CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

TRỤC KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG CẤU TRÚC ĐỊA VĂN HOÁ CHĂMPA- HỒ XUÂN TỊNH


hon-den-va-hon-tau-nhin-tu-song-thu-bon.jpg 

Hòn Đền và Hòn Tàu nhìn từ sông Thu Bồn. Ảnh: H.X.T


TRỤC KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG CẤU TRÚC ĐỊA VĂN HOÁ CHĂMPA


ĐNCT - Vùng rừng núi phía tây xứ Quảng là một cấu trúc địa chất cổ, được hình thành từ các trầm tích biển cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam. Qua quá trình vận động kiến tạo, các lớp đá phiến, sa thạch và cuội kết được uốn nếp, tạo thành những dãy núi kéo dài theo hướng tây - đông.

Địa hình phân hóa rõ rệt thành hai bậc: Vùng núi cao trên 1.000m chạy dọc biên giới Việt - Lào và vùng núi thấp dưới 1.000m tỏa xuống các đồng bằng Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình và Tam Kỳ. Từ đây hình thành các nhánh núi riêng biệt như Bạch Mã - Hải Vân, Sơn Trà, Bà Nà, Hòn Tàu - Hòn Đền...

Núi thiêng và Thánh địa

Trong không gian địa mạo ấy, thung lũng Mỹ Sơn là một lòng chảo khép kín, được bao bọc bởi dãy núi Hòn Tàu - Hòn Đền, Dương Thông... Theo ghi chép của Đại Nam nhất thống chí, hệ thống núi này phân thành nhiều chi, trong đó núi Tào Sơn giữ vai trò “trấn sơn”, tạo thế vững chãi cho toàn vùng. Đỉnh cao nhất của dãy là Ấn Sơn cao khoảng 950m, từ đây có thể quan sát rộng đồng bằng Quảng Nam và vùng ven biển Đà Nẵng.

Trong hệ thống núi này, Hòn Đền còn được gọi là núi Răng Mèo - núi thiêng Mahaparvata, không phải đỉnh cao nhất nhưng lại giữ vị trí đặc biệt trong tâm thức dân gian và trong cấu trúc thiêng của Chămpa. Tên gọi “núi Chúa” vốn phổ biến ở nhiều vùng, thường chỉ những đỉnh núi được xem là nơi cư ngụ của thần linh. Với Hòn Đền, ý nghĩa ấy càng được củng cố bởi mối liên hệ trực tiếp với thánh địa Mỹ Sơn và những truyền thuyết bản địa.

Từ góc nhìn địa - văn hóa, GS. Trần Quốc Vượng cùng một số chuyên gia Đông Nam Á nhận định rằng Hòn Đền có thể được xem như Lingaparvata (núi Linga) theo quan niệm Ấn Độ giáo. Trong cấu trúc biểu tượng này, thung lũng Mỹ Sơn đóng vai trò như Yoni, còn dòng suối Khe Thẻ chảy qua trung tâm thánh địa chính là dòng năng lượng phồn thực kết nối hai yếu tố âm - dương. Sự kết hợp giữa địa hình tự nhiên và biểu tượng tôn giáo đã khiến Mỹ Sơn được chọn để xây dựng trung tâm tín ngưỡng bậc nhất của Chămpa.

Từ Thánh địa đến biển cả

Tuy nằm biệt lập trong thung lũng, Thánh địa Mỹ Sơn không tách rời khỏi đời sống kinh tế - xã hội xung quanh. Theo ghi nhận của Georges Maspero trong tác phẩm Vương quốc Chămpa, mỗi khu đền tháp được dâng cúng một lãnh địa rộng lớn, bao gồm đất đai, cư dân và nguồn sản vật phục vụ cho việc duy trì hoạt động tôn giáo. Điều này cho thấy cấu trúc kinh tế - tôn giáo của Chămpa mang tính tích hợp cao, trong đó quyền lực thần linh và quyền lực thế tục luôn song hành.

Từ Mỹ Sơn, nếu nhìn theo trục không gian dọc sông Thu Bồn, có thể nhận ra một mô hình quy hoạch lãnh thổ đặc trưng của tiểu quốc Amaravati. Ở thượng nguồn là núi thiêng và thánh địa; xuống trung lưu là kinh đô Trà Kiệu (Simhapura), gắn với vùng châu thổ nông nghiệp trù phú; và cuối cùng là cảng thị ven biển Hội An (Champapura), cùng cụm đảo tiền tiêu Cù Lao Chàm. Đây là một trục liên hoàn, thể hiện tư duy tổ chức không gian vừa mang tính thực dụng vừa mang chiều sâu biểu tượng.

