CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG :NHẤT TỰ VI SƯ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


  

Giai Thoại Văn Chương :
  
                  *  NHẤT TỰ VI SƯ                               
                 

           Như tất cả mọi người đều biết, trong trời đông giá rét, thậm chí tuyết phủ ngập trời, hoa mai vẫn cứ ngạo nghễ vươn lên, kết nụ trổ hoa bất chấp sương rơi tuyết phủ. Cùng với Tùng Trúc hợp thành : TÙNG TRÚC MAI TUẾ HÀN TAM HỮU 松竹梅歲寒三友, là ba người bạn trong mùa đông hàn lạnh lẽo ! Không mạnh mẽ cao lớn chửng chạc như Tùng, không xanh tốt dẽo dai vươn dài như Trúc, Mai ẻo lả khẳng khiu với những cành nhánh mảnh mai, nhưng những đọt xanh vẫn manh nha, nụ non vẫn đâm chồi nẩy lộc ... Xin mời nghe một câu chuyện mai nở sớm trong trời đông tuyết gía của TỀ KỶ 齊己, một nhà sư thi sĩ có biệt hiệu là THI NANG 詩囊 ( Túi Thơ) sau đây ...

        
                            
                                      TÙNG TRÚC MAI TUẾ HÀN TAM HỮU 松竹梅歲寒三友            

       Theo sách " Đường Tài Tử Truyện"《唐才子傳》ghi chép:
       Nhà sư thi sĩ TỀ KỶ 齊己 (863—937), tục danh là Hồ Đắc Sinh 胡得生, có biệt hiệu là Hành Nhạc Sa Môn 衡岳沙門, là người đất Ninh Hương, thuộc huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam hiện nay. Ông sống ở cuối đời  Đường, và xuyên suốt qua ba triều đầu đời Ngũ Đại. Lúc nhỏ gia đình nghèo khó, 6 tuổi đã phải đi chăn trâu độ nhật. Nhưng lại có chí cầu học, mỗi ngày đều đọc sách và làm thơ trên lưng trâu. Sư Cụ trong chùa Đồng Độ Tự thương tình cho vào chùa tu để có thời gian học hành và nghiên cứu kinh Phật. Từ đó, Tề Kỷ học hành tấn tới và làm thơ rất nhanh rất giỏi.
       Một hôm gần cuối năm, như thường lệ, Tề Kỷ thức sớm cúng Phật và làm công phu buổi sáng trong khi đêm qua tuyết rơi rất lớn. Mở cửa ra sân nhìn về thôn xóm xa xa, chợt thấy trong nền tuyết trắng bao la lấm tấm có mấy cành mai đà hé nở ! Cảm cho cái tinh thần bất khuất trước tuyết đông giá lạnh, cái sức sống mạnh mẽ ngạo nghễ vươn lên giữa biển tuyết mênh mông của hoa mai, Tề Kỷ về phòng làm ngay bài thơ " TẢO MAI 早 梅 " để tán thưởng cho việc hoa mai nở sớm. Trong bài thơ có 2 câu rất hay là : 

                  Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裏
                  Tạc dạ SỔ chi khai.           昨夜數枝開。
Có nghĩa :
               - Trong rừng tuyết của xóm phía trước xa xa...
               - Tối đêm qua đã có VÀI cành mai đà hé nở !

        Tề Kỷ rất đắc ý với 2 câu thơ nầy, nên mới đem khoe với Trịnh Cốc 鄭谷 (849-911), một thi sĩ đương thời. Trịnh Cốc đọc xong phê rằng : " SỔ Chi Khai 數枝開 " là VÀI cành mai đà nở, chưa thấy được cái " TẢO 早 " là SỚM của Mai, nên đổi lại là " NHẤT CHI KHAI 一枝開 " để nêu bật được cái SỚM của MỘT cành Mai nở trong tuyết lạnh ! Tề Kỷ nghe xong, phục sát đất, bèn sửa lại thành :

                 Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裏
                 Tạc dạ NHẤT chi khai.       昨夜一枝開。

... và từ đó về sau gọi Trịnh Cốc là " NHẤT TỰ SƯ  一字师 ", vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho MỘT chữ ", lại vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho chữ NHẤT " !

         Toàn bài thơ TẢO MAI của sư Tề Kỷ như sau :   
 
   


          早 梅                 TẢO MAI
        萬木凍欲折,       Vạn mộc đống dục chiết,
        孤根暖獨回。       Cô căn noãn độc hồi. 
        前村深雪裏,       Tiền thôn thâm tuyết lý,
        昨夜一枝開。       Tạc dạ nhất chi khai. 
        風遞幽香出,       Phong đệ u hương xuất,
        禽窺素豔來。       Cầm khuy tố diễm lai. 
        明年如應律,       Minh niên như ứng luật,
        先發望春臺。       Tiên phát Vọng Xuân Đài !
                齊己                                      Tề  Kỷ

CHÚ THÍCH :
      TẢO MAI : là Mai nở sớm, cũng có nghĩa là : Mai nở sớm hơn tất cả các loài hoa trong trời đông giá lạnh.
      ĐỐNG DỤC CHIẾT : Đống là Đong đá, Dục là Muốn, Chiết là Gãy. Có nghĩa là : Đong đá dòn đến muốn gãy luôn.
      NOÃN là Ấm. HỒI là Hồi Sinh. Nên Noãn Độc Hồi là : Nhờ Hơi ấm mà đơn độc hồi sinh .
      ĐỆ 遞 là Đệ Trình. Ở đây có nghĩa là Truyền đạt. Nên Phong Đệ là : Gió Đưa, gió đẩy.
      CẦM là Chim muông. KHUY là Nhìn ngắm.
      TỐ DIỄM là Trong Trắng đẹp đẽ. Ở đây chỉ Bạch Mai.
      ỨNG LUẬT : là Ứng theo Quy Luật tự nhiên.
      VỌNG XUÂN ĐÀI : là Cái Đài Ngóng Xuân, lên đó để đợi mùa xuân tới. Đứng trên đài cao, có thể nhìn thấy mặt trời mọc trước, có thể đón tia đầu tiên của ánh nắng mùa xuân trước hơn là những người ở dưới thấp.

NGHĨA BÀI THƠ :
       Muôn ngàn thảo mộc đều lạnh cóng đến muốn gãy ra. Chỉ riêng có rể của hoa mai là biết hút hơi ấm trong đất mà đơn độc hồi sinh. Cho nên, trong nền tuyết trắng xóa mênh mông của xóm trước xa xa, đêm qua một cành mai đã vươn lên nở hoa trong trời đông giá rét. Gió đã đưa cái hương thơm nhè nhẹ thoảng đi và chim cũng đã ngạc nhiên nhìn ngắm cành bạch mai thanh khiết trắng trong đẹp đẽ mà bay đến. Nếu sang năm lại theo cái quy luật Nở Sớm tự nhiên nầy, thì hoa mai ơi, hãy nở trước ở Vọng Xuân Đài để cho nhiều người nhìn ngắm, chớ ở nơi hoang sơ lạnh lẽo vắng vẻ nầy, có ai biết đến mà thưởng thức nhìn ngắm đâu !
       Như trên đã nói, Sư Tề Kỷ đi tu chỉ vì nghèo, bất đắc dĩ và bất đắc chí không thi thố được tài năng, nên còn nặng nợ với công danh, ông ví mình như cành mai nở sớm kia, vượt lên trên trăm hoa để khoe sắc, nhưng lại khoe sắc trong vùng tuyết lạnh không người.... cũng như tài năng của ông bị mai một ở trong chùa không người biết đến vậy ! Cho nên, ông đã khuyên mai nên nở ở Vọng Xuân Đài cho mọi người nhìn ngắm để biểu lộ cái ao ước thầm kín trong lòng... Nếu đi thi ta cũng sẽ toả sáng như mai sớm tỏa hương cho mọi người ngưỡng mộ vậy !

                    
                  

DIỄN NÔM :
                          TẢO MAI
                  Muôn cỏ hoa đong cứng,
                  Rể truyền hơi ấm xanh.
                  Xóm ngoài trong tuyết lạnh,
                  Đêm qua nở một cành.
                  Gió đưa hương thoang thoảng,
                  Chim ngắm vẻ đẹp xinh.
                  Nếu sang năm lại sớm,
                  Vọng Xuân Đài nở quanh.
  Lục bát :
                  Cỏ hoa lạnh cứng trời đông,
                  Riêng mai hơi ấm vẫn không phai tàn.
                  Xóm ngoài trong tuyết mênh mang,
                  Đêm qua nở trắng một cành bạch mai.
                  Gió đưa hương thoảng ra ngoài,
                  Chim nhìn ngắm vẻ thanh bai trong lành.
                  Sang năm lại sớm nở xanh,
                  Vọng Xuân Đài đó chung quanh lắm người.
                                                          

         Đọc bài thơ nầy, lại làm ta nhớ đến 2 câu cuối của bài " Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾 " của Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) là một Thiền sư  của Việt Nam ta là :

                莫謂春殘花落尽,      Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
                庭前昨夜一枝梅 !     Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
                
Có nghĩa :
                   Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
                   Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!


                   

       Khi viết 2 câu trên, hẵn Mãn Giác Thiền Sư cũng đã đọc qua bài thơ của nhà sư Tề Kỷ rồi !

                                 BÁN TỰ VI SƯ 

                          
                                 
         Mời đọc bài thơ sau đây :
                 
               千里黄云白日曛,         Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân           
                  北风吹雁雪纷纷.           Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân     
                  莫愁前路无知己,         Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ                                                   
               天下谁人不识君。         Thiên hạ thùy nhân bất thức quân ?
Có nghĩa :
                 Ngàn dặm mây vàng nắng úa hanh,
                 Tuyết rơi gió cuốn nhạn bay nhanh
                 Đừng sầu trước mặt không tri kỷ,
                 Thiên hạ ai người chả biết anh ?!

        Đó là bài thơ "Biệt Đổng Đại 別董大" nổi tiếng của thi sĩ Cao Thích đời Đường. CAO THÍCH 高適 ( 706-765 ), tự là Đạt Phu 達夫, người Bột Hải đất Thương Châu ( nay là Cảnh Huyện tỉnh Hà Bắc ). Ông là nhà thơ biên tái với lời lẽ mộc mạc chất phác nhưng mạnh mẽ, nổi tiếng ngang hàng với Sầm Tham, được người đời xưng tụng chung là CAO SẦM. Ông từng là Quan Sát Sứ của đất Lưỡng Chiết. Truyện kể...

       Một hôm, Cao Thích đi ngang qua Thanh Phong Lãnh của đất Hàng Châu, đêm ngủ lại một ngôi chùa cổ trên núi, nhìn thấy cảnh trời cao lồng lộng không một bóng mây, ánh trăng thu sáng vằng vặc chiếu xuống dưới dòng sông đang gợn sóng lăn tăn với thuỷ triều đang xuống trông vô cùng gợi cảm... bất chợt gợi hứng hồn thơ, bèn đề một bài thất ngôn tứ tuyệt lên trên vách chùa :

               絕嶺秋風已自涼,  Tuyệt lãnh thu phong dĩ tự lương,
               鶴翻鬆露濕衣裳。  Hạc phiên tông lộ thấp y thường.
               前村月落一江水,  Tiền thôn nguyệt lạc nhất giang thủy,
               僧在翠微閒竹房。  Tăng tại thúy vi nhàn trúc phòng.  
Có nghĩa :
                   Đỉnh núi gió thu lạnh mát người,
                   Áo tơi hạc lượn ướt sương rơi.
                   Trước thôn trăng lặn đầy dòng nước,
                   Phòng trúc tăng thiền vẻ thảnh thơi.

   

        Sáng hôm sau khi từ giả lên đường, Cao Thích đi thuyền trên sông Tiền Đường mới thấy rằng, khi trăng lặn cũng là lúc thủy triều xuống nước ròng sát thì dòng sông Tiền Đường nhỏ lại chỉ còn bằng một nửa lúc nước đầy, nên câu thơ "前村月落一江水, Tiền thôn nguyệt lạc nhất giang thủy" không ổn chút nào cả. Vì "NHẤT GIANG THỦY là Một dòng nước đầy", nên khi Nguyệt Lạc (trăng lặn) thì nước sông chỉ còn có "BÁN GIANG THỦY 半江水 là Nửa dòng nước" mà thôi. Ông trăn trở mãi vì câu thơ có chữ "NHẤT" đó. Cho đến một hôm khi có việc đi ngang qua Hàng Châu, ông bèn lên núi tìm đến ngôi chùa trước kia định sửa chữ NHẤT 一 thành chữ BÁN 半. Nhưng khi đến nơi thì thấy chữ NHẤT 一 trong câu thơ đã được ai đó thêm vào chữ THẬP 十 và HAI CHẤM 丷 hai bên thành chữ BÁN 半 mất rồi ! Cao Thích vừa ngạc nhiên vừa thích thú, mới hỏi thăm sư trong chùa xem ai đã sửa chữ NHẤT của ông thành chữ BÁN vậy ?
       Một nhà sư trẻ mới nói cho ông biết là khi ông vừa đi chẳng bao lâu, thì có một người khách khác đến, đọc bài thơ xong bèn mượn bút mực của chùa mà sửa chữ, và vì người khách nầy có tiếng tăm rất lớn nên nhà chùa không dám cản. Cao Thích hỏi ra thì mới biết người khách đó chính là Lạc Tân Vương 駱賓王, một trong TỨ KIỆT của buổi sơ Đường, bèn chắc lưỡi tán thán rằng : " Qủa là bậc thầy trong chữ nghĩa !". Và cũng vì thế mà người đời kháo nhau rằng : Lạc Tân Vương 駱賓王 chính là BÁN TỰ SƯ 半字師 (ông thầy chữ BÁN) của Cao Thích 高適. Và vì BÁN TỰ 半字 cũng có nghĩa là NỬA CHỮ, nên BÁN TỰ SƯ cũng có nghĩa : Nửa chữ cũng là Thầy !

      Và bài thơ trên thành :                  

               絕嶺秋風已自涼,  Tuyệt lãnh thu phong dĩ tự lương,
               鶴翻鬆露濕衣裳。  Hạc phiên tông lộ thấp y thường.
               前村月落半江水,  Tiền thôn nguyệt lạc BÁN giang thủy,
               僧在翠微閒竹房。  Tăng tại thúy vi nhàn trúc phòng.  
Có nghĩa :
                   Đỉnh núi gió thu lạnh mát người,
                   Áo tơi hạc lượn ướt sương rơi.
                   Trước thôn trăng lặn LƯNG dòng nước,
                   Phòng trúc tăng thiền vẻ thảnh thơi.

       BÁN TỰ VI SƯ 半字為師 "Nữa chữ cũng là Thầy" có xuất xứ nên thơ như thế đó !

                                               
                           杜紹德
                        ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                                                                        

THÁNG GIÊNG - THƠ NGUYỄN KHÔI



 THÁNG GIÊNG

Tháng giêng như con gái

Thẹn thò và bâng khuâng
Chớm hé nụ hoa Bưởi
Còn xanh màu bánh Chưng …
Tháng giêng trống Hội làng
Xốn xang từng ngõ xóm
Em sắm sửa du xuân
Váy áo thơm mùi nắng …
Tháng giêng vắng ra đồng
Tháng giêng đông đình đám
Tháng giêng để mà mong
Cho một ngày viên mãn …
Tháng giêng chim thức sớm
Ríu rít rộn bờ tre
con Nghé tơ động cỡn
Đuổi nhau dạt chân đê …
Tháng giêng chừng tê mê
Ngát chén trà đón bạn
Ly rượu nồng ngất ngưởng
Thơ thả hồn vào Quê .


NGUYỄN KHÔI
( quê Bắc Ninh 10 giêng Quý Tỵ 2013- )


Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

NÉT XUÂN QUÊ - NGUYỄN GIA KHANH & THI HỮU



 


NÉT XUÂN QUÊ
Rộn rã đường quê nắng trải đầy
Xuân về để lộc thắm tình cây
Hòa sương ngỡ ngọc vương chồi biếc
Thả tóc dường mây quyện liễu gầy
Nữ thục yêu thầm thêm má ửng
Trai tài trộm ngắm bỗng lòng say
Đàn xa võng động tìm tri kỷ
Để cõi trần gian hóa mộng này.

NGUYỄN GIA KHANH
(Đại vận)


HOẠ :
XUÂN TẠI TÂM
Ngõ trúc bình yên nắng đổ đầy
Hồn hoa lặng lẽ tựa bên cây
Sương pha sắc biếc tràn vai mỏng
Gió mượn hương thanh mướt liễu gầy
Cửa đạo không lời mà ý thấu
Lòng thiền chẳng rượu hóa cơn say
Cười xem vạn vật vần xoay chuyển
Chỉ một vầng trăng sáng cõi này.


TRẦN HẰNG CA DAO

MỘNG ẢO
Chiều xuân gió mượt nắng lên đầy
Nẩy lộc đâm chồi ấm nhựa cây
Vai sánh bờ vai tình rực cháy
Môi tìm môi nóng mộng hao gầy
Chợt đau thắt dạ khi tàn úa
Bỗng chạnh tơ lòng lúc đắm say
Đời tựa phù du toàn ảo ảnh
Gượng vui sống tiếp cuộc đời này


HOÀNH TRẦN
26/2/26

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

VỀ LIM, VỀ HÀ NỘI - THƠ NGUYỄN KHÔI



 VỀ LIM

Lim dim đôi mắt về Lim 
Cái Người định hỏi thì tìm chẳng ra 
Từ thời sen ngó đào tơ 
Giờ mai rã cánh bơ sờ...còn đâu? 
Về Lim đứng tựa trên cầu 
Tìm trong câu hát cái câu của mình.


VỀ HÀ NỘI

Viết một trăm câu thơ 
Chưa viết được một câu thơ về Hà Nội
Thơ in ra như cát bụi sông Hồng
Đâu viên gạch thành Thăng Long chôn đáy dòng lịch sử
Chút hồn xưa toả nắng sớm Ba Đình 

Người Hà Nội – Em ơi người Hà Nội
ở bên em chừng thấy sáng ngời lên
nét thanh lịch kiêu sa đang vươn tới
Tính hào hoa ta có tự nơi em 

Ôi phố cổ – như tìm vào ma trận
Nào Hàng Da, Chợ Gạo, Hàng Đào...
ba mươi sáu phố phường ta thơ thẩn
để nhớ thời kẻ chợ trốn tìm nhau

Hoa sữa đấy
thơm riêng lòng Hà Nội
chỉ mùa thu và chỉ một con đường
hồn thi sĩ Nguyễn Du
bay len lỏi đến mỗi lòng Hà Nội
một niềm riêng 

Niềm tâm sự đi tha phương bốn bể
vẫn thèm về một gợn sóng Hồ Gươm
một ánh rêu trên Tháp Rùa mờ tỏ
một tiếng rao đêm, một khúc đoạn trường 

Bạn thương mến từ xa về Hà Nội
Nơi hồn thiêng sông núi tụ bến bờ 
nhẩm câu thơ “Thăng Long thành hoài cổ”
Màu thời gian còn phảng phất ưu tư.



Hà Nội 10/10/1995
NGUYỄN KHÔI

CHỊ TÔI - TRẦN HỮU NGƯ



Không có mô tả ảnh.


 CHỊ TÔI

   

   Nếu tôi nhớ không lầm, thì trước 1975 không có bài hát nào có tên là CHỊ TÔI?

   Sau 1975 có hai bài hát CHỊ TÔI:

   -CHỊ TÔI của nhạc sĩ Trần Tiến (Phổ một bài thơ của một tác giả là một kỹ sư Kiến trúc, khuyết danh?)

   -CHỊ TÔI của nhạc sĩ Trọng Đài phổ bài thơ “Cho ngày chị sinh” của Đoàn Tảo.

   Bài hát CHỊ TÔI của Trần Tiến đã gây nhiều xúc động cho người nghe vì diễn tả một câu chuyện tình của một người “Chị tôi chưa lấy chồng”, nhưng đã qua đời:

   “… Mộ chị tôi bé xinh

   Dưới chân cầu lẻ loi

   Mộ người chưa có chồng…” 

   Nhắc đến ca khúc CHỊ TÔI của nhạc sĩ Trọng Đài phổ bài thơ của Đoàn Tảo, tôi nhớ Đoàn Lê (chị của Đoàn Tảo) từ Đồ Sơn năm 2008 đã gởi biếu tôi tập “Truyện ngắn hay 2008” và mời tôi ra Đồ Sơn chơi. Trong tập truyện ngắn này, bài đăng đầu tiên là LÀM ĐẸP của Đoàn Lê. Tôi đọc một mạch… cảm thấy quá hấp dẫn, quả là một tập truyện ngắn đúng tên của nó là “TRUYỆN NGẮN HAY 2008”.

   Đây là một sự quen biết tình cờ khi tôi phát hành mấy quyển sách, và khi tôi nhận được sách Đoàn Lê gởi tặng và lời mời tôi ra Đồ Sơn chơi… Tôi rất muốn đi, nhưng tôi quá ngại, vì tôi chưa biết Đồ Sơn và chưa một lần ra Hanoi, không ai dẫn đi, sợ đi lạc!

   Và ngày ấy tôi đã đọc câu thơ:

   “Chưa đi chưa biết Đồ Sơn

   Đi rồi mới biết, chả hơn đồ nhà!”

   (Tôi đăng lại câu thơ này cho vui, vì thật tình tôi cũng muốn ra Đồ Sơn, không phải vì Đồ Sơn mà muốn diện kiến Đoàn Lê). 

   Sau này tìm hiểu, tôi mới biết Đoàn Lê là nhà văn, họa sĩ, kịch tác gia, đạo diễn… 

   Đoàn Lê sinh năm 1943 tại Hải Phòng và qua đời năm 2017 tại Hanoi, chị là một nghệ sĩ đa tài, nổi tiếng với các tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim và hội họa… Chị từng là Giám đốc trung tâm văn hóa Nghệ thuật thành phố Hải Phòng, dàn dựng kịch bản “Làng Vũ Đại ngày ấy” và tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại”… Tôi tiếc vì chưa gặp được và thương chị vô vàn khi nghe tin chị qua đời!

   Và sau này tôi nghe ca khúc CHỊ TÔI của Trọng Đài phổ bài bào thơ “Cho ngày sinh” của Đoàn Tảo, nói về người chị Đoàn Lê:

   “… Thế là chị ơi, rụng bông hoa gạo

   Ô hay, trời không nín gió cho ngày chị sinh

   Ngày chị sinh trời cho làm thơ

   Cho nét buồn vui bốn mùa trăn trở

   Cho làm câu hát để người lý lơ

   Ngày chị sinh, trời cho làm thơ

   Vấn vương với sợ tơ trời

   Tình riêng bỏ chợ

   Tình người đa đoan…”

   Bài “Chị tôi” này, được ca sĩ Mỹ Linh hát và phát lại nhiều lần trên TV trong những giờ vàng, được “lan tỏa” đến người nghe và hầu như người nghe phía Bắc “đồng thuận”!

   Không biết Đoàn Lê có nghe không, và đánh giá thế nào về bài thơ này của em mình viết về mình được nhạc sĩ Trọng Đài phổ nhạc?

   Riêng tôi, khi nghe đi nghe lại nhiều lần ca khúc này, thật ra tôi không hiểu ý bài thơ này nói gì, nhất là câu mở đầu: 

   -“Thế là chị tôi rụng bông hoa gạo”

   Và:

   - “Trời không nín gió cho ngày chị sinh”

    Xin lỗi nhà thơ Đoàn Tảo, càm ơn nhạc sĩ Trọng Đài, tôi nói điều này vì sự hiểu biết chưa tới của tôi.

   Thành kính tưởng nhớ Đoàn Lê, quá nhớ thương chị dù chưa một lần gặp mặt!



   TRẦN HỮU NGƯ

   (Saigon-Giađinh, ngày 7.2.2026)


Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

THƯƠNG VỀ XỨ NẪU , THƠ VỀ LÀNG ĐÌNH BẢNG - THƠ NGUYỄN KHÔI


  



            THƯƠNG VỀ XỨ NẪU
    (Tặng : Phạm Ngọc Hiền)
               ———
Thương nhớ lắm vọng trông về Xứ Nẫu
“Con mắt Phú Yên” thắc thỏm trong tim (1)
Hồn lộng gió Cù Mông, Đèo Cả
Nghe bước chân thi thút mé Đồi Thơm.
.
Chóp Chài đây, chiều nào ai đứng ngóng
Núi Mẹ Bồng Con lặng đợi bên trời
Lên Tháp Nhạn ngắm sông Ba rờn sóng
Cầu Đà Rằng từng nhịp võng lòng tôi.
.
Về Xứ Nẫu bừng coi đêm hát hội
Nhớ ai xa ca điệu Bài Chòi
Lòng chằn chặn hằn trên ghềnh Đá Đĩa
Vịnh Xuân Đài vàng tỏa ánh trăng soi.
.
Xa Xứ Nẫu để nhớ về Xứ Nẫu
Cứ như mơ ai đó nói thầm thì
Đành bấm “chuột ” vào Google tìm kiếm
Chiếc hôn nồng hư ảo ở đầu kia.


                                             NGUYỄN KHÔI 


(1) tên riêng của tỉnh Phú Yên , nơi ngày trước Tản Đà đi qua …có câu thơ bất hủ :
 “Đa tình con mắt Phú Yên”…để cho đến bây giờ Người Đời còn tốn nhiều bút mực tranh cãi mà hình như vẫn chưa có hồi kết ?


 

 THƠ VỀ LÀNG ĐÌNH BẢNG


Đến cây số 15, bên phải, đường số 1

Là làng ta Đình Bảng đã ngàn năm

Hương Cổ Pháp, nền đất quê Diên Uẩn

Sông Tiêu Tương trước mặt chảy lặng thầm


Xưa Vua Lý đỗ thuyền bên rừng Báng

Cả dân làng ra đón trống chiêng khua

Trai gái làng tưng bừng quần áo đỏ

Khiêng kiệu vàng đi rước nhà Vua.


Đức Vua thích cùng dân làng tản bộ

Từ xóm Đình thẳng tới Thịnh Lang

Ra chùa Dận thắp hương dâng Quốc Mẫu

Vào Sơn Lăng tảo mộ viếng Thượng Hoàng.


Nắng tháng ba chói chang hoa gạo đỏ

Bãi đền Đô hội vật trổ thi tài

Đức Vua khoái khen trai làng thượng võ

Thưởng cho "đô" giải nhất một trâu cày.


Đêm tháng ba ánh trăng vàng sánh tỏ

Hội hoa đăng ở ao rối, ao đình

Dân Niềm Xá (1) về hát thi Quan họ

Trai gái sang từ Phù Chẩn, Phù Ninh


Cứ như thế khi hết ngày hát hội

Về Thăng Long Vua Lý khai trào

Dân làng lại vào tầm tang, nhuộm ngả

Thợ sơn mài tấp nập lối cầu ao.


Cứ như thế... 30 đời con cháu 

Lý Hoàng Thân từ Hàn Quốc lại về

Dù tản mác khắp chân trời góc bể

Còn tấc lòng vẫn gửi gắm nơi quê


Vượt dâu bể... đền Đô hương khói toả

Vui hôm nay cả Nam Bắc xum vầy

Rất tự hào là trai Đình Bảng

Cá Vậy, Trầm (2) vụt lớn hoá Rồng Bay.


NGUYỄN KHÔI

 

(1) Làng gốc Quan họ ở Bắc Ninh.

(2) Vậy, Trầm: tên 2 cái đầm lớn của làng Đình Bảng.