CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

THÁNG GIÊNG - THƠ NGUYỄN KHÔI



 THÁNG GIÊNG

Tháng giêng như con gái

Thẹn thò và bâng khuâng
Chớm hé nụ hoa Bưởi
Còn xanh màu bánh Chưng …
Tháng giêng trống Hội làng
Xốn xang từng ngõ xóm
Em sắm sửa du xuân
Váy áo thơm mùi nắng …
Tháng giêng vắng ra đồng
Tháng giêng đông đình đám
Tháng giêng để mà mong
Cho một ngày viên mãn …
Tháng giêng chim thức sớm
Ríu rít rộn bờ tre
con Nghé tơ động cỡn
Đuổi nhau dạt chân đê …
Tháng giêng chừng tê mê
Ngát chén trà đón bạn
Ly rượu nồng ngất ngưởng
Thơ thả hồn vào Quê .


NGUYỄN KHÔI
( quê Bắc Ninh 10 giêng Quý Tỵ 2013- )


Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

NÉT XUÂN QUÊ - NGUYỄN GIA KHANH & THI HỮU



 


NÉT XUÂN QUÊ
Rộn rã đường quê nắng trải đầy
Xuân về để lộc thắm tình cây
Hòa sương ngỡ ngọc vương chồi biếc
Thả tóc dường mây quyện liễu gầy
Nữ thục yêu thầm thêm má ửng
Trai tài trộm ngắm bỗng lòng say
Đàn xa võng động tìm tri kỷ
Để cõi trần gian hóa mộng này.

NGUYỄN GIA KHANH
(Đại vận)


HOẠ :
XUÂN TẠI TÂM
Ngõ trúc bình yên nắng đổ đầy
Hồn hoa lặng lẽ tựa bên cây
Sương pha sắc biếc tràn vai mỏng
Gió mượn hương thanh mướt liễu gầy
Cửa đạo không lời mà ý thấu
Lòng thiền chẳng rượu hóa cơn say
Cười xem vạn vật vần xoay chuyển
Chỉ một vầng trăng sáng cõi này.


TRẦN HẰNG CA DAO

MỘNG ẢO
Chiều xuân gió mượt nắng lên đầy
Nẩy lộc đâm chồi ấm nhựa cây
Vai sánh bờ vai tình rực cháy
Môi tìm môi nóng mộng hao gầy
Chợt đau thắt dạ khi tàn úa
Bỗng chạnh tơ lòng lúc đắm say
Đời tựa phù du toàn ảo ảnh
Gượng vui sống tiếp cuộc đời này


HOÀNH TRẦN
26/2/26

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

VỀ LIM, VỀ HÀ NỘI - THƠ NGUYỄN KHÔI



 VỀ LIM

Lim dim đôi mắt về Lim 
Cái Người định hỏi thì tìm chẳng ra 
Từ thời sen ngó đào tơ 
Giờ mai rã cánh bơ sờ...còn đâu? 
Về Lim đứng tựa trên cầu 
Tìm trong câu hát cái câu của mình.


VỀ HÀ NỘI

Viết một trăm câu thơ 
Chưa viết được một câu thơ về Hà Nội
Thơ in ra như cát bụi sông Hồng
Đâu viên gạch thành Thăng Long chôn đáy dòng lịch sử
Chút hồn xưa toả nắng sớm Ba Đình 

Người Hà Nội – Em ơi người Hà Nội
ở bên em chừng thấy sáng ngời lên
nét thanh lịch kiêu sa đang vươn tới
Tính hào hoa ta có tự nơi em 

Ôi phố cổ – như tìm vào ma trận
Nào Hàng Da, Chợ Gạo, Hàng Đào...
ba mươi sáu phố phường ta thơ thẩn
để nhớ thời kẻ chợ trốn tìm nhau

Hoa sữa đấy
thơm riêng lòng Hà Nội
chỉ mùa thu và chỉ một con đường
hồn thi sĩ Nguyễn Du
bay len lỏi đến mỗi lòng Hà Nội
một niềm riêng 

Niềm tâm sự đi tha phương bốn bể
vẫn thèm về một gợn sóng Hồ Gươm
một ánh rêu trên Tháp Rùa mờ tỏ
một tiếng rao đêm, một khúc đoạn trường 

Bạn thương mến từ xa về Hà Nội
Nơi hồn thiêng sông núi tụ bến bờ 
nhẩm câu thơ “Thăng Long thành hoài cổ”
Màu thời gian còn phảng phất ưu tư.



