9. Bài thơ LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH 立秋前一日覽鏡 của Lý Ích 李益 :
LÝ ÍCH 李益(748—829)tự là Quân Ngu, người đất Lương Châu Cô Tang (nay thuộc tỉnh Cam Túc), đậu Tiến sĩ năm Đại Lịch, vì quan trường không suông sẻ, nên từ quan ngao du vùng Yên Triệu. Sau về làm quan đến chức Lễ Bộ Thượng Thư. Thơ của ông giàu âm luật, dễ phổ nhạc dễ hát, sở trường về Thất ngôn tuyệt cú, nổi tiếng với các bài thơ biên tái. Tác phẩm gồm có "Lý Quân Ngu Tập" nhị quyển《李君虞集》二卷。Sau đây là bài thơ Ngũ ngôn tiêu biểu của ông :
立秋前一日覽鏡 LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH
萬事銷身外, Vạn sự tiêu thân ngoại,
生涯在鏡中。 Sinh nhai tại kính trung.
唯將兩鬢雪, Duy tương lưỡng mấn tuyết,
明日對秋風。 Minh nhật đối thu phong !
* Chú thích :
- 立秋前一日覽鏡 LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH : TIỀN NHẤT NHẬT là Trước một ngày; LÃM KÍNH là Soi gương. Nên tựa bài thơ là : Soi Gương Trước Lập Thu Một Ngày.
- Tiêu 銷 : là Tiêu phí, hao mòn.
- Mấn Tuyết 鬢雪 : chỉ Tóc mai bạc trắng như tuyết.
* Nghĩa bài thơ :
SOI GƯƠNG TRƯỚC LẬP THU MỘT NGÀY
- Muôn việc đều đi qua và biến mất hết ở ngoài thân ta; Duy chỉ có...
- Tóc tai mặt mũi bị cỗi cằn vì năm tháng là còn lại trong gương mà thôi.
- Chỉ còn có hai làn tóc mai bạc trắng như tuyết nầy, để...
- Ngày mai đối mặt với gió thu hiu hắt mà thôi !
Soi gương trước Tiết Lập Thu một ngày đã thấy mặt mũi tiều tụy hốc hác rồi, ngày mai đã chính thức vào thu với gió vàng hiu hắt mà ta thì chỉ còn có hai làn tóc mai bạc trắng như tuyết nầy mà thôi; Không biết khi đã vào thu rồi thì mặt mũi tóc tai còn tàn tạ đến như thế nào nữa đây ?!
Lý Ích đã rất cảm khái khi sử dụng lại câu thơ "生涯在鏡中 Sinh nhai tại kính trung" của nhà thơ tiền bối Tiết Tắc, nhưng lại sử dụng môt cách thật khéo léo để mở đầu cho bài thơ bằng một cặp đối xứng thật hay:
萬事銷身外, Vạn sự tiêu thân ngoại,
生涯在鏡中。 Sinh nhai tại kính trung.
Muôn việc tan ngoài thân xác,
Dung nhan còn lại trong gương.
Ngày xưa, không có chú trọng đến chuyện "đạo văn" (ăn cắp văn thơ của người khác) Chỉ cần sử dụng lại cho khéo cho hay thì đó là của mình rồi. Điều nầy ta sẽ thấy rất thường ở đời Tống, khi thể loại TỪ với câu ngắn dài được phát triển mạnh... Các nhà sáng tác TỪ hay sử dụng lại những câu thơ Đường nổi tiếng để điền vào bài Từ của mình. Như trong bài từ GIÁ CÔ THIÊN 鹧鸪天 của Tống Kỳ đời Tống sau đây "
畫轂雕鞍狭路逢, Họa cốc điêu yên hiệp lộ phùng,
一聲腸断绣帘中。 Nhất thanh trường đoạn tú liêm trung.
身無彩鳳雙飛翼, Thân vô thái phụng song phi dực,
心有靈犀一点通。 Tâm hữu linh tê nhất điểm thông.
金作屋,玉為籠, Kim tác ốc, Ngọc vi lung.
車如流水馬游龍。 Xa như lưu thủy mã du long,
劉郎已恨蓬山遠, Lưu Lang dĩ hận Bồng sơn viễn,
更隔蓬山幾萬重。 Cánh cách Bồng sơn kỷ vạn trùng !
Có nghĩa :
Xe vua trạm trổ đẹp qua đường,
Một tiếng ai kêu luống đoạn trường.
Hận không đôi cánh như chim phượng,
Lòng tựa Linh tê đã vấn vương.
Nhà vàng đó, lầu ngọc suông,
Ngựa xe như nước chạy bon bon,
Chàng Lưu vốn hận Bồng Lai cách,
Lại cách Bồng Lai mấy vạn đường !
Bài từ trên của Tống Kỳ cơ bản là cóp nhặt chắp vá 4 câu của 2 bài thơ VÔ ĐỀ của Lý Thương Ẩn và một câu trong bài từ VỌNG GIANG NAM của Lý Hậu Chủ (Các câu có màu đỏ) tập hợp lại để diễn tả nỗi lòng tương tư tưởng nhớ của mình với người cung nữ trong cung cấm một cách tuyệt vời. Những câu thơ của người đời trước như làm sẵn để cho Tống Kỳ vay mượn vậy. Điều nầy nếu xảy ra trong thời buổi hiện tại thì là "đạo thơ" của người khác, nhưng thời buổi bấy giờ chưa có "Quyền Sở hữu Bản Quyền". Ta có thể lấy thơ của người khác sửa đổi hay thêm thắc thành thơ của mình, miễn sao cóp nhặt chắp vá cho hay, cho mới mẻ, cho sát sao với tình cảnh hoặc tâm trạng của mình lúc đó là được rồi !
* Diễn Nôm :
LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH
Muôn việc tan ngoài thân xác,
Dung nhan còn lại trong gương.
Hai làn tóc mai tuyết trắng,
Mai ngày thu đến gió sương !
Lục bát :
Muôn việc tan biến ngoài thân,
Dung nhan tiều tụy tần ngần trong gương.
Tóc mai như tuyết như sương,
Mai ngày lại đón ngập đường gió thu !
10. Bài thơ TƯ QUY 思歸 của Vương Bột.
VƯƠNG BỘT王勃 (650-676), tự là Tử An. Người đất Giáng Châu Long Môn (thụộc Hà Tân Sơn Tây hiện nay). Ông nội là Vương Thông, hiệu là Văn Trung Tử, học giả nổi tiếng cuối đời nhà Tùy. Cha là Vương Phước Chỉ, giữ chức Thái Thường Bác Sĩ, Ung Châu Tư Công đời Đường.
VƯƠNG BỘT cùng với Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương văn tài thi tài ngang nhau, người đời xưng là "Sơ Đường Tứ Kiệt ". Bột đứng đầu Tứ Kiệt, nổi tiếng bất hủ với bài "Đằng Vương Các Tự 滕王閣序", để lại một giai thoại văn chương về câu nói "Thời lai phong tống Đằng Vương Các 時來風送滕王閣", và còn để lại rất nhiều ảnh hưởng cho văn học đời sau bằng các thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay.
Sau đây là một bài Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt nổi tiếng của ông.
思歸 TƯ QUY
長江悲已滯, Trường Giang bi dĩ trệ,
萬里念將歸。 Vạn lý niệm tương quy.
況屬高風晚, Huống thuộc cao phong vãn,
山山紅葉飛。 Sơn sơn hồng diệp phi.
Bản viết tay năm 1972
* Chú thích :
- TƯ QUY 思歸 : là Nghĩ tới ngày về, có nghĩa là "Muốn Về". Bài nầy còn có tựa là SƠN TRUNG 山中 là "trong Núi". Câu 3 & 4 của bài nầy còn có dị bản là :
Huống PHỤC cao SƠN VIỄN, 況復高山遠,
Sơn sơn HOÀNG diệp phi. 山山黃葉飛。
* HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại...
* CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn ...
* CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.
- BI DĨ TRỆ 悲已滯 : là Nỗi sầu cô đọng lại như nước Trường Giang lửng lờ (như không trôi chảy).
- NIỆM TƯƠNG QUY 念將歸 : là Chỉ mới có Ý niệm sẽ quay trở về mà thôi.(Ý nói : Muốn về mà không về được !)
- HỒNG DIỆP 紅葉 hay HOÀNG DIỆP 黃葉 gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng "Lá Vàng" để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng "Lá Đỏ", vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :
"Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo !"...
hoặc thi vị hơn như Tản Đà :
"Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,
Lá bay hàng xóm lá bay sang....
để rồi...
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng !"
* Diễn Nôm :
MUỐN VỀ
Trường Giang sầu nước lửng,
Muôn dặm muốn về ngang.
Núi cao ngăn quê cũ ,
Non non rụng lá vàng !
Lục bát :
Trường Giang nước đọng lòng sầu,
Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.
Núi cao ngăn cách làng quê,
Muôn chiều lá đổ ủ ê lòng sầu !
Hẹn bài dịch tới !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC