CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

NƯỚC MẮT LAY-OFF - TRẦN YÊN HOÀ


KUOW - Want to lay off workers more ...


 NƯỚC MẮT LAY -OFF

Buổi trưa, trong giờ “lunch”, Huệ ra máy điện thoại công cộng đặt trong hãng, gần phòng ăn, gọi phone về nhà cho Mỹ Thuý. Gặp đứa con gái ở đầu giây, Huệ nói ngay: ’’Thuý đó hả, con sắp xếp rồi chiều về mẹ với con đi coi nhà nghe, hôm qua mẹ đã nói chuyện điện thoại với người chủ, mẹ thấy nhà cũng được và vừa túi tiền của mình, chiều nay mẹ muốn con đi với mẹ, con vừa lòng thì mẹ mới vui’’.  

 <!>

  

Mỹ Thuý đáp: ’’OK, con đợi mẹ, chiều mẹ về sớm nghe, thôi mẹ đi ăn cơm đi, bye mẹ’’. Huệ cúp máy và thấy vui ở trong lòng. Vào phòng ăn dành cho công nhân, nàng đi lại chỗ Hiệp đang ngồi và hỏi Hiệp: ’’Anh hâm dùm cơm em chưa?’’. Hiệp ngồi qua một bên kéo ghế cho Huệ, vồn vã nói: ’’Xong hết rồi, lady first mà, cơm nóng hổi vừa thổi vừa ăn đó em’’. Huệ ngồi xuống bên Hiệp, thấy lòng mình rộn rã.

Hôm nay đi làm Huệ mặc áo vàng, nàng như đem màu vàng hoa cúc đến với mọi người. Hồi sáng gặp Hiệp, anh đã đọc một câu thơ chọc nàng ngay, ’’aó nàng vàng anh về yêu hoa cúc’’, Huệ trả lời bẻn lẻn ‘’Xứ Mỹ tìm hoa cúc để yêu cũng khó lắm’’ Hiệp cười: ’’có khó anh cũng phải cố tìm ra để yêu’’. Hai người cùng cười. Đôi bạn quen nhau từ ngày làm chung một department và có những cảnh đời xãy ra như nhau, Hiệp thường nói giọng buồn buồn: ’’Anh và em là những kẻ cô đơn nhất trên đời nầy’’.     

 *

Huệ vào làm hãng sơn gỗ nầy chưa đầy năm tháng, năm tháng như một thử thách với cuộc sống của chính nàng. Ngày trước, Huệ là cô nữ sinh trường Nữ Trung Học Hồng Đức, Đà Nẵng. Ơi cái thuở học trò sao xa vời quá, học xong tú tài 2 là Huệ thi vào trường cao đẳng sư phạm, rồi ra trường đi dạy, cuộc sống của nàng như một dòng sông êm đềm cho đến ngày nàng gặp Hãn.

Hãn uà đến đời nàng như một trận bão giông, nàng nhớ lại hôm trường nàng dạy có tổ chức ‘’Cây mùa xuân Chiến sĩ’’ nàng được cử đi tiền đồn để thăm các chiến sĩ đang trấn đóng ở  quận Quế Sơn. Nàng được phân chia làm hướng dẫn viên các nữ sinh đi làm công tác uỷ lạo. Khi những chiếc GMC chở phái đoàn nữ sinh  trường Nữ trung học đi thăm viếng, nàng mới thấy chiến tranh cận kề quá. Ở một thành phố bình an, ngày hai buổi đến trường dạy học trò, một nơi yên ổn, chiến tranh chỉ nghe nói tới trên báo chí, qua đài phát thanh. Hôm đó, trên đoạn đường từ Hương An chạy dọc lên Quế Sơn lổ chổ những dấu bom mìn, dù đoạn đường đã được khai thông và được giữ an ninh tối đa. Ngồi trên xe, nhìn về hướng những ngọn núi điệp trùng thỉnh thoảng lại ùm lên những tiếng đạn trọng pháo, những đoàn phi cơ ném bom cháy đỏ cả một góc trời, nàng thấy lòng lo lắng không nguôi.

Hôm đó đám nữ sinh do nàng hướng dẫn đến thăm đồn Núi Kiếng, đây là ngọn núi có đỉnh cao nhất Quế Sơn, ở đó có thể quan sát toàn thể khu vực quận lỵ và các xã lân cận. Lính tráng ở đây sống rất gian nan cơ cực. Núi Kiếng là nơi tranh chấp giữa hai bên vì phe nào làm chủ được núi Kiếng coi như làm chủ Quế Sơn, nên mảnh đất nầy là nơi dành giật của hai phía. Đơn vị quân đội đóng ở đây hằng ngày đã hứng không biết bao nhiêu quả đạn pháo của địch, ban đêm thì đặc công địch bò lên quấy phá, nên đơn vị luôn luôn ở thế báo động một trăm phần trăm.

Người sĩ quan chi khu nói với phái đoàn: ’’Chúng ta tới thăm binh sĩ ở đồn Núi Kiếng độ khoảng một tiếng đồng hồ là đi ngay, tình hình quân sự không cho phép trình diễn văn nghệ, chỉ tặng quà và thăm hỏi các chiến sĩ thôi rồi rút, xin cô giáo và mấy em thông cảm’’. Các nữ sinh theo sự chỉ dẫn của Huệ đã mang theo những thùng quà cho lính, những món quà tết từ hậu phương gởi ra tiền tuyến, những bánh chưng xanh, bánh tét, những hộp mứt, những phong kẹo đậu phụng, tất cả còn thơm mùi lá non, mùi đường tươi và mùi đậu phụng. Lính tác chiến ở đây cực khổ vô cùng, họ sống  dưới những hầm chữ A để tránh pháo kích.

Từng toán lính và các cô học trò đang tâm sự cùng nhau vui vẻ thì bỗng nhiên từ xa nghe một tiếng pháo ‘’départ’’ trên dãy núi xanh. Tiếng pháo mau ùa đến một cách kinh hoàng. Ngườì sĩ quan đại đội trưởng hô to: ’’có pháo kích, tất cả xuống hầm ngay’’. Chưa nói dứt câu thì một tiếng nổ kinh hoàng vang lên ngoài hàng rào phòng thủ. Cả đám nữ sinh chạy ùa xuống các giao thông hào và hầm cá nhân. Huệ cũng được một bàn tay nào đó kéo đi. Sau quả pháo đầu khoảng hai phút thì tiếp tục những quả pháo sau rơi xuống tiếp theo, tiếng pháo xé gió dội ì  ầm rít lên nghe kinh hoàng quá. 

Khi im đợt pháo kích, Huệ mới thấy mình đang nằm trong vòng tay của một người đàn ông mà trong bóng tối của căn hầm trú ẩn khiến nàng không nhìn rỏ mặt. Trong bóng tối, người lính nói: ’’Cô đừng sợ, địch trên núi thường pháo kích mỗi lần như thế khoảng năm trái để uy hiếp tinh thần anh em, vậy thôi, hôm nay có các cô đến thăm tiền đồn, tụi nó tặng thêm mấy quả nữa đó, thôi các cô lên và mau rời khỏi nơi nầy’’. Người lính nói xong liền đưa Huệ và đám nữ sinh lên khỏi hầm trú ẩn. Khi lên đến mặt đất nàng mới thấy hoàn hồn và nhận ra người đã ôm nàng nhãy xuống hầm là một thiếu uý còn rất trẻ. Người thiếu uý nói: ’’Tôi là Hãn, đại đội phó ở đây, rất cảm ơn các cô đã lên thăm đơn vị chúng tôi và bây giờ xin phái đoàn rời đây ngay’’. Khi phái đoàn leo lên những chiếc GMC đậu dưới chân núi, Huệ đã cho Hãn biết về trường dạy học của nàng, Hãn hứa khi nào về phép sẽ ghé thăm.

