CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

NĂM MƯƠI BÀI NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT BẤT HỦ (2) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 


Góc Đường Thi : 
                      Năm mươi bài  NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (2)


                       
      TIẾT OÁNH 薛瑩 Thi nhân đời Vãn Đường, không rõ năm sinh năm mất, chỉ biết ông sống dưới đời vua Đường Văn Tông (809-840). Cái thời mà vẻ hưng thịnh phồn vinh của nhà Đường đã tàn lụi đi rồi, và sự nổi dậy của nông dân do Vương Tiên Chi và Hoàng Sào lãnh đạo đã đưa nhà Đường đến những giây phút cuối như nắng chiều sắp tắt. Sống trong thời buổi nhiễu nhương loạn lạc của cảnh tang thương biến đổi, ta hãy nghe sự cảm thán của ông qua bài thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt sau đây...

6. Bài thơ THU NHẬT HỒ THƯỢNG 秋日湖上 của Tiết Doanh :

              落日五湖遊,      Lạc nhật ngũ hồ du,
              煙波處處愁。     Yên ba xứ xứ sầu.
              浮沈千古事,      Phù trầm thiên cổ sự,
              誰與問東流。     Thùy dữ vấn đông lưu !?


               
* Chú thích :
    - THU NHẬT HỒ THƯỢNG 秋日湖上 : Ngày thu trên hồ.
    - Ngũ Hồ 五湖 : Ở đây chỉ Thái Hồ của tỉnh Giang Tô, nơi bắt đầu của Ngũ Đại Hồ.
    - Phù Trầm 浮沉 : là Nổi Chìm; trong thơ chỉ tình trạng của xã hội phồn vinh hay cùng khổ; Quốc gia cường thịnh hay suy vong... Câu thơ nầy còn có dị bản là TRẦM PHÙ 沈浮 (Chìm nổi). Nhưng "Phù trầm" hay "Trầm phù" gì thì ý nghĩa cũng như nhau mà thôi.

* nghĩa bài thơ :
                          NGÀY THU TRÊN HỒ
      - Đi dạo bên bờ Thái Hồ trong cảnh mặt trời chen lặn của nắng chiều...
      - Khói sóng mờ mịt khắp nơi khiến người ta không khỏi sầu muộn...
      - Nổi chìm chìm nổi là chuyện của ngàn đời...
      - Có ai hỏi vì sao mà nước chảy về đông không ?!
      
     Với lời thơ giản dị dễ hiểu, nhưng cũng dễ đánh động lòng người với dòng nước luôn chảy về đông và khói sóng mờ mịt trên mặt Thái Hồ khi mắng chiều sắp tắt, làm cho Tiết Oánh cảm thấy chuyện nổi chìm trên mặt nước cũng giống như là chuyện nổi chìm hưng suy thành bại của thế cuộc và của đất nước trong mấy ngàn năm qua vậy, Nhất là làm cho người ta phải cảm khái trước thời buổi suy vi của triều Đại nhà Đường đã từng vang bóng một thời, giờ thì cũng như dòng nước luôn chảy về đông mà cũng không ai buồn hỏi : Tại sao tất cả các dòng sông đều chảy về đông vậy !? Vì đó là quy luật bất di bất dịch của ngàn đời, là sự tuần hoàn tự nhiên của tạo hóa cứ theo dòng thời gian mà trôi chảy mãi đến muôn đời !...

* Diễn Nôm :

                        NGÀY THU TRÊN HỒ

                     Chiều xuống dạo Thái Hồ,
                     Khói sóng sầu mênh mông.
                     Nổi chìm ngàn năm ấy,
                     Ai hỏi nước về đông ?!
          Lục bát :
                     Nắng chiều xuống dạo Ngũ Hồ,
                     Khắp nơi khói sóng mơ hồ sầu dâng.
                     Nổi chìm là chuyện ngàn năm,
                     Về đông ai hỏi những dòng sông chi ?!


7. Bài thơ TÚC KIẾN ĐỨC GIANG 宿建德江 của Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 :


     MẠNH HẠO NHIÊN 孟浩然MẠNH(689-740)Thi nhân đời Đường, người đất Tương Châu Tương Dương (tỉnh Hồ Bắc hiện nay). Nên người đời gọi ông là Mạnh Tương Dương. Ông là người trọng tiết nghĩa, hay cứu khổn phò nguy, rất giỏi về thơ. Năm 40 tuổi, khi đi dạo ngang kinh sư, được Đường Huyền Tông triệu kiến, và khi làm bài thơ "Quy Chung Nam sơn" có câu "Bất tài minh chủ khí 不才明主棄" (Không có tài nên vua ghét bỏ), bị Huyền Tông trách rằng :"Tại khanh không chịu ra làm quan, chớ ta nào ghét bỏ khanh đâu !". Sau ẩn cư ở Lộc Môn sơn, sáng tác trên hai trăm bài thơ, cùng với Thi Phật Vương Duy hợp xưng là "Vương Mạnh 王孟" của thi phái Thơ Điền Viên. TÚC KIẾN ĐỨC GIANG 宿建德江 là một bài thơ tiêu biểu của ông :

               移舟泊煙渚,    Di chu bạc yên chử,
               日暮客愁新。    Nhật mộ khách sầu tân.
               野曠天低樹,    Dã khoáng thiên đê thọ,
               江清月近人。    Giang thanh nguyệt cận nhân !


