CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

MỘT NĂM - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN



 Hoạ sĩ Nguyễn Trung: thế hệ vàng trong thời kỳ cận kháng chiến

TRANH NGUYỄN TRUNG


MỘT NĂM


tháng giêng hoa xoan chưa nở

thì em đã vội lấy chồng

mùi hương còn đang dang dở

rụng đầy xuống cả dòng sông


tháng hai ánh trăng vừa cũ

chênh chao ngõ vắng im lìm

em không còn gì để nói

chỉ màu nắng nhạt qua tim


tháng ba lòng như sao vỡ

trên tà áo đã pha phôi

biết em bên phương trời ấy

vẫn còn đỏ thắm bờ môi


tháng tư mây sa xuống thấp

che dùm anh nỗi đắm say

sao em không nhìn mây nữa

cho anh thấy mái tóc dày


tháng năm bên giàn bông giấy

dáng em hiu hắt thân gầy

giọt sương đọng trên mái tóc

đã vòng theo những thơ ngây


tháng sáu thềm hoang cỏ dại

không còn ai đợi chờ ai

nhủ thầm đừng yêu ngọn gió

sẽ làm sướt nhẹ đôi vai


tháng bảy trên cành lá nhớ

điệu buồn chợt níu hàng cây

hình dung em gầy guột nhỏ

cho anh hơi ấm mỗi ngày


tháng tám ngoài vườn chim hót

ước gì được nằm bàn tay

để nghe nhịp đời ngưng chảy

dù chỉ là một phút giây


tháng chín trời như trở lạnh

vào hồn em chút hoang liêu

anh đi thương mùa thu cũ

khi tình xưa đã xanh rêu


tháng mười mưa rơi sợi nhỏ

ướt môi em ngọt mấy trời

anh qua đứng bên bờ suối

thả trôi bao lời chia phôi


tháng mười một chợt mù tăm

bơ vơ theo tiếng thì thầm

em bảo thôi đừng đợi nữa

kiếp sau mới có trăng rằm


tháng chạp anh về chốn cũ

tìm thương lại thuở ban đầu

một năm trôi qua nhanh quá

bao nhiêu nước chảy qua cầu.



( 27.8.2024 - 9.7.2026 )

HUỲNH LIỄU NGẠN


Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

CÁI NHÌN NHÀN NHÃ VỀ THƠ VĂN TRẦN YÊN HOÀ- CUNG TÍCH BIỀN

 

ẢNH CUNG TÍCH BIỀN


CÁI NHÌN NHÀN NHÃ VỀ THƠ VĂN TRẦN YÊN HOÀ

Tôi đọc khá nhiều, thượng vàng hạ cám. Suy ra một điều, viết văn giản dị, gọn nhẹ rất khó. Những tài năng lớn, người ta viết như đùa. Như một hơi thở. Ở họ, sự giản dị, dung dị đến dị thường. Và, sự tầm thường đến lạ thường.

<!> 

Trần Yên Hòa không tới chỗ đó. Chỗ khác, anh thật thà, nồng nàn một cuộc Rong Chơi, với đời, chỉ là thông qua chữ nghĩa.

Trần Yên Hòa đến với văn chương thi ca, như chiều lên, ta thả một con diều trong gió vàng. Con diều bay. Lây lất rung chuyển thế nào? Tùy tâm thái nơi mỗi người nhìn. Có cái nhìn nhục / tục nhãn đến cái suy tưởng của nhìn tâm nhãn, trí/ tuệ/ huệ nhãn. 

Cái tên người nó cũng vận vào mệnh đời người. Nó nói khá rõ cái thế đời của người đó. Trần Yên Hòa, 3 âm Bình, không có Trắc nào. Một dòng lãng đãng êm trôi.

Theo tôi hiểu, một cái hiểu mạo muội. Trong Hán tự, phát âm theo thuần âm Việt, có nhiều từ Yên đồng âm, khác nghĩa. Trong đó có 2 [hai] từ Yên, nên bàn qua sẽ rõ đôi điều.

