CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

BÓNG TÌNH KHÔNG - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 



BÓNG TÌNH KHÔNG


Sớm mai nào chẳng mênh mông

Ta ngồi ôm bóng tình không nhớ người

Nỗi buồn như lá còn tươi

Bâng khuâng hạ đỏ thu rười rượi xa


Thời gian như một ngụm trà

Môi chưa thấm đượm đã qua muôn trùng

Tay cầm vạt nắng rưng rưng

Ngoài thềm nguyệt quế hoa từng cánh rơi


Từ em cách biệt phương trời

Trăng treo bóng lẻ đèn phơi mắt buồn

Ôi mờ mịt cõi mù sương

Tóc gầy vai đã xa đường cúc hoa


Khép đêm, ngày rộn tiếng gà

Ta về dựa bóng quê nhà nhớ ai

Rửa chân thu lại dặm dài

Tìm tăm cá lặn miệt mài nắng mưa


Ngày xưa đâu phải đã xưa

Nhớ từng nhịp võng ta đưa em nằm

Ru người mắt biếc xa xăm

Ta còn nỗi nhớ đăm đăm tháng ngày


TỪ KẾ TƯỜNG

(Bến Lặng 26-6-2026)


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

CHIM TRỜI - THƠ LÊ KIM THƯỢNG


 

Tranh ĐINH TIẾN LUYỆN


CHIM  TRỜI 

1.

Đôi ta như cánh chim trời

Đôi chim liền cánh không rời xa nhau…

Dừng chân đứng lại bên cầu

Nhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chan

Yêu nhau yêu tới vô vàn

Yêu bờ mi khép, yêu làn môi xinh

Yêu nhau cho cạn lời tình

Những ngày hạnh phúc chúng mình chân quê

Mắt nhìn đăm đắm si mê

Tôi và em giữa bốn bề tình yêu

Nụ hôn trong nắng liêu xiêu

Ngọt ngào thắm thiết với nhiều chút chăm

Ước gì “Hạnh phúc trăm năm…”

Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên

Quên đi cơm áo, gạo tiền

Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…

2.

 Cuối Thu cây lá tiêu điều

Heo May thổi rụng bao nhiêu lá vàng

“Ừ thôi… tình đã sang trang

Chúc em Hạnh phúc…” lỡ làng riêng tôi

Nợ duyên, duyên nợ hết rồi

Nhớ thương một bóng, tim bồi hồi đau…

Mưa rơi nặng hạt về đâu

Giọt thương, giọt nhớ, giọt sầu đêm đêm

Còn gì đâu nữa “Ơi em…”

Con tim đau nhói, lòng thêm đau lòng

Cuộc tình như một dòng sông

Tan vào biển cả mênh mông mất rồi

Tiễn em về xứ xa xôi

Quay lưng ôm nặng đơn côi tình sầu…

Ước gì có được kiếp sau

Tôi em giữ mãi tình đầu… vẹn nguyên…

          

            Nha Trang, tháng 08. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG

 

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ - THƠ NGUYỄN KHÔI


 


GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ
(Tặng: Minh Đức Triều Tâm Ảnh)
.
Lời thưa: Nhân được Nhà thơ Cao Quảng Văn tặng cuốn "Trường Quốc học Huế", trong đó có "Bài thơ bày tỏ" của Sư Giới Đức (sinh 1946) với 56 câu thơ có ý lý giải về sự nhập Thiền của Người. Bài thơ rất HAY, ý mới tứ thơ lạ, hình tượng thơ sống động, ngôn ngữ thơ điêu luyện... NK tôi đọc rất xúc cảm, có lời đáp lại:

