CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2026

NĂM MƯƠI BÀI THẤT NGÔN TỨ TUYỆT BẤT HỦ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Góc Đường Thi : 
                     Năm mươi bài THẤT NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (1)
                 
       THẤT NGÔN TỨ TUYỆT 七言四絕 còn được gọi là "Thất ngôn Tuyệt cú 七言絕句" và gọi cho gọn lại là THẤT TUYỆT 七絕; là một thể tài, một loại hình thi ca đặc sắc của Trung Hoa, thuộc phạm trù của lối thơ cận thể; Có xuất xứ sâu xa từ đời Tây Tấn, Nhạc phủ của Nam Triều và Dân ca của Bắc Triều trong thời Nam Bắc Triều, diễn tiến và phát triển đến đời Đường thì hoàn chỉnh và toàn thịnh.
       THẤT NGÔN TỨ TUYỆT mỗi bài gồm có bốn(4) câu. Mỗi câu gồm có bảy(7) chữ. Mỗi bài gồm có hai mươi tám chữ(28), có Niêm, Luật nghiêm cẩn, Đối thì không bắt buộc; Được gieo ít nhất là hai(2) Vần : Ở cuối câu 2 và câu 4; Thường thì được gieo ba(3) Vần ở cuối câu 1, câu 2 và câu 4; Như cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều khi chị em Thúy Kiều du Thanh Minh và tảo mộ Đạm Tiên vậy. Thúy Kiều đã :

                                Rút trâm sẵn giắt mái đầu, 
                          Vạch da cây vịnh BỐN CÂU BA VẦN.

        Chỉ BỐN CÂU BA VẦN nên lời lẽ rất xúc tích, chắt lọc, tinh luyện để diễn hết ý muốn nói, thường hàm xúc gợi tình với ý tại ngôn ngoại... Dễ ngâm vịnh để biểu ý biểu tình, hay ca ngâm để diễn tình diễn ý... Từ đời Đường đến nay có rất nhiều giai tác với đủ cả các đề tài, như Hoài cổ, Vịnh sử, Tình Bạn, Tình yêu, Hoài bão, Du sơn, Ngoạn thủy... Bây giờ là mùa THU, ta sẽ bắt đầu với các bài "TUYỆT CÚ" có liên quan đến mùa thu nhé !

1. THU TỪ 秋詞 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 :

        LƯU VŨ TÍCH 劉禹錫(772-842)tự là Mộng Đắc 夢得, người đất Lạc Dương, là thi nhân và là một triết gia đời Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Trinh nguyên thứ 9, lại trúng tuyển vào Bác Học Hoằng Từ Khoa. Năm Trinh nguyên thứ 11 lại được tuyển vào Sĩ Khoa Lại Bộ, quan phong đến chức Thái Tử Hiệu Thư. Năm Vĩnh Trinh nguyên niên (805) Bị vua Đường Thuận Tông biếm khỏi Trường An đày làm Lang Châu Tư Mã. Tuy quan trường thất ý, chìm nổi trong nghịch cảnh ở dân gian, Lưu vẫn giữ cho mình một tâm lý lạc quan và làm những bài thơ tràn đầy thi ý của một thi nhân. Sau đây là bài Thất ngôn Tuyệt cú THU TỪ của ông làm trong khoảng thời gian đi đày nầy :


                秋詞                      THU TỪ
           自古逢秋悲寂寥,   Tự cổ phùng thu bi tịch liêu,
           我言秋日勝春朝。   Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu.
           晴空一鶴排雲上,   Tình không nhất hạc bài vân thượng,
           便引詩情到碧霄。   Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu !  

                 
* Chú thích :
    - THU TỪ 秋詞 : là "Bài TỪ về mùa THU". TỪ 詞 là tên của một thể loại THƠ, nhưng có thể có câu dài ngắn khác nhau, có thể gieo cả Vần Bằng và Vần Trắc; dễ ngâm vịnh và dễ phổ nhạc, thường thấy trong Nhạc Phủ với các thể loại khác như : Dẫn 引, Khúc 曲, Hành 行... 
    - 寂寥 Tịch Liêu : TỊCH MỊCH 寂寞 Vắng vẻ và LIÊU LẠC 寥落 Lưa thưa. BI TỊCH  LIÊU 悲寂寥 : Buồn vì cảnh thu vắng vẻ và cây lá lưa thưa.
    - Xuân Triêu 春朝 : là Sáng xuân; Ở đây chỉ chung "Những ngày mùa xuân".
    - Tình Không 晴空 : TÌNH 晴 là Nắng ráo; KHÔNG 空 là Bầu trời. TÌNH KHÔNG 晴空 là Bầu trời nắng ráo, chỉ "Trời quang mây tạnh" chỉ "Bầu trời thu xanh ngắt".
    - Nhất Hạc Bài Vân Thượng 一鶴排雲上 : là "Một con hạc rẻ mây bay vút lên".
    - Thi Tình 詩情 : là Tình thơ; Ta nói là "Hồn thơ", "Tâm hồn thơ thẩn".
    - Bích Tiêu 碧霄 : BÍCH 碧 là Xanh biếc; TIÊU 霄 là Bầu trời. BÍCH TIÊU 碧霄 là "Bầu trời thu xanh biếc". TIÊU còn có ý chỉ CỬU TIÊU 九霄 là Chín tầng trời.

* Nghĩa bài thơ :
                          Bài Từ Mùa Thu
     Từ xưa hễ đến mùa thu là mọi người sẽ buồn vì cảnh hắt hiu lơ thơ vắng vẻ.
     Riêng ta thì bảo rằng "Những ngày mùa Thu hơn hẵn những ngày mùa Xuân".
     (Chỉ cần có) Một con hạc rẻ mây vút lên trên bầu trời xanh nắng ráo" Sẽ...
     Khiến cho hồn thơ cũng sẽ bay bổng lên tận chín tầng mây xanh biếc !

       Với thân phận của một kẻ đi đày, lại nhằm lúc vào thu lạnh lùng với heo may hiu hắt, mà hồn thơ lại lai láng như thế nầy, thì cũng quả thật là hiếm thấy !
     
*Diễn Nôm :


                               THU TỪ

                  Ngàn xưa THU đến gợi buồn tanh,
                  Ta bảo THU hơn xuân thắm xanh.
                  Cánh hạc vút trời mây bát ngát...
                  Hồn thơ cũng vút tận mây xanh !
        Lục bát : 
                  Ngàn xưa THU gợi niềm sầu,
                  Riêng ta THU vẫn hơn màu xuân sang.
                  Trời xanh cánh hạc ngút ngàn,
                  Hồn thơ cũng ngút tận ngàn mây xanh !

       

2.THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五夜望月寄杜郎中 của Vương Kiến 王建:

      VƯƠNG KIẾN (768—835)tự Trọng Sơ 仲初, người đất Dĩnh Xuyên (tỉnh Hà Nam hiện nay). Xuất thân hàn vi, cả đời bất đắc chí, từng đầu quân một thời gian; Mãi đến 46 tuổi mới xuất sĩ làm Huyện Thừa, sau thăng lên chức Thiểm Châu Tư Mã, nên người đời thường gọi là Vương Tư Mã. Năm Đường Đại Hòa thứ 5 mới thăng lên chức Thứ Sử Quang Châu. Ông và Trương Tịch rất thân nhau và cùng nổi tiếng về thơ Nhạc Phủ. Được người đời xưng tụng là "Trương Vương Nhạc Phủ 張王樂府". Thơ ông thường phản ảnh đời sống cơ cực của dân nghèo, lưu lại hậu thế với "Vương Tư Mã Tập 王司馬集". Sau đây là một bài Tứ Tuyệt tả một đêm thu rất nên thơ và tràn đầy thi vị của ông :


         十五夜望月寄杜郎中 THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG

            中庭地白樹棲鴉,    Trung đình địa bạch thụ thê nha,
            冷露無聲濕桂花.    Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
            今夜月明人盡望,    Kim dạ nguyệt minh nhân tẫn vọng,
            不知秋思落誰家?    Bất tri thu tứ lạc thuỳ gia ?