                               Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

* Chú thích :
    - TÚC KIẾN ĐỨC GIANG 宿建德江 : Qua đêm trên dòng sông Kiến Đức.
    - Bạc 泊 : là Ghé, là Đậu thuyền lại.
    - Yên Chử 煙渚 : YÊN là Khói, ở đây chỉ Khói sóng, là hơi nước bốc lên trên sông khi chiều xuống. CHỬ 渚 : là Bến nước hay Cù lao nhỏ trên sông. YÊN CHỬ là Bến nước phủ đầy khói sóng trên sông khi chiều xuống.
    - Khách Sầu 客愁 : Nỗi sầu buồn nơi đất khách.
    - Dã Khoáng 野曠 : Đồng trống; Nơi Đồng không mông quanh.
    - Cận 近 : là Thân cận, gần gũi.

* Nghĩa bài thơ :
                  QUA ĐÊM TRÊN SÔNG KIẾN ĐỨC
      - Dời thuyền để cập vào bến nước đầy khói sóng...
      - Trời về chiều lại thêm nỗi sầu mới nơi đất khách.
      - Giữa chốn đồng không mông quạnh nầy thấy trời như thấp hơn cây...
      - Nước sông trong nên thấy trăng như gần gũi thân cận với người hơn.
                     
      Nỗi buồn man mác thất ý của một lữ khách đậu thuyền trên bến sông đầy khói sóng khi trời đã về chiều. Một nỗi buồn nhẹ nhàng giữa chốn đồng không mông quạnh, thấy trời như thấp hơn cây rừng; và vì làn nước trong lắp loáng ánh trăng, nên lại thấy trăng như gần gũi thân cận hơn với con người. Quả là một nỗi buồn nhẹ nhàng man mác nên thơ của một kẻ sĩ bất đắc chí trong cảnh trời chiều...

* Diễn Nôm :


                    TÚC KIẾN ĐỨC GIANG
                
                 Dời thuyền bên bờ khói sóng,
                 Trời chiều lòng khách ngẩn ngơ.
                 Đồng trống cây cao trời thấp,
                 Nước trong trăng chiếu người thơ.
       Lục bát :
                 Dời thuyền bên bến khói mờ,
                 Trời chiều lòng khách ngẩn ngơ thêm sầu.
                 Cây cao trời thấp đồng sâu,
                 Sông trong in bóng trăng thâu cạnh người !


8. Bài thơ THU TRIÊU LÃM KÍNH 秋朝覽鏡 của Tiết Tắc 薛稷 :



           TIẾT TẮC 薛稷(649—713)tự Từ Thông, người đất Bồ Châu Phần Dương (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Ông là nhà thơ, nhà thư họa nổi tiếng, hợp cùng Ngu Thế Nam, Âu Dương Tuân, Chử Toại Lương hợp xưng là "Sơ Đường Tứ Đại Thư Pháp Gia 初唐四大書法家", là "Bốn Nhà Thư Pháp nổi tiếng nhất ở buổi Sơ Đường. Ông đậu Tiến sĩ trong thời Võ Tắc Thiên. Đường Cảnh Long (707-710) là Gián Nghị Đại Phu, Chiêu Văn Quán Học sĩ. Khi Tuấn Tông Lý Đán tức vị thiên làm Trung Thư Thị Lang, Tham tri Chính sự. Sau chính biến của nhóm Đậu Hoài Trinh, bị xử chết trong ngục vì biết mà không báo với triều đình, thọ 65 tuổi. Sau đây là bài thơ THU TRIÊU LÃM KÍNH 秋朝覽鏡 tiêu biểu của ông :

                客心驚落木,    Khách tâm kinh lạc mộc,
                夜坐聽秋風。    Dạ tọa thính thu phong.
                朝日看容鬢,    Triêu nhật khan dung mấn,
                生涯在鏡中。    Sinh nhai tại kính trung !