Trần Yên Hòa. Yên này không phải Yên là khói [煙]. Yên ba là khói sóng. // Nhật mộ hương quan hà xứ thị / Yên ba giang thượng sử nhân sầu // Chiều hôm chẳng thấy cổng làng, trên sông khói sóng gợi lòng sầu ai. [Hoàng Hạc Lâu - thơ Thôi Hiệu, tôi tạm dịch]

Yên Hòa. Yên đây chính là An [安] ; an lành, an vui, thái an, an cư lạc nghiệp. Theo cấu trúc hội ý của Hán tự, chữ An gồm phần trên là bộ Miên [mái nhà], nửa dưới là chữ Nữ. Con gái ở trong nhà, dưới mái nhà cùng cha mẹ anh em, là an toàn, phúc hạnh.

Yên là một thông vận với An. Tục lệ xưa, có tế  lễ Kỳ yên, chính là lễ Cầu an. Phép nước có Trị yên, nghĩa là trị an.

Hán tự có nhiều thông vận tùy thời mà đọc khác nhau, nhưng cùng nghĩa. Chính/chánh; nghênh/nghinh; yên/an;  mệnh/mạng; thì/thời… Xa xưa, là chánh trị, hành chính, tài chính, hoan nghinh, bình yên, cách mệnh…nay là chính trị, hành chánh, tài chánh, hoan nghênh, bình an, cách mạng, lâm thời…

Nói dài dòng văn tự vậy, để thấy Yên Hòa đây không phải nóng bừng, bốc khói. “Nổi lửa lên em”. Sớm mai chiều tà, xuân lan thu cúc, chỉ là một Trần Yên Hòa một khuôn mặt phúc hậu, luôn tươi vui, giọng nói nhỏ nhẹ, hành tung hiền hòa ổn định, cư xử với anh em có cái chí tình, chân thiện. Ngồi nhậu với Hòa là bổ đổm an lành, chung rượu nghĩa tình, thầm lắng trong mỗi niềm riêng, vắng biệt những lời giận hờn, mắng mỏ đặt điều bôi nhọ sau lưng.

Hiền hòa, nhưng rất mực chịu chơi. Nhậu tới bến. Tận tụy với văn chương. Nhiều chục năm, thiết trang mạng riêng để giới thiệu văn chương cổ kim, đó đây, bạn bè. Trân trọng, lễ phép, nhiều giao tình với anh em.

*

Khi đọc tác phẩm Mẫu Hệ của Hòa, Nguyễn Lương Vỵ đã viết :

 "Mẫu Hệ", với nghệ thuật dẫn truyện lôi cuốn người đọc, tái hiện được hiện thực sinh động bằng bút pháp tỉnh táo nhưng nhạy cảm, nhất là những mẫu đối thoại dung dị nhưng lột tả được tính cách từng nhân vật. Cốt truyện được thu nhỏ trong gia đình của Nại Hiên và Soại, nhưng bối cảnh không gian, thời gian và những nhân vật phụ khác trong truyện, đã cho người đọc hình dung một cách khá rõ nét về những bi kịch của miền Nam trong thời điểm lịch sử đó.

"Mẫu Hệ", tuy chưa đạt tới tầm cao văn chương như nhà văn đã khiêm tốn tỏ bày trong "Lời Mở" ở đầu sách, chỉ là do ngó nhìn bốn phương tám hướng vào thời điểm lịch sử đó mà nhà văn "động lòng viết chơi", nhưng khi đọc xong truyện, gấp sách lại, người đọc vẫn còn rung động tâm can. Nỗi đau vẫn còn đó! Như vậy, nhà văn đâu phải "động lòng viết chơi", mà viết bằng tất cả tâm lực, rung cảm của mình, không phải là "hư cấu" mà trung thực bằng những điều mắt thấy tai nghe của một người vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của giai đoạn lịch sử đầy bi thương ấy. Đây cũng chính là giá trị nhân văn của "Mẫu Hệ" vậy.

[Đọc Lại Mẫu Hệ, Nỗi Đau Còn Đó]

Vào Cõi thơ của Trần Yên Hòa, Phan Tấn Hải đã nhìn với cái nhìn khá tinh tế:

“Đó là một tập thơ, khi bạn mở ra đọc vài trang, sẽ thấy như bị lôi cuốn đi mãi theo dòng ngôn ngữ. Bởi vì, thơ Trần Yên Hòa có nơi không còn là chữ, mà đã là cái gì rất gần gũi với chính bạn. Tuyển tập thơ của anh không chỉ là dấu mốc sáng tạo thi ca Trần Yên Hòa, mà cũng là một tấm gương soi mặt hồn thơ cho một một thế hệ, những người sinh ra và trưởng thành trong một cuộc nội chiến, và đã đào tỵ vào thơ như một thế giới hòa bình bay bổng riêng.

