CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026

THƠ KHẮC LÊN CÂY TÌNH NHÂN - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 


THƠ KHẮC LÊN CÂY TÌNH NHÂN

Ước gì ngủ một giấc dài
Ta tìm em nhặt dấu hài tình nhân
Trăm năm dưới đáy mộ phần
Còn ngờ một nẻo dương trần hôm nay

Tay nào nắm chặt bàn tay
Đi về trong nắng mưa bay cuối trời
Đa mang những vết thương đời
Khắc vào cây trọn một lời yêu nhau

Bước qua hết những bể dâu
Ta về ngồi lại chân cầu nhìn sông
Vẫn muôn trùng sóng bềnh bồng
Vỗ ghềnh đá mỏi sắc không bến bờ

Mộng vào trong mỗi giấc mơ
Trăng treo bóng lẻ góc chờ ngày xưa
Nhớ thương biết nói sao vừa
Cầm bằng tóc rối vai mưa ướt dầm

Ta giờ như gió lặng câm
Cuốn cành khô mục lá thầm tiếng rơi
Em mù tăm một khoảng trời
Thơ ta day dứt một đời đa mang


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2026

NHỮNG CA KHÚC NỔI TIẾNG, DO THI SĨ HỒ ĐÌNH PHƯƠNG VIẾT LỜI - TRẦN HỮU NGƯ


 