                             Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972                    

* Chú thích :
    - THU TRIÊU LÃM KÍNH 秋朝覽鏡 : THU TRIÊU là Sáng mùa thu; LÃM KÍNH là Soi gương; Nên THU TRIÊU LÃM KÍNH là "Soi gương trong buổi sáng mùa thu".
    - Kinh 驚 : Ở đây không có nghĩa là SỢ, mà là "Giật mình" vì ngạc nhiên.
    - Lạc Mộc 落木 : là nói gọn lại của nhóm từ "Lạc Diệp kiều Mộc 落葉喬木" chỉ các loại cây có thân cao to và rụng lá vào mùa thu đông; Nên LẠC MỘC là "Lá rụng" chớ không phải là "Cây đổ ngã".
    - Dung Mấn 容鬢 : DUNG là Dung nhan; MẤN là Tóc mai. Nhưng DUNG MẤN là từ chỉ chung "Tóc tai mặt mũi", là Dung nhan râu tóc.
    - Sinh Nhai 生涯 : là Cách sinh sống, nghề nghiệp sinh sống, là "Đời sống" nói chung. Trong câu thơ hàm ý chỉ "Những nét phong sương cằn cỗi hay già nua do chạy theo cuộc sống mà hình thành trên khuôn mặt.

* Nghĩa bài thơ :
                        SÁNG THU SOI GƯƠNG
      - Nỗi lòng của người khách xa quê chợt giật mình khi thấy lá rụng...
      - Đêm ngồi nghe tiếng gió thu xào xạc hiu hắt suốt đêm.
      - Sáng ngày soi gương thì thấy dung nhan tóc tai mặt mũi...
      - Hiện rõ hết những nét phong sương cằn cỗi già nua vì cuộc sống ở trong gương! 

       Giật mình khi thấy lá rụng, vì chợt hiểu ra là mùa thu đã đến đây rồi. Thời gian luôn luôn âm thầm lặng lẽ nhưng rất tích cực qua đi đối với những người gởi thân nơi đất khách. Khi biết được mùa thu đã về và năm cũng đã gần hết nên lại trằn trọc suốt đêm không ngủ được vì tiếng thu xạc xào vi vút suốt canh thâu, để đến sáng ngày soi gương thì lại giật mình thêm lần nữa vì tóc tai mặt mũi bơ phờ, sớm già nua vì bôn ba theo cuộc sống !

* Diễn Nôm :


                     THU TRIÊU LÃM KÍNH
            
                   Khách bàng hoàng lá rụng,
                   Gió thu suốt đêm trường.
                   Sáng ra nhìn râu tóc,
                   Bơ phờ dáng trong gương !
         Lục bát :
                   Lá rơi lòng khách bàng hoàng,
                   Đêm ngồi nghe tiếng thu sang gió vàng.
                   Sáng ngày lặng ngắm dung nhan,
                   Sinh nhai tiều tụy võ vàng trong gương !


9. Bài thơ LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH 立秋前一日覽鏡 của Lý Ích 李益 :


           LÝ ÍCH 李益(748—829)tự là Quân Ngu, người đất Lương Châu Cô Tang (nay thuộc tỉnh Cam Túc), đậu Tiến sĩ năm Đại Lịch, vì quan trường không suông sẻ, nên từ quan ngao du vùng Yên Triệu. Sau về làm quan đến chức Lễ Bộ Thượng Thư. Thơ của ông giàu âm luật, dễ phổ nhạc dễ hát, sở trường về Thất ngôn tuyệt cú, nổi tiếng với các bài thơ biên tái. Tác phẩm gồm có "Lý Quân Ngu Tập" nhị quyển《李君虞集》二卷。Sau đây là bài thơ Ngũ ngôn tiêu biểu của ông :                     

              立秋前一日覽鏡 LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH 

               萬事銷身外,     Vạn sự tiêu thân ngoại,
               生涯在鏡中。     Sinh nhai tại kính trung.
               唯將兩鬢雪,     Duy tương lưỡng mấn tuyết,
               明日對秋風。     Minh nhật đối thu phong !



* Chú thích :
    - 立秋前一日覽鏡 LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH : TIỀN NHẤT NHẬT là Trước một ngày; LÃM KÍNH là Soi gương. Nên tựa bài thơ là : Soi Gương Trước Lập Thu Một Ngày.
    - Tiêu 銷 : là Tiêu phí, hao mòn.
    - Mấn Tuyết 鬢雪 : chỉ Tóc mai bạc trắng như tuyết.

* Nghĩa bài thơ :
                         SOI GƯƠNG TRƯỚC LẬP THU MỘT NGÀY
      - Muôn việc đều đi qua và biến mất hết ở ngoài thân ta; Duy chỉ có...
      - Tóc tai mặt mũi bị cỗi cằn vì năm tháng là còn lại trong gương mà thôi.
      - Chỉ còn có hai làn tóc mai bạc trắng như tuyết nầy, để...
      - Ngày mai đối mặt với gió thu hiu hắt mà thôi !