Hà Nội 10/10/1995
NGUYỄN KHÔI

CHỊ TÔI - TRẦN HỮU NGƯ



Không có mô tả ảnh.


 CHỊ TÔI

   

   Nếu tôi nhớ không lầm, thì trước 1975 không có bài hát nào có tên là CHỊ TÔI?

   Sau 1975 có hai bài hát CHỊ TÔI:

   -CHỊ TÔI của nhạc sĩ Trần Tiến (Phổ một bài thơ của một tác giả là một kỹ sư Kiến trúc, khuyết danh?)

   -CHỊ TÔI của nhạc sĩ Trọng Đài phổ bài thơ “Cho ngày chị sinh” của Đoàn Tảo.

   Bài hát CHỊ TÔI của Trần Tiến đã gây nhiều xúc động cho người nghe vì diễn tả một câu chuyện tình của một người “Chị tôi chưa lấy chồng”, nhưng đã qua đời:

   “… Mộ chị tôi bé xinh

   Dưới chân cầu lẻ loi

   Mộ người chưa có chồng…” 

   Nhắc đến ca khúc CHỊ TÔI của nhạc sĩ Trọng Đài phổ bài thơ của Đoàn Tảo, tôi nhớ Đoàn Lê (chị của Đoàn Tảo) từ Đồ Sơn năm 2008 đã gởi biếu tôi tập “Truyện ngắn hay 2008” và mời tôi ra Đồ Sơn chơi. Trong tập truyện ngắn này, bài đăng đầu tiên là LÀM ĐẸP của Đoàn Lê. Tôi đọc một mạch… cảm thấy quá hấp dẫn, quả là một tập truyện ngắn đúng tên của nó là “TRUYỆN NGẮN HAY 2008”.

   Đây là một sự quen biết tình cờ khi tôi phát hành mấy quyển sách, và khi tôi nhận được sách Đoàn Lê gởi tặng và lời mời tôi ra Đồ Sơn chơi… Tôi rất muốn đi, nhưng tôi quá ngại, vì tôi chưa biết Đồ Sơn và chưa một lần ra Hanoi, không ai dẫn đi, sợ đi lạc!

   Và ngày ấy tôi đã đọc câu thơ:

   “Chưa đi chưa biết Đồ Sơn

   Đi rồi mới biết, chả hơn đồ nhà!”

   (Tôi đăng lại câu thơ này cho vui, vì thật tình tôi cũng muốn ra Đồ Sơn, không phải vì Đồ Sơn mà muốn diện kiến Đoàn Lê). 

   Sau này tìm hiểu, tôi mới biết Đoàn Lê là nhà văn, họa sĩ, kịch tác gia, đạo diễn… 

   Đoàn Lê sinh năm 1943 tại Hải Phòng và qua đời năm 2017 tại Hanoi, chị là một nghệ sĩ đa tài, nổi tiếng với các tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim và hội họa… Chị từng là Giám đốc trung tâm văn hóa Nghệ thuật thành phố Hải Phòng, dàn dựng kịch bản “Làng Vũ Đại ngày ấy” và tiểu thuyết “Cuốn gia phả để lại”… Tôi tiếc vì chưa gặp được và thương chị vô vàn khi nghe tin chị qua đời!

   Và sau này tôi nghe ca khúc CHỊ TÔI của Trọng Đài phổ bài bào thơ “Cho ngày sinh” của Đoàn Tảo, nói về người chị Đoàn Lê:

   “… Thế là chị ơi, rụng bông hoa gạo

   Ô hay, trời không nín gió cho ngày chị sinh

   Ngày chị sinh trời cho làm thơ

   Cho nét buồn vui bốn mùa trăn trở

   Cho làm câu hát để người lý lơ

   Ngày chị sinh, trời cho làm thơ

   Vấn vương với sợ tơ trời

   Tình riêng bỏ chợ

   Tình người đa đoan…”

   Bài “Chị tôi” này, được ca sĩ Mỹ Linh hát và phát lại nhiều lần trên TV trong những giờ vàng, được “lan tỏa” đến người nghe và hầu như người nghe phía Bắc “đồng thuận”!

