
BLOG CỦA NHÃ MY
Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026
ĐƯA ÔNG TÁO - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG
CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ ''NHỚ NGÀY XƯA' CỦA NGUYỄN QUỲNH - ĐỖ ANH TUYẾN

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ
"NHỚ NGÀY XƯA" CỦA NGUYỄN QUỲNH
NHỚ NGÀY XƯA
.
Mẹ ta gian khó đã từng
Miếng sung thì chát, miếng gừng thì cay
Sinh ra bám đất ruộng cày
Nắng mòn chân rạ héo gày cuộng rơm
.
Bây giờ thương nghiệp kiếm cơm
Làm sao hạt gạo chẳng thơm như mùa mmm về
Nhớ ngày nước mặn bùn chua
Cá cờ lội ngược cơn mưa chạy đồng
.
Cái thời con dại lại đông
Thuế sưu bồi đắp chất chồng hai vai
Tháng năm ngắn, tháng ba dài
Bát cơm đấu gạo chỉ vài ngày no
.
Tép đồng tương mặn khế kho
Sắn khoai vùi bếp tiếng hò trẻ thơ
Đói no gắng gượng mẹ chờ
Chị anh khôn lớn cậy nhờ bấy nhiêu
.
Tôi thì chả đỡ được nhiều
Thu rơm quét thóc mỗi chiều cơn mưa
Bây giờ ngồi nhớ mẹ xưa
Bao năm xa cách lòng chưa hết buồn
.
Vinh hoa mà nhớ cội nguồn
Những ngày xưa ấy như khuôn tạc đời!
*
NGUYỄN QUỲNH
Mở đầu bài thơ, người đọc lập tức bị ném vào cái không gian khắc nghiệt của làng quê xưa thông qua những tính từ đầy sức gợi: “chát”, “cay”. Nhà thơ không dùng những mỹ từ hoa mỹ để tô vẽ cho sự nghèo, mà chọn cách đối diện trực diện với nó. Hình ảnh “Nắng mòn chân rạ héo gày cuộng rơm” là một sự quan sát sắc sảo, cho thấy cái nắng không chỉ thiêu đốt đất đai mà còn bào mòn cả sức lực của con người. Sự chuyển hóa giữa cái vô hình (nắng) làm biến dạng cái hữu hình (cuộng rơm) chính là một ẩn dụ khéo léo cho sự nhọc nhằn mà người mẹ phải gánh vác.
Ngay từ những câu thơ mở đầu, Nguyễn Quỳnh đã thiết lập một không gian sinh tồn đầy khắc nghiệt. Hình ảnh người mẹ hiện lên gắn liền với các vị giác mang tính biểu tượng: "sung chát", "gừng cay". Đây không chỉ là thức ăn, mà là ẩn dụ cho những đắng cay của cuộc đời mà mẹ đã nếm trải.
Đặc biệt, hình ảnh "Nắng mòn chân rạ héo gày cuộng rơm" là một liên tưởng rất đắt. Tác giả không nói người mẹ già đi, mà nói "nắng mòn", "héo gày" trên chính những vật thể vô tri xung quanh. Cái nắng như có sức nặng, mài mòn đi sức lực của con người, biến cuộc đời mẹ thành một phần của đất đai, ruộng đồng.
Hình ảnh "Cá cờ lội ngược cơn mưa chạy đồng" gợi lại một không gian làng quê Bắc Bộ xưa cũ, nơi thiên nhiên và con người cùng gồng mình trong sự khắc nghiệt nhưng cũng đầy sức sống bền bỉ.
Đi sâu vào nội dung, bài thơ không né tránh những thực tại trần trụi của lịch sử như “thuế sưu bồi đắp chất chồng hai vai”. Cách ngắt nhịp và dùng từ “tháng năm ngắn, tháng ba dài” gợi lên cái nhịp sinh học khắc nghiệt của nhà nông – khi thời gian no đủ thì trôi nhanh, còn những ngày giáp hạt thì dằng dặc. Những món ăn như “tép đồng tương mặn”, “khế kho” hay “sắn khoai vùi bếp” không chỉ là thức ăn để lấp đầy dạ dày, mà đã trở thành những chứng nhân cho sự gắn kết gia đình.
Sự lôi cuốn của bài thơ nằm ở cấu trúc chuyển dịch thú vị giữa "bây giờ" và "ngày xưa". Khi đã đứng ở vị thế của một người thành đạt với "thương nghiệp" và "vinh hoa", nhân vật trữ tình lại nảy sinh một nỗi hoài nghi đầy xót xa: “Làm sao hạt gạo chẳng thơm như mùa”. Đây là một nhận xét tinh tế về mặt tâm lý, bởi hạt gạo ngày nay dù trắng trong, dẻo thơm đến mấy cũng thiếu đi cái vị của sự nhọc nhằn và tình thâm sâu nặng. Trong ký ức ấy, hình ảnh "Cá cờ lội ngược cơn mưa chạy đồng" hiện ra như một biểu tượng của sức sống bền bỉ giữa thiên nhiên khắc nghiệt. Đoạn thơ giữa tiếp tục đào sâu vào những chi tiết thực nghiệm như thuế sưu, bát cơm đấu gạo, hay cái đói quay quắt của "tháng Ba dài", vẽ nên một bức tranh xã hội nông thôn ngột ngạt. Nhưng chính trong cái nền tăm tối đó, người mẹ hiện lên như một trụ cột tinh thần duy nhất; cụm từ "gắng gượng mẹ chờ" đã tạc nên chân dung một người đàn bà nuôi con không chỉ bằng khoai sắn mà bằng cả đức hy sinh thầm lặng.
Khép lại bài thơ là một nỗi buồn ưu tư mang tính nhân văn sâu sắc. Sự trung thực của người con được thể hiện qua cái nhìn tự vấn, không tô vẽ khi thừa nhận mình "chả đỡ được nhiều", chỉ quanh quẩn với việc "thu rơm quét thóc". Thái độ này càng làm tôn thêm sự vĩ đại của mẹ và sức nặng của câu kết: "Vinh hoa mà nhớ cội nguồn / Những ngày xưa ấy như khuôn tạc đời". Đây là lời khẳng định đanh thép về đạo lý uống nước nhớ nguồn, rằng quá khứ khổ đau chính là chiếc khuôn định hình nên nhân cách và sự thành bại của mỗi người ở hiện tại.
Câu kết “Những ngày xưa ấy như khuôn tạc đời” đã nâng tầm bài thơ từ một tiếng lòng cá nhân thành một quy luật phổ quát. Quá khứ không phải là gánh nặng, mà là cái khuôn mẫu để hình thành nên bản lĩnh và cốt cách của một con người ở hiện tại. Dù đôi chỗ vần điệu còn mộc mạc, gần với lối kể chuyện hơn là sự trau chuốt ngôn từ, nhưng chính sự mộc mạc đó lại tạo nên một hấp lực riêng, khiến bài thơ "Nhớ ngày xưa" đã thành công trong việc khơi gợi lòng trắc ẩn, vừa là tiếng khóc thương mẹ, vừa là lời nhắc nhở về những giá trị truyền thống đang dần mai một giữa dòng đời hối hả.
Có thể nói, bài thơ là một bản tổng kết bằng cảm xúc về một thời đại đã qua, nơi mà những giá trị tinh thần được tôi luyện qua gian khổ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, giữa những vinh hoa của hiện tại, nếu thiếu đi sự kết nối với “cội nguồn”, con người sẽ chỉ là những thực thể không gốc rễ.
*
ĐỖ ANH TUYẾN
Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026
XUÂN QUÊ - THƠ LÊ KIM THƯƠNG
XUÂN QUÊ
1.
Người về cùng với xuân quê
Mùa xuân trở lại, người về quê hương
Dẫu cho mưa nắng gió sương
Người quê đón nhận yêu thương chan hòa…
Hừng đông chim ríu rít ca
Mái nhà xưa cũ vỡ òa vui tươi
Nắng xuân về với nụ cười
Mầm non đón ánh mặt trời mong manh
Sông xuân dòng nước xanh xanh
Chiếc xuồng nho nhỏ chòng chành xa xa
Cánh cò bay lả bay la
Bay qua sông vắng, bay xa giang đầu
Đồng xuân xanh thẳm một màu
Một đàn cò trắng, trắng phau trên trời
Đồng xanh thấp thoáng bóng người
Áo nâu, nón lá Mẹ cười…”Ngày xưa.”…
2.
Gió xuân nhè nhẹ như vừa
Lách luồn mái lá, đong đưa nắng chiều…
Lưng còng bóng Mẹ liêu xiêu
Khát khao tiếng Mẹ mắng yêu thuở nào
Nhớ nhiều bến nước cầu ao
Tình quê tha thiết thấm vào lòng con…
Chiều buông màn tím hoàng hôn
Ai xui cơn gió thổi hồn trầm tư
Chuông chùa văng vẳng xa đưa
Gió lay cành lá lưa thưa bồi hồi
Cánh diều bay bổng lưng trời
Chiều tà nắng nhẹ, vàng phơi áo màu…
Trăng lên chiếu sáng đêm thâu
Cảnh quê yên ả, về đâu cánh diều
Trăng vàng thả bóng liêu xiêu
Lời ru Đất Mẹ còn nhiều bâng khuâng…
Nha Trang, tháng 02. 2026
LÊ KIM THƯỢNG
XUÂN ĐỢI NGƯỜI THƯƠNG , CHỜ EM VỀ GIỮA CHIỀU ĐÔNG - THƠ ĐỖ ANH TUYẾN
XUÂN ĐỢI NGƯỜI THƯƠNG
.
Anh đứng tựa gốc đào phai trước ngõ
Cánh hoa run khẽ động giấc xuân nồng
Hương đồng nội theo gió vờn mái phố
Cứ xôn xao, da diết ở trong lòng.
.
Chợ huyện vãn, dòng người xuôi hối hả
Mẹ gom về xấp lá, nếp, đậu xanh
Cha tỉ mẩn chuốt nhành đào thắm đỏ
Thiếu dáng em... Tết chẳng thể trọn lành.
.
Mỗi chuyến xe dừng bên thềm xóm nhỏ
Anh dõi tìm một ánh mắt thân quen
Phương ấy lạnh, em có quàng khăn đỏ?
Có mang theo hơi ấm buổi lên đèn?
.
Gác việc lại, về thôi em, đừng muộn!
Đường xa xôi, sương muối có mờ giăng?
Dẫu cuộc đời vẫn ngược xuôi sớm muộn
Về đi em, anh vẫn đợi dưới trăng.
.
Thèm hơi Tết mình cùng nhau dạo phố
Bát canh măng thơm ngát phút giao thừa
Quà cáp chi khi xuân là nụ nở
Trải lòng anh... em thấu hiểu hay chưa?
.
Cơm chiều dọn, khói chờn vờn bếp lửa
Mắt mẹ nhòa vì bụi hay đợi con?
Anh đứng đây, giữa mùa xuân gõ cửa
Đợi em về... cho Tết được tròn vuông.
.
CHỜ EM VỀ GIỮA CHIỀU ĐÔNG
.
Tết đã len vào từng ngõ nhỏ
Đào phai hé nụ, sắc xuân sang
Mà sao người cũ còn chưa tới?
Để lạnh vai gầy, bóng đổ ngang.
.
Trời chiều bảng lảng màu mây xám
Chút rét hanh hao cứ chực chờ
Mỗi tiếng còi xe vang đầu ngõ
Lại tưởng là em... cứ ngẩn ngơ.
.
Bánh chưng đã gói, trà đã sẵn
Mứt ngọt thơm nồng đợi bước chân
Đừng để xuân này buồn hiu hắt
Về nhé em ơi, Tết đã gần!
*.
ĐỖ ANH TUYẾN
Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026
TỐNG CỰU NGHINH TÂN (3) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