NHỮNG CA KHÚC NỔI TIẾNG, DO THI SĨ HỒ ĐÌNH PHƯƠNG VIẾT LỜI
Tôi đã từng lên tiếng:
-Một ca khúc nổi tiếng, đứng được với thời gian, ghi dấu vào lòng người là do LỜI.
Tôi xin chứng minh rằng:
-Sau 1975, nổi lên rất nhiều nhạc sĩ viết rất nhiều ca khúc, nhưng, xin lỗi “đó là những bài quên không giờ ca” vì LỜI quá dở.
-Và có rất nhiều bài hát của miền Nam sau 1975 cấm hát là do LỜI.
-Và có nhiều nhạc sĩ đi tìm thơ hay để phổ nhạc là do LỜI.
Nhưng, có một điều “không biết tại làm sao” mà người nghe (có đôi khi người giới thiệu, ca sĩ hát) chỉ nhớ người viết NHẠC chớ không nhớ người viết LỜI?
-Viết nốt, phân nhịp… thì không cần đến nhạc sĩ, chỉ cần người biết đờn, biết nhịp là có thể viết được. Nhưng viết LỜI… không được!
Nhân đây, xin nói về ba bài hát “Con thuyền không bến”, “Giọt mưa Thu”, “Đêm thu” của Đặng Thế Phong… hay vì LỜI.
“Lời người ra đi” của Trần Hoàn, “Nụ cười sơn cước” của Tô Hải, “Dư âm” của Nguyễn Văn Tý… hay cũng vì LỜI.
Tôi khẳng định rằng:
Nhạc Việt Nam, có đến 80% bài hát hay là do LỜI, còn chỉ 20% là do NHỊP:
-Thu ca (Tango - Phạm Mạnh Cương).
-Về dưới mái nhà (Rumba – Boléro - Xuân Tiên).
-Kiếp tha hương (Slow Rock - Lam Phương).
V.v…
(Lời khẳng định này sẽ có người phản đối, tôi xin sửa sai, nếu sự phản đối đó…đúng).
Viết bài này, tôi xin trịnh trọng, chân thành, kính thưa… thi sĩ HỒ ĐÌNH PHƯƠNG, người đã viết lời gần 100 ca khúc của những nhạc sĩ:
-Hoàng Trọng (28 bài), Châu Kỳ (23 bài), Hoàng Nguyên (2 bài), Lam Phương (7 bài), Minh Kỳ (3 bài), Hoài An (6 bài), Tú Nhi (1 bài), Bằng Giang (2 bài), Lê Dinh (1 bài), Phạm Thế Mỹ (1 bài), Song Ngọc (4 bài), Trịnh Hưng (2 bài), Văn Giảng (6 bài), Lê Mộng Bảo (1 bài), Lê Quang Nhạc (1 bài), Võ Đức Thu (1 bài), Trần Văn Lý (1 bài), Ưng Lang (3 bài)…
Tiếc rằng, có một số người phụ trách về bài hát (nói chung là âm nhạc) là người “mất lịch sự”, “thiếu văn hóa”, “không hiểu biết” khi giới thiệu bài hát chỉ giới thiệu tên nhạc sĩ mà không giớ thiệu người viết lời HỒ ĐÌNH PHƯƠNG (xin lỗi, vì tôi rất ít chữ, nên không biết dùng từ nào ngoài ba từ trên! Vì người viết LỜI đứng tên sau người viết NHẠC).
Xin điểm qua một số nhạc phẩm nổi tiếng trong thời Chiến tranh, mà thi sĩ Hồ Đình Phương viết lời:
1-MỘNG BAN ĐẦU (Hoàng Trọng phổ thơ Hồ Đình Phương):
“… Quê em miền thùy dương
Lúa ngọt ngào hoa mới
Gío mang mùa xuân tới
Hôn liếp dừa lên hương
Thơm thơm tràn muôn lối…”
2-BÊN BỜ ĐẠI DƯƠNG (Nhạc Hoàng Trọng - Lời Hồ Đình Phương):
“… Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương
Bắc với Nam tình nối qua lòng miền Trung
Đất nước tôi: từ mái tranh nghèo Bắc Giang
Vượt núi rừng dài Trường Sơn
Vào tới ruộng ngọt phương Nam…”
3-TIỄN BƯỚC SANG NGANG (Nhạc Hoàng Trọng-Lời Hồ Đình Phương):
“… Biết đến bao giờ gặp lại người em thời ấu thơ
Để đón tin mừng từ ngày thuyền xuân về bến mơ
Thì phút giờ đây gặp mùa áo cưới nở hoa
Qùa nghèo chỉ có bài ca tặng nàng trước khi lìa xa…”
4-TÌNH ĐẦU (Nhạc Hoàng Trọng - Lời Hồ Đình Phương):
“… Vườn lòng vừa hé hoa yêu đời
Tình đầu vừa chớm trên môi cười
Hôm nao gió ngân lời dù thời gian trôi
Nhưng không xóa phai nhòa tình người
Nụ cười càng thắm duyên mơ màng…”
5-CON ĐƯỜNG XƯA EM ĐI (Nhạc Châu Kỳ - Lời Hồ Đình Phương):
“… Con đường xưa em đi vàng lên mái tóc thề
ngõ hồn dâng tái tê
Anh làm thơ vu quy khách qua đường lắng
nghe chuyện tình ta đã ghi
Những mùa trăng vu quy
vì mưa gió không về chiến trường anh bước đi
Có nàng hoen đôi mi ngóng theo đường vắng hoe
hỏi còn ai cố tri…”
6-NHA TRANG (Nhạc Minh Kỳ - Lời Hồ Đình Phương):
“… Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng về
Ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt
Hòa cùng sức sống yên vui
Nha Trang cảnh đẹp nên thơ khiến nhớ
Bao năm du khách hằng chờ
Một ngày ghé đến Nha Trang…”
7-TÌNH LÚA DUYÊN TRĂNG (Nhạc Hoài An - Lời Hồ Đình Phương):
“… Mây bay qua ánh trăng chiếu dần vào ruộng đồng bao la
Nghe xa xa mấy câu hát vè vọng từ đầu thôn đưa về
Quê hương ta đất xưa vốn nghèo nhưng giàu tình thương nhau
Biết yêu lúa màu xa cuộc đời cơ cầu
Gái trai biết làm tròn lời thề ghi ban đầu…”
8-ĐƯỜNG VỀ HAI THÔN (Nhac Phạm Thế Mỹ - Lời Hồ Đình Phương):
“… Đường về thôn em duyên dáng bên ven sông con thuyền xuôi mái
Nhịp cầu băng qua men lối đi quanh co ngõ hoa nối dài
Nhà em cuối xóm ghép đôi mái tranh nâu trăng cài trước sau
Có tầm mến thương dâu có trầu vấn vương cau
Và đào tơ thơm ngát ngát hương trinh ban đầu
Đường về thôn anh con sáo ru êm êm trên đồng xanh lúa
Nhịp cầu băng qua đưa tới sân rêu xưa thắm hoa bốn mùa
Nhà anh mái lá tháng năm vẫn chưa nghe duyên tròn ước mơ
Có giàn mướp xanh lơ có hồ cá nên thơ
Mà lòng quê vẫn hát hát bao câu mong chờ…”
9-THƯƠNG VỀ XỨ THƯỢNG (Nhạc Lê Dinh - Lời Hồ Đình Phương):
“… Từ khi xa rừng núi cũ
Chiều sương rơi lạnh hơi thu
Sao thấy lòng thương nhớ
Khi bóng chiều vươn khói
Trên lưng đồi mịt mù
Còn đâu khi mình gối súng
Rừng đêm khuya nằm im nghe
Nghe gió lùa khe lá
Nghe suối đồi vi vút
Nghe đêm trường hòa ca…”
10-TIẾNG HÁT ĐỒNG XANH (Nhạc Châu Kỳ - Lời Hồ Đình Phương):
“… Hò ơi lắng nghe tiếng ca miền quê tôi ruộng đồng luôn tốt tươi
Hò này hò ơi lòng dân cùng sánh vai buộc vào nhau kiếp người
Hôm nay đây mừng reo lúa lên hoa
Vừng dương tươi bao la ngát hương trời xa
Vạn lòng say mơ dâng thêm ngàn câu ca gợi niềm thương chan hòa
Về đây hỡi ai bước đi ngoài xa xôi vòng đời chưa ấm vui
Ngày ngày gần nhau cùng thăm đồng lúa tươi đẹp lòng trao kiếp người…”
11-KHÚC CA NGÀY MÙA (Nhạc Lam Phương-Lời Hồ Đình Phương):
“… Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát
Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác
Chiếu hồn quê bao khúc ca yêu đời
Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát
Ứơc mong sao lúa hai mùa thơm ngát
Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời
Lờ lững trôi qua trôi mãi trong chiều tàn tiếng tiêu buồn êm qúa
Hồn ngất ngây trong tiếng hát đưa nhịp nhàng tiếng cười thơ ngây…”
12-NẮNG ĐẸP MIỀN NAM (Nhạc Lam Phương - Lời Hồ Đình Phương):
“… Đây trời bao la ánh nắng mai hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh
Ta cùng chen vai đem tay góp sức tăng gia cho người người vui hòa
Đường cày hôm qua nay lên tràn bông lúa mới ôi duyên dáng đồng ơi
Đến mai sẽ là ngày muôn hạt chín lả lơi mình ngắm nhau cười
Kìa đàn chim quê chim tung bay về đâu
Mang tin rằng giờ đây ta sống với bình minh
Tiếng ca trong lành tiếng hát lừng trời xanh đẹp biết bao tâm tình
Tình là tình nồng thắm
Buộc lòng mình vào núi sông
Tình mến quê hương
Ngàn bóng đêm phai rồi
Vầng dương lên soi đời
Làng ta nay rạng ngời…”
13-ĐƯỜNG NÀO LÊN THIÊN THAI (Nhạc Hoàng Nguyên - Lời Hồ Đình Phương):
“… Cầm tay em anh hỏi
Đường nào lên Thiên Thai
Đường nào lên Thiên Thai
Nơi hoa xuân không hề tàn
Nơi bướm xuân không hề nhạt
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ
Ngày xưa sao Lưu Nguyễn
Gặp đường lên Thiên Thai
Nhạc vàng ai say mê
Rượu đào ai ngây ngây…”
14-TÔI YÊU (Nhạc Trịnh Hưng - Lời Hồ Đình Phương):
“… Tôi yêu quê tôi yêu lũy tre dài đẹp xinh
Yêu con sông xanh dâng cát hoe vàng bên đình
Yêu trăng buông lơi trên má cô nàng đẹp xinh
Và yêu mấy nhịp cầu tre là đây em chờ anh về
Kìa cùng đùa vui trẻ thơ ca hát say đời
Dù nghèo mà vui hỏi ai không hé môi cười
Mưa nắng ơn trời luống cày thắm đẹp lúa ngời
Xóm làng đón mùa chiêm mới
Ấm no ấp ủ lòng tôi…”
Tôi nhớ 14 ca khúc trên, đã sinh ra và lớn lên trong Chiến tranh, lời bài hay quá, nếu không hát, mà chỉ đọc lời thôi cũng đủ! Ai nghe cũng hiểu, cũng thuộc, cũng thích hát, cũng thích nghe, những LỜI bài hát đã gieo vào lòng người những thương mến vô biên, những tình cảm dạt dào.
Tiếc rằng các nhạc sĩ viết nên 14 ca khúc này, đều đã qua đời vì bệnh tật, tuổi già, sức yếu.
Riêng thi sĩ Hồ Đình Phương, ông sinh năm 1927 tại Huế, đã bỏ mình giữa đại dương năm 1979.
-Sau tháng 4/1975, Hồ Đình Phương đi học tập cải tạo, thời gian 5 năm, ông được thả và đến tháng 11.1979 ông cùng gia đình vượt biển bằng ghe và mất tích. Tôi không nhắc đến gia đình ông, vì nói tới càng thêm đau lòng!
Hồ Đình Phương đã từng học tại trường Pellerin Hồng Đức (Huế), đậu Tú tài toàn Pháp, đậu thủ khoa Học viện Quốc gia Hành chánh tại Saigon năm 1958 và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng, ông còn là một nhà báo có những bài báo gây tiếng vang, với bút hiệu Nhật Hồ, Phương Nhật Hồ. Ông đã từng làm Phó Tỉnh Trưởng tỉnh Ninh Thuận và xuất bản nhiều tập Thơ, kịch Thơ…
Hồ Đình Phương viết lời gần 100 bài hát. Đây là sự kiện có một, mà không có hai ở Việt Nam. Ông đáng được vinh danh là người viết lời ca hay nhất Việt Nam.
Bài viết còn nhiều thiếu sót. Nhưng đây là tấm lòng của một người yêu thiết tha những ca khúc có lời của Hồ Đình Phương, nên mới có bài viết này.
Dù sau Hòa bình 1979 đến năm 2026 là 47 năm, tôi mới có bài viết này, lý do là tôi tìm chưa đủ tài liệu, và khi có tài liệu, tôi thật sự không biết mở đầu bài viết về ông như thế nào! Một sự thiếu sót thật là đáng trách, thành thật xin lỗi những người yêu mến âm nhạc và cúi đầu nhận thiếu xót này với ông.
Thành kính dâng một nén nhang cho ông và gia đình.
Vô cùng thương nhớ, cảm phục và biết ơn ông đã để lại cho đời những lời ca tuyệt vời.
Ngày nay, đốt đuốc đi tìm cũng không thể nào có được những lời hay ý đẹp đó.


