CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

NGỦ THỨC - THƠ HOÀNG XUÂN SƠN

 

Hoạ sĩ Nguyễn Trung: thế hệ vàng trong thời kỳ cận kháng chiến | Le Auction House


NGỦ THỨC


Ngủ với cái án(g) tuyệt vời

Thức dậy cổ kính

Nghe trôi hiện tràng

Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang

Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình

Thức dậy

Phổ đà câu kinh

Đọc

Với chiếc lá vô hình

Cưu mang

Huyền không một vạt hoa vàng

Nhụy của tinh tế

Trầm

Lan

Cội nguồn

Thức mưa

Dù đọng hay tuôn

Nghe đầy thủy vũ mối buồn du sinh

Từ đông vui

Đến

Một mình

Thì đi trầm mặc bình minh gọi chiều

Bụi hồng

Tro lửa liêu xiêu

Màu mắt khăn áo màu điều lửa hương



HOÀNG XUÂN  SƠN

13, tháng bảy năm 2026

Nguồn : Thơ Văn Trần Yên Hoà

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2026

THAO THỨC - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN


Nguyen Trung Artist - Vietnam Art Gallery NGUYEN TRUNG

TRANH NGUYỄN TRUNG


 THAO THỨC


năm rồi anh có lại

đứng ngoài đường nhìn vô

thấy chùm hoa góc trái

đã lá rụng héo khô


thấy áo em vắt cửa

nơi có ánh nắng chiều

mùi hương vàng bông cải

mà gió nồm lại xiêu


chợt lòng anh nhẹ quá

khi đợi hoài cô liêu

bầu trời cao tay với

sao ước mơ đôi điều


ngỡ gần thêm mái tóc

cho anh thầm nhìn theo

vậy mà hương lại khép

nên phải đành cheo leo


rồi mây che khắp nẻo

làm trăng treo lưng đèo

biết em còn thao thức

khi bóng đời nặng đeo


trên đôi vai gầy héo

vẫn nồng nàn sớm trưa

em lớn thêm mấy nẻo

thì anh thành ngày xưa


thì già nua lại đến

tóc trắng giờ lưa thưa

thương em như cỏ úa

một đời anh dây dưa.


 HUỲNH LIỄU NGẠN

5.7.2026


Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

DÒNG ĐỜI - THƠ LÊ KIM THƯỢNG



 


DÒNG  ĐỜI

 

1. 

 

Đưa tay vuốt mái tóc em

Sợi thương, sợi nhớ nhẹ mềm trong anh

Tiếng em giọng nói thanh thanh

Dịu dàng hai tiếng “Em…Anh…” ngọt ngào

Giữ tình chẳng để hư hao

Sắt son thề hẹn trước sau một lòng

Tặng en chín chín đóa hồng

Tình yêu tha thiết tấm lòng tinh khôi

Gió đưa tà áo buông lơi

Trắng màu trinh nữ, mây trời bay bay

Thề bồi “Muối mặn… gừng cay…”

Đậm đà tha thiết đắm say tình nồng

Tình yêu, yêu thật một lòng

Vượt qua gian khổ chờ mong tháng ngày

Người yêu nửa tỉnh, nửa say

Nụ hôn đằm thắm, vòng tay ấm nồng…

 

 

2. 

 

Còn gì nhớ nhớ mong mong

Cuộc tình rơi xuống giữa dòng đời trôi

Con tim thao thức bồi hồi

Sao nghe tê tái đơn côi một mình

Lỡ vay em một mối tình

Trăm năm chưa trả, riêng mình, riêng đau

Bao giờ cho hết mưa Ngâu

Ngưu Lang – Chức Nữ qua cầu thành đôi

Xưa rồi lâu lắm xa xôi

Một thời hạnh phúc, một thời yêu xa

Ngày em làm vợ người ta

Thơ tình gói lại làm quà trao tay…

Mừng vui gặp lại hôm nay

Vẹn nguyên kỷ niệm những ngày thương đau

Mười năm mới gặp nhau

Tóc xưa nay đã bạc màu thời gian…


           

            Nha Trang, tháng 08. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

BUỔI CHIỀU Ở MỸ ,NHỚ QUÊ - THƠ TRẦN YÊN HOÀ




 BUỔI CHIỀU Ở MỸ, NHỚ QUÊ



một chiều buồn như trăm năm trước 

ta bơ vơ đứng  gọi thất thanh 

quê nhà, quê nhà, đâu mất hút? 

mà ta như gãy cánh lìa cành 

  

gió cũng gió mà sao nghe lạ 

có cái gì như thể hắt hiu 

nắng cũng nắng vàng hanh trên lá 

mà nghe sao lạnh thấm tiêu điều. 

