đỏ đèn xanh...
Ta chí mọn bám rêu phong Thành cổ
Hóng hương mơ son phấn thị thành.
Về với núi: Người nghênh phong thưởng nguyệt
Ta áo cơm
sâu bọ giữa nhân quần
thêm chức tước
phẩm hàm này nọ
nhếch mép đau
Lắng một tiếng cười gằn.
Thật kỳ diệu
giữa cuồng phong gió nổi
Người thoát đi đến một chốn bên trời
Tiếng chuông vọng trên mây ngàn sương lạnh
thương chúng sinh
lòng thả giữa khơi vơi...
Người khiêm nhường lánh xa đời chen chúc
những bon chen
nhức nhối chốn đông người.
Đời là thế, biết ai là vụng dại
Biết ai khôn ngụp lặn để sinh nhai.
Đời là thế, chẳng qua là Quán trọ
Giữa quê hương mà nhớ cố hương
Ký ức xanh viết "Bài thơ Bày Tỏ"
Khối Tình thơ còn nguyên vẹn Tâm hường.
Ôi cuộc sống bao thân thương tình nghĩa
Là khói sương xin thoảng một hơi trà
Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ
Biển khổ đời kết SINH - TỬ - TÌNH - CA.
Như Thi sĩ yêu con chim Báu tớt(1)
Cho nhân gian tiếng hót vọng tâm hồn
Thanh kiếm báu xin treo trên vách đất
Đời yên bình... cày cuốc vẫn là hơn.
Ừ vẫn sống, nào có ai bỏ cuộc
Người ra đi mấy trắng giục đường phi
Một lẽ sống
Một tình yêu Đất nước
Ừ gia đình, cũng một lẽ...
khinh khi.
Thôi, từ giã những điều gì vô lối
Cách mù khơi cho thanh thỏa tâm hồn
Như TẠO HÓA
ta tin ĐỜI NHÂN QUẢ
Người ra đi... còn lại cả trời hương.
Người ra đi... trí vượt trên trần thế
Chút tình thơ thả mộng ngợp sông hồ
Còn yêu người... thơ về trong nỗi nhớ
Đỉnh phù vân tung cánh một trời thơ.
Thôi, Người cứ vô tư về núi cũ
Lưu gót TRẦN... quên một thuở từng đi
Khi mình đã luyện mình
là VÔ NGÃ
thì
hồn
thơ
đã thoát tục
an tri!

NGUYỄN KHÔI

…….
(1) Theo ý thơ của Bích Khê (bài Duy Tân)
NK viết trong đêm gió nổi
Hà Nội, mùa thu 2005

CẢM TƯỞNG KHI ĐỌC BÀI THƠ '' GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ''

Kính gởi Nhà Thơ Nguyễn Khôi.

Được Nhà Thơ đề nghị đọc bài Thơ “Gủi người thơ bày tỏ” rồi cho cảm tưởng, tôi cũng đã băng khuăng không ít, ngại mình múa rìu qua mắt thợ. Nhưng cung kính bất như tuân lệnh, vì thế, tôi đành xin mạo muội viết đôi giòng, nghĩ sao thì viết vậy, nếu có lỡ mạo phạm thì xin Nhà Thơ thứ lỗi cho : 

Theo tôi,  bài Thơ rất hay,  nội dung cho thấy người viết đã có hiểu biết rất sâu về Thiền qua những câu : 

          “ Đời là thế, chẳng qua là quán trọ

           Giữa quê hương mà nhớ cố hương”.

Người đời thường nhìn những bậc Thiền giả như những vị thánh nhân, thanh cao, cuộc sống thong dong, tự tại với gió núi, mây ngàn, còn  mình  là người trần, là phàm nhân thấp kém, chen chúc nhau giữa hồng trần  :

“Về với núi, người nghênh phong, thưởng nguyệt

Ta áo cơm sâu bọ giữa nhân quần”

          ….“Tiếng chuông vọng trên mây ngàn, sương lạnh

Thương chúng sinh lòng thả giữa khơi vơi”

            … Người khiêm nhường lánh xa đời chen chúc

Những bon chen nhức nhối chốn đông người”

Theo đó, bậc Thiền giả, một khi đã  “rửa tay gác kiếm”, xa bon chen của cuộc đời để về núi, thì những ngày gót trần phiêu lãng chỉ còn là dĩ vãng mà thôi : 

… “Thôi người cứ vô tư về núi cũ

Lưu gót trần quên một thuở từng đi”

Đó là quan điểm Thiền được truyền từ bao thế hệ : Tu Phật là phải bỏ đời. Thiền là xa rời những bon chen, xô bồ của cuộc sống, để tâm hồn được thanh thản, an nhiên, thoát tục.

Nhưng thật ra, quan điểm của Đạo Phật không phải là tách con người ra khỏi cuộc đời, Thiền không phải để xa rời cuộc sống, cho đời là ô trược, bởi Hoa Sen là biểu tượng của Đạo Phật cả kiếp sống không tách khỏi bùn. Từ khi sinh, cho tới lúc diệt, nó vẫn sống, nở hoa, kết trái và tàn rụi trong bùn, giống như con người từ lúc sinh cho đến hết kiếp vẫn không rời cuộc đời, như  lời Nhà thơ đã viết : 

  • Ừ vẫn sống, nào có ai bỏ cuộc.

Phải. Không có ai bỏ cuộc, vì đã Sinh là phải Sống cho đến hết kiếp, bởi có Nghiệp, có Duyên với đời mới đến với cuộc đời, trong đó, không chỉ có khổ đau, mà niềm vui, nỗi buồn đan xen. Đôi khi nước mắt không chỉ để diễn tả nỗi khổ, mà vẫn có những giọt của hạnh phúc, cảm thông, chia xẻ  : 

“Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ

Biển khổ đời kết Sinh - Tử, Tình – Ca ( xin mạn phép tạm đổi hai chữ Tình Ca thành VÔ THƯỜNG, vì theo tôi, nó sát với ý nghĩa của Đạo Phật hơn). 

“Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ

Biển khổ đời kết SINH - TỬ, VÔ THƯỜNG

Bởi cuộc đời là Sinh Tử, Vô Thường, là BỂ KHỔ,  nên tu hành theo Đạo Phật là để biến nỗi Khổ, thành niềm vui, biến phiền não thành an lạc. Để làm được điều đó, con người cần can đảm : 

Thôi từ giả những điều gì vô lối

Cách mù khơi cho thanh thản tâm hồn

Nhưng hành giả không cần tách rời cuộc sống trần tục, mà chỉ cần dùng thời gian lắng lòng (THIỀN ĐỊNH) mà khai phá Vô Minh, mở Trí Huệ, để  thấy cuộc đời sở dĩ Khổ là vì NGÃ CHẤP. (Chấp cái THÂN GIẢ TẠM là Mình), vì thế sinh ra  PHÁP CHẤP, rồi vướng vào Tham, Sân, Si,danh, lợi, tình mà phải đau khổ. Vì thế, công cuộc tu hành theo Đạo Phật không phải là để xa lánh hay chê bỏ cuộc đời. Trái lại tư duy, nhận xét cho chính xác, phân tích Thiện, ác, Chân, giả, đúng, sai, rồi tôi luyện bản thân theo hướng mình thấy đúng đắn nhất. 

Trần lao sẽ biến thành Niết Bàn. Cuộc đời sẽ không còn là bể khổ. Kiếp sống sẽ không còn là kiếp lưu đày. Tác giả đã tìm ra được chiếc chìa khóa vạn năng để tiếp tục “sống trong phiền não mà thoát phiền não” qua hai câu kết được khẳng định : 

”Khi mình đã luyện mình là VÔ NGÃ

Thì hồn thơ đã thoát tục an tri”.


Đúng vậy. Giữa cảnh CÓ mà Tâm như HƯ KHÔNG. Đang là Hữu Ngã mà luyện thành Vô Ngã ,trở về với Bản thể Chân Như thì hồn thơ không còn đắm đuối trong vòng tục lụy, mà đã “thoát tục an tri”. Điều đó không phải ai củng làm được.


Xin chúc mừng Nhà Thơ.


 Thành Phố Hồ chí Minh  ngày 29/8/2026


               Kính. 

TÂM NGUYỆN (Trần Thị Biên )