CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Giai Thoại Văn Chương  vui :

                       NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY

      SƠN HẢI QUAN 山海關 là một quan ải hiểm yếu nằm ở tỉnh Hà Bắc vùng Đông bắc Trung Hoa sát với biển Đông, và là nơi khởi điểm của Vạn Lý Trường Thành, nên thường được gọi là "Thiên hạ đệ nhất quan 天下第一關" là "Quan ải số một trong thiên hạ". Trên sườn núi phía đông của Sơn Hải Quan có một ngôi cổ miếu có tên là MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟, là miếu thờ nàng Mạnh Khương.

       Như ta đã biết trong "Tứ Đại Ái Tình Truyền Thuyết 四大愛情傳說" của Trung Hoa xưa là : Ngưu Lang Chức Nữ, Bạch Xà Truyện, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài và Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành. Bỏ qua ba truyện trên, truyện Mạnh Khương Nữ có tích như sau :


                                  Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành

       Chàng thanh niên thư sinh Phạm Hỉ Lương 范喜良 (còn được gọi là Vạn Hỉ Lương 萬喜良) trốn vào hoa viên nhà họ Mạnh để tránh quân Tần đuổi bắt các thanh niên tráng đinh đi xây Vạn Lý Trường Thành, tình cờ làm quen với tiểu thư nhà họ Mạnh là Mạnh Khương Nữ 孟姜女. Hai bên nam nữ cùng ái mộ nhau và đính ước hôn nhân. Khi đôi bên làm lễ thành hôn mới được ba ngày, vợ chồng đang ân ái mặn nồng thì Vạn Hỉ Lương bị lính Tần bắt đi xây Vạn Lý Trường Thành. Mùa đông năm đó, sau khi đã chờ đợi mõi mòn, nàng Mạnh Khương mới đan áo ấm cho chồng rồi khăn gói vượt đường xa muôn dặm để thăm chồng. Nào ngờ khi đến nơi thì được tin chồng đã chết và cùng một nhóm phu phen bị chôn thây vào với trường thành. Nàng khôn xiết bi thương sầu thảm khóc đến "máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao", khóc đến chết đi sống lại trong ba ngày ba đêm, khóc đến mưa sầu gió thảm và sấm sét nổi lên đánh sập cả bức trường thành, xác chết của các tráng đinh xây trường thành bày ra la liệt, trong đó có xác của Phạm Hỉ Lương. Vua Tần nổi giận định trị tội nàng, nhưng khi thấy nàng là một giai nhân xinh đẹp nên định nạp làm phi tần. Nàng muốn vua Tần phải an táng chồng mình cho chu đáo rồi mới chịu nhập cung. Nhưng sau khi được vua Tần chôn cất chồng xong, nàng bèn nhảy xuống biển đông để tự trầm mà chết theo chồng. Dân làng cảm thương cho sự trung trinh tiết liệt của nàng nên mới lập miếu MẠNH KHƯƠNG NỮ để thờ tự hương hỏa quanh năm mãi cho đến hiện nay.

                                       MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟

  Miếu được xây một cách uy nghi cổ kính trên sườn núi nhìn ra biển, sau khi phải đi lên một trăm linh tám (108) bậc thang đá mới đến được cổng sơn môn của miếu, và trước điện thờ chính có một đôi câu đối mà nhà văn cận đại Quách Mạt Nhược 郭沫若 (1892—1978) gọi là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联" (Đôi liễn kỳ lạ nhất thiên hạ) Vì nếu mới trông qua lần đầu người ta sẽ không biết phải đọc như thế nào. Đôi liễn kỳ lạ đó như sau :

              海  水  朝  朝  朝  朝  朝  朝  朝  落,

              浮  雲  長  長  長  長  長  長  長  消。

       Như ta đã biết, trong Lục Thư để tạo hình chữ Nho có phép thứ sáu là GIẢ TÁ 假借 có nghĩa : Mượn chữ có sẵn để chỉ một nghĩa khác, như câu đối trên có chữ 朝. Nếu đọc là...

      - 朝 TRIÊU thì có nghĩa là Buổi sáng : như trong hai câu trong bài hát nói "Giai Nhân 2" của Cao Bá Quát là : "Giai nhân khứ khứ hành hành sắc, tài tử TRIÊU TRIÊU MỘ MỘ tình 佳人去去行行色,才子朝朝暮暮情" (Vẻ đẹp giai nhân đi đi lại lại; Tình riêng tài tử SỚM SỚM CHIỀU CHIỀU). Nếu đọc là...

      - 朝 TRIỀU (có dấu huyền) có nghĩa là Triều đại 朝代, lại đồng âm với chữ TRIỀU 潮 là Nước Thủy Triều 水潮. Còn...

      - 長 đọc là TRƯỜNG (dấu huyền) thì có nghĩa là Dài, đồng âm Quan thoại với chữ THƯỜNG 常 là Thường xuyên, là Luôn luôn. Còn đọc là...

      - 長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thí có nghĩa : Sinh ra, Lớn lên, tràn lên. Nên...

       Câu đối mỗi vế gồm mười (10) chữ trên, có thể đọc được nhiều cách. Sau đây chỉ là 3 cách đọc tiêu biểu :

      * Cách thứ nhất : Đọc theo chấm câu 3, 3, 4. như sau :

                    海  水  朝,  朝  朝  朝,  朝  朝  朝  落,

                    浮  雲  長,  長  長  長,  長  長  長  消。

           Hải thuỷ triều, triêu triêu triều, triêu triều triêu lạc;

           Phù vân trưởng, trường trường trưởng, trường trưởng trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thuỷ triều của biển, mỗi buổi sớm đều có thủy triều, có buổi sớm thuỷ triêu lên, có buổi sớm truỷ triều xuống;

       - Mây nổi ở trên trời, thường thường được sinh sôi ra, thường được sinh ra nên cũng thường được tiêu tán đi.

     * Cách thứ nhì : Đọc theo chấm câu 4, 3, 3. như sau :

                     海  水  朝  朝,  朝  朝  朝,  朝  朝  落,

                     浮  雲  長  長,  長  長  長,  長  長  消。

           Hải thủy triêu triều, triêu triêu triều, triêu triêu lạc;

           Phù vân trường trưởng, trường trường trưởng, trường trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thủy triều lên xuống của biển, mỗi ngày đều đầy lên, mỗi ngày đều rút xuống;

       - Mây nổi được sinh ra ở trên trời, thường xuyên được sinh ra, thường xuyên tiêu mất đi.

     * Cách thứ ba : Đọc theo chấm câu 5, 5. như sau :

                    海  水  朝  朝  朝,  朝  朝  朝  朝  落,

                    浮  雲  長  長  長,  長  長  長  長  消。

          Hải thủy triêu triêu triều, triêu triều triêu triêu lạc;

          Phù vân trường trường trưởng, trường trưởng trường trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thủy triều của biển dâng lên mỗi buổi sáng, nên mỗi buổi sáng nước triều đều lại rút đi;

       - Đám mây nổi trên trời thường xuyên được sinh ra, thường xuyên được sinh ra nên cũng thường xuyên tiên tán đi.                   

      Tóm lại, dù cho đọc theo cách nào, hiểu theo nghĩa nào thì cũng nằm trong cái ý vô thường và tuần hoàn của sự vật ; Có sinh có trưởng thì có tiêu có tán, cũng như nước thủy triều có lên thì có xuống, chỉ có lòng trung trinh tiết liệt , ý chí kiên cường thiết thạch như nàng Mạnh Khương Nữ là còn trường tồn mãi mãi với thời gian mà thôi ! 

      Mặc dù được nhà văn Quách Mạt Nhược khen là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联": Câu đối gồm có 20 từ, nhưng chỉ có 8 mặt chữ, nên đã làm khó người xem không ít ! Tác giả ẩn danh nào đó đã "lười biếng" tìm từ nên chỉ sử dụng có 8 mặt chữ mà thôi. Sau đây là đôi câu đối 14 từ : Mỗi câu 7 từ, nhưng chỉ có 4 mặt chữ, lại "càng lười biếng và cầu kỳ hơn" với "Vế Sau lặp lại y chang Vế Trước" của Từ Văn Trường.

                      

      TỪ VĂN TRƯỜNG 徐文長 ( 1521-1593 ) tên là VỊ 渭, tự là Văn Trường 文長, hiệu là Thanh Đằng 青藤, sanh năm Chánh Đức thứ 16 đời nhà Minh. Người đất Sơn Âm (Huyện Thiệu Hưng ngày nay), lớn lên trong một gia đình quí tộc đang hồi xuống dốc. Sáu tuổi đã đi học, nổi tiếng là THẦN ĐỒNG, 20 tuổi đậu Tú Tài, là một nhà văn, nhà thơ, nhà thư pháp và là một họa sư nổi tiếng ở cuối đời Minh đầu đời Thanh. 

      Ông là người phóng khoáng, không chịu gò bó vào khuôn phép, nên thi hoài 8 khoa mà vẫn không đậu Cử Nhân giống như Trần Tế Xương của ta :"Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui!" vậy. Tài hoa thì có thừa, nên hay dùng văn thơ châm biếm người đời, bởn cợt kẻ quyền thế, rất được giới bình dân hâm mộ giống như là Trạng QUỲNH của ta vậy !  

      Từ Văn Trường văn hay chữ tốt nổi tiếng trong vùng, nên một hôm, có người đến nhờ ông viết dùm bảng hiệu "Tỉm Xấm" bán đồ ăn điểm tâm. Ba chữ "ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店" vừa treo lên thì người ra vào ăn điểm tâm nườm nượp suốt cả tháng trời, ông chủ tiệm cười híp cả mắt, mặc sức hốt bạc... Nhưng có một điều hết sức ngạc nhiên là thực khách nào ăn xong khi đến tính tiền đều nói với chủ tiệm là :" Ông ơi, 3 chữ ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店 của ông, chữ TÂM sao viết thiếu mất một chấm ở giữa ?!". Như ta đã biết, hình dạng chữ TÂM được Cụ NGUYỄN DU diễn tả lúc Thúy Kiều nhớ Thúc Kỳ Tâm (Thúc Sinh) là : 

                                 Đêm thu gió lọt song đào,

                       Nửa vành TRĂNG KHUYẾT BA SAO giữa trời.

              Chữ 心 có hình dạng như Nửa Vành Trăng Khuyết và 3 vì sao, 2 cái 2 bên, 1 cái ở giữa, nhè Từ Văn Trường không có chấm cái chấm ở giữa. Ông chủ tiệm là dân thị tứ đâu có biết gì là chữ nghĩa, nghe mọi người đều nói vậy nên tìm Từ Văn Trường để nhờ anh ta chấm thêm cho một chấm. Nhưng sau khi chấm xong chấm đó, thì suốt cả tháng trời buôn bán ế ẩm. Ông chủ quán lại gặp Từ Văn Trường than thở rằng, từ khi chấm cái chấm đó xong thì buôn bán không còn như trước nữa. Từ Văn Trường cười bảo ông ta rằng : "Chữ TÂM là cái lòng, cái bụng, bụng có trống thì người ta mới ghé lại mà ĐIỂM Tâm, nay đã chấm thêm một chấm là bụng đã no rồi, không cần phải ĐIỂM TÂM nữa, ế là phải !". Ông chủ mới té ngữa ra, bây giờ muốn xóa chấm đó đi thì đã không còn được nữa rồi !