Khi mở ra các trang sách Trần Yên Hòa, tôi tự thấy chính hồn mình hiện ra lơ lửng giữa những dòng thơ của anh. Sức mạnh thi ca của Trần Yên Hòa là, qua thơ, anh hòa nhập với tình tự của hồn nước, với dòng chảy ngôn ngữ của dân tộc. Hãy hình dung thơ như một dòng sông đón nhận trăm suối trôi vào. Thơ Trần Yên Hòa là một dòng sông, nơi đó tôi đứng nhìn thấy cả chân dung dân tộc, có hình tôi, hình anh, hình ảnh cả một dòng chảy dân tộc. Của những năm khốn khó, gian nan, và thơ mộng.

[Đọc Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ của Trần Yên Hòa]

Trần Yên Hòa làm thơ viết văn khá dễ dàng như một thú vui thường nhật. Nhàn nhã bình thản. Tưởng như là không cho thơ văn của mình quảy trên lưng vác trên vai, đội đầu những sứ mệnh, những liên lụy sử lịch, những bụi hồng trần. Nhưng khi tôi tình cờ đọc bốn câu thơ dưới đây, tôi hiểu Trần Yên Hòa không xa cách với cáí tình dân tộc, nỗi cảm hoài với vận mệnh chung của lịch sử và riêng mỗi phận người. Quả là cái rùng mình lạnh toát đêm thâu.

Đêm thức trắng dòng dòng câu cổ lục

Rớt xuống hồn thành giọt lệ ứa khô

Quả đã quá sáu trăm năm Nguyễn Trãi

Trái tim người còn để lại ngàn sau

[Đêm thức trắng nhớ Côn Sơn]

*

Trần Yên Hòa là người bạn vong niên của tôi. Trong cùng một vận mệnh chung, kẻ trước người sau, cùng áo lính, hát vang lừng “Ngày bao hùng binh tiến lên”, quân trường Thủ Đức; cùng bầm dập trước con mảnh thú thời cuộc, chinh chiến, bạn thù, tư tưởng, những hy vọng khôn cùng và bao thất vọng cháy lòng. Cùng một quê hương xa hút tâm trạng Thôi Hiệu, cùng một tha hương trên đất Mỹ. Cùng một nhớ nhung cuống rốn chưa lìa nơi Đất tổ. Chính thế, chúng tôi có rất mực tương phùng trong chữ nghĩa. Có tâm giao rõ thực, tận lòng cuộc đời thường.  Cùng trong đêm đất Mỹ nhớ “Trăng Sài Gòn” / Du Tử Lê”. Cùng một nòi tình, đêm bỗng dài dặt những mộng đời. Nói theo cách khuynh loát ngôn ngữ Phạm Công Thiện, “Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất”.

Có thể, để chấm dứt bài viết, nên ghi lại một nhận xét của Du Tử Lê, một nhà thơ nhìn về nhà thơ, như một kết luận:

“Ở mặt nào của quá khứ hay hiện tại, thơ, văn Trần Yên Hòa cũng cho thấy tính nồng nàn, tha thiết, chân thực với từng cảnh đời. Có người cho rằng, Trần Yên Hòa không chủ tâm làm văn chương, hiểu theo nghĩa không hề tô vẽ thêm cho mọi trạng huống đời sống ông kinh qua - Luôn cả những phân cảnh hư cấu, cho thấy, ông giống như một người ngoài cuộc… Bởi vì căn bản, văn chương của ông, là những trang nhật ký, viết riêng cho mình, trước nhất. Luôn cả”.

(Du Tử Lê, nhật ký đời sống trong thơ, văn Trần Yên Hòa)



CUNG TÍCH BIỀN

Thị Trần Giữa Đàng

6- 2022.


Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

LỜI HẸN - HUỲNH TÂM HOÀI

 


May be an image of one or more people and text that says 'Ở xα nhau... nhưng còng luôn Hen một ngày không xa, ta chung một mái nhà, sống bên nhau đến hết cuộc Cu CALIFORNIA Khoáng sdich 2,800 miles FLORIDA California Anh oi! Chiều nay nắng đẹp, nhưng lòng nhồ anh. bên nhau, Mang ngày mình uống chung tách trà, ngắm hoàng hôn... Em yeи! Đém nay gió mát, anh lại nhớ nhiêu Ráng giữ sức khỏe nhé, ngày ây minh không xa nnoM Hua... Florida Hẹn ngày ẹgày... về...'


LỜI HẸN.

(Chuyện hai người bạn già)
Chúng tôi là hai người bạn gìa,hai người quen nhau từ trước qua văn chương. Ban đầu chỉ là những người bạn chữ nghĩa, đọc bài của nhau, đôi khi trò chuyện và chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Khi bà biết tôi sống một mình, còn bà cũng đã trải qua một cuộc hôn nhân không trọn vẹn và sống một mình như tôi, có lẽ từ sự cô lẻ ấy mà chúng tôi dần gần nhau hơn.
Tôi ngỏ lời. Sau vài lần đắn đo, bà nhận lời.
Chúng tôi sống ở hai tiểu bang xa nhau nên mỗi năm chỉ gặp được vài lần. Những cuộc gặp ở tuổi này chẳng cần những lời yêu đương ồn ào. Chỉ cần được ngồi cạnh nhau, cùng ăn một bữa cơm, uống một tách cà phê, kể nhau nghe đôi chuyện đời thường cũng đã đủ ấm lòng.
Bà hứa với tôi rằng khi về hưu, sau khi thu xếp xong công việc và những bổn phận còn lại, bà sẽ về sống bên tôi đến cuối đời.
Tôi hiểu và không muốn thúc giục. Bởi ở tuổi chúng tôi, ai cũng có một cuộc đời phía sau, có gia đình, trách nhiệm và những điều không thể nói bỏ là bỏ. Tôi chỉ mong một ngày bà về không phải vì thương hại tôi cô độc, cũng không phải vì nghĩ mình có trách nhiệm chăm sóc tôi, mà đơn giản vì bà muốn sống bên tôi.
Như thế mới là tình.
Nếu ngày ấy đến, tôi cũng mong bà hiểu rằng trong căn nhà này vẫn còn những kỷ niệm của tôi . Có những tấm hình tôi vẫn giữ, những món đồ tôi không thể bỏ và đôi khi có những phút tôi ngồi lặng nhớ về một đoạn đời xưa.
Nhưng ký ức không phải là sự phản bội hiện tại.
Chúng tôi già rồi, ai cũng có quá khứ. Nếu một người thương tôi ở tuổi này, tôi mong người ấy thương cả con người tôi hôm nay lẫn những dấu vết của cuộc đời đã làm nên tôi.
Bởi chúng tôi đâu còn là hai tờ giấy trắng gặp nhau.
Chúng tôi giống như hai cuốn sách đã viết gần hết, mỗi cuốn đều có những chương vui buồn và những trang không bao giờ muốn quên. Nếu một ngày được sống chung dưới một mái nhà, có lẽ chỉ là lúc hai cuốn sách ấy cùng viết thêm một chương cuối.
Tôi không mong một tình yêu màu mè,rực rỡ. Tôi chỉ mong một tình yêu bình yên. Buổi sáng có hai tách cà phê trên bàn, bữa cơm có hai người ngồi đối diện. Khi còn khỏe thì cùng nhau đi; một người yếu thì người kia đi chậm lại; nếu cả hai cùng yếu thì nắm tay nhau mà bước.
Ở tuổi này, hạnh phúc đâu còn đo bằng năm tháng.
Nếu trời cho chúng tôi mười năm, tôi quý mười năm. Nếu chỉ còn năm năm, tôi quý năm năm. Và nếu ngắn hơn nữa, tôi vẫn quý đoạn đời ấy.
Tôi vẫn chờ bà.
Không thúc giục, nhưng có mong.
Và đôi khi nhìn tách cà phê một mình trên bàn, tôi lại nghĩ:
Rồi một ngày, tôi sẽ pha hai tách.
Một cho tôi.
Một cho bà.
Nếu ngày ấy thật sự đến, có lẽ tôi chỉ cần nói:
Cảm ơn bà đã về.”


HTH

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

THƯƠNG MÃI CHỖ EM NGỒI - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN



 Image



THƯƠNG MÃI CHỖ EM NGỒI

 

anh mới về thành phố

khung cửa sổ ngủ yên

tiếng chim rơi bên tổ

làm nhớ hoài không quên

 

cây mù u rụng lá

bên góc thềm hoang liêu

để màu trời mệt lả

khi nắng vàng đổ xiêu

 

nhà bên còn đèn sáng

hắt bóng một góc phòng

hình như nghe trong gió

ánh mắt chìm sập đông

 

mùi dạ hương đã dịu

thì thầm bên gối chăn

thấy bờ môi nghiêng lại

chảy vào hồn bâng khuâng

 

như chiếc lá thu phân

làm mùa lên mái tóc

em thả xuồng căn phần

một giọt đời mưa móc

 

chiều như xa nửa buổi

mà ngõ về vang ngân

hỏi lòng ai đã tối

mà nép tình giữa sân

 

đợi em ngày hai bữa

con đường chia hai nơi

bên kia thì nắng ráo

bên này thì mưa rơi

 

làm lòng anh bối rối

để dòng đời lạc trôi 

mười năm dài mấy lối

thương mãi chổ em ngồi.

 


HUỲNH LIỄU NGẠN

7.7.2026


Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

NGƯỜI QUÊ - THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


NGƯỜI  QUÊ

 

1. 

 

Quê nhà xa khuất sơn khê

Ai đi xa cũng mong về với quê…

Cỏ xanh ken lối đi về

Đình làng xưa cũ, đôi Nghê đứng chầu

Sông dài nước chảy về đâu

Sóng xô một khúc nhạc sầu miên man

Trời xanh mây trắng lúa vàng

Cánh đồng no gió mênh mang nắng hồng

Cha còn vất vả trên đồng

Mẹ còn lặn lội long đong tháng ngày

Đường về gánh lúa chiều nay

Áo em thôn nữ gió bay nhẹ nhàng…

Rượu quê uống cạn lại tràn

Người quê say giữa thênh thang đất trời

Thật thà, chân chất người ơi

Hiền hòa, giản dị một đời bình an… 

 

 

2. 

 

Mấy mùa gió chướng, mưa đan

Nhớ hình bóng Mẹ, hai hàng lệ rơi

Tôi đi chưa trọn kiếp người

Nợ Người chữ Hiếu, nợ đời chưa xong

Vọng Phu đá núi trông chồng

Lưng còng như dáng Mẹ trông con về…

Tôi người viễn xứ xa quê

Nhớ quê nỗi nhớ bộn bề rứt ray

Nhớ quê còn một chút này

Rưng rưng, nghèn nghẹn, đong đầy nhớ mong

Nhớ mùa nước lũ mênh mông

Dòng sông chảy nặng, đỏ hồng phù sa…

Đi tìm hạnh phúc quanh ta

Hừng đông nắng nhẹ, chiều tà nắng khan

Cuộc đời bao nỗi gian nan

Sống sao trọn vẹn, chứa chan nghĩa tình…


           

            Nha Trang, tháng 09. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

VỀ HUẾ THẢ OM - TRẦN KIÊM ĐOÀN

 


