CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026

KIẾP NGHÈO - TRẦN HỮU NGƯ

 


KIẾP NGHÈO
“… Lầy lội qua muôn lối quanh
Gập ghềnh đường đê tối tăm
Ngập ngừng dừng bên mái tranh
Nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi
Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha…”
Đó là câu tiếp theo sau câu mở đầu “ Đường về…” trong bài hát “Kiếp nghèo” của nhạc sĩ Lam Phương. Nghe mà như thấy hình ảnh một người bước đi “gập ghềnh”, rồi “ngập ngừng”, rồi “ngân nga”… trong một bức tranh, nhưng đối với thế kỷ 21 này, đó chỉ là miền cổ-tích!
Ôi, nghèo mà trở thành “Kiếp” thì dù có tài giỏi đến đâu cũng khó mà thay đổi số phận? Nhưng nhạc sĩ Lam Phương thì khác, vì nghèo quá, nên anh viết “Kiếp nghèo” đã làm đời anh “thoát nghèo”! Rồi từ đó, người ta bỏ tiền ra làm dĩa, thâu băng, ngoài ca sĩ hát “Kiếp nghèo”, người người nhà nhà đều nghe và hát “Kiếp nghèo” trên từng cây số, họ trả công xứng đáng cho Lam-Phương, và từ đó anh trở thành “Kiếp giàu”, một bài hát thay đổi cả số phận, hình như ở Việt Nam này, chỉ có một mình Lam Phương?
Bài “Kiếp nghèo” ra đời từ năm 1957 do tác giả xuất bản và giữ bản quyền. Bài hát này đã được người nghe đón nhận nồng nhiệt, mặc dù giai điệu Tango “Phó thường dân” thường hát trật nhịp, cho nên nghe là chính, hát là phụ.
Dân gian có câu: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”? Đó là câu nói để an ủi người nghèo, để người nghèo hy vọng một ngày nào đó “thoát nghèo”. Nhưng có không ít người giàu thì giàu suốt đời, và nghèo, thì nghèo suốt kiếp! Nghèo mà trở thành “kiếp” thì là số phận rồi, chẳng mong gì có một ngày thoát được kiếp nghèo đâu, đừng có mơ?
Trong âm nhạc, có không ít bài hát viết về nghèo. Nhưng có ba bài viết về nghèo đã làm cho người nghe thấy nghèo sao mà lãng mạn quá, hạnh phúc quá, nghèo mà sung sướng quá, như : “Phố buồn” của Phạm-Duy, “Xóm đêm” của Phạm Đình Chương và “Kiếp nghèo” của Lam Phương.
Ba nhạc sĩ này là ba tư tưởng lớn gặp nhau:
-Bài hát nào cũng bắt đầu từ “ĐƯỜNG VỀ, và có MƯA, và… ĐÊM”:
“… Đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em
Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tên
Qua mấy gian không đèn
Những mái tranh im lìm
Đường về nhà em tối đen…”
(Phố buồn – Phạm Duy)
“… Đường về canh thâu
Đêm khuya ngõ sâu như không màu…
Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn…”
(Xóm đêm – Phạm Đình Chương)
“… Đường về đêm nay vắng tanh
Rạt rào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…”
(Kiếp nghèo – Lam Phương)
Nghèo trong “PHỐ BUỒN”, trong “XÓM ĐÊM” tuy cũng nghèo, nhưng không thấm thía, đau buốt, dằn vặt, định mệnh… như trong “KiẾP NGHÈO”. Có những cái nghèo mà một đời đói ăn, thiếu mặc, thèm các cái… nhưng có thể chấp nhận gượng sống qua ngày. Nhưng nghèo đến tận cùng cuối trời, thấu đất, nghèo đến nỗi “không dám mơ ước “tình chung” thì chỉ có “KIẾP NGHÈO” của Lam Phương mới làm cho người đời ghi khắc, thương cảm, xót xa, như muối xát trong lòng.
Sau khi bất lực với nghèo, trong cái Dolce (dịu dàng, hòa hoãn), Lam Phương đã van xin đất, cầu khẩn trời, van xin Thượng Đế:
“… Trời cao có thấu
Cúi xin người ban phước cho đời con:
Một mái tranh yêu
Một khối tình chung thủy không hề phai
Và một ngày mai
Mưa không nghe tiếng khóc trong đêm dài
Đây cả nỗi niềm
Biết ngày nào ai thấu cho lòng ai….”
Có một câu trong bài hát “KIẾP NGHÈO” làm cho tôi nhớ thời áo tơi chằm lá, không mặc mà chỉ khoác vào, có dây cột vào cổ, đầu đội nón lá che mưa :
“… Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…
Mưa ơi có thấu cho ta
Lòng lạnh lùng giữa đêm trường
Đời gì chẳng tình thương không yêu đương…”
Nghèo tiền bạc, của cải vật chất đã đành, nhưng nghèo của Lam Phương đến nỗi cộng thêm “chẳng có tình thương và không yêu đương”!