      Sự thật thì Từ Văn Trường chỉ lợi dụng cái tâm lý hiếu kỳ và hiếu sự của quần chúng để "câu khách" cho tiệm. Ai trông thấy chữ Tâm thiếu mất một chấm đều "ngứa ngáy" muốn nói cho chủ quán biết, sẵn đã vào tiệm nên ăn điểm tâm luôn mà thôi ! 

      Tương truyền, một hôm có một công tử con nhà giàu trong huyện Thiệu Hưng đến tìm gặp ông để bái sư học đạo. Ông thấy chàng qúi tử nầy đã ngoại tam tuần lại mày râu nhẵn nhụi, ăn mặc bảnh bao, trông giống một kẻ ăn chơi hơn là một người cầu học, bèn viết cho anh ta đôi liễn như thế nầy :

                       好  讀  書, 不  好  讀  書;

                       好  讀  書, 不  好  讀  書。



      Tất cả mặt chữ anh ta đều biết đọc, nhưng không hiểu được nghĩa lý gì cả; Vả lại 2 vế lại toàn là những chữ giống nhau như đúc, là nghĩa làm sao ?! Thì ra đây cũng là cách chơi chữ của Từ Văn Trường theo kiểu GIẢ TÁ 假借 mà thôi. Này nhé...

      - Chữ 好 khi đọc là HẢO thì có nghĩa là TỐT, NGON, ĐẸP, KHỎE, ĐÚNG LÚC... Như : Hảo Nhân là Người Tốt, Hảo Thực là Ăn Ngon, Hảo Cảnh là Cảnh Đẹp...

      - Chữ 好 khi đọc là HÁO hay HIẾU thì có nghĩa là HAM, THAM, THÍCH, NHIỀU... như : Hiếu Học là Ham Học, Háo Ăn là Tham ăn, Hiếu Chiến là Thích đánh nhau, Hiếu Sự là Nhiều chuyện...

      - Còn 讀 書 ĐỘC THƯ : là Đọc sách. Ngày xưa Đọc Sách tức là Học Hành đó. Nên ĐỘC THƯ theo "Tập Quán ngôn Ngữ" có nghĩa là HỌC, là ĐI HỌC, là HỌC HÀNH, HỌC TẬP.

      Nên Câu đối trên được đọc như sau đây :

              好讀書,不好讀書;  HẢO độc thư, bất HÁO(Hiếu) độc thư;

              好讀書,不好讀書。  HÁO(Hiếu) độc thư, bất HẢO độc thư !

Có nghĩa :

    * HẢO ĐỘC THƯ 好讀書 có nghĩa "Học tập tốt", mà cũng có nghĩa "Có điều kiện hay hoàn cảnh tốt" để Học hành.

    * HÁO ĐỘC THƯ 好讀書 là "Thích học tập", là "Muốn học hành cho đàng hoàng, cho tốt".

    * BẤT HÁO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không thích học tập", là "Không chịu học tập cho đàng hoàng nghiêm chỉnh".

    * BẤT HẢO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không học tập tốt", mà cũng có nghĩa là "Không còn hoàn cảnh hay điều kiện để học tập cho tốt nữa". Nên...

      Câu đối trên có nghĩa :

         - Lúc cần Học Tập tốt thì Không Thích học tập cho đàng hoàng; còn...

         - Lúc Thích học tập, thì không còn hoàn cảnh Tốt để học tập nữa !

      Và không chỉ viết cho chàng thanh niên công tử ăn chơi ở huyện Thiệu Hưng, câu đối nầy còn được Từ Văn Trường dùng để răn đe và khuyên dạy con cháu trong nhà nữa : "Lúc còn nhỏ, còn trẻ, có điều kiện học tập tốt thì không chiụ học cho đàng hoàng; Đến khi lớn, khi già muốn học tập lại thì đã không còn điều kiện và thời gian để học tập nữa" rồi !.

      Câu đối 14 từ mà chỉ có 4 mặt chữ (BẤT 不, HẢO 好, ĐỘC 讀, THƯ 書) đã là câu đối "lười biếng dùng chữ" lắm rồi; Nhưng sau đây còn có câu đối "Siêu lười biếng" vì cũng có 14 đơn vị từ nhưng lại chỉ có MỘT (1) mặt CHỮ duy nhất mà thôi.

      Truyện kể...

      Một hôm đang dạo phố, khi đi ngang qua khu chợ bán rau cải thì ông chủ sạp giá mời Từ Văn Trường dừng chân uống một ly trà nóng buổi sáng, rồi khẩn khoản xin Từ Văn Trường viết cho đôi câu đối để treo lên hai bên sạp cho đẹp vừa để câu khách đến mua. Thấy ông chủ sạp nhiệt tình và có thành ý, nhìn quanh các mặt hàng bày bán thì thấy nào là Giá đậu xanh, Giá đậu nành, Giá đậu phọng và các loại cải... nên Từ Văn Trường chợt lóe lên một ý dí dỏm độc đáo, rồi đặt bút viết luôn cho ông chủ sạp 14 chữ sau đây :

                 長 長 長 長 長 長 長,

                 長 長 長 長 長 長 長。

      

      Ông chủ sạp và mọi người chung quanh đều rất ngạc nhiên cùng Ồ lên một tiếng lớn, vì không ai biết phải đọc như thế nào và ý nghĩa của Nó ra làm sao. Từ Văn Trường mới mĩm cười đắc ý giải thích :

      Chữ 長 nếu đọc là TRƯỜNG thì có nghĩa là DÀI, mọc dài,còn nếu đọc là...