TRẦN HỮU NGƯ
(Saigon-Giađinh, 17.10,2026)

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2026

NĂM MƯƠI BÀI THẤT NGÔN TỨ TUYỆT BẤT HỦ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Góc Đường Thi : 
                     Năm mươi bài THẤT NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (1)
                 
       THẤT NGÔN TỨ TUYỆT 七言四絕 còn được gọi là "Thất ngôn Tuyệt cú 七言絕句" và gọi cho gọn lại là THẤT TUYỆT 七絕; là một thể tài, một loại hình thi ca đặc sắc của Trung Hoa, thuộc phạm trù của lối thơ cận thể; Có xuất xứ sâu xa từ đời Tây Tấn, Nhạc phủ của Nam Triều và Dân ca của Bắc Triều trong thời Nam Bắc Triều, diễn tiến và phát triển đến đời Đường thì hoàn chỉnh và toàn thịnh.
       THẤT NGÔN TỨ TUYỆT mỗi bài gồm có bốn(4) câu. Mỗi câu gồm có bảy(7) chữ. Mỗi bài gồm có hai mươi tám chữ(28), có Niêm, Luật nghiêm cẩn, Đối thì không bắt buộc; Được gieo ít nhất là hai(2) Vần : Ở cuối câu 2 và câu 4; Thường thì được gieo ba(3) Vần ở cuối câu 1, câu 2 và câu 4; Như cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều khi chị em Thúy Kiều du Thanh Minh và tảo mộ Đạm Tiên vậy. Thúy Kiều đã :

                                Rút trâm sẵn giắt mái đầu, 
                          Vạch da cây vịnh BỐN CÂU BA VẦN.

        Chỉ BỐN CÂU BA VẦN nên lời lẽ rất xúc tích, chắt lọc, tinh luyện để diễn hết ý muốn nói, thường hàm xúc gợi tình với ý tại ngôn ngoại... Dễ ngâm vịnh để biểu ý biểu tình, hay ca ngâm để diễn tình diễn ý... Từ đời Đường đến nay có rất nhiều giai tác với đủ cả các đề tài, như Hoài cổ, Vịnh sử, Tình Bạn, Tình yêu, Hoài bão, Du sơn, Ngoạn thủy... Bây giờ là mùa THU, ta sẽ bắt đầu với các bài "TUYỆT CÚ" có liên quan đến mùa thu nhé !

1. THU TỪ 秋詞 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 :

        LƯU VŨ TÍCH 劉禹錫(772-842)tự là Mộng Đắc 夢得, người đất Lạc Dương, là thi nhân và là một triết gia đời Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Trinh nguyên thứ 9, lại trúng tuyển vào Bác Học Hoằng Từ Khoa. Năm Trinh nguyên thứ 11 lại được tuyển vào Sĩ Khoa Lại Bộ, quan phong đến chức Thái Tử Hiệu Thư. Năm Vĩnh Trinh nguyên niên (805) Bị vua Đường Thuận Tông biếm khỏi Trường An đày làm Lang Châu Tư Mã. Tuy quan trường thất ý, chìm nổi trong nghịch cảnh ở dân gian, Lưu vẫn giữ cho mình một tâm lý lạc quan và làm những bài thơ tràn đầy thi ý của một thi nhân. Sau đây là bài Thất ngôn Tuyệt cú THU TỪ của ông làm trong khoảng thời gian đi đày nầy :


                秋詞                      THU TỪ
           自古逢秋悲寂寥,   Tự cổ phùng thu bi tịch liêu,
           我言秋日勝春朝。   Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu.
           晴空一鶴排雲上,   Tình không nhất hạc bài vân thượng,
           便引詩情到碧霄。   Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu !  

                 
* Chú thích :
    - THU TỪ 秋詞 : là "Bài TỪ về mùa THU". TỪ 詞 là tên của một thể loại THƠ, nhưng có thể có câu dài ngắn khác nhau, có thể gieo cả Vần Bằng và Vần Trắc; dễ ngâm vịnh và dễ phổ nhạc, thường thấy trong Nhạc Phủ với các thể loại khác như : Dẫn 引, Khúc 曲, Hành 行... 
    - 寂寥 Tịch Liêu : TỊCH MỊCH 寂寞 Vắng vẻ và LIÊU LẠC 寥落 Lưa thưa. BI TỊCH  LIÊU 悲寂寥 : Buồn vì cảnh thu vắng vẻ và cây lá lưa thưa.
    - Xuân Triêu 春朝 : là Sáng xuân; Ở đây chỉ chung "Những ngày mùa xuân".
    - Tình Không 晴空 : TÌNH 晴 là Nắng ráo; KHÔNG 空 là Bầu trời. TÌNH KHÔNG 晴空 là Bầu trời nắng ráo, chỉ "Trời quang mây tạnh" chỉ "Bầu trời thu xanh ngắt".
    - Nhất Hạc Bài Vân Thượng 一鶴排雲上 : là "Một con hạc rẻ mây bay vút lên".
    - Thi Tình 詩情 : là Tình thơ; Ta nói là "Hồn thơ", "Tâm hồn thơ thẩn".
    - Bích Tiêu 碧霄 : BÍCH 碧 là Xanh biếc; TIÊU 霄 là Bầu trời. BÍCH TIÊU 碧霄 là "Bầu trời thu xanh biếc". TIÊU còn có ý chỉ CỬU TIÊU 九霄 là Chín tầng trời.

* Nghĩa bài thơ :
                          Bài Từ Mùa Thu
     Từ xưa hễ đến mùa thu là mọi người sẽ buồn vì cảnh hắt hiu lơ thơ vắng vẻ.
     Riêng ta thì bảo rằng "Những ngày mùa Thu hơn hẵn những ngày mùa Xuân".
     (Chỉ cần có) Một con hạc rẻ mây vút lên trên bầu trời xanh nắng ráo" Sẽ...
     Khiến cho hồn thơ cũng sẽ bay bổng lên tận chín tầng mây xanh biếc !

       Với thân phận của một kẻ đi đày, lại nhằm lúc vào thu lạnh lùng với heo may hiu hắt, mà hồn thơ lại lai láng như thế nầy, thì cũng quả thật là hiếm thấy !
     
*Diễn Nôm :


                               THU TỪ

                  Ngàn xưa THU đến gợi buồn tanh,
                  Ta bảo THU hơn xuân thắm xanh.
                  Cánh hạc vút trời mây bát ngát...
                  Hồn thơ cũng vút tận mây xanh !
        Lục bát : 
                  Ngàn xưa THU gợi niềm sầu,
                  Riêng ta THU vẫn hơn màu xuân sang.
                  Trời xanh cánh hạc ngút ngàn,
                  Hồn thơ cũng ngút tận ngàn mây xanh !

       

2.THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五夜望月寄杜郎中 của Vương Kiến 王建:

      VƯƠNG KIẾN (768—835)tự Trọng Sơ 仲初, người đất Dĩnh Xuyên (tỉnh Hà Nam hiện nay). Xuất thân hàn vi, cả đời bất đắc chí, từng đầu quân một thời gian; Mãi đến 46 tuổi mới xuất sĩ làm Huyện Thừa, sau thăng lên chức Thiểm Châu Tư Mã, nên người đời thường gọi là Vương Tư Mã. Năm Đường Đại Hòa thứ 5 mới thăng lên chức Thứ Sử Quang Châu. Ông và Trương Tịch rất thân nhau và cùng nổi tiếng về thơ Nhạc Phủ. Được người đời xưng tụng là "Trương Vương Nhạc Phủ 張王樂府". Thơ ông thường phản ảnh đời sống cơ cực của dân nghèo, lưu lại hậu thế với "Vương Tư Mã Tập 王司馬集". Sau đây là một bài Tứ Tuyệt tả một đêm thu rất nên thơ và tràn đầy thi vị của ông :


         十五夜望月寄杜郎中 THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG

            中庭地白樹棲鴉,    Trung đình địa bạch thụ thê nha,
            冷露無聲濕桂花.    Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
            今夜月明人盡望,    Kim dạ nguyệt minh nhân tẫn vọng,
            不知秋思落誰家?    Bất tri thu tứ lạc thuỳ gia ?

* Chú thích :
    - THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五夜望月寄杜郎中 : Đêm rằm ngắm trăng gởi ông Lang Trung họ Đỗ. ĐỖ LANG TRUNG là Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖, bạn của Vương Kiến, Lang Trung chỉ là chức quan mà thôi.
    - Địa Bạch 地白 : là Đất trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng soi.
    - Vô Thanh 無聲 : là "Không có tiếng động"; Trong câu có nghĩa là "Âm thầm, lặng lẽ".
    - Tận Vọng 盡望 : có nghĩa là "Đều ngắm. đều thấy".
    - Thu Tứ 秋思 : là Tứ Thu, là Ý thu, là Cảm nhận về mùa thu.
    - Lạc 落 : là Rơi, là Rụng, là Rớt vào... 

* Nghĩa bài thơ :
                   ĐÊM RẰM NGẮM TRĂNG GỞI ÔNG LANG TRUNG HỌ ĐỖ

      Đất trong sân nhà trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng rằm soi rọi, có những con qụa đậu trên cây trong sân nhà.
      Sương lạnh âm thầm tạo nên những hạt móc làm ướt những cành hoa quế.
      Đêm nay trăng sáng chắc mọi người mọi nhà đều trông thấy và ngắm nhìn.
      Không biết là "ý thu" đêm nay sẽ rơi vào nhà của ai đây ?!

      THU TỨ là tình thu, là ý thu, là tâm tình của những người đồng điệu cùng nghĩ và cùng nhớ đến nhau trong đêm thu trăng sáng. Chữ LẠC đã rất mơ hồ và nên thơ : Có được bao nhiều người cùng cảm nhận được cái đẹp, của đêm thu như tôi và bạn trong đêm nay ? Thật vô cùng nên thơ và ý vị !

* Diễn Nôm :


             THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG

                  Trong sân sáng trắng qụa nương cây,
                  Lặng lẽ sương sa hoa quế lay.
                  Trăng sáng đêm nay ai chẳng ngắm,
                  "Ý thu" ai biết... lạc nhà ai ?! 
       Lục bát :
                  Sân sáng trắng, quạ nương cây,
                  Quế hoa thấm ướt sương đầy trời cao.
                  Đêm nay cùng ngắm trăng sao,
                  Ý thu... ai biết lạc vào nhà ai ?!
                        

3.THU OÁN 秋怨 của La Nghiệp  羅鄴 :


       LA NGHIỆP 羅鄴 (825-900?) người đất Dư Hàng (thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay). Ông là thi nhân ở cuối đời Đường, có tiếng là THI HỔ 詩虎 (Con Cọp trong thơ), xuất thân trong một gia đình Viêm Thiết Lại 鹽鐵吏 (quan trông coi về muối), cùng với La Ẩn, La Cầu 羅隱、羅虬 trong họ tộc, được người đời xưng tụng là "Giang Đông Tam La 江東三羅". Ông lúc trẻ số phần lận đận, thi mãi mà không đậu được Tiến sĩ. Những năm từ Hàm thông đến Càn phù ông nổi tiếng về thơ thất ngôn luật thi và tứ tuyệt. Cuối đời sống lưu lạc ngoài vùng biên tái, làm Mạc phủ lại cho Thiền Vu Đô hộ Phủ, được nhà thơ Vi Trang là Lại Bộ Thị Lang lúc bấy giờ tấu trình lên nhà vua và được vua ban hàm Tiến Sĩ Cập Đệ. Còn để lại một "La Nghiệp Thi Tập 羅鄴詩集" nổi tiếng với các câu như :

                     年年点檢人間事,  Niên niên điểm kiểm nhân gian sự,
                     唯有春風不世情。  Duy hữu xuân phong bất thế tình.
      Có nghĩa :
                       Năm năm kiểm điểm chuyện đời,
               Chỉ gió xuân chẳng khiến người bâng khuâng !
        
      Thật cảm khái ! Mỗi năm kiểm điểm lại chuyện của người đời, thì chỉ có gió xuân là vô tư nhất, thoải mái nhất, mang ấm áp dễ chịu đến với tất cả mọi người không phân biệt sang hèn qúy tiện gì cả ! Nhân còn trong mùa thu, mời đọc thêm một bài thất ngôn tứ tuyệt THU OÁN 秋怨 cũng rất nổi tiếng của ông sau đây :


                      秋怨                        THU OÁN 
               夢斷南窗啼曉烏,  Mộng đọan nam song đề hiểu ô,  
               新霜昨夜下庭梧。  Tân sương tạc dạ há đình ngô.
               不知簾外如珪月,  Bất tri liêm ngoại như khuê nguyệt,
               還照邊城到曉無。  Hoàn chiếu biên thành đáo hiểu vô ?!

* Chú thích :
    - ĐOẠN 斷 : là Đứt, Dứt, Gãy; nên Mộng Đoạn 夢斷 là Mơ nửa chừng bị dứt ngang, là Giật mình tỉnh mộng. 
    - HIỂU 曉 : là Buổi sáng sớm; Hiểu Phong 曉風 là Gió sớm; Hiểu Ô 曉烏 là Tiếng quạ kêu buổi sáng khi sương xuống.
    - ĐÌNH NGÔ 庭梧 : là Cây ngô đồng trồng trong sân nhà.
    - KHUÊ 珪 : là một loại ngọc, đá qúy; Ta thường gọi là Cẩm Thạch, có màu xanh có màu trắng. Khuê Nguyệt 珪月 chỉ Vầng trăng sáng như ngọc Khuê màu trắng.

                              

    - ĐÁO HIỂU 到曉 là Tới Sáng. HOÀN...ĐÁO HIỂU VÔ 還...到曉無? Là câu Nghi vấn có nghĩa : "Còn... tới sáng không ?"


                           
* Nghĩa bài thơ :
                      Nỗi Oán Hờn Trong Mùa Thu
       Giật mình tỉnh mộng vì nghe tiếng quạ ban sáng đang kêu oang oác bên song cửa sổ phía nam; Nhìn ra thấy sương thu mới của đêm qua còn phủ đầy trên cây ngô đồng trong sân nhà. Không biết rằng ở ngoài bức rèm châu cái vầng trăng tròn vành vạnh như miếng ngọc Khuê kia, cũng soi rọi thâu đêm suốt sáng ở tận mãi xứ biên thành xa xôi đó hay chăng ?!    

      Trong cảnh nệm ấm chăn êm, chỉ giật mình tỉnh mộng khi nghe tiếng qụa kêu, rồi thấy sương thu mới đang rơi đây trên cây ngô đồng mà xúc cảnh sinh tình rồi ưu tư lo lắng cho người ở tận biên thành xa xôi, không biết cái vầng trăng tròn tỏa ánh sáng ấm áp kia cũng đem cái ánh sáng ấm áp đó mà soi rọi suốt đêm cho người lính thú đang trực canh gác giặc ở tiền đồn hiu hắt đó hay không ?! Khéo là lo lắng ngẩn ngơ, vầng trăng cũng như là gió xuân vậy đến với tất cả mọi người chớ chẳng vị riêng ai cả ! Nhưng đây cũng là tấm lòng của người cô phụ vọng phu, luôn luôn khắc khoải nhớ mong đến kẻ chinh phu ở ngoài biên ải xa xăm vạn dặm.     

* Diễn Nôm :


                               THU OÁN
                        
                    Tỉnh mộng quạ kêu ngóng cửa song,
                    Đêm qua sương mới ướt ngô đồng.
                    Ngoài rèm trăng tỏ như khuê ngọc,
                    Có chiếu biên thành suốt sáng không ?!
        Lục bát : 
                    Qua kêu chợt tỉnh giấc nồng,
                    Ngoài sân sương phủ ngô đồng đêm qua.
                    bên rèm lặng ngắm bóng nga,
                    Suốt đêm có chiếu người xa biên thành ?!

             KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN !

4. THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG 天津橋春望 của UNG ĐÀO 雍陶 :

 UNG ĐÀO 雍陶(805—?) tự là Quốc Quân 國钧, người đất Bì Đô, đậu Tiến Sĩ năm Đại Hòa. Ông từng giữ các chức vụ Thị Ngự Sử, Quốc Tử Mao Thi Bác Sĩ, Giản Châu Thứ Sử... Ông là bạn thơ của Trương Tịch, Vương Kiến, Giả Đảo ... thuộc phái Giang Hồ Quái Đản. Sống dưới đời Vãn Đường khi vận nước đã suy vi, xã hội ngày một xuống dốc, khi đi dạo đến bên cầu Thiên Tân, nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ nát của cung điện ngày xưa, xúc cảnh sanh tình, nên ông đã rất cảm khái mà làm bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt bất hủ nầy. 
                                                  

           天津橋春望           THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG
          津橋春水浸紅霞,    Tân kiều xuân thuỷ tẩm hồng hà,
          煙柳風絲拂岸斜。    Yên liễu phong ty phất ngạn tà.
          翠輦不來金殿閉,    Thuý liễn bất lai kim điện bế,
          宮鶯銜出上陽花。    Cung oanh hàm xuất Thượng Dương hoa.
                          雍陶                                                  Ung Đào



* Chú thích :
    - THIÊN TÂN KIỀU 天津橋 : Cây cầu bắt ngang dòng Lạc Thuỷ từ đời Tuỳ Dương Đế, ở phía nam của thành Lạc Dương, kinh đô trước đây của nhà Đường, thường được gọi là Đông Đô.
    - TẨM 浸 : là Ngâm nước, là Chìm trong nước.
    - HỒNG HÀ 紅霞 : là Ráng màu đỏ. Ở đây chỉ Ráng Chiều.
    - PHẤT 拂 : Có bộ Thủ 扌là Tay bên trái. Nên có nghĩa là PHỦI, như Phất Trần là Phủi bụi, nghĩa phát sinh là Phe Phẩy, Đung Đưa...
    - THUÝ LIỄN 翠輦 : là Xe của Vua đi lại trong cung do dê kéo.
    - HÀM 銜 : là Ngậm, ở đây nghĩa là THA.
    - THƯỢNG DƯƠNG CUNG 上陽宮 : Là một trong những hành cung lớn đời Đường, nằm ở tây nam thành Lạc Dương, do Đường Cao Tôn Lý Trị xây dựng vào năm Càn Phong thứ 2 (667). Lúc bấy giờ Lạc Dương là Đông Đô, vua ngự và nghe việc triều chính ở đây. Năm 705, khi bị Đường Trung Tôn ép phải thoái vị, Võ Tắc Thiên cũng ở cung này cho đến chết. Đường Huyền Tôn cũng từng làm yến tiệc lớn ở trong cung nầy. Nhưng sau loạn An Lộc Sơn (755-763), Thượng Dương Cung bị tàn phá nghiêm trọng, về sau dần dà hoang phế, đến đời Đường Đức Tôn (702-805) thì bỏ phế hẵn. UNG ĐÀO sanh năm 805, nên khi đi dạo đến đây thì Thượng Dương Cung đã bị bỏ phế lâu rồi !

* Nghĩa bài thơ :
                             NGẮM VẺ XUÂN TRÊN CẦU THIÊN TÂN
       Khi ta lên cầu Thiên Tân để ngắm vẻ xuân thì thấy ráng chiều đỏ thắm như in ở dưới nước. Tơ liễu như mây như khói theo gió đung đưa bên bờ sông trong ánh nắng chiều. (Thiên nhiên của mùa xuân thì vẫn đẹp như thuở nào) Nhưng... xe của Vua đã không còn ngự đến nữa, và điện vàng thì đóng kín im ỉm, những con chim oanh cũng bỏ cung mà tha cả những cánh hoa của Thượng Dương Cung bay ra bên ngoài !

      Thật cảm khái ! Mùa xuân thì cảnh vật mỗi năm vẫn thế, nhưng thời thịnh trị phồn vinh của nhà Đường thì một đi không trở lại! Chẳng những hành cung bị bỏ phế mà chim én, chim oanh cũng đã bỏ đi rồi, lại còn tha cả những đóa hoa của cung Thượng Dương để bay ra ngoài nữa chớ !

      Một điều thật thú vị là... Bài thơ nầy thường "bị" hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN với cách giải thích như sau :
      Cảnh xuân đẹp bên cầu Thiên Tân với ráng chiều đỏ thắm, với liễu rũ như tơ ở hai bên bờ, làm cho nàng cung nữ chợt động tình xuân, nhưng xe vua không tới và điện vàng thì luôn khóa kín, khiến nàng càng tủi phận mình hơn khi thấy chim oanh tha một cánh hoa ra khỏi Thượng Dương Cung. Hoa còn được chim tha ra ngoài chớ thân phận của mình biết ngày nào mới được giải thoát cho đây ?!
      Qủa là một sự hiểu lầm đầy thi vị !!!...                 

* Diễn Nôm :


                   NGẮM XUÂN BÊN CẦU THIÊN TÂN

                   Thiên Tân bóng nước ráng in hồng,
                   Tơ liễu mơ màng bên bến sông.
                   Chẳng thấy xe vua cung khóa kín,
                   Ngậm hoa oanh nọ vượt tường đông !
         Lục bát :
                   Nước xuân in bóng ráng chiều,
                   Bên cầu tơ liễu hiu hiu gió lùa !
                   Điện vàng khóa, vắng xe vua,
                   Thượng Dương hoa được oanh vừa tha ra !                                                                     
       Ta vừa đọc qua bài Thiên Tân Kiều Xuân Vọng của Ung Đào, một bài thơ hoài cổ cảm khái trước tang thương biến đổi, do vật đổi sao vời mà làm nên, nhưng lại "bị" hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN, còn bài thơ Thu Tịch của Đỗ Mục là một bài thơ CUNG OÁN thì lại rất ít người phát hiện ra cái OÁN của nó. Nên tôi mới đề tựa cho 2 bài nầy là :"KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN !" Chuyện văn chương lắm lúc oái oăm, lắt léo mà lại thú vị vô cùng !
       Mời tất cả cùng đọc lại bài thơ sau, so sánh nghiền ngẫm để cảm nhận cái hay ho sâu sắc mà lại rất nhẹ nhàng, thi vị của văn thơ !....

5. THU TỊCH 秋夕 của Đỗ Mục 杜牧 :    
                             
                 秋夕                        THU TỊCH                         
         銀燭秋光冷畫屏,  Ngân chúc thu quang lãnh họa bình
           輕羅小扇撲流螢。  Khinh la tiểu phiến phốc lưu huỳnh
           天街夜色涼如水,  Thiên giai dạ sắc lương như thủy
           臥看牽牛織女星。  Ngọa khán Khiên ngưu Chức nữ tinh .



* Chú thích :
    - Ngân Chúc 銀燭 : Ngân là Bạc, ở đây là màu Bạc, màu trắng bạc. Chúc là đuốc. Hoa Chúc là Đuốc hoa, ở đây Chúc là cây Đèn Cầy, Cây Nến. Ngân chúc : là Cây Đèn sáp màu trắng bạc.
    - Họa Bình 畫屏 : là Bức bình phong có vẽ tranh của các nhà quyền quý thời xưa.
    - Khinh La 輕羅 : Khinh là nhẹ, La là Là, Lụa là, là Vải The. Khinh La : là loại vải the nhẹ để làm quạt. Trong bài " Khinh La Tiểu Phiến " : Là chiếc quạt con làm bằng lụa là của các tiểu thơ xưa thường cầm trên tay.
    - Phốc 撲 : Là chụp bắt.
    - Lưu Huỳnh 流螢 : LƯU 流 là Lưu động, là xẹt. Lưu Tinh : là Sao xẹt. HUỲNH 螢 : là con Đom đóm. Nên LƯU HUỲNH là "Đom đóm đang bay lượn".
    - Thiên Giai 天街 : GIAI 街 là đường phố. THIÊN GIAI : không phải là đường phố ở trên trời, mà là đường trong kinh thành, trong cung vua.
    - Lương Như Thủy 涼如水 : là Mát như nước.

* Nghĩa bài thơ :
                       ĐÊM THẤT TỊCH
       Ánh sáng lung linh từ ngọn bạch lạp tỏa ra hòa với hơi thu làm cho tấm bình phong đẹp rực rỡ cũng nhuốm hơi lạnh lẽo, nàng phe phẩy chiếc quạt the để chụp bắt những con đom đóm đang lặp lòe bay lượn trong đêm. Đêm đang xuống trong những con đường của Kinh thành, hơi thu mát lạnh như nước trong đêm thanh vắng lặng, nàng ngữa nhìn sao trời để tìm ngắm hai sao Chức Nữ và Ngưu Lang.
 
* Diễn Nôm : 

                        
                                   THU TỊCH

               Lung linh nến trắng bình phong lạnh,
                Quạt lụa vờn theo đóm lượn thu.
                Lấp lánh sao trời trong như nước,
                Nằm xem sao Chức gặp sao Ngưu .
       Lục bát :
                Bình phong thu lạnh se se,
                Quạt là nến trắng lặp lòe đóm bay
                Trời thu như nước mát thay,
                Ngưu Lang Chức Nữ đêm nay tương phùng !
                                                                                               
       Đêm thu với khí trời trong mát, với đom đóm bay lượn lặp lòe, rồi nằm mà ngắm sao Ngưu Lang Chức Nữ... Rất bình dị và rất nên thơ ! Có ai ngờ được đây lại là một bài thơ Cung Oán!... Này nhé
   ... Ngọn bạch lạp đặt trên giá bằng bạc, bình phong có tranh họa rực rỡ, rõ ràng là cuộc sống của các vương hầu vua chúa, ta càng xác định hơn với từ Thiên Giai : là đường trong Kinh thành, trong Cung Vua, và ai mới rảnh rổi mà nằm ngắm sao trời ?. Chỉ có những nàng cung nữ nhàn nhã, tội nghiệp trong lãnh cung mới rảnh rổi như thế mà thôi, và... một điểm tâm lý rất quan trọng nữa là, chỉ có những nàng cung nữ với tình xuân phơi phới, với nhựa sống tràn trề, mà phải giam mình trong chốn lãnh cung cô thân chiếc bóng, mới hâm mộ và ước ao được như Ngưu Lang Chức Nữ, mặc dù mỗi năm chỉ hội ngộ có một lần. Một lần, có còn hơn không ! Một số cung nhân may mắn... suốt đời mới gặp được vua một lần ! Lắm cô suôt cả cuộc đời, hết cả thanh xuân, cũng chưa được nhà vua một lần triều kiến... So với Ngưu Lang Chức Nữ thì còn đắng cay chua xót hơn nhiều ! Nên chi, mới ngưỡng mộ và ước ao được như Ả Chức và Chàng Ngưu, chớ còn đối với cuộc sống bình thường, thì có ai lại hâm mộ chuyện tình của Ngưu Lang Chức Nữ bao giờ ? ! Duy chỉ có nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mới ...

             Mượn điều Thất Tịch mà thề bách niên....    mà thôi ! 
                                                                                             
      "Bách niên" mà chỉ gặp nhau vào đêm "Thất Tịch" hằng năm, thì có ai ao ước mà làm gì!!!

       Phải tinh ý lắm, ta mới cảm nhận được cái "Oán" trong bài thơ nầy, vì nó quá nhẹ nhàng và bình dị. Phải chăng cái oán đeo đẳng miên man lâu dần nên đã hòa vào cuộc sống và được chấp nhận như một sự tự nhiên tội nghiệp ! Không như nàng cung nữ của Ôn Như Hầu :

          ... Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra !... 
     Khi...   
          Cái OÁN đã lên đến cực điểm và trở thành bạo động !  

                   
                                          Bản thư pháp của Đỗ Chiêu Đức

       Hẹn bài dịch tới !


                                        杜紹德
                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

BUỔI TRƯA ẤY - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

    Trần Yên Hòa | Sáng Tạo


BUỔI TRƯA ẤY


 
Buổi trưa ấy qua đời ta rất lạ
Cành cây xanh sáng mãi thật diệu kỳ
Gió thốc tháo trên tầng cao khí quyển
Em mơ hồ thương nhớ đến mê ly
 
Có phải ta vừa đi qua cơn sóng
Giữa dòng đời tụ-hợp-chia-tan
Trăng khuất dấu và sao lặng nín
Em đi vào cõi sống hoang mang
 
Buổi trưa ấy đứng dưới tầng mây thấp
Em-xênh-xang-áo-mão-cống-xang-xề
Trưa nắng quái chói lòa nghe mê mệt
Lặng ôm đàn ngồi khóc thỏa thuê
 
Buổi trưa ấy đúng là trưa thế kỷ
Có nắng trong xanh có ngất ngây tình
Ta cúi xuống trao em cành nguyệt quế
Bỗng thấy mình thành cát sạn, sinh linh
 
Trưa hôm ấy đúng là trưa yêu dấu
Em và trưa giữa phố thị say mềm...
 
 

          TRẦN YÊN HOÀ

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026

KIẾP NGHÈO - TRẦN HỮU NGƯ

 


KIẾP NGHÈO
“… Lầy lội qua muôn lối quanh
Gập ghềnh đường đê tối tăm
Ngập ngừng dừng bên mái tranh
Nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi
Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha…”
Đó là câu tiếp theo sau câu mở đầu “ Đường về…” trong bài hát “Kiếp nghèo” của nhạc sĩ Lam Phương. Nghe mà như thấy hình ảnh một người bước đi “gập ghềnh”, rồi “ngập ngừng”, rồi “ngân nga”… trong một bức tranh, nhưng đối với thế kỷ 21 này, đó chỉ là miền cổ-tích!
Ôi, nghèo mà trở thành “Kiếp” thì dù có tài giỏi đến đâu cũng khó mà thay đổi số phận? Nhưng nhạc sĩ Lam Phương thì khác, vì nghèo quá, nên anh viết “Kiếp nghèo” đã làm đời anh “thoát nghèo”! Rồi từ đó, người ta bỏ tiền ra làm dĩa, thâu băng, ngoài ca sĩ hát “Kiếp nghèo”, người người nhà nhà đều nghe và hát “Kiếp nghèo” trên từng cây số, họ trả công xứng đáng cho Lam-Phương, và từ đó anh trở thành “Kiếp giàu”, một bài hát thay đổi cả số phận, hình như ở Việt Nam này, chỉ có một mình Lam Phương?
Bài “Kiếp nghèo” ra đời từ năm 1957 do tác giả xuất bản và giữ bản quyền. Bài hát này đã được người nghe đón nhận nồng nhiệt, mặc dù giai điệu Tango “Phó thường dân” thường hát trật nhịp, cho nên nghe là chính, hát là phụ.
Dân gian có câu: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”? Đó là câu nói để an ủi người nghèo, để người nghèo hy vọng một ngày nào đó “thoát nghèo”. Nhưng có không ít người giàu thì giàu suốt đời, và nghèo, thì nghèo suốt kiếp! Nghèo mà trở thành “kiếp” thì là số phận rồi, chẳng mong gì có một ngày thoát được kiếp nghèo đâu, đừng có mơ?
Trong âm nhạc, có không ít bài hát viết về nghèo. Nhưng có ba bài viết về nghèo đã làm cho người nghe thấy nghèo sao mà lãng mạn quá, hạnh phúc quá, nghèo mà sung sướng quá, như : “Phố buồn” của Phạm-Duy, “Xóm đêm” của Phạm Đình Chương và “Kiếp nghèo” của Lam Phương.
Ba nhạc sĩ này là ba tư tưởng lớn gặp nhau:
-Bài hát nào cũng bắt đầu từ “ĐƯỜNG VỀ, và có MƯA, và… ĐÊM”:
“… Đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em
Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tên
Qua mấy gian không đèn
Những mái tranh im lìm
Đường về nhà em tối đen…”
(Phố buồn – Phạm Duy)
“… Đường về canh thâu
Đêm khuya ngõ sâu như không màu…
Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn…”
(Xóm đêm – Phạm Đình Chương)
“… Đường về đêm nay vắng tanh
Rạt rào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…”
(Kiếp nghèo – Lam Phương)
Nghèo trong “PHỐ BUỒN”, trong “XÓM ĐÊM” tuy cũng nghèo, nhưng không thấm thía, đau buốt, dằn vặt, định mệnh… như trong “KiẾP NGHÈO”. Có những cái nghèo mà một đời đói ăn, thiếu mặc, thèm các cái… nhưng có thể chấp nhận gượng sống qua ngày. Nhưng nghèo đến tận cùng cuối trời, thấu đất, nghèo đến nỗi “không dám mơ ước “tình chung” thì chỉ có “KIẾP NGHÈO” của Lam Phương mới làm cho người đời ghi khắc, thương cảm, xót xa, như muối xát trong lòng.
Sau khi bất lực với nghèo, trong cái Dolce (dịu dàng, hòa hoãn), Lam Phương đã van xin đất, cầu khẩn trời, van xin Thượng Đế:
“… Trời cao có thấu
Cúi xin người ban phước cho đời con:
Một mái tranh yêu
Một khối tình chung thủy không hề phai
Và một ngày mai
Mưa không nghe tiếng khóc trong đêm dài
Đây cả nỗi niềm
Biết ngày nào ai thấu cho lòng ai….”
Có một câu trong bài hát “KIẾP NGHÈO” làm cho tôi nhớ thời áo tơi chằm lá, không mặc mà chỉ khoác vào, có dây cột vào cổ, đầu đội nón lá che mưa :
“… Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…
Mưa ơi có thấu cho ta
Lòng lạnh lùng giữa đêm trường
Đời gì chẳng tình thương không yêu đương…”
Nghèo tiền bạc, của cải vật chất đã đành, nhưng nghèo của Lam Phương đến nỗi cộng thêm “chẳng có tình thương và không yêu đương”!


TRẦN HỮU NGƯ
(Saigon-Giađinh, một bài viết đã lâu không ghi rõ ngày tháng vì tôi cũng nghèo nhưng không đến nỗi là “kiếp” mà chỉ nghèo “gia truyền”

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

THÔI - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

Nguyen Trung Artist - Vietnam Art Gallery NGUYEN TRUNG

TRANH NGUYỄN TRUNG


THÔI

 

Thôi em, khóc làm gì, hoa lá cũng

Khóc theo em, như tận tuyệt ngày qua

Hãy cứ để, đời xuôi, theo con nước

Chảy về miền, quá khứ, xót xa đau

 

Em, tan chảy trong anh, lời thệ nguyện

Khi trên đời, còn trổ nụ đơm bông

Thì ắt hẳn, ở em, vùng trú ngụ

Ngày cơn mưa, che dấu, hết ngoan hiền

 

Đó là dạo, bây giờ, xa lơ lắc

Níu làm chi, hai phương, biệt mây mù

Mà thực thể, trở thành, ngôi sao tắt

Bước đường ta, hoan hỉ, một thiên thu

 

Thôi em khóc làm gì, trời đất cũng

Buồn cùng em... năm tháng, cỏ cây buồn

Hãy lụn tắt, theo tháng ngày, đắng mật

Chuyện tình suông, như thể, mối tình suông

 

Anh như thể, chim trời, bay, quá khứ

Em như ngàn, lau lách, bụi bờ xa

Trả ân oán, của đất trời, hội tụ

Trong vô biên, còn đượm, tháng ngày qua

 

Cảm tạ những ân tình em đã gởi

Đợt sóng tình bèo giạt cũng khơi xa...

 

TRẦN YÊN HOÀ