CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

MÙA ĐÔNG RIÊNG ANH - THƠ ĐỖ ANH TUYẾN



Sương mù



MÙA ĐÔNG RIÊNG ANH

 

Gió bấc về lùa qua kẽ tay

Phố cũ mình anh bước hao gầy

Em đi bên ấy môi cười ấm

Chẳng biết nơi này gió bủa vây.

 

Anh gom chút nắng cuối chiều rơi

Sưởi ấm tình câm chẳng thốt lời

Sợ nói ra rồi như khói thuốc

Tan vào sương giá biệt mù khơi.

 

Bàn tay giá buốt giấu vào túi

Anh đứng một mình dưới đêm khuya

Người ta sưởi ấm bằng chăn đệm

Anh sưởi tim mình bằng nhớ em.

*


ĐỖ ANH TUYẾN


Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

TỐNG CỰU NGHINH TÂN (2) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 


Góc Cổ Thi :  
                                  TỐNG CỰU NGHINH TÂN  (2)
 

      Nhắc đến "Tống Cựu Nghinh Tân 送舊迎新" trong đêm Giao thừa, thì không thể không nhắc đến câu ngạn ngữ cổ xưa đã truyền tụng trong dân gian là :

                  一夜連雙歲,   Nhất dạ liên song tuế,
                  五更分二年.   Ngũ canh phân nhị niên.
        Có nghĩa :
                  Một đêm nối liền hai tuổi,
                  Năm canh chia đều hai năm.
        Qủa là :
                    Một đêm hai tuổi liền nhau,
               Năm canh sau trước chia đều hai năm.

      Không phải chỉ trong dân gian mà cả trong cung của vua Đường; nhà vua tài hoa văn võ song toàn Đường Thái Tôn Lý Thế Dân 唐太宗李世民 cũng có bài thơ "Thủ Tuế" trong đó có các câu rất hay như sau :

                 寒辭去冬雪,   Hàn từ khứ đông tuyết,
                 暖帶入春風。   Noãn đới nhập xuân phong.
        Có nghĩa :
             - Cái lạnh giả từ ra đi mang theo cả tuyết của mùa đông, và...
             - Cái ấm về lại mang cả gió xuân ấm áp theo về.

                     Lạnh đi mang cả tuyết đông,
                 Ấm về mang cả xuân phong theo về !
       Và...

               
                 共歡新故歲,   Cộng hoan tân cố tuế,
                 迎送一宵中。   Nghinh tống nhất tiêu trung !
       Có nghĩa :
            - Cùng vui vẻ với tuổi cũ và tuổi mới, vì...
            - Đón năm mới và đưa năm cũ chỉ trong một đêm mà thôi !

                              Cùng vui tuổi mới cũ vong,
                     Nghinh tân tống cựu trong vòng một đêm !     

       Rõ nét nhất, cụ thể nhất và cũng thi vị nhất là bài thơ Ngũ ngôn tuyệt cú《Trừ Dạ 除夜》là "Đêm Trừ tịch" của Tào Tung 曹鬆 đời Đường :  

                殘臘即又盡,     Tàn lạp tức hựu tận,
                東風應漸聞.     Đông phong ưng tiệm văn.
                一宵猶幾許,     Nhất tiêu do kỷ hử,
                兩歲欲平分.     Lưỡng tuế dục bình phân ?
       Có nghĩa :
            - Tháng Chạp sẽ tàn lụi ngay trước mắt đây thôi (Tức hựu tận).
            - Đã dần dần nghe có tiếng gió xuân (Đông phong) thổi đến rồi.
            - Một đêm là thời gian còn có bao lâu (kỷ hử) đâu, mà...
            - Hai tuổi, hai năm lại muốn chia đều (bình phân) với nhau ?!...

                
       Qủa là :
                   Tháng Chạp đã sắp tàn rồi,
                   Đã nghe tiếng gió xuân bồi hồi sang.
                   Một đêm ngắn chẳng đầy gang,
                   Chia đều hai tuổi chia làm sao đây ?!

       "Tống cựu nghinh tân" cũng có nhiều điều rất thi vị và lý thú, nên thơ  đến... ngẩn ngơ !

       Trong đêm trừ tịch, khi nghe tiếng pháo tre đì đà đì đẹt nổ để đón giao thừa, thì tất cả mọi người trong gia đình đều cùng nhau nâng ly rượu "Đồ Tô" trừ tà, trừ dịch bệnh lên để cùng nhau "Chúc Mừng Năm Mới". Tiêu biểu nhất là bài thơ "Nguyên Nhật 元日" là "Ngày đầu một năm" của một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" là Tể Tướng Vương An Thạch 王安石 đời Tống như sau :

               爆竹聲中一歲除,     Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ,
               春風送暖入屠蘇.     Xuân phong tống noãn nhập Đồ tô.
               千門萬戶曈曈日,     Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật,
               總把新桃換舊符.     Tổng bả tân đào hoán cựu phù.


                     Có nghĩa :
           - Trong tiếng pháo tre nổ thì một tuổi (một năm) đã được trừ đi,
           - Gió xuân đưa làn hơi ấm áp vào trong ly rượu Đồ tô.
           - Muôn nhà ngàn hộ đang đón ánh nắng ban mai theo mặt trời mọc...
           - Đều cùng "Gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".
      * Đào Phù 桃符 : là "Lá bùa được viết để dán lên cành đào". Ta gọi là "Lá bùa nêu". Thường được viết trên giấy đỏ và đều là những lời viết tốt đẹp. Sau phát triển thành những câu "Liễn Tết" mà ta gọi là "Câu Đối Đỏ". Nên "Tổng bả tân đào hoán cựu phù 總把新桃換舊符 là "Đều cùng gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".

                   Một tuổi qua đi trong tiếng pháo,
                   Gió xuân đưa ấm rượu Đồ tô.
                   Muôn nhà chờ nắng ngày xuân mới,
                   Thay liễn đều cùng đón ước mơ !

       Trên đây là những gia đình được đoàn tụ, sum họp trong đêm Ba mươi Tết để cùng đón giao thừa, cùng vui hưởng cái thiên luân của một gia đình đoàn viên hạnh phúc; Còn những người tha phương cầu thực, gởi thân nơi đất khách, phiêu bạc nơi xứ lạ quê người thì đón Giao thừa trong đêm Trừ tịch như thế nào đây ? Ta hãy cùng đọc bài thơ 《TRỪ DẠ 除夜》của thi nhân TỪ BÍ 徐賁 đời Nguyên như sau đây :


                 
               客舍無人更寂寥,  Khách xá vô nhân cánh tịch liêu,
               聲傳爆竹隔林遙。  Thanh truyền bộc trúc cách lâm diêu.
               幾多時節何堪恨,  Kỷ đa thời tiết hà kham hận,
               送卻流年是此宵。  Tống khước lưu niên thị thử tiêu !
      Có nghĩa :
           - Nhà khách không người nên càng (cánh) cảm thấy cô đơn vắng vẻ,
           - Tiếng pháo tre văng vẳng đưa lại từ mé rừng xa xa...
           - Biết bao lễ tiết đi qua làm sao nói cho hết được cái hận ở trong lòng ?
           - Lại phải đưa quách đi cái lễ tiết cuối cùng của năm nay trong đêm nay !

       Đưa tiễn năm cũ qua đi một cách dỗi hờn trong đêm trừ tịch. Quả là một cách đưa tiễn hờn mát của một kẻ xa nhà khi năm tàn Tết đến mà chẳng được cùng gia đình đoàn tụ .


                        
                    Nhà khách không người càng vắng lặng,
                    Pháo tre đì đẹt cách rừng xa...
                    Bao nhiêu lễ Tết còn chi hận...
                    Đưa quách năm tàn  đêm đã qua !

      Sau đây là tâm sự buồn thương day dứt của Thi Bá Bạch Cư Dị 詩霸 白居易 phải đón giao thừa nơi đất khách khi công chưa thành danh chưa toại qua bài thơ  KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ 客中守歲 (Đón Giao thừa nơi đất khách) của ông :   

              守歲樽無酒,   Thủ tuế tôn vô tửu,
              思鄉淚滿巾。   Tư hương lệ mãn cân.
              始知爲客苦,   Thủy tri vi khách khổ,
              不及在家貧。   Bất cập tại gia bần.
              畏老偏驚節,   Úy lão thiên kinh tiết,
              防愁預惡春。   Phòng sầu dự ố xuân.
              故園今夜裏,   Cố viên kim dạ lý,
              應念未歸人。   Ưng niệm vị quy nhân.
                        白居易                    Bạch Cư Dị


            
* CHÚ THÍCH :
    - Khách Trung 客中 : là Trong lòng đất khách, có nghĩa là Đang ở nơi đất khách.
    - Thủy Tri 始知 : Mới biết được rằng ...
    - Bất Cập 不及 : Không bằng được ....
    - Úy 畏 : là Sợ, mà Kinh 驚 : cũng là Sợ, ta có từ kép Kinh Úy 驚畏 là Sợ Hãi.
    - Ố 惡 : là Ghét. ta có từ KHẢ Ố 可惡 : là Đáng ghét.
    - Cố Viên 故園 : là Vườn Xưa, từ dùng để chỉ Quê Nhà, Quê Xưa, Quê hương.
    - Ưng Niệm 應念 : là Chắc là đang nhớ đến, nhắc đến...                    

* NGHĨA BÀI THƠ :

              ĐÓN GIAO THỪA NƠI ĐẤT KHÁCH
             
       Đón giao thừa mà trong chai đã hết rượu rồi.
       Nước mắt nhớ quê hương ướt đẫm cả khăn tay. 
       Mới biết rằng làm người khách xa quê hương là rất khổ, 
       Không bằng nghèo khó mà được ở quê nhà. Vì...
       Sợ gìa nên cũng sợ luôn cả các lễ Tết...
       Dự phòng sầu muộn nên cũng ghét luôn cả mùa xuân. 
       Ở nơi quê nhà trong đêm nay, chắc mọi người cũng...
       Đang nhắc đến cái người đi chưa về là mình đây !

      Lễ Tết đến mà lại phải tha phương cầu thực. Đón giao thừa nơi đất khách mà chai thì hết rượu, túi lại không tiền, Mới biết rằng thà nghèo khổ mà Tết được ở nhà còn hơn đi tìm chữ công danh mà lang thang chân trời góc bễ. Trong khi tuổi già cứ sồng sộc ập xuống đầu nên càng sợ xuân về Tết đến hơn bao giờ hết, như lời thơ của nhà thơ Chế Lan Viên thời Tiền Chiến :

                     Tôi có chờ đâu có đợi đâu,
                   Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

* DIỄN NÔM :           
                 KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ



                Giao thừa chai hết rượu,
                Nhớ quê lệ ướt khăn.
                Mới hay tha hương khổ,
                Không bằng nghèo yên thân.
                Ngại gìa lại e Tết,
                Sợ buồn cũng ghét xuân.
                Quê nhà đêm nay chắc...
                Nhớ người đi bâng khuâng.
   Lục bát :
                Giao thừa chai rượu lại không,
                Nhớ quê lệ ướt đầm khăn đêm này.
                Mới hay lưu lạc khổ thay,
                Không bằng nghèo khó ngày ngày yên thân.
                Sợ gìa sợ cả nàng xuân,
                Sợ ngày tháng lụn năm cùng ngổn ngang.
                Đêm nay chắc cả thôn làng,
                Ngóng trông những kẻ lang thang chưa về !
                                       
       Buồn cho thân phận tha phương đón Tết của mình, Bạch Cư Dị cũng buồn luôn cho những thân nhân đang đón giao thừa nơi quê nhà : Chắc mọi người cũng đang khoắc khoải trông ngóng lo lắng cho mình, là kẻ còn lưu lạc phương trời, không biết sẽ đón giao thừa và  ăn Tết ra sao ?!    

       Hẹn bài dịch tới !

                                                 
                  杜紹德
            ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

TỤNG CA - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI, NHẠC A.I





TỤNG CA
(Riêng tặng Tố Mai)

Lần tay dìu nốt cung đàn,
Ca ngâm sương khói, mây ngàn phiêu du.
Tiếng tơ chạm giấc thiên thu,
Hồn xưa thức dậy giữa ru trầm buồn.
Nàng vui giữa cõi vô thường,
Một tay viết nhạc, một hồn ngây thơ.
Âm vang nửa thực nửa mơ,
Như trăng rót xuống bên bờ thời gian.
Giọng ca hong ấm trăng tàn,
Lời ngâm dệt gió, mây ngàn cúi nghe.
Cung thương rớt giọt sơn khê,
Nhân gian lặng thở giữa mê TỈNH HỒN
Không phô sắc, chẳng phô hình,
Chỉ đem tâm ý thắp tình thanh âm.
Ngón tay gieo hạt thăng trằm,
Nở hoa nhạc mộng, trầm ngâm cõi người.
Nàng là viên ngọc không lời,
Là thơ chưa viết, mà đời đã say.
Lòng nàng theo nhạc xa bay
Tên nàng… còn mãi trong ngày âm vang.

HTH


Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

CUNG ĐÀN MÙA XUÂN - THƠ NHẬT QUANG



 CUNG ĐÀN MÙA XUÂN


Xuân về, gió hát giữa trời xanh
Nắng chạm hiên nhà phút ấm lành
Phím loan nhẹ ru hồn hoa lá
Lao xao gọi mùa - xua giá bằng

Giọt sương óng ánh trên cành mơ
Điệu nhạc rộn vui khúc mong chờ
Cánh én chao nghiêng qua phố nhỏ
Mang tin Xuân thắm dệt tình thơ

Tay em rải nhẹ phím yêu thương
Cung bậc mênh mang giữa vô thường
Mỗi nốt nhạc tươi sắc hoa nở
Tô đẹp Xuân ngời khắp quê hương

Cung đàn mùa Xuân còn ngân mãi
Theo nhịp thời gian chẳng phai phôi
Giữ hộ nhân gian niềm ấm áp
Qua rồi Đông giá, một mùa vui.


Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

NHỮNG NĂM BÍNH NGỌ ĐẶC BIỆT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM - VŨ THỊ HƯƠNG MAI


 

       NHỮNG NĂM BÍNH NGỌ

ĐẶC BIỆT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

 

Trong lịch sử Việt Nam, các năm Bính Ngọ (chu kỳ 60 năm một lần) thường gắn liền với những bước ngoặt quan trọng về chính trị, quân sự và văn hóa. Dưới đây là những năm Bính Ngọ tiêu biểu.

 

4. Năm Bính Ngọ 946: 

Thời kỳ hậu Ngô Quyền

Sau khi Ngô Quyền mất (944), năm 946 là giai đoạn đất nước rơi vào tình trạng bất ổn do cuộc tranh giành quyền lực giữa các con của Ngô Quyền và Dương Tam Kha.

Đây là giai đoạn mào đầu cho loạn 12 sứ quân, buộc lịch sử phải chờ đợi sự xuất hiện của Đinh Bộ Lĩnh để thống nhất lại giang sơn vào năm 968. 

Các đặc điểm nổi bật trong năm này bao gồm:

1. Sự bất ổn của bộ máy trung ương

Dương Tam Kha chiếm ngôi: Sau khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha (anh/em vợ Ngô Quyền) đã cướp ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập. Năm 946 nằm trong giai đoạn Dương Tam Kha xưng là Dương Bình Vương, trực tiếp điều hành triều đình tại Cổ Loa.

Mâu thuẫn nội tộc: Sự tiếm quyền này gây ra sự rạn nứt nghiêm trọng trong giới quý tộc và tướng lĩnh trung thành với nhà Ngô. Ngô Xương Ngập phải bỏ trốn về Nam Sách (Hải Dương), tạo nên sự chia rẽ sâu sắc ngay tại trung tâm quyền lực. 

2. Mầm mống của loạn 12 sứ quân

Sự trỗi dậy của các thế lực địa phương: Do triều đình trung ương tại Cổ Loa không còn đủ uy tín và sức mạnh để kiểm soát toàn bộ lãnh thổ, các hào trưởng địa phương bắt đầu tự xây dựng lực lượng riêng.

Hỗn loạn kéo dài: Năm 946 chính là giai đoạn "mào đầu" cho tình trạng phân rã của đất nước. Việc Dương Tam Kha không thể thu phục được lòng người đã khiến các thế lực cát cứ nổi lên mạnh mẽ hơn, dẫn đến sự hình thành của các sứ quân và đẩy đất nước vào cảnh loạn lạc kéo dài suốt 20 năm sau đó. 

3. Vị thế của quốc gia mới độc lập

Dù tình hình nội bộ rối ren, Việt Nam lúc này vẫn giữ được nền độc lập tự chủ vừa giành lại được sau trận Bạch Đằng (938). Tuy nhiên, năm 946 cho thấy một bài học lịch sử về sự nguy hiểm của việc tranh giành ngôi báu khi nền móng quốc gia chưa thực sự vững chắc. 

Tóm lại, năm Bính Ngọ 946 không phải là một năm thịnh trị mà là khúc dạo đầu của một thời kỳ khủng hoảng chính trị lớn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ X.

 

1. Năm Bính Ngọ 1066: 

Đổi tên nước thành Đại Việt

Trong lịch sử Việt Nam, năm Bính Ngọ 1066 (năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 8) dưới triều vua Lý Thánh Tông là một dấu mốc đặc biệt quan trọng với những sự kiện định danh dân tộc và củng cố niềm tin tâm linh.

1. Đổi tên nước thành Đại Việt

Đây là sự kiện quan trọng nhất của năm 1066, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc:

Sự kiện: Vua Lý Thánh Tông quyết định đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt (có từ thời Đinh Bộ Lĩnh) thành Đại Việt.

Ý nghĩa: Tên gọi này thể hiện sự tự tôn dân tộc, khẳng định vị thế một quốc gia độc lập, hùng mạnh và ngang hàng với các đế chế phương Bắc. Quốc hiệu Đại Việt đã gắn liền với những thời kỳ huy hoàng nhất của các triều đại Lý, Trần, Lê và tồn tại bền vững suốt 738 năm (đến năm 1804).

2. Xây dựng tháp Báo Thiên - "An Nam tứ đại khí"

Năm 1066 cũng ghi dấu sự phát triển rực rỡ của Phật giáo và kiến trúc thời Lý:

Sự kiện: Vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây dựng cây tháp lớn tại chùa Báo Thiên (nay thuộc khu vực Nhà thờ Lớn Hà Nội).

Đặc điểm: Tháp cao 12 tầng (khoảng 70m), đỉnh tháp đúc bằng đồng. Cùng với đỉnh tháp này, các báu vật khác sau này được dân gian xếp vào nhóm "An Nam tứ đại khí" (4 quốc bảo lớn của Việt Nam thời trung đại). Đây là biểu tượng cho sự thịnh trị và sự kết hợp hài hòa giữa quyền lực nhà nước và tôn giáo.

3. Sự kiện thiên văn: Sao chổi Halley xuất hiện

Sự kiện: Theo sử sách ghi lại, vào tháng 3 năm Bính Ngọ 1066, một ngôi sao lớn (sao chổi) đã xuất hiện trên bầu trời Thăng Long.

Ghi chú: Khoa học hiện đại xác nhận đây chính là lần xuất hiện của Sao chổi Halley. Trong bối cảnh thời bấy giờ, điềm báo này được coi là sự thông báo về những biến động lớn hoặc sự ra đời của những quyết sách vĩ đại (như việc đổi tên nước).

4. Ổn định và thịnh trị

Năm 1066 nằm trong giai đoạn hoàng kim của nhà Lý. Đất nước thái bình, kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân ấm no. Sự ổn định này là tiền đề giúp Lý Thánh Tông xây dựng quân đội hùng mạnh để bảo vệ biên giới và mở mang bờ cõi về phía Nam sau này.

Tóm lại, năm Bính Ngọ 1066 là năm của sự định danh và tự cường, khi cái tên Đại Việt chính thức vang lên trên bản đồ thế giới, đánh dấu một kỷ nguyên mới của dân tộc.

 

2. Năm Bính Ngọ 1126: 

Củng cố vương triều Lý

Đây là giai đoạn nhà Lý tiếp tục củng cố bộ máy quan lại và duy trì các chính sách an dân, khuyến nông vốn là đặc trưng của thời kỳ này. 

Năm Bính Ngọ 1126 (năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 7) dưới triều vua Lý Nhân Tông là một giai đoạn chuyển giao quan trọng, ghi dấu sự chuẩn bị cuối cùng cho việc duy trì sự thịnh trị của nhà Lý trước khi vị vua này qua đời.

Các đặc điểm nổi trội trong năm này bao gồm:

1. Sự kiện ngoại giao và lãnh thổ

Đòi lại đất đã mất: Đây là giai đoạn nhà Lý kiên trì đấu tranh đòi lại những vùng đất bị nhà Tống chiếm giữ sau cuộc chiến tranh Tống - Việt (1075–1077).

Bối cảnh khu vực: Trong năm này, phương Bắc chứng kiến sự kiện Tĩnh Khang chi biến (quân Kim đánh chiếm Biện Kinh, bắt sống vua Tống). Tận dụng sự suy yếu của nhà Tống, nhà Lý đã củng cố biên giới và khẳng định vị thế độc lập của Đại Việt. 

2. Chuẩn bị sự kế vị (Truyền ngôi cho cháu)

Lập Thái tử: Do không có con trai nối dõi, vua Lý Nhân Tông đã chọn con của người em trai (Sùng Hiền hầu) là Lý Dương Hoán làm con nuôi để nối nghiệp.

Dấu ấn thịnh thế: Năm 1126 là năm áp chót trong kỷ lục trị vì 56 năm của Lý Nhân Tông - vị vua ở ngôi lâu nhất lịch sử Việt Nam. Triều đình tập trung duy trì sự ổn định xã hội và các chính sách "văn trị" rực rỡ đã được xây dựng từ trước. 

3. Phát triển văn hóa và Phật giáo

Dấu ấn kiến trúc: Nhà Lý tiếp tục duy trì việc xây dựng chùa chiền và tháp lớn. Đây là thời kỳ tinh thần Phật giáo hòa quyện sâu sắc với đời sống chính trị, giúp duy trì sự đoàn kết và an định trong nhân dân.

Khoa cử: Mặc dù không có kỳ thi lớn diễn ra chính thức trong năm này, nhưng tinh thần giáo dục và tuyển chọn người tài theo nếp cũ vẫn được đề cao, chuẩn bị đội ngũ quan lại cho triều đại kế tiếp. 

Tóm lại, năm Bính Ngọ 1126 là năm của sự ổn định cuối triều Nhân Tông, một giai đoạn chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt nhân sự và ngoại giao để giữ vững nền thái bình thiên hạ cho Đại Việt.

 

3. Năm Bính Ngọ 1186: 

Biến động cuối thời Lý

Trong lịch sử Việt Nam, năm Bính Ngọ 1186 (năm Trinh Phù thứ 11) dưới triều vua Lý Cao Tông là một năm đánh dấu sự bắt đầu suy yếu của nhà Lý, khi những dấu hiệu về một triều đại đang dần mất kiểm soát hiện rõ qua các hành động của người đứng đầu đất nước.

1. Sự sa đọa của vua Lý Cao Tông

Đây là đặc điểm nổi trội và mang tính bước ngoặt tiêu cực nhất trong năm này:

Mê đắm hưởng lạc: Theo sử sách ghi lại, từ năm 1186, vua Lý Cao Tông bắt đầu sa vào con đường chơi bời vô độ, thích nghe nhạc khúc u sầu và xây dựng các công trình cung điện xa hoa.

Bỏ bê chính sự: Việc nhà vua không chú trọng việc triều chính đã tạo cơ hội cho giới quan lại tham nhũng, hà hiếp nhân dân. Đây chính là mầm mống dẫn đến các cuộc khởi nghĩa của dân nghèo và sự trỗi dậy của các thế lực cát cứ địa phương trong những năm sau đó.

2. Sự biến động về nhân sự triều đình

Thái úy Tô Hiến Thành qua đời (trước đó vài năm): Đến năm 1186, sự thiếu vắng một vị quan đại thần cương trực và tài năng như Tô Hiến Thành (mất năm 1179) đã bộc lộ rõ hậu quả. Triều đình thiếu người đủ uy tín để răn đe nhà vua và duy trì kỷ cương phép nước.

Quyền thần lộng hành: Một số quan lại bắt đầu nảy sinh tâm lý tư lợi, làm suy yếu niềm tin của dân chúng vào vương triều.

3. Tình trạng xã hội và điềm báo

Lòng dân bất an: Sự hưởng lạc của tầng lớp trên tương phản hoàn toàn với đời sống ngày càng khó khăn của người dân lao động.

Dấu hiệu suy tàn: Sử cũ thường chép lại các hiện tượng lạ hoặc các sự kiện nhỏ trong năm này như những điềm báo cho sự kết thúc của một giai đoạn thịnh trị lâu dài từ thời Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông.

4. Bối cảnh chung

Mặc dù đất nước chưa rơi vào cảnh loạn lạc ngay lập tức trong năm 1186, nhưng đây được coi là "điểm khởi đầu cho sự trượt dài". Sau năm Bính Ngọ này, nhà Lý chính thức bước vào thời kỳ suy vong không thể cứu vãn, dẫn đến cuộc chuyển giao quyền lực sang nhà Trần vào năm 1225.

Tóm lại, năm Bính Ngọ 1186 không phải là một năm của những chiến công hay cải cách, mà là một "nốt trầm buồn" báo hiệu sự lụi tàn của một trong những vương triều rực rỡ nhất lịch sử Việt Nam.

 

1. Năm Bính Ngọ 1246: 

Củng cố vương triều và khoa cử

Năm Bính Ngọ 1246 (năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 15) dưới triều vua Trần Thái Tông là một năm quan trọng với nhiều cải cách về giáo dục, quân sự và hành chính nhằm củng cố nền móng của vương triều Trần:

a. Cải cách giáo dục và khoa cử

Đây là mốc thời gian then chốt định hình hệ thống tuyển chọn nhân tài cho đất nước:

Định lệ thi Thái học sinh: Nhà Trần chính thức đặt lệ thi Thái học sinh (sau này gọi là thi Tiến sĩ) định kỳ 7 năm một lần.

Chuẩn hóa học vị: Sự kiện này giúp ổn định việc học tập và thi cử, đảm bảo nguồn quan lại có thực tài cho bộ máy nhà nước thay vì chỉ dựa vào con em quý tộc. (Lưu ý: Sang năm sau - Đinh Mùi 1247, nhà Trần mới bắt đầu đặt danh hiệu Tam khôi gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). 

b. Củng cố và tổ chức quân đội

Nhà Trần thực hiện các bước chuẩn bị lực lượng quân sự tinh nhuệ, tiền đề cho các thắng lợi chống ngoại xâm sau này:

Định quy chế các quân: Vào tháng 2 năm 1246, vua Trần Thái Tông ban định quy chế cho các đơn vị quân đội.

Tuyển chọn binh sĩ: Nhà vua cho chọn những người khỏe mạnh, có năng lực thực sự để sung vào các quân hiệu như Tứ thiên, Tứ thánh, Tứ thần (các đơn vị quân cấm vệ bảo vệ kinh thành và hoàng cung). 

c. Cải cách hành chính

Lệ khảo công: Nhà Trần định lệ cứ 15 năm khảo công một lần để đánh giá năng lực và thành tích của quan lại. Dựa trên kết quả này, triều đình sẽ quyết định việc thăng chức, giáng chức hoặc bãi miễn quan lại, giúp nâng cao hiệu quả điều hành của bộ máy hành chính. 

Những quyết sách trong năm Bính Ngọ 1246 cho thấy tầm nhìn chiến lược của vua Trần Thái Tông trong việc xây dựng một quốc gia Đại Việt hưng thịnh, chú trọng cả văn trị (giáo dục) lẫn võ công (quân sự).

 

1. Năm Bính Ngọ 1786: 

Tây Sơn tiến quân ra Bắc

Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc khi anh hùng áo vải Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, đánh bại quân Trịnh, lật đổ nền thống trị kéo dài gần 300 năm của các chúa Trịnh, xóa bỏ ranh giới sông Gianh chia cắt đất nước kéo dài nhiều thế kỷ.

Năm Bính Ngọ 1786 là một cột mốc rúng động trong lịch sử Việt Nam với những sự kiện làm xoay chuyển hoàn toàn cục diện chính trị lúc bấy giờ.

1. Cuộc tiến quân ra Bắc "Thần tốc" của Nguyễn Huệ

Đây là sự kiện quan trọng nhất. Dưới danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh", quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tiến quân ra Bắc Hà. Chỉ trong thời gian cực ngắn, quân Tây Sơn đã tiêu diệt cơ nghiệp hơn 200 năm của chúa Trịnh, chiếm được thành Thăng Long.

2. Sự sụp đổ của quyền lực Chúa Trịnh

Trịnh Tông (Trịnh Khải) thất bại và tự sát trên đường bị áp giải, đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn thời kỳ "Vua Lê chúa Trịnh" át quyền kéo dài hàng thế kỷ. Sự kiện này mở ra cơ hội thống nhất đất nước sau hàng trăm năm chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài.

3. Cuộc hội ngộ lịch sử giữa Nguyễn Huệ và Vua Lê Hiển Tông

Sau khi lấy được Thăng Long, Nguyễn Huệ đã vào cung yết kiến Vua Lê Hiển Tông, trao trả quyền lực cho nhà Lê. Để thắt chặt tình giao hảo, Vua Lê đã gả Công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Đây là một trong những mối tình nổi tiếng nhất trong sử Việt.

4. Biến động lớn ở phía Nam

Trong khi Nguyễn Huệ bận rộn ở Bắc Hà, tại vùng đất phía Nam, lực lượng của Nguyễn Ánh bắt đầu có những bước hồi phục và củng cố thế lực sau những thất bại trước đó, chuẩn bị cho cuộc đối đầu dài hơi với nhà Tây Sơn sau này.

Tóm lại, năm 1786 là năm của những cú sốc quân sự và thay đổi thể chế kinh điển, khi bản đồ quyền lực của Việt Nam được vẽ lại gần như hoàn toàn bởi thiên tài quân sự Nguyễn Huệ.

 

Năm Bính Ngọ 1846: 

Những biến động cuối triều Thiệu Trị

Dưới thời vua Thiệu Trị, năm 1846 là giai đoạn triều đình phải tập trung đối phó với sự xâm nhập của các tàu chiến phương Tây và các cuộc nổi dậy cục bộ. 

Hải chiến Đà Nẵng: Mặc dù trận chiến chính thức nổ ra vào năm sau (Đinh Mùi 1847), nhưng năm Bính Ngọ 1846 là thời điểm căng thẳng leo thang tột độ khi quân Pháp gây áp lực quân sự mạnh mẽ tại cửa biển Đà Nẵng, buộc triều đình nhà Nguyễn phải tăng cường phòng thủ nghiêm ngặt. 

Hạn hán và sâu bệnh thời Nguyễn

Dưới triều vua Thiệu Trị, năm Bính Ngọ 1846 ghi nhận nhiều vùng ở miền Trung và miền Nam gặp khó khăn.

Sự kiện: Tình trạng hạn hán kéo dài kết hợp với nạn sâu bệnh tấn công lúa mẻ ở các tỉnh phía Nam. Tuy không dẫn đến thảm họa chết người hàng loạt, nhưng triều đình đã phải liên tục mở kho thóc cứu tế và miễn thuế cho dân các vùng bị thiệt hại nặng để ngăn chặn nạn đói bùng phát.

Tóm lại, năm 1846 dù không có một "đại nạn đói" mang tên Bính Ngọ, nhưng năm 1846 vẫn là cột mốc gây ám ảnh nhất về sự đói kém do thiên tai (lụt lội) trong lịch sử cận đại Việt Nam.

 

2. Năm Bính Ngọ 1906: 

Phong trào Duy Tân và bùng nổ dân trí

Năm 1906 đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của khuynh hướng dân chủ tư sản tại Việt Nam với Phong trào Duy Tân. 

Sự kiện: Các sĩ phu yêu nước như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng cuộc vận động đổi mới về văn hóa, giáo dục và kinh tế với khẩu hiệu "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh".

Biến cố: Miền Bắc trải qua trận "Lụt năm Bính Ngọ" lịch sử, gây thiệt hại nặng nề cho đời sống nhân dân.

Trận "Đại hồng thủy" ở Bắc Bộ

Đây là năm thiên tai kinh hoàng nhất liên quan đến năm Bính Ngọ trong ký ức dân gian miền Bắc.

Thiên tai: Một trận lụt lịch sử với mưa lớn kéo dài khiến mực nước sông Hồng và sông Thái Bình dâng cao cực hạn.

Hậu quả: Nước làm ngập lụt diện rộng tại 20 trên tổng số 25 tỉnh miền Bắc lúc bấy giờ. Đê điều bị vỡ hàng loạt, mùa màng mất trắng, gia súc chết hàng loạt, dẫn đến nạn đói cục bộ kéo dài tại các vùng trũng.

Chứng tích văn học: Nhà thơ Trần Tế Xương (Tú Xương) đã ghi lại thảm cảnh này trong bài thơ Lụt năm Bính Ngọ, mô tả cảnh "Ruộng hóa ra sông cỏ vật vờ", "Bát gạo Đồng Nai kinh chuyện cũ" để nói về sự khan hiếm lương thực và giá gạo đắt đỏ. 

 

3. Năm Bính Ngọ 1966: 

Kháng chiến chống Mỹ quyết liệt

Trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam leo thang, năm 1966 là năm của những lời kêu gọi lịch sử và các chiến dịch quân sự quan trọng. 

Lời kêu gọi của Bác Hồ: Ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước với câu nói bất hủ: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".

Chiến sự: Diễn ra Chiến dịch Sa Thầy (Tây Nguyên) chống lại quân đội Hoa Kỳ và phong trào đấu tranh "76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng" của quân dân đất Quảng.

Hành quân Tết: Sự kiện Trung đoàn pháo cao xạ 210 thực hiện cuộc hành quân thần tốc vượt cầu Hàm Rồng ngay trong Tết Bính Ngọ để bảo vệ bầu trời Tổ quốc. 

Đói kém do chiến tranh leo thang

Năm 1966 không phải là năm mất mùa do thiên tai nhưng là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân sinh.

Bối cảnh: Đế quốc Mỹ mở rộng ném bom phá hoại miền Bắc, nhắm vào các công trình thủy lợi (như đê điều, đập nước) để phá hoại sản xuất nông nghiệp.

Đời sống: Nhân dân phải sơ tán, việc canh tác gặp nhiều khó khăn dưới làn bom đạn. Lương thực được ưu tiên cho tiền tuyến, khiến đời sống người dân ở hậu phương rất thiếu thốn, phải ăn cơm độn ngô, khoai, sắn và sống theo chế độ tem phiếu nghiêm ngặt.

---------------

Năm Bính Ngọ 2026: 

Cảnh báo về "Xích mã hồng dương"

Theo một số quan điểm văn hóa dân gian và dự báo hiện tại, năm 2026 (Bính Ngọ) được nhắc đến như một năm cần đề phòng các biến động về thiên tai do năng lượng Hỏa quá mạnh (Xích mã hồng dương), có thể dẫn đến các đợt nắng nóng kỷ lục hoặc cháy rừng diện rộng. Tuy nhiên, đây vẫn là những dự báo mang tính chất tham khảo, đòi hỏi sự chuẩn bị chủ động từ các cơ quan phòng chống thiên tai. 



VŨ THỊ HƯƠNG MAI