VỀ HUẾ THẢ OM

Trong gần nửa thế kỷ phiêu bạt, tôi đã có dịp tìm đến và cúi nhìn bóng mình trên nhiều dòng sông được xem là “thiêng” của thế giới: Mississippi mênh mang, Seine thơ mộng, Thames trầm mặc, Hoàng Hà cuộn màu lịch sử, Hằng Hà chở nặng đức tin, Tiền Đường dậy sóng, Nile âm thầm nuôi dưỡng một nền văn minh… Chỉ riêng Amazon: dòng sông hùng tráng và bạo liệt bậc nhất hành tinh; là tôi chưa một lần được thấy.
Nhưng sông lớn đến đâu cũng chỉ chảy qua miền đất lạ. Có những dòng sông không cần nổi tiếng mà vẫn chảy suốt một đời người. Chúng không nằm trên bản đồ thế giới, mà nằm trong bản đồ tâm tưởng; càng đi xa càng thấy gần, càng lớn tuổi càng nghe tiếng nước gọi về.
Với tôi, đó là sông Bồ quê Cha và sông Hương xứ Huế; nơi tôi từng bước trưởng thành mở rộng trí óc và nhân rộng hướng đời.
Tôi đã từng dầm mình trong nước sông Bồ để thương, từng vốc nước sông Hương để nhớ. Sông Bồ đục trong theo mùa, chở phù sa qua những bãi bờ Nam Thanh, An Thuận, Hương Cần, Liễu Cốc Hạ, Cổ Lão, Dương Sơn… sông Hương thành Huế của tôi xanh một màu gần như hư ảo, đi ngang kinh thành mà vẫn giữ dáng thong dong của một dòng sông biết mình đẹp.
Sông Bồ để vớt om.
Sông Hương để thả om.
Răng lạ rứa hè?
Chỉ bốn tiếng thôi mà nghe đã ra giọng Huế. “Răng lại rứa?” không hẳn chỉ là “Why is that?”, “Why so?” hay “Why did that happen?”. Trong câu hỏi ấy còn có chút ngạc nhiên, chút trách yêu, chút ngậm ngùi và cả một nụ cười rất nhẹ. Người Huế hỏi mà như không cần trả lời; bởi đôi khi câu trả lời đã nằm sẵn trong giọng nói.
Cũng như “Thả Om”: nghe qua tưởng chỉ là một động tác bình thường, nhưng bước vào thế giới Huế, nó lại mở ra cả một miền văn hóa.
Om là chiếc nồi đất nhỏ, thường dùng để nấu cơm, nấu cháo, kho cá. Một vật dụng quê mùa, khiêm nhường, quanh năm nằm bên bếp lửa. Om không quý như đồ ngự dụng, không sang như chén kiểu, không được đặt trong tủ kính để người đời ngắm nghía. Nhưng chính chiếc om đất ấy đã nuôi sống biết bao mái nhà, giữ hơi ấm cho biết bao phận người. Bởi thế, khi lâm vào cảnh tận cùng tuyệt vọng, người Huế chỉ còn biết kêu lên: “Rứa là xong om rồi đời!”
“Om” và “niêu” đều là nồi làm bằng đất nung, nhưng khác nhau đôi chút về cách gọi, hình dáng và công dụng:
Niêu là từ phổ thông trên toàn quốc, thường chỉ chiếc nồi đất nhỏ, thân tròn thấp, miệng tương đối rộng, nắp đậy kín; chủ yếu dùng nấu cơm.
Om là tiếng cổ và tiếng địa phương miền Trung, đặc biệt quen thuộc ở Huế. Om thường có thân tròn sâu, bụng phình, miệng thu nhỏ hơn; dùng nấu cơm, kho cá, rim thịt hoặc sắc thuốc. Om Phước Tích nổi tiếng từng được dùng để nấu cơm tiến vua nên còn gọi là “om ngự”.
Nói gọn lại thì là:
Niêu là tên gọi phổ thông; om là tên gọi đậm chất Huế.
Niêu thiên về nấu cơm; om có công dụng rộng hơn.
Trong đời sống Huế xưa, hai chữ đôi khi được dùng thay nhau. Nhưng “om” mang hồn quê và sắc thái văn hóa rõ hơn: nghe chữ “om” là gợi đến bếp lửa, làng gốm Phước Tích và bữa cơm xứ Huế.
Cơm niêu xứ Bắc nên đổi tên thành Cơm Om xứ Huế.
Thả om, theo nghĩa đen, là buông chiếc om xuống nước.
Nhưng người Huế có tài làm cho một việc nhỏ trở thành một câu chuyện dài; đem cái bình thường phủ lên một lớp sương huyền thoại, để khi sương tan rồi, lòng người vẫn còn vương vấn.