*
"Người thơ phong vận như thơ ấy"
Hàn Mạc Tử

Thôi, Người cứ vô tư về núi
Cùng hương rừng gió nội mây bay
Ta ở lại với Đô Thành chật chội
Vùi đầu trong đống sách cao dày.
Người trắng tay mà lòng thanh thản
Ta tiền tài áo mũ xênh xang
Người thiền định gối đầu bên thác ngủ
Ta trong phòng máy lạnh đắp chăn...
Người đã ra đi
bằng bài thơ thứ nhất
vĩnh biệt Tình đầu
áo đỏ đèn xanh...
Ta chí mọn bám rêu phong Thành cổ
Hóng hương mơ son phấn thị thành.
Về với núi: Người nghênh phong thưởng nguyệt
Ta áo cơm
sâu bọ giữa nhân quần
thêm chức tước
phẩm hàm này nọ
nhếch mép đau
Lắng một tiếng cười gằn.
Thật kỳ diệu
giữa cuồng phong gió nổi
Người thoát đi đến một chốn bên trời
Tiếng chuông vọng trên mây ngàn sương lạnh
thương chúng sinh
lòng thả giữa khơi vơi...
Người khiêm nhường lánh xa đời chen chúc
những bon chen
nhức nhối chốn đông người.
Đời là thế, biết ai là vụng dại
Biết ai khôn ngụp lặn để sinh nhai.
Đời là thế, chẳng qua là Quán trọ
Giữa quê hương mà nhớ cố hương
Ký ức xanh viết "Bài thơ Bày Tỏ"
Khối Tình thơ còn nguyên vẹn Tâm hường.
Ôi cuộc sống bao thân thương tình nghĩa
Là khói sương xin thoảng một hơi trà
Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ
Biển khổ đời kết SINH - TỬ - TÌNH - CA.
Như Thi sĩ yêu con chim Báu tớt(1)
Cho nhân gian tiếng hót vọng tâm hồn
Thanh kiếm báu xin treo trên vách đất
Đời yên bình... cày cuốc vẫn là hơn.
Ừ vẫn sống, nào có ai bỏ cuộc
Người ra đi mấy trắng giục đường phi
Một lẽ sống
Một tình yêu Đất nước
Ừ gia đình, cũng một lẽ...
khinh khi.
Thôi, từ giã những điều gì vô lối
Cách mù khơi cho thanh thỏa tâm hồn
Như TẠO HÓA
ta tin ĐỜI NHÂN QUẢ
Người ra đi... còn lại cả trời hương.
Người ra đi... trí vượt trên trần thế
Chút tình thơ thả mộng ngợp sông hồ
Còn yêu người... thơ về trong nỗi nhớ
Đỉnh phù vân tung cánh một trời thơ.
Thôi, Người cứ vô tư về núi cũ
Lưu gót TRẦN... quên một thuở từng đi
Khi mình đã luyện mình
là VÔ NGÃ
thì
hồn
thơ
đã thoát tục
an tri!

NGUYỄN KHÔI

…….
(1) Theo ý thơ của Bích Khê (bài Duy Tân)
NK viết trong đêm gió nổi
Hà Nội, mùa thu 2005

CẢM TƯỞNG KHI ĐỌC BÀI THƠ '' GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ''

Kính gởi Nhà Thơ Nguyễn Khôi.

Được Nhà Thơ đề nghị đọc bài Thơ “Gủi người thơ bày tỏ” rồi cho cảm tưởng, tôi cũng đã băng khuăng không ít, ngại mình múa rìu qua mắt thợ. Nhưng cung kính bất như tuân lệnh, vì thế, tôi đành xin mạo muội viết đôi giòng, nghĩ sao thì viết vậy, nếu có lỡ mạo phạm thì xin Nhà Thơ thứ lỗi cho : 

Theo tôi,  bài Thơ rất hay,  nội dung cho thấy người viết đã có hiểu biết rất sâu về Thiền qua những câu : 

          “ Đời là thế, chẳng qua là quán trọ

           Giữa quê hương mà nhớ cố hương”.

Người đời thường nhìn những bậc Thiền giả như những vị thánh nhân, thanh cao, cuộc sống thong dong, tự tại với gió núi, mây ngàn, còn  mình  là người trần, là phàm nhân thấp kém, chen chúc nhau giữa hồng trần  :

“Về với núi, người nghênh phong, thưởng nguyệt

Ta áo cơm sâu bọ giữa nhân quần”

          ….“Tiếng chuông vọng trên mây ngàn, sương lạnh

Thương chúng sinh lòng thả giữa khơi vơi”

            … Người khiêm nhường lánh xa đời chen chúc

Những bon chen nhức nhối chốn đông người”

Theo đó, bậc Thiền giả, một khi đã  “rửa tay gác kiếm”, xa bon chen của cuộc đời để về núi, thì những ngày gót trần phiêu lãng chỉ còn là dĩ vãng mà thôi : 

… “Thôi người cứ vô tư về núi cũ

Lưu gót trần quên một thuở từng đi”

Đó là quan điểm Thiền được truyền từ bao thế hệ : Tu Phật là phải bỏ đời. Thiền là xa rời những bon chen, xô bồ của cuộc sống, để tâm hồn được thanh thản, an nhiên, thoát tục.

Nhưng thật ra, quan điểm của Đạo Phật không phải là tách con người ra khỏi cuộc đời, Thiền không phải để xa rời cuộc sống, cho đời là ô trược, bởi Hoa Sen là biểu tượng của Đạo Phật cả kiếp sống không tách khỏi bùn. Từ khi sinh, cho tới lúc diệt, nó vẫn sống, nở hoa, kết trái và tàn rụi trong bùn, giống như con người từ lúc sinh cho đến hết kiếp vẫn không rời cuộc đời, như  lời Nhà thơ đã viết : 

  • Ừ vẫn sống, nào có ai bỏ cuộc.

Phải. Không có ai bỏ cuộc, vì đã Sinh là phải Sống cho đến hết kiếp, bởi có Nghiệp, có Duyên với đời mới đến với cuộc đời, trong đó, không chỉ có khổ đau, mà niềm vui, nỗi buồn đan xen. Đôi khi nước mắt không chỉ để diễn tả nỗi khổ, mà vẫn có những giọt của hạnh phúc, cảm thông, chia xẻ  : 

“Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ

Biển khổ đời kết Sinh - Tử, Tình – Ca ( xin mạn phép tạm đổi hai chữ Tình Ca thành VÔ THƯỜNG, vì theo tôi, nó sát với ý nghĩa của Đạo Phật hơn). 

“Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ

Biển khổ đời kết SINH - TỬ, VÔ THƯỜNG

Bởi cuộc đời là Sinh Tử, Vô Thường, là BỂ KHỔ,  nên tu hành theo Đạo Phật là để biến nỗi Khổ, thành niềm vui, biến phiền não thành an lạc. Để làm được điều đó, con người cần can đảm : 

Thôi từ giả những điều gì vô lối

Cách mù khơi cho thanh thản tâm hồn

Nhưng hành giả không cần tách rời cuộc sống trần tục, mà chỉ cần dùng thời gian lắng lòng (THIỀN ĐỊNH) mà khai phá Vô Minh, mở Trí Huệ, để  thấy cuộc đời sở dĩ Khổ là vì NGÃ CHẤP. (Chấp cái THÂN GIẢ TẠM là Mình), vì thế sinh ra  PHÁP CHẤP, rồi vướng vào Tham, Sân, Si,danh, lợi, tình mà phải đau khổ. Vì thế, công cuộc tu hành theo Đạo Phật không phải là để xa lánh hay chê bỏ cuộc đời. Trái lại tư duy, nhận xét cho chính xác, phân tích Thiện, ác, Chân, giả, đúng, sai, rồi tôi luyện bản thân theo hướng mình thấy đúng đắn nhất. 

Trần lao sẽ biến thành Niết Bàn. Cuộc đời sẽ không còn là bể khổ. Kiếp sống sẽ không còn là kiếp lưu đày. Tác giả đã tìm ra được chiếc chìa khóa vạn năng để tiếp tục “sống trong phiền não mà thoát phiền não” qua hai câu kết được khẳng định : 

”Khi mình đã luyện mình là VÔ NGÃ

Thì hồn thơ đã thoát tục an tri”.


Đúng vậy. Giữa cảnh CÓ mà Tâm như HƯ KHÔNG. Đang là Hữu Ngã mà luyện thành Vô Ngã ,trở về với Bản thể Chân Như thì hồn thơ không còn đắm đuối trong vòng tục lụy, mà đã “thoát tục an tri”. Điều đó không phải ai củng làm được.


Xin chúc mừng Nhà Thơ.


 Thành Phố Hồ chí Minh  ngày 29/8/2026


               Kính. 

TÂM NGUYỆN (Trần Thị Biên )

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

MÙA THU, GIẤC MƠ NÀO - THƠ TRẦN YÊN HOÀ


Trần Yên Hòa | Sáng Tạo


MÙA THU, GIẤC MƠ NÀO


thu đến bên hiên có phải

ngoài kia xao xác lá vàng

nhìn lên bầu trời ẩm đục

mây như không còn lang thang

 

thu đến bên hiên hoa cúc

vàng rưng một thuở xưa nào

có em áo hồng áo đỏ

bên đời làm gió lao xao

 

thu đến bên hiên cùng em

cùng những bông hoa thược dược

hoa và em đang khoe sắc

hương mùa thu qua êm đềm

 

thu đến bên hiên hôm nay

không em chỉ còn hoa cúc

vàng au một đóa vô tình

lan man đôi bờ mộng thực

 

thu xưa xa rồi không đến

thu nay ngơ ngác lạc bầy

trong lòng còn bao lưu luyến

em có thương lòng ta đây

 

TRẦN YÊN HOÀ


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

KINH KỆ GIỮA LÒNG TÔI - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ



 KINH KỆ GIỮA LÒNG TÔI

Lâu lắm
Không làm bài thơ cúng Phật
Những câu chú
Vẫn còn nằm yên trong trang kinh cũ
Chỉ nghe hạt bụi thời gian lần theo hương cỏ bên trời.
Sỏi đá tâm tình
Ở mãi tấm lòng tôi.
Chúng ta
Là những người hiện thân vào thế kỷ
Đã khoát lên chiếc áo đời rất thật
Màu lá đương xanh
Mang đầy nghĩa Phật
Mỗi ý niệm an lành
Lòng Phật vẫn mênh mông.
Từng bước đi xa
Gọi nhau về bổn xứ
Nghe chim hót
Vang những lời tình tự
Mỗi ngày mặt trời lên
Cho thơm trái tim đời
Câu kinh kệ
Đã viết vào những trang vui
Trang sách mới
Cho hồng thêm câu chữ
Những vì sao
Vẫn thức trắng giữa đêm đen
Những hạt sương
Vẫn sáng hồn trên chiếc lá
Đường ta đi
Bốn phương về mới lạ
Thức trắng đời thơ
Cho ý thức chong đèn.
Ta gặp nhau giữa đường đời muôn ngã
Và chia nhau
Theo mỗi ngã vào đời
Như con ong đi tìm hương mật
Con kiến tha mồi chia mảnh thời gian.
Ta mang từng ý niệm xanh
Cho cây đời thêm sức sống
Cho trăm nụ chồi xuân thêm biếc lộc
Để lối về hoa cỏ sắc thêm tươi
Câu kinh kệ
Khi đã viết giữa lòng tôi.


MẶC PHƯƠNG TỬ


Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

BỨC THƯ PHÁP THƠ ĐỖ PHỦ CỦA PHÙNG KIẾN NGÔ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

                 Bức thư pháp chụp ở nhà hàng 28, Washington DC. Mỹ.


Tạp ghi và Phiếm luận :

          BỨC THƯ PHÁP Thơ ĐỖ PHỦ của PHÙNG KIẾN NGÔ 


       Đó là bức thư pháp của nhà thư pháp nổi tiếng đương đại của Trung Quốc là Phùng Kiến Ngô 馮建吳 (1910–1989) viết vào tháng 6 năm 1982 tại Trùng Khánh Quốc Họa Viện 重慶國畫院 (Viện Hội Họa Quốc Gia của TP Trùng Khánh thuộc tỉnh Tứ Xuyên). Bức thư pháp đó chép lại bài thơ Ngũ ngôn Luật thi của Thi Thánh Đỗ Phủ 杜甫 có tựa là "Du Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há hiệp 渝州候嚴六侍御不到,先下峽". Có nghĩa : "Đợi Nghiêm Lục Thị Ngự ở Du Châu không đến, nên xuống eo Tam Hiệp trước". 
       Năm Vĩnh Thái nguyên niên đời Đường (756), Đỗ Phủ rời đất Thục hướng về đông, trên đường phiêu bạc ngang qua đất Du Châu định đợi bạn là Nghiêm Lục Thị Ngự để cùng đến Qùy Châu, nhưng đợi mãi mà vẫn không thấy bạn đến, nên bèn xuống eo Tam Hiệp trước; Vì thế mà làm bài thơ nầy; Bài thơ tiêu biểu cho sự phiêu bạc của Đỗ Phủ lúc về già.    

     渝州候嚴六侍御不到,先下峽 Di Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há Hiệp.

              聞道乘驄發,    Văn đạo thừa thông phát,
              沙邊待至今。    Sa biên đãi chí câm (kim).
              不知雲雨散,    Bất tri vân vũ tán,
              虛費短長吟。    Hư phí đoản trường ngâm.
              山帶烏蠻闊,    Sơn đới Ô Man khoát,
              江連白帝深。    Giang liên Bạch Đế thâm.
              船經一柱觀,    Thuyền kinh Nhất Trụ Quán,
              留眼共登臨。    Lưu nhỡn cộng đăng lâm !

* Chú thích :
    - Du Châu 渝州 : là tên của đất Ba Thục xưa; Nay là Phủ Trùng Khánh.
    - Hậu 候 : là Đẵng Hậu 等候 có nghĩa là Chờ đợi, là Chực chờ.
    - Há 下 : Vốn là chữ HẠ , Hình dung từ là "Bên dưới, phía dưới". Khi là Động từ thì đọc là HÁ (dấu sắc) có nghĩa là "Đi Xuống".
    - Hiệp 峽 : là Eo đất hay Eo núi, như Trường Giang Tam Hiệp 長江三峽 chẳng hạn; Chữ nầy còn được đọc là HẠP, là GIÁP, như Vu sơn Vu giáp 巫山巫峽...
    - Thông 驄 : là con ngựa xám (lông có màu trắng xanh lẫn lộn); THỪA THÔNG 乘驄 là Cưởi con ngựa màu xám.
    - Sa Biên 沙邊 : là Bên bờ cát (ven sông).
    - Đãi 待 : là ĐẲNG ĐÃI 等待 có nghĩa là "Chờ đợi", giống như từ Đẵng Hậu 等候 ở trên. 
    - Kim 今 : đọc là CÂM cho Ăn với các Vận khác trong bài thơ.
    - Vân Vũ Tán 雲雨散 : là "Mây mưa tan", lấy ý trong thơ của Vương Xán đời Đông Hán là "Phong lưu vân tán, nhất biệt như vũ 風流雲散,一别如雨" Có nghĩa : "Chia tay nhau như sau cơn mưa, gió đã thổi qua và mây cũng đã trôi đi"; Ý nói : Không biết đâu mà lường được !
    - Đoản Trường Ngâm 短長吟 : là đão ngữ tên một khúc ngâm trong Cổ thi là "Trường Đoản Ngâm 長短吟". Ý nói : Trong khi chờ đợi ai đó thì ngâm dài ngâm vắn cho đỡ thấy lâu.
    - Ô Man 烏蠻 : Theo "Đường Thư, Nam Man Truyện 唐書·南蠻傳" Chỉ các bộ tộc ở phía nam của đất Nam Chiếu rộng lớn, có các bộ tộc như Bạch Man, Ô Man...


                                   Thành Bạch Đế và Nhất Trụ Quán

    - Bạch Đế 白帝 : là Thành Bạch Đế ở cách Qùy Châu năm dặm, đưa đến eo núi Tây lăng với nước sông cuồn cuộn từ trên đổ xuống với khí thế hùng vĩ, là yết hầu của đất Thục Sở.
    - Nhất Trụ Quán 一柱觀 : QUÁN là ĐẠO QUÁN 道觀 là nơi tu tập của các đạo sĩ. NHẤT TRỤ QUÁN là một di tích ở huyện Tòng Tư tỉnh Hồ Bắc, do Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh thời Nam bắc Triều xây dựng nên; Vì to lớn và chỉ như một cột trụ lớn, nên được gọi là NHẤT TRỤ QUÁN.
    - Lưu Nhỡn 留眼 : Không phải là "để con mắt lại", mà là muốn lưu cái tầm nhìn lại để cùng bạn cùng nhau ngắm cảnh trên cao nhìn xuống.

* Nghĩa bài thơ :
           Đợi Nghiêm Lục Thị Ngự ở Du Châu không đến, nên xuống eo Tam Hiệp trước.

       Nghe nói rằng bạn sẽ cưởi con ngựa màu xám đến để cùng đi với ta; Nên ta đợi mãi ở bãi cát ven sông mãi cho đến tận bây giờ. Nhưng bạn thì như gió cuốn mây trôi không biết đâu là tung tích, làm cho ta cứ ngâm thơ dài thơ vắn mà chờ đợi uổng công (Hư Phí 虛費 thời gian một cách vô ích). Ở đây núi non trùng điệp trải dài đến các bộ tộc Ô Man rộng lớn và sông Trường giang hùng vĩ nồi liền với thành Bạch Đế xa xa. Khi thuyền đi ngang qua Nhất Trụ Quán cao ngất ở Giang Lăng, ta muốn lưu lại cái tầm nhìn để được cùng bạn lên cao mà ngắm xuống cảnh núi non nước sông hùng vĩ nầy !

* Diễn Nôm :
              Du Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há hiệp.

                   Nghe anh cởi ngựa thông,
                   Bờ biển mãi ngóng trông.
                   Như mây tan gió thổi,
                   Uổng vài vắn thơ ngâm.
                   Núi nối Ô Man rộng,
                   Sông liền Bạch Đế thâm.
                   Thuyền qua Nhất Trụ Quán,
                   Ước cùng ngắm nhìn chung !
       Lục bát :
                   Nghe tin anh cưởi ngựa thông,
                   Thẩn thơ bờ cát ngóng trông đến giờ.
                   Mây trôi gió cuốn ơ hờ,
                   Mất công dài vắn vần thơ ngâm vùi.
                   Ô Man liền núi ngút trời,
                   Bạch Đế sóng cuộn tơi bời Trường giang.
                   Thuyền đi qua Nhất Đạo Quan,
                   Ước cùng bạn ngắm bạt ngàn trên cao !
                                                        (Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

         

Góp ý :
        Bức "thư pháp" được viết cách điệu với nhiều thể loại chữ, thiếu nghiêm chỉnh và không đâu ra đâu cả ! Này nhé : 


Văn đạo     Phát      Sa biên   Bất tri  Ngâm Sơn   Giang      Cộng   Thuyền kinh Lưu nhởn 

  - Từ Văn đạo Sa biên,Lưu nhởn  được viết theo lối chữ Lệ (LỆ THƯ 隸書), nhưng phép "Tàm đầu yến vĩ" không rõ ràng.
  - Chữ Phát  có phần đầu theo lối chữ Triện; phần dưới theo chữ Lệ. 
  - Chữ Giang có phần đầu ''Ba chấm Thủy" bên trái, được viết theo lối Giáp Cốt Văn của chữ Thủy.
  - Chữ Ngâm,Sơn ,Cộng được viết theo lối chữ Đại Tiểu Triện, nhưng nét bút không nghiêm cẩn, tùy tiện.
  - Từ Thuyền kinh  được viết theo lối chữ Hành (HÀNH THƯ 行書), bỏ bớt nét cho gọn chữ.
  - Từ Bất tri được viết theo lối chữ Thảo (THẢO THƯ 草書), nhưng nét bút không bay bướm.
      ................
        Tóm lại : là một nhà Thư pháp nỗi tiếng, nhưng bức thư pháp nầy của Phùng Kiến Ngô 馮建吳 được viết một cách tùy tiện, bát nháo. Chủ đạo là chữ LỆ, nhưng hình như tác giả muốn  cố ý khoa trương những hiểu biết của mình về "Thư pháp" hơn là muốn thực hiện một bản thư pháp đẹp. 
      Sau đây xin được giới thiệu một bản "Thư pháp đẹp một cách nghiêm chỉnh" của Phùng Kiến Ngô khi viết lại bài thơ "Đăng Quán Tước Lâu 登鸛鵲樓" của Vương Chi Hoán 王之渙 đời Đường bằng hai thể chữ Giáp Cốt Văn và Đại Tiểu Triện :


                  Bài thơ Đăng Quán Tước Lâu  và  Danh họa Phùng Kiến Ngô 

              白日依山盡,    Bạch nhật y sơn tận,
              黃河入海流。    Hoàng hà nhập hải lưu,
              欲窮千里目,    Dục cùng thiên lý mục,
              更上一層樓。    Cánh thướng nhất tằng lâu!

* Nghĩa bài thơ :
                     Lên lầu Quán Tước.
      Mặt trời sáng trắng đang theo ngọn núi mà mất hút (chỉ mặt trời lặn).
      Sông Hoàng Hà thì cứ cuồn cuộn chảy đổ vào biển.
      Nếu như muốn nhìn cho mút tầm mắt ngoài ngàn dặm, thì mời bạn...
      Hãy lên thêm một tầng lầu nữa !...


                     
* Diễn Nôm :
                     ĐĂNG QUÁN TƯỚC LÂU

                    Mặt trời theo núi lặn,
                    Hoàng Hà biển chảy mau.
                    Muốn nhìn mút tầm mắt,
                    Lên thêm một tầng lầu !
      Lục bát :
                    Mặt trời trắng, lặn núi xanh,
                    Hoàng Hà ra biển chảy nhanh suốt ngày.
                    Muốn nhìn cho mút mắt ai,
                    Lầu Quán Tước đó lên ngay một tầng !

       Bài thơ nêu lên ý chí tiến thủ không ngừng của Vương Chi Hoán. Trước cảnh núi sông hùng vĩ : Mặt trời khuất sau rặng núi trong cảnh sóng nước Hoàng Hà đang cuồn cuộn không ngừng đổ ra biển cả mênh mông; Nếu bạn muốn nhìn mút tầm mắt cho mãn nhãn ư , thì hãy cùng ta bước lên thêm một tầng lầu nữa đi, bạn sẽ được thỏa mãn ngay  !... Ý chí phấn đấu không ngừng tiến thủ, vươn lên cao cho thỏa chí bình sinh !

         Hẹn bài viết tới !

 
                                           杜紹德
                                        ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

XA MẸ - THƠ NGUYỄN GIA KHANH



XA MẸ

(Thuận-Nghịch độc, Thủ vĩ ngâm)

Xa mẹ nỗi buồn luống quặn đau
Lệ tuôn đêm tủi gối khăn nhàu
Nhòa phai bóng cũ thềm vương nắng
Úa nhạt thu gầy dậu rụng cau
Tha thiết giọng Kiều câu lại vẳng
Ngẩn ngơ hồn Cúc chuyện thêm sầu (*)
Nhà đơn cảnh vắng niềm côi cút
Xa mẹ nỗi buồn luống quặn đau.

Đọc ngược:
Đau quặn luống buồn nỗi mẹ xa
Cút côi niềm vắng cảnh đơn nhà
Sầu thêm chuyện Cúc hồn ngơ ngẩn
Vẳng lại câu Kiều giọng thiết tha
Cau rụng dậu gầy thu nhạt úa
Nắng vương thềm cũ bóng phai nhòa
Nhàu khăn gối tủi đêm tuôn lệ
Đau quặn luống buồn nỗi mẹ xa.


NGUYỄN GIA KHANH

(*)Sự tích hoa Cúc trắng:
Có hai mẹ con sống đơn côi trong túp lều. Người mẹ làm việc vất vả nên lâm bệnh nặng.
Cô bé buồn khóc vì nhà nghèo không có tiền mua thuốc. Một cụ già tóc bạc xuất hiện và chỉ cho cô hái bông hoa cúc trắng bốn cánh ở gốc cây cổ thụ đầu rừng làm thuốc cứu mẹ.
Cụ dặn hoa có bao nhiêu cánh thì mẹ sống được bấy nhiêu ngày. Thấy hoa chỉ có bốn cánh, cô bé liền xé nhỏ từng cánh ra thành vô số sợi mảnh để mẹ được sống lâu hơn nữa.
Lòng hiếu thảo của cô đã tạo nên phép màu.
Câu chuyện này cũng để giải thích nguồn gốc của loài hoa Cúc vì sao lại có nhiều cánh.
*