      Soi gương trước Tiết Lập Thu một ngày đã thấy mặt mũi tiều tụy hốc hác rồi, ngày mai đã chính thức vào thu với gió vàng hiu hắt mà ta thì chỉ còn có hai làn tóc mai bạc trắng như tuyết nầy mà thôi; Không biết khi đã vào thu rồi thì mặt mũi tóc tai còn tàn tạ đến như thế nào nữa đây ?!
      Lý Ích đã rất cảm khái khi sử dụng lại câu thơ "生涯在鏡中 Sinh nhai tại kính trung" của nhà thơ tiền bối Tiết Tắc, nhưng lại sử dụng môt cách thật khéo léo để mở đầu cho bài thơ bằng một cặp đối xứng thật hay:

               萬事銷身外,     Vạn sự tiêu thân ngoại,
               生涯在鏡中。     Sinh nhai tại kính trung.
                    Muôn việc tan ngoài thân xác,
                    Dung nhan còn lại trong gương.


                     
      Ngày xưa, không có chú trọng đến chuyện "đạo văn" (ăn cắp văn thơ của người khác) Chỉ cần sử dụng lại cho khéo cho hay thì đó là của mình rồi. Điều nầy ta sẽ thấy rất thường ở đời Tống, khi thể loại TỪ với câu ngắn dài được phát triển mạnh... Các nhà sáng tác TỪ hay sử dụng lại những câu thơ Đường nổi tiếng để điền vào bài Từ của mình. Như trong bài từ GIÁ CÔ THIÊN 鹧鸪天 của Tống Kỳ đời Tống sau đây "

         畫轂雕鞍狭路逢,   Họa cốc điêu yên hiệp lộ phùng,
         一聲腸断绣帘中。   Nhất thanh trường đoạn tú liêm trung.
         身無彩鳳雙飛翼,   Thân vô thái phụng song phi dực,
         心有靈犀一点通。   Tâm hữu linh tê nhất điểm thông.
         金作屋,玉為籠,   Kim tác ốc,     Ngọc vi lung.
         車如流水馬游龍。   Xa như lưu thủy mã du long,
         劉郎已恨蓬山遠,   Lưu Lang dĩ hận Bồng sơn viễn,
         更隔蓬山幾萬重。   Cánh cách Bồng sơn kỷ vạn trùng !
Có nghĩa :                     
            Xe vua trạm trổ đẹp qua đường,
            Một tiếng ai kêu luống đoạn trường.
            Hận không đôi cánh như chim phượng,
            Lòng tựa Linh tê đã vấn vương.
            Nhà vàng đó, lầu ngọc suông,
            Ngựa xe như nước chạy bon bon,
            Chàng Lưu vốn hận Bồng Lai cách,
            Lại cách Bồng Lai mấy vạn đường !

            

      Bài từ trên của Tống Kỳ cơ bản là cóp nhặt chắp vá 4 câu của 2 bài thơ VÔ ĐỀ của Lý Thương Ẩn và một câu trong bài từ VỌNG GIANG NAM của Lý Hậu Chủ (Các câu có màu đỏ) tập hợp lại để diễn tả nỗi lòng tương tư tưởng nhớ của mình với người cung nữ trong cung cấm một cách tuyệt vời. Những câu thơ của người đời trước như làm sẵn để cho Tống Kỳ vay mượn vậy. Điều nầy nếu xảy ra trong thời buổi hiện tại thì là "đạo thơ" của người khác, nhưng thời buổi bấy giờ chưa có "Quyền Sở hữu Bản Quyền". Ta có thể lấy thơ của người khác sửa đổi hay thêm thắc thành thơ của mình, miễn sao cóp nhặt chắp vá cho hay, cho mới mẻ, cho sát sao với tình cảnh hoặc tâm trạng của mình lúc đó là được rồi ! 

* Diễn Nôm :



                   LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH               

                    Muôn việc tan ngoài thân xác,
                    Dung nhan còn lại trong gương.                        
                    Hai làn tóc mai tuyết trắng,
                    Mai ngày thu đến gió sương !
        Lục bát :
                    Muôn việc tan biến ngoài thân,
                    Dung nhan tiều tụy tần ngần trong gương.
                    Tóc mai như tuyết như sương,
                    Mai ngày lại đón ngập đường gió thu !


10. Bài thơ TƯ QUY 思歸 của Vương Bột.


 VƯƠNG BỘT王勃 (650-676), tự là Tử An. Người đất Giáng Châu Long Môn (thụộc Hà Tân Sơn Tây hiện nay). Ông nội là Vương Thông, hiệu là Văn Trung Tử, học giả nổi tiếng cuối đời nhà Tùy. Cha là Vương Phước Chỉ, giữ chức Thái Thường Bác Sĩ, Ung Châu Tư Công đời Đường.                         
      VƯƠNG BỘT cùng với Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương văn tài thi tài ngang nhau, người đời xưng là "Sơ Đường Tứ Kiệt ". Bột đứng đầu Tứ Kiệt, nổi tiếng bất hủ với bài "Đằng Vương Các Tự 滕王閣序", để lại một giai thoại văn chương về câu nói "Thời lai phong tống Đằng Vương Các 時來風送滕王閣", và còn để lại rất nhiều ảnh hưởng cho văn học đời sau bằng các thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay.
      Sau đây là một bài Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt nổi tiếng của ông.