Chiều nay, 25 - 8 - 2026, chúng tôi được vợ chồng bạn Vinh và Tôn Nữ Cẩm Tú mời họp mặt ở “THẢ OM VIÊN” (THA OM GARDEN: DRIFTING POT GARDEN) 12/12 Nguyễn Phúc Nguyên Huế. Cụm từ hay nhóm chữ giới thiệu tên riêng và địa chỉ này là do Trí Tuệ Nhân Tạo AI cung cấp khi tôi lạc đường và hỏi Chat GPT đó nhé.
Một buổi chiều “Thả Om” không bị trôi mất chi cả mà được vớt lại cả hàng chục món ăn Huế Cột Cờ toàn ròn do chủ nhân biến tấu tài hoa từ sản vật địa phương và cây trái trong vườn.
Cuộc họp mặt đã thú vị; tinh thần Huế Thả Om lại càng thú vị hơn.
Theo giai thoại lưu truyền ở vùng Kim Long mà tôi được nghe chàng Bá Vinh một nghệ nhân tài hoa và Một Nửa Bên Tê của chàng là nàng Cẩm Tú ; một Tôn Nữ vắng bóng Hoàng Thành kể lại, chuyện xảy ra vào thời vương triều Nguyễn đã thoái trào dưới bóng chế độ thực dân Pháp.
Thuở ấy, nhiều gia đình hoàng phái không còn quyền thế và sản nghiệp như xưa. Cung điện đã xa, bổng lộc không còn, nhưng phong thái vương giả vẫn chưa dễ gì rời khỏi nếp sống. Nhà có thể nghèo, áo có thể cũ, bữa ăn có thể đạm bạc, nhưng cái “lề” thì vẫn phải giữ. Giấy đã rách mà đường gấp vẫn còn nguyên.
Một buổi chiều Rằm tháng Bảy, có vị vương tôn ở miệt Kim Long, trong nhà chỉ còn chút gạo đủ nấu một om cháo loãng. Khi trời nhá nhem, “Mệ” mang chiếc om xuống bến sông Hương rửa. Chẳng may, một người hàng xóm có phần tọc mạch đi tới, cất tiếng hỏi:
“Mệ đem om chi xuống rứa?”
Không muốn người ta nhìn thấy đáy om, càng không muốn ai biết bữa chiều của mình chỉ có một chút cháo nghèo, Mệ không phân bua, cũng chẳng than thở. Mệ chỉ lặng lẽ buông tay.
Chiếc om đất rời khỏi bàn tay, chạm mặt nước rồi chầm chậm trôi theo dòng sông.
Một gia sản cuối cùng đã được thả đi để giữ lại một điều không thể cầm nắm: lòng tự trọng.
Chuyện thật đến đâu, chẳng ai dám quả quyết. Giai thoại vốn không phải là sử ký. Nhưng có những câu chuyện không cần đúng từng chi tiết mà vẫn đúng đến tận đáy tâm hồn của một vùng đất. “Thả Om” là một câu chuyện như thế.
Trong khoảnh khắc ấy, cái nghèo được giấu kín, thể diện được giữ nguyên, còn nỗi buồn thì gửi lại cho sông Hương. Đó là một dáng vẻ vừa đáng thương, vừa đáng kính; vừa kiêu hãnh, vừa ngậm ngùi. Có chút phù hoa của một thời đã khuất, nhưng cũng có khí tiết của người không muốn đem cảnh ngộ riêng mình làm phiền đôi mắt thế gian.
Người ngoài có thể cho rằng đó là sĩ diện. Người Huế lại hiểu đó là lòng tự trọng. Giữa sĩ diện và tự trọng đôi khi chỉ cách nhau một làn nước mỏng. Sĩ diện là giữ cái nhìn của người khác; tự trọng là giữ phẩm giá trong chính mắt mình. Vị vương tôn nghèo kia có lẽ mang cả hai. Nhưng chính sự pha trộn không hoàn toàn rạch ròi ấy mới làm nên con người thật, và cũng làm nên cái “rất Huế”.
Huế xưa sống nhiều bằng uyển ngữ. Nghèo không nói là nghèo, chỉ bảo “nhà tui còn cực!” Buồn không nói là buồn, chỉ thở dài: “Răng mà lạ rứa tề!” Thương ai không dễ nói rằng thương, chỉ hỏi một câu: “Đi mô mà lâu rứa?” Trách ai cũng không nỡ trách thẳng, chỉ buông nhẹ: “Răng ri hè…”
Ngôn ngữ Huế không đi thẳng như đường tên bắn. Nó quanh co như lối vào nhà vườn, phải qua bình phong, qua hàng chè tàu, qua giàn hoa giấy rồi mới đến hiên nhà. Người chưa quen dễ thấy cầu kỳ; người đã hiểu mới hay cái quanh co ấy không hẳn để che giấu, mà để tránh làm đau lòng nhau.
Huế xưa quý sự kín đáo. Nhà giàu không phô của, người sang không nói mình sang, người đau không muốn ai thấy mình đau. Cái đẹp nằm sau bức rèm, nỗi buồn nằm dưới vành nón, còn tình yêu đôi khi suốt đời chỉ hiện ra trong một tiếng “dạ” thật mềm.