Kinh đô Trà Kiệu, nằm cách Mỹ Sơn khoảng 10 km về phía đông, giữ vai trò trung tâm chính trị và kinh tế. Bao quanh khu vực này là những cánh đồng rộng lớn, được Lê Quý Đôn mô tả trong Phủ biên tạp lục là “đại đồng điền”. Không chỉ phát triển nông nghiệp lúa nước, cư dân Chămpa còn trồng dâu nuôi tằm, sản xuất tơ lụa và dệt vải, tạo nên những mặt hàng có giá trị cao trong thương mại.

Ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An thời Chămpa là một cảng thị quốc tế quan trọng, nằm trên tuyến hàng hải kết nối từ Trung Hoa đến Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á. Nhờ nguồn lâm thổ sản như trầm hương, quế, hồ tiêu… được đưa về từ thượng nguồn và các sản phẩm tơ lụa, Champapura trở thành đầu mối giao thương sầm uất, góp phần đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế và củng cố quyền lực chính trị của vương quốc.

Ngoài khơi, Cù Lao Chàm đóng vai trò như một “tiền cảng”, nơi các thương thuyền quốc tế dừng chân để lấy thêm nước, lương thực và tránh bão. Đây không chỉ là điểm neo đậu tàu thuyền mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc kiểm soát tuyến hàng hải khu vực.

Bên cạnh trục Mỹ Sơn - Trà Kiệu - Cù Lao Chàm, có thể nhận diện một trục không gian thứ hai theo hướng đông bắc, nối Mỹ Sơn - Hòn Đền với bán đảo Sơn Trà, thông qua hệ thống sông Vĩnh Điện - Cẩm Lệ. Trên trục này, vùng đồng bằng Điện Bàn - Hòa Vang đóng vai trò châu thổ, với các khu đền tháp Bằng An và Phong Lệ.

Đặc biệt, Ngũ Hành Sơn giữ vị trí trung gian giữa nội địa và biển cả. Nơi đây hiện diện những cơ sở tín ngưỡng Ấn Độ giáo và Phật giáo, đồng thời là vị trí quan trọng về quân sự và hàng hải. Từ trên đỉnh Thủy Sơn, có thể quan sát toàn bộ tuyến đường biển ven bờ và hệ thống sông dẫn vào nội địa; lợi thế này đã được triều Nguyễn khai thác khi dựng các đài quan sát Vọng Hải Đài và Vọng Giang Đài dưới thời vua Minh Mạng.

Xa hơn về phía đông, núi Sơn Trà trở thành một bức bình phong tự nhiên che chắn cho vịnh Đà Nẵng, kết hợp với dãy Bạch Mã - Hải Vân tạo thành một vùng biển kín gió, thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu.

Trong cấu trúc không gian ấy, Hòn Đền - Mahaparvata nổi lên như một “chủ sơn” mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa lý. Không phải là đỉnh núi cao nhất trong vùng, nhưng chính sự hội tụ của yếu tố địa hình, tín ngưỡng và biểu tượng đã khiến nơi đây trở thành trung tâm thiêng liêng trong thế giới quan Chămpa. Từ Mahaparvata, các trục không gian tỏa đi, kết nối thánh địa Mỹ Sơn với kinh đô, đồng bằng và biển cả, tạo nên một chỉnh thể hài hòa giữa tự nhiên và văn hóa.

Có thể nói, trên nền tảng địa lý tự nhiên, người Chăm xưa đã kiến tạo không gian liên kết từ núi thiêng đến biển cả, hình thành tư duy tổ chức lãnh thổ hướng biển, trong đó núi - sông - đồng bằng - hải đảo gắn kết thành một chỉnh thể. Sự kết hợp giữa không gian thiêng, trung tâm chính trị, vùng sản xuất và mạng lưới hàng hải không chỉ tạo nên nền tảng cho sự phát triển lâu dài của Chămpa, mà còn để lại di sản địa văn hóa đặc sắc, tiếp tục hiện diện trong không gian đất Quảng hôm nay.


HỒ XUÂN TỊNH • 20/09/2026 11:10

Nguồn : Báo ĐÀNẴNG .VN

https://baodanang.vn/truc-khong-gian-thieng-trong-cau...



Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG: SỬA THƠ TRONG MƠ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


          

       GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG:

            SỬA THƠ TRONG MƠ

 Năm Đại Hòa thứ 6 (832) đời Đường, chàng thư sinh thi sĩ Hứa Dụng Hối 許用晦 trúng cử Tiển sĩ Cập đệ, đang lúc thanh vân đắc ý chàng bèn làm một chuyến du ngoạn vùng Hà trung đất Sơn Tây. Vì qúa vui với cảnh non xanh nước biếc, nên lạc cực sanh bi chàng bị cảm nặng và hôn mê bất tỉnh suốt ba ngày đêm...
       Trong cơn mê, chàng mơ thấy mình đi đến một vùng núi non hùng vĩ với cung thất lâu đài nguy nga tráng lệ. Hỏi ra mới biết rằng đây là vùng núi Côn Lôn, lâu các cao vút tận mây xanh kia chính là Dao Đài của Tây Vương Mẫu. Phút chốc bỗng có tiên nương hiện ra mời vào dự tiệc cho đến lúc chiều tà. Trong cơn say chàng đã mơ hồ cất bút viết nên bài tứ tuyệt như sau lên tường :

               曉入瑤臺露氣清,    Hiểu nhập Dao Đài lộ khí thanh,
               坐中唯有許飛瓊。    Tọa trung duy hữu Hứa Phi Quỳnh.
               塵心未斷俗緣在,    Trần tâm vị đoạn tục duyên tại,
               十里空山下月明。    Thập lý không sơn hạ nguyệt minh !
       Có nghĩa :
            Buổi sáng khi lạc vào Dao Đài trong khi khí trời và sương sớm còn rất trong lành; Trong bàn cùng ngồi với ta còn có tiên nương Hứa Phi Quỳnh. Vì lòng trần còn chưa dứt nên cái duyên trần tục vẫn hãy còn đây; Xuống núi trong cảnh mười dặm núi non vắng lặng nầy chỉ còn có vầng trăng sáng mà thôi !



                        
                      Lạc bước Dao Đài sương sớm hanh,
                      Cùng ngồi chuốc chén Hứa Phi Quỳnh.
                      Lòng trần chưa dứt còn duyên tục,
                      Mười dặm không sơn bóng nguyệt thanh !

        Hồn mộng vấn vương, đêm sau lại mơ vào Dao Đài hôm trước để gặp lại Hứa Phi Quỳnh; Nhưng tiên nương đã hờn dỗi trách rằng :"Sao lại mang cả tên thiếp đưa vào chốn nhân gian thế kia !?" Hứa bèn tạ lỗi và sửa câu thứ hai lại thành "天風吹下步虛聲 Thiên phong xuy hạ bộ hư thinh". Có nghĩa : Dưới cơn gió trời thổi bước chân nhẹ nhàng như hư như thật". Phi Quỳnh bèn cười đáp "Tốt!". Nên bài thơ còn có thêm một dị bản như sau :

               曉入瑤臺露氣清,     Hiểu nhập Dao Đài lộ khí thanh,
               天風吹下步虛聲.     Thiên phong xuy hạ bộ hư thinh
               塵心未斷俗緣在,     Trần tâm vị đoạn tục duyên tại,
               十里空山下月明.     Thập lý không sơn hạ nguyệt minh !
      Có nghĩa :
                     Lạc bước Dao Đài sương sớm hanh,
                     Gió trời lay động bước mong manh.
                     Lòng trần chưa dứt còn duyên tục,
                     Mười dặm không sơn bóng nguyệt thanh !          

             
     
      Hứa Dụng Hối 許用晦 còn một ngoại hiệu nữa là Hứa Trọng Hối 許仲晦, tên thật là...
       HỨA HỒN 許渾(788—860)sanh năm Trinh Nguyên thứ tư (788), người đất Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (thuộc tỉnh Giang Tô hiện nay). Ông là cháu 6 đời của Tễ Tướng Hứa Ngự Sư 許圉師, là một trong những thi nhân nổi tiếng dưới thời Vãn Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Đại Hòa thứ 6 (832) và giữ nhiều chức vụ. Cả đời ông không làm thơ Cổ thể, chỉ chuyên về Luật thi; Đề tài thường lấy điền viên hoặc hoài cổ, lời thơ công đối chỉnh tề, thường miêu tả về sơn thủy, cảnh trước sau mưa... được đánh giá là ngang hàng với thi thánh Đỗ Phủ với câu :"Hứa Hồn thiên thủ thấp, Đỗ Phủ nhất sinh sầu 許渾千首溼,杜甫一生愁". Có nghĩa : "Ngàn bài thơ của Hứa Hồn đều có vẻ ướt át; Còn thơ cả đời của Đỗ Phủ đều có vẻ ưu thời mẫn thế". Như ta đã biết...
      Khi lên Hoàng Hạc Lâu thấy cảnh trí nên thơ hùng vĩ của vùng sông nước bày ra trước mắt, thi Tiên Lý Bạch đã gợi hứng nguồn thơ, nên cất bút toan đề thơ, nhưng khi nhìn lên vách thấy bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu bèn quẳng bút đi mà than rằng :"Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu 眼前有景道不得,崔颢题詩在上頭" Có nghĩa :"Trước mắt có cảnh mà không sao tả được, vì Thôi Hiệu đã đề thơ phía trên đầu ta rồi !". Vì Lý biết chắc rằng, nếu mình có miễn cưỡng làm thơ, thì chắc chắn cũng chẳng bao giớ bằng được bài thơ mà Thôi Hiệu đã làm, nên thôi. Nhưng nỗi lòng ấm ức vẫn cứ âm ĩ mãi trong tim, cho nên khi đến đất Kim Lăng, lên ngắm cảnh trên Phụng Hoàng Đài, ông mới xúc cảnh sinh tình, mà làm nên bài thơ "Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài 登金陵鳳凰台" rất xuất sắc, gieo vần và âm hưởng đều tương tự như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu...


       Hứa Hồn cũng thế, bài thơ luật "Hàm Dương Thành Đông Lâu 咸陽城東樓" của ông cũng có âm điệu và phong cách giống như là bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, kể cả vần được gieo cũng làm cho người đọc cảm thấy như đang đọc lại câu "Yên ba giang thượng sử nhân sầu 煙波江上使人愁" vậy...  

                           咸陽城東樓           HÀM DƯƠNG THÀNH ĐÔNG LÂU           

        一上高城萬里愁,    Nhất thướng cao thành vạn lý sầu,
        蒹葭楊柳似汀洲,    Kiêm hà dương liễu tự thinh châu, 
        溪雲初起日沉閣,    Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
        山雨欲來風滿樓。    Sơn vũ dục lai phong mãn lâu. 
        鳥下綠蕪秦苑夕,    Điểu hạ lục vu Tần uyển tịch,
        蟬鳴黃葉漢宮秋,    Thiền minh hoàng diệp Hán cung thu,
        行人莫問當年事,    Hành nhân mạc vấn đương niên sự,
        故國東來渭水流。    Cố quốc đông lai Vị Thủy lưu. 
                   許渾                             Hứa Hồn.   
 
                            
            
* Chú thích :
    - Kiêm Hà 蒹葭 : Là Lau sậy, theo tiếng gọi của ngày xưa. Trong Kinh Thi chương Tần Phong có câu "Kiêm Hà thương thương 蒹葭蒼蒼" có nghĩa là "Lau sậy xanh xanh".
    - Thinh Châu 汀洲 : Có 2 nghĩa :
      * Những cồn cỏ, cù lao giữa dòng sông nước.
      * Địa danh thuộc tỉnh Phước Kiến, nay là Huyện Trường Thinh.
    - Khê Vân 溪雲 : Hơi nước từ trong khe suối bốc lên thành mây.
    - Lục Vu 綠蕪 : Vu là Rậm rạp, hoang vắng. LỤC VU là Bãi xanh hoang vu.
    - Vị Thủy 渭水 : Tên con sông phát nguyên từ tỉnh Cam Túc, chảy qua tỉnh Thiểm Tây đổ vào sông Hoàng Hà rồi chảy ra biển Đông..

* Nghĩa bài thơ :
                      TRÊN LẦU ĐÔNG CỦA THÀNH HÀM DƯƠNG.
       Lên đến tận trên lầu cao của đông thành thì nỗi sầu lại dài thêm vạn dặm. Trước mắt, lau sậy hòa vào màu xanh của dương liễu mường tượng như màu xanh của những cồn đất trên sông. Những làn hơi nước trong khe suối vừa bốc lên thành những làn mây mỏng thì mặt trời cũng đã chìm xuống phía sau lầu rồi, Và cơn mưa núi chưa kịp đổ xuống thì gió đã ào ạt đầy cả lầu ! Lũ chim bay xà xuống bãi xanh hoang vu của vườn thượng uyển đời Tần ngày xưa trong buổi chiều tà. Và lũ ve cuối mùa cố cất tiếng ngâm trong đám lá vàng của cung viên nhà Hán vào buổi chiều thu se lạnh. Ôi thôi ! Người qua đường xin đừng hỏi đến chuyện của năm xưa nữa, Cố quốc từ hướng đông mà đến cũng như dòng Vị Thủy theo hướng của tất cả những dòng sông đổ vào Hoàng Hà rồi cũng đều chảy về với biển Đông mà thôi... 

* Diễn Nôm :



                     HÀM DƯƠNG THÀNH ĐÔNG LÂU  

                     Vòi vọi thành cao vạn dặm sầu,
                     Lau xanh liễu rũ ngỡ thinh châu.
                     Mây vờn khe suối vầng ô khuất,
                     Mưa chửa thành cơn gió ngập lầu.
                     Chim lượn xập xòe Tần thượng uyển,
                     Ve sầu rả rít Hán cung thâu.
                     Nào người chớ hỏi đời xưa cũ,
                     Sông Vị về đông vẫn chảy mau !
          Lục bát :
                     Thành cao cho vạn dặm sầu,
                     Vi lô tơ liễu tựa màu thinh châu.
                     Mây lên mặt nhựt khuất lầu,
                     Mưa chưa thành hạt gió sầu đầy song.
                     Chim xà Tần uyển vườn không,
                     Ve ngâm rả rít Hán cung thu sầu.
                     Nào ai chớ hỏi vì đâu ?!
                     Về đông sông Vị chảy mau, lệ thường !!!...
                                                             
      Mặc dù không làm rung động lòng người và còn để lại dư âm như Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, Hàm Dương Thành Đông Lâu của Hứa Hồn cũng nói lên một niềm hoài cổ não lòng, xót xa đến... dửng dưng, vì biết đó là cái lẽ của cuộc sống, cái lý của sự vật ở trên đời "Vật cực tất phản", Âm cực dương hồi, hết thịnh rồi lại suy... cứ thế luân lưu mãi, như tất cả những dòng sông đều chảy về đông...

                 Hành nhân mạc vấn đương niên sự,  行人莫問當年事,     
                 Cố quốc đông lai Vị Thủy lưu !!!        故國東來渭水流...


      Bài thơ lại nổi tiếng và để đời với đôi Thực :

                 溪雲初起日沉閣, Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
                 山雨欲來風滿樓。 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu. 

                     Mây vờn khe suối vầng ô khuất,
                     Mưa chửa thành cơn gió ngập lầu.

      Nhất là câu "山雨欲來風滿樓 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu" đã trở thành như một câu ngạn ngữ của dân miền núi khi trời sắp đổ mưa. Đây cũng là một đặc điểm độc đáo của thơ Hứa Hồn, bài thơ nổi tiếng nào của ông cũng "ướt nhẹp" với mây mưa, suối khe, sông nước... 
Sau đây là một bài thơ tiễn bạn trên "Sông Nước" dưới bầu trời đầy "Mưa Gió" nữa của ông :



            謝亭送別               TẠ ĐÌNH TỐNG BIỆT

          勞歌一曲解行舟,     Lao ca nhất khúc giải hành chu,
          紅葉青山水急流。     Hồng diệp thanh sơn thủy cấp lưu.
          日暮酒醒人已遠,     Nhật mộ tửu tinh nhân dĩ viễn,
          滿天風雨下西樓。     Mãn thiên phong vũ há tây lâu !
                          許渾                                       Hứa Hồn

* Chú thích :
    - TẠ ĐÌNH 謝亭 : Còn có tên là TẠ CÔNG ĐÌNH 謝公亭(Đình của ông họ Tạ) nằm ở mặt bắc của Tuyện Thành, do Thái Thú Tuyên Thành là TẠ THIỂU 謝朓 đời Nam Tề dựng nên để tiễn bạn là Phạm Vân. Về sau TẠ ĐÌNH thành nơi tiễn biệt nổi tiếng của Tuyên Thành.
    - Lao Ca 勞歌 : là "Bài ca ly biệt" vốn được hát ở Lao Lao Đình 勞勞亭 để đưa bạn tiễn khách. Sau LAO CA thành biểu tượng của bài ca ly biệt, như trong 2 câu thơ của Thi Tiên Lý Bạch : "Thiên hạ thương tâm xứ, Lao Lao tống khách đình 天下傷心處,勞勞送客亭" Có nghĩa :"Nơi mà thiên hạ thương tâm nhất, chính là cái đình tiễn khách tên Lao Lao nầy đây".
    - Giải 解 : là Cởi, mở ra, tháo ra.
    - Hồng Diệp 紅葉 : là "Lá đỏ", còn có dị bản là HỒNG THỌ 紅樹 là Cây lá đỏ.
    - Thuỷ Cấp Lưu 水急流 : là "Nước chảy xiết" hàm ý "Thuyền đi nhanh".
    - Tây Lâu 西樓 : là "Lầu Tây" là nơi khách ở, nên thường mượn từ "Lầu Tây" để chỉ nơi tiễn khách; cũng như NAM PHỐ 南浦 là Bến nước phía Nam, cũng là bến nước để đưa bạn, tiễn khách. Nên trong cổ thi thường mượn từ TÂY LÂU và NAM PHỐ để chỉ nơi đưa tiễn.

* Nghĩa bài thơ :
                    ĐƯA TIỄN Ở TẠ CÔNG ĐÌNH
        Sau một khúc Lao ca tiễn biệt thì dây thuyền đã được mở ra và thuyền đi nhanh theo dòng nước cuốn nhanh trong cảnh núi xanh lá đỏ; Khi chiều đã xuống, rượu cũng đã tỉnh ra thì người cũng đã đi xa rồi; Ta bước xuống lầu tây trong cảnh đầy trời mưa gió não nùng.


* Diễn Nôm :
                     TẠ ĐÌNH TỐNG BIỆT

                 Lao ca một khúc mở thuyền đi,
                 Lá đỏ núi xanh nước cuốn đầy.
                 Chiều xuống tỉnh ra người đà khuất,
                 Ngập trời mưa gió xuống lầu tây !...
       Lục bát :
                 Lao ca một khúc thuyền đi,
                 Núi xanh lá đỏ nước thì cuốn trôi.
                 Tỉnh ra người đã xa rồi,
                 Ngập trời mưa gió bồi hồi xuống thang.
         

      Hẹn bài viết tới !

                                                                    杜紹德
                                                                 ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

MÙA THU QUÊ EM - THƠ NGUYỄN VĨNH LONG


 Tranh Đinh Trường Chinh- THÀ NHƯ GIỌT MƯA - Hội Họa - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Ngô Quyền Biên Hòa

TRANH ĐINH TRƯỜNG CHINH


MÙA THU QUÊ EM

 

Sao cứ mùa thu phải có lá vàng

gió heo may trở mùa se sắt lạnh?

Mùa thu quê em là bao chiều gió lộng

nước mênh mông phủ kín những cánh đồng

 

Mùa thu quê em là hoa tím dòng sông

trưa nắng ngủ ấm bờ môi con gái

mùa thu quê em cuối vườn cây trái

con chim chuyền cành cất tiếng nỉ non…

 

Mùa thu quê em lấp lánh đèn đêm

soi cuộc sống những ghe mùa cá chạy

có tiếng thở dài ngược dòng tay lái

khoang cá vơi đầy một kiếp đời riêng

 

Mùa thu quê em là đôi mắt lặng thinh

hoa điên điển vàng bờ kinh phía trước

mùa thu quê em bao đời con nước

bên lở bên bồi, mặc những trăm năm..!


 

NGUYỄN VĨNH LONG


Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

CHÙM THƠ THĂM HOA LỤC - THƠ NGUYỄN KHÔI

 



CHÙM THƠ THĂM  HOA  LỤC

( Tặng : Nhã My )


Trung Hoa rộng lớn nào đi hết

thì đển Nam Kinh ngắm Ngô Đồng (1)

Quyền thế ngất trời rồi cũng chết

Tình Yêu còn mãi với non sông.

———

( 1)-Đường phố cây Ngô Đồng ở Nam Kinh do Tưởng Giới Thạch trồng tặng Tống Mỹ Linh)


-1, NAM KINH

( Bởi mê Hồng Lâu Mộng

Nên tìm đến Nam Kinh)

Mộng đến Kim Lăng thăm Cảnh Ảo

tìm cô gái Việt ở Nam Kinh

hồn xưa còn giấu trong nếp áo

thơ xưa tơ liễu rủ hương tình

Trông lên phương bắc mang mang gió

Chim đậu cành Nam ngó đất trời

qua bao bình lửa cho gặp gỡ

Trung Sơn ta đứng lặng bên Người.🧍 

“ Sơn thủy cổ thành tương ỷ” tuyệt

ai hay Thiên Quốc hận Thái Bình ?

nắng hắt Trường Giang cồn khói sóng

buồm ai cô lữ tới Nam Kinh.


-2, ĐI DỌC TIỀN ĐƯỜNG

( Sóng êm Phúc kiến , lửa tàn Chiết Giang)

Mênh mông con nước Tiền Đường

triều dâng hoa sóng dễ nhường mắt ai

tàu qua huýt tiếng còi dài

Chuyện xưa bỗng nhớ để hoài xót thương.

Đoạn nào Kiều đã trầm gương

bến nào gặp vãi Giác Duyên  đón về ?

gió chiều se lạnh tái tê

ai người Quân tử sẻ chia Đoạn trường

bâng khuâng đi dọc Tiền Đường

trăm năm đâu chốn mồ chôn Nàng Kiều ?


-3,VỚI SÔNG TƯƠNG

Tàu đi theo nẻo Sông Tương

đôi bờ phẳng lặng như dường đón ai

núi đồi thon tựa bờ vai

mưa tuôn lệ Liễu bay hoài tương tư 

**

Cuộc đời trôi nổi bôn ba

gặp sông Tương thấy thật là dịu êm

đầu sông bao cuộc đảo điên (1)

ai châm ngọn lửa đốt miền tre xanh ?

một phen khuấy động Kinh thành

Nông dân vùng dậy thác ghềnh sóng xô

Sông Tương thì cứ lặng tờ

để cho Dương Tử , Hoàng Hà réo sôi.

——

(1) Hồ Nam quê Mao Trạch Đông


-4, THĂM HÀN SƠN TỰ

Chùa cổ , thơ đề , vẳng tiếng chuông ,

Ngàn năm ngưỡng vọng đến Hàn Sơn. 

“ Cô Tô thành ngoại “ in bóng nguyệt

Để khách đa tình phải vấn vương.

**

Nắng gắt , người chen, ánh chiều tà,

bờ Phong xoà  bóng , Liễu thướt tha.

Chuông động hồn xưa Hàn Sơn tự,

lên tháp vời trông sóng Vận Hà .


 -5, DẠO PHONG KIỀU LỘ

Chiều sương dạo phố Phong Kiều

tựa đình Chiết Liễu gió reo đôi bờ

thuyền ai về bến Cô Tô

lửng lơ nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.


-6, NHỚ LỖ TẤN (1)

Qua làng chẳng thấy AQ

nhà cao cửa rộng liền kề tương thân

rượu quê một chén Thiệu Hưng

ai say thời cuộc mà không Chí Phèo ?



——

(1) Văn hào Trung Quốc với nhân vật AQ… VN có Nhà văn Nam Cao với nhân vật Chí Phèo.


NGUYỄN KHÔI

( Chiết Giang 18/6/2006-)


NM chân thành cảm ơn anh Nguyễn Khôi


Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

LẠC NHAU - THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


 

LẠC    NHAU 

 

1. 

 

Cái thời thuở ấy chưa chồng

Cỏ Khâu may áo, áo hồng đào rơi

Nhớ ngày thuở ấy chung đôi

Bây giờ xa cách vẫn ngồi nhớ em…

Nhớ môi hồng thắm ướt mềm

Lắng nghe hơi thở nhẹ êm ngọt ngào

Hãy yêu cho thật dạt dào

Tiếng em thủ thỉ lời trao nhẹ mềm…

Dỗi hờn, hờn dỗi chi em

Đem tình tôi thả xuống miền ưu tư

Dìu em vào cõi mộng du

Mây hồng lãng đãng mùa thu nắng tà

Hẹn thề mình mãi không xa

Dù cho trắc trở, vẫn là của nhau

Dù tình ngang trái thương đau

Tôi em vẫn giữ tình đầu mãi yêu…

 

 

2. 

 

Tình ta giông bão đã nhiều

Nhắc làm chi nữa trăm điều xót xa

Tình ta chát đắng đậm đà

Người đi xa mãi, bỏ ta thất tình

Sao không nói thật lòng mình

Đinh ninh lời hẹn, đinh ninh lời thề…

Tình xa sao vẫn si mê

Bóng xưa em vẫn đi về… trong mơ

Lâu rồi vẫn đợi, vẫn chờ

Trở nghiêng gối mộng, hững hờ canh thâu

Em về đâu… Anh về đâu…

Trăm năm mình đã lạc nhau giữa đời

Giờ đây người đã xa người

Còn tôi thao thức giữa trời mưa Ngâu

Tôi về gom nhặt thương đau

Gom tình đã lỡ qua cầu… buông trôi…


           

            Nha Trang, tháng 09. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

XÓM CỦI - NGÀY ẤY TA NGỒI VỚI CÂY ĐÀN - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



Có thể là hình ảnh về đàn ghi ta


 XÓM CỦI – NGÀY ẤY TA NGỒI VỚI CÂY ĐÀN

(Tặng chị Cúc Mai…
Tưởng nhớ Phan Công Minh và bạn bè đã ra đi)

Ngày ấy còn đời quen nương tựa,
Nhà bạn bè những lúc dừng chân.
Xóm Củi xưa những ngày đi phép,
Ta quay về thành phố một mình.
Từ lúc bỏ trường đi học lính,
Bước vào cuộc chiến bủa vây quanh.
Ta vấp chân những ngày buồn bã,
Như lục bình máng dính tháng năm.
Ghé tấp lại nhà bạn vài bữa,
Rồi về đơn vị lội sình lầy.
Thuở làm lính, giao đời thí mạng,
Giữa lửa binh ai biết rủi may.
Ngày phép ngắn như chiều xuống vội,
Ta về Xóm Củi kiếm bạn quen.
Căn nhà nhỏ nằm trong hẻm vắng,
Một cây đàn còn đó bên rèm.
Ta ngồi xuống ôm đàn khe khẽ,
Gảy vài câu chẳng biết bài gì.
Tiếng dây tơ rơi vào buổi tối,
Nghe lòng mình lại muốn ra đi.
Ta nhớ những con đường lầy nước,
Nhớ sình non bám chặt gót giày.
Nhớ đồng vắng đêm nằm nghe súng,
Ánh hỏa châu treo đỏ trời mây.
Có những lúc tưởng mình như chết,
Lại bình yên trở lại trong ngày.
Bạn nhìn nhau chẳng ai cần hỏi,
Còn thấy nhau là đủ vui ngay.
Đêm Xóm Củi,đêm nghe chó sủa,
Bạn bè ngồi vài đứa uống ly đầy.
Ly rượu nhỏ chuyền tay từng đứa,
Tiếng cười vang che lấp tháng ngày.
Nhưng lần phép sau… vài đứa vắng,
Chiếc ghế xưa bỏ trống bên bàn.
Không ai hỏi mà lòng đều hiểu,
Một thằng vừa khuất bóng đời ngang
Ta nâng chén uống phần thằng bạn,
Rượu đêm nầy sao đắng bờ môi.
Ôm cây đàn ngồi nhìn chỗ tróng,
Ngón tay ta không gảy nên lời.
Rồi lại phải trở về đơn vị,
Áo trận mang, giày trận chân quen.
Ngoái nhìn lại căn nhà Xóm Củi,
Cây đàn nằm lặng lẽ vách nghiêng.
Mưa cứ đổ trên đầu người lính,
Nắng cứ nung cháy sạm vai gầy.
Đêm mắc võng giữa rừng nghe gió,
Nhớ tiếng đàn Xóm Củi đâu đây.
Nhớ mái nhà cho ta tạm trú,
Nhớ bạn bè chung chén rượu cay.
Nhớ cô gái một lần gặp gỡ,
Chưa kịp yêu đã phải chia tay.
Có những chuyện tưởng rồi sẽ mất,
Mà càng già càng nhớ rõ hơn.
Một tiếng hát, một mùi khói thuốc,
Một cái ôm, một thoáng cười dòn
Bao nhiêu năm đời trôi quá vội,
Xóm Củi giờ còn giống ngày xưa?
Bạn bè cũ người còn người mất,
Cây đàn nào còn đợi chiều mưa?
Ta đã bước qua thời binh lửa,
Qua những ngày sống chết lao đao.
Qua những cuộc tình không hẹn trước,
Qua những lần chưa kịp hôn nhau.
Giờ tóc bạc ngồi gom ký ức,
Nghe trong lòng tiếng hát xa xăm.
Như còn thấy mình còn trai trẻ ,
Ngồi ôm đàn Xóm Củi bao năm.
Đời đã cuốn mỗi người một ngả,
Người bên này, kẻ tận phương xa.
Có người ngủ từ thời rất trẻ,
Có người còn tóc bạc như ta.
Nếu trở lại một chiều Xóm Củi,
Ta muốn ngồi bên chiếc đàn xưa.
Gảy một khúc cho người còn mất,
Cho cuộc đời một thuở gió mưa.
Gảy cho bạn không còn về nữa,
Gảy cho người con gái năm nao.
Gảy cho tuổi hai mươi đã khuất,
Gảy cho mình một thuở binh đao.
Rồi đặt xuống cây đàn thật nhẹ,
Ngồi im nghe năm tháng quay về.
Xóm Củi cũ chìm trong ký ức,
Mà lòng ta còn một lời thề.
Nay ngoảnh lại qua đời dâu bể,
Mới thương mình một thuở bể dâu.
Một cây đàn, một căn nhà nhỏ,
Bạn bè đâu…tiếng hát mất lâu.


HUỲNH TÂM HOÀI

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

NHỮNG NHÁNH ĐỜI CỦA BIỂN - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN


Quán - Một bức tranh thật đẹp của Hoạ sĩ Đinh Cường về người con gái Việt Nam. Và Cầm xin dành mọi điều tươi đẹp nhất cho chị em phái nữ

TRANH ĐINH CƯỜNG


NHỮNG NHÁNH 

ĐỜI CỦA BIỂN

  

tôi gởi lại bên một dòng sông chiều

tháng bảy những lâm thâm mưa bụi cuốn 

trôi đi rác rưới mùa nước lụt về

sông sông trôi đi ánh đèn đêm về

 

cửa biển mà mẹ tôi bên kia nhà

cứ nghĩ con nó đã về chưa mà

lâu quá trời mưa chắc đường xa còn

ướt lạnh mà nhỏ dại dọc đường có

 

lỡ chuyến đò qua mùa lụt tháng bảy

nước lớn dâng lên đến thấu thềm nhà

tháng bảy nước nhảy lên bờ mẹ tôi

nói rồi đến nửa đêm mưa mau gió

 

thổi rì rầm mái tranh lật ngược nước

dột xuống nhà em tôi chị tôi chạy 

đi lấy thau hứng đỡ ngồi thức trọn

đêm nghe mưa sau hè đổ ngọn tàu

 

cau cây chuối ngã rạp xuống mương nước 

xoáy cuốn trôi đất cát vườn rau vườn

cà rụng trái theo sông sáng mai ngồi

dậy liền đi vớt củi để dành thổi

 

cơm mẹ dặn nhớ xăn quần cao kẻo

về ướt lạnh khổ lắm con ơi... thời

tuổi trẻ chắc chắn đã trôi qua bên 

chiếc cầu ván đong đưa bên bờ ao

 

rau muống tôi nhìn lại và hai mươi 

năm vút đi như vì sao chổi nhưng

sao chiều nay không dưng có cơn mưa 

mù trút ngọn rồi mười năm hai mươi 

 

năm chẳng còn là thời gian chờ đợi

lạy trời may thay mẹ tôi vẫn còn

bên kia nửa vòng trải đất anh em

thi mỗi người thất tán mỗi phương như 

 

những nhánh củi rong rêu thuở nào không 

biết bây giờ trôi nỗi về đâu mà

tha phương lại vèo thêm một thập niên 

lưu lạc sao mẹ cứ dặn hoài đi 

 

đâu rồi cũng nhớ về nhà cho kịp 

chạng vạng tối trời khổ lắm con ơi.

 

  HUỲNH LIỄU NGẠN