CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

TẾT ĐOAN NGỌ ĐỌC THƠ PHẠM NGUYỄN DU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC



Góc Việt Thi : 
                      TẾT ĐOAN NGỌ đọc thơ PHẠM NGUYỄN DU



                                                              Nhà thờ Phạm Nguyễn Du ở Đặng Điền

       Ai cũng biết NGUYỄN DU 阮攸 (1766-1820) tác giả của Truyện Kiều được người Việt kính trọng và tôn xưng là "Đại Thi Hào Dân Tộc", được UNESCO vinh danh là "Danh nhân Văn hóa Thế giới". Nhưng rất ít ai biết đến PHẠM NGUYỄN DU 范阮攸 (1740-1786) là nhà sử học, nhà thơ Việt Nam thời Lê trung hưng đi trước NGUYỄN DU một thế hệ. Nay nhân Tiết Đoan Ngọ cận kề, ta cùng đọc thơ và tìm hiểu về nhà thơ này nhé.                         
       PHẠM NGUYỄN DU 范阮攸 (1740-1786) vốn tên là Vĩ Khiêm 撝謙, tự là Hiếu Đức 好德, Dưỡng Hiên 養軒, hiệu là Thạch Động 石洞. ông là người làng Đặng Điền, tổng Đặng Xá, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An (nay là xóm Tiên Lạc, xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Năm 1773, ông dự thi Hương, đỗ Giải nguyên. Khi chúa Trịnh Sâm cử tướng Hoàng Ngũ Phúc mang quân vào đánh Nam Hà, chiếm được vùng Thuận Hóa (1774), ông nhận lệnh vào đấy giúp việc cho viên tướng này. Năm 1779, ông đỗ Hội nguyên (Hoàng giáp), cùng khoa với Phạm Quý Thích dưới triều vua Lê Hiển Tông. Ông là anh vợ của Nguyễn Hữu Chỉnh, từng giữ các chức vụ Giám sát ngự sử đạo Hải Dương, Thiêm sai, Đông các Đại học sĩ tại triều. Một thời gian sau, ông được về làm Đốc đồng tại quê nhà (Nghệ An). Khi quân Tây Sơn ra Bắc Hà (1786), ông không ra giúp mà lánh vào rừng rồi mất cùng năm đó, ôm theo lòng trung với nhà Lê lúc chỉ mới 47 tuổi.

      Phạm Nguyễn Du có 5 tác phẩm đều bằng chữ Hán, đó là :
         - Thạch Động Tiên Sinh Thi Tập 石洞先生詩集
         - Đoạn Trường Lục 斷腸錄
         - Độc Sử Si Tưởng 讀史癡想
         - Thạch Động Văn Sao 石洞文抄
         - Thạch Động Thi Sao 石洞詩抄

      Sau đây là 3 bài thơ trong Đoạn Trường Lục 斷腸錄; tập thơ khóc vợ làm từ lúc đưa linh cữu vợ xuống thuyền về quê cho đến khi trở lại Thăng Long. Trên đường đi nhằm lúc Tiết Đoan Ngọ nên ông mới xúc động tâm tình làm ba bài thơ thương nhớ vợ có tựa rất dài như sau :"Sơ Ngũ Nhật Trực Đoan Ngọ Tiết Tể Sinh Vi Lễ Nhân Thành Tam Luật 初五日直端午節宰牲為禮,因成三律". Có nghĩa : "Ngày mồng 5 nhằm Tiết Đoan Ngọ, giết thịt làm lễ, nhân đó làm ba bài thơ luật". Ba bài thơ lần lượt như sau :


                                       Bia mộ của Phạm Nguyễn Du

                其一                           Kỳ Nhất
         客中端午蓋年年,    Khách trung Đoan Ngọ cái niên niên,
         此度鰥夫又在船。    Thử độ quan phu hựu tại thuyền.
         文字無神生死骨,    Văn tự vô thần sinh tử cốt,
         江山有恨葬良緣。    Giang sơn hữu hận táng lương duyên.
         他鄉不欲高聲哭,    Tha hương bất dục cao thanh khốc,
         悶思仍逢俗口喧。    Muộn tứ nhưng phùng tục khẩu huyên.
         一段奇愁娘信否,    Nhất đoạn kỳ sầu nương tín phủ ?
         想今已是廣寒仙。    Tưởng kim dĩ thị Quảng Hàn tiên !

                其二                           Kỳ Nhị
         娘今安在在仙鄉,    Nương kim an tại tại tiên hương ?
         此日前年蓋此娘。    Thử nhật tiền niên cái thử nương.
         造化何仇誅淑慧,    Tạo hóa hà cừu tru thục tuệ,
         文章無力起糟糠。    Văn chương vô lực khởi tào khang.
         薄儀草草陳船次,    Bạc nghi thảo thảo trần thuyền thứ,
         暗淚汪汪染柩旁。    Ám lệ uông uông nhiễm cữu bàng.
         岸上白沙流上客,    Ngạn thượng bạch sa lưu thượng khách,
         漠然誰可話衷腸。    Mạc nhiên thuỳ khả thoại trung trường ?