TRẦN HỮU NGƯ
(Saigon-Giađinh, một bài viết đã lâu không ghi rõ ngày tháng vì tôi cũng nghèo nhưng không đến nỗi là “kiếp” mà chỉ nghèo “gia truyền”

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

THÔI - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

Nguyen Trung Artist - Vietnam Art Gallery NGUYEN TRUNG

TRANH NGUYỄN TRUNG


THÔI

 

Thôi em, khóc làm gì, hoa lá cũng

Khóc theo em, như tận tuyệt ngày qua

Hãy cứ để, đời xuôi, theo con nước

Chảy về miền, quá khứ, xót xa đau

 

Em, tan chảy trong anh, lời thệ nguyện

Khi trên đời, còn trổ nụ đơm bông

Thì ắt hẳn, ở em, vùng trú ngụ

Ngày cơn mưa, che dấu, hết ngoan hiền

 

Đó là dạo, bây giờ, xa lơ lắc

Níu làm chi, hai phương, biệt mây mù

Mà thực thể, trở thành, ngôi sao tắt

Bước đường ta, hoan hỉ, một thiên thu

 

Thôi em khóc làm gì, trời đất cũng

Buồn cùng em... năm tháng, cỏ cây buồn

Hãy lụn tắt, theo tháng ngày, đắng mật

Chuyện tình suông, như thể, mối tình suông

 

Anh như thể, chim trời, bay, quá khứ

Em như ngàn, lau lách, bụi bờ xa

Trả ân oán, của đất trời, hội tụ

Trong vô biên, còn đượm, tháng ngày qua

 

Cảm tạ những ân tình em đã gởi

Đợt sóng tình bèo giạt cũng khơi xa...

 

TRẦN YÊN HOÀ


Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

BUỔI SÁNG LẶNG LẼ - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 


BUỔI SÁNG LẶNG LẼ

Con đường im vắng dưới khu phố vốn thường ngày náo nhiệt
Tiếng xe cộ chạy qua
Bước chân người xuôi ngược
Hàng cây thả những chiếc lá già vàng úa trong sương sớm
Ai đó không ca hát, không nói cười
Báo hiệu sự lặng lẽ bất ngờ đầu một ngày mới

Căn phòng nơi tôi ở vẫn lặng lẽ như màu trời ngang qua ô cửa xanh
Bức tường xám nhạt vương vất thứ nắng mai mỏng manh, nhuộm buồn
Chim sẻ quên về sau mấy ngày bỏ đi khi cơn mưa chiều làm vỡ tổ
Tôi bấm nút mở nguồn chiếc bình nấu nước siêu tốc
Pha ấm trà gừng
Nhấm nháp nỗi cay đắng ứa ra đầu môi

Gió vẫn đập bâng quơ vào cánh cửa đóng kín
Những nhịp cầu thang không có tiếng chân đi
Bụi mỏng bám theo dấu chân người
Ngọn đèn đêm chưa kịp tắt
Lâu lắm đã lãng quên ai đó sẽ về
Một bờ vai nghiêng, một vạt tóc dài và sương khói u buồn trong ánh mắt

Lâu quá rồi phải không em. Chúng ta hình như đã cố lãng quên nhau
Cố xua đuổi cảm giác ngọt ngào của bờ môi khi em tới
Sự bình yên lúc vòng tay ôm mở ra
Hạnh phúc lắng xuống giữa mưa trưa hay những chiều gió nổi
Phút hoan lạc của trái tim
Từ khoảng cách không gian những ngày chờ đợi

Hôm nay cũng vẫn buổi sáng lặng lẽ sau những ngày em quay mặt bước đi một cách bất ngờ
Tôi bất chợt nhận ra tiếng đập cửa của gió như điều nhắc nhớ
Thời gian cứ trôi đi trong âm thầm
Ngày tháng cứ xa dần xa dần trong lặng lẽ
Lòng mình vẫn không nguôi bão tố

