CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

HỒNG SƠN LIỆP HỘ PHÚ - DU PHONG

 

 

HỒNG SƠN LIỆP HỘ PHÚ

Kỷ niệm 250 năm ngày sinh và 195 ngày mất của Đại Thi Hào Nguyễn Du
(03/01/1766 – 18/09/1820)

Dòng tộc nho phong
Gia môn thế phiệt
Khí thiêng Hồng Lĩnh hun đúc nhân tài
Nguồn mạch LAM GIANG ươm mầm hiệt kiệt
Nhớ người xưa.
Nức tiếng thơm cửa Khổng sân Trình
Nồng hương đạo Chu Công Phó Duyệt
Bút nghiên nặng nợ chữ thánh hiền đậm chất thanh cao
Ơn nước đa mang câu thần tử trọn niềm khí tiết!
Kết nối gió trăng roi chầu phách nhịp gẫm nòi tình cũng lắm vẻ phong lưu
Giao hảo bạn bè thi họa cầm kỳ đường ứng xử nổi danh người lịch thiệp
Nào hay:
Cơn chính biến tông đường tan nát bước hoạn đồ thẹn với giang san
Buổi giao thời vận hội trớ trêu đầu bạch phát đau cùng tuế nguyệt (1)
Mộng phù Lê hùng chí dẫu phai tàn
Thanh Hiên ký nỗi niềm lưu thống thiết
Mười sáu năm phong trần luân lạc nỗi cơ cầu con tạo
khéo trêu ngươi?
Năm lăm năm giông tố dập vùi thân đa bệnh trời già sao cay nghiệt!!
Mũ cánh chuồn, lưng đai bạc chốn quan trường hổ cái dàm danh
Câu trung nghĩa ý can trường nơi chín bệ dằn lời tâm huyết
Miếng đỉnh chung mỏi gối sân chầu
Mồi danh lợi mòn lưng cửa khuyết.
Thôi thì:
Tô cơm hẩm đọt rau rừng, vui cùng gió mát trăng trong.
Chung rượu nhạt đĩa tinh diêm thoả với non xanh nước biếc.
Mượn khúc đoạn trường phổ cung bạc mệnh dụng thi thần khóc kiếp hồng nhan
Nương thiên tình sử hý họa nhân tình cậy bút sắc, giải điều oan nghiệp.
Cung trường hận, mắt hoen sầu vạn cổ xót Thuý Kiều chưa thoát nợ đa truân.
Giây oan buồn, lệ đẫm tận thiên thu thương Từ Hải lỡ lầm mưu quỷ quyệt.
Trời tháng bảy mưa ngâu sùi sụt, cõi nhân gian thương kẻ lạc loài.
Tiết thu phân gió bấc lạnh lùng, nơi âm cảnh oan hồn rên xiết
Nỗi đau đời mãi day dứt khôn nguôi,
Lòng nhân ái sao ngậm ngùi da diết?
Cảm khái thay!
Bầu hận sự khôn giải bày tâm khảm, nén tủi hờn rũ áo từ quan.
Mộng công khanh dù ngán ngẩm thế thời cảm ân sủng về kinh phụng tiệp.
Đường thiên lý “Bắc Hành” cống tuế mệnh quân vương ngộ biến tùng quyền
Chốn triều trung kết mối bang giao mang sở học trổ tài biện thuyết.
Viếng Lỗi Dương cộng cảm nổi ai hoài
Khấp Tử Mỹ nghẹn ngào lời “Tam Biệt…” (2)
Chí đồng thanh muôn thuở kính bậc thầy
Dạ đồng khí trọn đời tôn thánh triết.
Hồn phấn đại còn nương làn sương khói, nghiệp văn chương thêm tỏ nét hình hài
Khách râu mày chạnh xót giải gò hoang câu phong vận mơ màng cơn mộng điệp
Đời cuồn cuộn dương tà nguyệt khuyết nỗi oan khiên đâu chỉ gái Tây Hồ
Phận long đong gió giật sóng vùi chữ tài mệnh riêng gì trai Nam Việt. (3)
Cảm phục thay!
Hồng Sơn Liệp Hộ gót vân du còn lưu dấu thiên tài
Đoạn Trường Tân Thanh lời tao nhã hồn thơ bất diệt.
Kim cổ kỳ thư
Văn chương trác tuyệt
Tài hoa chi cho con tạo ghét ghen.
Đa tình lắm để ngàn sau tưởng tiếc.
Long Thành, ngày 27 tháng 07 năm 2015
Nhị Bách Ngũ Thập Niên Bái