Câu nói và lời hứa như có vẻ bông đùa và đưa đẫy, nhưng Huệ không ngờ, hai tháng sau, trong một buổi chiều bãi trường, nàng đã gặp Hãn, khi nàng dắt xe ra khỏi cổng trường, người sĩ quan trẻ hôm nay sạch sẽ hơn trong bộ đồ trận đựợc giặt kỹ và ủi hồ láng với đôi giày shaut cũng được bóng hơn. Nàng đã vui mừng khi gặp lại Hãn, và Hãn đã đi vào cuộc đời nàng những ngày sau đó, cuộc tình cuả chàng trai tiền tuyến với em gái hậu phương diễn ra đẹp như những bài hát của Trần Thiện Thanh, của Trúc Phương, ca ngợi về những mối tình lính chiến. Hơn hai năm sau, Hãn lên trung úy và được đổi về làm việc tại Đà nẳng, hai người cưới nhau.

Đời sống vợ chồng Huệ an vui và hạnh phúc, hai người đã có hai con, một gái, một trai, cho đến năm bảy mươi lăm.

 Cuộc di tản vĩ đại đã làm chia lìa biết bao nhiêu gia đình. Thời gian nầy đánh dấu hoàn cảnh bi thương của biết bao con người, khi đoàn quân dân di tản từ Quảng Trị, từ Huế chạy vào Đà Nẵng, khi đoàn quân dân di tản từ Quảng Ngãi, Quảng Tín bồng bế dắt díu nhau tuôn ra Đà Nẵng thì Huệ mới thấy cuộc sống của nàng bị đe dọa. Những ngày nầy, Hãn luôn luôn bị cấm trại 100%, một ngày Hãn chỉ ghé nhà khoảng 10 phút, dặn dò nàng những công việc cần thiết xong rồi đi, nàng gấp rút thu dọn những đồ đạc cho gọn gàng, Hãn bảo: “Tình hình rất nguy ngập, em hãy chuẩn bị, lo cho hai con, nếu có lịnh di tản thì anh về dắt em và hai con đi ngay.’’

Hãn ra đi hôm đó và đi luôn đến hơn hai mươi năm sau nàng mới gặp lại, khi đơn vị Hãn được lệnh di tản khỏi Đà Nẳng, Hãn không thể về được, anh theo bộ chỉ huy qua khu An Hải, bám lên một chuyến tàu của hải quân và xuôi Nam, chuyến tàu chạy ra đảo Phú Quốc và đến ngày 30 tháng 4, Hãn theo tàu qua  đảo Guam, rồi sang Mỹ.

Huệ trong suốt những ngày trông chờ người chồng về đón nàng đi, đến khi xe tăng và bộ binh của quân Bắc phương tràn ngập thành phố thì nàng mới biết là mình không hy vọng được ra đi và lo cho Hãn vô cùng, có biết bao nhiêu người đã chết ở phi trường khi giành giựt nhau lên máy bay, chết ở bài biển Mỹ Khê khi địch pháo kích bừa bãi xuống bãi biển, thây người không sao đếm nổi, cái chết rất gần với bất cứ một ai và xảy đến bất cứ lúc nào.

Trong cái buổi tranh tối tranh sáng đó, nàng không làm sao biết tin được Hãn, anh có thoát được không?.  Mãi đến những gần năm năm sau nàng mới được tin tức của chồng, khi Hãn từ Mỹ viết thư về và hứa sẽ làm giấy tờ bảo lãnh cho ba mẹ con nàng qua Mỹ đoàn tụ.

 Phải chờ đến bao nhiêu năm nữa ba mẹ con nàng mới dắt díu nhau qua được đất Mỹ. Phi trường San Francisco đón nàng trong cái lạnh lẽo của một chiều cuối năm, hơn hai mươi năm, nàng thấy Hãn xa lạ với nàng quá.

  *

Hãn đón nàng với một gương mặt khác, gương mặt lặng lẽ, cùng ở tuổi Hãn những người đàn ông còn lại ở VN ốm o gầy gò, oằn lưng trên chiếc xe đạp thồ, hay oằn trên  những chiếc xích lô. Hãn phong lưu và trẻ trung dù hơi mập. Một điều làm cho Huệ thất vọng là Hãn lặng lẽ, không biết sự u uất nào đó, có một cái gì đó đã làm cho Hãn trong buổi gặp lại vợ con sau hơn gần hai mươi năm xa cách lại không vui.

Sau một thời gian ổn định, Hãn mới thổ lộ cùng nàng là trong những tháng năm xa cách, vì sự cô đơn trống vắng ở xứ Mỹ nên Hãn đã có một người đàn bà khác, anh xin lỗi Huệ và nói: ’’Em tính thế nào cho vui được đôi bên thì thôi’’. Huệ như muốn ngã qụy khi nghe tin nầy. Nàng cười nhạt bảo Hãn: ’’Tại sao anh không nói với em trước khi em còn ở VN để em quyết định’’. 

Hãn  lắc đầu nói:  ‘’Anh không thể’’.

Nàng đã bỏ lại thành phố San Francisco để dắt díu hai  con nàng về đây, sau khi đã ký đơn ly dị với Hãn. Hai đứa con đã lớn, đã trưởng thành, nhưng nàng vẫn mong sao hai con tiếp tục học, hồi ở VN có tiền đâu để cho con nàng ăn học được, dù sau nầy Hãn có gởi một ít tiền về tiếp tế.

Nàng đã bỏ thành phố mù sương đó để về nơi thành phố nắng ấm Cali, nàng nghĩ coi như Hãn đã chết khỏi đời mình, như mấy mươi năm nàng một mình tần tảo nuôi con. 

Chị Hạnh đã phone cho nàng khi nàng kể về hoàn cảnh của mình, chị Hạnh cùng chồng sang Mỹ theo diện HO.  Hai vợ chồng chị Hạnh thuê một căn appartment, chồng lãnh tiền già, vợ đi cắt chỉ ở shop may cũng sống qua ngày. Chi Hạnh nói: ‘’Em qua đây ở với chị, mình ở chật chật cũng được để bớt tiền nhà’’. Nàng đồng ý và sau khi li dị xong với Hãn, nàng lên chuyến xe buýt của hãng ‘’Con Chó Rừng’’ cùng hai con xuôi về nam Cali.

Nàng phải vất vã rất nhiều để đi xin việc làm và hãng nầy đúng là hãng thứ ba nàng đã làm việc. Cuộc sống từ một cô giáo tụt xuống một cô “assemply”, đứng trên dây chuyền sản xuất để bắt những thanh gỗ đã đươc sơn xong chạy qua. Hồi mới đầu vào làm ở hãng nầy, nàng thấy không thể chịu được khi nghe mùi hóa chất phả ra từ phòng sơn, mùi hoá chất được coi là độc hại có thể gây bịnh ung thư hay vô sinh, không có con đường nào khác, nàng phải làm thôi.

Hôm qua trong lúc đứng trên line làm việc, chị Quý đã nói với Huệ: ’’Em phải lấy chồng đi để chồng phụ với em lo gia đình, các con càng ngày càng lớn và tụi nó sẽ có một ngày tách rời em’’. Nghe chị Quý nói, tự dưng Huệ thấy nao nao lòng và chợt nghĩ đến Hiệp, người công nhân làm cùng hãng, đã có những cử chỉ săn sóc nàng. Hiệp năm mươi tuổi, đi cải tạo về thì vợ đã có một người đàn ông khác. Hiệp qua Mỹ với hai đứa con, anh ăn nói nhẹ nhàng dễ thương, thường giúp đỡ nàng những chuyện khó nhọc, nhưng nàng chưa có ý nghĩ gì cả. Hãy còn quá sớm để nghĩ đến chuyện nầy. Chuyện với Hãn đã làm nàng đau điếng từng thớ thịt, nàng chưa dám tin một người nào khác và cũng chưa dám nghĩ đến một người đàn ông nào khác, nàng còn hai đứa con phải lo, tiền nhà phải trả, như chuyện tháng sau vợ chồng chị Hạnh sẽ thuê nhà riêng vì chị vừa mới xin được housing, nên Huệ phải tìm một chỗ ở. Hôm qua đọc báo thấy có một ngôi nhà vừa ý, nàng đã phone lại hỏi và hôm nay, nàng định buổi chiều sẽ dắt đứa con gái lớn đi coi nhà, để đầu tháng có thể dọn đến ở.

