CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

ĐỜI CHỢ & CHỢ ĐỜI - TỪ KẾ TƯỜNG



 ĐỜI CHỢ & CHỢ ĐỜI

Bất cứ ở đâu, ngôi chợ vẫn là hình ảnh tượng trưng cho sinh hoạt đời sống của một địa phương, ngoài việc buôn bán, trao đổi trong chợ, quanh ngôi chợ còn là cảnh nhà phố, hàng quán, tiệm thuốc. Ấn tượng nhất vẫn là tiệm thuốc Bắc với những dãy hộc dài cả 3 mặt tường, chủ tiệm là người Tàu đứng trước bàn hốt thuốc, bắt mạch cho bệnh nhân. Mùi thuốc Bắc thơm hăng hắc từ trong tiệm tỏa ra tới ngoài đường.
Tôi ở làng Phú Vang, ngày nhỏ làng chỉ có trường tiểu học sơ cấp, học theo chương trình Pháp, lớp đếm ngược: lớp năm, lớp tư, lớp ba (tức lớp 1,2,3 bây giờ). Thầy giáo đều là nam, thầy giáo dạy lớp ba đồng thời là hiệu trưởng. Tôi học hết lớp ba, học cực giỏi, luôn đứng bảng danh dự, bảng danh dự có 3 hạng nhất, nhì ba…tôi ít khi nào rơi xuống hạng ba. Hết lớp ba thi sơ học, đậu lên lớp nhì phải xuống trường tiểu học xã Lộc Thuận học ké, lên lớp nhất, đậu tiểu học phải học lớp tiếp liên, gọi là lớp chuyển cấp để thi lên lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ).
Có lẽ Lộc Thuận là xã lớn nên có trường tiểu học tới lớp tiếp liên và có tới 2 cái chợ cũng khá lớn: chợ Lộc Thuận ngoài và chợ Lộc Thuận trong. Chợ ngoài vì ở gần sông, chợ trong vì ở gần lộ đá, con lộ lớn từ trung tâm thị trấn (hồi đó còn là huyện) chạy lên tỉnh Bến Tre (quẹo trái ở ngã tư huyên Châu Thành, quẹo phải ra phà Rạch Miễu xã Tân Thạch qua Mỹ Tho, Tiền Giang). Ngày nhỏ, 5-6 tuổi tôi thường được má tôi dẫn theo lúc bà đi chợ Lộc Thuận ngoài (vì chợ Phú Vang là chợ nhỏ, chợ chồm hổm chỉ bán vài thức lặt vặt). Ký ức của một đứa trẻ theo mẹ đi chợ xa, trên con đường đất viền hai vạt cỏ xanh, chạy giữa hai cánh đồng làng mênh mông vào mùa lúa cấy hay khi xong vụ gặt giáp tết thật đẹp. Tôi nhớ mãi.
Khi được học trường tiểu học Lộc Thuận tôi đã 9-10 tuổi, vì nhà xa nên mang theo cà men cơm để buổi trưa ở lại lớp ăn, chờ giờ học buổi chiều (hồi đó học ngày 2 buổi). Buổi trưa ăn cơm xong tại lớp, tôi và mấy mấy đứa bạn rủ nhau ra chợ Lộc Thuận ngoài chơi, buổi trưa chợ thưa người, nhà lồng chợ rộng thênh thang thoang thoảng mùi vải mới, mùi cây trái, mùi hành tỏi hăng hắc, mùi đường ngòn ngọt…cái mùi chợ trưa vắng người cứ đi mãi vào ký ức tôi tới tận bây giờ. Loanh quanh nhà lồng chợ tìm tổ chim sẻ chán, tôi và mấy đứa bạn đi dọc theo phố chợ nhặt những trái me tây chín khô đen, rụng lăn lốc trên vỉa hè dùng đá đập ra nhấm nháp lớp cơm mỏng bao quanh cái hột trái me tây có vị ngọt ngọt nồng, đắng đắng. Ăn nhiều quá có thể bị say, tê tê đầu lưỡi.
Thỉnh thoảng tôi mới có địp được vào chợ Lộc Thuận trong, tất nhiên cuốc bộ, đi thẳng từ nhà vào lộ đá tới chợ thì đường xa hơn là đi từ trường tôi học vào chợ. Nhưng đường nào cũng tới ngã ba Lộc Thuận và lộ đá, đây là khu vực thị tứ, sầm uất, phố sá buôn bán, tiệm cà phê, hũ tiếu, tiệm sửa xe, hớt tóc… chợ nằm sát lộ đá, đối diện ngã ba, nhà lồng chợ Lộc Thuận cũng lớn như nhà lồng chợ Lộc Thuận ngoài, thỉnh thoảng có gành hát cải lương về, hoặc đoàn mô tô bay ghé lại diễn, nhà lồng chợ được bao lại bằng vải bạt dày, xe lôi quảng cáo chạy khắp mấy làng Phú Vang, Lộc Thuận, Tân Định, Vang Quới… tiếng trống thùng thùng, thúc giục người làng đi xem hát.
Bây giờ về ở quê tôi vẫn hay đi chợ Lộc Thuận ngoài và chợ Lộc Thuận trong như đi tìm kỷ niệm xưa, lần theo dấu vết tuổi thơ trên đường đất lầy lội, bụi cát, gió lộng, tóc khét nắng… với nỗi ngậm ngùi sâu kín, nhớ lại trường học, những gương mặt thầy cô, những đứa bạn kẻ mất người còn nhưng không được gặp lại. Đặc biệt chợ Lộc Thuận trong có mấy quán cà phê cóc ven chợ, ngay ngã ba tôi rất thích ngồi ở đây để nhìn qua cửa chợ ngắm người mua, kẻ bán, quầy sạp, như một người đi tìm hình bóng xưa, gương mặt cũ. Có một lúc, chợ Lộc Thuận trong không biết nghĩ sao người ta đổi tên thành chợ Lộc Sơn, cái tên rất xa lạ, chẳng tạo xúc cảm gì, với tôi cái tên ấy lại càng vô cảm.
Nhưng may sao, gần đây chợ được xây mới, khang trang hơn, đổi lại tên cũ là chợ Lộc Thuận. Mỗi lần về quê, đi chợ, chỉ để uống cà phê, tôi thích ngồi cái quán cà phê cóc ven đường chợ, ngay ngã ba chợ để ngắm chợ, như ngắm bóng dáng tuổi thơ thôi đã gắn liền với mấy đời chợ sớm, chợ trưa và bồi hồi, xúc động như đã tìm được thứ hạnh phúc vàng đã đánh mất sau những năm tháng bụi mờ.
Nhưng cũng tiếc thay, chợ Lộc Thuận ngoài ngày xưa sầm uất bao nhiêu bây giờ trở nên đìu hiu vắng vẻ bấy nhiêu. Ngày xưa chợ Lộc Thuận ngoài có khu nhà lồng chợ rất rộng, chia ra nhiều khu vực, ngoài bác thịt cá, rau cải, củ quả còn bán vải, quanh chợ là nhà phố, buôn bán tạp hóa, tiệm chụp hình, tiệm nước…bây giờ đóng cửa, trông vẻ xác xơ. Nguyên nhân? Có lẽ do bây giờ người ta di chuyển, buôn bán hang bằng đường bộ với phương tiện xe buýt, xe đò ngược xuôi. Đường sông với phương tiện đò máy cũ kỹ chạy chậm rì rì không còn nữa.
Tuy vậy, chợ Lộc Thuận ngoài vẫn là hình ảnh đậm nét trong ký ức tuổi thơ của tôi. Ngôi chợ này không chỉ là nơi buôn bán tấp nập ban ngày mà ban đêm còn là nơi giải trí, thường có những gánh hát về đây biểu diễn. Ngày đó các gánh hát thường đi bằng ghe lớn, ghe đậu sát mé rạch. Đôi khi có cả đoàn Mô Tô Bay về dựng rạp biểu diễn. Ngày đó Mô Tô Bay gọi là xiếc, Xiếc Mô Tô Bay, rất hấp dẫn. Hấp dẫn không chỉ vì các cô gái trẻ đẹp, mặc bikini ngồi trên những chiếc mô tô bay vòng vòng mà còn bí ẩn ở chỗ không ai hiểu vì sao họ bay vòng vòng như vậy mà không bị té ngã.
Theo thời gian, xã hội phát triển, những ngôi chợ làng ngày xưa nếu không biến mất cũng đã thu hẹp phạm vi buôn bán, sinh hoạt nhường chỗ cho siêu thị, hoặc hệ thống của Bách hóa xanh rộng khắp tới các vùng quê gần, quê xa. Nơi tôi ở bây giờ cũng thế. Có lẽ một khoảng thời gian không xa, những ngôi chợ làng rồi cũng sẽ biến mất, đến một lúc nào đó hình ảnh chợ quê chỉ còn trong ký ức xa xăm.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