  

bờ môi mọng em, đóa tường vi nở 

nhớ điếng hồn luôn đêm sáng trăng 

cái nụ cười em, phương trời đất cũ

quýnh quáng ta giục giã môi mềm 

  

ta trung niên, chập choạng câu cười 

sầu cố xứ, sầu tình, đắng nghét 

ở Mỹ, nhớ mặn nồng, ngọt, lạt 

em, ngọn nguồn, xa tít mù khơi 

  

ở Mỹ, cơn buồn không thể biết 

bất kỳ đêm, hay sáng, hay chiều 

ở Mỹ, khi buồn lên thê thiết

là cuồng điên, quay quắt, quạnh hiu.



TRẦN YÊN HOÀ


XE ĐÒ HUẾ XƯA - PHAN NI TẤN



 Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết '8-4121 Η N'


XE ĐÒ HUẾ XƯA
Bằng một giọng nặng oằn trầm lắng, ông già Bến Ngự (không phải biệt danh của cụ Phan Bội Châu) kể chuyện xe đò Huế xưa thật thú vị.
Ông kể:
Tôi xa Huế tính đến nay ngót 65 năm trời mà chưa trở lại Huế lần mô. Những ai từng xa Huế như tôi ít nhiều chi cũng mang theo vài kỷ niệm với Huế, có rứa ở tuổi xế chiều Huế vẫn còn chút chi để nhớ. Nhớ nhất là hồi tôi làm lơ xe đò đi đi về về trên những chuyến xe chở khách chạy các tuyến đường trong, ngoài thành phố và các vùng lân cận. Ở tuổi 16, 17, chiếc xe đò đã gắn bó mật thiết một thời làm lơ xe của tôi.
Cũng xin nói rõ: lơ xe hay phụ xe là người đi cùng tài xế, ngoài việc hỗ trợ tài xế, "lơ" còn đảm nhận thêm các công việc như mời chào khách, thu tiền vé, sắp xếp hành lý và bốc vác hàng hóa. Danh từ "lơ" bắt nguồn từ tiếng Pháp contrôleur là người soát vé.
Xe đò Huế dưới thời Pháp thuộc là phương tiện giao thông bằng đường bộ, khi người Pháp mở rộng đường sá, thay thế các tuyến đò dọc bằng phương tiện xe hơi nhập cảng từ Pháp. Từ đó, danh từ "xe đò" ra đời thay thế những chuyến đò ngang, đò dọc trên sông Hương.
Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, Pháp rút quân về nước, hệ thống giao thông và xe đò Huế vẫn tiếp tục duy trì hoạt động. Các bến xe đò vẫn tập trung ở khu vực chợ Đông Ba và khu vực Nguyễn Hoàng, nơi các dòng xe chở khách đi khắp các các vùng lân cận của thành phố Huế và Đà Nẵng.
Bến xe Đông Ba nằm ở chân cầu Gia Hội, bên hông chợ Đông Ba, gần rạp hát Tân Tân cũ (thời Pháp thuộc rạp mang tên Tam Tân). Đây là nơi xuất phát của các chuyến xe đò địa phương chở khách và học sinh đi lại giữa các vùng trong thành phố và ngoại ô như Thuận An, Kim Long, An Hòa.
Còn bến xe Nguyễn Hoàng nằm ở gần cửa Thượng Tứ và bờ sông Hương chuyên phục vụ các chuyến xe đường dài hoặc xe hàng lớn.
Ngoài ra, còn có bến xe An Cựu – Bến Ngự nằm trên phần đất thuộc làng An Cựu và Bến Ngự xưa, chuyên phục vụ các chuyến xe đi về các huyện phía Nam tỉnh Thừa Thiên Huế và đi các tỉnh miền Nam. Đặc biệt, xe chạy lộ trình nào thì trước đầu xe đều có tấm bảng sơn màu xanh dương đậm, ghi rõ nơi đến.
Theo hệ thống xe đò Huế trước năm 1975, các xe chạy về phía hữu ngạn mang số lẻ, như số 1 An Cựu, số 3 Bến Ngự, số 5 Từ Đàm, số 7 Long Thọ, số 9 Thuận An, 11 Giạ Lê, 13 An Lăng.
Còn các xe chạy về phía tả ngạn sông Hương mang số chẵn, như số 2 Bao Dinh, số 4 Bao Vinh, số 6 Chợ Dinh, số 8 Kim Long, số 10 Văn Thánh, số 12 An Hòa, 14 Tây Lộc.
Xe đò Huế - Đà Nẵng có các xe mang tên Phi Long, Tiến Lực, Nam Lộc.
Xe đò không chỉ chở khách mà còn chở cả gà, vịt, heo, trái cây, thúng mủng từ các huyện Phong Điền, Phú Lộc, A Lưới, Bình Điền về thành phố, ồn ào, chật chội nhưng vui, tạo nên hình ảnh mộc mạc đậm chất Huế.
Tôi làm lơ xe từ năm 16 tuổi miết tới tuổi 25 thì… hưu trí. Thật ra trong một chuyến xe chạy về Đà Nẵng vào mùa mưa trơn trợt tôi đu càng xe vô ý sẩy tay té lọi giò, trật tay, bể đầu sứt trán. Cú té quá nặng đẩy bật tôi ra khỏi nghề lơ xe. Đó là một thời để nhớ để thương dảnh cho tôi và cho những ai đã từng đi về trên những chuyến xe đò ngày xưa không cách chi quên. Cũng nhờ rứa tôi mới có dịp trở về thăm quê Bến Ngự của tôi.
Tôi vẫn còn nhớ trước năm 1975, từ bến xe Huế về Bến Ngự thường qua cầu Tràng Tiền rồi theo đường lộ Lê Lợi rẽ vô đường Phan Bội Châu, khoảng 2, 3 km là tới chân cầu và chợ Bến Ngự. Thời đó, xe đò nào cũng rã rệu như con ngựa già chạy ì à ì ạch, máy nổ phành phạch, xịt khói đen xì mà người ta thường gọi là xe rờ-nôn tức hãng xe Renault của Pháp. Nhìn chiếc xe cà rịch cà tang rứa mà trên trần còn chất đầy cả củi, trái cây, bao bố, những thứ đặc sản xứ Huế. Tất cả đều gợi nhớ hình ảnh chứa chan tình người trải dài từ bến xe, bến sông, góc chợ gắn liền với ký ức của những người con xứ Huế còn ở Huế hay đã rời xa Huế


PHAN NI TẤN

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

KHĂN ÁO - THƠ HOÀNG XUÂN SƠN

 

A PAINTING OF ARTIST NGUYỄN TRUNG - Viet Art View

TRANH NGUYỄN TRUNG


K H Ă N Á O
_____________________

[ những ngày lễ nối tiếp nhau
tự dưng buổi chiều khiếm thị ]


Có thứ tưởng chừng như cũ
Mới toanh. vừa mới ra ràng
Chim non và tấm phin nõn
Bài hát thanh ca tình tang

Khi ngỡ mình loang như bụi
Có hạt long lanh bám vào*
Đất ốm. bùn đen. lau sậy
Sen hồng thơm thơm vươn cao

Em đừng cố tìm xa lạ
Non xa nguồn suối lạc thiền
Bình yên của từng bản ngã
Vẫn rót đầy cốc thảo nguyên

Cho dù tuyên xưng rậm rạp
Một chiếc lá cận riêng nằm
Thổ ngơi bốn mùa lục diệp
Ngời ngợi thơm tràng áo khăn


HOÀNG XUÂN SƠN
15 juillet 2026

Nguồn : Thơ Văn Trần Yên Hoà




Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

PHÍA KHÔNG EM - THƠ TRẦN YÊN HOÀ


 Nguyễn Trung | họa sĩ Việt Nam

TRANH NGUYỄN TRUNG


PHÍA KHÔNG EM

 

Anh phải quay về, phía không em

Anh phải xa, phải biến đi, biệt dạng

Làm sao không đau, không nước mắt

Sẽ thành sông, thành biển, ngàn năm sau

 

Phải lăn xa, khỏi phía em nằm

Để em ung dung bước lên đời rạng rỡ

Anh đã trở thành một người gàn dở

Làm sao níu được bến trăm năm

 

Phía không em, chắc là trời đã tối

Anh mịt mờ, thầm lặng, cõi riêng anh

Phía không em, anh đau vùi, nhức nhối

Đành bỏ tình, thơ dại, phía sau lưng


Cũng có thể, có duyên, mà không, nợ

Thôi thì thôi, xa vắng, một đời thường

Ôi phù du, những tháng ngày, ươm mật

Anh đăm nhìn, với đôi mắt, tiếc thương

 

Chẳng còn gì, khi về phía, không em

Một mình anh, trơ vơ, trời cuối phố

Phía không em, hoang tàn đến độ

Người nhìn người, như nhìn, cõi mịt tăm

 

Ta đã có, một tình yêu, như thể

Hòa tan nhau, trong hơi thở, con người

Em dắt anh về, uyên nguyên quán đợi

Anh mơ hồ, trong hạnh phúc, xanh tươi


Ơi! Ơn em, như tiếng chim đầu núi

Hát vang lừng, điệu nhạc yêu thương

Anh gắng bước qua, cơ hồ  không tới

Thì xin lui, nhường chỗ, chẳng đo lường

 

Thôi, em ơi, một đời anh lầm lủi

Để chỗ em, cho thiên hạ rao mời

Phía không em, chắc đời anh giông bão

Mưa nhạt nhòa, và lạnh quá, người ơi

 

TRẦN YÊN HOÀ