             思歸                   TƯ QUY
          長江悲已滯,      Trường Giang bi dĩ trệ,
          萬里念將歸。     Vạn lý niệm tương quy. 
          況屬高風晚,      Huống thuộc cao phong vãn, 
          山山紅葉飛。     Sơn sơn hồng diệp phi.

                          
                                       Bản viết tay năm 1972

* Chú thích :
    - TƯ QUY 思歸 : là Nghĩ tới ngày về, có nghĩa là "Muốn Về". Bài nầy còn có tựa là SƠN TRUNG 山中 là "trong Núi". Câu 3 & 4 của bài nầy còn có dị bản là :
             Huống PHỤC cao SƠN VIỄN,    況復高山遠,  
             Sơn sơn HOÀNG diệp phi.     山山黃葉飛。
      * HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại...
      * CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn ...
      * CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.
    - BI DĨ TRỆ 悲已滯 : là Nỗi sầu cô đọng lại như nước Trường Giang lửng lờ (như không trôi chảy).
    - NIỆM TƯƠNG QUY 念將歸 : là Chỉ mới có Ý niệm sẽ quay trở về mà thôi.(Ý nói : Muốn về mà không về được !)
    - HỒNG DIỆP 紅葉 hay HOÀNG DIỆP 黃葉 gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng "Lá Vàng" để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng "Lá Đỏ", vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :
                  "Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo !"...
      hoặc thi vị hơn như Tản Đà :
                  "Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,
                   Lá bay hàng xóm lá bay sang....
         để rồi...
                   Vàng bay mấy lá năm già nửa
                   Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng !"

                   

* Diễn Nôm :
                     MUỐN VỀ

                Trường Giang sầu nước lửng,
                Muôn dặm muốn về ngang.
                Núi cao ngăn quê cũ ,
                Non non rụng lá vàng !
      Lục bát :
                Trường Giang nước đọng lòng sầu,
                Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.
                Núi cao ngăn cách làng quê,
                Muôn chiều lá đổ ủ ê lòng sầu !  

           
      Hẹn bài dịch tới !

                                     杜紹德
                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                                               

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2026

CHIỀU MƯA Ở ĐÀ NẴNG - THƠ HUỲNH LIÊŨ NGẠN

 

Vietnam artist Nguyen Trung

Tranh Nguyễn Trung


CHIỀU MƯA Ở ĐÀ NẴNG



tôi vô đà nẵng một chiều

lạc chân lỡ chuyến ga chiều cuối năm

trời thì mưa đổ lâm râm

nép bên góc phố lạnh căm cả người

dòng đời cứ thế mà trôi

nghe mưa giọt xuống quanh tôi nỗi buồn

tôi vô đà nẵng chiều buông

gió như lạnh lắm trên đường tôi đi

lang thang tôi nhớ chuyện gì

mà quên cả bóng xuân thì bên hiên

chiều rơi sương khói nỗi niềm

cho tôi đợi chuyển tàu đêm ga nào

mái che nặng hạt mưa rào

đứng bên đà nẵng tôi chào tôi đi.

 

HUỲNH LIỄU NGẠN


Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

DÒNG ĐỜI - THƠ TRẦN YÊN HOÀ



 Tình yêu là gì? Biểu hiện và dấu hiệu tình yêu thật


DÒNG ĐỜI 

 

Có một thưở em bồng bềnh tóc gió

Tóc như mây cùng gương lược môi hồng

Như thần thoại xanh màu nguyên thủy đó

Vườn hoa yêu ngào ngạt những hương nồng

*

Ta đã gọi em là vầng trăng tỏ

Tháng năm nào nở rộ những mầm xanh

Con bướm trắng bay giữa trời dạo nọ

Ta buồn tênh trên bến đậu mong manh

*

Rừng hương ấy là em, em có biết?

Nỗi u hoài còn ngự trị trong ta

Ngàn năm nữa cuộc bể dâu mải miết

Trong vô cùng vùng cát gió bao la

*

Trở về bên em, như cơn bão nổi

Đi qua đời sóng sánh những nhạt phai

Nếu có cánh ta sẽ bay đi mãi

Chập chùng em hạnh ngộ những an bài

*

Ta bây giờ sá gì phương hướng nữa

Giọng ca buồn ngày tháng cũ còn không?

Như cánh bướm bay bay trong trí tưởng

Một mùa xuân trổ lộc biếc thơm lừng

*

Ta sẽ gặp em một lần thứ... nữa

Giữa đôi bờ tịch lặng - cõi hoang vu

Ta sẽ hái những nụ đời héo úa

Cài lên em như thân phận em chừ

*

Ta cũng già và em đâu trẻ nữa

Đừng hoang mang với những xót xa đau

Ta chấp chới cùng em mùa bão tới

Mưa sẽ về bên bến đậu - ngàn sau!