                其三                            Kỳ Tam
         香魂今日定隨吾,    Hương hồn kim nhật định tùy ngô,
         醒不相逢夢又無。    Tỉnh bất tương phùng mộng hựu vô.
         使我必生卿必死,    Sử ngã tất sanh khanh tất tử,
         蓋余為婦妳為夫。    Cái dư vi phụ nễ vi phu.
         江山不可埋愁恨,    Giang sơn bất khả mai sầu hận,
         天地何如儉樂娛。    Thiên địc hà như kiệm lạc ngu.
         心事獨知還獨笑,    Tâm sự độc tri hoàn độc tiếu,
         剩將盃酒輔嗚呼。    Thặng tương bôi tửu phó ô hô !

* Chú thích :
    - Quan Phu 鰥夫 : Chỉ người đàn ông góa vợ hay lớn tuổi rồi mà chưa có vợ.
    - Vô Thần 無神 : Ý nói Không có phép thần thông.
    - Nhưng Phùng 仍逢 : là Không muốn gặp mà vẫn gặp.
    - Nhất Đoạn Kỳ Sầu 一段奇愁 : Không phải là một mối sầu kỳ quặc, mà là một nỗi buồn đăc biệt khác thường.
    - Quảng Hàn Tiên 廣寒仙 : Vốn là tên riêng của Quế Hoa. Theo truyền thuyết Trung Hoa xưa, trên cung trăng có cây Nguyệt Quế, nên cung trăng còn được gọi là "Cung Quế" hay "Cung Quảng Hàn". Như trong thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :
                  Cung Quế có ai ngồi đấy chửa ?
                  Cành đa xin chị nhắc lên chơi !
"Quảng Hàn Tiên" trong bài thơ chỉ mượn ý trên để chỉ "... nàng đã là Tiên ở cung trăng rồi" mà thôi.
                     
    - An Tại 安在 : AN ở đây là Nghi vấn tự, thường dùng để đặt vấn đề, như :
       * AN TẠI ? là "Ở đâu ?"; "Còn ở đâu ?"...
       * AN NĂNG ? là "Sao có thể ?", là "Làm sao có thể được ?"...
    - Tiên Hương 仙鄉 : là Quê hương của tiên, là Cỏi tiên.
    - Thục Tuệ 淑慧 : Hiền thục và thông tuê; Hiền lành và thông minh.
    - Tao Khang 糟糠 : Ta hay đọc nhầm thành TÀO KHANG. TAO là TAO PHÁCH 糟粕 là Cặn bã; KHANG 糠 là Cám, là trấu. Nên TAO KHANG là phần cặn bã của hạt lúa sau khi đã xay thành gạo, tức là cám và tấm mẳn. Ngày xưa, chỉ có nhà giàu sang khá giả mới được ăn cơm, còn nhà nghèo khó chỉ ăn tấm mẳn mà thôi. Nên thành ngữ TAO KHANG CHI THÊ 糟糠之妻 là Người vợ tấm mẳn, chỉ người vợ cả đã cùng chồng sống qua những ngày nghèo khổ khó khăn của lúc ban đầu. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Hậu Hán Thư như sau :
     Đầu đời Đông Hán, Quang Võ Đế Lưu Tú trọng dụng thị thần là Tống Hoằng, phong làm Thái Trung Đại Phu. Chị của Lưu Tú ở góa lâu ngày lại phải lòng Tống Hoằng, nên Lưu Tú muốn gả chị mình cho Tống Hoằng, bèn hỏi Hoằng về phép giao tế ở đời với cái nhìn "Giàu đổi bạn, Sang đổi vợ" như thế nào?. Hoằng đáp là : "Bần tiện chi giao bất khả vong, TAO KHANG chi thê bất hạ đường 貧賤之交不可忘,糟糠之妻不下堂". Có nghĩa :"Những người bạn lúc ta còn nghèo hèn thì không thể quên; Người vợ tấm mẳn lúc nghèo khó thì không thể bỏ được". Quang Võ Đế Lưu Tú nghe xong bèn thôi, không dám ép Tống Hoằng lấy chị của mình nữa. Nên...
     TAO KHANG chỉ người vợ gắn bó với ta từ thuở nghèo hèn, nói chung là vợ lớn, vợ cả thì không thể bạc đãi được. Trong Truyện Kiều, khi đã được Thúc Sinh chuộc về từ lầu xanh, Thúy Kiều cũng biết thân phận lẻ mọn của mình, nên khuyên Thúc về thăm vợ cả là Hoạn Thư. Cụ Nguyễn Du đã viết nên tình cảnh lúc bấy giờ là :
                        Tin nhà ngày một vắng tin,
                  Mặn tình cát lũy, nhạt tình TAO KHANG.


