CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

MÙA CÁ NHẢY HẦM GIÁP TẾT - TỪ KẾ TƯỜNG



 Không có mô tả ảnh.


MÙA CÁ NHẢY HẦM GIÁP TẾT

Thuở trước, khi chưa có phong trào phá ruộng lập vườn và thời gian gần đây thì phá vườn làm vuông nuôi tôm sú công nghiệp thì đồng ruộng quê tôi mênh mông bát ngát. Có những cánh đồng kéo mút tầm mắt như tới tận chân trời và tuy mỗi năm chỉ làm một vụ lúa, gọi là lúa mùa nhưng thủa ấy đồng đất phủ kín phù sa không cần phân bón, thuốc trừ sâu lúa vẫn sai oằn bông. Lúa trúng mùa, nông dân đập bồ tại ruộng hoặc cho xe trâu cộ về chất đầy sân nhà rồi cho trâu đạp. Cảnh trâu đạp lúa vào những đêm trăng mùa vụ no đầy lúc Giáp Tết của làng quê êm ã, thanh bình thật nên thơ đã đi vào ký ức một thời không thể nào quên.
Và thời ấy, cá trên đồng ruộng quê tôi rất nhiều, đến nỗi trẻ con chúng tôi cỡ 9-10 tuổi cũng có thể bắt cá bằng mọi cách, mọi phương tiện phù hợp với lứa tuổi của mình, vừa là trò chơi giải trí, vừa…ăn thiệt. Một trong những cách bắt cá trên đồng ruộng đơn giản nhất mà đầy hiệu quả là đắp hầm cho cá nhảy. Bắt cá kiểu này rất “tài tử”, không phải lặn ngụp, mình mẩy lấm lem bùn sình, cũng không dầm mưa dãi nắng vì hầu như các loại cá đồng chỉ nhảy hầm vào ban đêm mà những đêm trăng đi thăm hầm, bắt cá lại rất vui.
Giáp Tết, tháng chạp (tháng 12 âm lịch). Khi đồng ruộng thu hoạch lúa xong, đất còn trơ chân rạ thì nước cũng bắt đầu rút bởi đây là mùa nắng hạn và đó là tháng giáp Tết. Trẻ con chúng tôi đi quan sát những thửa ruộng nước còn lấp xấp không quá gối, và đó là những thửa ruộng trũng, nơi thu hút các loại cá từ trên cao tụ về. Chọn được những thửa ruộng có nhiều cá, dấu hiệu để nhận biết là vào buổi chiều có tiếng cá quẫy “ăn móng” hoặc chạy gợn nước nhảy tung lên vô cớ thì về nhà vác một cái khạp hoặc lu đựng nước lên chuẩn bị cho việc đắp hầm.
Thường việc đắp hầm cần tới hai người hoặc “mình ên” cũng làm được vì nó rất đơn giản là móc đất bùn lên be bờ hầm theo hình tròn, hình vuông hoặc hình chữ nhật tùy thích. Nếu hầm kiểu hình tròn giống như cái giếng thì đường kính cỡ 2m, hầm hình vuông thì kiểu 2mx2m, nếu hầm chữ nhật thì diện tích hầm cỡ 6m2. Tôi thường chọn kiểu hầm chữ nhật, sâu xuống cỡ 3-4 tấc.
Vị trí hầm phải ở giữa vùng nước sâu của mặt ruộng và dứt khoát nằm ngay đường “lưu thông” của cá. Hầm đắp xong ém hết lỗ mội, tát cạn nước và be lại bờ cho láng bằng một lớp sinh non, xong nhận cái khạp hay cái lu vào vị trí giữa hầm để khi cá nhảy vào hầm trôi tuột xuống khạp hoặc lu không thể nhảy trở ra. Chỉ có thế, đợi đêm đến dùng đuốc lá dừa hoặc đèn dầu hoặc sang hơn là cây đèn pin, mang cái thùng thiếc theo thăm hầm, bắt cá nhảy. Cá nhảy hầm thường là cá lóc, cá rô chứ ít khi có cá trê, cá chạch. Nhưng nói chung có cả rắn nước, rắn ri voi, ri cóc khi đã bò vào hầm lọt xuống đáy khạp, đáy lu rồi thì không thể thoát. Cứ khoảng 2 giờ đi thăm hầm bắt cá một lần, và đều cần nhớ khi bắt cá xong phải dùng cái gáo dừa tát nước rỉ trong hầm ra cho cạn, tuyệt đối không để đáy hầm nước lỏng bỏng vì khi cá nhảy vào đáy hầm có nước thì cá sẽ phóng ngược trở ra.
Đắp hầm thì đứa trẻ con nào cũng làm được, nhưng hầm có cá nhảy vào nhiều hay ít thì ngoài những nguyên tắc chọn địa điểm, vị trí đắp hầm, be bờ đúng kỹ thuật phải có bí quyết “dụ cá”. Bí quyết này thì không phải đứa trẻ con nào cũng biết và nếu biết cũng giấu biệt không hé môi. Bản thân tôi đã phải mất công sức để tìm ra bí quyết này từ một đứa bạn thân nổi tiếng đắp hầm, mà hầm nào cũng trúng nhưng tuyệt nhiên không tiết lộ bí quyết tại sao hầm tôi đắp cạnh hầm nó mà cá cứ tranh nhau…nhảy vào hầm nó chứ không phải hầm tôi. Bí quyết đó là…sau khi đắp hầm nó lén ra bãi sông làng móc bùn non ở bãi sông về phủ một lớp lên bờ hầm rồi tô láng mặt như bình thường. Và cứ vài ba hôm nó lại làm việc này một lần cho đến khi tôi phát hiện.
Hóa ra bí quyết này bắt nguồn từ quy luật tự nhiên. Khi mùa nước cạn, các loại cá tìm đường trở ra sông rạch, khi di chuyển dụng bờ hầm có mùi bùn non chúng tưởng là mùi của bờ bãi sông rạch nên “nhắm mắt” nhảy. Nếu bờ hầm thêm lớp bùn non có mùi phù sa bồi lắng cho sông rạch thì chúng càng chắc chắn đó là nơi chúng tìm về nên càng kéo nhau “phóng” chứ biết đâu rằng cả họ hàng nhà cá đã bị mắc bẫy do trí thông minh của con người? Sau khi nắm được bí quyết này, tôi cũng làm theo đứa bạn mang lớp bùn phù sa ấy về đắp thêm lên bờ hầm thì… bắt cá mệt nghỉ.
Bây giờ đồng ruộng quê tôi bị thu hẹp dần bởi phong trào lập vườn, rồi phá vườn làm vuông nuôi tôm công nghiệp nên đất trồng lúa không nhiều. Hơn nữa, do đất ruộng bón nhiều phân hóa học, xịt thuốc trừ sâu rầy diệt luôn cả nguồn tôm cá, nên trẻ con thôn quê không con thú vui đắp hầm cho cá nhảy khi tới mùa bắt cá đồng Giáp Tết như ngày xưa nữa.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