Bởi thế, “Thả Om” không chỉ là chuyện một chiếc nồi đất. Đó còn là một ẩn dụ về cách người Huế ứng xử với sự mất mát: không níu kéo quá ồn ào, không phô bày vết thương, chỉ âm thầm buông xuống dòng đời.
Nhưng Huế nay đã khác.
Huế hôm nay có phố mới, cầu mới, ánh đèn mới. Tiếng xe át dần tiếng guốc mộc; những nhà vườn thâm u mở cửa thành quán trà, nhà hàng, chốn lưu trú. Con cháu hoàng tộc đã bước ra khỏi bóng kinh thành để sống giữa một xã hội không còn đo phẩm giá bằng tước vị. Người trẻ Huế nói nhanh hơn, đi xa hơn, mạnh dạn hơn và biết giới thiệu quê mình với thế giới.
Đó là một chuyển động cần thiết. Một thành phố không thể sống mãi bằng ký ức, cũng như một dòng sông không thể chỉ soi bóng quá khứ mà không chảy về biển lớn.
Tuy nhiên, giữa nhịp sống mới, Huế đôi khi cũng đang “thả” đi nhiều thứ: một mái nhà rường, một khu vườn cũ, một giọng nói thanh tao, một cách thưa gửi có trước có sau, một nếp sống không vội vàng. Có những thứ mất đi vì thời thế; cũng có những thứ bị đánh đổi quá dễ dàng vì người ta chưa kịp hiểu giá trị của chúng.
Ngày xưa, người Huế thả chiếc om để giữ lòng tự trọng. Ngày nay, có khi người ta giữ chiếc om như một món trang trí, nhưng lại vô tình thả trôi cái hồn đã từng làm cho chiếc om ấy có ý nghĩa.
Cho nên, bảo tồn Huế không phải chỉ là giữ thành quách, lăng tẩm hay vài căn nhà cổ. Giữ Huế trước hết là giữ một phong cách sống: biết chậm lại trước cái đẹp, biết kín đáo trước nỗi đau, biết nhường nhau trong lời nói, biết giữ phẩm giá ngay cả khi cảnh đời sa sút. Huế không chỉ ở trong di tích. Huế ở trong tiếng “dạ thưa”, trong chén trà mời khách, trong cách đặt một bình hoa, trong bữa cơm đạm bạc mà vẫn tươm tất, và trong thái độ không lấy sự giàu nghèo để cân đo con người.
Tên nhà vườn “Thả Om” ở Kim Long vì thế nghe vừa dân dã, vừa u hoài, lại phảng phất cốt cách của những vương tôn thất thế. Đó không phải là nỗi hoài cổ muốn quay lui, mà là một lời nhắc dịu dàng: ta có thể bước tới tương lai, nhưng xin đừng bước nhanh đến nỗi đánh rơi chính mình.
Rằm tháng Bảy, đứng bên sông Hương, tôi chợt nghĩ: chiếc om năm xưa chắc đã tan thành đất từ lâu. Đất trở về với nước, nước trôi về biển, còn câu chuyện thì ở lại. Có lẽ đó cũng là một cách phóng đăng không ánh lửa, một cuộc phóng sinh cho lòng kiêu hãnh và một nghi thức tiễn đưa thời vương giả đã qua.
Dưới bóng Hoàng Thành, người Tôn Nữ năm xưa có thể đã khuất. Chàng vương tôn nghèo cũng không còn. Nhưng tiếng “răng lại rứa” vẫn bay qua hàng cau, giọng “dạ thưa” vẫn còn đâu đó trong những căn nhà vườn Kim Long, và sông Hương vẫn lặng lẽ chở những điều người Huế không nói thành lời.
Tôi trở về, không tìm lại chiếc om đã mất.
Tôi chỉ muốn đứng bên dòng sông cũ, thả xuống nước một chút phù hoa, một chút hơn thua, một chút bụi đường gần nửa thế kỷ xa quê. Rồi cúi xuống vốc một ngụm sông Hương, nghe sông Bồ vọng lại trong lòng.
Sông Bồ để vớt om như tâm tưởng vớt lại quê nhà.
Sông Hương để thả om, như tâm lý bù thả đi thế sự.
Và Huế, sau bao nhiêu dâu bể, vẫn là Huế:
Nghèo mà không hèn,
buồn mà không lụy,
đẹp mà không phô,
thương mà không nói hết.
Chỉ khẽ hỏi đời một tiếng:
“Răng lại rứa…”
Rồi mỉm cười, buông tay, thả cả chiếc om và chính bóng mình vào dòng nước hư không.
Thả chiếc om và bóng mình theo nước, mà giữ cả quê hương ở lại trong lòng.


TRẦN KIÊM ĐOÀN
Huế mùa Vu Lan 2026