NGHỈ HƯU - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



 NGHỈ HƯU 

Tài chánh hạnh thông nhẹ gánh rồi

Lương hưu đều đặn mặc đời trôi

Không phiền con cháu tâm thanh thản

Cứ hưởng an nhàn dạ thắm tươi

Sáng dạo vuờn hoa trà một chén

Chiều xem mây phủ rượu đôi môi

Tiền nong chẳng bận thân thư thái

Cuộc sống thong dong sướng quá trời...


HUỲNH TÂM HOÀI


Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

TỨ TUYỆT TUYỆT VỜI CỦA LOẠN TƯỚNG HOÀNG SÀO - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Giai Thoại Văn Chương :  

                    Tứ tuyệt tuyệt vời của loạn tướng HOÀNG SÀO

                    

       HOÀNG SÀO 黄巢(820—884)người đất Oan Cú thuộc Tào Châu (thuộc Tây Nam Hà Trạch tỉnh Sơn Đông hiện nay). Ông là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Nông Dân ở buổi tàn Đường; Xuất thân là gia đình buôn bán muối, thiện về nghề võ cởi ngựa bắn cung; Thuở nhỏ cũng đã tỏ ra có văn tài, 5 tuổi đã biết làm thơ, nhưng lớn lên lại thi hoài mà vẫn không đậu được Tiến sĩ. Trước cuộc khởi nghĩa của Vương Tiên Chi một năm, đất Quan Đông phát sinh đại hạn, quan lại ép dân phải đóng đủ thuế, còn phải phục tùng lao dịch. Trước cảnh sưu cao thuế nặng, ông cùng 7 anh em tập hợp những nông dân bị áp bức lại, phất cờ khởi nghĩa đứng lên chống lại nhà Đường từ năm 874 đến năm 884. Ngày 13 tháng Chạp năm 880 ông tiến quân đánh chiếm Trường An Lạc Dương, lên ngôi làm hoàng đế, xưng quốc hiệu là Đại Tề, đại xá thiên hạ. Năm Trung Hòa thứ tư (884) ngày 15 tháng 6, Hoàng Sào thua trận và chết ở Lang Hổ Cốc. Đến năm đầu Thiên Phục đời Đường Chiêu Tông, cháu của Hoàng Sào là Hoàng Hạo người tiếp tục lãnh đạo nông dân chiến đấu bị chết ở Hồ Nam mới chấm dứt cuộc nổi dậy của nông dân ở buổi Tàn Đường, và nhà Đường cũng vì thế mà suy yếu nghiêm trọng rồi sụp đổ luôn trong khoảng 23 năm sau đó (năm 907).