Hậu bối Du Phong (Trần Ngọc Chí) cẩn bút


Chú thích:
1. Nguyễn Du thân thế và sự nghiệp:
Nguyễn Du sinh ngày 3 /01/1766 mất ngày 18/(09/1820, ở làng Tiên Điền,
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tự Tố Như hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ.
Xuất thân trong một gia đình đại quý tộc thời Lê. Cha Nguyễn Nghiễm
(1707-1775) đỗ tiến sĩ làm tới chức Tư Đồ Bình Nam Đại tướng quân,
tước xuân Quận Công. Mẹ Trần Thị Tần (1740-1778) đẹp nổi tiếng đất
Kinh Bắc. Anh cùng cha khác mẹ Nguyễn Khản (1734 - 1786) đỗ tiến sĩ
làm đến chức Thượng Thư Bộ Lại tước Đoản Quận Công. Thủa nhỏ ông ở
cùng cha và anh trai sống tại Kinh Thành Thăng Long. Lên 10 tuổi cha
mất và 3 năm sau mẹ ông cũng qua đời. Năm 1783 ông đi thi và đậu tú
tài; Nguyễn Du sống phong lưu không được bao lâu thì dinh cơ của
Nguyễn Khản bị kiêu binh nổi dậy đập phá tan tành. Nguyễn Khản chạy
lên Sơn Tây rồi về Hà Tĩnh đau bệnh và mất.
Năm 1786 Bắc Bình Vương ra Bắc Hà dẹp loạn lần thứ nhất, ông chạy về
Thái Nguyên sống với người cha nuôi họ Hà. Năm 1788 nhà Thanh cử Tổng
Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân xâm lược nước ta. Bắc Bình
Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu là Quang Trung đem quân
thần tốc ra Bắc đánh tan tác 29 vạn quân Thanh vào mùa xuân 1789, cơ
nghiệp nhà Lê chấm dứt vào mùa xuân Kỷ Dậu lịch sử.( Từ Thế Tổ Cao
Hoàng đế Lê Lợi đến Lê Chiêu Thống 361 năm 1428 – 1789).
Nguyễn Du về quê vợ ở Thái Bình ẩn náu, 10 năm sống trong cảnh bần hàn
cơ cực, bệnh tật làm tóc ông bạc phơ khi chưa tròn 30 tuổi. Ông rời
Thái Bình về quê cha Hà Tĩnh 6 năm, nhưng cuộc sống cũng chẳng khá gì
hơn. Không như anh ông là Nguyễn Nễ và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn ra
làm quan cho nhà Tây Sơn. Một người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn
Quýnh nổi lên chống lại Tây Sơn 1796 bị giết chết. Lúc này dinh cơ của
Nguyễn Tiên Điền ở Hà Tĩnh bị quân lính Tây Sơn phá sạch. Phần ông
toan vào Nam phò Nguyễn Ánh vì ông nghĩ dù sao Nguyễn Ánh cũng là tôi
thần nhà Lê. Ông bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Thận bắt, vì là bạn của
Nguyễn Nễ hơn nữa cũng tiếc tài ông nên giam ba tháng rồi cho về.
Năm 1802 khi vua Gia Long thống nhất giang san xuống chiếu mời cựu
thần nhà Lê ra giúp nước, không dám kháng chỉ trái mệnh triều đình ông
về kinh, được vua Gia Long phong làm tri huyện Phù Dung thuộc Khoái
Châu nay là tỉnh Hải Hưng ba tháng sau thăng tri phủ Thường Tín, Sơn
Tây. Trong 19 năm làm quan cho triều Nguyễn ông đã 3 lần xin từ quan,
lần thứ nhất vào mùa thu năm 1804; lần thứ hai 1808 và lần thứ ba năm
1812. Và cả ba lần sau vài tháng vua Gia Long lại có chiếu chỉ vời ông
về kinh thăng chức cho ông: Lần thứ nhất thăng Đông Các Học Sĩ năm
1806, lần thứ hai thăng Cai Bạ Quảng Bình ( bố chánh) 1808, lần thứ 3
thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ năm 1813, sung chức chánh sứ sang Trung
Quốc lần thứ nhất và sau khi đi sứ về nước năm 1814 lại thăng chức Hữu
Tham Tri Bộ Lễ. Mặc dù đã làm quan đến chức tòng nhị phẩm triều đình,
nhưng ông biết đây là chính sách khôn khéo dùng người của vua Gia Long
đối với nhân sĩ Bắc Hà, còn quyền chính thực thụ bàn việc cơ mật quốc
gia nằm trong tay những công thần Vọng Các. Buồn chí ông lại xin về
trí sĩ. Khi vua Gia long băng hà 1820, hoàng tử Đảm lên kế vị, hiệu là
Minh Mạng, lại vời ông về triều đi sứ lần thứ 2, ông bệnh và qua đời
vào ngày 18-09-1820. (nhằm ngày 10-8 năm canh dần) hưởng thọ được 55 tính theo
tuổi âm lịch.
2. Sự nghiệp văn học:
Trong những năm tháng về sống ở Hà Tĩnh, ông ngao du cùng phường thợ
săn khắp 99 ngọn núi Hồng Lĩnh nên có biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ,
gặm nhấm nỗi buồn về sự suy tàn của một vương triều và gia thế, ông đã
để lại cho đời tập Thanh Hiên Thi Tập.