           
    - Bạc Nghi Thảo Thảo 薄儀草草 :BẠC NGHI là Nghi thức đạm bạc; THẢO THẢO là làm hoa loa đơn giản.
    - Trần Thuyề Thứ 陳船次 : TRẦN là Trần Liệt 陳列 là bày ra; THUYỀN THỨ là Thuyền dùng cho khách thuê để đi xa.  
    - Ám Lệ Uông Uông 暗淚汪汪 : ÁM LỆ là Khóc thầm, khóc không ai hay; UÔNG UÔNG là chỉ nước mắt chảy ròng ròng không dứt.
    - Mạc Nhiên 漠然 : là Chểnh mảng, coi thường, là Thờ ơ, hờ hững.
    - Hương Hồn 香魂 : là "Hồn thơm". Cái gì đó của các bà các cô hay được thêm chữ "HƯƠNG là Thơm" vào. Như "Xe Hương, Nhà Hương, Hương Khuê...". Trong Truyện Kiều khi khuyên Thúc Sinh về thăm Thúc ông rồi thì Hoạn Thư cũng lên "xe hương" về nhà mét má :
                         Gió câu vừa gióng dặm trường,
                     XE HƯƠNG nàng cũng thuận đường quy ninh.
      Hay như khi Thúc Sinh buồn vì ngỡ Thúy Kiều đã chết nên về thăm Hoạn Thư, thì...
                        NHÀ HƯƠNG cao cuốn bức là,
                    Buồng trong kíp gọi nàng ra lạy mừng.
      Hay như khi Thúc Sinh nghe tiếng đến lầu xanh tìm Thúy Kiều :
                        Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi,
                    Thiếp danh tìm đến HƯƠNG KHUÊ gởi vào.
    - Ngô 吾 : Danh xưng Đại từ ngôi thứ nhất là Tôi, Ta, Tao...
    - Nễ 妳 (你) : Danh xưng Đại từ ngôi thứ hai là Mày, Anh, Chị, Ông, Bà...
    - Nương : Nàng, Đại từ Phiếm chỉ ngôi thứ 2 gọi chung phái nữ còn trẻ.
    - Khanh : Đại từ Phiếm chỉ ngôi thứ 2 gọi chung những người yêu dấu, như Vua gọi bề tôi; Chồng gọi vợ...
    - Lạc Ngu 樂娛 : là Vui chơi, giải trí, thoải mái.

* Nghĩa các bài thơ :
                      Ngày Mồng 5 gặp Tết Đoan Ngọ, giết thịt làm lễ, 
                              nhân đó làm ba bài thơ luật 
    - Bài 1.
            Hết năm nầy đến năm khác, Tết Đoan Ngọ ta đều ở nơi đất khách; Năm nay người khách góa vợ nầy lại ở trên thuyền khách. Chữ nghĩa không có thần thông làm sống lại nắm xương đã chết; Núi sông thì lại có cái oán hận là đã chôn đi một mối duyên lành. Nơi tha hương nầy ta không muốn cất cao giọng khóc lóc kể lể; Cõi lòng sầu muộn lại gặp phải người đời lải nhải huyên thuyên. Một mối sầu đặc biệt khác thường của ta nàng có tin không ? Nghĩ rằng nay thì nàng đã là tiên ở trên cung Quảng Hàn rồi !
    - Bài 2.
            Nay nàng đang ở đâu, ở tại quê hương của tiên chăng ? Ngày này năm trước nàng vẫn còn là nàng ở đây. Tạo hóa có thù oán gì sao lại giết đi người thông minh hiền thục; Văn chương thì đành bất lực không thể vực dậy người vợ tao khang. Lễ nghi đạm bạc qua loa bày ra trên chiếc thuyền mướn nầy; Dòng lệ âm thầm ngổn ngang nhuốm cả bên cạnh linh cữu. Cát trắng trên bến và những người khách trên sông đều thờ ơ hờ hững biết ai là kẻ để gởi gắm cõi lòng đây ?!
    - Bài 3. 
            Hương hồn của nàng hôm nay chắc chắn đã theo ta, nhưng sao tỉnh cũng không gặp được nhau mà mộng thì cũng chẳng có ?! Khiến cho người phải sống là ta và người phải chết là nàng; Phải chi cho ta được làm vợ và nàng làm chồng (để ta chết thay cho nàng). Núi sông không thể chôn vùi được nỗi hận sầu; Trời đất sao lại tiếc chi những điều vui thú của con người. Nên tâm sự của ta chỉ một mình mình biết một mình mình cười; Thôi thì hãy đem chén rượu thừa nầy hòa lẫn vào tiếng than "Ô Hô" não nuột mà thôi !

