CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

MẸ RU CÁNH VÕNG CA DAO - THƠ LIÊN PHƯƠNG

 

See original image


MẸ RU CÁNH VÕNG CA DAO



Ca dao là tiếng mẹ ru con

Đêm trằn trọc giữa cánh đồng thao thức 

Đèn báo bão chập chờn trong lồng ngực

Không thể nào đau hơn nữa mẹ ta

 

Ca dao là tiếng Cuốc bên nhà

Mỗi lần nhớ đất đai về cố thổ

Nơi cắt rốn chôn nhau từ muôn thuở

Đã thấm sâu trong máu thịt đồng bào

 

Ca dao là ngọt bùi vôi mặn trầu cau

Là suối reo  ngựa chòm lên bóng núi

Là thảo nguyên những đồi xanh rong ruổi

Tiếng đàn bầu dưới ánh trăng giêng

 

Ca dao đem con sóng vỗ bên triền

Khi mùa chướng nhánh bần hường ra trái

Bạn xuồng câu họp bè đêm tụ lại

Bài vọng cổ xuống xề 

nhấm trăng sáng đưa cay

 

Ca dao là chái bếp quê nghèo 

tần tảo hạt ngô khoai 

Ngọn lửa ấm theo cánh cò bay lả

Là khói quyện hương đồng rơm rạ

Túp lều tranh nơi cuối xóm ta chờ

 

Ca dao là cánh võng tròn nghe vọng tiếng  ầu ơ

Nôi mẹ ru suốt chiều dài đất nước

Biển và non núi rừng soi ánh đuốc

Dẫn ta đi về phía trời hồng

 

Ca dao là câu hò Đồng Tháp mênh mông

Điệu lý giao duyên Cửu long chiều man mác

Sông Hậu sông Tiền như lời thơ lời ý nhạc

Châu thổ hiền từ nhìn cánh vạc biền bưng 

 

Xin được gieo hạt ngà 

trên đất cằn sỏi đá rưng rưng 

Để thấy nhỏ nhoi 

Mà vươn mình đang lớn dậy 

Để thương những con người từng trải 

Đêm Hiền Lương  nhớ câu ví dậm Quảng Đà

 

Ca dao ươm mầm hạt ngọc phù sa

Vặm vỡ luống cày tháng năm đầy bi tráng

Đất nước anh hùng hóa thi nhân hào sảng

Đem ca dao truyền lại cho người

Bầu tròi xanh chim hót mỗi mùa vui ...


 

LIÊN  PHƯƠNG

Nguồn : THƠ VĂN TRẦN YÊN HOÀ


Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

NIỀM ĐAU DĨ VÃNG - TRẦN HỮU NGƯ


 See original image


 NIỀM ĐAU DĨ VÃNG


   Tôi lấy tên ca khúc NIỀM ĐAU DĨ VÃNG của nhạc sĩ Nguyễn Văn đông làm tựa cho bài viết nhớ về Nguyễn Văn Đông.

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua đời năm 2018 tại Saigon.

   Anh là một nhạc sĩ quân đội mang cấp bậc khá lớn, nhưng anh không sống vì chức vụ, quyền hạn, mà anh sống vì nhạc. (Khác này ngày người ta sống vì chức vụ và nhạc).

   Sau 1975, anh lên đường vào trại “cải huấn” để làm tròn bổn phận của một công dân dưới chế độ mới như bao sĩ quan khác.

   Những ngày ở trại “cải huấn” từ Nam chí Bắc… Chị Thu vợ anh ở nhà trông trồng như “Hòn vọng phu”, không tính bằng ngày tháng, mà tính chục bằng năm. 

    Chế dộ cũ đã nuôi sống anh bằng âm nhạc, những ngày “làm người tù không chân dung”, cũng chính nhạc anh đã cứu sống anh.