      長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thì có nghĩa là LỚN, mọc lớn lên, cao lên... Nên...

      Câu đối trên được đọc như sau :

          長長,長長,長長長;  Trường trưởng, trường trưởng, trường trường trưởng;

          長長,長長,長長長。 Trưởng trường, trưởng trường, trưởng trưởng trường ! 

Có nghĩa :

               Dài lớn, dài lớn, dài dài lớn;

               Lớn dài, lớn dài, lớn lớn dài !

       Trồng cải và ủ (gói) giá, bà con mong được gì nào ?! Mau dài mau lớn, mau lớn mau dài... để trông vừa tốt, vừa ngon, vừa bắt mắt và vừa... bán đắt hàng. Mọi người cùng cười xòa vỗ tay tán thưởng cho câu đối vừa giản dị, dí dỏm, lại vừa có ý nghĩa thực tế và cũng vừa làm cho người đọc cảm thấy thích thú.  

       Trở lại với tên của Từ Văn Trường 徐文長 cũng vậy, người Quảng Đông thì đọc là Từ Văn TRƯỜNG, nhưng người Tiều Châu thì lại đọc thành Từ Văn TRƯỞNG, còn âm Quan Thoại của Từ Văn Trường thì đọc là Xú-Wén-Cháng 徐文長. 

             

       Một hôm gần Tết, Từ Văn Trường thả bộ ra chợ xem bà con nhóm chợ Tết, gặp một Thầy Đồ là một lão Tú Tài già đang bày hàng viết liễn (Câu đối). Tính rắn mắt nổi lên muốn ghẹo chơi cho vui , Từ Văn Trường đi xề tới cất tiếng hỏi : 

      - Thưa Thầy, Thầy viết liễn có nghĩa là Liễn gì Thầy cũng viết được hết phải không ?. Nghe hỏi lạ, ông đồ già nhướng mắt lên thấy Từ Văn Trường, biết là chàng trai nầy định phá mình đây, bèn trả lời rất tự tin : 

      - Dĩ nhiên, cậu muốn viết liễn gì ?

      - Liễn dán chuồng heo !  Sau giây phút sựng lại vì ngạc nhiên, ông đồ bèn  ra giá :

      - Một lạng bạc ! Từ Văn Trường vui vẻ :

      - Không thành vấn đề, nhưng liễn phải hay và có ý nghĩa mới được Thầy nhé !

        Thường các Lão Tú Tài nầy người Việt ta quen gọi là "TÚ MỀN" rất giỏi chữ nghĩa và già giặn kinh nghiệm . Ông đồ bình tĩnh lặng lẽ đưa những nét bút thiệt đẹp như rồng bay phượng múa lên 2 tờ giấy hồng đơn đã rọc sẵn. Bây giờ tới phiên Từ Văn Trường ngạc nhiên, vì trên 2 tờ giấy hồng đơn mỗi bên 7 chữ, tổng cộng là 14 chữ TRƯỜNG 長 thật đẹp. Biết ông thầy đồ già muốn "chơi" mình, anh ta cũng rất bình tĩnh và lễ phép :

     - Thưa thầy, nhờ thầy đọc và cắt nghĩa dùm ạ ! Ông thầy đồ dõng dạc cất giọng :

                長 長, 長 長, 長 長 長;  

                長 長, 長 長, 長 長 長 ! 

     - Trường trường, trưởng trưởng, trường trường trưởng. 

       Trưởng trưởng, trường trường, trưởng trưởng trường !  

       Nuôi heo, anh mong được gì nào ? Heo mau dài mau lớn phải không ? Thì đây đôi liễn nầy có nghĩa :


                         DÀI DÀI, LỚN LỚN, DÀI DÀI LỚN;

                         LỚN LỚN, DÀI DÀI, LỚN LỚN DÀI !

             

      Chuyên chọc phá thiên hạ, lần nầy bị Tổ trác, liễn dán chuồng heo là câu đối 14 chữ đều là tên của mình cả, lại phải nhăn mặt móc hầu bao trả cho ông Thầy Đồ một lạng bạc, thế mới đau !

      Cho hay, chuyện đời có lúc "Kiến ăn cá", nhưng cũng lắm khi kiến té xuống nước thì "Cá cũng ăn kiến" như thường !


       Hẹn bài viết tới !

                                                             杜紹德

                                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

MƯỜI NĂM- THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


MƯỜI  NĂM 

 

1. 

 

Mười năm tình cũ còn không?

Ai thương, ai nhớ… ai mong, ai chờ…

Chuyện tình chết lịm trong thơ

Còn gì đâu nữa mà chờ, mà mong

Con đò bến cũ long đong

Có người đứng đợi, ngóng trông ngày ngày

Chữ tình còn một chút này

Rưng rưng nghèn nghẹn dâng đầy lòng ta

Biệt ly, ly biệt chia xa

Em giờ là của người ta mất rồi…

Tiễn em về phía xa xôi

Quay lưng ôm nặng đơn côi một mình

Nhắc làm chi một chuyện tình

Một mình mình nhớ, một mình mình thương

Một mình, một gánh tơ vương

Tôi đi về phía con đường không em…

 

 

2. 