Và rồi, những buổi sáng lặng lẽ cứ mở ra trước đầu một ngày mới
Mưa nắng sẽ qua cùng mùa
Năm cạn dần để kỷ niệm thêm chồng chất
Chúng ta luôn đi lại con đường ngày xưa và giả vờ quên không nhớ
Nhưng lúc trở về ngồi lại với đêm khuya
Mặt úp lên gối cũ mùi hương tóc xưa vẫn còn
Đâu ai nhắc ai mà vẫn khóc


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Giai Thoại Văn Chương  vui :

                       NHỮNG CÂU ĐỐI LƯỜI BIẾNG NHẤT XƯA NAY

      SƠN HẢI QUAN 山海關 là một quan ải hiểm yếu nằm ở tỉnh Hà Bắc vùng Đông bắc Trung Hoa sát với biển Đông, và là nơi khởi điểm của Vạn Lý Trường Thành, nên thường được gọi là "Thiên hạ đệ nhất quan 天下第一關" là "Quan ải số một trong thiên hạ". Trên sườn núi phía đông của Sơn Hải Quan có một ngôi cổ miếu có tên là MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟, là miếu thờ nàng Mạnh Khương.

       Như ta đã biết trong "Tứ Đại Ái Tình Truyền Thuyết 四大愛情傳說" của Trung Hoa xưa là : Ngưu Lang Chức Nữ, Bạch Xà Truyện, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài và Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành. Bỏ qua ba truyện trên, truyện Mạnh Khương Nữ có tích như sau :


                                  Mạnh Khương Nữ khóc Trường Thành

       Chàng thanh niên thư sinh Phạm Hỉ Lương 范喜良 (còn được gọi là Vạn Hỉ Lương 萬喜良) trốn vào hoa viên nhà họ Mạnh để tránh quân Tần đuổi bắt các thanh niên tráng đinh đi xây Vạn Lý Trường Thành, tình cờ làm quen với tiểu thư nhà họ Mạnh là Mạnh Khương Nữ 孟姜女. Hai bên nam nữ cùng ái mộ nhau và đính ước hôn nhân. Khi đôi bên làm lễ thành hôn mới được ba ngày, vợ chồng đang ân ái mặn nồng thì Vạn Hỉ Lương bị lính Tần bắt đi xây Vạn Lý Trường Thành. Mùa đông năm đó, sau khi đã chờ đợi mõi mòn, nàng Mạnh Khương mới đan áo ấm cho chồng rồi khăn gói vượt đường xa muôn dặm để thăm chồng. Nào ngờ khi đến nơi thì được tin chồng đã chết và cùng một nhóm phu phen bị chôn thây vào với trường thành. Nàng khôn xiết bi thương sầu thảm khóc đến "máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao", khóc đến chết đi sống lại trong ba ngày ba đêm, khóc đến mưa sầu gió thảm và sấm sét nổi lên đánh sập cả bức trường thành, xác chết của các tráng đinh xây trường thành bày ra la liệt, trong đó có xác của Phạm Hỉ Lương. Vua Tần nổi giận định trị tội nàng, nhưng khi thấy nàng là một giai nhân xinh đẹp nên định nạp làm phi tần. Nàng muốn vua Tần phải an táng chồng mình cho chu đáo rồi mới chịu nhập cung. Nhưng sau khi được vua Tần chôn cất chồng xong, nàng bèn nhảy xuống biển đông để tự trầm mà chết theo chồng. Dân làng cảm thương cho sự trung trinh tiết liệt của nàng nên mới lập miếu MẠNH KHƯƠNG NỮ để thờ tự hương hỏa quanh năm mãi cho đến hiện nay.

                                       MẠNH KHƯƠNG NỮ MIẾU 孟姜女廟

  Miếu được xây một cách uy nghi cổ kính trên sườn núi nhìn ra biển, sau khi phải đi lên một trăm linh tám (108) bậc thang đá mới đến được cổng sơn môn của miếu, và trước điện thờ chính có một đôi câu đối mà nhà văn cận đại Quách Mạt Nhược 郭沫若 (1892—1978) gọi là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联" (Đôi liễn kỳ lạ nhất thiên hạ) Vì nếu mới trông qua lần đầu người ta sẽ không biết phải đọc như thế nào. Đôi liễn kỳ lạ đó như sau :

              海  水  朝  朝  朝  朝  朝  朝  朝  落,

              浮  雲  長  長  長  長  長  長  長  消。

       Như ta đã biết, trong Lục Thư để tạo hình chữ Nho có phép thứ sáu là GIẢ TÁ 假借 có nghĩa : Mượn chữ có sẵn để chỉ một nghĩa khác, như câu đối trên có chữ 朝. Nếu đọc là...

      - 朝 TRIÊU thì có nghĩa là Buổi sáng : như trong hai câu trong bài hát nói "Giai Nhân 2" của Cao Bá Quát là : "Giai nhân khứ khứ hành hành sắc, tài tử TRIÊU TRIÊU MỘ MỘ tình 佳人去去行行色,才子朝朝暮暮情" (Vẻ đẹp giai nhân đi đi lại lại; Tình riêng tài tử SỚM SỚM CHIỀU CHIỀU). Nếu đọc là...

      - 朝 TRIỀU (có dấu huyền) có nghĩa là Triều đại 朝代, lại đồng âm với chữ TRIỀU 潮 là Nước Thủy Triều 水潮. Còn...

      - 長 đọc là TRƯỜNG (dấu huyền) thì có nghĩa là Dài, đồng âm Quan thoại với chữ THƯỜNG 常 là Thường xuyên, là Luôn luôn. Còn đọc là...

      - 長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thí có nghĩa : Sinh ra, Lớn lên, tràn lên. Nên...

       Câu đối mỗi vế gồm mười (10) chữ trên, có thể đọc được nhiều cách. Sau đây chỉ là 3 cách đọc tiêu biểu :

      * Cách thứ nhất : Đọc theo chấm câu 3, 3, 4. như sau :

                    海  水  朝,  朝  朝  朝,  朝  朝  朝  落,

                    浮  雲  長,  長  長  長,  長  長  長  消。

           Hải thuỷ triều, triêu triêu triều, triêu triều triêu lạc;

           Phù vân trưởng, trường trường trưởng, trường trưởng trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thuỷ triều của biển, mỗi buổi sớm đều có thủy triều, có buổi sớm thuỷ triêu lên, có buổi sớm truỷ triều xuống;

       - Mây nổi ở trên trời, thường thường được sinh sôi ra, thường được sinh ra nên cũng thường được tiêu tán đi.

     * Cách thứ nhì : Đọc theo chấm câu 4, 3, 3. như sau :

                     海  水  朝  朝,  朝  朝  朝,  朝  朝  落,

                     浮  雲  長  長,  長  長  長,  長  長  消。

           Hải thủy triêu triều, triêu triêu triều, triêu triêu lạc;

           Phù vân trường trưởng, trường trường trưởng, trường trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thủy triều lên xuống của biển, mỗi ngày đều đầy lên, mỗi ngày đều rút xuống;

       - Mây nổi được sinh ra ở trên trời, thường xuyên được sinh ra, thường xuyên tiêu mất đi.

     * Cách thứ ba : Đọc theo chấm câu 5, 5. như sau :

                    海  水  朝  朝  朝,  朝  朝  朝  朝  落,

                    浮  雲  長  長  長,  長  長  長  長  消。

          Hải thủy triêu triêu triều, triêu triều triêu triêu lạc;

          Phù vân trường trường trưởng, trường trưởng trường trường tiêu.

Có nghĩa :

       - Nước thủy triều của biển dâng lên mỗi buổi sáng, nên mỗi buổi sáng nước triều đều lại rút đi;

       - Đám mây nổi trên trời thường xuyên được sinh ra, thường xuyên được sinh ra nên cũng thường xuyên tiên tán đi.                   

      Tóm lại, dù cho đọc theo cách nào, hiểu theo nghĩa nào thì cũng nằm trong cái ý vô thường và tuần hoàn của sự vật ; Có sinh có trưởng thì có tiêu có tán, cũng như nước thủy triều có lên thì có xuống, chỉ có lòng trung trinh tiết liệt , ý chí kiên cường thiết thạch như nàng Mạnh Khương Nữ là còn trường tồn mãi mãi với thời gian mà thôi ! 

      Mặc dù được nhà văn Quách Mạt Nhược khen là "Thiên hạ đệ nhất kỳ liễn 天下第一奇联": Câu đối gồm có 20 từ, nhưng chỉ có 8 mặt chữ, nên đã làm khó người xem không ít ! Tác giả ẩn danh nào đó đã "lười biếng" tìm từ nên chỉ sử dụng có 8 mặt chữ mà thôi. Sau đây là đôi câu đối 14 từ : Mỗi câu 7 từ, nhưng chỉ có 4 mặt chữ, lại "càng lười biếng và cầu kỳ hơn" với "Vế Sau lặp lại y chang Vế Trước" của Từ Văn Trường.

                      

      TỪ VĂN TRƯỜNG 徐文長 ( 1521-1593 ) tên là VỊ 渭, tự là Văn Trường 文長, hiệu là Thanh Đằng 青藤, sanh năm Chánh Đức thứ 16 đời nhà Minh. Người đất Sơn Âm (Huyện Thiệu Hưng ngày nay), lớn lên trong một gia đình quí tộc đang hồi xuống dốc. Sáu tuổi đã đi học, nổi tiếng là THẦN ĐỒNG, 20 tuổi đậu Tú Tài, là một nhà văn, nhà thơ, nhà thư pháp và là một họa sư nổi tiếng ở cuối đời Minh đầu đời Thanh. 

      Ông là người phóng khoáng, không chịu gò bó vào khuôn phép, nên thi hoài 8 khoa mà vẫn không đậu Cử Nhân giống như Trần Tế Xương của ta :"Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui!" vậy. Tài hoa thì có thừa, nên hay dùng văn thơ châm biếm người đời, bởn cợt kẻ quyền thế, rất được giới bình dân hâm mộ giống như là Trạng QUỲNH của ta vậy !  

      Từ Văn Trường văn hay chữ tốt nổi tiếng trong vùng, nên một hôm, có người đến nhờ ông viết dùm bảng hiệu "Tỉm Xấm" bán đồ ăn điểm tâm. Ba chữ "ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店" vừa treo lên thì người ra vào ăn điểm tâm nườm nượp suốt cả tháng trời, ông chủ tiệm cười híp cả mắt, mặc sức hốt bạc... Nhưng có một điều hết sức ngạc nhiên là thực khách nào ăn xong khi đến tính tiền đều nói với chủ tiệm là :" Ông ơi, 3 chữ ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店 của ông, chữ TÂM sao viết thiếu mất một chấm ở giữa ?!". Như ta đã biết, hình dạng chữ TÂM được Cụ NGUYỄN DU diễn tả lúc Thúy Kiều nhớ Thúc Kỳ Tâm (Thúc Sinh) là : 

                                 Đêm thu gió lọt song đào,

                       Nửa vành TRĂNG KHUYẾT BA SAO giữa trời.

              Chữ 心 có hình dạng như Nửa Vành Trăng Khuyết và 3 vì sao, 2 cái 2 bên, 1 cái ở giữa, nhè Từ Văn Trường không có chấm cái chấm ở giữa. Ông chủ tiệm là dân thị tứ đâu có biết gì là chữ nghĩa, nghe mọi người đều nói vậy nên tìm Từ Văn Trường để nhờ anh ta chấm thêm cho một chấm. Nhưng sau khi chấm xong chấm đó, thì suốt cả tháng trời buôn bán ế ẩm. Ông chủ quán lại gặp Từ Văn Trường than thở rằng, từ khi chấm cái chấm đó xong thì buôn bán không còn như trước nữa. Từ Văn Trường cười bảo ông ta rằng : "Chữ TÂM là cái lòng, cái bụng, bụng có trống thì người ta mới ghé lại mà ĐIỂM Tâm, nay đã chấm thêm một chấm là bụng đã no rồi, không cần phải ĐIỂM TÂM nữa, ế là phải !". Ông chủ mới té ngữa ra, bây giờ muốn xóa chấm đó đi thì đã không còn được nữa rồi !

      Sự thật thì Từ Văn Trường chỉ lợi dụng cái tâm lý hiếu kỳ và hiếu sự của quần chúng để "câu khách" cho tiệm. Ai trông thấy chữ Tâm thiếu mất một chấm đều "ngứa ngáy" muốn nói cho chủ quán biết, sẵn đã vào tiệm nên ăn điểm tâm luôn mà thôi ! 

      Tương truyền, một hôm có một công tử con nhà giàu trong huyện Thiệu Hưng đến tìm gặp ông để bái sư học đạo. Ông thấy chàng qúi tử nầy đã ngoại tam tuần lại mày râu nhẵn nhụi, ăn mặc bảnh bao, trông giống một kẻ ăn chơi hơn là một người cầu học, bèn viết cho anh ta đôi liễn như thế nầy :

                       好  讀  書, 不  好  讀  書;

                       好  讀  書, 不  好  讀  書。



      Tất cả mặt chữ anh ta đều biết đọc, nhưng không hiểu được nghĩa lý gì cả; Vả lại 2 vế lại toàn là những chữ giống nhau như đúc, là nghĩa làm sao ?! Thì ra đây cũng là cách chơi chữ của Từ Văn Trường theo kiểu GIẢ TÁ 假借 mà thôi. Này nhé...

      - Chữ 好 khi đọc là HẢO thì có nghĩa là TỐT, NGON, ĐẸP, KHỎE, ĐÚNG LÚC... Như : Hảo Nhân là Người Tốt, Hảo Thực là Ăn Ngon, Hảo Cảnh là Cảnh Đẹp...

      - Chữ 好 khi đọc là HÁO hay HIẾU thì có nghĩa là HAM, THAM, THÍCH, NHIỀU... như : Hiếu Học là Ham Học, Háo Ăn là Tham ăn, Hiếu Chiến là Thích đánh nhau, Hiếu Sự là Nhiều chuyện...

      - Còn 讀 書 ĐỘC THƯ : là Đọc sách. Ngày xưa Đọc Sách tức là Học Hành đó. Nên ĐỘC THƯ theo "Tập Quán ngôn Ngữ" có nghĩa là HỌC, là ĐI HỌC, là HỌC HÀNH, HỌC TẬP.

      Nên Câu đối trên được đọc như sau đây :

              好讀書,不好讀書;  HẢO độc thư, bất HÁO(Hiếu) độc thư;

              好讀書,不好讀書。  HÁO(Hiếu) độc thư, bất HẢO độc thư !

Có nghĩa :

    * HẢO ĐỘC THƯ 好讀書 có nghĩa "Học tập tốt", mà cũng có nghĩa "Có điều kiện hay hoàn cảnh tốt" để Học hành.

    * HÁO ĐỘC THƯ 好讀書 là "Thích học tập", là "Muốn học hành cho đàng hoàng, cho tốt".

    * BẤT HÁO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không thích học tập", là "Không chịu học tập cho đàng hoàng nghiêm chỉnh".

    * BẤT HẢO ĐỘC THƯ 不好讀書 là "Không học tập tốt", mà cũng có nghĩa là "Không còn hoàn cảnh hay điều kiện để học tập cho tốt nữa". Nên...

      Câu đối trên có nghĩa :

         - Lúc cần Học Tập tốt thì Không Thích học tập cho đàng hoàng; còn...

         - Lúc Thích học tập, thì không còn hoàn cảnh Tốt để học tập nữa !

      Và không chỉ viết cho chàng thanh niên công tử ăn chơi ở huyện Thiệu Hưng, câu đối nầy còn được Từ Văn Trường dùng để răn đe và khuyên dạy con cháu trong nhà nữa : "Lúc còn nhỏ, còn trẻ, có điều kiện học tập tốt thì không chiụ học cho đàng hoàng; Đến khi lớn, khi già muốn học tập lại thì đã không còn điều kiện và thời gian để học tập nữa" rồi !.

      Câu đối 14 từ mà chỉ có 4 mặt chữ (BẤT 不, HẢO 好, ĐỘC 讀, THƯ 書) đã là câu đối "lười biếng dùng chữ" lắm rồi; Nhưng sau đây còn có câu đối "Siêu lười biếng" vì cũng có 14 đơn vị từ nhưng lại chỉ có MỘT (1) mặt CHỮ duy nhất mà thôi.

      Truyện kể...

      Một hôm đang dạo phố, khi đi ngang qua khu chợ bán rau cải thì ông chủ sạp giá mời Từ Văn Trường dừng chân uống một ly trà nóng buổi sáng, rồi khẩn khoản xin Từ Văn Trường viết cho đôi câu đối để treo lên hai bên sạp cho đẹp vừa để câu khách đến mua. Thấy ông chủ sạp nhiệt tình và có thành ý, nhìn quanh các mặt hàng bày bán thì thấy nào là Giá đậu xanh, Giá đậu nành, Giá đậu phọng và các loại cải... nên Từ Văn Trường chợt lóe lên một ý dí dỏm độc đáo, rồi đặt bút viết luôn cho ông chủ sạp 14 chữ sau đây :

                 長 長 長 長 長 長 長,

                 長 長 長 長 長 長 長。

      

      Ông chủ sạp và mọi người chung quanh đều rất ngạc nhiên cùng Ồ lên một tiếng lớn, vì không ai biết phải đọc như thế nào và ý nghĩa của Nó ra làm sao. Từ Văn Trường mới mĩm cười đắc ý giải thích :

      Chữ 長 nếu đọc là TRƯỜNG thì có nghĩa là DÀI, mọc dài,còn nếu đọc là...

      長 TRƯỞNG (dấu hỏi) thì có nghĩa là LỚN, mọc lớn lên, cao lên... Nên...

      Câu đối trên được đọc như sau :

          長長,長長,長長長;  Trường trưởng, trường trưởng, trường trường trưởng;

          長長,長長,長長長。 Trưởng trường, trưởng trường, trưởng trưởng trường ! 

Có nghĩa :

               Dài lớn, dài lớn, dài dài lớn;

               Lớn dài, lớn dài, lớn lớn dài !

       Trồng cải và ủ (gói) giá, bà con mong được gì nào ?! Mau dài mau lớn, mau lớn mau dài... để trông vừa tốt, vừa ngon, vừa bắt mắt và vừa... bán đắt hàng. Mọi người cùng cười xòa vỗ tay tán thưởng cho câu đối vừa giản dị, dí dỏm, lại vừa có ý nghĩa thực tế và cũng vừa làm cho người đọc cảm thấy thích thú.  

       Trở lại với tên của Từ Văn Trường 徐文長 cũng vậy, người Quảng Đông thì đọc là Từ Văn TRƯỜNG, nhưng người Tiều Châu thì lại đọc thành Từ Văn TRƯỞNG, còn âm Quan Thoại của Từ Văn Trường thì đọc là Xú-Wén-Cháng 徐文長. 

             

       Một hôm gần Tết, Từ Văn Trường thả bộ ra chợ xem bà con nhóm chợ Tết, gặp một Thầy Đồ là một lão Tú Tài già đang bày hàng viết liễn (Câu đối). Tính rắn mắt nổi lên muốn ghẹo chơi cho vui , Từ Văn Trường đi xề tới cất tiếng hỏi : 

      - Thưa Thầy, Thầy viết liễn có nghĩa là Liễn gì Thầy cũng viết được hết phải không ?. Nghe hỏi lạ, ông đồ già nhướng mắt lên thấy Từ Văn Trường, biết là chàng trai nầy định phá mình đây, bèn trả lời rất tự tin : 

      - Dĩ nhiên, cậu muốn viết liễn gì ?

      - Liễn dán chuồng heo !  Sau giây phút sựng lại vì ngạc nhiên, ông đồ bèn  ra giá :

      - Một lạng bạc ! Từ Văn Trường vui vẻ :

      - Không thành vấn đề, nhưng liễn phải hay và có ý nghĩa mới được Thầy nhé !

        Thường các Lão Tú Tài nầy người Việt ta quen gọi là "TÚ MỀN" rất giỏi chữ nghĩa và già giặn kinh nghiệm . Ông đồ bình tĩnh lặng lẽ đưa những nét bút thiệt đẹp như rồng bay phượng múa lên 2 tờ giấy hồng đơn đã rọc sẵn. Bây giờ tới phiên Từ Văn Trường ngạc nhiên, vì trên 2 tờ giấy hồng đơn mỗi bên 7 chữ, tổng cộng là 14 chữ TRƯỜNG 長 thật đẹp. Biết ông thầy đồ già muốn "chơi" mình, anh ta cũng rất bình tĩnh và lễ phép :

     - Thưa thầy, nhờ thầy đọc và cắt nghĩa dùm ạ ! Ông thầy đồ dõng dạc cất giọng :

                長 長, 長 長, 長 長 長;  

                長 長, 長 長, 長 長 長 ! 

     - Trường trường, trưởng trưởng, trường trường trưởng. 

       Trưởng trưởng, trường trường, trưởng trưởng trường !  

       Nuôi heo, anh mong được gì nào ? Heo mau dài mau lớn phải không ? Thì đây đôi liễn nầy có nghĩa :


                         DÀI DÀI, LỚN LỚN, DÀI DÀI LỚN;

                         LỚN LỚN, DÀI DÀI, LỚN LỚN DÀI !

             

      Chuyên chọc phá thiên hạ, lần nầy bị Tổ trác, liễn dán chuồng heo là câu đối 14 chữ đều là tên của mình cả, lại phải nhăn mặt móc hầu bao trả cho ông Thầy Đồ một lạng bạc, thế mới đau !

      Cho hay, chuyện đời có lúc "Kiến ăn cá", nhưng cũng lắm khi kiến té xuống nước thì "Cá cũng ăn kiến" như thường !


       Hẹn bài viết tới !

                                                             杜紹德

                                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

MƯỜI NĂM- THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


MƯỜI  NĂM 

 

1. 

 

Mười năm tình cũ còn không?

Ai thương, ai nhớ… ai mong, ai chờ…

Chuyện tình chết lịm trong thơ

Còn gì đâu nữa mà chờ, mà mong

Con đò bến cũ long đong

Có người đứng đợi, ngóng trông ngày ngày

Chữ tình còn một chút này

Rưng rưng nghèn nghẹn dâng đầy lòng ta

Biệt ly, ly biệt chia xa

Em giờ là của người ta mất rồi…

Tiễn em về phía xa xôi

Quay lưng ôm nặng đơn côi một mình

Nhắc làm chi một chuyện tình

Một mình mình nhớ, một mình mình thương

Một mình, một gánh tơ vương

Tôi đi về phía con đường không em…

 

 

2. 

 

Còn đâu một cánh môi mềm

Ngọt ngào, thắm thiết, ấm êm ngập lòng

Hẹn thề vượt cả bão giông

Giữ lòng chung thủy, một lòng yêu thương…

Bây giờ chưa hết dặm trường

Nữa đường gãy gánh, nửa đường thương đau

Em xa tình lỡ phai màu

Làm sao quên được tình đầu mới yêu…

Buồn vui nếm trải đã nhiều

Bao nhiêu năm nhớ, bấy nhiêu năm sầu

Ngồi ôm kỷ niệm mà đau

Nhớ ngày xưa cũ bên nhau ngọt bùi

Tình xa lòng luống ngậm ngùi

Thương đau rơi xuống chôn vùi tình yêu

Mười năm còn nhớ ít nhiều

Lòng như quán vắng… chợ chiều đã tan…



           

            Nha Trang, tháng 10. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

ĐÊM NGHE KHÚC NGUYỆT CẦM -THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

            


                 



 ĐÊM NGHE KHÚC NGUYỆT CẦM

 

Xé ngày. Đi khuất tháng năm
Theo con én lạc. Xa xăm lưng trời
Tìm em ở phía. Mù khơi
Cánh buồm. Trôi hết. Một đời bão giông

Rượu đâu. Lòng cũng đắng lòng
Ta giờ như mảnh trăng cong. Khuyết tàn
Buồn. Rơi nhịp lá khô vàng
Vui trong khoảnh khắc. Hợp tan Nẻo về

Tuổi nào. Đốt cháy. Si mê
Làm chim đập cánh. Đêm. Tê tái mình
Uống khan cho cạn. Chén tình
Say từ buổi trước giật mình. Tỉnh ra

Bụi lầm lỡ. Áo hào hoa
Đã treo phong ấn lên. Tà huy xưa
Nửa đường. Gặp nắng trong mưa
Một đời chỉ để. Yêu vừa trái tim

Buông rồi. Năm ngón tay. Em
Tự mình ấm lạnh. Mỗi đêm. Gối sầu
Nguyệt cầm réo rắt. Lòng nhau
Nửa khuya. Chờ sáng. Tóc màu nhạt phai


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

DÒNG THƠ ĐÃ LẠC - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



Có thể là hình ảnh về học tập và kính mắt


DÒNG THƠ ĐÃ LẠC.. 

**Giờ mấy chục năm xa xứ vẫn còn làm thơ.Thơ theo ta suốt như người tình chung thủy...


Thơ ta đã lạc trời đất khách,
Thơ trôi bay theo những cơn mưa.
Thơ rơi theo những dòng khói bụi,
Rớt giữa trời xa, người xứ xa.
Đâu đó bụi cây hoa hé nụ,
Thơ ta bám víu những vành hoa.
Nắng gió đi qua mùa bão vụn,
Tan tác thơ rơi chẳng hết mùa.
Ta vẫn làm thơ treo cánh gió,
Gởi tình ta khát bóng quê nhà.
Xứ lạ mấy ai ngồi đọc chữ,
Thơ buồn trôi mất giữa cơn mưa.
Thơ lạc, nhưng lòng ta chưa lạc,
Vẫn còn rung động ở trong ta.
Viết giữa xứ người ai rảnh đọc,
Chữ buồn nằm lại với riêng ta.
Thơ theo gió thổi về quê cũ,
May có người quê nhặt thơ ta.
Đọc chút tình quê còn sót lại,
Biết người xa xứ nhớ quê nhà.
Thơ ta cứ lạc cùng năm tháng,
Lạc giữa chiều sương, lạc nắng tà.
Chỉ có hồn ta còn đứng lại,
Gieo từng con chữ giữa hồn ta.


HUỲNH TÂM HOÀI