   Những ngày mưa tầm tả, anh nhớ CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI, những ngày Tết ngồi trong trại anh nhớ PHIÊN GÁC ĐÊM XUÂN, những ngày Hè anh nhớ bãi biển Honolulu Với SẮC HOA MÀU NHỚ… Và chính bài hát của anh là những viên thuốc không màu, không vị, đã cứu sống anh!

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sáng tác không nhiều như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Lam Phương, Hoàng Thi Thơ… Nhưng thành thật mà nói, nhạc anh không có bài nào dở. Khi bài hát của Nguyễn Văn Đông ra đời, đã được ca sĩ “hát trên từng cây số”, và người nghe đón nhận nồng nhiệt từ thành thạnh thị cho đến thôn quê, ngay cả những vùng “xôi-đậu”.

   Chỉ cần một ca khúc CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI cũng đủ để Nguyễn Văn Đông làm người nhạc sĩ của hôm nay và mai sau.

   Anh có nhiều bút hiệu như: Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân, Đông Phương Tử, và anh viết nhạc đủ mọi chủ đề. Ghi danh trong ca khúc những bút hiệu như trên, nhưng người nghe khi nghe đã biết cái “air” nhạc của Nguyễn Văn Đông.

   Việt Nam nói chung và Miền Nam nói riêng, ca khúc CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI là một bài hát đầu tiên xuất cảng sang Pháp được ca sĩ Trần Văn Trạch hát, đã làm dân Pháp thích thú! Và cũng chính CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI đã bị Tổng thống Ngô Đình Diệm cấm hát vì “làm nhụt chí khí quân đội”, anh đã bị “trọng cấm” về bài hát này! “Trọng cấm” một thời gian khá dài, nên không anh đã được lên Tướng chớ không phải cấp Tá sau 1975.

   Có một điều ít ai biết:

   -Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là người đầu tiên nghĩ ra  chương trình kết hợp TÂN CỔ GIAO DUYÊN và anh đã viết nhạc nền và đạo diễn 50 tuồng cải lương, như: Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạt trong trăng, Sân khấu về khuya, Tiếng cướp Bạch Hải Đường, Mưa rừng…

   Tôi đã từng đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, lần nào tôi cũng xin phỏng vấn anh, nhưng đều bị anh từ chối. Anh nói với tôi rằng, không phải anh từ chối em, mà tất cả các nhà báo trong và ngoài nước anh đều từ chối! Em đừng buồn anh nhé!

   Tôi vẫn kiên trì… 

   Sáng ngày 30.4.2016, đúng 41 năm sau 30.4.1975, tôi đến thăm anh và nhắc lại chuyện phỏng vấn. 

   Anh suy nghĩ trước khi trả lời tôi:

   “… Nghĩ lại, cuộc đời này dẫu sao cũng còn nhiều người tốt, vì tốt nên anh em mình vẫn còn sống đến ngày hôm nay (anh cười). Chúng ta là những con chim đã một lần trúng đạn nên rất sợ những cành cong, và cho dù thời gian sẽ làm lành vết thương, nhưng tiếc rằng chúng ta không còn trẻ nữa!...”

   Sau lời nói ấy, anh đồng ý cuộc phỏng vấn của tôi!

   Tôi ngạc nhiên và mừng khôn xiết.

   Anh nói:

   -Đây là cuộc phỏng vấn đầu tiên anh dành cho em, và là cuộc phỏng vấn độc quyền (anh đã từ chối tất cả), vì em đã hiểu và thuộc nhạc anh và em cũng thấm thía những năm tháng “làm lại cuộc đời” như anh sau 1975.

   Đặc biệt, sở dĩ anh đồng ý vì: EM LÀ NHÀ BÁO KHÔNG CÓ BÁO! Và em là người kiên nhẫn không bỏ cuộc! (Anh cười). 