* Diễn Nôm :
            Sơ Ngũ Nhật Trực Đoan Ngọ Tiết Tể Sinh Vi Lễ Nhân Thành Tam Luật


               
                              Kỳ Nhất
                 Đoan Ngọ năm năm nơi đất khách,
                 Năm nay góa vợ lại đi thuyền.
                 Văn thơ chẳng thể hồi sinh tử,
                 Sông núi hận vì táng mối duyên.
                 Đất khách nên khó bề khóc lóc,
                 Lòng sầu bởi miệng thế huyên thuyên.
                 Nỗi buồn khác chúng nàng tin chứ ?
                 Cung Quảng chắc nàng ở cõi tiên. 

                          Kỳ Nhị
                 Nay nàng đâu tá, cõi tiên chăng ?
                 Năm trước hôm nay hãy thấy nàng.
                 Tạo hóa thù chi chôn Thục nữ,
                 Văn chương bất lực dứt tao khang.
                 Trước thuyền đạm bạc bày nghi lễ,
                 Linh cửu âm thầm lệ ngổn ngang.
                 Cát trắng khách sông hờ hững đó,
                 Cùng ai bày tỏ nỗi can tràng !?

                           Kỳ Tam
                 Vẫn biết hương hồn ta mãi mang,
                 Không mơ chẳng gặp chỉ mơ màng.
                 Khiến ta phải sống nàng thì thác,
                 Phải vợ là ta, chồng thế nàng.
                 Sông núi khó chôn bao sầu hận,
                 Đất trời sao tiếc những hân hoan.
                 Nỗi lòng mình biết mình cay đắng,
                 Chén rượu dư thừa lẫn khóc vang !

       Lục bát :
                          Kỳ Nhất
                 Đất khách Đoan Ngọ năm năm,
                 Năm nay góa vợ nằm khoang thuyền về.
                 Hồi sinh chữ nghĩa khó bề,
                 Núi sông chôn chết hận thề mối duyên.
                 Quê người khó thể khóc lên,
                 Lòng sầu lại gặp huyên thuyên miệng đời.
                 Sầu khác chúng, nàng tin rồi ?!
                 Cõi tiên cung Quảng nàng thời thấu chăng !?

                          Kỳ Nhị
                 Nàng ở đâu, ở cõi tiên ?
                 Ngày này năm trước còn nguyên dáng hình.
                 Tạo hóa ghét chi gái lành,
                 Văn chương bất lực sao đành tao khang.
                 Qua loa đạm bạc tế nàng,
                 Ngổn ngang dòng lệ bàng hoàng niềm tây.
                 Khách trên sông, cát trắng này,
                 Hững hờ khó nỗi giải bày tâm can !

                          Kỳ Tam
                 Hương hồn nàng chắc theo ta,
                 Chẳng mơ chẳng gặp chẳng thà chẳng mong.
                 Nàng chết ta lại thong dong,
                 Phải ta là vợ, nàng chồng thay ta.
                 Núi sông khó lắp hận xa,
                 Đất trời sao lại nhạt nhòa niềm vui.
                 Nỗi lòng mình biết mình cười,
                 Chén thừa dạ cũng ngậm ngùi "ô hô" !

        Qủa là những lời thương khóc vợ một cách chí tình. Cả núi sông chữ nghĩa văn chương đất trời... đều được ông mang cả vào trong nỗi buồn mất vợ một cách ấm ức của mình; thậm chí còn muốn được làm vợ để chết thay cho vợ, và vợ được làm chồng mà sống để thấu hiểu cho nỗi bi thương sầu não của người cô độc lẻ loi khi mất đi người bạn đời như thế nào !
        ĐOẠN TRƯỜNG LỤC là tập thơ đặc sắc của Phạm Nguyễn Du khóc người vợ trẻ  đang ân ái mặn nồng của ông. Bà là Nguyễn Thị Đoan Hương, người làng Đông Hải, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An, là chị ruột của Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Bà làm vợ Phạm Nguyễn Du từ năm 16 tuổi, sinh sáu bận, nuôi được hai con, đến hai mươi chín tuổi thì mất. ĐOẠN TRƯỜNG LỤC 斷腸錄 là "Ghi chép nỗi đau đứt ruột" gồm 14 bài văn tế, 49 đôi câu đối cúng và phúng điếu, 36 bài thơ tả nỗi nhớ thương đối với người vợ trẻ mà cũng là một "Hồng Nhan Tri Kỷ" của ông.

       Hẹn bài dịch tới !

                                                        杜紹德
                                                 ĐỖ CHIÊU  ĐỨC




* Đôi câu đối trước đền thờ của cụ Phạm Nguyễn Du như sau :
               (đọc theo cổ văn từ phải sang trái)

                石 峝 科 名, 千 古 留 傳 文 化 跡;
          Thạch Động khoa danh, Thiên cổ lưu truyền văn hóa tích;
                鄧 田 詩 子, 萬 年 香 火 廟 堂 存。
          Đặng Điền thi tử, Vạn niên hương hỏa miếu đường tồn.
* Có nghĩa :
         - Khoa danh của ông Thạch Động, ngàn đời sau vẫn còn lưu truyền lại vết tích văn hóa này;
         - Thi nhân của đất Đặng Điền, muôn năm sau miếu đường vẫn còn tồn tại hương hỏa mãi mãi !

* Diễn Nôm :
           - Khoa danh THẠCH ĐỘNG, Văn hóa ngàn đời lưu vết tích;
           - Thi sĩ ĐẶNG ĐIỀN, Muôn năm hương hỏa mãi trường tồn.

                                                                                                
                                                  ĐỖ CHIÊU ĐỨC kính

* Theo tài liệu của Thi Viện và hình ảnh của Trần Mạnh Cường trên mạng.

                              

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

KIẾP SAU - THƠ LÊ KIM THƯỢNG



 KIẾP   SAU 

 

1. 

 

Yêu nhau từ thuở còn thơ

Nào ai biết được… ai ngờ mai sau…

Ru em ngày đã đổi màu

Lời ru có những “… trái sầu rụng rơi…”

Cà phê giọt đắng đọng rơi

Giọt buồn đen thẫm cạn lời thủy chung

Yêu thương dẫu có vô cùng

Nào ai biết được… ngàn trùng nhớ mong

Trái tim rạn vỡ trong lòng

Tình xa, tình lỡ… xoay vòng buồn thiu

Thương nhau ngày ấy thật nhiều

Không duyên, không nợ hắt hiu tình buồn

Thôi đành “…cắt dứt dây chuông…”

Ai thương, ai nhớ, ai buồn, ai say

Cuộc tình mòn mỏi hao gầy

Áo hồng chưa mặc thì nay mất rồi…

 

 

2. 

 

Dù cho ước hẹn thề bồi

Nợ duyên không có, yêu rồi vẫn xa

Tình đầu đâu dễ phôi pha

Cố quên càng nhớ, cố xa càng gần

Lời tình thề hẹn bao lần

Lời tình trôi giữa Sông Ngân mất rồi

Bao năm trông ngóng phương trời

Quầng thâm đôi mắt… nhớ người mai sau

Những chiều trời đổ mưa mau

Nhìn mưa lặng nhớ một câu thơ buồn

Làm sao trời hết mưa tuôn

Để cho nước mắt… ngược nguồn về tim

Bóng em biền biệt khuất chìm

Đã đi… đi mất biết tìm về đâu

Nợ em một Khối Tình Sầu

Tìm em tôi trả…kiếp sau Luân Hồi…   

          

 

            Nha Trang, tháng  06. 2026

                 LÊ KIM THƯỢNG


Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

NẾU ĐIỀU CÓ THẬT - THƠ NGUYỄN VĨNH LONG


 Hoạ sĩ Nguyễn Trung: thế hệ vàng trong ...

    Tranh Nguyễn Trung



NẾU ĐIỀU CÓ THẬT

viết cho ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3 -

  

Nếu có thật cuộc luân hồi số phận

sẽ vì em tôi đón nhận mai này

trong đôi mắt đâu muôn vàn vết cắt

lưỡi dao tình ngọt lịm những bàn tay

 

Nếu có thật cuộc trăm năm đã định

sẽ vì em tôi ngồi lại hiên nhà

đợi cuộc tình dù chẳng hứa hẹn xa

theo chiếc lá mùa rơi vàng cuối ngõ

 

Nếu có thật cuộc đời là bể khổ

sẽ vì em tôi đắm giữa muôn trùng

tiếc chi ngày theo vạt nắng mong manh

trên môi đã một lần thôi cứ ngỡ

 

Nếu có thật đường chỉ tay lầm lỡ

sẽ vì em tôi đi hết con đường

bận chi lòng dù hằn vạn vết thương

tôi vẫn đợi ngày hương tàn phấn nhạt

 

Nếu có thật cõi niết bàn cực lạc

sẽ vì em tôi chọn thế gian buồn.!


 

  NGUYỄN VĨNH LONG

Nguồn: Thơ Văn Trần Yên Hoà



Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

VỌNG EM - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

Nguyen Trung Artist - Vietnam Art Gallery NGUYEN TRUNG

Tranh Nguyễn Trung


 VỌNG EM


Ta ca xang suốt buổi chiều

Vọng em như thể quá nhiều tơ vương

Mà sao như thể lạ giường

Đúng ta thương nhớ suốt đường trường tôi


Ta quang gánh suốt một đời

Ta luay huay với những lời đắng cay

Ta biết ta trong cõi này

Yêu em vô vọng không ngày không đêm


Ta gọi em suốt đời tôi

Sao trong thiên hạ biết bao nhiêu người

Những tà áo trắng bay bay

Tôi nghiêng ngó mãi rớt qua tay mình


Cũng vì chỉ một em xinh

Nên tôi xin đứng đợi tình. Gọi em

Nên  tôi. Chỉ em là em

Tôi ngơ ngác trong cõi đêm nghìn trùng

Không đêm nào tĩnh cơn khùng

Vào ra trông ngóng não nùng xác thân

Tôi quỳ tôi với ăn năn

Xin cho tôi chút vô thần kiếp tôi


*


Xin thưa với em rằng

Đúng tôi Ngơ Ngác Cõi Người*em ơi


 

TRẦN YÊN HÒA

* tên một tập thơ của Luân Hoán


Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

HOẠ KHÚC SÔNG TIỀN - THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG

 



HOẠ KHÚC SÔNG TIỀN


Thổi lồng lên gió Tháp Mười

Hương Giang, ơi hỡi ơi hời ! Hương Giang!

Chút tình Tôn Nữ nặng mang,

Thương ai lửa thắp tro tàn Huế xưa

Buồn vui thầm gọi khẽ thưa

Nam bình thoảng khúc âm thừa đêm sâu

Giăng đồng nước nổi… sáu câu

Lục bình trôi buổi lãng du… anh về

Bổng trầm buông bắt say mê

Nổi trôi rót giọng xuống xề mà đau!

Mời em nâng một chén đầu

Chạm vào một chút thẳm sâu cõi mình

Trời quê trong vắt vòm xanh

So dây tài tử,so tình mênh mang

Tràm Chim xuân đọng giọt đàn

Ghi ta thánh thót ngổn ngang nỗi người

Đến đây cuối đất cùng trời

Đâu ai nỡ cắt ngang lời ai đâu!

Mời em cạn nốt  chén sau

Hương Giang họa khúc sáu câu sông Tiền!

Trăng rằm soi tỏ Tràm Chim

Lênh loang câu hát buộc duyên nôï vào

Hai dòng sông… hợp lưu nhau

Tạ lòng tri kỷ nặng sâu tình nồng!



TRẦN NGỌC HƯỞNG


TÔI VỀ HỨNG NHỮNG TÀN TRO - THƠ NGUYỄN KHÔI


 

TÔI VỀ HỨNG NHỮNG TÀN TRO

( nhân đọc thơ Ngô Tịnh Yên )

             ———————

“ Lòng tôi ai chẻ những tàn tro bay “

( Thơ Ngô Tịnh Yên )


Tôi về hứng những tàn tro

Bếp than em nhóm củi ngo hôm nào

Nỗi buồn tôi hứng hạnh hao

Sóng sông tôi hứng dạt dào tim bay

Hứng đường ngôi , hứng bàn tay

Nhành gai tôi hứng máu rây đóa hồng

Hứng biệt ly những con đường

Hứng tình yêu để vết thương chẻ lòng

Hứng mưa rơi Lệ mơ mòng

Hứng thơm sợi tóc quấn vòng hồn tôi

Tro tàn tôi hứng tình phôi …



 Hà Nội , 26/12/2012-

NGUYỄN K HÔI


Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

MƠ ĐƯỢC HÁI SEN - THƠ NGUYỄN DU, ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 


Góc Việt Thi :

                         MƠ ĐƯỢC HÁI SEN của NGUYỄN DU    


                       

      Trong "Nam Trung Tạp ngâm 南中雜吟" của cụ Nguyễn Du 阮攸, ghi lại tất cả những bài thơ mà ông đã làm trong thời gian "Làm quan ở kinh đô Huế" (1805-1808). Sau đây là chùm thơ "Hái Sen" nổi tiếng của ông đã được trích làm những bài học thuộc lòng trong văn thơ cổ lớp 11 của chương trình THPT. Kính mời các bạn cùng đọc và thưởng thức hệ thống 5 bài thơ "MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN 夢得採蓮 Mơ Được Hái Sen" của Nguyễn Du sau đây :


                 其一                    Kỳ nhất

             緊束蛺蝶裙     Khẩn thúc kiệp điệp quần

             採蓮棹小艇     Thái liên trạo tiểu đĩnh

             湖水何浺瀜     Hồ thủy hà xung dung

             水中有人影     Thủy trung hữu nhân ảnh


                 其二                   Kỳ nhị

             採採西湖蓮     Thái thái Tây Hồ liên

             花實俱上船     Hoa thực câu thướng thuyền

             花以贈所畏     Hoa dĩ tặng sở úy

             實以贈所憐     Thực dĩ tặng sở liên


                 其三                  Kỳ tam

             今晨去採蓮     Kim thần khứ thái liên

             乃約東鄰女     Nãi ước đông lân nữ

             不知來不知     Bất tri lai bất tri

             隔花聞笑語     Cách hoa văn tiếu ngữ


                 其四                  Kỳ tứ

             共知憐蓮花     Cộng tri liên liên hoa

             誰者憐蓮幹     Thùy giả liên liên cán

             其中有真絲     Kì trung hữu chân ti

             牽連不可斷     Khiên liên bất khả đoạn


                 其五                  Kỳ ngũ

             蓮葉何青青     Liên diệp hà thanh thanh

             蓮花嬌盈盈     Liên hoa kiều doanh doanh

             採之勿傷藕     Thái chi vật thương ngẫu

             明年不復生     Minh niên bất phục sanh


            * Chú thích :

    - Khẩn Thúc 緊束 : KHẨN là chặt; THÚC là buộc. KHẨN THÚC là buộc cho chặt.

    - Kiệp Điệp Quần 蛺蝶裙 : là Quần (váy) có thêu hình bươm bướm bay. Có xuất xứ từ bài thơ "Học Thư 學書"(Học viết thư pháp) của Dương Duy Trinh 楊維楨 đời Nguyên 元 như sau :


             歌徹陽春酒半醺,     Ca triệt dương xuân tửu bán huân,

             玉尖搦管蘸香雲。    Ngọc tiêm nhược quản trám hương vân.

             新詞未上鴛鴦扇,     Tân từ vị thướng uyên ương phiến,            

             醉墨先污蛺蝶裙。    Túy mặc tiên ô Kiệp Điệp Quần !

    Có nghĩa :

                    Hát hết Dương xuân nửa tỉnh say,

                    Tay thon nắn nót phiếm mây trời.

                    Ý thơ chưa viết uyên ương quạt,

                    Mực đã lắm lem váy bướm rồi !


    - Trạo 棹 : Danh từ là Cây dằm, cây chèo; Động từ là Bơi, Chèo, Chống.

    - Xung dung 浺瀜 : Chỉ thế nước rộng và sâu; là Lai láng, là mênh mông.

    - Thái 採 : là Hái. Hai chữ THÁI đi liền nhau THÁI THÁI 採採 có nghĩa Hái rồi lại hái, hái không ngừng tay, hái lia hái lịa...

    - Hoa Thực 花實 : HOA là Bông; THỰC là Trái. Trong bài thơ chỉ Hoa sen và Gương sen.

    - Sở 所 : là Phiếm chỉ Đại từ có nghĩa : Cái mà...; Người mà... như trong bài thơ : SỞ UÝ 所畏 là Người mà ta kính sợ; SỞ LIÊN 所憐 là Người mà ta thương xót.

    - Kim Thần 今晨 : KIM là Hôm nay; THẦN là Buổi sáng. KIM THẦN là Sáng nay.

    - Đông Lân Nữ 東鄰女 : Theo sách LỄ KÝ xưa 《禮記》中有記載 có ghi rằng :「Chủ nhân tựu Đông giai, Khách nhân tựu Tây giai 主人就東階,客人就西階」Có nghĩa : Chủ nhân thì ngồi ở thềm phía đông, còn người làm khách thì ngồi ở thềm phía Tây. Sau dùng rộng ra, gọi ĐÔNG GIA 東家 là Nhà chủ, nhà làm Cái. ĐÔNG LÂN 東鄰 là gọi một cách tôn trọng người hàng xóm là "Ông chủ mé Đông"; Nên ĐÔNG LÂN NỮ 東鄰女 là cô gái xóm đông, là "Cô Hàng xóm" như trong bài thơ "Năm Qua" của thi sĩ J. Leiba thời Tiền chiến :

                  Duyên mình hờ hững hộ duyên ai,

                  CÔ GÁI ĐÔNG LÂN dáng ngậm ngùi...


    - Lân 鄰 : có Bộ ẤP 阝là thôn xóm đứng bên phải, nên có nghĩa là Hàng xóm. Như ĐÔNG LÂN 東鄰 là Xóm Đông; LÂN LÝ 鄰里 là Làng xóm, như Kim Trọng nói với Thúy Kiều :

                       Chàng rằng LÂN LÝ ra vào,

                    Gần đây chớ phải người nào xa xôi ! 


    - Lân 憐 : có Bộ TÂM 忄là lòng dạ đứng bên trái, nên có nghĩa là Thương. Như KHẢ LÂN 可憐 là Đáng thương; LÂN TUẤT 憐恤 là Thương xót, như cụ Nguyễn Du đã viết khi gia đình Thúy Kiều gặp nạn, lúc "Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi", thì :

                       Hạ từ van lạy suốt ngày,

                   Điếc tai LÂN TUẤT, phũ tay tồi tàn.


    - Cán 幹 : là Thân, là Cọng (sen).

    - Khiên Liên 牽連 : KHIÊN là Dẫn, dắt; LIÊN là Liền nhau; Nên KHIÊN LIÊN là nắm níu, là Dây dưa, là Vướng mắc.

    - Doanh Doanh 盈盈 : là Đầy đặn, nhởn nhơ, tả cái dáng vẻ yêu kiều dễ thương của các cô gái; Trong bài thơ chỉ hoa sen tươi đẹp đáng yêu.