      Theo chính sử thì Hoàng Sào mặc dù xuất thân là con nhà bán muối, lại xấu trai, nhưng văn võ song toàn, có hoài bão và có chí lớn. Trước cảnh nhiễu nhương xuống cấp của xã hội, quan lại tham ô, nông dân đồ thán của buổi tàn Đường, Hoàng Sào muốn làm môt cuộc nổi dậy để thay đổi xã hội, thay đổi cuộc sống vô vị thường ngày qua bài thơ "Đề Cúc Hoa 題菊花" như sau :


                颯颯西風滿院栽,   Táp táp tây phong mãn viện tài,

                蕊寒香冷蝶難來。   Nhụy hàn hương lãnh điệp nan lai.

                他年我若為青帝,   Tha niên ngã nhược vi Thanh Đế,

                報與桃花一處開。   Báo dữ đào hoa nhất xứ khai !

      Có nghĩa :

       - Gió tây thổi phần phật vào trong sân vườn trồng đầy hoa (cúc),

       - Nhụy hoa thì rét, mùi hương thì lạnh, làm cho bướm khó mà bay đến gần.

       - Năm nào đó nếu như ta được làm Thanh Đế là chúa mùa xuân, thì ta sẽ...

       - Báo cho hoa cúc biết rằng sẽ được nở cùng thời cùng lúc với hoa đào !


                    Phần phật gió tây nở khắp vườn,

                    Nhụy hàn hoa lạnh bướm chê hương.

                    Năm nao ta được như Thanh Đế,

                    Cùng với hoa đào nở bốn phương !


                     

       Hoàng Sào ví mình như là hoa cúc nở trái mùa hoa, khi trời thu gió vàng hiu hắt, mặc dù màu vàng có đẹp rực rỡ, nhưng mùi hương lại toả ra trong nhụy lạnh cũng không hấp dẫn được bướm ong bay đến. Rồi ước ao là trong một năm nào đó nếu mình có quyển lực như là Chúa xuân, thì sẽ cho hoa cúc nở cùng lúc với hoa đào trong mùa xuân để so sánh xem ai sẽ đẹp hơn ai, ai sẽ hấp dẫn ong bướm hơn ai !? Qủa là có ý nghĩ ngông nghênh và một khẩu khí lớn lối của "Tha niên ngã nhược vi Thanh Đế (Năm nao ta được như Thanh Đế) muốn làm Chúa xuân, muốn làm đấng Chí tôn để thay đổi thời cuộc và để tự tung tự tác cho thỏa chí bình sinh.

       Trước khi phất cờ khởi nghĩa, Hoàng Sào cũng đã từng mấy phen lai kinh ứng thí, nhưng đều thi rớt. Khoa trường thất ý lại thấy quan lại hủ bại, xã hội hắc ám, dân chúng lầm than làm cho ông càng bất mãn với sự thối nát của hoàng triều nhà Đường, nên mới mượn bài thơ vịnh hoa cúc mà bày tỏ cái hoài bão trong lòng của mình. Bài thất ngôn tứ tuyệt bất hủ《Bất Đệ Hậu Phú Cúc 不第后賦菊》có nghĩa : "Vịnh hoa Cúc sau khi thi rớt" như sau :


                待到秋來九月八,   Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát,

                我花開後百花殺。   Ngã hoa khai hậu bách hoa sát.

                沖天香陣透長安,   Xung thiên hương trận thấu Trường an,

                滿城盡帶黃金甲。   Mãn thành tận đới hoàng kim giáp.

     Có nghĩa :

      - Đợi đến ngày mồng 8 tháng 9 khi mùa thu đến, lúc bấy giờ...

      - Sau khi hoa của ta nở rộ thì trăm hoa khác đều tàn (chết) cả.

      - Mùi hương hoa (cúc) của ta sẽ vọt thẳng lên trời và thấu tận Tràng an. Và lúc đó thì...

      - Cả thành khắp nơi như đang khoác lên một bộ khôi giáp bằng vàng ròng vậy !


                    

      Bài thơ được gieo vần trắc, mà lại là các vần ÁT đầy sát khí ! Hoàng Sào không nói "Cửu nguyệt Cửu" mà lại hạ câu "Cửu nguyệt Bát". BÁT vừa ăn vận SÁT với câu dưới lại vừa chỉ ý nôn nao của Hoàng Sao muốn sớm ngày thực hiện hoài bão; Không kịp đợi thêm một ngày cho đến Mồng 9 tháng 9; Chỉ đến "Mồng 8" thôi, khi hoa cúc của ta nở rộ, thì tất cả các loài hoa khác sẽ tàn lụi và... chết hết ! Và không còn phải dấu diếm gì nữa... Hoàng Sào muốn là mùi hương hoa cúc của mình xông thẳng lên trời và thấu tận đến Tràng an, để thành Tràng an như được võ trang lên bằng những bộ áo giáp màu hoàng kim rực rỡ oai hùng "Mãn thành tận đới hoàng kim giáp. Ý của Hoàng Sào là cả thành Tràng an đều là màu vàng rực rỡ khi hoa cúc khắp nơi đều nở rộ trong ngày Tiết Trùng Cửu Mùng chín tháng chín Âm lịch trong khi các hoa khác đều tàn lụi và chết sạch ! 