   Bài phỏng vấn độc quyền này, tôi có đăng trong cuốn sách ỦA, SAO KỲ LẠ VẬY? Do NXB MỸ THUẬT phát hành tháng 3 năm 2016 và đã được nhà báo Lam Điền viết bài giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ.

   Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đi “nghỉ mát” khoảng 10 năm, và được tha vào năm 1985. Lúc ra Trại anh bị bịnh nặng, tưởng ngày trở về để chờ “di tản qua bên kia thế giới”, nhưng nhờ chị Nguyệt Thu vợ anh, nuôi anh với phép mầu, nên anh sống thêm 33 năm nữa để nhìn đất nước đổi mới!

   Những ngày tôi đến thăm anh, lúc nói chuyện, anh thường gõ nhẹ những ngón tay tật nguyền (hậu quả của những ngày lao động cải tạo) xuống bàn… Tôi hỏi anh chuyện cải tạo, chuyện đời, chuyện nghề… và lúc thấy anh vui, tôi hỏi về “chuyện tình một thời với một một người đàn bà nghệ sĩ trước 1975 có tên tuổi, và sau 1975 nổi tiếng…”  Với đôi mắt buồn xa xăm, anh nói nhỏ với tôi:

   -Chuyện cũ đã qua rồi, đó là MIỀN ĐAU DĨ VÃNG!

   Những ngày mưa tháng 8.2026, tôi nghe CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI và nhớ Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Và bỗng dưng tôi nhớ MIỀM ĐAU DĨ VÃNG một ca khúc của Nguyễn Văn Đông đề tên Phượng Linh.

   Nhạc viết về DĨ VÃNG không nhiều, chỉ có một số bài khó quên:

   -Dĩ vãng (Trịnh Nam Sơn).

   -Giọng ca dĩ vãng (Bảo Thu. Tôi đã có bài viết riêng)

   -Chuyện tình không dĩ vãng (Tâm Anh. Tôi đã có bài viết riêng)

   -Gĩa từ dĩ vãng (Nguyễn Đức Trung)

   -Tango dĩ vãng (Anh Bằng. Tôi sẽ có bài viết riêng Tango dĩ vãng) 

   Và NIỀM ĐAU DĨ VÃNG của Nguyễn Văn Đông:

   “… Ngày hai đứa ân tình vỡ đôi

   Đời hai lối phương trời lẻ loi

   Thuyền tình em lạc bến lâu rồi

   Niềm tin đã trót trao rồi

   Âm thầm em khóc khi biệt ly

   Người yêu thuở ban đầu khó quên

   Ngày xa anh, em càng nhớ thêm

   Dù mai đây vật đổi sao dời

   Đường tơ đã lỗi cung rồi

   Tình yêu một thuở không hề vơi

   Yêu nhau chiều nào

   Rồi xa nhau chiều nay

   Lòng ai không đảo điên

   Xót xa tình đầu tiên

   Anh ơi một phút bên nhau rồi

   Tình ấy cao vời vợi

   Lòng nhớ mãi khôn nguôi

   Lời ân ái đâu ngờ chóng phai

   Tình dang dối nên nhiều đắng cay

   Hồn em xin trọn kiếp theo chàng

   Dù duyên tình dở dang rồi

   Buồn theo ngày tháng âm thầm trôi…”

   Bài viết để tưởng nhớ vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và chị Trần Thị Nguyệt Thu vĩnh biệt Saigòn về bên kia thế giới.

   Ở thế giới mơi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sẽ không còn đau niềm đau dĩ vãng, và chị Nguyệt Thu đã đến bên anh một thời dĩ vãng:

   “… Em đến thăm áo anh mùi thuốc súng

   Ngoài trời mưa lê thê

   Qua ngàn chốn sơn khê

   Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông

   Kết trong lòng thế hệ

   Nghìn sau nối nghìn xưa…”

   (Ca khúc MẤY DẶM SƠN KHÊ của Nguyễn Văn Đông)



   TRẦN HỮU NGƯ

   (Bo léro Xóm Gà-Giađinh, 12.8.2026)


Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

BÓNG TÌNH KHÔNG - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 



BÓNG TÌNH KHÔNG


Sớm mai nào chẳng mênh mông

Ta ngồi ôm bóng tình không nhớ người

Nỗi buồn như lá còn tươi

Bâng khuâng hạ đỏ thu rười rượi xa


Thời gian như một ngụm trà

Môi chưa thấm đượm đã qua muôn trùng

Tay cầm vạt nắng rưng rưng

Ngoài thềm nguyệt quế hoa từng cánh rơi


Từ em cách biệt phương trời

Trăng treo bóng lẻ đèn phơi mắt buồn

Ôi mờ mịt cõi mù sương

Tóc gầy vai đã xa đường cúc hoa


Khép đêm, ngày rộn tiếng gà

Ta về dựa bóng quê nhà nhớ ai

Rửa chân thu lại dặm dài

Tìm tăm cá lặn miệt mài nắng mưa


Ngày xưa đâu phải đã xưa

Nhớ từng nhịp võng ta đưa em nằm

Ru người mắt biếc xa xăm

Ta còn nỗi nhớ đăm đăm tháng ngày


TỪ KẾ TƯỜNG

(Bến Lặng 26-6-2026)


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

CHIM TRỜI - THƠ LÊ KIM THƯỢNG


 

Tranh ĐINH TIẾN LUYỆN


CHIM  TRỜI 

1.

Đôi ta như cánh chim trời

Đôi chim liền cánh không rời xa nhau…

Dừng chân đứng lại bên cầu

Nhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chan

Yêu nhau yêu tới vô vàn

Yêu bờ mi khép, yêu làn môi xinh

Yêu nhau cho cạn lời tình

Những ngày hạnh phúc chúng mình chân quê

Mắt nhìn đăm đắm si mê

Tôi và em giữa bốn bề tình yêu

Nụ hôn trong nắng liêu xiêu

Ngọt ngào thắm thiết với nhiều chút chăm

Ước gì “Hạnh phúc trăm năm…”

Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên

Quên đi cơm áo, gạo tiền

Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…

2.

 Cuối Thu cây lá tiêu điều

Heo May thổi rụng bao nhiêu lá vàng

“Ừ thôi… tình đã sang trang

Chúc em Hạnh phúc…” lỡ làng riêng tôi

Nợ duyên, duyên nợ hết rồi

Nhớ thương một bóng, tim bồi hồi đau…

Mưa rơi nặng hạt về đâu

Giọt thương, giọt nhớ, giọt sầu đêm đêm

Còn gì đâu nữa “Ơi em…”

Con tim đau nhói, lòng thêm đau lòng

Cuộc tình như một dòng sông

Tan vào biển cả mênh mông mất rồi

Tiễn em về xứ xa xôi

Quay lưng ôm nặng đơn côi tình sầu…

Ước gì có được kiếp sau

Tôi em giữ mãi tình đầu… vẹn nguyên…

          

            Nha Trang, tháng 08. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG

 

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ - THƠ NGUYỄN KHÔI


 


GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ
(Tặng: Minh Đức Triều Tâm Ảnh)
.
Lời thưa: Nhân được Nhà thơ Cao Quảng Văn tặng cuốn "Trường Quốc học Huế", trong đó có "Bài thơ bày tỏ" của Sư Giới Đức (sinh 1946) với 56 câu thơ có ý lý giải về sự nhập Thiền của Người. Bài thơ rất HAY, ý mới tứ thơ lạ, hình tượng thơ sống động, ngôn ngữ thơ điêu luyện... NK tôi đọc rất xúc cảm, có lời đáp lại:

*
"Người thơ phong vận như thơ ấy"
Hàn Mạc Tử

Thôi, Người cứ vô tư về núi
Cùng hương rừng gió nội mây bay
Ta ở lại với Đô Thành chật chội
Vùi đầu trong đống sách cao dày.
Người trắng tay mà lòng thanh thản
Ta tiền tài áo mũ xênh xang
Người thiền định gối đầu bên thác ngủ
Ta trong phòng máy lạnh đắp chăn...
Người đã ra đi
bằng bài thơ thứ nhất
vĩnh biệt Tình đầu
áo đỏ đèn xanh...
Ta chí mọn bám rêu phong Thành cổ
Hóng hương mơ son phấn thị thành.
Về với núi: Người nghênh phong thưởng nguyệt
Ta áo cơm
sâu bọ giữa nhân quần
thêm chức tước
phẩm hàm này nọ
nhếch mép đau
Lắng một tiếng cười gằn.
Thật kỳ diệu
giữa cuồng phong gió nổi
Người thoát đi đến một chốn bên trời
Tiếng chuông vọng trên mây ngàn sương lạnh
thương chúng sinh
lòng thả giữa khơi vơi...
Người khiêm nhường lánh xa đời chen chúc
những bon chen
nhức nhối chốn đông người.
Đời là thế, biết ai là vụng dại
Biết ai khôn ngụp lặn để sinh nhai.
Đời là thế, chẳng qua là Quán trọ
Giữa quê hương mà nhớ cố hương
Ký ức xanh viết "Bài thơ Bày Tỏ"
Khối Tình thơ còn nguyên vẹn Tâm hường.
Ôi cuộc sống bao thân thương tình nghĩa
Là khói sương xin thoảng một hơi trà
Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ
Biển khổ đời kết SINH - TỬ - TÌNH - CA.
Như Thi sĩ yêu con chim Báu tớt(1)
Cho nhân gian tiếng hót vọng tâm hồn
Thanh kiếm báu xin treo trên vách đất
Đời yên bình... cày cuốc vẫn là hơn.
Ừ vẫn sống, nào có ai bỏ cuộc
Người ra đi mấy trắng giục đường phi
Một lẽ sống
Một tình yêu Đất nước
Ừ gia đình, cũng một lẽ...
khinh khi.
Thôi, từ giã những điều gì vô lối
Cách mù khơi cho thanh thỏa tâm hồn
Như TẠO HÓA
ta tin ĐỜI NHÂN QUẢ
Người ra đi... còn lại cả trời hương.
Người ra đi... trí vượt trên trần thế
Chút tình thơ thả mộng ngợp sông hồ
Còn yêu người... thơ về trong nỗi nhớ
Đỉnh phù vân tung cánh một trời thơ.
Thôi, Người cứ vô tư về núi cũ
Lưu gót TRẦN... quên một thuở từng đi
Khi mình đã luyện mình
là VÔ NGÃ
thì
hồn
thơ
đã thoát tục
an tri!

NGUYỄN KHÔI

…….
(1) Theo ý thơ của Bích Khê (bài Duy Tân)
NK viết trong đêm gió nổi
Hà Nội, mùa thu 2005

CẢM TƯỞNG KHI ĐỌC BÀI THƠ '' GỬI NGƯỜI THƠ BÀY TỎ''

Kính gởi Nhà Thơ Nguyễn Khôi.

Được Nhà Thơ đề nghị đọc bài Thơ “Gủi người thơ bày tỏ” rồi cho cảm tưởng, tôi cũng đã băng khuăng không ít, ngại mình múa rìu qua mắt thợ. Nhưng cung kính bất như tuân lệnh, vì thế, tôi đành xin mạo muội viết đôi giòng, nghĩ sao thì viết vậy, nếu có lỡ mạo phạm thì xin Nhà Thơ thứ lỗi cho : 

Theo tôi,  bài Thơ rất hay,  nội dung cho thấy người viết đã có hiểu biết rất sâu về Thiền qua những câu : 

          “ Đời là thế, chẳng qua là quán trọ

           Giữa quê hương mà nhớ cố hương”.

Người đời thường nhìn những bậc Thiền giả như những vị thánh nhân, thanh cao, cuộc sống thong dong, tự tại với gió núi, mây ngàn, còn  mình  là người trần, là phàm nhân thấp kém, chen chúc nhau giữa hồng trần  :

“Về với núi, người nghênh phong, thưởng nguyệt

Ta áo cơm sâu bọ giữa nhân quần”

          ….“Tiếng chuông vọng trên mây ngàn, sương lạnh

Thương chúng sinh lòng thả giữa khơi vơi”

            … Người khiêm nhường lánh xa đời chen chúc

Những bon chen nhức nhối chốn đông người”

Theo đó, bậc Thiền giả, một khi đã  “rửa tay gác kiếm”, xa bon chen của cuộc đời để về núi, thì những ngày gót trần phiêu lãng chỉ còn là dĩ vãng mà thôi : 

… “Thôi người cứ vô tư về núi cũ

Lưu gót trần quên một thuở từng đi”

Đó là quan điểm Thiền được truyền từ bao thế hệ : Tu Phật là phải bỏ đời. Thiền là xa rời những bon chen, xô bồ của cuộc sống, để tâm hồn được thanh thản, an nhiên, thoát tục.

Nhưng thật ra, quan điểm của Đạo Phật không phải là tách con người ra khỏi cuộc đời, Thiền không phải để xa rời cuộc sống, cho đời là ô trược, bởi Hoa Sen là biểu tượng của Đạo Phật cả kiếp sống không tách khỏi bùn. Từ khi sinh, cho tới lúc diệt, nó vẫn sống, nở hoa, kết trái và tàn rụi trong bùn, giống như con người từ lúc sinh cho đến hết kiếp vẫn không rời cuộc đời, như  lời Nhà thơ đã viết : 

  • Ừ vẫn sống, nào có ai bỏ cuộc.

Phải. Không có ai bỏ cuộc, vì đã Sinh là phải Sống cho đến hết kiếp, bởi có Nghiệp, có Duyên với đời mới đến với cuộc đời, trong đó, không chỉ có khổ đau, mà niềm vui, nỗi buồn đan xen. Đôi khi nước mắt không chỉ để diễn tả nỗi khổ, mà vẫn có những giọt của hạnh phúc, cảm thông, chia xẻ  : 

“Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ

Biển khổ đời kết Sinh - Tử, Tình – Ca ( xin mạn phép tạm đổi hai chữ Tình Ca thành VÔ THƯỜNG, vì theo tôi, nó sát với ý nghĩa của Đạo Phật hơn). 

“Đời vẫn đẹp bởi long lanh giọt lệ

Biển khổ đời kết SINH - TỬ, VÔ THƯỜNG

Bởi cuộc đời là Sinh Tử, Vô Thường, là BỂ KHỔ,  nên tu hành theo Đạo Phật là để biến nỗi Khổ, thành niềm vui, biến phiền não thành an lạc. Để làm được điều đó, con người cần can đảm : 

Thôi từ giả những điều gì vô lối

Cách mù khơi cho thanh thản tâm hồn

Nhưng hành giả không cần tách rời cuộc sống trần tục, mà chỉ cần dùng thời gian lắng lòng (THIỀN ĐỊNH) mà khai phá Vô Minh, mở Trí Huệ, để  thấy cuộc đời sở dĩ Khổ là vì NGÃ CHẤP. (Chấp cái THÂN GIẢ TẠM là Mình), vì thế sinh ra  PHÁP CHẤP, rồi vướng vào Tham, Sân, Si,danh, lợi, tình mà phải đau khổ. Vì thế, công cuộc tu hành theo Đạo Phật không phải là để xa lánh hay chê bỏ cuộc đời. Trái lại tư duy, nhận xét cho chính xác, phân tích Thiện, ác, Chân, giả, đúng, sai, rồi tôi luyện bản thân theo hướng mình thấy đúng đắn nhất. 

Trần lao sẽ biến thành Niết Bàn. Cuộc đời sẽ không còn là bể khổ. Kiếp sống sẽ không còn là kiếp lưu đày. Tác giả đã tìm ra được chiếc chìa khóa vạn năng để tiếp tục “sống trong phiền não mà thoát phiền não” qua hai câu kết được khẳng định : 

”Khi mình đã luyện mình là VÔ NGÃ

Thì hồn thơ đã thoát tục an tri”.


Đúng vậy. Giữa cảnh CÓ mà Tâm như HƯ KHÔNG. Đang là Hữu Ngã mà luyện thành Vô Ngã ,trở về với Bản thể Chân Như thì hồn thơ không còn đắm đuối trong vòng tục lụy, mà đã “thoát tục an tri”. Điều đó không phải ai củng làm được.


Xin chúc mừng Nhà Thơ.


 Thành Phố Hồ chí Minh  ngày 29/8/2026


               Kính. 

TÂM NGUYỆN (Trần Thị Biên )

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

MÙA THU, GIẤC MƠ NÀO - THƠ TRẦN YÊN HOÀ


Trần Yên Hòa | Sáng Tạo


MÙA THU, GIẤC MƠ NÀO


thu đến bên hiên có phải

ngoài kia xao xác lá vàng

nhìn lên bầu trời ẩm đục

mây như không còn lang thang

 

thu đến bên hiên hoa cúc

vàng rưng một thuở xưa nào

có em áo hồng áo đỏ

bên đời làm gió lao xao

 

thu đến bên hiên cùng em

cùng những bông hoa thược dược

hoa và em đang khoe sắc

hương mùa thu qua êm đềm

 

thu đến bên hiên hôm nay

không em chỉ còn hoa cúc

vàng au một đóa vô tình

lan man đôi bờ mộng thực

 

thu xưa xa rồi không đến

thu nay ngơ ngác lạc bầy

trong lòng còn bao lưu luyến

em có thương lòng ta đây

 

TRẦN YÊN HOÀ


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

KINH KỆ GIỮA LÒNG TÔI - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ



 KINH KỆ GIỮA LÒNG TÔI

Lâu lắm
Không làm bài thơ cúng Phật
Những câu chú
Vẫn còn nằm yên trong trang kinh cũ
Chỉ nghe hạt bụi thời gian lần theo hương cỏ bên trời.
Sỏi đá tâm tình
Ở mãi tấm lòng tôi.
Chúng ta
Là những người hiện thân vào thế kỷ
Đã khoát lên chiếc áo đời rất thật
Màu lá đương xanh
Mang đầy nghĩa Phật
Mỗi ý niệm an lành
Lòng Phật vẫn mênh mông.
Từng bước đi xa
Gọi nhau về bổn xứ
Nghe chim hót
Vang những lời tình tự
Mỗi ngày mặt trời lên
Cho thơm trái tim đời
Câu kinh kệ
Đã viết vào những trang vui
Trang sách mới
Cho hồng thêm câu chữ
Những vì sao
Vẫn thức trắng giữa đêm đen
Những hạt sương
Vẫn sáng hồn trên chiếc lá
Đường ta đi
Bốn phương về mới lạ
Thức trắng đời thơ
Cho ý thức chong đèn.
Ta gặp nhau giữa đường đời muôn ngã
Và chia nhau
Theo mỗi ngã vào đời
Như con ong đi tìm hương mật
Con kiến tha mồi chia mảnh thời gian.
Ta mang từng ý niệm xanh
Cho cây đời thêm sức sống
Cho trăm nụ chồi xuân thêm biếc lộc
Để lối về hoa cỏ sắc thêm tươi
Câu kinh kệ
Khi đã viết giữa lòng tôi.


MẶC PHƯƠNG TỬ