Khi về làm quan cho triều Nguyễn tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh được thành hình sau chuyến đi sứ sang TRUNG QUỐC1813 và một tác phẩm nữa cũng bằng tiếng nôm “Văn Tế
Thập Loại Chúng Sinh” thể thơ song thất lục bát, hai thể thơ đặc
trưng của Việt Nam, bắt nguồn từ ca dao tục ngữ. Sau khi đi sứ trở về
với thi phẩm Bắc Hành Thi Tập đã làm nổi bật tên tuổi của ông trong
giới văn học của đầu thế kỷ thứ 19.
Kỷ niệm 250 năm ngày sinh và 195 năm ngày mất. Dù đã trải qua bao
nhiêu biến động của thời cuộc, tiếng thơ của ông đã ảnh hưởng sâu rộng
đến mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam dù bất cứ thể chế nào. Không biết
bao nhiêu văn gia, thi sĩ và những học giả phê bình lý luận văn học
tốn bút mực viết về ông, không những trong nước và cả nước ngoài. Tác
phẩm Đoạn Trường Tân Thanh đã được chuyển ngữ truyền bá trên khắp thế
giới: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Ý, Mỹ,..v..v… Đã nâng
tầm tên tuổi ông đứng ngang hàng với những đại thi hào của nhân loại.
3. Đỗ Phủ (712 – 770) tự Tử Mỹ hiệu Thiếu Lăng người sau còn gọi là
Đại Đỗ để phân biệt tiểu Đỗ (Đỗ Mục). Mùa xuân năm 759, trên đường lưu
lạc trong loạn An Lộc Sơn từ Lạc Dương đến Hoa Châu ông có sáu bài thơ
nổi tiếng: Thạch Hào Lại, Tân An Lại, Đồng Quan Lại, Tân Hôn Biệt, Vô
Gia Biệt, Thùy Lão Biệt. Tố cáo giai cấp thống trị, vua quan thối nát,
hoang dâm vô đạo, tàn ác gây chiến tranh để lương dân lâm vào cảnh bần
cùng cơ cực, cửa nát nhà tan.
“ Chu môn tửu nhục xú
Lộ hữu đống tử cốt”
Trích “Tự Kinh Phó Phụng Tiên” của Đỗ Phủ
Dịch: Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường xương chết buốt
Năm 1813 Nguyễn Du làm chánh sứ sang Trung Quốc, ông ghé Lỗi Dương
viếng mộ Đỗ Phủ. Trong Bắc Hành Thi Tập còn lưu lại bài:
Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ
Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư).
Bình sinh bội phục vị thường ly.
Lỗi Dương tùng bách bất tri xứ,
Thu phố ngư long hữu sở ti (tư).
Di đại tương liên không sái lệ,
Nhất cùng chí thử khởi công thi?
Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị?
Địa hạ vô linh quỷ bối xi.
Dịch nghĩa Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ
Văn chương lưu muôn đời, bậc thầy muôn đời
Bình sinh bái phục không lúc nào ngớt
Cây tùng cây bá ở Lỗi Dương, không biết ở nơi nào?
Cá rồng trong bến thu, còn có chỗ để tưởng nhớ
Ở hai thời đại khác nhau, thương nhau, luống lệ rơi.
Cùng khổ đến thế há phải bởi tại thơ hay?
Chứng bệnh lắc đầu ngày trước, bây giờ đã khỏi chưa?
Dưới địa phủ đừng để cho lũ quỷ cười.
Bản dịch của Quách Tấn
Thơ thiên cổ cũng thầy thiên cổ,
Vốn một lòng ngưỡng mộ bấy nay.
Lỗi Dương tùng bá đâu đây?
Cá rồng thu lạnh sông đầy nhớ thương,
Há văn chương lụy người đến thế?
Chạnh nghìn xưa dòng lệ khôn ngăn,
Lắc đầu bệnh cũ còn chăng?
Suối vàng chớ để mấy thằng quỷ trêu.
Độc Tiểu Thanh Ký
Tây Hồ mai uyển tẩn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Nguyễn Du: Bắc hành Thi Tập
Bản dịch của Quách Tấn
Tây Hồ hoa kiểng giải gò hoang
Cửa hé trang thơ chạnh nhớ nàng
Hận luống vương mang hồn phấn đại
Tro chưa tàn hết nghiệp văn chương
Thanh thiên khéo hỏi oan chồng chất
Phong nhã đành cam nợ vấn vương
Rồi Tố Như này ba kỷ nữa
Trần gian ai kẻ ngậm ngùi thương.
Độc Tiểu Thanh Ký: Tiểu Thanh: một giai nhân tài sắc sinh vào thời nhà
Minh, vào khoảng năm 1460-1513 ( Từ Minh Thành Hóa đến Minh Hoằng Trị)
ở làng Tây Hồ Trường An, Trung Quốc. Năm 42 tuổi mà chưa lập gia đình
đành làm lẽ một viên quan tri phủ. Vợ cả vì ghen tuông âm mưu sai
người đêm đến thiêu rụi nhà cửa và bà qua đời. Thương tiếc người tài
hoa bạc mệnh, khi đi sứ ông đến Tây Hồ thăm mộ bà, vào khoảng trên
dưới 300 năm vì cảm thương khách má hồng gặp điều oan nghiệt ông viết
bài thơ trên khóc người xưa, và thầm hỏi 300 năm sau có ai còn khóc
mình không?
Bất tri tam bách dư niên hậu.
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?


DU PHONG

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

MỜI EM CÀ PHÊ SÁNG - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG


Kết quả hình ảnh cho ẢNH LY CÀ PHÊ


 MỜI EM CÀ PHÊ SÁNG


Mời em cà phê sáng
Ta pha hồn tháng năm
Có dấu chân phiêu lãng
Buồn vui bước thăng trầm

Nắng quê nhà khoe sắc
Vàng cánh bướm cầu ao
Hoa dừa rơi trắng đất
Mùi thơm bay ngọt ngào

Sá gì ngày tháng cạn
Tiết giao mùa qua tay
Đêm dài trời hửng sáng
Thời gian lúc vơi đầy

Nghe chim cu gáy Tết
Hồn lặng gió thanh bình
Đường nhà xanh cỏ biếc
Mây ngang trời mông mênh

Sá gì cây lẻ bạn
Gió thổi lúc mồ côi
Sương giăng chiều bãng lãng
Bóng,hình thôi lẻ loi


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

EM CỦA NGÀY XƯA - THƠ DU PHONG



 EM CỦA NGÀY XƯA


Đã qua thời bão nổi
Đồi đông bạt đồi tây
Ốc vễnh râu hóng hớt
Nằm nghe chuyện lở bồi

Con đò neo bến vắng
Nhìn ráng chiều tàn phai
Ngổn ngang niềm tâm sự
Biết ngỏ lời cùng ai

Em của ngày xưa cũ
Tóc huyền chừ pha sương
Tôi của ngày xưa cũ
Chông chênh vạn nẻo đường

Thơ khóc thời binh lửa
Thơ khóc thời hòa bình
Tủi phận mình hạt cát
Đau vận nước điêu linh

Thương bao người nằm xuống
Thương bao người ra đi
Hồn quê còn nắm níu
Ngậm ngùi phút chia ly

Em của ngày xưa cũ
Còn nguyên nét tinh khôi
Hay đắm chìm ảo mộng
Ngày xưa...xưa... xa rồi.


DU PHONG

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026

THĂNG TRẦM - THƠ LÊ KIM THƯỢNG



 THĂNG TRẦM 

1. 

Quê xưa lâu lắm mới về

Vẫn làng xóm cũ, vẫn quê thanh bình

Rêu phong phủ kín mái đình

Cây đa quên tuổi, một mình đơn côi

Phù sa bên lở bên bồi

Thương con sông cũ bồi hồi phân vân

Hàng dừa, hàng bắp bâng khuâng

Giàn bầu, giàn mướp bao lần trổ bông

Nghe con nước lớn, nước ròng

Gửi theo dòng chảy nỗi lòng dạt phiêu

Cuối chiều nắng tỏa liêu xiêu

Tiếng chuông rơi nhẹ, sáo diều vấn vương

Bóng Cha… bóng lúa thân thương

Một đời, một nắng, hai sương nhọc nhằn

Mẹ ơi… như kiếp con tằm

Chắt chiu nhả lụa tháng năm dặm dài…

  

2.

 

Người giờ xa xứ miệt mài

Con đò bến cũ vẫn hoài chờ mong

Suối ơi chảy mãi gặp sông

Quê hương làng xóm ngóng trông người về…

Đời người như cái nón mê

Tả tơi thân phận, dãi dề xác xao

Đời không là giấc chiêm bao

Trông ra thẹn mặt, trông vào đắng cay

Hai bàn tay trắng bàn tay

Kiếp người chung với vơi đầy chênh chao

Nụ cười khô hạn xanh xao

Tiếng cười ngắt tiếng rơi vào xa xăm

Cuộc đời bao nỗi thăng trầm

Sống sao cho hết tháng năm nặng nề

Ước gì về sống với quê

Buông rơi phiền muộn, nẽo về yên vui…

 

          

            Nha Trang, tháng 04. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

NGƯỜI THẦY- THƠ NGUYỄN AN BÌNH


TÌNH THƠM MÀU GIẤY MỚI


 NGƯỜI THẦY


Có một khúc giao mùa

Rơi vào tháng mười một

Trên bục giảng ngày xưa

Nhớ hoài từng bụi phấn.


Mái chèo khua sóng nước

Đưa người qua bến sông

Con đường dài phía trước

Chở đầy bao mưa giông.


Mở chân trời khát vọng

Chấp cánh bao ước mơ

Qua dòng sông tri thức

Sáng ngời mắt em thơ.


Cả một trời ký ức

Đưa ta ngược thời gian

Nhớ từng viên ngói đỏ

Lớp học dãy hành lang.


Một ngày qua trường cũ

Tháng mười một tiễn đưa

Có dấu chân thầm lặng

Người đưa đò năm xưa.


5/11/2024

NGUYỄN AN BÌNH

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

THÚ VUI MÙA NƯỚC LỢ Ở MIỆT VƯỜN - TỪ KẾ TƯỜNG

 

 See original image


THÚ VUI MÙA NƯỚC LỢ Ở MIỆT VƯỜN

Khi những cơn gió chuyển mùa đẩy nước từ rạch vào mương vườn mà vốc tay hớp thử ngụm nước mát lạnh có lẫn mùi vị phù sa lờ lợ thì người miệt vườn, miệt ruộng biết là mùa câu cua đã tới. Mùa này vào khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, kéo dài cho đến lúc mưa sa thì cua rút vào hang đợi kỳ lột vỏ. Theo người quê tôi thì cua vào độ nước lợ rất chắc thịt, gạch son, mai xanh màu rêu và đôi càng vàng lườm lượm màu gạch, một màu đặc trưng của phù sa châu thổ không trộn lẫn. Cua cuối tháng ba đầu tháng tư, tháng năm mười con như một, luộc cũng ngon mà nướng lửa than miễng gáo thì bay mùi khắp xóm.
Để chuẩn bị cho việc câu cua, trẻ con lứa tuổi chúng tôi ở miệt ruộng, miệt vườn thường tranh thủ vào những ngày nghỉ học cuối tuần khi sắp bước vào mùa nghỉ hè chuẩn bị đồ nghề cho việc câu cua. Tất cả dụng cụ câu cua đều làm bằng “cây nhà lá vườn”, tuyệt không có thứ gì phải bỏ tiền ra mua ngoài chợ, vì chắc chắn ngoài chợ không có bán.
Trước tiên là cục dằn dây câu. Thủa đó tôi thường lên đồng móc đất sét dẻo ở những thửa ruộng khô, hoặc xuống vườn tìm những hang tèn hen, lựa đám bùn dẻo do chúng đùn lên miệng hang đem về làm thứ dụng cụ không thể thiếu này. Một tảng đất sét ước lượng vừa đủ để làm chừng 20-30 chục cục dằn dây câu, đất được ngắt từng cục, vo tròn trong lòng bàn tay đến khi nó tròn như một viên bi lớn cỡ mặt đồng hồ đeo tay, lấy cây que xoi lỗ rồi mang ra sân phơi nắng cho khô trắng. Thường phải mất một buổi.
Chiều, đợi lúc mẹ nấu cơm xong, than miễng gáo còn trong bếp chỉ việc lấy ống thổi, thổi bùng lên, cho thêm miễng gáo vào, đợi chúng bén lửa tỏa hơi nóng rát mặt thì cho những cục đất tròn ấy vào nung cho đến khi cháy đỏ rực thì lấy ra để nguội. Những cục đất ấy bây giờ đã chuyển màu gạch và thực chất chúng đã trở thành những viên gạch cứng không tan khi dìm trong nước để thay cho những cục chì nặng đủ sức dằn sợi dây câu không bị dòng nước cuốn trôi. Những cục đất tròn này càng nung lửa già thì càng cứng, có thể bền vững suốt một mùa câu cua mà khỏi phải thay mới.
Việc kế tiếp là xuống vườn tìm chặt những cây bình linh non, bao nhiêu cần câu thì bấy nhiêu cây bình linh, đặc biệt của cây bình linh non để làm cần câu cua lý tưởng vì nó tròn, to cỡ ngón tay và thẳng, trong khi nếu làm cần câu cua bằng tre hay trúc thì phải hơ lửa uốn mới thẳng được, việc này mất rất nhiều công sức và thời gian. Cần câu cua làm bằng cây bình linh sau khi chặt ngọn, đẵng gốc còn dài cỡ 1,5m, tướt vỏ xanh còn lại lõi trắng.
Dây câu chắc và không sợ bị cua kẹp đứt ngoài loại nhợ gai màu trắng, sợi to cỡ cây tăm tre là chuẩn, dây câu độ dài cũng cỡ 1,2m một đầu cột chặt vào cần câu, đầu khia xỏ ngang qua cục dằn dây câu, dưới đó là một vòng kẽm để móc mồi câu. Sau khi móc mồi thì gài lại bằng cách bẻ cong hai đầu vòng kẽm móc lại là xong.
Mồi để câu cua là lươn, lịch, đẻn ruộng, cá kèo hoặc cóc. Nếu chọn mồi không phải là cóc thì chặt khúc cỡ lóng tay móc vào vòng kẽm, nếu mồi cóc thì chặt con cóc làm hai để móc vào vòng kẽm. Cua mùa nước lợ háu ăn, chúng ăn đủ thứ, nhưng món khoái khẩu của lũ cua là lươn chặc khúc và cóc chặt làm đôi.
Sẽ không đủ bộ dụng cụ câu cua nếu thiếu cây vợt cán dài cỡ 1m bằng tre to cỡ ngón chân cái, vợt là một tấm lưới cá luồn qua cái vòng bằng thép nhọn phần đáy và đủ độ thòng khoảng 6 tấc cho chú cua nằm gọn trong đó không thoát ra được. Cuối cùng là một cái giỏ đựng cua, dây trói cua bằng nylon hay dây chuối, lạt dừa tùy điều kiện của người câu. Cần câu cua móc mồi sẵn, vác lên vai người câu cùng với cây vợt, vai bên kia mang cái giỏ cua và canh khi nước vừa “nhữn lớn” từ rạch bò vào mương vườn thì đi “trãi câu”.
Mỗi cây cần câu cua cắm gốc sau vào mép mương vườn sao cho đủ sức chịu đựng được lực trì kéo của chú cua ham mồi, mồi câu thả đụng đáy mương, dây câu để thẳng góc với mép bờ, cần này cắm cách cần kia khoảng 10 bước chân và… chỉ việc chờ đợi để cua ăn câu mà vợt lên thôi. Nhưng không phải chú cua nào ngoạm mồi cũng bắt được dễ dàng nếu không có kinh nghiệm của người lão luyện “tay nghề”.
Khi đi thăm câu, thấy cần câu nào mà dây câu bị kéo thẳng về một hướng, có chú cua thích kéo ngược nước, có chú cua thích kéo xuôi nước nhưng dù ngược nước hay xuôi nước người câu cua tay phải cầm vợt, tay trái nhổ cần, từ từ nhấc cần lên khỏi mặt nước sao cho khéo léo để chú cua càng “tức khí”, càng “mê mồi” không bỏ nửa chừng. Đây là cả một nghệ thuật, vì nếu nhấc mạnh thì chú cua sẽ sợ, bỏ mồi và… người câu sẽ tiếc hùi hụi. Nên nhớ câu cua không phải bằng lưỡi câu mà chỉ bằng cục mồi móc vào vòng kẽm và cua chỉ dùng hai càng ngoạm mồi đưa vào miệng “rỉa từ từ” nên rất dễ “sẩy”.
Khi người câu nhấc cần lên, vừa thấy hai càng chú cua quơ quơ ngoạm cục mồi khỏi mặt nước là lập tức đưa vợt xuống ngay xuống phía dưới cục mồi vớt chú lên, giây phút này rất quan trọng, quyết định việc thành bại của ngườ câu cua, nếu đưa vợt xuống nhanh quá thì làm chú cua hoảng loạn bỏ mồi, nếu đưa vợt xuống chậm quá thì “hỏng ăn” vì chú cua đủ thời gian lặn mất.
Cua ăn câu đủ dạng, từ chú cua “nhé” chỉ bằng miệng tách cà phê đến chú cua kình khệnh khạng nặng trên ký lô chỉ nhìn thấy đôi càng quơ quơ ngoạm cục mồi đã “ khoái chí tử” muốn run tay. Sau khi vợt chú cua lên, nếu chú còn bé quá thì thả chú xuống mương, chỉ bắt những chú cua “ trưởng thành”và rút dây trói chú lại bỏ vào giỏ. Một con nước gọi là mùa câu cua như thế không kéo dài, từ lúc nước “ nhữn lớn” đến khi nhìn thấy “nước đứng” trong mương thì nhổ cần chuẩn bị ra về. Tính ra thời gian khoảng 2-3 tiếng đồng hồ. Người câu cua giỏi, gặp ngày “trúng mánh” sẽ bắt được 5-7 ký cua là chuyện bình thường.
Câu cua là môt thú vui đồng quê, rất căng thẳng, hồi hộp và là một nghệ thuật tổng hợp bao gồm sự khéo léo, chí kiên nhẫn và rèn luyện tư duy đối phó giữa người câu cua trên bờ và một chú cua dưới nước khá gay cấn nhưng lại rất thú vị. Cuối cùng là ai thắng ai, đó mới là kết quả cuối cùng. Bảo đảm ai đã từng câu cua mà lỡ để “sẩy” một chú cua kình cỡ 500 gram đến 1 ký lô thì… ăn không ngon ngủ không yên, cả trong giấc mơ cũng thấy tái hiện cuộc “chiến đấu” lãng mạn này và sẽ tiếc mãi, ám ảnh mãi thành... kỷ niệm khó phai.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

KINH TẾ VỈA HÈ TRONG ĐỜI SỐNG ĐÔ THỊ ĐÀ NẴNG - HỒ TỊNH



 


KINH TẾ VỈA HÈ TRONG ĐỜI SỐNG ĐÔ THỊ ĐÀ NẴNG

Trong cấu trúc không gian đô thị Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng, vỉa hè không chỉ là bộ phận của hạ tầng giao thông mà còn là một không gian xã hội – kinh tế đặc thù. Tại đây, các hoạt động buôn bán nhỏ lẻ, dịch vụ ăn uống, trao đổi hàng hóa diễn ra hằng ngày, hình thành nên “kinh tế vỉa hè” – một bộ phận điển hình của khu vực kinh tế phi chính thức. Vấn đề đặt ra là, trong quá trình xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại, chủ trương trả lại vỉa hè cho người đi bộ là hoàn toàn đúng đắn; tuy nhiên, nếu không giải quyết thấu đáo bài toán sinh kế cho người dân nghèo, việc này có thể tạo ra những hệ lụy xã hội đáng tiếc.
1. Kinh tế vỉa hè – Sắc thái đời sống đô thị
Vỉa hè là không gian đa chức năng, vừa phục vụ giao thông, vừa là nơi diễn ra các tương tác xã hội và hoạt động kinh tế nhỏ lẻ. Các nghiên cứu cho thấy, kinh tế vỉa hè là một bộ phận quan trọng của khu vực kinh tế phi chính thức – khu vực tạo ra một tỷ lệ đáng kể việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Ở Việt Nam, kinh tế phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động, với hàng triệu người tham gia, trong đó hoạt động buôn bán vỉa hè chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đây là khu vực có đặc điểm dễ gia nhập, vốn thấp, quy mô nhỏ, dựa vào lao động gia đình – những yếu tố khiến nó trở thành lựa chọn sinh kế phổ biến của người nghèo đô thị.
Tại Đà Nẵng, đặc biệt ở các tuyến phố trung tâm, khu du lịch ven biển, chợ truyền thống hay các khu dân cư đông đúc, hình ảnh những gánh hàng rong, xe đẩy, quán ăn nhỏ trên vỉa hè đã trở nên quen thuộc. Kinh tế vỉa hè không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương mà còn góp phần tạo nên “sắc thái đời sống đô thị” hấp dẫn du khách – một yếu tố không thể phủ nhận trong nền kinh tế dịch vụ – du lịch của thành phố.
2. Không gian sinh tồn của dân nghèo đô thị
Đằng sau sự nhộn nhịp của các hoạt động vỉa hè là đời sống mưu sinh đầy bấp bênh của một bộ phận cư dân đô thị, phần lớn là lao động nhập cư từ nông thôn, người lớn tuổi, phụ nữ, hoặc những người không có điều kiện tiếp cận việc làm chính thức.
Đối với họ, vỉa hè không chỉ là nơi buôn bán mà còn là “không gian sinh tồn”. Với số vốn ít ỏi, họ tận dụng mọi khoảng trống của đô thị để kiếm sống: bán hàng ăn sáng, nước giải khát, trái cây, đồ lưu niệm… Thu nhập tuy không cao nhưng ổn định theo ngày, đủ để trang trải chi phí sinh hoạt tối thiểu trong bối cảnh giá cả đô thị ngày càng đắt đỏ. Vì thế kinh tế vỉa hè đóng vai trò như một “lưới an sinh phi chính thức”. Trong nhiều trường hợp, nó giúp thu hút lực lượng lao động dư thừa, giảm áp lực thất nghiệp và góp phần duy trì sự ổn định xã hội.
Tuy nhiên, đặc trưng phi chính thức cũng khiến nhóm lao động này đối mặt với nhiều rủi ro: không có bảo hiểm, không có hợp đồng lao động, dễ bị xử phạt hành chính, bị tịch thu hàng hóa, và đặc biệt là luôn trong trạng thái “tạm bợ” về không gian kinh doanh.
3. Chủ trương lập lại trật tự vỉa hè- Cần nhưng chưa đủ
Trong tiến trình xây dựng Đà Nẵng trở thành “thành phố đáng sống”, chính quyền đã triển khai nhiều biện pháp nhằm lập lại trật tự đô thị, trong đó có việc giải tỏa tình trạng lấn chiếm vỉa hè, trả lại không gian cho người đi bộ.
Về nguyên tắc, đây là một chủ trương đúng đắn. Vỉa hè trước hết phải là không gian dành cho giao thông bộ hành, đảm bảo an toàn, mỹ quan và trật tự đô thị. Việc lấn chiếm tràn lan không chỉ gây cản trở giao thông mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh của một đô thị hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh Đà Nẵng hướng tới phát triển du lịch quốc tế.
Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ: khi vỉa hè được “làm sạch”, sinh kế của hàng nghìn người lao động nghèo sẽ đi về đâu? Nếu không có giải pháp thay thế, chính sách này có thể dẫn đến tình trạng “đẩy người nghèo lùi về phía sau”, làm gia tăng bất bình đẳng và tạo ra các vấn đề xã hội mới.
Kinh nghiệm từ Hà Nội và tp Hồ Chí Minh cho thấy, việc cấm buôn bán vỉa hè trên một số tuyến phố nhằm hiện đại hóa đô thị đã gặp nhiều khó khăn trong thực thi, bởi lực lượng bán hàng rong vẫn tồn tại như một nhu cầu kinh tế – xã hội tất yếu.
4. Kinh nghiệm từ các nước Đông Nam Á
Điều đáng chú ý là ngay cả ở các quốc gia phát triển hơn trong khu vực Đông Nam Á, hoạt động buôn bán vỉa hè không bị xóa bỏ hoàn toàn mà được quản lý theo hướng thích ứng.
Tại Bangkok, chính quyền từng tiến hành dẹp bỏ hàng rong để lập lại trật tự đô thị. Tuy nhiên, sau đó đã phải điều chỉnh chính sách theo hướng quy hoạch các khu vực bán hàng hợp pháp, cấp phép cho người bán và kết hợp với phát triển du lịch ẩm thực đường phố.
Tương tự, ở Kuala Lumpur, Jakarta, chính quyền không cấm tuyệt đối mà tổ chức lại không gian, phân vùng kinh doanh, thậm chí coi đây là một phần của sản phẩm du lịch đô thị.
Tại Singapore, một trong những đô thị hiện đại bậc nhất châu Á, mô hình “hawker centre” (khu ẩm thực tập trung) được xây dựng như một giải pháp dung hòa: vừa đảm bảo vệ sinh, trật tự, vừa duy trì sinh kế cho người bán hàng rong và bảo tồn văn hóa ẩm thực đường phố.
Những kinh nghiệm này cho thấy, vấn đề không phải là “xóa bỏ” hay “duy trì” kinh tế vỉa hè, mà là quản lý nó như thế nào.
5. Hướng tiếp cận cho Đà Nẵng
Để giải quyết hài hòa giữa yêu cầu chỉnh trang đô thị và đảm bảo sinh kế cho người dân, Đà Nẵng cần một cách tiếp cận linh hoạt và nhân văn hơn đối với kinh tế vỉa hè.
Trước hết, cần nhìn nhận kinh tế vỉa hè như một bộ phận hợp pháp và không thể thiếu của đời sống đô thị.
Thứ hai, quy hoạch không gian vỉa hè theo hướng phân vùng chức năng: những khu vực trung tâm, tuyến phố chính có thể hạn chế hoặc cấm buôn bán; trong khi đó, các khu vực khác có thể cho phép kinh doanh có kiểm soát, cấp phép và thu phí hợp lý.
Thứ ba, xây dựng các mô hình thay thế như chợ đêm, phố ẩm thực, khu bán hàng tập trung… vừa tạo điều kiện cho người dân tiếp tục mưu sinh, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ và hình ảnh đô thị.
Thứ tư, kết hợp chính sách an sinh xã hội: đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm… để giúp người dân từng bước thoát khỏi sự phụ thuộc vào kinh tế phi chính thức.
Và quan trọng hơn là, trước khi làm thông thoáng vỉa hè cần giúp đỡ những người đang mưu sinh trên vỉa hè có nơi buôn bán.
***
Chủ trương trả lại vỉa hè cho người đi bộ là cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở việc “lập lại trật tự” mà không đi kèm với các giải pháp sinh kế cho người dân thì sẽ thiếu tính bền vững. Kinh nghiệm từ các đô thị Đông Nam Á cho thấy, hướng đi phù hợp là là tổ chức, quản lý và tích hợp kinh tế vỉa hè vào cấu trúc đô thị hiện đại, LÀM CHO VỈA HÈ VỪA LÀ KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG VĂN MINH, VỪA LÀ KHÔNG GIAN MƯU SINH CỦA NHỮNG NGƯỜI YẾU THẾ TRONG ĐÔ THỊ.


HỒ TỊNH