 

Còn đâu một cánh môi mềm

Ngọt ngào, thắm thiết, ấm êm ngập lòng

Hẹn thề vượt cả bão giông

Giữ lòng chung thủy, một lòng yêu thương…

Bây giờ chưa hết dặm trường

Nữa đường gãy gánh, nửa đường thương đau

Em xa tình lỡ phai màu

Làm sao quên được tình đầu mới yêu…

Buồn vui nếm trải đã nhiều

Bao nhiêu năm nhớ, bấy nhiêu năm sầu

Ngồi ôm kỷ niệm mà đau

Nhớ ngày xưa cũ bên nhau ngọt bùi

Tình xa lòng luống ngậm ngùi

Thương đau rơi xuống chôn vùi tình yêu

Mười năm còn nhớ ít nhiều

Lòng như quán vắng… chợ chiều đã tan…



           

            Nha Trang, tháng 10. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

ĐÊM NGHE KHÚC NGUYỆT CẦM -THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

            


                 



 ĐÊM NGHE KHÚC NGUYỆT CẦM

 

Xé ngày. Đi khuất tháng năm
Theo con én lạc. Xa xăm lưng trời
Tìm em ở phía. Mù khơi
Cánh buồm. Trôi hết. Một đời bão giông

Rượu đâu. Lòng cũng đắng lòng
Ta giờ như mảnh trăng cong. Khuyết tàn
Buồn. Rơi nhịp lá khô vàng
Vui trong khoảnh khắc. Hợp tan Nẻo về

Tuổi nào. Đốt cháy. Si mê
Làm chim đập cánh. Đêm. Tê tái mình
Uống khan cho cạn. Chén tình
Say từ buổi trước giật mình. Tỉnh ra

Bụi lầm lỡ. Áo hào hoa
Đã treo phong ấn lên. Tà huy xưa
Nửa đường. Gặp nắng trong mưa
Một đời chỉ để. Yêu vừa trái tim

Buông rồi. Năm ngón tay. Em
Tự mình ấm lạnh. Mỗi đêm. Gối sầu
Nguyệt cầm réo rắt. Lòng nhau
Nửa khuya. Chờ sáng. Tóc màu nhạt phai


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

DÒNG THƠ ĐÃ LẠC - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



Có thể là hình ảnh về học tập và kính mắt


DÒNG THƠ ĐÃ LẠC.. 

**Giờ mấy chục năm xa xứ vẫn còn làm thơ.Thơ theo ta suốt như người tình chung thủy...


Thơ ta đã lạc trời đất khách,
Thơ trôi bay theo những cơn mưa.
Thơ rơi theo những dòng khói bụi,
Rớt giữa trời xa, người xứ xa.
Đâu đó bụi cây hoa hé nụ,
Thơ ta bám víu những vành hoa.
Nắng gió đi qua mùa bão vụn,
Tan tác thơ rơi chẳng hết mùa.
Ta vẫn làm thơ treo cánh gió,
Gởi tình ta khát bóng quê nhà.
Xứ lạ mấy ai ngồi đọc chữ,
Thơ buồn trôi mất giữa cơn mưa.
Thơ lạc, nhưng lòng ta chưa lạc,
Vẫn còn rung động ở trong ta.
Viết giữa xứ người ai rảnh đọc,
Chữ buồn nằm lại với riêng ta.
Thơ theo gió thổi về quê cũ,
May có người quê nhặt thơ ta.
Đọc chút tình quê còn sót lại,
Biết người xa xứ nhớ quê nhà.
Thơ ta cứ lạc cùng năm tháng,
Lạc giữa chiều sương, lạc nắng tà.
Chỉ có hồn ta còn đứng lại,
Gieo từng con chữ giữa hồn ta.


HUỲNH TÂM HOÀI

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

CHỮ ĐIỀN CỦA TRẠNG NGUYỄN HIỀN - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Giai Thoại Văn Chương Vui:

             CHỮ ĐIỀN CỦA TRẠNG NGUYỄN HIỀN


1. Giai thoại Văn Chương Việt Nam :

      NGUYỄN HIỀN (1234-1255), người làng Dương A, huyện Thượng Hiền, thuộc tỉnh Nam Định hiện nay. Ông đậu Trạng Nguyên năm 12 tuổi, Vì còn thiếu niên nên vua cho ông về quê 3 năm tu dưỡng để học thêm về lễ. Tương truyền sứ thần Trung Hoa đem một bài thơ ngũ ngôn sang thử nhân tài nước Nam. Bài thơ như sau:

                Lưỡng nhật bình đầu nhật,         兩日平頭日,
                Tứ sơn điên đảo sơn,              四山顛倒山。
                Lưỡng vương tranh nhất quốc,      兩王爭一國,
                Tứ khẩu tung hoành gian.          四口縱橫間。
      Có nghĩa :
                Hai mặt nhựt bằng đầu nhau,
                Bốn trái núi nghiêng ngã vào nhau.
                Hai vua cùng tranh nhau một nước,
                Bốn miệng cùng ngang dọc nhau.