 

TRẦN YÊN HOÀ


Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

VŨ VÔ MÔN HỘ NĂNG LƯU KHÁCH - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 


Giai Thoại Văn Chương  :  

                VŨ VÔ MÔN HỘ NĂNG LƯU KHÁCH

      Một hôm, khi vừa giảng xong bài và lớp cũng vừa tan học, thì trời đổ mưa, các sinh đồ không về được. Nên cụ đồ Đàm Thận Huy mới ra một vế đối như sau để cho các học trò đối lại cho vui và cũng để thử tài của các học trò mình. Vế ra như sau :
            Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách, 雨無鉗鎖能留客,
Có nghĩa :
        Mưa không cần phải cầm cọng gì cả mà vẫn giữ được khách ở lại (Kiềm là Cây Kềm. Tỏa là Khoá. nên KIỀM TỎA là Kềm khóa lại, ý chỉ hết lòng giữ khách lại, Miền Nam nói là CẦM CỌNG ).
    Một anh học trò tên Nguyễn Chiêu Huấn bèn đối lại rằng :
           Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân  月有彎弓不射人.
Có nghĩa : 
        Trăng có vành cong như cánh cung, nhưng không bắn người bao giờ

.

         
    Cụ đồ khen : 
       - Con người tài hoa phúc hậu, sẽ có hậu vận tốt về sau !
    Một anh học trò khác bộp chộp đối là :
         Phân bất uy quyền dị sử nhân  糞不威權易使人.
Có nghĩa :
         Cứt(phân) không có quyền uy gì cả mà dễ sai khiến con người (ý nói khi "mắc đi cầu" thì không ai có thể cưỡng lại được cả !).
    Cụ đồ Huy cười mà phán :
       - Thứ đồ thô lậu, có tài nhưng chỉ đáng là hàng trọc phú mà thôi !

     Lúc bấy giờ, anh học trò Nguyễn Giản Thanh mới thủng thỉnh đối lại rằng :
           Sắc bất ba đào dị nịch nhân  色不波濤易溺人.
Có nghĩa :
         Sắc đẹp không có sóng gió gì cả nhưng dễ làm cho con người bị chìm đắm.

    Cụ đồ Huy vổ bàn đánh đét một tiếng, khen :
       - Thật tuyệt ! tài hoa sắc sảo đáng bậc Trạng Nguyên, nhưng e hậu vận sẽ bị lụy vì nữ sắc.



    Lời nhận xét của cụ đồ Đàm Thận Huy đã thành lời tiên tri trong những năm sau đó. Nguyễn Giản Thanh thi đỗ thủ khoa, rồi đỗ Trạng Nguyên đời Vua Lê Uy Mục (1508), làm quan lễ bộ Thượng thư, nhưng vì say đắm một cô gái đẹp ở kinh thành mà đến ô danh bại tiết. Còn Chiêu Huấn chỉ đỗ Bảng Nhãn nhưng làm quan và sống yên ổn đến già. Riêng người học trò kia sau cũng vào hàng hào phú trong vùng, nhưng ai cũng chê là hạng thô lỗ, bỉ lậu.
     Nguyễn Giản Thanh, người làng Ông Mặc (làng Me), huyện Ðông Ngàn (nay là Từ Sơn), Bắc Ninh. Ông sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI, sinh năm 1482, mất năm nào không rõ. Lúc nhỏ ông rất thông minh, mới 16 tuổi đã thông hiểu rất nhiều sách vở, sau đỗ Trạng Nguyên, nên tục gọi là Trạng Me.

     Đó là "Giai Thoại Văn Chương Việt Nam" ta, còn "Giai Thoại Văn Chương Trung Hoa" thì vế ra như sau :
                        雨無門戶能留客    Vũ vô MÔN HỘ năng lưu khách



     Theo truyện kể trong dân gian Trung Hoa như sau đây:

     Đường Dần 唐寅(1470—1524)tự Bá Hổ 伯虎, Tử Úy 子畏, hiệu là Lục Như Cư Sĩ 六如居士、Đào Hoa Am Chủ 桃花庵主... Người Ngô Huyện, Trực Lệ thuộc đất Tô Châu, là nhà thơ, nhà văn học và nhà thư họa nổi tiếng trong đời nhà Minh, là một trong Ngô Trung Tứ Tài Tử 吳中四才子 và cũng là một trong "Giang Nam Tứ Đại Tài Tử 江南四大才子" đương thời. Năm Hoằng Trị thứ 11 (1498) Đường Bá Hổ đậu đầu khoa Ứng Thiên Mậu Ngọ ở Nam Kinh, nên người đời thường gọi là Đường Giải Nguyên. 
     Một hôm, Đường Bá Hổ cùng một nhóm bạn bè rủ nhau ra ngoại thành du ngoạn. Đang trong lúc cả nhóm xướng họa nói cười vui vẻ thì trời bỗng đổ cơn mưa to. Cả nhóm nhốn nháo tìm nơi trú mưa; May sao phía trước mặt không xa thấp thoáng thấy có một trang viên, bèn cùng nhau kéo đến gỏ cửa xin trú mưa. Chủ trang viên là một Viên Ngoại Lang họ Từ, tuổi trạc ngoại ngũ tuần tiếp đón niềm nở. Sau khi pha trà đãi khách và trao đổi qua lại, biết đây là những thư sinh Tú tài trong vùng nên càng ân cần tiếp đãi hơn lên. 


                                   Đường Bá Hổ và Giang Nam Tứ Đại Tài Tử qua Điện ảnh

     Nguyên Từ Viên Ngoại tuy ở vùng ngoại thành, nhưng cũng thuộc dòng dõi thư hương. Dưới trướng không con trai, chỉ có một gái nên hết mực cưng chiều. Từ Tiểu thư ngoài công ngôn dung hạnh còn giỏi cả thi từ ca phú nữa. Nghe trong nhóm thư sinh đến trú mưa có cả tài tử Giang Nam Đường Bá Hổ mà mình hằng nghe tiếng là giỏi giang, bèn xin phép cha cùng được ra diện kiến và trao đổi văn thơ. Từ Viên Ngoại là người cởi mở phóng khoáng nên cho phép Từ Tiểu Thư cùng ra uống trà và đàm đạo. Nhân nói đến trời mưa, Từ Tiểu thư bèn gợi ý và ra một vế đối để mọi người cùng đối lại cho vui. Vế ra như sau :

                 雨無門戶能留客    Vũ vô MÔN HỘ năng lưu khách,
      Có nghĩa :
           - Mưa không có nhà cửa gì cả mà có thể giữ được khách.

      Vế ra nghe như đơn giản, nhưng hàm ý của Từ Tiểu thư muốn nói là : Tôi nhờ có nhà cửa mới lưu được khách qúy ở đây, nhưng MƯA thì không có NHÀ CỬA gì cả mà cũng lưu được khách qúy; Biết rằng khách qúy có lưu được mãi hay không, hay khi mưa tạnh thì lại đi mất rồi ?!.
      Một thư sinh Tú tài đứng dậy, nắm vạt áo ướt của mình đưa lên đối rằng :

                 雲有彩裳不借人   Vân hữu thái thường bất tá nhân.  
      Có nghĩa :
           - Mây trời có áo đủ màu nhưng không cho người mượn bao giờ !

            
      Cả bọn đều vổ tay khen hay, vì câu đối vừa chỉnh vừa vui : Mây trên trời như các tà áo màu, nhưng làm sao mượn cho được, áo ướt thì rán chịu đi ! Một thư sinh khác đứng lên đưa hai tay lên trời như than oán, đối rằng :

                 天有風雲易惱人   Thiên hữu phong vân dị não nhân.
      Có nghĩa :
           - Trời có gió mây bất thường nên dễ làm phiền lòng người !

           
      Một thư sinh khác đứng dậy nói rằng :"Gió mưa là bệnh của trời mà, làm sao trách trời cho được !?" Đoạn anh ta hướng về phía Từ Tiểu thư tủm tỉm cười mà đối lại rằng :

                 野有花香易縛人    Dã hữu hoa hương dị phược nhân
      Có nghĩa :
           - Ngoài đồng nội có hoa thơm nên cũng dễ trói buộc con người !


              
      Ý anh ta ví Từ Tiểu thư như là một cánh hoa thơm ngoài đồng nội đã trói buộc được "trái tim" của anh ta rồi ! Ý tình qúa lộ liễu, mọi người còn đang lo sợ là Tiểu thư sẽ nổi giận, thì ngoài trời mưa cũng đã tạnh hẵn. Cả bọn bèn đứng lên nói lời cảm tạ và từ biệt gia chủ để ra về. Khi ra đến cổng ngoài, Từ Tiểu thư như chửa cam tâm, bèn đến bên Đường Bá Hổ mà thỏ thẻ rằng :"Đường Giải Nguyên có thể hạ cố cho một vế đối được chăng ?". Biết là Từ Tiểu thư bất chấp thị phi là đã có tình ý với mình, nhưng ở nhà Đường Bá Hổ đã có đến tám vị phu nhân rồi, nên còn đang bối rối chưa biết phải từ chối như thế nào, chợt nhìn lên bầu trời đối diện, sau cơn mưa một chiếc cầu vồng ngũ sắc hiện lên thật đẹp ở chân trời; Đường Bá Hổ bèn vòng tay thi lễ và đối rằng :

                虹有橋梁不渡人    Hồng hữu kiều lương bất độ nhân
      Có nghĩa :
           - Cầu Vồng có cầu đó nhưng không để cho người nào đi qua được cả !