      Không còn yếm thế như bài "Đề Cúc Hoa 題菊花" ở trên, ước ao cho hoa cúc được nở vào mùa xuân, mà tự hào rằng hoa cúc nở vào buổi tàn thu. Trong khi các loài hoa khác bị sương thu làm cho héo úa tàn tạ thì hoa cúc vẫn ngạo nghễ đón sương thu mà nở rực rỡ khắp nơi. Và trong công cuộc lãnh đạo nông dân đứng lên khởi nghĩa Hoàng Sào cũng đã thực hiện được ước mơ và hoài bão của mình. Đánh thẳng vào Tràng An và Lạc Dương rồi lên ngôi xưng hiệu là Đại Tề Hoàng Đế 大齊皇帝.


                               

                       

* Diễn Nôm : 

       Vì bài thơ gieo vần Trắc rất độc đáo, nên mạn phép giữ nguyên những từ đã rõ nghĩa để giữ nguyên được cái thanh điệu sắt máu trúc trắc của bài thơ : 

     

                     BẤT ĐỆ HẬU PHÚ CÚC


                 Đợi đến thu sang cửu nguyệt bát,

                 Hoa ta nở rộ trăm hoa sát.

                 Ngất trời hương tỏa thấu Trường An,

                 Cả thành đều khoát hoàng kim giáp !

       Lục bát :

                 Mồng tám tháng chín thu sang,

                 Hoa ta nở rộ hoa tàn trăm nơi.

                 Tràng An hương thấu đến trời,

                 Cả thành rực rỡ nơi nơi giáp vàng !


       

               

      Hoa Cúc từ đời Tấn đã nổi tiếng theo với tiếng tăm cao nhã thanh khiết của Đào Tiềm là Đào Uyên Minh với các câu như "Thái cúc đông ly hạ, Du nhiên kiến Nam sơn 採菊東籬下,悠然見南山"... Cúc còn được gọi là Hoàng Hoa, nên cúc tửu là Hoàng hoa tửu, một trong "Bốn mùa ăn chơi" của người xưa là "Thu ẩm Hoàng hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi 秋飲黃花酒,冬吟白雪詩" mà. Nhưng hoa Cúc đến dưới ngòi bút của Hoàng Sào thì trở nên bá đạo sắt máu với các câu như :"Ngã hoa khai hậu bách hoa SÁT", Hoàng Sào không nói "Bách hoa TÀN" mà nói "Bách hoa SÁT" là "trăm hoa bị Tàn Sát hết"chớ không phải là "Tàn lụi"; Và "Mãn thành tận đới hoàng kim GIÁP"; Ông không nói là "Hoàng kim y" mà lại nói là "Hoàng Kim Giáp" nghe có vẽ võ biền và mạnh bạo hơn với chiếc "áo Giáp màu vàng kim" của chiến binh. Qủa là một cái nhìn vừa nên thơ, vừa độc đáo, vừa sắt máu, vừa bá đạo của một kẻ kiêu hùng, muốn bức phá vòng cương tỏa bình thường để làm nên việc lớn !

      Nhưng sau khi thua trận, phải chạy trốn để ẩn danh làm hòa thượng, thì cái hào khí của kẻ kiêu hùng cũng tiêu tan và nguội lạnh trong ánh nắng chiều tà với những lời cảm khái xót xa... Ta hãy đọc bài Thất ngôn tứ tuyệt thứ ba "Tự Đề Tượng 自題像" của ông thì sẽ rõ :


                  記得當年草上飛,   Ký đắc đương niên thảo thượng phi,  

                  鐵衣着盡著僧衣。   Thiết y trước tận trước tăng y.

                  天津橋上無人識,   Thiên Tân kiều thượng vô nhân thức,

                  獨倚欄干看落暉。   Độc ỷ lan can khán lạc huy !


                 

      Có nghĩa :

       - Nhớ những năm xưa (cửi ngựa) lướt bay trên cây cỏ, giờ thì...

       - Áo giáp sắt mặc xong rồi phải đổi mặc cà sa của thầy tăng.

       - Đứng trên cầu Thiên Tân mà không có ai nhìn ra ta nữa cả...

       - Một mình tựa lan can cầu mà nhìn ánh nắng chiều rơi rụng !...


                    Nhớ thuở năm xưa lướt cỏ cây,

                    Cà sa thay giáp sắt rồi đây.

                    Thiên Tân cầu lớn không người biết,

                    Chiều xuống một mình ngắm bóng mây !...

          Lục bát :

                    Cỏ xưa ngựa lướt băng băng,

                    Nay thì giáp sắt thay bằng cà sa.

                    Thiên Tân cầu lắm người qua,

                    Một mình thơ thẩn ngắm chiều tà rơi !


      Có thuyết cho là khi bại binh thì Hoàng Sào tự vận để đứa cháu kêu bằng cậu là Lâm Ngôn;  Có thuyết cho là người cháu ruột kêu bằng chú là Hoàng Mẫn; đem đầu của mình nộp cho tướng nhà Đường để lãnh thưởng; Cũng có thuyết cho là ông qui ẩn và tu ở trong chùa như bài thơ nêu trên để càng thắm thía hơn với một đời kiêu hùng dũng mãnh rồi rốt cuộc cũng như ánh nắng chiều dần tắt dưới chân cầu, hào khí một đời cũng theo dòng nước cuốn trôi xuôi...


      Nên chỉ có "hai bài thơ tả hoa cúc" nêu trên là chắc chắn của Hoàng Sào làm vì có trong "Toàn Đường Thi Tập"; Còn bài số ba đang còn trong tra cứu tranh luận. Về bài "BẤT ĐỆ HẬU PHÚ CÚC 不第后賦菊" độc đáo cuả Hoàng Sào thì sau nầy được Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương 朱元璋 mượn ý mượn lời làm một bài "Vịnh Cúc Hoa 咏菊花" cũng tương tự như thế :


               百花發時我不發。   Bách hoa phát thì ngã bất phát,

               我若發時都駭殺。   Ngã nhược phát thì đô hãi sát.

               要與西風戰一場。   Yếu dữ Tây phong chiến nhất trường.

               遍身穿就黃金甲。   Biến thân xuyên tựu hoàng kim giáp.


              

          Chu Nguyên Chương là ông vua xấu trai nhất trong các hoàng đế Trung Hoa


     Có nghĩa :

      - Khi trăm hoa đua nở thì ta chẳng nở, và đến...

      - Khi ta nở thì các hoa khác đều kinh hãi mà chết hết.

      - Ta muốn cùng với gió Tây đánh nhau một trận, nên mới...

      - Khắp mình khoát lên chiếc áo giáp hoàng kim như thế nầy.


                  Khi trăm hoa phát ta chưa phát,

                  Ta phát trăm hoa đều chết ngạt.

                  Muốn thách gió tây chiến một phen,

                  Cả mình ta khoát hoàng kim giáp !


       Lời lẽ ý tứ đều mượn ở bài "BẤT ĐỆ HẬU PHÚ CÚC" của Hoàng Sào, nhưng không sắt máu và mạnh bạo bằng thơ của Hoàng Sào. Chỉ mượn hình tượng của hoa cúc màu vàng như là mặc áo giáp vàng để chống chọi lại với gió tây hiu hắt mà thôi, chớ không mạnh bạo hào hùng như thơ của Hoàng Sào "Mãn thành tận đới hoàng kim giáp 滿城盡帶黃金甲" cả thành đều rực rỡ như đều được khoát lên chiếc áo giáp màu hoàng kim vậy. Và cũng vì câu thơ vừa tượng hình vừa tượng ý một cách sống động nầy mà nhà đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu 張藝謀 của nền điện ảnh Bắc Kinh năm 2006 đã làm nên bộ phim có tựa đề là "Mãn thành tận đới hoàng kim giáp 滿城盡帶黃金甲". Bộ phim đã chiếm nhiều giải Điện Ảnh Quốc Tế về Âm thanh, Hình ảnh, cả giải Oscar về Trang phục... 


            

       Trên đây là Hoàng Sào trong chính sử, trong văn học. Mời đọc tiếp bài viết tới : Hoàng Sào trong truyền thuyết dân gian.


                                         杜紹德
                                      ĐỖ CHIÊU ĐỨC

           

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

DẠ KHÚC BUỒN,TỰ KHÚC THÁNG BA - THƠ NHẬT QUANG

 


DẠ KHÚC BUỒN


Đem hong suối tóc nhung mềm
Đã phai vạt nắng bên thềm quạnh hiu
Em đưa tay níu hương chiều
Nghe trong tiếc lỡ lời yêu bẽ bàng

Giọt buồn rơi đắng trái ngang
Gầy đêm huyễn mộng. ..trăng tàn buồn tênh
Đường tình gót trượt chông chênh
Gót hồng em bước nổi lênh mịt mờ

Chập chờn đêm khát cơn mơ...
Tìm nhau đã cạn lệ chờ trăm năm
Nghiêng soi bóng đổ trăng nằm
Giấu vào đêm những muộn mằn xót xa.



TỰ KHÚC THÁNG BA

Tháng Ba gió thầm thì ngoài hiên vắng
Nắng hong khô giọt nhớ ướt mềm
Chợt lá biếc chao nghiêng miền ký ức....
Cho lòng ai lặng lẽ khúc sầu miên

Tháng Ba đến như lời ước hẹn
Đánh thức tim buồn đã ngủ quên
Một chút yêu thương còn vương vấn
Khẽ rơi vào khoảng lặng rất bình yên

Tháng Ba nghe nỗi niềm câu tự khúc
Gửi gió mang đi những muộn phiền
Có người còn nhớ không lời cũ
Hay đã quên rồi kỷ niệm... dịu êm?

Tháng Ba ru miên man miền nhớ
Như một bài thơ chẳng gọi thành tên.


Jos NHẬT QUANG


Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

NHẠC CUNG TIẾN ,NHỮNG GAM MÀU TÊ TÁI - TRẦN HỮU NGƯ



 NHẠC CUNG TIẾN, NHỮNG GAM MÀU TÊ TÁI!

-Một bài viết đã lâu, nhưng chiều ngày 22.3.2026, lúc 14giờ trên VTV3 có chiếu chương trình “Giai điệu kết nối” giới thiệu tiếng hát nam ca sĩ L.A.D, và ca sĩ này có hát ca khúc HƯƠNG XƯA của CUNG TIẾN, nên tôi đăng lại bài viết này.
Tôi mong rằng, GIAI ĐIỆU KẾT NỐI sẽ không phân biệt “nhạc trước 1975” ở miền Nam, và sẽ cho hát “những bài hát hay”, miễn sao những bài hát cũ “không ảnh hưởng đến hòa bình thế giới”, dù nhạc sĩ ở phía “Bên thua cuộc”.
Khi MC phỏng vấn ca sĩ L.A.D, anh nói rằng, HƯƠNG XƯA là một nhạc phẩm tiền chiến, và trong bài có nhiều từ cổ, triết lý, người trẻ sẽ không hiểu được? Tôi đồng ý với anh câu nói nói này, nhưng riêng “từ cổ” thì tôi xin nói một chút theo sự hiểu biết của mình: Nhạc phẩm HƯƠNG XƯA của Cung Tiến, không dùng “từ cổ”, “triết lý”, mà dùng… điển tích.
Nhạc Cung Tiến gắn liền với ca sĩ Mai Hương, rất vui khi nghe ca sĩ L.A,D hát “Hương Xưa”. “Hương xưa” nói riêng, và nói chung tất cả những ca khúc của Cung Tiến, đều khó hát. Nhưng mới nghe một lần L.A.D hát nên chưa đánh giá được gì!
Theo cá nhân tôi, tôi chưa nghe ca sĩ nào hát nhạc Cung Tiến vượt qua “lằn ranh xanh” ca sĩ Mai Hương?
….
-Cung Tiến, người nhạc sĩ sáng tác nhạc sang trọng bậc nhất Việt Nam?
-Rất tiếc, anh sáng tác quá ít!
-Anh tự nhận mình không phải là nhạc sĩ?
-Bây giờ ca sĩ Diva, ND, Ưu tú có hát được nhạc Cung Tiến?
-Nhạc Cung Tiến khó hát, nhưng dễ nghe (khác với nhạc bây giờ dễ hát nhưng khó nghe)
-Nhạc Phạm Duy có Thái Thanh
-Nhạc Trịnh Công Sơn có Khánh Ly
-Nhạc Cung Tiến có Mai Hương
-Nhạc Trúc Phương có Thanh Thúy
-Nhạc Phương có Lê Uyên
-Nhạc Nguyễn Văn Đông có Hà Thanh
V.v…
Nếu nói nhạc Cung Tiến là trữ tình, lãng mạn, hay những từ hoa mỹ nào khác để diễn tả về nhạc anh…,tất cả đều phiến diện. Từ những lời ca, nốt nhạc trong sự trau chuốt từng nhạc phẩm của anh, để chúng ta nghe, thấy, rồi nói rằng, nhạc Cung Tiến là “Những gam màu tê tái” là không có gì cường điệu, và “Màu tê tái” xuất phát từ ý tưởng nhạc phẩm THU VÀNG. Đây cũng là nhạc phẩm anh viết tặng Hanoi, những ngày thơ ấu:
“… Nhặt lá vàng rơi
Xem màu lá con tươi
Nghe chừng như đây màu tê tái…”.
Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938 tại Hanoi. Chưa rõ anh và gia đình vào Nam năm nào, nhưng từ năm 1957 Cung Tiến theo học ngành kinh tế ở Úc.
Những năm 1950 đến 1960, anh viết những bài phê bình, nhận định văn học với Bút hiệu Thạch Chương, và anh sống ở Hoa Kỳ, thỉnh thoảng có viết báo ký tên Đăng Hoàng. Anh đã từng học Ký-Xướng-Âm với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Nếu nghe nhạc anh, chưa đủ, mà phải nhìn cách viết nhạc của anh mới thấy anh là người có nghề và đam mê âm nhạc đến vô tận.
Trong khuôn nhạc mở đầu, anh cẩn thận ghi “Giọng hát, đàn Dương cầm, Tây Ban Nha, và phân Gamme để người chơi nhạc dựa theo đó mà biến tấu”… (Năm 1972, tủ sách nhạc Kẻ Sĩ, đã in tập nhạc Cung Tiến do Hiện Đại số 44/5 Công Lý Saigon tổng phát hành. Tập nhạc này chọn lọc 9 nhạc phẩm. Con số 9 mang một ý nghĩa đặc biệt, và đăng hình anh qua nét vẽ của họa sĩ Duy Thanh).
Vậy mà Cung Tiến không nhận mình là nhạc sĩ, chỉ viết nhạc như một thú tiêu khiển, mặc dù anh viết được 17 bài hát mà bài nào cũng đáp ứng được nhu cầu của giới thưởng thức có trình độ hiểu biết âm nhạc cao. Anh chẳng quan tâm đến tác quyền, tên tuổi, chỉ nhận mình là nghiệp dư, đây có lẽ là đức tính khiêm nhường “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam, vì có rất nhiều người viết nhạc tự phong cho mình là nhạc sĩ, nhưng chỉ viết được một vài bản nhạc hát và nghe một lần rồi bài hát cảm thấy lạc lõng, cô đơn… rồi tự động biến mất, không để lại dấu vết!
Những nhà nghiên cứu và phê bình âm nhạc có thể đánh giá nhạc sĩ Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương… Nhưng ở Cung Tiến, nhạc anh khó mà đánh giá, xếp hạng, cân đo đong đếm được?
Theo các tài liệu, thông tin, và những bài viết ngắn rải rác trên mạng… thì ca khúc THU VÀNG và HOÀI CẢM được Cung Tiến sáng tác năm 1953, lúc đó anh mới 15 tuổi! Nếu đúng như vậy, thì Cung Tiến được xếp vào thần đồng âm nhạc Việt Nam mà hơn nửa thế kỷ qua giới nhạc sĩ đã quên anh?
Cung Tiến còn là một bậc thầy phổ thơ. Những bài thơ vượt thời gian của Thanh Tâm Tuyền (Đêm), Quang Dũng (Đôi bờ), Thôi Hiệu, (Vũ Hoàng Chương dịch Hoàng Hạc Lâu), Vũ Đình Tiên (Mai chị về, còn có tên là Kẻ ở), Xuân Diệu (Nguyệt Cầm), Trần Dạ Từ (Thuở làm thơ yêu em), Vết chim bay (Phạm Thiên Thư)…, đã làm cho những bài thơ ấy thăng hoa và người nghe cảm thấy lòng mình an bình mặc dù đất nước đang trong thời Chiến tranh.
Nhạc Cung Tiến khó nghe đối với những cái tai “bình dân học vụ”, khó hát với những ca sĩ “múa hay hơn hát”. Nhưng nhạc anh là những con suối trong xanh, mát dịu, luồn qua lau lách chảy mãi không bến bờ, ca từ sang trọng, nhưng không làm dáng, triết lý sáo rỗng, những nốt nhạc không chạy theo lối mòn… bắt người nghe phải động não suy tư mới thấm thía trọn vẹn, mới thấy nhạc Cung Tiến là những Gam màu tê tái!
Cảm nhận những ca khúc của Cung Tiến không phải “Đốt lò hương cũ”, mà là sự nhắc nhớ, tìm về, trong tình hình nhạc Việt Nam “Que sera sera”?
Ngoài thơ phổ nhạc, đây là ba tác phẩm thuộc hàng hiếm của âm nhạc Việt Nam, do anh viết nhạc và lời: HƯƠNG XƯA, HOÀI CẢM, THU VÀNG. Những nhạc phẩm này, thật khó xếp hạng cùng những ca khúc nhạc Việt - dù khó tính, hay đứng ở góc độ nào để bình phẩm - thì đây vẫn là đỉnh cao của nghệ thuật mà không phải nhạc sĩ chuyên nghiệp nào cũng viết được?
Nhạc phẩm THU VÀNG nhịp 6/8 với những nốt Đô, Fa, Sol Dièse (thăng) Gamme La Trưởng, mở đầu:
“… Chiều hôm qua lang thang trên đường
Hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương
Chiều hôm qua mình tôi bâng khuâng
Có mùa Thu về tơ vàng vương vương
Một mình đi lang thang trên đường
Buồn hiu hắt và nhớ bâng khuâng
Lòng xa xôi và sầu mênh mông
Có nghe lá vàng não nề rơi không?...”
Sự lặp lại “chiều hôm qua” và “bâng khuâng”, là chủ đích của tác giả, mà không có sự thừa thãi nào ở đây, để sau cùng anh viết một câu kết:
“… Chiều hôm nay trời nhiều mây vương
Có mùa Thu vàng bao nhiêu là hương…”
Nhạc sĩ Cung Tiến sử dụng “chiều hôm qua” và “chiều hôm nay”, chỉ có mình anh “lang thang trên đường” là một thời gian gần và xa, có thể xác định hay không xác định cũng được, nghĩa là anh đem đến cho người nghe rất xa nỗi nhớ và rất gần nỗi buồn trong cuộc đời.
Trong nhạc phẩm HOÀI CẢM, Cung Tiến viết nhịp ¾, Gamme Đô Thứ, La, Si, Mi Bémol (giảm). Trong Andantino xa vắng, chậm, âm thầm… Đây là tác phẩm… hoài cảm, anh viết tặng Đỗ Đình Tuân và đầu bản nhạc anh đề hai câu thơ của Xuân Diệu:
“Anh một mình nghe tất cả buổi chiều.
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh”.
Hoàn cảnh ra đời nhạc phẩm này cũng vào buổi chiều mùa Thu “mơ hồ nghe lá thu mưa” và “buổi chiều chợt nhớ cố nhân. Sương buồn lắng qua hoàng hôn”:
“… Chiều buồn len lén tâm tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa
Quạnh hiu về thấm không gian
Âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều ngồi nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn…”
Nghe HOÀI CẢM, người nghe như quặn lòng, thổn thức, buộc vào mình một nỗi đau, nếu chẳng may trong cuộc đời đánh mất một người thân yêu, để rồi:
“… Lòng cuồng điên vì nhớ
Ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa…
Cố nhân xa rồi có ai về lối xưa?...”
Những ca khúc được viết từ năm 1938 còn ảnh hưởng nhạc Tây, những năm sau này, các nhạc sĩ tìm cách thoát Tây, viết nhạc Ta. Theo lời nhạc sĩ Lê Thương, trong giai đoạn này, có không ít nhạc sĩ “tai bay vạ gió” vì những bài hát trữ tình lãng mạn còn có mùi “tiểu tư sản”!
Từ năm 1953, Cung Tiến nổi lên một ngôi sao sáng qua nhạc phẩm THU VÀNG và HOÀI CẢM. Nhưng trong toàn bộ tác phẩm của anh, có lẽ ca khúc HƯƠNG XƯA là tác phẩm dẫn đầu. HƯƠNG XƯA đầu bản nhạc anh đề tặng Khuất Duy Trác và trong Andante sostenuto, Cung Tiến làm người nghe lắng động để nghe anh kêu thầm… “Người ơi” trong nốt Đồ, La, dẫn vào cung bậc của HƯƠNG XƯA (*):
“… Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa/ Người ơi đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò/ Còn đó tiếng tre êm ru/ còn đó bóng đa hẹn hò/ còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu/ Người ơi còn nhớ mãi trưa nào, thời nào vàng bướm bên ao/ Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao/ Còn đó tiếng khung quay tơ/ Còn đó tiếng diều vật vờ/ còn đó… nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa/… Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi buồn sớm đưa chân cuộc đời/ Lời Đường thi nghe vẫn rền trong sương mưa, dù có bao giờ lắng men đợi chờ/ Tình Nhị Hồ vẫm yêu âm xưa/ Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô, nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ, vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó/ Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc mơ ai, dù đã quên lời hẹn hò/ Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha, chờ đến bao giờ tái sinh cho người? Đời lập từ những đêm hoang sơ/ Thanh bình như bóng tre đơn sơ nay đời tan biến trong hư vô, chết đầy từng mồ oán thù, máu xương tơi bời nhiều mùa thu…/ Người ơi, chiều nao có nắng vàng hiềnv hòa sưởi ấm nơi nơi/ Người ơi chiều nao có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi…/ Tình có ghi lên đôi môi, sầu có phai nhòa cuộc đời/ Người vẫn thương yêu loài người và yên vui sống cuộc sống vui/ Đời êm như tiếng hát của lứa đôi/ Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”
Đó là khúc hoài niệm, tìm nhớ về quá khứ của một thời hoàng kim để khơi dậy một Hương xưa trong lớp bụi mờ của thời gian.
Làm sao nói hết những dòng nhạc Cung Tiến…, một HƯƠNG XƯA cũng đủ để nói lên rằng, nhạc Cung Tiến là những Gam màu tê tái!
Ôi bây, giờ tìm một bài hát (dù chỉ một bài thôi) giống như những bài hát của Cung Tiến, như mò kim đáy biển. Hết rồi, không còn nữa rồi, thời nghe nhạc bác học, kinh điển, lãng mạn… đã qua!


TRẦN HỮU NGƯ
(*) Tôi trích nguyên ca khúc Hương Xưa đề thấy rằng “không có từ cổ”, “triết lý” mà chỉ có điển tích: Nhị Hồ, Cung Nguyệt Cầm, thời Hoàng Kim, nàng Quỳnh Như…

NỖI NHỚ SÔNG QUÊ - THƠ HUY VỤ



 

Ảnh của Tịnh Hồ 

NỖI NHỚ SÔNG QUÊ

“Sông Thương máu cuốn đại ngàn
Một trời mây nước gian nan bãi biền
Chiều nay sóng ngậm mạn thuyền
Triền đê khóc đóa mộc miên mù lòa…”*
Xoan còn rụng tím tháng ba
Em vui chân sáo nắng òa trên vai
Tuổi xuân ngắn tháng năm dài
Chớ trêu chữ mệnh chữ tài ghét nhau
Em đi khuất phía ngàn dâu
Còn thương câu hát qua cầu gió bay
Xót xa suối tóc hao gầy
Mùi hương bồ kết giờ đây nhạt rồi
Tiếng chuông vọng phía luân hồi
Dưới cầu con nước vẫn trôi não nề
Chuông còn vọng khắp sơn khê
Thõng tay bỏ rớt câu thề ngày xưa
Giờ này ngoài ấy có mưa
Chiều nay thấy lạnh như chưa bao giờ
Lặng nhìn con nhện giăng tơ
Bỗng nhiên giọt lệ không chờ mà sa
Ngỡ là như mới hôm qua
Ai hay năm tháng nhạt nhòa dấu môi
“Tôi về đem bỏ đói tôi
Đồng đê ngân ngấn một trời vô minh.”*


HUY VỤ

*Câu trong ngoặc là của NPLT trong bản GIẤC MƠ SÔNG THƯƠNG số 21

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2026

CUỐI NĂM VỀ QUA NGŨ HÀNH SƠN - THƠ NGUYỄN AN BÌNH


 


CUỐI NĂM VỀ QUA NGŨ HÀNH SƠN 

Xưa theo em nhẹ bước

Lên từng bậc đá cao

Đất và trời gần lại

Lòng tự hỏi chiêm bao.

Mây trắng Ngũ Hành Sơn

Ngày ấy bay nhiều quá

Sóng xô bãi cát vàng

Dấu chân người bỗng lạ.

Hồn đá ngàn năm trước

Trong dáng Phật u trầm

Thạch nhủ ẩn kỳ tích

Hóa hiện Quán Thế Âm.

Cheo leo Vọng Hải Đài

Dập dềnh con sóng cuộn

Em thả tóc vờn bay

Biển trời xanh lồng lộng.

Hẹn em lên Cổng Trời

Ngỡ quen từ kiếp trước

Trong ánh mắt rạng ngời

Khắc tình anh - Non Nước.

Mười năm anh trở lại

Ngũ Hành trắng mây xưa

Rừng vẫn xanh màu lá

Người thuở ấy về chưa?


NGUYỄN AN BÌNH