LỄ TÌNH NHÂN - XƯỚNG HOẠ ĐỖ CHIÊU ĐỨC VÀ THI HỮU

 



LỄ TÌNH NHÂN

 

Khéo bày ngày Lễ của Tình Nhân,

Vốn dĩ "người yêu" đã vạn năm.

Lập địa khai thiên nên hảo hạp,

Cùng trời cuối đất biết đồng tâm.

Ăn lông ở lổ yêu đà thắm,

Mặc gấm thêu hoa ái cũng thâm.

Bất kể gái, trai, già hoặc trẻ,

Giàu, nghèo đều có một "Tình Nhân" !

ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 02-04-2026


Thơ Họa:

 

LỄ TÌNH NHÂN

 

Lễ Tình, xưa tạo bởi tiền nhân

Hậu thế nay còn nhớ mỗi năm

Đẹp dạ người yêu, bày thiện ý

Vui lòng nội tướng, chứng thành tâm

Hoa trao tỏ rõ tình phơi phới

Phẩm tặng minh tường nghĩa thậm thâm

Ân ái mặn nồng, nhen nhóm lửa

Hẳn là kinh nghiệm của tiền nhân

LÝ ĐỨC QUỲNH

     6/2/2026 


TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG

 

Vợ chồng quý nhất ở lòng nhân

Chung sống cận kề bao tháng năm

Nếu chẳng chu toàn câu thiện ý

Và không giữ trọn chữ từ tâm

Thì sao suốt kiếp lưu tình thắm

Và khó cả đời vẹn nghĩa thâm

Khi biết yêu thương và độ lượng

Sẽ hoài khắn khít tựa tân nhân.

   SÔNG THU

( 07/02/2026 )

 

SAY TÌNH NHÂN

GIỮ ĐỨC NHÂN

 

Lệ tục lâu đời gởi hậu nhân,

Lưu truyền nét đẹp...tính chi năm?

Căn lành phận kết!...cầu thành dạ,

Duyên thắm tơ bền!...Cậy thực tâm.

Kết cỏ ngậm vành sâu nghĩa cả,

Thề non nguyện biển nặng tình thâm!

Cổ kim muôn thuở mừng trai gái

Say đắm Nhân Tình!...giữ đức nhân.


NGUYỄN HUY KHÔI

     07-02-2026 


XUÂN MUỘN RIÊNG TÔI,ƯỚC NGUYỆN XUÂN NÀY - THƠ ĐỖ AN TUYẾN

 

Tuyen Do Van

09:17 (5 giờ trước)




Hình ảnh gia đình đoàn tụ mang lại cảm giác ấm áp cho background Tết


XUÂN MUỘN RIÊNG TÔI

.

Thế giới ngoài kia rộn tiếng cười
Mai vàng, đào thắm sắc đẹp tươi
Phố đông tay nắm, vai kề sát
Chỉ mỗi mình tôi... bước rã rời.

.

Năm mới vừa sang, lịch đổi màu
Mà tình vẫn cũ, nặng niềm đau
Chén trà nguội ngắt bên thềm vắng
Biết gửi tâm tình chọn về đâu?

.

Gió xuân chẳng ấm, lạnh vào tim
Hạnh phúc xa xăm mải miết tìm
Người ta hối hả tìm bến đỗ
Tôi vẫn như loài bóng chim quyên.

.

Sợ nhất đêm nay phút giao thừa
Nhìn đèn rực rỡ, nhớ người xưa
Lời chúc đầu năm ai cũng có
Riêng mình lặng lẽ... đếm gió thừa.

.

Ước gì xuân đến mang phép lạ
Xua bớt cô đơn, bớt nhạt nhòa
Để năm tới nữa, khi xuân lại
Chẳng còn lặng lẽ với niềm xa.

 

 

 

ƯỚC NGUYỆN XUÂN NÀY

.

Lòng bỗng vui sao chén rượu nồng
Nhìn đào nở rộ đón xuân sang
Năm nay quyết chẳng làm "cô lẻ"
Phải dắt tay ai dạo phố phường!

.

Mấy mùa Tết trước vẫn đơn côi
Cứ thấy hoa rơi lại ngậm ngùi
Năm nay khấn nguyện trời đất chứng
Cho con thoát cảnh ngắm trăng côi.

Đã sắm quần xinh với áo dài
Chờ ngày "định mệnh" gặp được ai
Cùng đi hái lộc cầu may mắn
Hương tóc người thương thơm sớm mai.

.

Này cô gái nhỏ ở nơi đâu?
Có đang mong đợi một nhịp cầu?
Xuân này anh sẽ tìm cho thấy
Để mình viết tiếp những dòng sau.

.

Háo hức trong lòng, rộn bước chân
Thấy đời phơi phới, gió trong ngần
Cửa tim đã mở, đèn đã thắp
Chỉ đợi người về... trọn vẹn xuân!


*

ĐỖ ANH TUYẾN


Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

ÁNH XUÂN VỀ TRÀN DÂNG NẮNG MỚI... TRẦN HỮU NGƯ


Có thể là hình ảnh về đàn hạc và văn bản 


ÁNH XUÂN VỀ TRÀN DÂNG NẮNG MỚI…

“…Ánh xuân về tràn dâng nắng mới…”
Đó là câu mở đầu trong ca khúc “Mộng Lành” của Hoàng Trọng-Hồ Đình Phương .
Nhạc Xuân ở miền Nam trong thời Chiến tranh, nói chung, và nhạc Xuân miền Nam nói riêng… bài hát nào cũng hay! Và trong những ngày Tết, thường thì nhạc Xuân không thiếu trong mọi gia đình. Riêng nhạc phẩm LY RƯỢU MỪNG của Phạm Đình Chương là đứng đầu danh sách. Đêm Giao thừa, sáng Mùng Một… nhà nhà, người người, đều nghe:
“… Ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…”
Riêng ca khúc MỘNG LÀNH, một bài hát chút phúc mỗi độ Xuân về.
Đây là một bài hát Xuân ra đời từ năm 1956, lúc bấy giờ ở miền Nam cuộc chiến chưa đến hồi ác liệt! Cũng lúc bấy giờ, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ đi học trường làng, quanh năm suốt tháng không có gì vui chơi giải trí, nên hát nhạc cũng là một thú vui. Cho nên, thầy cô chúng tôi lồng vào giờ học, dạy chúng tôi hát những bài hát mà lúc bấy giờ toàn dân đều hát mỗi độ Xuân về:
“… ÁNH XUÂN VỀ TRÀN DÂNG NẮNG MỚI
TƠ TRỜI MỪNG SAY GIÓ TỚI
NGÀN ĐÓA HOA BỪNG CHÀO ĐỜI…”
Đó là câu mở đầu ca khúc MỘNG LÀNH của Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương, mang giai điệu Tango, một ca khúc Xuân đã ra đời từ những ngày Chiến tranh - hát để quên Chiến tranh - hát để hy vọng Hòa bình - hát để vui với Tết, nhưng tiếc thay, MỘNG LÀNH đã bị bỏ lại phía sau trong những ngày Hòa bình!
Lại là ông hoàng Tango Hoàng Trọng - người nhạc sĩ Tango chưa ai thay thế được - ca khúc Tango của Hoàng Trọng là những thác nước âm thầm chảy mãi trong lòng người nghe của những năm tháng Chiến tranh, dù nó không đi vào con đường “chính ngạch” như “Con đường âm nhạc” mà chỉ là con đường “tiểu ngạch” trong những năm tháng Hòa bình.
Bây giờ, nhạc Xuân được hát rùm trên TV mỗi khi Tết đến, phần đông nhạc Xuân là của những nhạc sĩ mới, nhưng thành thật mà nói, đó chỉ là những bài hát được gọi là “bài hát” nghĩa là lấy nốt nhạc và nhịp gắn lên những bánh tét, bánh chưng, đào mai, sum vầy, sum họp…, rồi tự sướng, tự hào, lan tỏa, nghĩa là bài nào cũng có chữ VN… chớ không phải những “ca khúc” Xuân. Vì viết được một ca khúc, nhất là ca khúc Xuân đâu có dễ, xét cho cùng thì trong 100 nhạc sĩ miền Nam trước đây thì chỉ có chừng 10 nhạc sĩ viết được nhạc Xuân, nghĩa là 10/100? Thế mới biết sáng tác nhạc Xuân cũng khó như ăn cá Dứa biển, còn cá Dứa nuôi thì đầy.
Hình như nhạc sĩ bây giờ sáng tác bài nào mà có mai, đào, lan, huệ, cúc, bánh chưng, bánh tét, đoàn tụ… là nhạc Xuân? Hiểu như thế thì làm sao mà viết được nhạc Xuân?
Và cũng thành thật xin lỗi mà nói rằng, trong những “bài hát” Xuân mới được trình chiếu trên TV, nếu không có ca khúc Xuân cũ xen vào thì nghe nó không có Xuân chút nào!
Tôi ở nhà “ôm cái TV” trong những ngày Tết để xem và nghe nhạc Xuân. Hình như bây giờ nhạc nào cũng có MÚA kể cả những bài hát không cần phải MÚA? Có những “bầy múa” không ăn nhập với bài hát, vì giả dụ những bài hát này mà không có “bầy múa” thì nghe nó… cô đơn lắm!
Và bây giờ người ta phải nói cho hợp thời 4.0 rằng thì là:
-Chương trình CA MÚA mới đúng, chớ nói CA NHẠC là thiếu mất một vế sau là MÚA thì sẽ không còn là ca nhạc nữa!
Để phân biệt giữa nhạc cũ và nhạc mới thì:
-Hát nhạc mới thì… có múa.
-Hát nhạc cũ là… không có múa.
MỘNG LÀNH, một bài Tango ngắn, nhưng MỘNG LÀNH dài theo năm tháng từ lúc ra đời năm 1956 cho nay là cả một đời người. Và nếu chúng ta không hát lại, MỘNG LÀNH sẽ bị mai một như những ca khúc cũ mà những người được gọi là BTV Âm nhạc đụng tới như… đỉa đụng phải vôi. Người ta thường nói “Bịnh gì mà cử”, nhưng đây có bịnh, “bịnh phân biệt chủng tộc” mới cử? Và nếu “MỘNG LÀNH” được hát lại mà có Múa kèm theo thì sẽ không còn MỘNG LÀNH nữa mà là MỘNG CỨNG. (Hì hì hì…)
Năm mới tôi nghe ca khúc MỘNG LÀNH, chỉ để mong rằng một năm mới có được mộng lành! (Nhưng đừng quên thi sĩ Hổ ĐìnhPhương viết lời MỘNG LÀNH. Người thi sĩ đã viết lời cho hằng trăm ca khúc của hằng chục nhạc sĩ miền Nam, mà ca khúc nào cũng đứng được với thời gian. Anh đã từng tốt nghiệp hạng ưu trường QGHC và cũng đã từng làm Phó Tỉnh trưởng tỉnh Ninh Thuận, và đã chết trên đại dương sau 1975).
Ca khúc MỘNG LÀNH, Nhịp ¾ Tango, Gamme Ré thứ :
“… Ánh xuân về tràn dân nắng mới
Tơ trời mừng say gió tới
Ngàn đóa hoa bừng chào đời
Từng bày én trông đẹp mùa màng
Vờn cánh vui đùa nhịp nhàng
Hòa tiếng chung tình nồng nàn…
Có riêng một mình ta với bóng
Không bạn gần ai ấm cúng
Mà chẳng nghe lòng lạnh lùng
Vì người ấy luôn chờ một lời
Là hiến ta trọn một đời
Thề ước đem tình sánh vai…
Ôi đôi mắt long lanh như ánh trăng thanh
Soi sáng đất lành một đêm thái bình
Ôi muôn thắm mầu hoa năm tháng dần qua
Buông những lời ca như gợi lòng ta…
Ấy tơ đồng cùng ta chấp nối
Nhưng nào hồn ta dám nói
Vì muốn duyên còn đẹp hoài
Vì tình ấm không là tình hòa
Mà ấm khi lòng còn chờ
Thầm ước mơ rồi ước mơ…”
Tuy là ca khúc mang Giai điệu Tango, nhưng MỘNG LÀNH rất dễ ca, dễ thuộc. Vì theo tôi, ca khúc nào có “văn hóa”, có “chiều sâu”, không “hư cấu”, không “nói láo”, không “triết lý ba xu”, không “cường điệu”, không “sáo rỗng”… đó mới là ca khúc khắc khi vào lòng người nghe mà không có dễ gì quên được.
Năm mới, nghe và hát MỘNG LÀNH, tôi thành kính đốt 3 nén nhang:
-Một nén gởi trời
-Một nén gởi đất
-Một nén gởi đến hai anh
Xin kính cẩn nghiêng mình tỏ lòng biết ơn nhạc sĩ Hoàng Trọng và thi sĩ Hồ Đình Phương, vì hai đã để lại cho đời nhiều nhạc phẩm sắc hương khó phai.



TRẦN HỮU NGƯ

MÙA TRĂNG THÁNG CHẠP - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 

Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Những Mùa Trăng Tháng Chạp'


MÙA TRĂNG THÁNG CHẠP


Có phải trăng xưa soi thềm cũ 

Ánh sáng diệu huyền trải mênh mông

Gió cuối năm băng đồng châu thổ

Rắc hạt vàng trên sóng long đong.


Trăng dõi bước theo người xa xứ

Có tiếng chim gốc mận sau vườn

Rót vào đêm câu hò tháng chạp

Khúc huê tình thuở ấy còn thương.


Có phải trăng xưa in dáng mẹ

Chuyện tích xưa còn nhớ tôi chăng

Thương quá đỗi mỗi lần mẹ kể

Chuyện đời mình từ thuở thanh xuân.


Em giữ nhé dòng sông bến nước

Đợi tôi về chải lược bên sông 

Chút mưa xuân hoa vàng đầu ngỏ

Mùa trăng tháng chạp đến nao lòng.



NGUYỄN AN BÌNH


Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

SÀI GÒN NGỒI NHỚ : 'CHÍ MÈ PHỦ'' TRONG TIẾNG RAO ĐÊM - TỪ KẾ TƯỜNG


 


SÀI GÒN NGỒI NHỚ:
“CHÍ MÀ PHỦ” TRONG TIẾNG RAO ĐÊM
Sài Gòn lắm ngõ ngách, có những con ngõ, con hẻm được đặt tên và phần lớn là không tên. Nhưng dù ngõ ngách, hẻm hóc có tên hoặc không tên đều tượng trưng cho những khu xóm lao động nghèo nằm sâu cạnh những vùng thị tứ tấp nập của thành phố và ở đó ngày nắng cháy bỏng da hay những đêm mưa rét cóng của một thời “đèn Sài Gòn” ngọn lu ngọn tỏ” tiếng rao của những người bán hàng gánh, thúng bưng vẫn là mối hoài niệm khó quên đối với những ai là dân cố cựu của đất Sài Gòn.
Ngày ấy, khoảng năm 1963-1964 nhà tôi ở hẻm Nam Tiến đường Bến Vân Đồn Q4 (Hồi đó còn gọi là Khánh Hội) bị hỏa hoạn, trận hỏa hoạn kinh hồn từ 16 giờ đến 3 giờ sáng hôm sau mới được dập tắt đã thiêu rụi cả một khu vực rộng lớn gồm toàn dân lao động nghèo. Gia đình tôi cũng như những người dân khác trong khu hỏa hoạn phải tìm chỗ trọ mới. Tôi về ở trọ nhà một người bác, bà con xa ở hẻm Hàng Phân. Đây là con hẻm nhỏ nằm trên đường Bến Vân Đồn Q4 gần hãng thuốc lá Bastos dẫn sâu vào chợ Hãng Phân ăn luồn qua một khu vực khác cũng thuộc Q4. Tôi ở trên căn gác gỗ trần lợp tôn ẩm thấp và nóng hầm hập như lò bánh mì. Năm ấy tôi chuẩn bị thi Trung học Đệ nhất cấp, một kỳ thi rất quan trọng thời bấy giờ nhưng điều kiện học tập thiếu thốn do ở trọ, nhất là thiếu ánh sáng học bài. Mỗi tối tôi ngủ ngoài mái hiên gác trọ và học bài nhờ ngọn đèn đường vàng hoe từ trên cây cột điện trước cửa nhà chiếu xuống.
Nhà bác tôi rất đông người, căn gác nhỏ kẻ lớn, người nhỏ ngủ sấp lớp, trên gác lại có mấy khạp mắm lóc, mùi mắm trong đêm khuya bốc lên ngợp thở nên tôi ngủ ngoài mái hiên gác trọ được hít thở không khí trong lành, không có mùi mắm và được tự do ngồi ngắm sinh hoạt trong con hẻm sâu hun hút dần thưa vắng người lúc nửa đêm khiến tôi thích thú như được ở chốn…thiên đàng. Nhưng ở ngoài mái hiên có khó khăn trong việc đi lại, cửa trước dưới nhà thì đóng, muốn xuống đường dạo chơi tôi phải…leo cột đèn, khi lên cũng phải leo cột đèn để lên. Tuy nhiên như thế cũng là sự tự do, không phiền lụy đến người trong nhà.
Những buổi tối nằm trong mùng, hay ngồi dựa lan can gác học bài dưới ánh đèn bóng tròn, vàng hoe tôi thường chú ý đến những người bán hàng rong khi họ cất tiếng rao từ đầu hẻm. Chị bán chè bà ba có giọng rao lanh lãnh, trong vắt :” ai ăn chè bột khoai nước dừa đường cát h…ô…n”, chú “chệc” bán bánh tiêu, bánh bò đạp chiếc xe có cái lồng kiếng đựng bánh phía trước giọng lơ lớ: “ Ai bánh tiêu bánh bò ché q…u…ả…y lớ”. Không hiểu sao cuối câu rao lại có chữ lớ lên cao giọng khá ngô nghĩnh.
Rồi ông đấm bóp giác hơi đạp xe rè rè vào hẻm với tiếng rao rất đặc trưng không thành lời mà vang lên một âm điệu “xập xòe” của xâu nút khoén đong đưa, lắc lư. Nhưng ấn tượng với tôi hơn cả là người bán “chí mà phủ” tức chè mè đen, một loại chè đặc trưng của người “khách trú” theo tên gọi thời bấy giờ. Đó là người đàn bà Tàu tấp người, lưng hơi còng với thời gian, mặc bộ đồ sẫm màu đen, cũ, đầu đội nón rộng vành có cái chóp nhọn, chân mang dép cao su lẹp xẹp, gánh trên vai thùng chè tròn có nắp đậy phía dưới là cái lò than đỏ rực phía trước. Gánh phía sau là thùng nước rửa chén , đậy bằng một cái khai nhôm, trên có mấy cái chén và mấy cái muỗng. Người đàn bà Tàu bán “chí mà phủ” này mỗi lần gánh chè vào hẻm đều cất giọng rao rất đặc trưng: “ chí mà p…h…ụ” âm thanh nghe đục, ngắn, cất lên đột ngột mà chấm dứt cũng rất đột ngột khiến người nghe thấy thiếu thiếu và tức tức đâm ra tò mò và muốn…ăn chè mè đen của bà một lần cho biết.
Và tôi đã ăn thử một lần cho biết rồi…ghiền luôn. Phải nói “chế mà phủ” của người đàn bà Tàu này có bí mật “gia truyền”, nó có hương vị đặc biệt, béo, bùi, thơm không ngọt gắt, ngon…không tả được và không giống như chè mè đen người khác bán mà tôi cũng thường ăn, kể cả ông già người Tàu bán bên hông phía nhà chú Hỏa đường Nguyễn Thái Bình Q1 (bây giờ). Tôi đã trở thành mối ruột cùa người đàn bà Tàu bán “chí mà phủ” từ những đêm trèo cột đèn xuống khi bà cố ý ngồi lại dưới chân cột đèn, đặt gánh chè xuống và rao: “chí mà p…h…ụ”. Ngày nắng gánh chè của bà vơi gần đáy, nhưng gnày mưa thường ế nên bà mời tôi ăn ủng hộ cũng với giọng khàn khàn, đục đục, lơ lớ:” hầy, mưa gió ế quá lị ăn ủng hộ ngộ một hai chén li”. Ăn thì được, nhưng học trò nghèo ăn chịu hơn là trả tiền “tươi”. Và mãi tới tận bây giờ tôi nhớ là vẫn còn…nợ bà người Tàu bán “chí mà phủ” mấy chén chè chưa trả.
Những tiếng rao dài ngõ hẻm, âm vang tiếng rao hàng gánh, thúng bưng rất đặc trưng của những người bán quà rong Sài Gòn thủa ấy vẫn còn đi theo mãi với tôi cho tới tận bây giờ với nỗi nhớ hẻm, nhớ Sài Gòn thời “đèn ngọn xanh ngọn đỏ” khôn nguôi.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



 Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và đàn ghi ta


LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH
(Gởi người dệt nhạc, ca ngâm)

Xin cúi đầu cảm tạ những bàn tay
Âm thầm dệt nốt trầm – cung thăng
Từ nhịp thở đời thường, từ giọt lệ mong manh
Thành khúc nhạc ru người qua dâu bể.
Cảm ơn những nhạc sĩ
Lấy cô đơn làm khuôn nhạc
Lấy nhân gian làm giai điệu
Để nỗi buồn vui cũng biết hát,biết ca.
Cảm ơn những ca sĩ
Luôn gửi trọn tâm tư vào giọng hát
Cho một chữ yêu ngân lên ấm áp
Cho một chữ đau không còn lẻ loi.
Tiếng hát bay qua những phận người
Chạm vào tim kẻ vui – người khổ
Làm đời bớt cằn khô, bớt hoang vắng
Thêm thi vị giữa tháng ngày mưu sinh.
Nếu nhân gian còn chút dịu dàng
Ấy là nhờ những nốt nhạc, những lời ca
Xin gửi một lời cảm ơn rất khẽ
Mà rất sâu – đến những người làm cho đời biết nghe.
(Chặng đời còn ở nhân gian)


HUỲNH TÂM HOÀI