            

      Ý của Đường Bá Hổ là : Tiểu thư ơi, Tôi chỉ hào nhoáng được như cánh cầu vồng mà thôi, thấy thì đẹp mà không thể đi qua được đâu ! Từ Tiểu thư chừng như cũng hiểu ý của Đường Bá Hổ nên cũng đành buồn thương mà chấp nhận cho số kiếp và duyên phận của mình.

      Nói thì nói thế, chứ ngoài tám bà vợ ở nhà ra, Đường Bá Hổ còn nổi tiếng với những kịch bản, sân khấu, điện ảnh... với truyện tình thứ 9 là "ĐƯỜNG BÁ HỔ ĐIỂM THU HƯƠNG 唐伯虎點秋香" lưu truyền rộng rãi trong dân gian mãi cho đến hiện nay với hai câu thơ :


 ĐƯỜNG BÁ HỔ ĐIỂM THU HƯƠNG qua Sân khấu và Điện ảnh


                     聞道禁中時節異,  Văn đạo cấm trung thời tiết dị,
                     九秋香滿鏡臺前。  Cửu THU HƯƠNG mãn kính đài tiền !
       Có nghĩa :
                             Nghe nói trong cung thời tiết khác,
                             Thu Hương thứ chín ngập đài gương !

                                    

       Hẹn bài viết tới !

                                             
                           杜紹德
                         ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                                                                                   

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

SIN SUỐI HỒ YÊU & ĐÊM 20 - THƠ CHÂU THẠCH

 



               
SIN SUỐI HỒ YÊU!

        --00--
Em đến Sin Suối Hồ

Cảnh Thiên Đàng trên núi

Đất trời không chút bụi

Ta thấy em thần tiên

Áo bay trời thanh thiên

Tóc mùi hương quyến luyến

Bước em đường mây quyện

Ta yêu đời như nhiên

Nắng trên trời nhung lụa

Tơ vàng bay muôn tủa

Mắt xanh màu núi biếc

Em là hoa bốn mùa

Sin Suối Hồ mây bủa

Ngũ sắc chân trời xa

Em đứng gần bên ta

Ta nghe rừng thở lặng

Làm bài thơ ta tặng

Một đỉnh núi quang vinh

Em và ta cuộc tình

Nơi đây không trái cấm!




           
ĐÊM 20!


Đêm 20, đêm tháng 10 ấm áp

Ta bên em nằm nhớ tuổi 20

Tuổi của yêu và của những tiếng cười

Yêu từ dưới ngón chân lên sợi tóc

Da em tựa như da trời trăng mọc

Mịn lông tơ xếp rẽ quạt từng hàng

Tóc em dài uốn lọn thật là sang

Hơi em thở hương hoa quỳnh thơm ngát

Ta yêu chết, yêu si, yêu dào dạt

Yêu như điên, như dại, với như khùng

Tạ ơn trời còn mãi khối tình chung

Nửa thể kỷ tình vẫn còn như mới

Đêm 20 đêm tháng 10 đang tới

Sóng tình xưa xao động mặt hồ nay

Ta nằm yên cho hương nhụy tràn đầy

Chìm giấc ngủ trong mối tình chung thủy!
                                        

CHÂU THẠCH


Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026

BÓNG QUÊ - THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 




BÓNG QUÊ 

 

 

1. 

 

Bao năm người mới quay về

Tìm làng xóm cũ, tình quê ngập lòng…

Đò ngang rời bến rạng đông

Nắng vàng soi bóng xuống dòng sông sâu

Trời xanh, xanh thẳm một màu

Bãi ngô tươi lá, ruộng dâu xanh trời

Bồng bềnh lãng đãng mây trôi

Dậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lành

Con đường nhỏ, lũy tre xanh

Ngả nghiêng bóng nắng, chòng chành tỉnh say

Đồng vàng thẳng cánh cò bay

Em tôi gánh lúa, gánh đầy ước mơ

Cánh diều bay bổng vào thơ

Cánh cò cõng nắng đơn sơ một mình

Nắng qua kẽ lá lung linh

Rơi trên áo tím chung tình tươi xinh…

 

 

2.

 

Bâng khuâng đồng vắng một mình

Hình như lòng đã say tình chơi vơi

Người về giờ đã cuối đời

Bên sông rụng tím một trời hoa Mua…

Quê hương mưa nắng hai mùa

Mẹ già gánh cả nắng mưa vơi đầy

Áo tơi, nón lá, vai gầy

Lo toan cơm áo những ngày… xa xưa

Mẹ đi cùng nắng, cùng mưa

Tảo tần, vất vả sớm trưa lưng còng

Một đời ngô lúa nghề nông

Mồ hôi đổ xuống cánh đồng vàng tươi…

Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi

Nhớ hình bóng mẹ trong tôi nhớ hoài

Nợ Người chữ Hiếu không phai

Một bông hồng trắng… con cài Vu Lan…


           


            Nha Trang, tháng 10. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG