CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

NHẠC VALSE TƯỞNG TIẾC XA XĂM - TRẦN HỮU NGƯ



 

NHẠC VALSE TƯỞNG TIẾC XA XĂM…
-Nhân ngày 8.3.2026, người ta tặng quà, tặng hoa cho chị em phụ nữ, riêng tôi, tôi xin tặng hai bài hát viết về Hai Bà Trưng trong giai điệu Valse tưởng tiếc xa xăm…, đó là ca khúc “Hồ Lãng Bạc” của Xuân Tùng, và “Ngày xưa” của Tô Vũ, để nhớ về hai người nữ anh hùng Việt Nam đầu tiên của thời kỳ dựng nước và đánh giặc giữ nước.
Thay vì “đọc lịch sử”, chúng ta “hát lịch sử” vậy!
Nhạc Valse có rất ít, không nhiều như những giai điệu khác. Hình như nhịp Valse khó viết, nên trong gia tài âm nhạc Việt Nam nhạc Valse rất khiêm nhường, và có những nhạc sĩ suốt đời không viết được một bản nhạc Valse nào!
Tôi nhớ hai bài hát “lịch sử” mang nhịp Valse mà rất nhiều người không nhớ, thậm chí không biết, vì nếu không nhắc lại sẽ có một ngày không xa hai bài hát rơi vào quên lãng, sẽ có tội với người đem tâm huyết viết ra.
Học sinh ngày nay không giống chúng tôi đi học ngày xưa, thay vì học
“học lịch sử” khô khan, khó thuộc… chúng tôi “Hát lịch sử”, đã đem đến cho chúng tôi rất nhiều lý thú và nhất là dễ nhớ công lao tiền nhân không ngại máu xương đánh đổ ngoại xâm.
Ngày 8.3, xin trân trọng gởi đến chị em hai bài hát tiêu biểu của thời kỳ đánh giặc dựng nước, và giữ nước của Hai Bà Trưng:
-Hồ Lãng Bạc của Xuân Tùng
-Ngày Xưa của Tô Vũ.
Xin mời hãy nghe và hát lịch sử:
1-HỒ LÃNG BẠC của Xuân Tùng:
“… Thuyền bơi reo lướt trên hồ đầy nước trong
Bọt tung theo sóng kêu dạt dào
Buồm căng nặng gió mang thuyền đi lướt nhanh
Én nhào trên sóng nước long lanh
Bờ xa bát ngát ven trời mâysóng đưa
Thành cây xa tắp trong mây mờ
Hồ Tây, đây chốn tranh hùng Trưng Nữ Vương
Khiến người như thấy bâng khuâng
Nào sóng vỗ thuyền đi lên có điều gì nhớ thương
Triền sóng tới dồn tiếp tiếng ánh tà dương trắng vàng
Nào én đến vèo bay đi ngắm mình trong ánh dương
Tràn sóng tới thuyền lả lướt, lướt mình trên nước xanh
Thề quyết chiến liều xông lên thét hùng oai nữ vương
Ào gió thét ầm sóng vỗ thế cũng không chút sờn
Hồ vẫn đấy, người xưa đâu sóng hùng ghi nữ anh
Buồm quyến gió thuyền rẽ sóng dưới trời mây nước thanh…”
Thời xưa, nhạc viết về con sông gắn liền với lịch sử. Có những con sông Việt Nam là những chứng tích Chiến tranh của một thời vang bóng. Bây giờ những con sông vẫn còn đó, nhưng là con sông của thời Hòa bình, nếu nhạc sĩ có viết về sông, thì chỉ là kỷ niệm của những ngày tháng cũ, vì một điều gì đó mà người ta đã bỏ quê, bỏ giòng sông của một thời hẹn hò, con nước đầy vơi, bên lở, bên bồi.
Có một điều rất lạ là nhạc sĩ Xuân Tùng và Tô Vũ đều chọn Valse khi viết về sông, hồ, mà những nơi này đã mang chiến tích và sự đau buồn của hai Bà Trưng:
2-NGÀY XƯA của Tô Vũ:
“… Giòng sông Hát nước xanh mờ sâu
Êm đềm trôi về đến nơi đâu
Sóng đưa lăn tăn con thuyền ai xuôi
Theo gió khơi tiếng ca âm thầm trầm rơi
Ngày xưa kia nơi đây đã từng vang hình bóng
Đôi quần thoa đem máu đào hòa nước sông nhà
Hồn linh thiêng sống trong muôn trùng sóng
Những khi nào chiếu vắng
Trầm đưa lên tiếng ca
Thuyền ai lướt sóng trên giòng sông
Êm đềm trôi về đến nơi đâu
Có hay chăng ai trên giòng sông xanh
Tiếng ca thuở xưa như gợi mối sầu
Chiều êm vắng nước sông mờ sâu
Con thuyền ai chèo đến nơi đâu
Sóng đưa câu ca trên giòng sông sâu
Theo gió khơi tiếng ca âm thầm trầm rơi
Ngày xưa kia nơi đây đã từng vang hình bóng
Đôi quần thoa đem máu đào hòa với nước sông nhà
Hồn linh thiêng sống trên muôn trùng sóng
Những khi nào chiều rơi, trầm đưa lên tiếng ca…”
Khi nghe, và “HÁT” HỒ LÃNG BẠC”, NGÀY XƯA, chúng ta đã được “ĐỌC” lịch sử về hai Bà Trưng, chúng ta tìm về, để chúng ta nghe và thấy một miền sông nước mênh mông, lặng lờ xuôi chảy… Và hình ảnh hai Bà Trưng chợt thoáng hiện trong tâm tưởng chúng ta mặc dù lịch sử đã đi qua, thời cuộc biết bao biến cố, đổi thay, nhưng HỒ LÃNG BẠC và SÔNG HÁT vẫn còn như thách thức với thời gian.
Nhạc phẩm NGÀY XƯA nói về sự trầm mình ở giòng sông Hát của hai Bà Trưng để giữ vẹn khí tiết, còn nhạc phẩm HỒ LÃNG BẠC là ghi lại trận quyết chiến giữa quân sĩ hai Bà Trưng với quân Mã Viện.
Sống và chết, sông và hồ có khác nhau, nhưng hai nhạc phẩm này giống nhau ở giai điệu Valse. Có lẽ dụng ý của tác giả là dùng Valse (mà hình như chỉ có Valse) mới lột tả được trọn vẹn hai trường hợp, hai hoàn cảnh khác nhau của hai nhạc phẩm này?
Sông HÁT là chỗ sông ĐÁY tiếp vào sông HỒNG, một con sông bình thường như mọi giòng sông, chỉ khác ở chỗ là sông HÁT đã nhuộm máu cách đây hàng ngàn năm khi Trưng Trắc, Trưng Nhị trầm mình tuẫn tiết.
Theo sử gia Lê Văn Hưu, hai Bà Trưng là người phụ nữ anh hùng nổi lên đánh lấy sáu mươi thành trì, rồi lập quốc xưng vương. Hai Bà đã chọn Mê Linh làm nơi chiêu mộ, dấy binh, khởi nghĩa rồi đóng đô:
“… Canh dài ta ngồi trong rừng cây vang ấm hồn thiên thu
Trời vắng hồn lắng tiếng sơn hà trong gió hú…
Ai đắp non sông trường tồn, ai kết nên dân tài hùng
Xua tan giặc Đông Hán, xua tan giặc xâm lấn…
Ta cháu con dân Việt hùng
Nơi Mê Linh ta trùng phùng đồng lòng nguyền vẫy vùng…”
(Nhạc phẩm Đêm Mê Linh của Văn Giảng)
Hơn nửa thế kỷ đi qua, khi còn là những đứa trẻ đến trường, chúng tôi đã từng học lịch sử Việt Nam qua các ca khúc: Hùng Vương, Trưng Nữ Vương (Thẩm Oánh), Bóng cờ lau (Hoàng Qúy), Gò Đống Đa (Văn Cao), Hồ Lãng Bạc (Xuân Tùng), Ngày xưa (Tô Vũ), Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng (Lưu Hữu Phước), Đêm Mê Linh (Văn Giảng), Hồn tử sĩ (Lưu Hữu Phước)…
Học và đọc lịch sử quả là khô khan. Nhưng nếu lịch sử được viết lại bằng những ca khúc, thì, thay vì đọc lịch sử… chúng ta hát lịch sử vậy!
Riêng về sử ca, có lẽ hai Bà Trưng được các nhạc sĩ nhắc đến công đức của hai Bà nhiều nhất, năm nhạc phẩm: (Hồn tử sĩ, Đêm Mê Linh, Trưng nữ vương, Hồ Lãng Bạc, Ngày xưa)
Điều này chứng tỏ rằng bất cứ thời đại nào người phụ nữ cũng được tôn vinh, nhất là những người phụ nữ… đánh giặc.

HỒ LÃNG BẠC và NGÀY XƯA là hai bó hoa tươi thắm gởi đến chị em Phụ nữ nhân ngày 8.3.2026.


TRẦN HỮU NGƯ
(Viết từ Xóm Gà Boléro)

GÓC VIỆT THI : NỮ SỸ NGÔ CHI LAN - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


   


Ngô Chi Lan 吳芝蘭 (1434-1497) còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ 阮夏慧, tự là Quỳnh Hương 瓊香, tên tục là Ngô Thị Hĩm 吳氏險; là một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam. Theo Toàn Việt thi lục là người làng Phù Lỗ (nay thuộc huyện Kim Anh, Phúc Yên), vợ ông Phù Thúc Hoành 苻儵閎 (người làng Phù Xá cũng thuộc huyện ấy, làm quan đến Đông Các Đại Học Sĩ). Bà thiên tư thông minh, có tài văn chương, được vua Lê Thánh Tông phong làm Phù Gia Nữ Học Sĩ 苻家女學士, ban hiệu là Kim Hoa Nữ Học Sĩ 金華女學士, dạy các cung nữ học. Mỗi khi yến tiệc, vua thường sai làm thơ, chỉ thoắt chốc là bà làm xong ngay, không cần phải sửa chửa gì cả. Năm ngoài 40 tuổi bà mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa Nữ Học Sĩ  金華女學士”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.

         Ngô Chi Lan chỉ có một tập thơ duy nhất là Mai Trang Tập 梅莊集 (Tập thơ Vườn Mai). Dưới đây là những bài TỨ THỜI THI rất đặc biệt và độc đáo của bà. 


         * ĐẶC BIỆT vì 4 bài đều là Thất Ngôn Bát Cú, nhưng lại không phải là thơ Đường Luật.  

         * ĐỘC ĐÁO vì 4 bài đều chia làm hai VẬN : 4 câu đầu gieo vần TRẮC, 4 câu sau gieo vần BẰNG. 


         Đỗ Chiêu Đức đã tôn trọng theo ý của nữ sĩ, nên trừ bài diễn Nôm bằng Lục bát ra; Tất cả đều được Diễn Nôm 4 câu đầu gieo vần TRẮC; và 4 câu sau gieo vần BẰNG.


                                           Ảnh minh họa Ngô Chi Lan


1. Tứ Thời Thi : XUÂN TỪ. 

    春詞                             XUÂN TỪ

初晴薰人天似醉,    Sơ tình huân nhân thiên tự túy,

艷陽樓臺浮暖氣。    Diễm dương lâu đài phù noãn khí.

隔簾柳絮度鶯梭,    Cách liêm liễu nhứ độ oanh thoa,

繞檻花鬚穿蝶翅。    Nhiễu hạm hoa tu xuyên điệp xí.

階前紅線日添長,    Giai tiền hồng tuyến nhựt thiêm trường.

粉汗微微沁綠裳。    Phấn hạn vi vi tẩm lục thường.

小子不知春思苦,    Tiểu tử bất tri xuân tứ khổ,

傾身含笑過牙牀。    Khuynh thân hàm tiếu quá nha sàng.

 

     

* Chú Thích :

   - Sơ Tình 初晴 : là nắng mới, chỉ nắng của mùa xuân sau ba tháng mùa đông lạnh lẽo.

   - Huân Nhân 薰人 : là Hanh người, là Làm cho con người cảm thấy ấm áp.

   - Diễm Dương 艷陽 : là Ánh nắng đẹp, trời nắng rất đẹp đẽ.

   - Oanh Thoa 鶯梭 : Các con chim oanh len lỏi trong cành liễu như con thoi.

   - Nhiễu Hạm 繞檻 : là Lòng vòng ở dưới mái hiên.

   - Giai Tiền 階前 : là Trước thềm.

   - Phấn Hạn 粉汗...câu 6 : Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

  * Nghĩa Bài Thơ :

                                     Thơ  Mùa Xuân   

      - Nắng mới ấm áp hanh người làm cho trời cũng tựa như đang say,

      - Lâu đài chìm trong nắng đẹp cũng chan hòa vẽ ấm áp.

      - Trên cành tơ liễu cách rèm bên ngoài chim oanh len lỏi trong các cành liễu tựa con thoi.

      - Bay vòng dưới mái hiên con bướm bị các tua hoa xuyên qua cánh.

      - Những vệt nắng như những sợi chỉ hồng trước thềm làm cho ngày như dài thêm ra.

      - Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

      - Chàng tuổi trẻ kia không biết được sự nhớ nhung trong mùa xuân là khổ tâm như thế nào (mùa xuân là mùa đoàn tụ mà phải xa nhau nhớ nhau), nên mới...

      - Nghiêng mình cười mĩm mà đi qua giường ngà (như chẳng có việc gì xảy ra !). 

         Nằm trên giường ngà để nhớ người tình xa trong mùa xuân ấm áp tràn đầy nhựa sống thì còn gì khổ tâm và ray rức hơn nữa.  Tâm sự và nỗi lòng nầy làm cho ta nhớ đến nàng thiếu phụ có chồng là quan to, nên mỗi buổi sáng mùa xuân, lúc đôi lứa đang mặn nồng và ấp yêu nhất, thì lại  phải dậy sớm để đi chầu vua, bỏ mặc gối chăn thơm phức và nàng vợ trẻ. Bài thơ "Vị Hữu" của Lý Thương Ẩn như sau : 


               Vị hữu vân bình vô hạn kiều,             爲有雲屏無限嬌,

               Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu.   鳳城寒盡怕春宵.

               Vô đoan giá đắc kim qui tế,               無端嫁得金亀婿,

               Cô phụ hương khâm sự tảo triều .      辜負香衾事早朝 . 

Có nghĩa :

                  Vì có bình phong đẹp lắm mầu

                   Kinh thành hết  lạnh, sợ canh thâu

                   Khéo xui lấy được ngài quan lớn

                   Phụ bạc gối chăn, sớm phải chầu  !

   Lục Bát :

                  Bình phong đẹp đẽ yêu kiều

                  Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài

                  Vô duyên lấy phải quan ngài

                  Gối chăn bỏ hết mặc ai,… đi chầu !  



* Diễn Nôm :

                               THƠ XUÂN

                  Nắng mới hanh người trời túy lúy,

                  Lâu đài nắng đẹp ấm xuân khí.

                  Ngoài rèm tơ liễu rộn oanh ca,

                  Bướm lượn vờn hoa tua rách xí.

                  Vệt nắng trước thềm ngày chẳng nhanh,

                  Mồ hôi hòa phấn thấm bào xanh.

                  Trẻ con nào biết xuân nhung nhớ,

                  Cười mĩm nghiêng mình lại dạo quanh !

    Lục bát :

                  Hanh người nắng mới trời say,

               Nắng lên ấm đẹp lâu đài thêm xuân.

                  Ngoài rèm oanh hót liễu xanh,

             Xuyên hoa cánh bướm lượn quanh hiên nhà.

                  Trước thềm vệt nắng dài ra,

              Mồ hôi rịn phấn thấm tà áo xanh.

                  Trẻ trung nào biết xuân tình,

           Thản nhiên cười mĩm nghiêng mình lướt qua !

                                                                     

2. Tứ Thời Thi : HẠ TỪ. 

      夏詞                               HẠ TỪ  

風吹柳花紅片片,    Phong xuy liễu hoa hồng phiến phiến,

佳人閒打鞦韆院。    Giai nhân nhàn đả thu thiên viện.

傷春背立一黄鶯,    Thương xuân bối lập nhất hoàng oanh,

惜景哀啼雙紫燕。    Tích cảnh ai đề song tử yến.

停針無語翠眉低,    Đình châm vô ngữ thúy mi đê,

倦倚紗窗夢欲迷。    Quyện ỷ sa song mộng dục mê.

却怪捲簾人喚起,    Khước quái quyển liêm nhân hoán khởi,

香魂終不到遼西。    Hương hồn chung bất đáo Liêu Tê (Tây).


               

* Chú Thích :

    - Thu Thiên 鞦韆 : là Cái Đu; nên ĐẢ THU THIÊN 打鞦韆 là Đánh Đu. 

    - Thương Xuân 傷春 : là Đau xót vì mùa xuân đã đi qua.

    - Bối Lập 背立 : là Đứng xây lưng lại.

    - Tích Cảnh 惜景 : là Tiếc cảnh xuân đà hết.

    - Ai Đề 哀啼 : là Tiếng chim hót bi ai, buồn thảm. Nếu từ nầy dùng cho người thì có nghĩa là "Khóc lóc một cách thảm thiết".  

    - Quyện Ỷ 倦倚 : Mõi mệt mà vựa vào... SA SONG 紗窗 : là Cửa sổ có màn che.  

    - Khước Quái 却怪 : Lại trách rằng....QUÁI là Động từ có nghĩa : Trách móc. 

    - Hương hồn 香魂 : là cái Hồn thơm, chỉ Hồn của phái nữ. Của phái nữ thì CÁI GÌ cũng thơm cả, kể cả hồn phách. (Mời đọc bài Tạp ghi và Phiếm luận : "HƯƠNG trong Truyện Kiều" sẽ rõ.) 

    - Liêu Tây 遼西 : Tên một quận xưa nằm ở phía tây của Liêu Hà thuộc tỉnh Liêu Ninh hiện nay, nhưng lại là vùng biên tái ngày xưa.  

* Nghĩa Bài Thơ :

                                         THƠ  MÙA HÈ

       Gió thổi hoa liễu từng mảnh từng mảnh đo đỏ bay bay. Người đẹp rảnh rỗi nên chơi đánh đu ở trong sân nhà. Vì thương xót cho mùa xuân đã đi qua nên một con oanh còn kêu trên cành liễu và hai con én tía còn tiếc cảnh xuân mà cất tiếng líu lo buồn bã. Nàng ngừng mũi kim thêu đôi mày biếc cúi thấp xuống, mõi mệt vựa vào màn nhiễu của song cửa chập chờn trong giấc mộng. Chỉ trách ai đó đã đến cuốn rèm làm cho nàng giật mình tỉnh giấc, nên mộng hồn rốt cuộc vẫn không thể đến được xứ Liêu Tây nữa rồi.

       Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài kệ của Thiền sư Thích Trung Nhân đời Tống 宋.释中仁 là :


                 二八佳人刺繡遲,   Nhi bát giai nhân thích tú trì,

                 紫荊花下囀黃鸝。   Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng li.

                 可憐無限傷春意,   Khả lân vô hạn thương xuân ý,

                 盡在停針不語時。   Tận tại đình châm bất ngữ thì !

Có nghĩa :

                Thêu thùa lơ đễnh giai nhân,

                Dưới cành hoa tím chim oanh hót chào.

                Thương thay xuân sắc dạt dào,

                Ngừng kim lặng lẽ biết bao ý tình ! 


       Hai câu chót của bài thơ lại làm cho ta nhớ đến bài "Y Châu Ca 伊州歌" của Kim Xương Tự 金昌绪(Có bản cho là Xuân Oán 春怨 của Cáp Gia Vận 蓋嘉運)đời Đường :

 

                打起黃鶯兒,   Đả khởi hoàng oanh nhi,

                莫教枝上啼。   Mạc giao chi thượng đề.

                啼時驚妾夢,   Đề thời kinh thiếp mộng,

                不得到遼西。   Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây).           

 Có nghĩa :

                Đuổi đi con chim hoàng oanh,

                Đừng để trên cành cất tiếng hót vang.

                Giật mình thiếp tỉnh mộng vàng,

                Liêu Tây khó đến thăm chàng đêm nay !


            

      Ngồi ở cảnh mùa hè, mà lại cứ nhớ tiếc cảnh mùa xuân. Bài thơ có tựa là HẠ TỪ (Thơ mùa Hạ) nhưng đúng ra là một bài thơ THƯƠNG XUÂN (Thương cảm cho mùa Xuân) thì đúng hơn.


*Diễn Nôm :

                                    HẠ TỪ   

                   Lấm chấm liễu hồng bay phất phới

                   Người đẹp đánh đu lòng phơi phới.

                   Thương cảm oanh vàng một tiếng kêu,

                   Đôi chim én liệng buồn hè tới..

                   Dừng kim nín lặng nhíu mày xanh,

                   Tựa màn song cửa mộng hồn quanh.

                   Trách kẻ kéo rèm làm tỉnh giấc,

                   Liêu Tây chẳng thể đến cùng anh.

    Lục bát :

                   Liễu hồng bay rụng phất phơ,

               Đánh đu người đẹp vẩn vơ vườn nhà. 

                   Thương xuân một chú oanh già,

                 Một đôi chim én la đà tiếc xuân.

                   Dừng kim nín lặng tần ngần,

              Tựa song hồn mông lâng lâng cỏi nào.

                   Trách ai kéo tỉnh giấc đào,

             Liêu Tây rốt cũng không sao gặp chàng !   

                                                        

3. Tứ Thời Thi : THU TỪ.           

    秋詞                               THU TỪ

清商浮空澄霽景,   Thanh thương phù không trừng tể cảnh,

霜信遙將孤雁影。   Sương tín diêu tương cô nhạn ảnh.

十丈蓮殘玉井香,   Thập trượng liên tàn ngọc tỉnh hương,

三更楓落吳江冷。   Tam canh phong lạc Ngô giang lãnh.

飛螢夜度碧闌干,   Phi huỳnh dạ độ bích lan can,

衣薄難禁剪剪寒。   Y bạc nan câm tiễn tiễn hàn.

聲斷洞簫凝立久,   Thanh đoạn động tiêu ngưng lập cữu,

瑤臺何處覓驂鸞 ?   Dao đài hà xứ mịch tham loan ?


         

* Chú Thích :

    - Thanh Thương 清商 : THANH là Trong, THƯƠNG là Một trong Ngũ Âm : Cung, Thương, Giốc, Trủy, vũ. THƯƠNG có giọng thê lương bi thiết, nên gọi là Thanh Thương. Ở trong bài mượn để chỉ tiếng gió thu hiu hắt. 

    - Trừng Tể 澄霽 : TRỪNG là trong vắt. TỂ là Trời vừa tạnh mưa. Nên TRỪNG TỄ là Trời quang mây tạnh.

    - Sương Tín 霜信 : là Tin Sương. Mỗi năm cứ gần đến tiết Sương giáng thì có chim nhạn bay đến trước để báo tin, nên thấy nhạn bay đến là biết sắp có sương rơi. Lâu dần, Tin Sương còn có nghĩa chỉ "Tin Tức" mà thôi. Như trong Truyện Kiều tả cô Kiều nhớ nhà lúc ở lầu Ngưng Bích :"Tin Sương luống những rày trông mai chờ".

    - Cô Nhạn 孤雁 : là Con nhạn cô độc.

    - Ngọc Tỉnh 玉井 : là Giếng Ngọc. Theo truyền thuyết, trên núi Thái Hoa có giếng ngọc, trong giếng có bạch liên ngàn cánh. Người nào ăn được hoa sen trắng ngàn cánh nầy có thể lên tiên. Trong bài thơ CỔ Ý của Hàn Dũ đời Đường có câu :"Thái Hoa phong đầu ngọc tỉnh liên, Hoa khai thập trượng ngẫu như thuyền 太华峰头玉井莲,花开十丈藕如船", vì thế NGỌC TỈNH còn gọi là BẠCH LIÊN TRÌ 白莲池 là "Giếng hoa sen trắng".

    - Phi Huỳnh 飛螢 : là Những con đom đóm lặp lòe đêm thu.

    - Nan Câm 難禁 : Khó mà cấm, Khó tránh khỏi, Không ngăn được...

    - Tiễn Tiễn Hàn 剪剪寒 : Từng trận từng trận gió lạnh.

    - Ngưng Lập 凝立 : là Ngưng đọng lại. Đứng một chỗ.

    - Dao Đài 瑤臺 : là Lầu cao được dát ngọc, thường dùng để chỉ chỗ tiên ở..

    - Tham Loan 驂鸞 : THAM là Xe ba ngựa kéo. LOAN là Chim Loan. THAM LOAN có nghĩa Cởi Chim Loan lên tiên dạo chơi. 

* Nghĩa Bài Thơ :

                            THƠ MÙA THU

     Tiếng gió thu se sắt như cung thương rít trong cảnh từng không trong vắt khi trời quang mây tạnh. Nhìn bóng nhạn cô đơn mà mong ngóng tin sương. Hoa sen trắng đã tàn nhưng củ sen mười trượng trong giếng ngọc vẫn tỏa hương. Canh điểm ba nửa đêm lá cây phong rụng xuống làm cho nước sông Ngô chợt lạnh thêm. Những con đom đóm ban đêm bay vào lan can bằng đá xanh biếc. Áo mỏng nên không ngăn nổi từng trận từng trận gió lạnh. Tiếng tiêu ngọc đà chấm dứt hèn lâu mà người vẫn còn tần ngần đứng đó. Biết chim tham loan ở đâu mà tìm để cởi về Dao Đài cho đây ?


                                            

* Diễn Nôm :

                             THU TỪ

               Gió thu se sắt tầng xanh ngắt,

               Cánh nhạn tin sương trời trong vắt.

               Mười trượng sen tàn giếng tỏa hương,

               Ba canh phong rụng sông lạnh ngắt.

               Đêm về đom đóm lượn lan can,

               Gió thổi áo the rét ngập tràn.

               Lặng ngắt tiêu thiều thanh đứt đoạn,

               Dao đài tìm chốn cởi tham loan.

   Lục bát :

               Gío thu hiu hắt trời quang,

               Tin sương cô nhạn vút ngang lưng trời.

               Sen tàn hương tỏa nơi nơi,

               Ngô giang phong rụng nước trôi lạnh lùng.

               Lan can đóm lượn đêm nhung,

               Áo the từng trận lạnh cùng gió thu.

               Tiêu thiều lặng ngắt từ lâu,

               Dao Đài muốn đến phải cầu tham loan.

                                      

4. Tứ Thời Thi : ĐÔNG TỪ.

    冬詞                             ĐÔNG TỪ

寶爐撥火銀瓶小,    Bảo lô bát hỏa ngân bình tiểu,

一杯羅浮破清曉。    Nhất bôi La Phù phá thanh hiểu.

雪將冷意透疎簾,    Tuyết tương lãnh ý thấu sơ liêm,

風遞輕冰落寒沼。    Phong đệ khinh băng lạc hàn chiểu.

美人金帳掩流蘇,    Mỹ nhân kim trướng yễm lưu tô,

紙護雲窗片片糊。    Chỉ hộ vân song phiến phiến hồ.

暗裏挽回春世界,    Ám lý vãn hồi xuân thế giới,

一株芳信小山孤.      Nhất chu phương tín tiểu sơn cô. 


                  

* Chú Thích :

    - Bảo Lô Bát Hỏa 寶爐撥火 : là Bươi lửa (than) trong cáo lò nhỏ (qúy).

    - Nhất Bôi La Phù 一杯羅浮 : Một ly rượu La Phù.

    - Thanh Hiểu 清曉 : Buổi sáng trong lành.

    - Sơ Liêm 疎簾 : là Bức rèm thưa.

    - Hàn Chiểu 寒沼 : Đầm (ao) nước lạnh.

    - Kim Trướng 金帳 : là Cái mùng bằng chỉ kim tuyến.

    - Lưu Tô 流蘇 : Cái viền mùng có tua đẹp.

    - Ám lý 暗裏 : Trong âm thầm. Trong lặng lẽ.

    - Nhất Chu Phương Tín 一株芳信 : là do câu thơ của Tô Đông Pha đời Tống :" Niên niên phương tín phụ hồng mai 年年芳信负红梅". Có nghĩa : Mỗi năm cái cây mang lại tin thơm là đều vựa vào hồng mai cả. Ý chỉ mỗi năm báo tin thơm (tin của mùa xuân sắp đến) đều là nhờ vào hồng mai cả ! Còn dân miền Nam Việt Nam ta thì chỉ biết có mai vàng báo tin xuân mà thôi, cũng như dân Miền Bắc, hễ cứ "Mỗi năm hoa đào nở" là biết xuân về Tết đến ngay !

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                               Thơ Mùa Đông

        Khều lửa trong cái lò qúy để cho cái bình bằng bạc nho nhỏ ở trên, hâm lên một chung rượu La Phù để phá tan cái lạnh của một buổi sớm mai trong lành. Tuyết đem cái ý lạnh thấm qua bức màn thưa bên song của và gió lạnh đã đưa những làn băng mỏng rơi trên mặt ao lạnh. Cái màn bằng kim tuyến của người đẹp có tua viền đẹp đẽ phủ quanh. Trong khi bên cửa sổ chỉ che đậy bằng những mảnh giấy ván bằng hồ. Trong âm thầm cái thế giới của mùa xuân đang được vãn hồi, khi tin thơm của cây hồng mai đang trổ bông trên ngọn núi cô đơn nho nhỏ.

                        

* Diễn Nôm :

                           ĐÔNG TỪ

               Bình bạc than hồng bên lò nhỏ,

               La Phù một chén trời sáng tỏ.

               Tuyết đem hơi lạnh thấm rèm thưa,

               Gió bấc đưa băng ao đóng bó.

               Người đẹp màn vàng phủ nhiễu tô,

               Bên song cản gió giấy thoa hồ.

               Âm thầm thế giới xuân hồi phục,

               Một cội mai hồng nở núi cô.

   Lục bát :

               Lò hồng bình bạc lửa reo,

            La phù một chén sáng theo nhau về.

               Tuyết rơi lạnh thấm màn the,

            Gió đưa băng mỏng phủ che mặt hồ.

               Trướng vàng người đẹp nhiễu tô,

             Giấy hoa chắn gió song hồ căm căm.

               Hồi xuân thế giới âm thầm,

            Một cành mai đỏ trổ bông báo điềm !

 

       Trên đây là TỨ THỜI THI đủ bốn mùa XUÂN HẠ THU ĐÔNG của nữ sĩ Ngô Chi Lan, một nữ tài danh thi nhân Việt nam dưới thời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn.

       Xin được giới thiệu cùng tất cả các Thầy Cô, Các Thân Hữu trong Vườn Thơ Thẩn cùng tất cả các em học sinh thân mến; nếu có cảm hứng , xin cùng dịch cho vui !


                                         杜紹德

                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC                                                                                                                                                                                                                                                                                     

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2026

MẢNH LÒNG GỞI HUẾ - THƠ TRẦN KIÊM ĐOÀN




 MẢNH LÒNG GỞI HUẾ


Huế tội tình chi mà Trời hành dữ rứa

Lụt lội thiên tai hạn hán ngập sông hồ

Cơn lũ mới chưa đi cơn khác tới

Tiếng sông Hương thao thiết gọi sông Bồ

Bảy trăm năm thuở Huyền Trân công chúa

Hồn Thăng Long Nam tiến vọng Chiêm Thành

Dòng trinh liệt về châu Ô, châu Rí

Nước non nầy ước vọng một đời xanh

Gió Đại Việt theo nhau vào xứ lạ,

Huế trầm hương giữ mộng giữa tim nồng

Như bóng nguyệt soi tình người thầm lặng,

Huyền Trân ơi… dáng Huế hóa non sông

Huế nhỏ lắm mà tình dài muôn dặm

Những đàn con tụ tán bốn phương trời

Thân xa tắp mà tâm gần với tới

Gởi mảnh lòng thương Huế… Huế ơi

Huế mỏng manh như vai trần của mẹ

Gánh một đời hàng vạn đứa con yêu

Đôi triêng gióng lấy thân mình che chắn

Bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn

Rồi mai mốt sông êm đềm trở lại

Núi mưa nguồn cây lá sẽ xanh thêm

Áo lụa trắng em qua đồi Vọng Cảnh

Anh sẽ về bên Mạ bên em


TRẦN KIÊM ĐOÀN

Tuần lụt Huế lần thứ 4: 15-11-2025


Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

BÁNH XE LÃNG TỬ - TRẦN HỮU NGƯ



Có thể là hình minh họa về ‎văn bản cho biết '‎ر 8E RỌNG KHƯƠNG ánkoce LANGT Nhạc Nhạc sĩ TRỌNG TR KHỨC‎'‎


 BÁNH XE LÃNG TỬ

Tôi vẫn biết “Lãng tử” là hiểu đại khái như: sống phiêu lãng, lang thang rày đây mai đó, không bị bó buộc việc làm, không bận bịu với gia đình, không bị trói chân trói tay vì tình cảm! Và thường dùng cho nam giới, chớ nữ giới mà “Lãng tử”, thì là “lãng xẹt”, “lãng nhách”!
Tuy là hiểu như vậy, nhưng tôi vẫn đi tìm một nghĩa chính cho từ “Lãng tử”, nhưng trong Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa Thông tin ấn hành năm 1998, không có chữ “Lãng tử”! (Mặc dù sách in 1890 trang-khổ 19x27).
Tiếng Việt có từ:
-Lãng mạn
-Lãng du
-Lảng vảng
-Lãng quên
-Lãng xẹt
-Lãng nhách
-Lãng tử
-Lãng tai
Và chữ “Lãng tử” theo tôi biết, là chỉ dùng cho con người, chớ không ai dùng cho “đồ vật”?
Vậy mà nhạc sĩ Trọng Khương đã viết một bài hát “Bánh xe lãng tử”? (Xin lỗi nhạc sĩ Trọng Khương, nếu tôi nói không đúng!)
Tôi đi tìm lý lịch nhạc sĩ Trọng Khương…
Không ai biết ngày sinh tháng đẻ của ông, chỉ biết ông là một nhạc sĩ có 5 bài hát khá hay:
-Bánh xe lãng tử (1954)
-Cánh hồng Trung quốc (Dịch lời Việt)
-Đường vào tình sử (Thơ Đinh Hùng)
-Ghen (Thơ Nguyễn Bính)
Những ngày tôi chơi với nhạc sĩ Châu Kỳ, anh nói rằng anh đã từng gặp Trọng Khương đi lang thang, đói rách, ở Saigon, nhưng tay vẫn cầm cây đàn Ghi-ta. Châu Kỳ rất mừng, và năn nỉ Trọng Khương về nhà Châu Kỳ tá túc, nhưng Trọng Khương vẫn một lòng từ chối! Được biết vào năm 1953, Trọng Khương đã làm việc tại Đài Phát thanh Saigon, và mất 1977.
Tôi cũng được nghe qua: Trọng Khương từng là một ca sĩ Saigon thập niên 1960, nay sa cơ thất thế, có lần ông tìm đến nhờ một ca sĩ đã từng hát nhạc ông mà nổi tiếng, để xin giúp giúp đỡ lúc hoạn nạn. Nhưng đã bị chối từ! Qua hôm sau, người ta thấy ông chết ở Ga Hòa Hưng, tay vẫn cầm chặt cây đàn! (Nghe như thế, không biết có đúng không?)
Ôi, xót thương cho một nhạc sĩ “Bánh xe lãng tử”, Trọng Khương lãng nạm, nhưng chết lãng xẹt!
(Nếu chuyện này là có thật, thì tôi trách người ca sĩ ấy quá, sao cô lại từ chối một người nhạc sĩ mà cô đã được nổi tiếng nhờ bài hát của ông ấy? Nếu ngày ấy, cô giúp cho Trọng Khương “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, và ông theo Châu Kỳ về nhà, thì đâu đến ra nông nỗi này?).
Tôi đã từng hát bài “Cánh hồng trung quốc” mà không biết Trọng Khương viết lời Việt:
“… Chiều một nàng Trung Hoa
Hoa trắng như cây lan nhà
Nàng cười tươi như hoa thắm
Bước đi trong nắng dịu dàng…”
(Tôi đã hát dị bản: Kìa một nàng Trung Hoa/ Răng trắng tinh như… (hai chữ sau, tôi nhớ hình như “ la ngà”, nhưng “La ngà” là gì?)
Và nhân “chuyện quên tác giả dịch lời Việt”, tôi cũng xin nhắc một chút về lời Việt bài La Paloma do Từ Vũ (Nổi tiếng bài Gái Xuân) viết lời Việt, mà rất nhiều người hát, nhưng quên tên nhạc sĩ Từ Vũ:
“… Vi vu đồi thông reo xơ xác lá
Chiều nay Thu về
Em ơi cánh buồm xưa
Còn vương bao lời thề…”
Và hãy nghe ca khúc “Bánh xe lãng tử”, một bài hát khá nổi tiếng sau đình chiến 1954, hát cho đến năm 60 thì nó “tắt đài”! Có lẽ vì cuộc đời lúc bấy giờ không còn “Lãng tử” nữa chăng?:
“… Bánh xe quay nhanh nhanh
Chiếc thân xe quay rung rinh
Chìm trong làn cát trắng
Xe nhịp nhàng quay bánh lướt
Hồn ta mờ khuất trong mênh mông
Ta mến yêu một kiếp giang hồ
Dù rằng cuộc sống vô bờ
Tim hồng tràn máu vô tư
Ha! Ha ha
Suối in hình chiếc xe tàn đêm nao
Đập vỡ cây đàn, giận đời nào ai mắt xanh
Vó cây bấp bênh trên đường gian nan
Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ tới nơi xa ngàn
Xe lăn êm dưới ánh trăng vàng
Môi ai say sưa hé mấy cung đàn
Ca lên cho tan nỗi niềm cay đắng
Vui ca lên đi trong chiếc xe già
Sau khi men say lần mấy cung đàn
Hồn ta vụt bước lên trời xanh lam…”
Trọng Khương giống nhạc sĩ Hoàng Khải. Hai chàng nhạc sĩ này cùng đi trên một chiếc xe ngựa. Nhưng Hoàng Khải thì “Về Sài Thành ngựa phi mau đua hí rền vang (Đường về Sài Thành), còn Trọng Khương thì khác, ông đi đến một nơi rất xa, mà không biết đi đâu, chỉ biết “Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ tới nơi xa ngàn”.
Có phải Trọng Khương đã dùng “Bánh xe lãng tử” để chỉ những nghệ sĩ “Lãng tử” chăng?
Trong lúc chết, tay Trọng Khương còn cầm cây đàn, vậy mà trong cuộc đời ông, ông đã giận một “nàng mắt xanh” mà đập vỡ cây đàn!
Trọng Khương, người nhạc sĩ bị bỏ lại phía sau.
Tôi viết đôi dòng này như một nén nhang gởi về ông, dù biết rằng còn nhiều thiếu sót.
Kính mong ông thứ lỗi.


TRẦN HỮU NGƯ
(Saigon-Giađinh, 3.3.2026)

TRĂNG NGUYÊN TIÊU - THƠ TRẦN KIÊM ĐOÀN, HUỲNH TÂM HOÀI




 TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Đêm Nguyên Tiêu trăng tròn như giọt ngọc

Nhỏ xuống đời miền áo trắng ngày xưa

Em thoăn thoắt bước qua miền tĩnh lặng

Chạm hồn ta như tiếng gọi đôi bờ

Trăng Nguyệt huyết treo vần thơ bất tận

Soi nhân gian như mắt Phật hiền từ

Một bến đợi, mấy chặng đời lữ thứ

Có em về trong một thoáng trăng xưa 

Ta và em chợt về miền tuổi trẻ 

Gần mà xa như đáy giếng trăng ngời

Vẫn có một dòng trăng xưa lặng lẽ

Chảy qua lòng người tự thuở xa xôi.

Đêm Nguyên Tiêu trăng về em có đợi

Một cánh lòng bỗng mở giữa hư không

Ai đứng đó bên bờ thơ cổ tích

Thấy trăng rơi… thành ánh sáng trong lòng.


Natomas nhìn trăng Nguyên Tiêu 3326

TRẦN KIÊM ĐOÀN


Xin đáp lể cùng anh Trần Kiêm Đoàn:

TRĂNG NGUYÊN TIÊU

Đêm Nguyên Tiêu trăng tròn như giọt lệ

Rơi xuống thềm miền áo trắng xa xăm

Anh lặng lẽ bước qua miền tĩnh mịch

Chạm tim em như tiếng gọi âm thầm

Trăng huyết nguyệt vẽ cung đàn bất tuyệt

Soi nhân gian qua mắt Phật từ bi

Một bến vắng, mấy mùa thương đất khách

Có anh về trong khoảnh khắc xuân thì

Em và anh bỗng về miền tuổi mộng

Xa mà gần như đáy nước in trăng

Vẫn có một dòng thời gian lặng lẽ

Chảy qua hồn từ dạo ấy vĩnh hằng

Đêm Nguyên Tiêu trăng về anh có nhớ

Một cánh tình vừa mở giữa hư vô

Ai đứng đó bên bờ sông cổ tích

Thấy trăng tan… thành ánh sáng trong mơ.


HUỲNH TÂM HOÀI


Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG :NHẤT TỰ VI SƯ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


  

Giai Thoại Văn Chương :
  
                  *  NHẤT TỰ VI SƯ                               
                 

           Như tất cả mọi người đều biết, trong trời đông giá rét, thậm chí tuyết phủ ngập trời, hoa mai vẫn cứ ngạo nghễ vươn lên, kết nụ trổ hoa bất chấp sương rơi tuyết phủ. Cùng với Tùng Trúc hợp thành : TÙNG TRÚC MAI TUẾ HÀN TAM HỮU 松竹梅歲寒三友, là ba người bạn trong mùa đông hàn lạnh lẽo ! Không mạnh mẽ cao lớn chửng chạc như Tùng, không xanh tốt dẽo dai vươn dài như Trúc, Mai ẻo lả khẳng khiu với những cành nhánh mảnh mai, nhưng những đọt xanh vẫn manh nha, nụ non vẫn đâm chồi nẩy lộc ... Xin mời nghe một câu chuyện mai nở sớm trong trời đông tuyết gía của TỀ KỶ 齊己, một nhà sư thi sĩ có biệt hiệu là THI NANG 詩囊 ( Túi Thơ) sau đây ...

        
                            
                                      TÙNG TRÚC MAI TUẾ HÀN TAM HỮU 松竹梅歲寒三友            

       Theo sách " Đường Tài Tử Truyện"《唐才子傳》ghi chép:
       Nhà sư thi sĩ TỀ KỶ 齊己 (863—937), tục danh là Hồ Đắc Sinh 胡得生, có biệt hiệu là Hành Nhạc Sa Môn 衡岳沙門, là người đất Ninh Hương, thuộc huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam hiện nay. Ông sống ở cuối đời  Đường, và xuyên suốt qua ba triều đầu đời Ngũ Đại. Lúc nhỏ gia đình nghèo khó, 6 tuổi đã phải đi chăn trâu độ nhật. Nhưng lại có chí cầu học, mỗi ngày đều đọc sách và làm thơ trên lưng trâu. Sư Cụ trong chùa Đồng Độ Tự thương tình cho vào chùa tu để có thời gian học hành và nghiên cứu kinh Phật. Từ đó, Tề Kỷ học hành tấn tới và làm thơ rất nhanh rất giỏi.
       Một hôm gần cuối năm, như thường lệ, Tề Kỷ thức sớm cúng Phật và làm công phu buổi sáng trong khi đêm qua tuyết rơi rất lớn. Mở cửa ra sân nhìn về thôn xóm xa xa, chợt thấy trong nền tuyết trắng bao la lấm tấm có mấy cành mai đà hé nở ! Cảm cho cái tinh thần bất khuất trước tuyết đông giá lạnh, cái sức sống mạnh mẽ ngạo nghễ vươn lên giữa biển tuyết mênh mông của hoa mai, Tề Kỷ về phòng làm ngay bài thơ " TẢO MAI 早 梅 " để tán thưởng cho việc hoa mai nở sớm. Trong bài thơ có 2 câu rất hay là : 

                  Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裏
                  Tạc dạ SỔ chi khai.           昨夜數枝開。
Có nghĩa :
               - Trong rừng tuyết của xóm phía trước xa xa...
               - Tối đêm qua đã có VÀI cành mai đà hé nở !

        Tề Kỷ rất đắc ý với 2 câu thơ nầy, nên mới đem khoe với Trịnh Cốc 鄭谷 (849-911), một thi sĩ đương thời. Trịnh Cốc đọc xong phê rằng : " SỔ Chi Khai 數枝開 " là VÀI cành mai đà nở, chưa thấy được cái " TẢO 早 " là SỚM của Mai, nên đổi lại là " NHẤT CHI KHAI 一枝開 " để nêu bật được cái SỚM của MỘT cành Mai nở trong tuyết lạnh ! Tề Kỷ nghe xong, phục sát đất, bèn sửa lại thành :

                 Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裏
                 Tạc dạ NHẤT chi khai.       昨夜一枝開。

... và từ đó về sau gọi Trịnh Cốc là " NHẤT TỰ SƯ  一字师 ", vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho MỘT chữ ", lại vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho chữ NHẤT " !

         Toàn bài thơ TẢO MAI của sư Tề Kỷ như sau :   
 
   


          早 梅                 TẢO MAI
        萬木凍欲折,       Vạn mộc đống dục chiết,
        孤根暖獨回。       Cô căn noãn độc hồi. 
        前村深雪裏,       Tiền thôn thâm tuyết lý,
        昨夜一枝開。       Tạc dạ nhất chi khai. 
        風遞幽香出,       Phong đệ u hương xuất,
        禽窺素豔來。       Cầm khuy tố diễm lai. 
        明年如應律,       Minh niên như ứng luật,
        先發望春臺。       Tiên phát Vọng Xuân Đài !
                齊己                                      Tề  Kỷ

CHÚ THÍCH :
      TẢO MAI : là Mai nở sớm, cũng có nghĩa là : Mai nở sớm hơn tất cả các loài hoa trong trời đông giá lạnh.
      ĐỐNG DỤC CHIẾT : Đống là Đong đá, Dục là Muốn, Chiết là Gãy. Có nghĩa là : Đong đá dòn đến muốn gãy luôn.
      NOÃN là Ấm. HỒI là Hồi Sinh. Nên Noãn Độc Hồi là : Nhờ Hơi ấm mà đơn độc hồi sinh .
      ĐỆ 遞 là Đệ Trình. Ở đây có nghĩa là Truyền đạt. Nên Phong Đệ là : Gió Đưa, gió đẩy.
      CẦM là Chim muông. KHUY là Nhìn ngắm.
      TỐ DIỄM là Trong Trắng đẹp đẽ. Ở đây chỉ Bạch Mai.
      ỨNG LUẬT : là Ứng theo Quy Luật tự nhiên.
      VỌNG XUÂN ĐÀI : là Cái Đài Ngóng Xuân, lên đó để đợi mùa xuân tới. Đứng trên đài cao, có thể nhìn thấy mặt trời mọc trước, có thể đón tia đầu tiên của ánh nắng mùa xuân trước hơn là những người ở dưới thấp.

NGHĨA BÀI THƠ :
       Muôn ngàn thảo mộc đều lạnh cóng đến muốn gãy ra. Chỉ riêng có rể của hoa mai là biết hút hơi ấm trong đất mà đơn độc hồi sinh. Cho nên, trong nền tuyết trắng xóa mênh mông của xóm trước xa xa, đêm qua một cành mai đã vươn lên nở hoa trong trời đông giá rét. Gió đã đưa cái hương thơm nhè nhẹ thoảng đi và chim cũng đã ngạc nhiên nhìn ngắm cành bạch mai thanh khiết trắng trong đẹp đẽ mà bay đến. Nếu sang năm lại theo cái quy luật Nở Sớm tự nhiên nầy, thì hoa mai ơi, hãy nở trước ở Vọng Xuân Đài để cho nhiều người nhìn ngắm, chớ ở nơi hoang sơ lạnh lẽo vắng vẻ nầy, có ai biết đến mà thưởng thức nhìn ngắm đâu !
       Như trên đã nói, Sư Tề Kỷ đi tu chỉ vì nghèo, bất đắc dĩ và bất đắc chí không thi thố được tài năng, nên còn nặng nợ với công danh, ông ví mình như cành mai nở sớm kia, vượt lên trên trăm hoa để khoe sắc, nhưng lại khoe sắc trong vùng tuyết lạnh không người.... cũng như tài năng của ông bị mai một ở trong chùa không người biết đến vậy ! Cho nên, ông đã khuyên mai nên nở ở Vọng Xuân Đài cho mọi người nhìn ngắm để biểu lộ cái ao ước thầm kín trong lòng... Nếu đi thi ta cũng sẽ toả sáng như mai sớm tỏa hương cho mọi người ngưỡng mộ vậy !

                    
                  

DIỄN NÔM :
                          TẢO MAI
                  Muôn cỏ hoa đong cứng,
                  Rể truyền hơi ấm xanh.
                  Xóm ngoài trong tuyết lạnh,
                  Đêm qua nở một cành.
                  Gió đưa hương thoang thoảng,
                  Chim ngắm vẻ đẹp xinh.
                  Nếu sang năm lại sớm,
                  Vọng Xuân Đài nở quanh.
  Lục bát :
                  Cỏ hoa lạnh cứng trời đông,
                  Riêng mai hơi ấm vẫn không phai tàn.
                  Xóm ngoài trong tuyết mênh mang,
                  Đêm qua nở trắng một cành bạch mai.
                  Gió đưa hương thoảng ra ngoài,
                  Chim nhìn ngắm vẻ thanh bai trong lành.
                  Sang năm lại sớm nở xanh,
                  Vọng Xuân Đài đó chung quanh lắm người.
                                                          

         Đọc bài thơ nầy, lại làm ta nhớ đến 2 câu cuối của bài " Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾 " của Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) là một Thiền sư  của Việt Nam ta là :

                莫謂春殘花落尽,      Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
                庭前昨夜一枝梅 !     Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
                
Có nghĩa :
                   Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
                   Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!


                   

       Khi viết 2 câu trên, hẵn Mãn Giác Thiền Sư cũng đã đọc qua bài thơ của nhà sư Tề Kỷ rồi !

                                 BÁN TỰ VI SƯ 

                          
                                 
         Mời đọc bài thơ sau đây :
                 
               千里黄云白日曛,         Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân           
                  北风吹雁雪纷纷.           Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân     
                  莫愁前路无知己,         Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ                                                   
               天下谁人不识君。         Thiên hạ thùy nhân bất thức quân ?
Có nghĩa :
                 Ngàn dặm mây vàng nắng úa hanh,
                 Tuyết rơi gió cuốn nhạn bay nhanh
                 Đừng sầu trước mặt không tri kỷ,
                 Thiên hạ ai người chả biết anh ?!

        Đó là bài thơ "Biệt Đổng Đại 別董大" nổi tiếng của thi sĩ Cao Thích đời Đường. CAO THÍCH 高適 ( 706-765 ), tự là Đạt Phu 達夫, người Bột Hải đất Thương Châu ( nay là Cảnh Huyện tỉnh Hà Bắc ). Ông là nhà thơ biên tái với lời lẽ mộc mạc chất phác nhưng mạnh mẽ, nổi tiếng ngang hàng với Sầm Tham, được người đời xưng tụng chung là CAO SẦM. Ông từng là Quan Sát Sứ của đất Lưỡng Chiết. Truyện kể...

       Một hôm, Cao Thích đi ngang qua Thanh Phong Lãnh của đất Hàng Châu, đêm ngủ lại một ngôi chùa cổ trên núi, nhìn thấy cảnh trời cao lồng lộng không một bóng mây, ánh trăng thu sáng vằng vặc chiếu xuống dưới dòng sông đang gợn sóng lăn tăn với thuỷ triều đang xuống trông vô cùng gợi cảm... bất chợt gợi hứng hồn thơ, bèn đề một bài thất ngôn tứ tuyệt lên trên vách chùa :

               絕嶺秋風已自涼,  Tuyệt lãnh thu phong dĩ tự lương,
               鶴翻鬆露濕衣裳。  Hạc phiên tông lộ thấp y thường.
               前村月落一江水,  Tiền thôn nguyệt lạc nhất giang thủy,
               僧在翠微閒竹房。  Tăng tại thúy vi nhàn trúc phòng.  
Có nghĩa :
                   Đỉnh núi gió thu lạnh mát người,
                   Áo tơi hạc lượn ướt sương rơi.
                   Trước thôn trăng lặn đầy dòng nước,
                   Phòng trúc tăng thiền vẻ thảnh thơi.

   

        Sáng hôm sau khi từ giả lên đường, Cao Thích đi thuyền trên sông Tiền Đường mới thấy rằng, khi trăng lặn cũng là lúc thủy triều xuống nước ròng sát thì dòng sông Tiền Đường nhỏ lại chỉ còn bằng một nửa lúc nước đầy, nên câu thơ "前村月落一江水, Tiền thôn nguyệt lạc nhất giang thủy" không ổn chút nào cả. Vì "NHẤT GIANG THỦY là Một dòng nước đầy", nên khi Nguyệt Lạc (trăng lặn) thì nước sông chỉ còn có "BÁN GIANG THỦY 半江水 là Nửa dòng nước" mà thôi. Ông trăn trở mãi vì câu thơ có chữ "NHẤT" đó. Cho đến một hôm khi có việc đi ngang qua Hàng Châu, ông bèn lên núi tìm đến ngôi chùa trước kia định sửa chữ NHẤT 一 thành chữ BÁN 半. Nhưng khi đến nơi thì thấy chữ NHẤT 一 trong câu thơ đã được ai đó thêm vào chữ THẬP 十 và HAI CHẤM 丷 hai bên thành chữ BÁN 半 mất rồi ! Cao Thích vừa ngạc nhiên vừa thích thú, mới hỏi thăm sư trong chùa xem ai đã sửa chữ NHẤT của ông thành chữ BÁN vậy ?
       Một nhà sư trẻ mới nói cho ông biết là khi ông vừa đi chẳng bao lâu, thì có một người khách khác đến, đọc bài thơ xong bèn mượn bút mực của chùa mà sửa chữ, và vì người khách nầy có tiếng tăm rất lớn nên nhà chùa không dám cản. Cao Thích hỏi ra thì mới biết người khách đó chính là Lạc Tân Vương 駱賓王, một trong TỨ KIỆT của buổi sơ Đường, bèn chắc lưỡi tán thán rằng : " Qủa là bậc thầy trong chữ nghĩa !". Và cũng vì thế mà người đời kháo nhau rằng : Lạc Tân Vương 駱賓王 chính là BÁN TỰ SƯ 半字師 (ông thầy chữ BÁN) của Cao Thích 高適. Và vì BÁN TỰ 半字 cũng có nghĩa là NỬA CHỮ, nên BÁN TỰ SƯ cũng có nghĩa : Nửa chữ cũng là Thầy !

      Và bài thơ trên thành :                  

               絕嶺秋風已自涼,  Tuyệt lãnh thu phong dĩ tự lương,
               鶴翻鬆露濕衣裳。  Hạc phiên tông lộ thấp y thường.
               前村月落半江水,  Tiền thôn nguyệt lạc BÁN giang thủy,
               僧在翠微閒竹房。  Tăng tại thúy vi nhàn trúc phòng.  
Có nghĩa :
                   Đỉnh núi gió thu lạnh mát người,
                   Áo tơi hạc lượn ướt sương rơi.
                   Trước thôn trăng lặn LƯNG dòng nước,
                   Phòng trúc tăng thiền vẻ thảnh thơi.

       BÁN TỰ VI SƯ 半字為師 "Nữa chữ cũng là Thầy" có xuất xứ nên thơ như thế đó !

                                               
                           杜紹德
                        ĐỖ CHIÊU ĐỨC