               

* Nghĩa các bài thơ :

                                   MƠ ĐƯỢC HÁI SEN

    -Bài 1 :

            Buộc chặc lại cái váy có thêu hình các con bươm bướm; rồi chống chiếc thuyền nhỏ đi hái sen; Nước hồ ôi sao mà mênh mông và chập chờn có bóng hình người in trong nước.

   - Bài 2 : 

           Hái lấy hái để sen Tây Hồ; Hoa sen và gương sen đều cho cả lên thuyền; Hoa sen thì để tặng cho người ta kính trọng, còn gương sen thì để tặng cho người ta thương yêu.

   - Bài 3 :

           Sáng nay lại đi hái sen, cùng hẹn với cô gái ở xóm đông lân; Cũng không biết là cô ấy đến hay không đến, chỉ nghe tiếng cười nói trong lá hoa sen vang vọng lại mà thôi !

   - Bài 4 :

           Cùng biết với nhau rằng phải thương xót hoa sen, nhưng ai là người biết thương xót cả những cọng sen nữa. Vì trong những cọng sen kia còn có những tơ lòng thật, và những sợi tơ đó sẽ vương vấn không bao giờ đứt cả !

   - Bài 5 :

           Ôi, lá sen sao mà xanh xanh như thế kia, và hoa sen lại đẹp một cách yêu kiều dễ thương như thế kia. (Khuyên ai đó) có hái sen thì đừng để tổn thương đến củ sen và ngó sen, (Nếu làm cho thương tổn) thì sang năm sen sẽ không còn sinh sôi nẩy nở nữa !    

                 

* Diễn Nôm :

                     MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN


                              Bài 1.

                   Xắn lại quần cánh bướm,

                   Chống thuyền đi hái sen.

                   Nước hồ sao lai láng,

                   Thấp thoáng bóng người quen !


                              Bài 2.

                   Hái , hái sen Hồ Tây,

                   Hoa gương thuyền chất đầy.

                   Hoa tặng người ta qúy,

                   Gương tặng người thương đây !


                              Bài 3.

                   Sáng nay hái sen hồng,

                   Hẹn cô gái xóm đông.

                   Đến không nào ai biết...

                   Tiếng cười nói trong bông !


                              Bài 4.

                   Cùng biết yêu hoa thôi,

                   Ai người yêu ngó, chồi ?

                   Tơ lòng trong ngó ấy...

                   Vương vấn mãi không thôi !...


                              Bài 5. 

                   Lá sen sao xanh xanh,

                   Hoa sen đẹp xinh xinh.

                   Hái khéo chớ thương tổn,

                   Sang năm sen chẳng sinh !


       Lục bát :

             

                               Bài 1.

                    Xắn quần cánh bướm chập chờn,

                Hái sen chống chiếc thuyền con lửng lờ.

                    Nước hồ lai láng nên thơ,

                Thấp thoáng trong nước mập mờ bóng ai.


                              Bài 2.

                     Hái vội sen của Hồ Tây,

                Thuyền con bỗng chốc đã đầy hoa, gương.

                    Hoa thì tặng người kính thương,

                 Gương thì tặng kẻ ta thường dấu yêu.  


                              Bài 3.

                     Sáng nay đi hái sen hồng,

                  Hẹn cô gái ở xóm đông đi cùng.  

                     Biết không, biết có tới không ?

                 Chỉ nghe cười nói trong lòng hồ sen.     


                              Bài 4.

                     Cùng là thương xót hoa sen,

                 Ai người thương xót ngó sen đâu nào?

                      Trong ngó có tơ thật sao,

                 Vấn vương vương vấn chẳng bao giờ rời.   


                              Bài 5.

                     Lá sen sao khéo xanh xanh,

                 Hoa sen sao khéo xinh xinh khác thường.

                     Hái sen chớ khá tổn thương,

                 Sang năm sen sẽ hết đường xinh tươi !   

     

                    

        Qủa là những vần thơ đầy thi tình họa ý, phác họa nên toàn cảnh của các cô gái hái sen trong mùa hè nóng bức một cách thực tế, hiển hiện trước mắt chớ không phải trong mơ như cụ Tiên Điền "Mơ được hái sen"(Mộng đắc thái liên) nữa, mà là cảnh sống động của các cô nàng hái sen tươi mát cùng tranh kiều diễm với các "Liên diệp thanh thanh" và "Liên hoa doanh doanh" một cách nửa cân tám lạng :


                     Lẫn trong ao vẳng tiếng cười,

                  Nghe ca mới biết có người hái sen !   


         Qủa là một chuổi thơ hái sen rất nên thơ lý thú và tràn đầy thi vị của cụ Nguyễn Du trong khoảng thời gian làm quan ở triều đình Huế.


         Hẹn bài dịch tới  !


                                                 杜紹德

                                                 ĐỖ CHIÊU ĐỨC