   Không biết Đoàn Lê có nghe không, và đánh giá thế nào về bài thơ này của em mình viết về mình được nhạc sĩ Trọng Đài phổ nhạc?

   Riêng tôi, khi nghe đi nghe lại nhiều lần ca khúc này, thật ra tôi không hiểu ý bài thơ này nói gì, nhất là câu mở đầu: 

   -“Thế là chị tôi rụng bông hoa gạo”

   Và:

   - “Trời không nín gió cho ngày chị sinh”

    Xin lỗi nhà thơ Đoàn Tảo, càm ơn nhạc sĩ Trọng Đài, tôi nói điều này vì sự hiểu biết chưa tới của tôi.

   Thành kính tưởng nhớ Đoàn Lê, quá nhớ thương chị dù chưa một lần gặp mặt!



   TRẦN HỮU NGƯ

   (Saigon-Giađinh, ngày 7.2.2026)


Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

THƯƠNG VỀ XỨ NẪU , THƠ VỀ LÀNG ĐÌNH BẢNG - THƠ NGUYỄN KHÔI


  



            THƯƠNG VỀ XỨ NẪU
    (Tặng : Phạm Ngọc Hiền)
               ———
Thương nhớ lắm vọng trông về Xứ Nẫu
“Con mắt Phú Yên” thắc thỏm trong tim (1)
Hồn lộng gió Cù Mông, Đèo Cả
Nghe bước chân thi thút mé Đồi Thơm.
.
Chóp Chài đây, chiều nào ai đứng ngóng
Núi Mẹ Bồng Con lặng đợi bên trời
Lên Tháp Nhạn ngắm sông Ba rờn sóng
Cầu Đà Rằng từng nhịp võng lòng tôi.
.
Về Xứ Nẫu bừng coi đêm hát hội
Nhớ ai xa ca điệu Bài Chòi
Lòng chằn chặn hằn trên ghềnh Đá Đĩa
Vịnh Xuân Đài vàng tỏa ánh trăng soi.
.
Xa Xứ Nẫu để nhớ về Xứ Nẫu
Cứ như mơ ai đó nói thầm thì
Đành bấm “chuột ” vào Google tìm kiếm
Chiếc hôn nồng hư ảo ở đầu kia.


                                             NGUYỄN KHÔI 


(1) tên riêng của tỉnh Phú Yên , nơi ngày trước Tản Đà đi qua …có câu thơ bất hủ :
 “Đa tình con mắt Phú Yên”…để cho đến bây giờ Người Đời còn tốn nhiều bút mực tranh cãi mà hình như vẫn chưa có hồi kết ?


 

 THƠ VỀ LÀNG ĐÌNH BẢNG


Đến cây số 15, bên phải, đường số 1

Là làng ta Đình Bảng đã ngàn năm

Hương Cổ Pháp, nền đất quê Diên Uẩn

Sông Tiêu Tương trước mặt chảy lặng thầm


Xưa Vua Lý đỗ thuyền bên rừng Báng

Cả dân làng ra đón trống chiêng khua

Trai gái làng tưng bừng quần áo đỏ

Khiêng kiệu vàng đi rước nhà Vua.


Đức Vua thích cùng dân làng tản bộ

Từ xóm Đình thẳng tới Thịnh Lang

Ra chùa Dận thắp hương dâng Quốc Mẫu

Vào Sơn Lăng tảo mộ viếng Thượng Hoàng.


Nắng tháng ba chói chang hoa gạo đỏ

Bãi đền Đô hội vật trổ thi tài

Đức Vua khoái khen trai làng thượng võ

Thưởng cho "đô" giải nhất một trâu cày.


Đêm tháng ba ánh trăng vàng sánh tỏ

Hội hoa đăng ở ao rối, ao đình

Dân Niềm Xá (1) về hát thi Quan họ

Trai gái sang từ Phù Chẩn, Phù Ninh


Cứ như thế khi hết ngày hát hội

Về Thăng Long Vua Lý khai trào

Dân làng lại vào tầm tang, nhuộm ngả

Thợ sơn mài tấp nập lối cầu ao.


Cứ như thế... 30 đời con cháu 

Lý Hoàng Thân từ Hàn Quốc lại về

Dù tản mác khắp chân trời góc bể

Còn tấc lòng vẫn gửi gắm nơi quê


Vượt dâu bể... đền Đô hương khói toả

Vui hôm nay cả Nam Bắc xum vầy

Rất tự hào là trai Đình Bảng

Cá Vậy, Trầm (2) vụt lớn hoá Rồng Bay.


NGUYỄN KHÔI

 

(1) Làng gốc Quan họ ở Bắc Ninh.

(2) Vậy, Trầm: tên 2 cái đầm lớn của làng Đình Bảng.

        

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

ÁO GIÓ - THƠ LÊ KIM THƯỢNG


 


ÁO GIÓ

 1.

 Em xa từ ấy đến giờ

Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân mây

Nhớ tà áo gió bay bay

Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày trở trăn…

Bàn tay mười ngón búp măng

Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây trời

Tóc thề che nửa lưng người

Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ cong

Thơ ngây, mơ mộng, trắng trong

Đam mê tình tứ một lòng keo sơn…

Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn

Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu đêm

Ai làm nhung nhớ nhiều thêm

Ai làm ngây ngất con tim chung tình

Thương yêu cho hết lòng mình

Qua bao năm tháng chuyện tình không phai… 

2.

Bây giờ nhớ lại ai ơi

Tình đầu ngày ấy, một thời chia xa

Tình đau như cắt thịt da

Ai chờ, ai đợi tình qua tít mù

Tôi đi về phía mây mù

Hình như trời héo, mua thu ướp nồng

Tôi đi tìm nhớ tìm mong

Tôi đi nhặt nắng đem hong tơ hồng…

Cà phê giọt đắng chát lòng

Hương cô đơn cứ lòng vòng quanh ta

Bây giờ hai đứa cách xa

Nghìn trùng vạn lý phôi pha cũng đành

Xứ xa em có an lành

Có mong có nhớ như anh bên này?

Dẫu người góc biển chân mây

Trái tim vẫn cũ, vẫn đầy yêu thương…

          

            Nha Trang, tháng 02. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

HỒN VIỆT TRONG ''CỔ PHÁP CỐ SỰ '' CỦA NGUYỄN KHÔI - PHẠM NGỌC HIỀN

 


Hồn Việt trong "CỔ PHÁP CỐ SỰ" của NGUYỄN KHÔI
16:53 | 06/02/2009
PHẠM NGỌC HIỀN
Chưa lúc nào trong lịch sử Việt , các nhà văn hoá ta lại sốt sắng ra sức kêu gọi bảo tồn nền văn hoá dân tộc như lúc này. Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế công nghiệp cộng với xa lộ thông tin đã mang theo những ngọn gió xa lạ thổi đến từng luỹ tre, mái rạ làm cho "Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều". Mà "Trách nhiệm của mỗi dân tộc là phải thể hiện rõ bản sắc của mình trước thế giới" (R. Tagor).

Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu có tâm huyết đang từng ngày, từng giờ miệt mài sưu tầm, khảo cứu những giá trị văn hoá cổ truyền của cả dân tộc hay từng vùng, miền. Thậm chí, có người chỉ chú trọng đến phong tục, tập quán của một làng mà in thành một tập khảo cứu có giá trị hẳn hoi. Như làng Đình Bảng trong "Cổ pháp cố sự" của Nguyễn Khôi.

Có lẽ Đình Bảng là cái tên làng nổi danh bậc nhất trong các làng xã ở Việt . Nó đã được ghi vào chính sử Việt từ hơn 1000 năm trước. "Tiểu Thăng Long thành" này nằm trên mảnh đất Kinh Bắc vốn đã "tích tụ bao đời những tinh anh nhiều mặt của dân tộc". Vùng đất Bắc Ninh còn lưu giữ khá nhiều những dấu tích văn hoá cổ truyền, trong đó có thể coi Đình Bảng là một làng quê điển hình của Việt . Nhưng Nguyễn Khôi không chỉ vì chú ý đến cái tính điển hình đó mà ông viết về vùng quê này xuất phát từ sự thôi thúc của một con tim nặng nợ với quê hương. Sau mấy mươi năm đi đây đi đó khắp nơi, lên Tây Bắc, rồi từng bước chân đến trên 20 nước khác nhau, cuối cùng, chàng trai Đình Bảng này dừng chân ở góc Thành Nam (Thăng Long) để chiêm nghiệm về nét đẹp của "ao ta". Nguyễn khôi đóng vai trò như một người con của làng nay đã lớn tuổi, kể lại chuyện xưa cho lớp trẻ của làng và những ai muốn làm bạn với làng. Bởi vậy, ta thấy ông lặp lại rất nhiều những từ: làng Đình Bảng ta, dân làng mình, làng nhà, làng tôi... rồi rộng hơn là: thành Thăng Long ta, người Việt ta... Để tăng tính chân thật và thân mật, ta cũng thường nghe tác giả nói: thầy tôi kể rằng, mẹ tôi bảo, dân làng kể rằng, các cụ xưa đã răn dạy... Và Nguyễn Khôi đã dẫn dắt bạn đọc làm một chuyến du lịch kỳ thú đi lui về hơn 1000 năm trước. Từ cái thời Cao Biền biến hạt đậu thành binh mã đến sự kiện Lý Công Uẩn sinh ra và sự tồn tại 216 năm của nhà Lý. Cuối cùng là cái thời mà "Chủ tịch xã Đình Bảng hôm nay chỉ đạo công việc bằng máy tính điện tử nối mạng tới 15 thôn và các công ty, xí nghiệp, hợp tác xã, trường học... ở Khu công nghiêp Đình Bảng, Khu văn hoá du lịch đền Đô...".

Xét về không gian, làng Đình Bảng chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ Việt . Nhưng từ đó, tác giả triển khai cho ta thấy toàn bộ diện mạo nền văn hoá dân tộc. Có thể nói:  "Cổ Pháp cố sự" là bộ bách khoa toàn thư về vùng quê Việt . Ngoài những trang khảo cứu tỉ mỉ về địa lý, lịch sử của vùng đất vốn được coi là "huyệt đất quý, phát tích đế vương" này, tác giả đã dành 45 chương mục để nói về văn hoá truyền thống. Trong đó, có những cái được coi là "quốc tuý" như đình Đình Bảng, dân ca quan họ, các trò chơi dân gian, lễ nghi đình đám, trang phục ("Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng" - HC). Tác giả miêu tả tỉ mỉ những món ăn "thể hiện một trình độ đời sống cao, một nền "văn hoá ẩm thực" "tầm cỡ quốc tế" như món giò chả... đến những món đậm mùi dân dã như "cỗ thịt chuột"...”. Bên cạnh tự hào về những mặt mạnh của người Đình Bảng như học tài, buôn giỏi... tác giả cũng mạnh dạn nói đến những mặt chưa tốt của một số nông dân như cờ bạc, trộm cắp, tính cục bộ địa phương... Tất cả những yếu tố văn hoá kể trên đều được thể hiện thông qua những câu chuyện nhỏ có liên quan tới gia đình tác giả. Mà gia đình là một xã hội thu nhỏ. Trong đó, "mỗi số phận con người đều chứa đựng một phần lịch sử", câu nói ấy của Evtusenko hẳn rất có lý.

Thực ra, nếu tác giả chỉ dừng lại ở việc mô tả các hiện tượng bề ngoài thì có thể tác phẩm này cũng na ná như nhiều tập sách khác viết về Bắc Ninh. Điều đáng ghi nhận là ở chỗ lý giải của tác giả, ông đã phát hiện ra nhiều quy luật và bản chất đời sống mà ít người nhận thấy. Chẳng hạn, từ câu chuyện Nguyên phi Ỷ Lan, ông có cái nhìn so sánh với nhiều nước khác: "Từ cô Tấm trở thành phi tần... ở Việt Nam ta xưa nay không hiếm, khác với nhiều nước trên thế giới (giới quý tộc thường không lấy thứ dân), tính dân tộc, tính bình dân ở người Việt Nam quả là một đặc thù". Người ta thường nghe trai Đình Bảng rất tự hào về mình (điều này cũng được phản ảnh trong tập thơ "Trai Đình Bảng" của Nguyễn Khôi). Tác giả lý giải như sau: bởi Trai Đình Bảng được làng cấp cho nhiều ruộng, "Do vậy, con trai Đình Bảng có giá trị là thế !".Nhưng kèm theo đó là một nghịch lý: Những đấng mày râu ấy lại ít thạo việc cày bừa mà chỉ "ở nhà ngồi trông coi nhà cửa và dạy dỗ con cái" cho vợ đi buôn. Đình Bảng "là làng buôn mà lạ thay làng lại không có chợ...". Đó cũng là nét riêng độc đáo của làng quê này.

"Cổ Pháp cố sự" còn hấp dẫn bạn đọc ở lối kể chuyện bằng một thứ văn phong thập cẩm do kỹ sư kiêm nhà thơ Nguyễn Khôi gia công chế biến để món ăn tinh thần khỏi bị đơn điệu. Có khi ta gặp một loại văn phong khoa học hiện đại miêu tả tỉ mỉ chính xác đến từng con số. Có khi là giọng văn đĩnh đạc, cổ kính, chứng tỏ tác giả là người rất am tường chữ Hán. Bên cạnh loại ngôn ngữ gọt dũa, trang trọng là thứ ngôn ngữ đời thường, dân dã ngay trong giọng kể tác giả: ấy thôi, thôi thì, nữa kia, vậy chăng, biết chừng nào, là vậy, là thế, chao ôi, lạ thay... Để thấy được bản sắc ngôn ngữ của Đình Bảng, tác giả làm một bản liệt kê những "lời ăn tiếng nói" của vùng này so với cả nước. "Chao ôi, còn đình đền, còn tiếng nói, còn phong tục có bản sắc riêng... âu cũng là một động lực cho người Đình Bảng ta luôn vượt ngang tầm thời đại là thế". Người đọc cũng khó quên những trang văn thấm đẫm chất thơ: "Nơi ấy có những con cò lặn lội, những cánh cò bồng bế nhau đi; những đàn chim ngói chở heo may về, những đám lục bình trôi nổi với những chùm hoa tím ngát. Sông là lòng quê, tình quê chở đầy ắp hồn làng... "Có lẽ hiếm thấy có tập khảo cứu nào mà đưa thơ vào nhiều như tập này. Trong  sốá đó, ta bắt gặp nhiều bài thơ của Nguyễn Khôi viết về làng mình, như bài "Ao làng" đã được nhiều người biết đến: "Vượt biển, chơi hồ, trở quá giang/ Bỗng dưng lại thấy nhớ ao làng/ Cái đêm hè ấy ai ra tắm/ Để cả bầu trời phải tắt trăng". Đọc văn Nguyễn Khôi, ta có cảm tưởng như nhà thơ đang trên đường đi tìm đến dãy Thi Sơn nhưng nửa chừng thì mỏi chân nên ghé lại Rừng Văn và kết duyên cùng Khảo Cứu, nhưng trong lòng vẫn chưa dứt tơ tưởng Nàng Thơ.

Hẳn sẽ có nhiều người tự hỏi: nên xếp "Cổ Pháp cố sự" vào thể loại nào? Biên khảo, truyện phong tục, hồi ký hay tuỳ bút?... Xin hãy nghe theo lời của nhà mỹ học Đức Letxing: Việc phân loại tác phẩm chỉ có trong các sách giáo khoa. Còn trong thực tế, có nhiều nhà thơ kết hợp nhiều thể loại khác nhau để nhằm mục đích cao hơn, "Chúng ta chỉ nên hỏi liệu cái mục đích cao hơn đó có đạt được hay không mà thôi". Mục đích cao nhất của Nguyễn Khôi là góp phần bảo lưu nền văn hoá dân tộc. Mục tiêu đó cũng đã được thể hiện qua nhiều tác phẩm của ông như: "Bắc Ninh thi thoại", "Xứ Thái mù sương", "Tiễn dặn người yêu" (biên dịch) v.v... (trong số đó có những tác phẩm đaî được giới thiệu ở nước ngoài qua mạng Internet). Nguyễn Khôi viết "Cổ Pháp cố sự" không chỉ nói riêng cho một làng Đình Bảng, không chỉ dành cho "người đương thời" mà xa hơn nữa còn dành cho các thế hệ mai sau ở khắp mọi nơi



P.N.H

(nguồn: TCSH số 192 - 02 - 2005)