      Vua và các quan trong triều đều không ai hiểu là nghĩa gì, nên mới cho mời Trạng Nguyên Nguyễn Hiền đến. Khi sứ thần đưa bài thơ, Trạng xem xong đã giảng như thế nầy :
       * Hai chữ Nhật 日 đặt bằng đầu sát vào nhau thì thành chữ ĐIỀN 田.
       * Bốn chữ Sơn 山 trên, dưới, phải, trái ghép lại cũng là chữ ĐIỀN 田.
       * Hai chữ Vương 王 một ngang một dọc nhập lại cũng thành chữ 田.
       * Bốn chữ Khẩu 口 trên dưới ngang dọc nhập lại cũng là chữ ĐIỀN 田.


      Nên 4 câu thơ trên chỉ là chiết tự của chữ ĐIỀN là Ruộng mà thôi ! Sứ thần và triều thần đều phải chịu ông là giỏi !

2. Giai Thoại Dân Gian Trung Hoa :

        Vào đời nhà Minh, ở trấn Thanh Khê của vùng đất Giang Nam trù phú, có một thương nhân họ Kỷ buôn bán tơ lụa. Kỷ Viên Ngoại gia đình giàu có nhưng lại không có con trai, chỉ sinh được một gái nên xem như là chưởng thượng minh châu (hạt châu sáng trong tay : ý chỉ rất qúy trọng cưng chiều), đặt tên là Du Nhiên 悠然, lấy ý ở 2 câu thơ của Đào Uyên Minh là "Thái cúc đông ly hạ; Du Nhiên kiến Nam san 採菊東籬下, 悠然見南山". Cô bé Kỷ Du Nhiên 紀悠然 thông minh dĩnh ngộ, được cha mẹ hết lòng thương yêu chiều chuộng, lại mướn thầy về nhà dạy học, nên tiểu thư Du Nhiên mới 16 tuổi đã giỏi cả cầm kỳ thi họa. Cha mẹ rất tự hào về cô con gái giỏi giang nầy nên muốn kén một chàng rể tài hoa xuất chúng cho xứng hợp với con mình. Nhưng Tiểu thư Du Nhiên không muốn cho các bà mai mối lựa chọn, mà muốn chính bản thân mình chọn người phu quân lý tưởng cho mình, mới xin với cha mẹ cho nàng "Xuất đối chiêu thân", là "Ra câu đối để tìm người hôn phối". Vì thương con nên ông bà họ Kỷ đều đồng ý. Nhân Tiết Nguyên Tiêu đầu năm mới tiểu thư Kỷ Du Nhiên mới trương ra câu thách đối như sau :

                田字扒開全是口,    ĐIỀN tự bái khai toàn thị KHẨU;
      Có nghĩa :
               Chữ ĐIỀN 田 mà bung ra thì toàn là chữ KHẨU 口;


                       
      Ý là ruộng đất mà đem chia ra thì sẽ có rất nhiều nhân khẩu đến để nhận, cũng có ý là hễ chia ruộng đất là ắt cũng có nhiều khẩu thiệt nói ra nói vào. Câu đối cừa chiết tự vừa mang một triết lý xâu xa. 
      Câu đối vừa treo ra thì các chàng thư sinh trai trẻ đầu trên xóm dưới đều kéo nhau đến để xem và để... đối thử, may ra có trúng được ý của người đẹp hay chăng. Một chàng công tử con phú hộ ở đầu thôn xung phong lên trước đối rằng :

                鑫字剝開全是金。  HÂM tự bác khai toàn thị KIM.
     Có nghĩa : 
              Chữ HÂM 鑫 bóc rời ra thì toàn là KIM 金.

            

     HÂM là Giàu có, Thịnh vượng; KIM là Vàng ròng, là Kim tiền. Kỷ tiểu thư khen hay nhưng lại phê là "Qúa nặng mùi tiền bạc của cải". Lại một chàng trông có vẻ lãng tử giang hồ đang giương dù đi tới, đối rằng :

                傘字去骨成五人。  TẢN tự khứ cốt thành ngũ NHÂN.
      Có nghĩa :
              Chữ TẢN 傘 bỏ đi cái xương ở giữa thì thành năm chữ NHÂN 人.


     TẢN 傘 là Cây Dù (Ô) bỏ đi cái xương ở giữa là chữ THẬP 十 ra, thì còn lại 5 chữ NHÂN 人 là 5 Người (Một chữ NHÂN ở trên cùng và bốn chữ NHÂN ở dưới). Kỷ tiểu thư khen là "đối rất khéo, nhưng có vẻ ô họp, lấy thịt đè người". Một chàng tiều phu đang vác bó củi đi ngang qua, thấy mọi người đang tụ họp đông đúc, không biết chuyện chi cũng chen vào xem và gật gù lẩm bẩm. Mọi người đang cười nhạo là Tiều phu cũng muốn đối hay sao, thì chàng Tiều phu bèn lớn tiếng đối rằng :

                困字分開只見木。  KHỐN tự phân khai chỉ kiến MỘC.
     Có nghĩa :
              Chữ KHỐN 困 chia ra thì chỉ thấy có chữ MỘC 木 ở bên trong.


     KHỐN là Khốn cùng, Khốn khó; Còn MỘC là Cây; với ý là : Vượt qua được khốn khó thì sẽ vương lên như là sức sống của một cái cây vậy. Mọi người đang ngạc nhiên thì Kỷ tiểu thư đã ứng tiếng phê rằng :"Ý thì rất hay, không chê vào đâu được, nhưng BẰNG TRẮC thì vẫn còn chưa ổn. Đọc lên nghe vẫn còn chỏi với vế ra nhiều lắm". Chàng tiều phu không chịu thua lại đọc tiếp thêm một vế đối khác nữa là :

                木林聚合便成森。   MỘC LÂM tụ họp tiện thành SÂM. 
     Có nghĩa :
              MỘC LÂM 木林 tụ họp lại thì trở thành SÂM 森.