* Chú thích :
    - THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五夜望月寄杜郎中 : Đêm rằm ngắm trăng gởi ông Lang Trung họ Đỗ. ĐỖ LANG TRUNG là Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖, bạn của Vương Kiến, Lang Trung chỉ là chức quan mà thôi.
    - Địa Bạch 地白 : là Đất trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng soi.
    - Vô Thanh 無聲 : là "Không có tiếng động"; Trong câu có nghĩa là "Âm thầm, lặng lẽ".
    - Tận Vọng 盡望 : có nghĩa là "Đều ngắm. đều thấy".
    - Thu Tứ 秋思 : là Tứ Thu, là Ý thu, là Cảm nhận về mùa thu.
    - Lạc 落 : là Rơi, là Rụng, là Rớt vào... 

* Nghĩa bài thơ :
                   ĐÊM RẰM NGẮM TRĂNG GỞI ÔNG LANG TRUNG HỌ ĐỖ

      Đất trong sân nhà trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng rằm soi rọi, có những con qụa đậu trên cây trong sân nhà.
      Sương lạnh âm thầm tạo nên những hạt móc làm ướt những cành hoa quế.
      Đêm nay trăng sáng chắc mọi người mọi nhà đều trông thấy và ngắm nhìn.
      Không biết là "ý thu" đêm nay sẽ rơi vào nhà của ai đây ?!

      THU TỨ là tình thu, là ý thu, là tâm tình của những người đồng điệu cùng nghĩ và cùng nhớ đến nhau trong đêm thu trăng sáng. Chữ LẠC đã rất mơ hồ và nên thơ : Có được bao nhiều người cùng cảm nhận được cái đẹp, của đêm thu như tôi và bạn trong đêm nay ? Thật vô cùng nên thơ và ý vị !

* Diễn Nôm :


             THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG

                  Trong sân sáng trắng qụa nương cây,
                  Lặng lẽ sương sa hoa quế lay.
                  Trăng sáng đêm nay ai chẳng ngắm,
                  "Ý thu" ai biết... lạc nhà ai ?! 
       Lục bát :
                  Sân sáng trắng, quạ nương cây,
                  Quế hoa thấm ướt sương đầy trời cao.
                  Đêm nay cùng ngắm trăng sao,
                  Ý thu... ai biết lạc vào nhà ai ?!
                        

3.THU OÁN 秋怨 của La Nghiệp  羅鄴 :


       LA NGHIỆP 羅鄴 (825-900?) người đất Dư Hàng (thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay). Ông là thi nhân ở cuối đời Đường, có tiếng là THI HỔ 詩虎 (Con Cọp trong thơ), xuất thân trong một gia đình Viêm Thiết Lại 鹽鐵吏 (quan trông coi về muối), cùng với La Ẩn, La Cầu 羅隱、羅虬 trong họ tộc, được người đời xưng tụng là "Giang Đông Tam La 江東三羅". Ông lúc trẻ số phần lận đận, thi mãi mà không đậu được Tiến sĩ. Những năm từ Hàm thông đến Càn phù ông nổi tiếng về thơ thất ngôn luật thi và tứ tuyệt. Cuối đời sống lưu lạc ngoài vùng biên tái, làm Mạc phủ lại cho Thiền Vu Đô hộ Phủ, được nhà thơ Vi Trang là Lại Bộ Thị Lang lúc bấy giờ tấu trình lên nhà vua và được vua ban hàm Tiến Sĩ Cập Đệ. Còn để lại một "La Nghiệp Thi Tập 羅鄴詩集" nổi tiếng với các câu như :

                     年年点檢人間事,  Niên niên điểm kiểm nhân gian sự,
                     唯有春風不世情。  Duy hữu xuân phong bất thế tình.
      Có nghĩa :
                       Năm năm kiểm điểm chuyện đời,
               Chỉ gió xuân chẳng khiến người bâng khuâng !
        
      Thật cảm khái ! Mỗi năm kiểm điểm lại chuyện của người đời, thì chỉ có gió xuân là vô tư nhất, thoải mái nhất, mang ấm áp dễ chịu đến với tất cả mọi người không phân biệt sang hèn qúy tiện gì cả ! Nhân còn trong mùa thu, mời đọc thêm một bài thất ngôn tứ tuyệt THU OÁN 秋怨 cũng rất nổi tiếng của ông sau đây :


                      秋怨                        THU OÁN 
               夢斷南窗啼曉烏,  Mộng đọan nam song đề hiểu ô,  
               新霜昨夜下庭梧。  Tân sương tạc dạ há đình ngô.
               不知簾外如珪月,  Bất tri liêm ngoại như khuê nguyệt,
               還照邊城到曉無。  Hoàn chiếu biên thành đáo hiểu vô ?!

* Chú thích :
    - ĐOẠN 斷 : là Đứt, Dứt, Gãy; nên Mộng Đoạn 夢斷 là Mơ nửa chừng bị dứt ngang, là Giật mình tỉnh mộng. 
    - HIỂU 曉 : là Buổi sáng sớm; Hiểu Phong 曉風 là Gió sớm; Hiểu Ô 曉烏 là Tiếng quạ kêu buổi sáng khi sương xuống.
    - ĐÌNH NGÔ 庭梧 : là Cây ngô đồng trồng trong sân nhà.
    - KHUÊ 珪 : là một loại ngọc, đá qúy; Ta thường gọi là Cẩm Thạch, có màu xanh có màu trắng. Khuê Nguyệt 珪月 chỉ Vầng trăng sáng như ngọc Khuê màu trắng.

                              

    - ĐÁO HIỂU 到曉 là Tới Sáng. HOÀN...ĐÁO HIỂU VÔ 還...到曉無? Là câu Nghi vấn có nghĩa : "Còn... tới sáng không ?"


                           
* Nghĩa bài thơ :
                      Nỗi Oán Hờn Trong Mùa Thu
       Giật mình tỉnh mộng vì nghe tiếng quạ ban sáng đang kêu oang oác bên song cửa sổ phía nam; Nhìn ra thấy sương thu mới của đêm qua còn phủ đầy trên cây ngô đồng trong sân nhà. Không biết rằng ở ngoài bức rèm châu cái vầng trăng tròn vành vạnh như miếng ngọc Khuê kia, cũng soi rọi thâu đêm suốt sáng ở tận mãi xứ biên thành xa xôi đó hay chăng ?!    

      Trong cảnh nệm ấm chăn êm, chỉ giật mình tỉnh mộng khi nghe tiếng qụa kêu, rồi thấy sương thu mới đang rơi đây trên cây ngô đồng mà xúc cảnh sinh tình rồi ưu tư lo lắng cho người ở tận biên thành xa xôi, không biết cái vầng trăng tròn tỏa ánh sáng ấm áp kia cũng đem cái ánh sáng ấm áp đó mà soi rọi suốt đêm cho người lính thú đang trực canh gác giặc ở tiền đồn hiu hắt đó hay không ?! Khéo là lo lắng ngẩn ngơ, vầng trăng cũng như là gió xuân vậy đến với tất cả mọi người chớ chẳng vị riêng ai cả ! Nhưng đây cũng là tấm lòng của người cô phụ vọng phu, luôn luôn khắc khoải nhớ mong đến kẻ chinh phu ở ngoài biên ải xa xăm vạn dặm.     