Hiệp nhìn Huệ ăn và nói: 

-’’Hôm nay Huệ có niềm vui gì mà cười hoài vây?’’

Huệ đáp:

- ‘’Chiều nay về em sẽ đi coi nhà mới, em thuê được nhà nầy em sẽ mời anh đến chơi’’.

- ‘’Chứ chỗ Huệ đang ở thế nào?’’

- ‘’Chị Hạnh em được housing nên phải trả nhà, để thuê nhà khác, em cũng phải đi luôn.’’

- ‘’Em thuê được nhà, anh sẽ ra Goodwill mua biếu em bộ sofa về tiếp khách, anh chỉ giám tặng em đồ Goodwill thôi, chứ sang hơn thì anh không giám’’. 

Huệ nói cảm ơn và lòng thì vui như mở hội, một niềm vui mà suốt bao nhiêu năm trời nàng không  có được.

 *

Đám công nhân làm trong hãng sơn gỗ nầy phần đông là những người mới qua Mỹ theo diện HO, họ được sang Mỹ sau những năm tù đày. Phần lớn họ còn trẻ lắm cũng ở trên tuổi năm mươi, còn  sàng sàng thì năm lăm, sáu mươi, sáu lăm. Nếu trên tuổi sáu lăm họ có thể được ăn tiền già cũng đỡ, nhưng những ngươì dưới sáu mươi lăm tuổi thì phải tới gõ cửa những trung tâm tìm việc của cộng đồng. Theo sự chọn lựa, những hãng điện tử làm việc tương đối nhẹ nhàng, lại thuờng không nhận họ, vì làm điện tử cần có đôi mắt sáng để nhìn rõ những linh kiện khi ráp nối. Họ xin làm ở đâu cũng không được bền, ba bốn tháng là bị lay-off, chỉ có những hãng làm việc bằng chân tay, chuyện gì làm cũng được thì họ mới mong làm việc được lâu dài, những người đi xin việc làm chỉ mong một điều là, làm được một công việc ổn định, có đồng lương hàng tuần, cuộc sống chất chứa bao nhiêu gánh nặng oằn vai.

Đến giờ làm việc, đám công nhân ai vào việc đó, có những quy định của những ngườì làm công cho hãng Mỹ là trong giờ làm việc không được đứng khơi khơi. Người chủ Mỹ muốn mỗi giờ lãnh 5,75 dollars của họ phải vận động, phải làm việc liền tay, nhưng cũng tội tình cho những công nhận VN, là có những lúc không có công việc làm, như đợi chờ hàng chạy đến theo khâu dây chuyền, thì họ phải tìm tòi, lục lọi một công việc gì đó để làm, ác nổi, có lúc chẳng có việc gì làm, mà người manager Mỹ cứ đứng nhìn, cái nhìn như xuyên thấu tim người công nhân. Người Mỹ không nói nặng một câu, nhưng cái nhìn làm chạm đến lòng tự ái nhiều người. Cái nhìn đụng chạm đến lòng tự trọng dân tộc. Cái nhìn như nói người Việt Nam nào cũng muốn trốn việc. Cái nhìn tước bỏ, mất hết tình đồng minh, chiến hữu một thời. Cái nhìn chủ tớ. Cái nhìn làm nhột nhạt như có ai xối vào mặt mình một gáo nước lạnh. Người Mỹ manager có biết đâu rằng, hay không cần biết, đây là thiếu tá Thái một thời là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Biệt động quân, đã dẫn tiểu đoàn xung phong tái chiếm cổ thành Quảng Trị, đây là Đại Uý Hòa, đại đội trưởng đại đội trinh sát sư đoàn, đã từng nhảy trực thăng xuống mật khu Đỗ Xá, tiêu diệt không biết bao nhiêu lực lượng địch, đây là trung uý Nghiêm, đại đội trưởng Dù, đã dẫn đại đội nhảy vào cứu nguy An Lộc, trong những ngày chiến trường An Lộc sôi động nhất. Bây giờ  hai mươi lăm năm sau, tóc người nào cũng đã bạc, người trẻ nhất cũng đã muối tiêu, họ đang chui xuống phòng sơn để dọn đám sơn rơi vải, đang rúc xuống gầm máy để chùi cho sạch những dây belt bằng chất acétone độc hại, đang đứng trên line để bắt những thanh gỗ vừa được sơn xong. Tất cả cũng vì cuộc sống, ngày trước trong trại cải tạo họ cũng đã làm biết bao chuyện nhục nhằn, nhưng đó là những ngày lao tù cưỡng bách, ngày họ trở về cùng gia đình, họ cũng đã từng đạp xích lô, đạp xe ba gát, bán cà rem dạo, đủ chuyện, nhưng lúc đó họ nghĩ, họ là những người thua trận nên họ cam chịu, bây giờ đã qua Mỹ, đã bước sang một xã hội, một dân tộc, đã dang tay đón họ từ một độc tài sang một xứ sở của tự do, mà sao họ còn bao nhiêu là cực nhục.

Hiệp cũng ở trong những người đó, anh vẫn nhớ trước ngày rời VN, bạn bè đã làm một buổi tiệc tiễn đưa, anh hạnh phúc và sung sướng bao nhiêu khi nghĩ là mình là người may mắn hơn bạn bè. Hôm đó anh đã đứng lên và dõng dạc tuyên bố:  ’’Qua Mỹ tau khá lên, tau sẽ không quên tụi mày, quên trường cũ đâu’’. Ai cũng cạn ly với anh và chúc anh thành công, ‘’phải thành công nghe mày’’. Anh nói: ’’chắc chắn’’. Nhưng qua đây gần bốn năm anh đã làm được gì, hết assembly hãng nầy đến assembly hãng khác, làm việc cho Mỹ thường phải đứng suốt, mỗi ngày đứng gần 8 tiếng đồng hồ, vết thương ngày cũ của anh đau nhức khôn nguôi, nhưng anh vẫn gắng gượng cố làm việc, anh không thể để cho các con anh thất vọng.

Cuộc tình với người vợ cũ đã nguôi ngoai, các con anh cũng đã lớn, anh đang tìm một người đàn bà để cùng chung sống, để an ủi tuổi già ở xứ Mỹ lạnh lẽo nầy, anh chú ý đến Huệ, người đàn bà đã có một cuộc đời đầy đau thương. Huệ đã tâm sự với anh về nỗi bất hạnh của đời nàng, cuộc sống sao vẫn những quẩn quanh và chụp bắt, anh mong Huệ như là một điểm tựa cuối cùng của cuộc đời anh, để bù đắp lại những ngày đau thương của cả hai ngươì.

 *

 Người supervisor đem check lương đến phát cho công nhân, người công nhân chỉ có ngày này là niềm vui của họ, đó là ngày thứ sáu của tuần thứ hai, được nhận check. Đồng tiền làm vui lòng người nhưng cũng đày đọa con người quá đổi. Người supervisor dừng lại chỗ Huệ để phát lương, Huệ đang sung sướng khi cầm tấm check trong tay, chiều nay nàng sẽ đổi ra tiền mặt và deposit cho người chủ nhà mới, tuần sau, đầu tháng, mẹ con nàng sẽ dọn tới căn appartment mới. 

Người supervisor đưa tấm check cho Huệ và nói luôn:

- ‘’Chị Huệ ngày mai nghỉ nghe, chị bị lay-off, đến giờ về, chị gặp tôi trả lại thẻ.’’

Huệ tưởng như tai mình nghe lầm, Huệ muốn hỏi lại lần thứ hai nhưng người supervisor đã đi  xa, và nàng chợt hiểu ra là thật sự nàng đã bị mất việc. Đến lúc này nàng mới thấy trước mặt nàng một vùng trời u ám đang bao quanh, khuôn mặt hớn hở và giọng nói tươi vui  buổi trưa không còn với Huệ nữa, nàng nghe hai mắt uớt ướt và dòng lệ không kìm được chảy xuống, tứ chi nàng uể ỏi, nàng bật khóc to lên và thấy không thể làm việc được tiếp một giây phút nào nữa, nàng bỏ ra về.

Hôm đó, gần mười người bị nghỉ việc, có ba người là cựu tù nhân chính trị trên 50 tuổi và làm việc chưa được sáu tháng, nên không xin được tiền thất nghiệp.

Hiệp mất Huệ từ đó, khi anh nghe tin  Huệ bị nghỉ việc, Hiệp nhờ người bạn làm hộ công việc của mình để đến hỏi thăm nàng. Nhưng khi anh đến, Huệ đã ra đến parking, sau khi nàng trả thẻ lại cho người supervisor. Anh ngoắc tay nhưng Huệ đi luôn, anh không biết số phone nàng và cũng không biết địa chỉ, dù hai người quen nhau khá thân, cả hai chưa nghĩ đến sự chia tay, Hiệp không gặp lại Huệ từ đó, từ buổi chiều có dòng nước mắt chảy xuống thân phận buồn tủi của nàng.  

 


TRẦN YÊN HOÀ 

Nguồn : Thơ Văn Trần Yên Hoà

May -25-26

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

BÀI THƠ THỨ HAI - THƠ NGUYỄN TAM PHÙ SA

 

Những bài thơ về mùa thu dạt dào cảm xúc



BÀI THƠ THỨ HAI


Để anh gội đầu chải tóc cho em

mưa nắng trăm năm vừa thức dậy

màu y cựu lò hương còn đỏ thắm

trâm đồng Mai kín đáo giấu trong tranh


Để anh chong đèn cạo gió cho em

thời tiết làm eo bắt đền anh mãi

gió tụ quanh đèo lung lay ngọn nến

giường hẹp hai đầu bốn cánh tay


Để anh xếp bằng ngồi quạt cho em

tâm thiền định mà lòng ngọn gió

mùi hương ấy hôm nay và bữa nọ

ngấm vào anh thành bão tố kéo về


Để anh tìm kim vá túi xách cho em

và xâu lại đồng tiền Vạn Lịch

bằng nước mắt mồ hôi của người cày ruộng

anh đắp tấm lòng lên xương máu hoa văn


Để anh thổi lò hâm cháo cho em

lòng đang lạnh cũng cần ngọn lửa

thời cùng khổ mặn mòi vị muối

cháo trắng mà em bảo rất ngon!


Để anh vén mùng, cuốn chiếu giúp em

công quả nhờ câu thơ lỡ vận

tài hoa vặt vót tăm còn chẳng đặng

quy ẩn thêu thùa một chút em.


 

NGUYỄN TAM PHÙ SA

Nguồn : từ email Trần Yên Hoà



Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

PHIẾM LUẬN VĂN CHƯƠNG :CHÀO MỪNG NẮNG HẠ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC




Phiếm Luận Văn Chương :

                              ĐÓN MỪNG NẮNG HẠ  


                                                                           

                                  

                  Dưới trăng quyên đã gọi hè,

                Đầu tường lửa lưu lập lòe đơm bông.

                                                                                                                      (Truyện Kiều)


       Đó là hai câu thơ tả cảnh mùa hè trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du. Rất đậm nét, rất đặc trưng cho mùa hè như những chuyển cảnh trong điện ảnh : Chim Đỗ Quyên kêu và hoa lựu đỏ rực như lửa thấp thoáng ở mé tường. Tiếng cuốc gọi hè lại làm cho ta nhớ đến hai câu thơ cuối trong bài "Cổ Loa Hữu Cảm 古螺有感" của Chu Mạnh Trinh là : Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu, Ðỗ quyên đề đoạn nguyệt âm âm 寂寞前朝宮外廟,杜鵑啼斷月陰陰 :

                      Triều xưa cung lạnh miếu sầu,

              Tiếng quyên khắc khoải, trăng thâu mờ mờ.


       Hoa Đỗ quyên, hoa Thạch lựu thì đỏ rực như nắng hạ, chỉ có hoa Dương liễu, hoa Hạnh là còn mang màu trắng xóa bay bay trong nắng chiều như bài từ của Thừa tướng Khấu Chuẩn 寇准 đời Tống mà nhà văn Kim Dung 金庸 đã cho chàng thư sinh Đoàn Dự đọc khi bị Cưu Ma Trí bắt đi đến xứ Giang Nam trong truyện "Thiên Long Bát Bộ" là :


                 波渺渺,柳依依;   Ba miểu miểu, liễu y y:

                 孤村芳草遠,         Cô thôn phương thảo viễn,

                 斜日杏花飛...         Tà nhât hạnh hoa phi...   

      Có nghĩa :

                      Sóng lăn tăn, liễu thướt tha;

                      Xóm xa xanh cỏ biếc,

                      Nắng chiều bay hạnh hoa !...


      Đầu tháng tư lại có những cơn mưa đầu mùa hạ, làm cho khí trời trong và thoáng hơn; Không có trăm hoa đua nở như mùa xuân, không còn có hoa dương liễu bay trong gió, chỉ có hoa qùy vẫn luôn hướng dương nở để đón ánh nắng mùa hè rực rỡ như trong bài thơ 《Khách Trung Sơ Hạ 客中初夏》(Đầu mùa hè nơi đất khách) của Tư Mã Quang 司馬光 đời Tống :


                 四月清和雨乍晴,  Tứ nguyệt thanh hòa vũ sạ tình,

                 南山當户轉分明。  Nam sơn đương hộ chuyển phân minh.

                 更無柳絮因風起,  Cánh vô liễu nhự nhân phong khởi,

                 惟有葵花向日傾。  Duy hữu qùy hoa hướng nhật khuynh !

      Có nghĩa :

                       Đầu hạ tháng tư mưa chợt tạnh,

                       Núi Nam đối diện rõ như gương.

                       Đâu nào liễu trắng bay theo gió...

                       Chỉ thấy hoa qùy vẫn hướng dương !


                   

      Trên ao thì sen non và hoa ấu chen lẫn với rêu xanh, trên cành thì chim hoàng oanh như tranh nhau hót líu lo trên khóm hoa tường vi đầy gai góc. Suốt ngày suốt buổi không ai buồn nghe tiếng mưa rào rơi từng cơn, chỉ có đôi uyên ương là đang hí thủy như đang tắm gội giặt giũ cho bộ lông rực rỡ màu sắc đẹp đẻ của mình trong nắng hè. Hình ảnh của buổi đầu hè được thể hiện qua bài thơ " Tề An Quận Hậu Trì Tuyệt Cú 齊安郡后池絕句"(Tuyệt cú tả cảnh sau ao của quận Tề An) của nhà thơ Đỗ Mục 杜牧 đời Đường như sau :


                菱透浮萍綠錦池,    Lăng thấu phù bình lục cẩm trì,

                夏鶯千囀弄蔷薇。    Hạ oanh thiên chuyển lộng tường vi.

                盡日無人看微雨,    Tận nhật vô nhân khán vi vũ,

                鴛鴦相對浴紅衣。    Uyên ương tương đối dục hồng y !

      Có nghĩa :

                     Ấu bèo tựa gấm phủ xanh ao,

                     Oanh hót tường vi tiếng xuyến xao.

                     Suốt buổi mưa rào không thiết ngắm,

                     Uyên ương rỉa cánh rộn trên ao.


                    

       Thường thì từ sáng sớm của mùa hè đã có những trận gió nam ấm áp rao rao thổi đến, làm cho những cánh lá sen non bắt đầu nở ra và hoa tường vi thì rả cánh rụng đầy; Các loại côn trùng sâu bọ màu xanh cũng học đòi theo giấc mộng của Trang Chu mà hóa thành những cánh bướm bay đầy khắp cả nam viên, như trong bài "Sơ Hạ Hí Đề 初夏戲題"(Đề vui trong buổi đầu hè) của Từ Di 徐夤 đời Đường :


               長養薰風拂曉吹,  Trường dưỡng huân phong phất hiểu xuy,

               漸開荷芰落蔷薇。  Tiệm khai hà kị lạc tường vi.

               青蟲也學莊周梦,  Thanh trùng dã học Trang Chu mộng,

               化作南園蛱蝶飛。  Hóa tác nam viên giáp điệp phi !

    Có nghĩa :

                    Hè sớm thói thường dậy gió nam,

                    Ấu sen nhú nhụy tường vi tàn.

                    Sâu xanh cũng học đòi Trang Tử,

                    Hóa bướm bay đầy vườn phía nam !


                    

       Ngày hè say nắng, nằm chập chờn nhìn những cánh bướm bay bay mà ngỡ mình như là Trang Chu mơ hóa bướm... Trong khi trái mai đã trổ vàng, trái hạnh cũng đã xanh om, hoa lúa mạch đà trổ trắng ngoài đồng, còn hoa cải xanh vàng úa đã thưa thớt màu. Ngày hè dài dằng dặc, ngoài phên giậu thưa không một bóng người qua lại, chỉ thấy những con chuồn chuồn và những cánh bướm bay lượn khắp đó đây... Đó là cảnh Điền Viên Tạp Hứng 田園雜興 của Phạm Đại Thành 范成大, một thi nhân đời Tống :


               梅子金黄杏子肥,   Mai tử kim hoàng hạnh tử phì,

               麥花雪白菜花稀。   Mạch hoa tuyết bạch thái hoa hi.

               日長篱落無人過,   Nhật trường li lạc vô nhân qúa,

               惟有蜻蜓蛱蝶飛。   Duy hữu thanh đình giáp điệp phi !

     Có nghĩa :

                     Mai trái trổ vàng hạnh trĩu cành,

                     Mạch hoa trắng xóa cải hoa xanh.

                     Ngày dài rào vắng không người đến,

                     Duy chỉ chuồn chuồn bướm lượn quanh !


        Hình ảnh của con chuồn chuồn như không thể thiếu trong các khung cảnh của mùa hè : "Chuồn chuồn bay thấp thời mưa, Bay cao thời gió bay vừa thời râm !" Chuồn chuồn điểm thủy, ta gọi là chuồn chuồn đạp nước, bay chấp chới như đáp hờ trên mặt nước tạo nên những vòng tròn gợn sóng lăn tăn, đậu trên những hoa ấu, hoa sen và cả những lá sen mới vừa nhú lên trên mặt nước nữa. Những hoa sen còn hàm tiếu, những lá sen non cuốn tròn vừa từ mặt nước nhô lên những góc nhòn nhọn nho nhỏ thì đã thấy ngay có một chú chuồn chuồn con sớm đã đậu lên trên đó rồi. Thật nên thơ làm sao ấy ! Ta hãy đọc bài thơ "Tiểu Trì 小池" của Dương Vạn Lý 楊萬里 đời Tống sau đây sẽ rõ :


               泉眼無聲惜細流,  Tuyền thủy vô thanh tích tế lưu,

               樹蔭照水爱晴柔。  Thọ âm chiếu thủy ái tình nhu.

               小荷才露尖尖角,  Tiểu hà tài lộ tiêm tiêm giác,

               早有蜻蜓立上頭。  Tảo hữu thanh đình lập thượng đầu !

     Có nghĩa :

                    Làn suối lặng im nước chảy dài.

                    Cây râm rủ bóng nắng vàng thay

                    Lá sen nhòn nhọn đưa lên nước,

                    Đã thấy chuồn chuồn đậu xuống ngay !


        

      Trong cảnh mùa hè nóng nực oi bức nầy, hôm nào nhiệt độ của TP. Houston cũng lên gần 100 độ F. Cái nóng hừng hực và khô khan khiến cho người ta cảm thấy như là đang ở trong lò BBQ vậy... Xin được gởi một luồn gió mát mẻ đến với mọi người bằng "KHÚC HÁT HÁI SEN" sau đây...


               採蓮曲                THÁI LIÊN KHÚC

 

           荷葉羅裙一色裁,     Hà diệp la quần nhất sắc tài,

           芙蓉向臉兩邊開。     Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai.

           亂入池中看不見,     Loạn nhập trì trung khan bất kiến,

           聞歌始覺有人來。     Văn ca thủy giác hữu nhân lai !

                         王昌齡                             Vương Xương Linh.


* Chú Thích :

  1. Hà Diệp 荷葉 : là Lá Sen. Sẵn xin nói luôn về các tên của bông Sen như sau :

   - Hà Hoa 荷花 : là Bông Sen. Trong Bát Tiên có một cô Tiên rất đẹp, tay cầm một nhánh bông sen, chính là HÀ TIÊN CÔ 荷仙姑 đó !

   - Liên Hoa 蓮花 : cũng là bông Sen, ta thường thấy 2 loại, hay được dùng đặt tên cho các nàng là Bạch Liên 白蓮 và Hồng Liên 紅蓮.

   - Thủy Phù Dung 水芙蓉 : là Hoa Phù Dung ở dưới nước, cũng là tên riêng của Hoa Sen. Ta sẽ gặp lại từ này trong bài thơ trên.

  2. La Quần 羅裙 : là Cái Quần Là. Một loại Lụa ngày xưa thường dùng để may quần cho các bà các cô.

  3. Văn 聞 : Chữ nầy gồm có bộ Môn 門 bên ngoài và chữ Nhĩ 耳 bên trong, có nghĩa : Chỏ cái lổ tai ra ngoài cửa để... nghe ngóng. Nên Văn Ca 聞歌 : là Nghe có tiếng ca.

  4. Thủy Giác 始覺 : là Mới có cảm giác. Có nghĩa : Mới biết rằng...


* Nghĩa Bài Thơ :

                         KHÚC HÁT HÁI SEN

       Lá sen và quần lụa của nàng cũng cùng một màu xanh xanh, gương mặt đẹp đẻ của nàng giống như hoa Phù Dung dưới nước (hoa sen), hai bên đều cùng nở ra khoe sắc. và... cùng lẫn vào nhau ở trong ao, nên khi nghe thấy có tiếng ca... mới biết là có một nàng hái sen đang bơi đến...


                 

* Diễn Nôm :

                          KHÚC HÁT HÁI SEN.

                    Lá sen quần lụa xếp hai hàng,

                    Mặt tựa phù dung mới điểm trang.

                    Lẫn khuất trong ao nào ai thấy,

                    Nghe ca mới biết có người sang !.

         Lục bát :

                    Lá sen quần lụa một màu,

                    Phù dung mặt đẹp thua nào sen tươi.

                    Lẫn trong ao chẳng thấy người,

                    Nghe ca mới biết ai cười hái sen !


       Đó là KHÚC HÁT HÁI SEN bình thường của các cô gái trong mùa mè nóng nực; Còn sau đây là KHÚC HÁT HÁI SEN của các cô gái vương công qúy tộc nhí nha nhí nhảnh giành nhau khi chèo chống thuyền hái sen...


            採蓮曲(其二)        THÁI LIÊN KHÚC (Kỳ Nhị)

                                                

           吳姬越豔楚王妃,    Ngô cơ Việt diễm Sở vương phi, 

           爭弄蓮舟水濕衣。    Tranh lộng liên chu thủy thấp y.

          來時浦口花迎入,    Lai thời phố khẩu hoa nghinh nhập,

           采罷江頭月送歸。    Thái bãi giang đầu nguyệt tống quy.

                          王昌齡                              Vương Xương Linh.

          


* Chú Thích :

   1. Ngô Cơ, Việt Diễm, Sở Vương Phi 吳姬越豔楚王妃 : là ba người đẹp của ba nước thuộc miền Giang Nam nhiều sông ngòi kinh rạch, và dĩ nhiên có... nhiều ao sen, và những người đẹp nầy lại rất thích hái sen vào mùa hè nóng bức ! Xin được cung cấp thêm một tên nữa của Hoa Sen là : Phù Cừ Vương Phi 芙蕖王妃.

   2. Liên Chu 蓮舟(Châu) : là Thuyền hái sen.

   3. Phố khẩu 浦口 : là Bến nước, Bến sông, Nơi để xuống thuyền.


* Nghĩa Bài Thơ :

        Ba người đẹp của đất Giang Nam tranh nhau đi hái sen, và tranh nhau bơi thuyền hái sen, làm nước bắn tung tóe ướt cả áo xiêm. Khi đến bờ sông thì hoa sen cười đón mời chào, và khi hái xong ra về thì lại có vầng trăng sáng đưa ra đến tận đầu sông.


* Diễn nôm :

                            KHÚC HÁT HÁI SEN

                                    (Bài 2)


                    

                     Gái Ngô, gái Việt , gái vương công,

                     Tranh chống thuyền sen ướt áo bông.

                     Khi đến cả đầm sen chào đón,

                     Lúc về trăng sáng tiễn đầu sông !

         Lục bát :

                     Gái Ngô Việt với Vương công,

                     Tranh nhau ướt áo chèo không buông nào.

                     Đến thì hoa đón mời chào,

                     Hái xong trăng sáng ngàn sao đưa về ! 


      Cũng là THÁI LIÊN KHÚC 採蓮曲, cũng là "KHÚC HÁT HÁI SEN", nhưng không phải của giới qúy tộc, mà là của một thôn nữ vừa đến tuổi cài trâm, được Thi Bá Bạch Cư Dị 白居易 diễn tả lại một cách rất thực tế sống động sau đây :


              採蓮曲                THÁI LIÊN KHÚC


           菱葉縈波荷颭風,   Lăng diệp oanh ba hà chiếm phong,

           荷花深處小船通。   Hà hoa thâm xứ tiểu thuyền thông.

           逢郎欲語低頭笑,   Phùng lang dục ngữ đê đầu tiếu,

           碧玉搔頭落水中。   Bích ngọc tao đầu lạc thủy trung.

                          白居易                                   Bạch Cư Dị


 

               

* CHÚ THÍCH :

   - Lăng Diệp 菱葉 : là Lá Ấu, lá của Củ Ấu.

   - Oanh 縈 (còn đọc là Quanh, Vinh): là Lòng vòng, lẩn quẩn.

   - Chiếm 颭 : là chữ Hình Thanh, gồm có chữ Phong 風 là Gió chỉ ý, và chữ Chiêm 占 chỉ âm, nên CHIẾM có nghĩa là : Bị gió lay động.

   - Tao Đầu 搔頭 : Búi tóc. Danh từ có nghĩa là Cây Trâm.     

   - Bích Ngọc 碧玉 : là Ngọc Bích. là Cẩm Thạch, nên Bích Ngọc Tao Đầu 碧玉搔頭 là Cây trâm bằng Ngọc Bích, bằng Cẩm Thạch. Người Hoa gọi là Ngọc Bích nghe rất qúy giá. Ta gọi là Cẩm Thạch nghe có vẻ bình dân hơn.            

                                                    

* NGHĨA BÀI THƠ :      

                          KHÚC HÁT HÁI SEN.

       Lá ấu phủ trên mặt nước làm gợn sóng lăn tăn và những lá sen lay động trước gió. Trong chỗ sâu thẳm của ao sen chiếc thuyền nhỏ cũng có thể qua lại được. Gặp chàng muốn nói nên cúi đầu cười e thẹn, làm cho cây trâm bằng ngọc bích rớt tỏm xuống ao sen !


* DIỄN NÔM :

                          THÁI LIÊN KHÚC


          

                 Sóng vờn lá ấu gió lay sen,

                 Trong đám hoa xa thuyền nhỏ len.

                 Muốn nói, gặp chàng cười cả thẹn,

                 Cúi đầu trâm ngọc rớt ao sen !  

    Lục bát :

                 Ấu gợn sóng, gió lay sen,

                 Hái hoa thơ thẩn xuồng len trong cùng.

                 Gặp chàng muốn nói thẹn thùng,

                 Cuối đầu trâm rớt xuống bùn trong ao !


       Khéo ngớ ngẩn mà nên thơ và thi vị làm sao ấy ! Không biết "chàng" đây là người cùng xóm hay là người trong mộng của nàng, 4 chữ "Phùng lang dục ngữ 逢郎欲語 : Gặp chàng muốn nói" mới mơ hồ làm sao, vì "Nó" ở giữa hai đàng : "Chàng muốn nói hay là Gặp chàng Nàng muốn nói ?" để thẹn thùa đến nổi cúi đầu lơ đểnh... đánh rơi cành trâm ngọc xuống ao sen !

       Qủa là một bức tranh tâm lý sống động thực tế của các cô gái mới đến tuổi cài trâm rung động bối rối trước mặt người mà mình hằng mơ ước.

              


       Hẹn bài viết tiếp


         杜紹德

             ĐỖ CHIÊU ĐỨC


ĐOÁ HỒNG DƯỚI TRĂNG - THƠ NHẬT QUANG

 


Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Thơ JOS NHậT QUANG'


ĐOÁ HỒNG DƯỚI TRĂNG


Thềm nghiêng bóng nguyệt ru đêm
Cành hồng khẽ nở dịu êm hương nồng
Gió đưa trăng rụng giữa dòng 
Để hoa soi bóng, mà lòng ngẩn ngơ
Mây khuya lơ lửng đôi bờ 
Cho hồn ai đắm vần thơ nồng nàn
Đóa hồng gọi giấc mộng sang
Run run còn đọng ánh vàng mơ phai
Đêm buồn phủ giấc trên vai
Màu hoa còn thắm nhụy cài nguyệt soi
Tình như sương khói chơi vơi
Bay theo trăng suốt một đời vấn vương 
Dẫu người cuối nẻo ngàn phương 
Đóa hồng vẫn ngát đêm hương trăng chờ.


Jos NHẬT QUANG 

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

MA - SONG THAO

 



MA


 2026


Khi gia đình tôi theo đoàn người Hà Nội tản cư về các vùng quê, tôi mới 7 tuổi. Đầu tiên chúng tôi tới Sở Hạ rồi sau đó, để chắc ăn hơn, chúng tôi bỏ xa Hà Nội hơn nữa về làng Rùa. Trước khi tản cư, gia đình tôi sống tại làng Giáp Bát, ngoại thành Hà nội, một làng vừa quê vừa tỉnh, tỉnh nhiều hơn quê. Từ Hà Nội, chỉ vừa qua khu Khâm Thiên là tới làng tôi. Vỏn vẹn vài năm thơ dại tại làng, tôi cũng đã kịp có một con ma trong đầu.

 <!>

Làng tôi hồi đó ra sao, trường tiểu học tôi theo học nằm ở đâu, thày dạy lớp vỡ lòng của tôi tên chi, đường làng quanh co ra sao, chúng không bám vào trí nhớ của tôi. Duy có cây hoa gạo tôi không bao giờ quên được. Đây là một cây cổ thụ, mùa hoa nở đỏ rực, ban ngày chúng tôi thường quanh quẩn nhặt những bông hoa rụng chơi nhiều trò con nít. Rễ cây chằng chịt với những ông bình vôi được dân làng vứt bừa chung quanh hợp với những tàng lá rậm rịt khiến gốc cây lúc nào cũng tối tăm như ôm cả một bí mật trong lòng. Một cái cây như vậy phải có ma. Khi tối trời, mỗi lần phải đi qua cây hoa gạo này, người nào cũng rảo bước như chạy trốn. Con ma nằm giữa khối âm u của cây hình dáng ra sao, mỗi người tả một cách. Có điều mọi người đều đồng ý đó là một khuôn mặt mờ mờ ảo ảo thấp thoáng sau giải voan trắng phất phơ theo gió.

Tôi không nhìn thấy ma nhưng trong đầu vẫn có con ma đó. Nhưng nhiều người lớn quả quyết đã tận mắt nhìn thấy con ma. Hình như chuyện thấy ma là một thành tích chỉ dành cho những người can đảm nên ai cũng muốn mọi người khâm phục họ có lá gan to. Còn họ có thấy thật không, ai mà kiểm chứng được.

Vậy ma có thật không? Các nhà khoa học cố dùng kính hiển vi soi rọi vào chuyện ma quái này. Trong thời gian bị tù cải tạo, ai cũng mong ngày trở về cùng gia đình. Trong tuyệt vọng khi chẳng có một giải đáp nào cho vấn đề sinh tử đó, chúng tôi bày ra chuyện mà khi còn là học sinh, hầu như ai cũng đã trải qua. Đó là chuyện cầu cơ. Trong một lần đi lao động, một anh đã đào được một mảnh ván mục mà anh tin là một mảnh của một cỗ quan tài chôn lâu ngày dưới đất. Buổi tối, khi trại đã tắt điện, chúng tôi đốt đèn cầy hỏi người cõi âm chuyện chúng tôi đang nặng mang trên cõi trần. Chúng tôi lấy một tấm bìa cũ, vẽ một bảng chữ cái, chữ số và hai ô ghi “Có” và “Không”. Cứ hai người một, chúng tôi đặt tay lên miếng ván cây, thầm gọi hồn những người thân đã qua đời, hỏi chừng nào chúng tôi được về với gia đình. Khi tôi cùng một anh bạn tù cùng dí ngón tay trên miếng ván, miếng ván chạy khi nhanh khi chậm trong khi chúng tôi không đẩy đưa chi cả. Khi đó, chúng tôi tin chính linh hồn người chết đã di chuyển miếng ván từ chữ này tới chữ khác. Có thực một âm hồn đã về mách bảo tin tức cho chúng tôi không? Chúng tôi tin là có nhưng các nhà khoa học không dễ tin như chúng tôi. Nhà khoa học người Anh chuyên về vật lý và hóa học Michael Faraday (1791-1867), người đã đặt nền móng cho kỹ thuật điện từ (electromagnetic) giải thích hiện tượng này. Theo ông, mảnh gỗ di chuyển là nhờ ở hiệu ứng vô thức, sức mạnh cơ bắp của những người chơi gây ra sự chuyển động, do họ kỳ vọng mảnh gỗ sẽ di chuyển. Chẳng có hồn ma nào ở đây cả.

Nhiều người quả quyết đã gặp ma, thậm chí tiếp xúc với ma. Họ  “nổ” cho oai vậy thôi. Những người có vẻ thật thà hơn thường cho biết họ nhìn thấy bóng người lướt qua tầm mắt rồi biến mất. Họ tin là đã gặp ma nhưng các nhà khoa học đã giải thích hiện tượng này. Tại Thụy Sĩ, họ tiến hành kích thích điện não vùng đỉnh thái dương trái của một bệnh nhân nữ mắc bệnh động kinh. Bệnh nhân cho biết thấy có bóng người ngồi phía sau bắt chước từng cử động của cô. Các nhà khoa học giải thích hiện tượng này. Do kích thích điện vùng não chịu trách nhiệm giúp con người xác định ý thức về bản thân, giúp nhận ra sự khác biệt giữa họ và người khác, dẫn đến việc tưởng tượng ra bóng người bắt chước trong đầu.

Có người cho là mình gặp ma khi tự nhiên thấy trong người lạnh toát. Họ tin con ma mang khí lạnh vô người họ. Ma cần năng lượng để hiện hình nên thu hút nhiệt lượng từ môi trường chung quanh để tạo ra điểm lạnh. Không đúng. Nếu lúc đó họ chịu khó nhích người, di chuyển sang bên trái hoặc phải vài bước, họ sẽ cảm thấy nhiệt độ trở lại bình thường. Khoa học gọi đây là điểm lạnh”. Các nhả khoa học tìm hiểu hiện tượng này và thấy thường không khí mát mẻ thổi vào căn nhà qua cửa sổ hoặc ống khói. Khi căn phòng bị khép kín, nếu có một khối không khí khô đi vào căn phòng ẩm ướt, khối không khí khô này bay dưới thấp, kết hợp với khối không khí ẩm ướt hơn bên trên trần nhà sẽ tạo ra một dòng khí xoáy đối lưu. Người đứng đúng chỗ đó có cảm giác lạnh.

Có người nghe thấy những âm thanh ma quái và cho rằng đó là tiếng gào thét của ma. Điều này cũng không đúng. Tai con người chỉ nghe được các âm thanh trong dải tần số từ 20 tới 20.000Hz. Âm thanh dưới 20 Hz được gọi là sóng hạ âm, con người…điếc đặc. Sóng hạ âm này được tạo thành từ các cơn bão, gió hoặc các thiết bị điện tử hay từ dạ dày của mình. Nó tạo ra một cảm giác sợ hãi, bất an. Khi sóng hạ âm dao động ở tần số 19 Hz, gần bằng với tần số cử động nhãn cầu của mắt người thường là 20Hz, sẽ gây nên hiện tượng cộng hưởng làm cho chúng ta nhìn thấy hình ảnh âm không có thực. Khi chúng ta bước vào các tòa tháp cổ hay đển, chùa lúc có gió mạnh thổi vào các bức tường cũng tạo ra sóng hạ âm. Những người cư ngụ quanh các địa điểm này sẽ nghe thấy tiếng gió gào thét dọc các hành lang nghe như tiếng bước chân của ma trong đó. Chúng ta có một trường hợp cụ thể. Một ngày trong năm 1980, kỹ sư người Anh tên Vic Tandy đang làm việc trong phòng thí nghiệm bỗng cảm thấy một cơn ớn lạnh ập đến. Ông cảm thấy hoang mang tột cùng, như ngày tận thế đang tới. Khi bình tĩnh lại, ông nhìn thấy một bóng ma màu xám bay ngang qua và biến mất trong nháy mắt. Ông là một người không tin chuyện ma quái dù thấy rõ ràng trước mắt. Ông tìm tòi kỹ trong phòng, thấy một chiếc quạt đang quay phát ra âm thanh với tần số 18,9 Hz. Tai ông không thể nghe được âm thanh từ quạt nhưng nhãn cầu của ông đã tạo ra những rung động mạnh ở tần số này khiến ông thấy có bóng màu xám vụt qua.

Con người có thể bị ảo giác do nhiễm khí độc CO. Trong một tạp chí chuyên về nhãn khoa xuất bản năm 1921, bác sĩ nhãn khoa William Wilmer có viết một bài kể về chuyện một gia đình sống trong ngôi nhà bị ma ám. Mọi người bị ám ảnh bởi  những tiếng đóng cửa ồn ào, đồ đạc di chuyển lung tung, tiếng bước chân trong các phòng trống. Cây cối trồng trong nhà chết dần chết mòn. Họ không biết là ống khói lò sưởi trong nhà bị nghẽn. Thay vì được tỏa ra ngoài nhà, khói lại bay ngược vào trong nhà. Cả gia đình bị nhiễm khí độc carbon monoxide (CO). Chất khí này không mùi, không màu nên khó phát hiện. Cả nhà bị mệt mỏi, buồn nôn, lú lẫn. Khi bị nhiễm độc khí CO, con người thường có ảo giác giống như nhìn thấy các bóng ma và hiện tượng ma quỷ.

Có một thời người ta đồn đại một số phòng trong tòa nhà Empire State cao 102 tầng nằm tại giao điểm của Đại Lộ 5 và đường 34 ở New York có ma ám. Một số sinh viên theo học kỹ thuật môi trường đã tới tìm hiểu. Họ tìm thấy nơi đây có nhiều bào tử nấm hơn bình thường. Các chuyên gia về nấm cho biết nấm mốc có thể gây ra những hiện tượng như lo lắng, trầm cảm, nặng hơn có thể làm rối loạn tâm thần dẫn đến ảo giác. Ma từ đó mà ra!

Từ những giải thích các hiện tượng khiến con người nghĩ rằng có ma kể trên, chúng ta có thể kết luận ma là một thứ không có thật. Nhưng ma vẫn ám ảnh con người. Năm 2005, viện thăm dò nổi tiếng Gallup đã làm một cuộc thăm dò đưa tới kết luận có tới 37% người Mỹ tin là có ma. Niềm tin của họ được một tên tuổi nặng ký tên Albert Einstein hỗ trợ. Theo nhà bác học nổi tiếng này, năng lượng không thể được tạo ra hay phá hủy mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Vậy thì khi chúng ta chết đi, năng lượng của cơ thể chúng ta sẽ đi đâu? Liệu chúng bằng cách nào đó có biến thành ma hay không? Nghe thì có lý nhưng nếu nắm rõ vật lý cơ bản thì sự việc giản dị hơn nhiều. Sau khi một người qua đời thì năng lượng của họ đi theo con dường chuyển hóa năng lượng giống như của mọi sinh vật khác sau khi chết: chuyển vào môi trường. Năng lượng được giải phóng dưới dạng nhiệt và chuyển hóa vào các sinh vật ăn xác chết. Nếu thi thể được chôn cất thì giun, vi khuẩn hoặc cây cối sẽ hấp thụ chúng. Nếu điểu táng thì các loại chim hoặc thú vật hoang dã sẽ hấp thụ. 

Ma là một thứ ám ảnh con người dễ sợ. Hàng chục ngàn người trên thế giới đã đi săn ma. Theo thống kê của nhà nghiên cứu Sharon Hill của trang mạng Doubtful Newsblog thì có khoảng 2 ngàn nhóm săn ma nghiệp dư trên thế giới. Họ sử dụng những thiết bị khoa học cao như máy đo bức xạ Geiger, máy đo điện từ trường EMF, máy dò ion, camera hồng ngoại và micro siêu nhạy. Trang bị tận răng đi tìm ma như vậy nhưng chưa có nhóm nào chứng minh được một cách khoa học về sự hiện diện của ma.

Có chăng là ma chỉ hiện diện trong chuyện kể. Ai trong chúng ta không từng đã có lần rợn tóc gáy khi nghe kể chuyện ma. Thích nghe kể nhưng sợ vãi nước. Tuổi thơ của chúng ta hầu như ai cũng đã trải ngiệm chuyện vừa nghe vừa run nhưng vẫn thích nghe. Sao các nhà kể chuyện, thường là những người lớn trong gia đình, lại có nhiều chuyện ma đến như vậy. Người nghe là những tên bé bỏng chúng ta vừa nghe vừa rúc vào người ngồi bên hoặc chui vào trong chăn trong mền, tai vẫn cứ vểnh lên như ăng ten của loài kiến. Đó là một cái thú đau thương không dễ gì bỏ qua. Niềm tin ma có thật được gieo vào đầu óc non nớt của mỗi đứa trẻ khi chúng chưa có ý thức, chưa có được lập luận sắc bén để bác bỏ nó. Khi niềm tin này được ấn định trong tiềm thức, nó sẽ trở thành một niềm tin chuyên chế và vô điều kiện. Đứa trẻ sẽ lớn lên với niềm tin đó. Niềm tin này sẽ chiếm lĩnh tâm trí của chúng khi chúng nghe thấy tiếng ván sàn kêu cót két hoặc khi cảm thấy ớn lạnh trong người. Năm 1990, các nhà tâm lý học tại Đại học Illinois đã làm một thí nghiệm. Họ tuyển dụng hai nhóm tình nguyện tới viếng Nhà Hát Quảng trường Lincoln, một địa điểm đã bị bỏ hoang trong hàng thế kỷ. Hướng dẫn viên của nhóm thứ nhất nói với nhóm đây là một nhà hát bị ma ám. Nhóm thứ hai có hướng dẫn viên không đề cập đến ma quỷ. Kết quả cho thấy nhóm thứ nhất cảm thấy sợ hãi và nhiều tưởng tượng tới những điều kỳ lạ hơn nhóm thứ hai. Ông Chris French, trưởng đơn vị Nghiên Cứu Tâm Lý Dị Thường của đại học London cho biết : Chúng ta có xu hướng như vậy bởi vì chúng ta là một sinh vật có trí liên tưởng mạnh mẽ”. Con người nắm bắt các tín hiệu bên ngoài qua mọi giác quan. Chúng ta học được cách cảnh giác cực độ để phát hiện và trốn thoát khỏi các mối đe dọa. Đôi khi hệ thống giác quan đó làm việc quá mức, vẽ ra những gì mà chúng ta không nhìn thấy, không có thật và thuyết phục chúng tin đó là thật. Cứ như vậy, những bóng ma bắt đầu được thêu dệt từ những tiếng ồn ngẫu nhiên hoặc những hình ảnh mờ ảo. Khoa học có một thuật ngữ cho hiện tượng này: pareidolia.

 

  

Săn ma.


Nhưng các tổ sư dọa ma của chúng ta có vai vế hơn nhiều. Đó là các người làm văn học nghệ thuật. Các phim ma như The Conjuring, Annabelle, The Nun cho tới The Ring là những phim kinh dị vừa xem vừa run nhưng vẫn chong mắt lên màn hình. Chúng ta cũng khoái chí khi đọc các truyện ma của Bồ Tùng Linh. Thế hệ chúng tôi cũng khoái gặp ma trong Vàng và Máu và Bên Đường Thiên Lôi của Thế Lữ, Ai Hát Giữa Rừng Khuya của Tchya.

Ma như vậy là thứ bá láp nhưng vẫn tồn tại theo thời gian. Chỉ có một thứ ma thật hiện diện rõ ràng là ma-phăm! Thứ ma này ít ông không rái sợ. Tôi không hiểu sao ông Nguyễn Ngọc Ngạn lại được mặc nhiên coi là Chủ Tịch của Hội SoVo. Ông xứng đáng với địa vị này vì ông đã chơi một cú hồi mã thương ngoạn mục. Ông viết và đọc chuyện ma thiệt rùng rợn khiến cho các bậc nữ nhi sợ vãi linh hồn!

 


SONG THAO

(Tác giả gởi) 

 04/2026

Nguồn : từ email của Trần Yên Hoà