             
     MỘC LÂM là Cây Rừng; còn SÂM là Râm rạp (Hình dung từ). Ý là "Cây Rừng" mà tụ họp lại thì sẽ trở nên "Rậm rạp". Đối với tiều phu thì một rừng cây rậm rạp là nguồn sống vô biên vô tận, ý rất hay lại rất "ăn" Bằng Trắc, nhưng lại "không ăn" tự loại; Vì SÂM là Hình dung từ chớ không phải Danh từ. Khi mọi người còn đang cân nhắc, thì bỗng có một gả ăn mày, tay cầm gậy đánh chó chen vào xin đối. Mọi người chung quanh đều buông lời cười cợt "Thứ cái đồ ăn xin mà không biết thân biết phận, bày đặt học đòi !". Kỷ Tiểu thư thấy gã ăn xin mặc dù ăn mặc lam lũ, nhưng mi thanh mục tú mặt mày sáng sủa, bèn ra hiệu cho thị nữ chấp thuận cho anh ta đối. Chàng ăn mày bèn lớn tiếng nói rằng :"Tiểu thư đã dùng chữ ĐIỀN và chữ KHẨU để ra vế đối, thì tôi cũng xin dùng hai chữ đó để đối lại như sau :

                口才四處易成田。   KHẨU tài tứ xứ dị thành ĐIỀN.
      Có nghĩa :
               KHẨU 口 mà tài thì tứ xứ khắp chốn đều dễ thành ĐIỀN 田.

                
      Có KHẨU TÀI là có tài về miệng lưỡi, ăn nói giỏi, thì khắp nơi khắp chốn đều rất dễ thành đạt mà có nhiều Điền sản, ruộng đất. Cũng có hàm ý là : Ăn xin giỏi cũng dễ có được ruộng đất như thường ! Về kỹ xảo của câu đối thì có nghĩa : "Ghép chữ KHẨU 口 bốn bên lại với nhau thì sẽ thành chữ ĐIỀN 田"; đối lại với vế ra của Kỷ Tiểu thư là : "Chữ ĐIỀN 田 mà bung ra thì toàn là chữ KHẨU 口". Kỷ Tiểu thư rất vừa ý, nhưng lại gợi ý cho thị tỳ chất vấn tiếp là :"Có khẩu tài là thế, sao lại phải đi xin ăn thế kia?". Chàng ăn mày lại đáp bằng một vế đối khác là : 
               
                日日平安也是田。    NHẬT NHẬT bình an dã thị ĐIỀN.
      Có nghĩa :
           Ngày ngày sống bình yên cũng là Điền sản đó. Cũng hàm ý là "2 chữ NHẬT đứng sát liền nhau thì cũng thành chữ ĐIỀN " đó.

      Kỷ Tiểu thư nghe xong rất ngạc nhiên hỏi :"Còn có thể đối thêm một vế về chữ ĐIỀN nữa không ? Chàng ăn mày suy nghĩ giây lâu rồi đáp :

                四山顛倒便成田。    Tứ SƠN điên đảo tiện thành ĐIỀN.

       Có nghĩa :
              Bốn chữ SƠN 山 nằm nghiêng ngã vào nhau cũng thành chữ ĐIỀN. Ý là :"Nếu núi non bị khai phá cho nghiêng ngã đổ sập xuống thì cũng trở thành ruộng đất cả thôi !".

      Vẫn chưa chịu buông tha vì cái bộ dạng ăn mày, nên Kỷ Tiểu thư truy đuổi tới cùng :"Nếu có thể làm thêm một vế đối về chữ ĐIỀN nữa thì sẽ đính ước việc chung thân, mà không còn ngần ngại gì nữa !". Mọi người đều lo lắng thay cho chàng ăn mày, thì chàng lại rất bình tĩnh suy tư trong giây lát bèn cất tiếng đọc to :

                兩王爭國總為田。    Lưỡng VƯƠNG tranh quốc tổng vi ĐIỀN.

                       Có nghĩa :
              Hai VƯƠNG tranh nhau một nước cũng vì ĐIỀN thổ mà thôi. Hai chữ VƯƠNG 王 một ngang một dọc chồng lên nhau trong một ô thì cũng thành chữ ĐIỀN. Đến nước nầy thì Kỷ Tiểu thư cũng rất vui lòng mát dạ mà e thẹn rút lui; rồi lệnh cho thị nữ mời chàng ăn mày tài hoa vào đại sảnh gặp ông bà Kỷ Viên Ngoại  để bàn việc hôn ước.   

          Tiểu Đăng Khoa  (cưới vợ)          Đại Đăng Khoa  (thi đậu làm quan)

       Sau Tiểu Đăng Khoa mật ngọt của đôi tài tử giai nhân, thì năm sau nhờ vào sự hỗ trợ của gia đình nhà gái, chàng thư sinh ăn mày đã lai kinh ứng thí và đậu ngay Bảng Nhãn cập đệ. Vợ chồng sống hòa hợp êm ấm trong cảnh phu xướng phụ tùy cho đến răng long đầu bạc. Truy nguyên thì là nhờ vào những câu đối xoay quanh chữ ĐIỀN 田 mà thôi !

                    

      Hẹn bài viết tới !

                                                杜紹德
                                              ĐỖ CHIÊU ĐỨC 
                    

                   

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

MỘT BƯỚC VỌT CỦA THỜI ĐẠI - HUỲNH TÂM HOÀI

 

Có thể là đồ họa về văn bản


MỘT BƯỚC VỌT CỦA THỜI ĐẠI

Từ những năm 1950 đến hôm nay, năm 2026, chỉ hơn bảy mươi năm trôi qua, nhưng khoa học và kỹ thuật đã tạo nên một bước tiến thật khó tưởng tượng.
Tôi còn nhớ thuở nhỏ, tôi ở xứ hóc bà tó Cồn Cù, chung quanh chỉ thấy ruộng muối, rừng và đồng ruộng. Những gì quen thuộc với tôi lúc ấy là con trâu, cái cày và những người nông dân chân lấm tay bùn.
Lần đầu tiên nhìn thấy một chiếc xe hơi, tôi ngạc nhiên lắm. Nhìn chiếc xe to như vậy, trong bụng tôi nghĩ: “Chắc phải hai con trâu mới kéo nổi!”
Rồi tôi thấy người ta khởi động xe bằng một thanh sắt cắm vào phía trước đầu máy, dùng sức của hai cánh tay quay thật mạnh cho động cơ nổ.
Điều làm tôi kinh ngạc hơn cả là chiếc xe chẳng cần con trâu nào kéo mà vẫn tự chạy bon bon trên đường.
Với một đứa trẻ lớn lên giữa ruộng đồng Cồn Cù thời ấy, đó quả thật là một điều kỳ diệu.
Vậy mà ngày nay, xe chỉ cần bấm nút là khởi động, có thể chỉ đường, cảnh báo nguy hiểm, giữ khoảng cách, thậm chí có loại còn tự lái trong một số điều kiện.
Ngày xưa, muốn gửi một lá thư đi xa phải chờ nhiều ngày, có khi nhiều tuần. Ngày nay, chỉ cần chạm tay vào màn hình, lời nói và hình ảnh đã vượt nửa vòng trái đất trong khoảnh khắc. Người ở cách nhau hàng ngàn cây số vẫn có thể nhìn thấy và trò chuyện với nhau như đang ngồi trước mặt.
Từ chiếc radio, ngọn đèn dầu, điện thoại quay số, máy đánh chữ của một thời, con người đã đi đến máy vi tính, điện thoại thông minh, Internet và trí tuệ nhân tạo. Máy móc ngày nay có thể nghe, nói, dịch thuật, tìm kiếm tài liệu, sáng tác âm nhạc, tạo hình ảnh Từ chiếc radio, ngọn đèn dầu, điện thoại quay số, máy đánh chữ của một thời, con người đã đi đến máy vi tính, điện thoại thông minh, Internet và trí tuệ nhân tạo.
Ngày nhỏ, đọc chuyện, Đường Minh Hoàng lên cung trăng, tôi cứ nghĩ chuyện con người lên tới Mặt Trăng chỉ có trong huyền thoại và trí tưởng tượng. Vậy mà rồi chính trong đời mình, tôi đã được chứng kiến con người phóng phi thuyền vào không gian và thật sự đặt chân lên Mặt Trăng..
Nhìn lại từ năm 1950 đến năm 2026, tôi có cảm tưởng mình không chỉ sống qua hơn bảy mươi năm, mà như đã đi qua nhiều thời đại khác nhau. Từ đứa trẻ nhìn chiếc xe hơi mà nghĩ phải có hai con trâu mới kéo nổi, đến ngày thấy chiếc xe tự chạy,được thấy con người lên Mặt Trăng, rồi con người chuyện trò với trí tuệ nhân tạo — quả thật là một bước vọt lớn của thời đại. Có lẽ những người đã sống qua cả hai thời kỳ như chúng tôi mới cảm nhận hết sự kỳ diệu nầy. Bởi chính đôi mắt này đã từng nhìn thấy một thế giới cũ, rồi cũng chính đôi mắt này lại được nhìn thấy những điều tưởng chỉ có trong mơ trở thành hiện thực. Tương lai chắc còn nhiều điều nữa nhưng rất tiếc chắc tôi không còn để chứng kiến.


HUỲNH TÂM HOÀI

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

NGÀY THÁNG TÁM - THƠ SONG LINH

 


1001 bài thơ Tháng 8 hay, tình thơ tháng Tám mùa Thu mới nhất | IINI Blog


 NGÀY THÁNG TÁM


Ngày tháng tám mùa thu về rất lạ

Em mắt buồn theo cỏ lá heo may

Đường thở dài vàng nắng áng mây bay

Tình cúi mặt để sầu rêu nhánh lá

 

Ngày tháng tám mùa thu xanh biển cả

Cánh chim về hong ấm nụ môi hôn

Bài thơ yêu nhung nhớ lại gần hơn

Căn gác nhỏ mở lòng vui đất lạnh

 

Ngày tháng tám mùa thu vàng đất trắng

Tay em mềm gối mộng ngát trùng dương

Con sóng vỗ thềm trăng mòn vách đá

Gió thu về mây trắng đẹp trời hương

 

Ngày tháng tám mùa thu trùng xuống thấp

Đất khóc thầm tan vỡ mối tình hoa

Em nói dối ta buồn như muốn khóc

Con thuyền nào chở hết cõi lòng ta

 

Ngày tháng tám mùa thu về thêm tuổi

Đất mẹ nghèo mọc cánh vỗ trời hoang

Và tình ta từ đó cũng lang thang

Khi trước mặt cuộc đởi chưa đáp số

 

 SONG LINH