* Diễn Nôm :


                               THU OÁN
                        
                    Tỉnh mộng quạ kêu ngóng cửa song,
                    Đêm qua sương mới ướt ngô đồng.
                    Ngoài rèm trăng tỏ như khuê ngọc,
                    Có chiếu biên thành suốt sáng không ?!
        Lục bát : 
                    Qua kêu chợt tỉnh giấc nồng,
                    Ngoài sân sương phủ ngô đồng đêm qua.
                    bên rèm lặng ngắm bóng nga,
                    Suốt đêm có chiếu người xa biên thành ?!

             KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN !

4. THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG 天津橋春望 của UNG ĐÀO 雍陶 :

 UNG ĐÀO 雍陶(805—?) tự là Quốc Quân 國钧, người đất Bì Đô, đậu Tiến Sĩ năm Đại Hòa. Ông từng giữ các chức vụ Thị Ngự Sử, Quốc Tử Mao Thi Bác Sĩ, Giản Châu Thứ Sử... Ông là bạn thơ của Trương Tịch, Vương Kiến, Giả Đảo ... thuộc phái Giang Hồ Quái Đản. Sống dưới đời Vãn Đường khi vận nước đã suy vi, xã hội ngày một xuống dốc, khi đi dạo đến bên cầu Thiên Tân, nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ nát của cung điện ngày xưa, xúc cảnh sanh tình, nên ông đã rất cảm khái mà làm bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt bất hủ nầy. 
                                                  

           天津橋春望           THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG
          津橋春水浸紅霞,    Tân kiều xuân thuỷ tẩm hồng hà,
          煙柳風絲拂岸斜。    Yên liễu phong ty phất ngạn tà.
          翠輦不來金殿閉,    Thuý liễn bất lai kim điện bế,
          宮鶯銜出上陽花。    Cung oanh hàm xuất Thượng Dương hoa.
                          雍陶                                                  Ung Đào



* Chú thích :
    - THIÊN TÂN KIỀU 天津橋 : Cây cầu bắt ngang dòng Lạc Thuỷ từ đời Tuỳ Dương Đế, ở phía nam của thành Lạc Dương, kinh đô trước đây của nhà Đường, thường được gọi là Đông Đô.
    - TẨM 浸 : là Ngâm nước, là Chìm trong nước.
    - HỒNG HÀ 紅霞 : là Ráng màu đỏ. Ở đây chỉ Ráng Chiều.
    - PHẤT 拂 : Có bộ Thủ 扌là Tay bên trái. Nên có nghĩa là PHỦI, như Phất Trần là Phủi bụi, nghĩa phát sinh là Phe Phẩy, Đung Đưa...
    - THUÝ LIỄN 翠輦 : là Xe của Vua đi lại trong cung do dê kéo.
    - HÀM 銜 : là Ngậm, ở đây nghĩa là THA.
    - THƯỢNG DƯƠNG CUNG 上陽宮 : Là một trong những hành cung lớn đời Đường, nằm ở tây nam thành Lạc Dương, do Đường Cao Tôn Lý Trị xây dựng vào năm Càn Phong thứ 2 (667). Lúc bấy giờ Lạc Dương là Đông Đô, vua ngự và nghe việc triều chính ở đây. Năm 705, khi bị Đường Trung Tôn ép phải thoái vị, Võ Tắc Thiên cũng ở cung này cho đến chết. Đường Huyền Tôn cũng từng làm yến tiệc lớn ở trong cung nầy. Nhưng sau loạn An Lộc Sơn (755-763), Thượng Dương Cung bị tàn phá nghiêm trọng, về sau dần dà hoang phế, đến đời Đường Đức Tôn (702-805) thì bỏ phế hẵn. UNG ĐÀO sanh năm 805, nên khi đi dạo đến đây thì Thượng Dương Cung đã bị bỏ phế lâu rồi !

* Nghĩa bài thơ :
                             NGẮM VẺ XUÂN TRÊN CẦU THIÊN TÂN
       Khi ta lên cầu Thiên Tân để ngắm vẻ xuân thì thấy ráng chiều đỏ thắm như in ở dưới nước. Tơ liễu như mây như khói theo gió đung đưa bên bờ sông trong ánh nắng chiều. (Thiên nhiên của mùa xuân thì vẫn đẹp như thuở nào) Nhưng... xe của Vua đã không còn ngự đến nữa, và điện vàng thì đóng kín im ỉm, những con chim oanh cũng bỏ cung mà tha cả những cánh hoa của Thượng Dương Cung bay ra bên ngoài !

      Thật cảm khái ! Mùa xuân thì cảnh vật mỗi năm vẫn thế, nhưng thời thịnh trị phồn vinh của nhà Đường thì một đi không trở lại! Chẳng những hành cung bị bỏ phế mà chim én, chim oanh cũng đã bỏ đi rồi, lại còn tha cả những đóa hoa của cung Thượng Dương để bay ra ngoài nữa chớ !

      Một điều thật thú vị là... Bài thơ nầy thường "bị" hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN với cách giải thích như sau :
      Cảnh xuân đẹp bên cầu Thiên Tân với ráng chiều đỏ thắm, với liễu rũ như tơ ở hai bên bờ, làm cho nàng cung nữ chợt động tình xuân, nhưng xe vua không tới và điện vàng thì luôn khóa kín, khiến nàng càng tủi phận mình hơn khi thấy chim oanh tha một cánh hoa ra khỏi Thượng Dương Cung. Hoa còn được chim tha ra ngoài chớ thân phận của mình biết ngày nào mới được giải thoát cho đây ?!
      Qủa là một sự hiểu lầm đầy thi vị !!!...                 

* Diễn Nôm :


                   NGẮM XUÂN BÊN CẦU THIÊN TÂN

                   Thiên Tân bóng nước ráng in hồng,
                   Tơ liễu mơ màng bên bến sông.
                   Chẳng thấy xe vua cung khóa kín,
                   Ngậm hoa oanh nọ vượt tường đông !
         Lục bát :
                   Nước xuân in bóng ráng chiều,
                   Bên cầu tơ liễu hiu hiu gió lùa !
                   Điện vàng khóa, vắng xe vua,
                   Thượng Dương hoa được oanh vừa tha ra !                                                                     
       Ta vừa đọc qua bài Thiên Tân Kiều Xuân Vọng của Ung Đào, một bài thơ hoài cổ cảm khái trước tang thương biến đổi, do vật đổi sao vời mà làm nên, nhưng lại "bị" hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN, còn bài thơ Thu Tịch của Đỗ Mục là một bài thơ CUNG OÁN thì lại rất ít người phát hiện ra cái OÁN của nó. Nên tôi mới đề tựa cho 2 bài nầy là :"KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN !" Chuyện văn chương lắm lúc oái oăm, lắt léo mà lại thú vị vô cùng !
       Mời tất cả cùng đọc lại bài thơ sau, so sánh nghiền ngẫm để cảm nhận cái hay ho sâu sắc mà lại rất nhẹ nhàng, thi vị của văn thơ !....

5. THU TỊCH 秋夕 của Đỗ Mục 杜牧 :    
                             
                 秋夕                        THU TỊCH                         
         銀燭秋光冷畫屏,  Ngân chúc thu quang lãnh họa bình
           輕羅小扇撲流螢。  Khinh la tiểu phiến phốc lưu huỳnh
           天街夜色涼如水,  Thiên giai dạ sắc lương như thủy
           臥看牽牛織女星。  Ngọa khán Khiên ngưu Chức nữ tinh .



* Chú thích :
    - Ngân Chúc 銀燭 : Ngân là Bạc, ở đây là màu Bạc, màu trắng bạc. Chúc là đuốc. Hoa Chúc là Đuốc hoa, ở đây Chúc là cây Đèn Cầy, Cây Nến. Ngân chúc : là Cây Đèn sáp màu trắng bạc.
    - Họa Bình 畫屏 : là Bức bình phong có vẽ tranh của các nhà quyền quý thời xưa.
    - Khinh La 輕羅 : Khinh là nhẹ, La là Là, Lụa là, là Vải The. Khinh La : là loại vải the nhẹ để làm quạt. Trong bài " Khinh La Tiểu Phiến " : Là chiếc quạt con làm bằng lụa là của các tiểu thơ xưa thường cầm trên tay.
    - Phốc 撲 : Là chụp bắt.
    - Lưu Huỳnh 流螢 : LƯU 流 là Lưu động, là xẹt. Lưu Tinh : là Sao xẹt. HUỲNH 螢 : là con Đom đóm. Nên LƯU HUỲNH là "Đom đóm đang bay lượn".
    - Thiên Giai 天街 : GIAI 街 là đường phố. THIÊN GIAI : không phải là đường phố ở trên trời, mà là đường trong kinh thành, trong cung vua.
    - Lương Như Thủy 涼如水 : là Mát như nước.

* Nghĩa bài thơ :
                       ĐÊM THẤT TỊCH
       Ánh sáng lung linh từ ngọn bạch lạp tỏa ra hòa với hơi thu làm cho tấm bình phong đẹp rực rỡ cũng nhuốm hơi lạnh lẽo, nàng phe phẩy chiếc quạt the để chụp bắt những con đom đóm đang lặp lòe bay lượn trong đêm. Đêm đang xuống trong những con đường của Kinh thành, hơi thu mát lạnh như nước trong đêm thanh vắng lặng, nàng ngữa nhìn sao trời để tìm ngắm hai sao Chức Nữ và Ngưu Lang.
 
* Diễn Nôm : 

                        
                                   THU TỊCH

               Lung linh nến trắng bình phong lạnh,
                Quạt lụa vờn theo đóm lượn thu.
                Lấp lánh sao trời trong như nước,
                Nằm xem sao Chức gặp sao Ngưu .
       Lục bát :
                Bình phong thu lạnh se se,
                Quạt là nến trắng lặp lòe đóm bay
                Trời thu như nước mát thay,
                Ngưu Lang Chức Nữ đêm nay tương phùng !
                                                                                               
       Đêm thu với khí trời trong mát, với đom đóm bay lượn lặp lòe, rồi nằm mà ngắm sao Ngưu Lang Chức Nữ... Rất bình dị và rất nên thơ ! Có ai ngờ được đây lại là một bài thơ Cung Oán!... Này nhé
   ... Ngọn bạch lạp đặt trên giá bằng bạc, bình phong có tranh họa rực rỡ, rõ ràng là cuộc sống của các vương hầu vua chúa, ta càng xác định hơn với từ Thiên Giai : là đường trong Kinh thành, trong Cung Vua, và ai mới rảnh rổi mà nằm ngắm sao trời ?. Chỉ có những nàng cung nữ nhàn nhã, tội nghiệp trong lãnh cung mới rảnh rổi như thế mà thôi, và... một điểm tâm lý rất quan trọng nữa là, chỉ có những nàng cung nữ với tình xuân phơi phới, với nhựa sống tràn trề, mà phải giam mình trong chốn lãnh cung cô thân chiếc bóng, mới hâm mộ và ước ao được như Ngưu Lang Chức Nữ, mặc dù mỗi năm chỉ hội ngộ có một lần. Một lần, có còn hơn không ! Một số cung nhân may mắn... suốt đời mới gặp được vua một lần ! Lắm cô suôt cả cuộc đời, hết cả thanh xuân, cũng chưa được nhà vua một lần triều kiến... So với Ngưu Lang Chức Nữ thì còn đắng cay chua xót hơn nhiều ! Nên chi, mới ngưỡng mộ và ước ao được như Ả Chức và Chàng Ngưu, chớ còn đối với cuộc sống bình thường, thì có ai lại hâm mộ chuyện tình của Ngưu Lang Chức Nữ bao giờ ? ! Duy chỉ có nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mới ...

             Mượn điều Thất Tịch mà thề bách niên....    mà thôi ! 
                                                                                             
      "Bách niên" mà chỉ gặp nhau vào đêm "Thất Tịch" hằng năm, thì có ai ao ước mà làm gì!!!

       Phải tinh ý lắm, ta mới cảm nhận được cái "Oán" trong bài thơ nầy, vì nó quá nhẹ nhàng và bình dị. Phải chăng cái oán đeo đẳng miên man lâu dần nên đã hòa vào cuộc sống và được chấp nhận như một sự tự nhiên tội nghiệp ! Không như nàng cung nữ của Ôn Như Hầu :

          ... Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra !... 
     Khi...   
          Cái OÁN đã lên đến cực điểm và trở thành bạo động !  

                   
                                          Bản thư pháp của Đỗ Chiêu Đức

       Hẹn bài dịch tới !


                                        杜紹德
                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

BUỔI TRƯA ẤY - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

    Trần Yên Hòa | Sáng Tạo


BUỔI TRƯA ẤY


 
Buổi trưa ấy qua đời ta rất lạ
Cành cây xanh sáng mãi thật diệu kỳ
Gió thốc tháo trên tầng cao khí quyển
Em mơ hồ thương nhớ đến mê ly
 
Có phải ta vừa đi qua cơn sóng
Giữa dòng đời tụ-hợp-chia-tan
Trăng khuất dấu và sao lặng nín
Em đi vào cõi sống hoang mang
 
Buổi trưa ấy đứng dưới tầng mây thấp
Em-xênh-xang-áo-mão-cống-xang-xề
Trưa nắng quái chói lòa nghe mê mệt
Lặng ôm đàn ngồi khóc thỏa thuê
 
Buổi trưa ấy đúng là trưa thế kỷ
Có nắng trong xanh có ngất ngây tình
Ta cúi xuống trao em cành nguyệt quế
Bỗng thấy mình thành cát sạn, sinh linh
 
Trưa hôm ấy đúng là trưa yêu dấu
Em và trưa giữa phố thị say mềm...
 
 

          TRẦN YÊN HOÀ

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026

KIẾP NGHÈO - TRẦN HỮU NGƯ

 


KIẾP NGHÈO
“… Lầy lội qua muôn lối quanh
Gập ghềnh đường đê tối tăm
Ngập ngừng dừng bên mái tranh
Nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi
Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha…”
Đó là câu tiếp theo sau câu mở đầu “ Đường về…” trong bài hát “Kiếp nghèo” của nhạc sĩ Lam Phương. Nghe mà như thấy hình ảnh một người bước đi “gập ghềnh”, rồi “ngập ngừng”, rồi “ngân nga”… trong một bức tranh, nhưng đối với thế kỷ 21 này, đó chỉ là miền cổ-tích!
Ôi, nghèo mà trở thành “Kiếp” thì dù có tài giỏi đến đâu cũng khó mà thay đổi số phận? Nhưng nhạc sĩ Lam Phương thì khác, vì nghèo quá, nên anh viết “Kiếp nghèo” đã làm đời anh “thoát nghèo”! Rồi từ đó, người ta bỏ tiền ra làm dĩa, thâu băng, ngoài ca sĩ hát “Kiếp nghèo”, người người nhà nhà đều nghe và hát “Kiếp nghèo” trên từng cây số, họ trả công xứng đáng cho Lam-Phương, và từ đó anh trở thành “Kiếp giàu”, một bài hát thay đổi cả số phận, hình như ở Việt Nam này, chỉ có một mình Lam Phương?
Bài “Kiếp nghèo” ra đời từ năm 1957 do tác giả xuất bản và giữ bản quyền. Bài hát này đã được người nghe đón nhận nồng nhiệt, mặc dù giai điệu Tango “Phó thường dân” thường hát trật nhịp, cho nên nghe là chính, hát là phụ.
Dân gian có câu: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”? Đó là câu nói để an ủi người nghèo, để người nghèo hy vọng một ngày nào đó “thoát nghèo”. Nhưng có không ít người giàu thì giàu suốt đời, và nghèo, thì nghèo suốt kiếp! Nghèo mà trở thành “kiếp” thì là số phận rồi, chẳng mong gì có một ngày thoát được kiếp nghèo đâu, đừng có mơ?
Trong âm nhạc, có không ít bài hát viết về nghèo. Nhưng có ba bài viết về nghèo đã làm cho người nghe thấy nghèo sao mà lãng mạn quá, hạnh phúc quá, nghèo mà sung sướng quá, như : “Phố buồn” của Phạm-Duy, “Xóm đêm” của Phạm Đình Chương và “Kiếp nghèo” của Lam Phương.
Ba nhạc sĩ này là ba tư tưởng lớn gặp nhau:
-Bài hát nào cũng bắt đầu từ “ĐƯỜNG VỀ, và có MƯA, và… ĐÊM”:
“… Đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em
Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tên
Qua mấy gian không đèn
Những mái tranh im lìm
Đường về nhà em tối đen…”
(Phố buồn – Phạm Duy)
“… Đường về canh thâu
Đêm khuya ngõ sâu như không màu…
Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn…”
(Xóm đêm – Phạm Đình Chương)
“… Đường về đêm nay vắng tanh
Rạt rào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…”
(Kiếp nghèo – Lam Phương)
Nghèo trong “PHỐ BUỒN”, trong “XÓM ĐÊM” tuy cũng nghèo, nhưng không thấm thía, đau buốt, dằn vặt, định mệnh… như trong “KiẾP NGHÈO”. Có những cái nghèo mà một đời đói ăn, thiếu mặc, thèm các cái… nhưng có thể chấp nhận gượng sống qua ngày. Nhưng nghèo đến tận cùng cuối trời, thấu đất, nghèo đến nỗi “không dám mơ ước “tình chung” thì chỉ có “KIẾP NGHÈO” của Lam Phương mới làm cho người đời ghi khắc, thương cảm, xót xa, như muối xát trong lòng.
Sau khi bất lực với nghèo, trong cái Dolce (dịu dàng, hòa hoãn), Lam Phương đã van xin đất, cầu khẩn trời, van xin Thượng Đế:
“… Trời cao có thấu
Cúi xin người ban phước cho đời con:
Một mái tranh yêu
Một khối tình chung thủy không hề phai
Và một ngày mai
Mưa không nghe tiếng khóc trong đêm dài
Đây cả nỗi niềm
Biết ngày nào ai thấu cho lòng ai….”
Có một câu trong bài hát “KIẾP NGHÈO” làm cho tôi nhớ thời áo tơi chằm lá, không mặc mà chỉ khoác vào, có dây cột vào cổ, đầu đội nón lá che mưa :
“… Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…
Mưa ơi có thấu cho ta
Lòng lạnh lùng giữa đêm trường
Đời gì chẳng tình thương không yêu đương…”
Nghèo tiền bạc, của cải vật chất đã đành, nhưng nghèo của Lam Phương đến nỗi cộng thêm “chẳng có tình thương và không yêu đương”!


TRẦN HỮU NGƯ
(Saigon-Giađinh, một bài viết đã lâu không ghi rõ ngày tháng vì tôi cũng nghèo nhưng không đến nỗi là “kiếp” mà chỉ nghèo “gia truyền”

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

THÔI - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

Nguyen Trung Artist - Vietnam Art Gallery NGUYEN TRUNG

TRANH NGUYỄN TRUNG


THÔI

 

Thôi em, khóc làm gì, hoa lá cũng

Khóc theo em, như tận tuyệt ngày qua

Hãy cứ để, đời xuôi, theo con nước

Chảy về miền, quá khứ, xót xa đau

 

Em, tan chảy trong anh, lời thệ nguyện

Khi trên đời, còn trổ nụ đơm bông

Thì ắt hẳn, ở em, vùng trú ngụ

Ngày cơn mưa, che dấu, hết ngoan hiền

 

Đó là dạo, bây giờ, xa lơ lắc

Níu làm chi, hai phương, biệt mây mù

Mà thực thể, trở thành, ngôi sao tắt

Bước đường ta, hoan hỉ, một thiên thu

 

Thôi em khóc làm gì, trời đất cũng

Buồn cùng em... năm tháng, cỏ cây buồn

Hãy lụn tắt, theo tháng ngày, đắng mật

Chuyện tình suông, như thể, mối tình suông

 

Anh như thể, chim trời, bay, quá khứ

Em như ngàn, lau lách, bụi bờ xa

Trả ân oán, của đất trời, hội tụ

Trong vô biên, còn đượm, tháng ngày qua

 

Cảm tạ những ân tình em đã gởi

Đợt sóng tình bèo giạt cũng khơi xa...

 

TRẦN YÊN HOÀ


Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

BUỔI SÁNG LẶNG LẼ - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 


BUỔI SÁNG LẶNG LẼ

Con đường im vắng dưới khu phố vốn thường ngày náo nhiệt
Tiếng xe cộ chạy qua
Bước chân người xuôi ngược
Hàng cây thả những chiếc lá già vàng úa trong sương sớm
Ai đó không ca hát, không nói cười
Báo hiệu sự lặng lẽ bất ngờ đầu một ngày mới

Căn phòng nơi tôi ở vẫn lặng lẽ như màu trời ngang qua ô cửa xanh
Bức tường xám nhạt vương vất thứ nắng mai mỏng manh, nhuộm buồn
Chim sẻ quên về sau mấy ngày bỏ đi khi cơn mưa chiều làm vỡ tổ
Tôi bấm nút mở nguồn chiếc bình nấu nước siêu tốc
Pha ấm trà gừng
Nhấm nháp nỗi cay đắng ứa ra đầu môi

Gió vẫn đập bâng quơ vào cánh cửa đóng kín
Những nhịp cầu thang không có tiếng chân đi
Bụi mỏng bám theo dấu chân người
Ngọn đèn đêm chưa kịp tắt
Lâu lắm đã lãng quên ai đó sẽ về
Một bờ vai nghiêng, một vạt tóc dài và sương khói u buồn trong ánh mắt

Lâu quá rồi phải không em. Chúng ta hình như đã cố lãng quên nhau
Cố xua đuổi cảm giác ngọt ngào của bờ môi khi em tới
Sự bình yên lúc vòng tay ôm mở ra
Hạnh phúc lắng xuống giữa mưa trưa hay những chiều gió nổi
Phút hoan lạc của trái tim
Từ khoảng cách không gian những ngày chờ đợi

Hôm nay cũng vẫn buổi sáng lặng lẽ sau những ngày em quay mặt bước đi một cách bất ngờ
Tôi bất chợt nhận ra tiếng đập cửa của gió như điều nhắc nhớ
Thời gian cứ trôi đi trong âm thầm
Ngày tháng cứ xa dần xa dần trong lặng lẽ
Lòng mình vẫn không nguôi bão tố

Và rồi, những buổi sáng lặng lẽ cứ mở ra trước đầu một ngày mới
Mưa nắng sẽ qua cùng mùa
Năm cạn dần để kỷ niệm thêm chồng chất
Chúng ta luôn đi lại con đường ngày xưa và giả vờ quên không nhớ
Nhưng lúc trở về ngồi lại với đêm khuya
Mặt úp lên gối cũ mùi hương tóc xưa vẫn còn
Đâu ai nhắc ai mà vẫn khóc


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Giai Thoại Văn Chương  vui :

                       NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY

      SƠN HẢI QUAN 山海關 là một quan ải hiểm yếu nằm ở tỉnh Hà Bắc vùng Đông bắc Trung Hoa sát với biển Đông, và là nơi khởi điểm của Vạn Lý Trường Thành, nên thường được gọi là "Thiên hạ đệ nhất quan 天下第一關" là "Quan ải số một trong thiên hạ". Trên sườn núi phía đông của Sơn Hải Quan có một ngôi cổ miếu có tên là MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟, là miếu thờ nàng Mạnh Khương.

       Như ta đã biết trong "Tứ Đại Ái Tình Truyền Thuyết 四大愛情傳說" của Trung Hoa xưa là : Ngưu Lang Chức Nữ, Bạch Xà Truyện, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài và Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành. Bỏ qua ba truyện trên, truyện Mạnh Khương Nữ có tích như sau :


                                  Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành

       Chàng thanh niên thư sinh Phạm Hỉ Lương 范喜良 (còn được gọi là Vạn Hỉ Lương 萬喜良) trốn vào hoa viên nhà họ Mạnh để tránh quân Tần đuổi bắt các thanh niên tráng đinh đi xây Vạn Lý Trường Thành, tình cờ làm quen với tiểu thư nhà họ Mạnh là Mạnh Khương Nữ 孟姜女. Hai bên nam nữ cùng ái mộ nhau và đính ước hôn nhân. Khi đôi bên làm lễ thành hôn mới được ba ngày, vợ chồng đang ân ái mặn nồng thì Vạn Hỉ Lương bị lính Tần bắt đi xây Vạn Lý Trường Thành. Mùa đông năm đó, sau khi đã chờ đợi mõi mòn, nàng Mạnh Khương mới đan áo ấm cho chồng rồi khăn gói vượt đường xa muôn dặm để thăm chồng. Nào ngờ khi đến nơi thì được tin chồng đã chết và cùng một nhóm phu phen bị chôn thây vào với trường thành. Nàng khôn xiết bi thương sầu thảm khóc đến "máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao", khóc đến chết đi sống lại trong ba ngày ba đêm, khóc đến mưa sầu gió thảm và sấm sét nổi lên đánh sập cả bức trường thành, xác chết của các tráng đinh xây trường thành bày ra la liệt, trong đó có xác của Phạm Hỉ Lương. Vua Tần nổi giận định trị tội nàng, nhưng khi thấy nàng là một giai nhân xinh đẹp nên định nạp làm phi tần. Nàng muốn vua Tần phải an táng chồng mình cho chu đáo rồi mới chịu nhập cung. Nhưng sau khi được vua Tần chôn cất chồng xong, nàng bèn nhảy xuống biển đông để tự trầm mà chết theo chồng. Dân làng cảm thương cho sự trung trinh tiết liệt của nàng nên mới lập miếu MẠNH KHƯƠNG NỮ để thờ tự hương hỏa quanh năm mãi cho đến hiện nay.

                                       MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟

  Miếu được xây một cách uy nghi cổ kính trên sườn núi nhìn ra biển, sau khi phải đi lên một trăm linh tám (108) bậc thang đá mới đến được cổng sơn môn của miếu, và trước điện thờ chính có một đôi câu đối mà nhà văn cận đại Quách Mạt Nhược 郭沫若 (1892—1978) gọi là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联" (Đôi liễn kỳ lạ nhất thiên hạ) Vì nếu mới trông qua lần đầu người ta sẽ không biết phải đọc như thế nào. Đôi liễn kỳ lạ đó như sau :

              海  水  朝  朝  朝  朝  朝  朝  朝  落,

              浮  雲  長  長  長  長  長  長  長  消。

       Như ta đã biết, trong Lục Thư để tạo hình chữ Nho có phép thứ sáu là GIẢ TÁ 假借 có nghĩa : Mượn chữ có sẵn để chỉ một nghĩa khác, như câu đối trên có chữ 朝. Nếu đọc là...

      - 朝 TRIÊU thì có nghĩa là Buổi sáng : như trong hai câu trong bài hát nói "Giai Nhân 2" của Cao Bá Quát là : "Giai nhân khứ khứ hành hành sắc, tài tử TRIÊU TRIÊU MỘ MỘ tình 佳人去去行行色,才子朝朝暮暮情" (Vẻ đẹp giai nhân đi đi lại lại; Tình riêng tài tử SỚM SỚM CHIỀU CHIỀU). Nếu đọc là...

      - 朝 TRIỀU (có dấu huyền) có nghĩa là Triều đại 朝代, lại đồng âm với chữ TRIỀU 潮 là Nước Thủy Triều 水潮. Còn...

      - 長 đọc là TRƯỜNG (dấu huyền) thì có nghĩa là Dài, đồng âm Quan thoại với chữ THƯỜNG 常 là Thường xuyên, là Luôn luôn. Còn đọc là...

      - 長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thí có nghĩa : Sinh ra, Lớn lên, tràn lên. Nên...

       Câu đối mỗi vế gồm mười (10) chữ trên, có thể đọc được nhiều cách. Sau đây chỉ là 3 cách đọc tiêu biểu :

      * Cách thứ nhất : Đọc theo chấm câu 3, 3, 4. như sau :

                    海  水  朝,  朝  朝  朝,  朝  朝  朝  落,

                    浮  雲  長,  長  長  長,  長  長  長  消。

           Hải thuỷ triều, triêu triêu triều, triêu triều triêu lạc;

           Phù vân trưởng, trường trường trưởng, trường trưởng trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thuỷ triều của biển, mỗi buổi sớm đều có thủy triều, có buổi sớm thuỷ triêu lên, có buổi sớm truỷ triều xuống;

       - Mây nổi ở trên trời, thường thường được sinh sôi ra, thường được sinh ra nên cũng thường được tiêu tán đi.

     * Cách thứ nhì : Đọc theo chấm câu 4, 3, 3. như sau :

                     海  水  朝  朝,  朝  朝  朝,  朝  朝  落,

                     浮  雲  長  長,  長  長  長,  長  長  消。

           Hải thủy triêu triều, triêu triêu triều, triêu triêu lạc;

           Phù vân trường trưởng, trường trường trưởng, trường trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thủy triều lên xuống của biển, mỗi ngày đều đầy lên, mỗi ngày đều rút xuống;

       - Mây nổi được sinh ra ở trên trời, thường xuyên được sinh ra, thường xuyên tiêu mất đi.

     * Cách thứ ba : Đọc theo chấm câu 5, 5. như sau :

                    海  水  朝  朝  朝,  朝  朝  朝  朝  落,

                    浮  雲  長  長  長,  長  長  長  長  消。

          Hải thủy triêu triêu triều, triêu triều triêu triêu lạc;

          Phù vân trường trường trưởng, trường trưởng trường trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thủy triều của biển dâng lên mỗi buổi sáng, nên mỗi buổi sáng nước triều đều lại rút đi;

       - Đám mây nổi trên trời thường xuyên được sinh ra, thường xuyên được sinh ra nên cũng thường xuyên tiên tán đi.                   

      Tóm lại, dù cho đọc theo cách nào, hiểu theo nghĩa nào thì cũng nằm trong cái ý vô thường và tuần hoàn của sự vật ; Có sinh có trưởng thì có tiêu có tán, cũng như nước thủy triều có lên thì có xuống, chỉ có lòng trung trinh tiết liệt , ý chí kiên cường thiết thạch như nàng Mạnh Khương Nữ là còn trường tồn mãi mãi với thời gian mà thôi ! 

      Mặc dù được nhà văn Quách Mạt Nhược khen là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联": Câu đối gồm có 20 từ, nhưng chỉ có 8 mặt chữ, nên đã làm khó người xem không ít ! Tác giả ẩn danh nào đó đã "lười biếng" tìm từ nên chỉ sử dụng có 8 mặt chữ mà thôi. Sau đây là đôi câu đối 14 từ : Mỗi câu 7 từ, nhưng chỉ có 4 mặt chữ, lại "càng lười biếng và cầu kỳ hơn" với "Vế Sau lặp lại y chang Vế Trước" của Từ Văn Trường.

                      

      TỪ VĂN TRƯỜNG 徐文長 ( 1521-1593 ) tên là VỊ 渭, tự là Văn Trường 文長, hiệu là Thanh Đằng 青藤, sanh năm Chánh Đức thứ 16 đời nhà Minh. Người đất Sơn Âm (Huyện Thiệu Hưng ngày nay), lớn lên trong một gia đình quí tộc đang hồi xuống dốc. Sáu tuổi đã đi học, nổi tiếng là THẦN ĐỒNG, 20 tuổi đậu Tú Tài, là một nhà văn, nhà thơ, nhà thư pháp và là một họa sư nổi tiếng ở cuối đời Minh đầu đời Thanh. 

      Ông là người phóng khoáng, không chịu gò bó vào khuôn phép, nên thi hoài 8 khoa mà vẫn không đậu Cử Nhân giống như Trần Tế Xương của ta :"Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui!" vậy. Tài hoa thì có thừa, nên hay dùng văn thơ châm biếm người đời, bởn cợt kẻ quyền thế, rất được giới bình dân hâm mộ giống như là Trạng QUỲNH của ta vậy !  

      Từ Văn Trường văn hay chữ tốt nổi tiếng trong vùng, nên một hôm, có người đến nhờ ông viết dùm bảng hiệu "Tỉm Xấm" bán đồ ăn điểm tâm. Ba chữ "ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店" vừa treo lên thì người ra vào ăn điểm tâm nườm nượp suốt cả tháng trời, ông chủ tiệm cười híp cả mắt, mặc sức hốt bạc... Nhưng có một điều hết sức ngạc nhiên là thực khách nào ăn xong khi đến tính tiền đều nói với chủ tiệm là :" Ông ơi, 3 chữ ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店 của ông, chữ TÂM sao viết thiếu mất một chấm ở giữa ?!". Như ta đã biết, hình dạng chữ TÂM được Cụ NGUYỄN DU diễn tả lúc Thúy Kiều nhớ Thúc Kỳ Tâm (Thúc Sinh) là : 

                                 Đêm thu gió lọt song đào,

                       Nửa vành TRĂNG KHUYẾT BA SAO giữa trời.

              Chữ 心 có hình dạng như Nửa Vành Trăng Khuyết và 3 vì sao, 2 cái 2 bên, 1 cái ở giữa, nhè Từ Văn Trường không có chấm cái chấm ở giữa. Ông chủ tiệm là dân thị tứ đâu có biết gì là chữ nghĩa, nghe mọi người đều nói vậy nên tìm Từ Văn Trường để nhờ anh ta chấm thêm cho một chấm. Nhưng sau khi chấm xong chấm đó, thì suốt cả tháng trời buôn bán ế ẩm. Ông chủ quán lại gặp Từ Văn Trường than thở rằng, từ khi chấm cái chấm đó xong thì buôn bán không còn như trước nữa. Từ Văn Trường cười bảo ông ta rằng : "Chữ TÂM là cái lòng, cái bụng, bụng có trống thì người ta mới ghé lại mà ĐIỂM Tâm, nay đã chấm thêm một chấm là bụng đã no rồi, không cần phải ĐIỂM TÂM nữa, ế là phải !". Ông chủ mới té ngữa ra, bây giờ muốn xóa chấm đó đi thì đã không còn được nữa rồi !

      Sự thật thì Từ Văn Trường chỉ lợi dụng cái tâm lý hiếu kỳ và hiếu sự của quần chúng để "câu khách" cho tiệm. Ai trông thấy chữ Tâm thiếu mất một chấm đều "ngứa ngáy" muốn nói cho chủ quán biết, sẵn đã vào tiệm nên ăn điểm tâm luôn mà thôi ! 

      Tương truyền, một hôm có một công tử con nhà giàu trong huyện Thiệu Hưng đến tìm gặp ông để bái sư học đạo. Ông thấy chàng qúi tử nầy đã ngoại tam tuần lại mày râu nhẵn nhụi, ăn mặc bảnh bao, trông giống một kẻ ăn chơi hơn là một người cầu học, bèn viết cho anh ta đôi liễn như thế nầy :

                       好  讀  書, 不  好  讀  書;

                       好  讀  書, 不  好  讀  書。



      Tất cả mặt chữ anh ta đều biết đọc, nhưng không hiểu được nghĩa lý gì cả; Vả lại 2 vế lại toàn là những chữ giống nhau như đúc, là nghĩa làm sao ?! Thì ra đây cũng là cách chơi chữ của Từ Văn Trường theo kiểu GIẢ TÁ 假借 mà thôi. Này nhé...

      - Chữ 好 khi đọc là HẢO thì có nghĩa là TỐT, NGON, ĐẸP, KHỎE, ĐÚNG LÚC... Như : Hảo Nhân là Người Tốt, Hảo Thực là Ăn Ngon, Hảo Cảnh là Cảnh Đẹp...

      - Chữ 好 khi đọc là HÁO hay HIẾU thì có nghĩa là HAM, THAM, THÍCH, NHIỀU... như : Hiếu Học là Ham Học, Háo Ăn là Tham ăn, Hiếu Chiến là Thích đánh nhau, Hiếu Sự là Nhiều chuyện...

      - Còn 讀 書 ĐỘC THƯ : là Đọc sách. Ngày xưa Đọc Sách tức là Học Hành đó. Nên ĐỘC THƯ theo "Tập Quán ngôn Ngữ" có nghĩa là HỌC, là ĐI HỌC, là HỌC HÀNH, HỌC TẬP.

      Nên Câu đối trên được đọc như sau đây :

              好讀書,不好讀書;  HẢO độc thư, bất HÁO(Hiếu) độc thư;

              好讀書,不好讀書。  HÁO(Hiếu) độc thư, bất HẢO độc thư !

Có nghĩa :

    * HẢO ĐỘC THƯ 好讀書 có nghĩa "Học tập tốt", mà cũng có nghĩa "Có điều kiện hay hoàn cảnh tốt" để Học hành.

    * HÁO ĐỘC THƯ 好讀書 là "Thích học tập", là "Muốn học hành cho đàng hoàng, cho tốt".

    * BẤT HÁO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không thích học tập", là "Không chịu học tập cho đàng hoàng nghiêm chỉnh".

    * BẤT HẢO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không học tập tốt", mà cũng có nghĩa là "Không còn hoàn cảnh hay điều kiện để học tập cho tốt nữa". Nên...

      Câu đối trên có nghĩa :

         - Lúc cần Học Tập tốt thì Không Thích học tập cho đàng hoàng; còn...

         - Lúc Thích học tập, thì không còn hoàn cảnh Tốt để học tập nữa !

      Và không chỉ viết cho chàng thanh niên công tử ăn chơi ở huyện Thiệu Hưng, câu đối nầy còn được Từ Văn Trường dùng để răn đe và khuyên dạy con cháu trong nhà nữa : "Lúc còn nhỏ, còn trẻ, có điều kiện học tập tốt thì không chiụ học cho đàng hoàng; Đến khi lớn, khi già muốn học tập lại thì đã không còn điều kiện và thời gian để học tập nữa" rồi !.

      Câu đối 14 từ mà chỉ có 4 mặt chữ (BẤT 不, HẢO 好, ĐỘC 讀, THƯ 書) đã là câu đối "lười biếng dùng chữ" lắm rồi; Nhưng sau đây còn có câu đối "Siêu lười biếng" vì cũng có 14 đơn vị từ nhưng lại chỉ có MỘT (1) mặt CHỮ duy nhất mà thôi.

      Truyện kể...

      Một hôm đang dạo phố, khi đi ngang qua khu chợ bán rau cải thì ông chủ sạp giá mời Từ Văn Trường dừng chân uống một ly trà nóng buổi sáng, rồi khẩn khoản xin Từ Văn Trường viết cho đôi câu đối để treo lên hai bên sạp cho đẹp vừa để câu khách đến mua. Thấy ông chủ sạp nhiệt tình và có thành ý, nhìn quanh các mặt hàng bày bán thì thấy nào là Giá đậu xanh, Giá đậu nành, Giá đậu phọng và các loại cải... nên Từ Văn Trường chợt lóe lên một ý dí dỏm độc đáo, rồi đặt bút viết luôn cho ông chủ sạp 14 chữ sau đây :

                 長 長 長 長 長 長 長,

                 長 長 長 長 長 長 長。

      

      Ông chủ sạp và mọi người chung quanh đều rất ngạc nhiên cùng Ồ lên một tiếng lớn, vì không ai biết phải đọc như thế nào và ý nghĩa của Nó ra làm sao. Từ Văn Trường mới mĩm cười đắc ý giải thích :

      Chữ 長 nếu đọc là TRƯỜNG thì có nghĩa là DÀI, mọc dài,còn nếu đọc là...

      長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thì có nghĩa là LỚN, mọc lớn lên, cao lên... Nên...

      Câu đối trên được đọc như sau :

          長長,長長,長長長;  Trường trưởng, trường trưởng, trường trường trưởng;

          長長,長長,長長長。 Trưởng trường, trưởng trường, trưởng trưởng trường ! 

Có nghĩa :

               Dài lớn, dài lớn, dài dài lớn;

               Lớn dài, lớn dài, lớn lớn dài !

       Trồng cải và ủ (gói) giá, bà con mong được gì nào ?! Mau dài mau lớn, mau lớn mau dài... để trông vừa tốt, vừa ngon, vừa bắt mắt và vừa... bán đắt hàng. Mọi người cùng cười xòa vỗ tay tán thưởng cho câu đối vừa giản dị, dí dỏm, lại vừa có ý nghĩa thực tế và cũng vừa làm cho người đọc cảm thấy thích thú.  

       Trở lại với tên của Từ Văn Trường 徐文長 cũng vậy, người Quảng Đông thì đọc là Từ Văn TRƯỜNG, nhưng người Tiều Châu thì lại đọc thành Từ Văn TRƯỞNG, còn âm Quan Thoại của Từ Văn Trường thì đọc là Xú-Wén-Cháng 徐文長. 

             

       Một hôm gần Tết, Từ Văn Trường thả bộ ra chợ xem bà con nhóm chợ Tết, gặp một Thầy Đồ là một lão Tú Tài già đang bày hàng viết liễn (Câu đối). Tính rắn mắt nổi lên muốn ghẹo chơi cho vui , Từ Văn Trường đi xề tới cất tiếng hỏi : 

      - Thưa Thầy, Thầy viết liễn có nghĩa là Liễn gì Thầy cũng viết được hết phải không ?. Nghe hỏi lạ, ông đồ già nhướng mắt lên thấy Từ Văn Trường, biết là chàng trai nầy định phá mình đây, bèn trả lời rất tự tin : 

      - Dĩ nhiên, cậu muốn viết liễn gì ?

      - Liễn dán chuồng heo !  Sau giây phút sựng lại vì ngạc nhiên, ông đồ bèn  ra giá :

      - Một lạng bạc ! Từ Văn Trường vui vẻ :

      - Không thành vấn đề, nhưng liễn phải hay và có ý nghĩa mới được Thầy nhé !

        Thường các Lão Tú Tài nầy người Việt ta quen gọi là "TÚ MỀN" rất giỏi chữ nghĩa và già giặn kinh nghiệm . Ông đồ bình tĩnh lặng lẽ đưa những nét bút thiệt đẹp như rồng bay phượng múa lên 2 tờ giấy hồng đơn đã rọc sẵn. Bây giờ tới phiên Từ Văn Trường ngạc nhiên, vì trên 2 tờ giấy hồng đơn mỗi bên 7 chữ, tổng cộng là 14 chữ TRƯỜNG 長 thật đẹp. Biết ông thầy đồ già muốn "chơi" mình, anh ta cũng rất bình tĩnh và lễ phép :

     - Thưa thầy, nhờ thầy đọc và cắt nghĩa dùm ạ ! Ông thầy đồ dõng dạc cất giọng :

                長 長, 長 長, 長 長 長;  

                長 長, 長 長, 長 長 長 ! 

     - Trường trường, trưởng trưởng, trường trường trưởng. 

       Trưởng trưởng, trường trường, trưởng trưởng trường !  

       Nuôi heo, anh mong được gì nào ? Heo mau dài mau lớn phải không ? Thì đây đôi liễn nầy có nghĩa :


                         DÀI DÀI, LỚN LỚN, DÀI DÀI LỚN;

                         LỚN LỚN, DÀI DÀI, LỚN LỚN DÀI !

             

      Chuyên chọc phá thiên hạ, lần nầy bị Tổ trác, liễn dán chuồng heo là câu đối 14 chữ đều là tên của mình cả, lại phải nhăn mặt móc hầu bao trả cho ông Thầy Đồ một lạng bạc, thế mới đau !

      Cho hay, chuyện đời có lúc "Kiến ăn cá", nhưng cũng lắm khi kiến té xuống nước thì "Cá cũng ăn kiến" như thường !


       Hẹn bài viết tới !

                                                             杜紹德

                                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC