CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

PHẬN ĐÀN BÀ - HOÀNG PHƯƠNG NHÂM

 

Người đàn bà hay cười là người đàn bà từng rơi nhiều nước mắt


PHẬN ĐÀN BÀ


Đi học về, vừa bước vào sân tôi đã nhìn thấy mẹ lúi húi làm thịt gà ngoài giếng. Vẫn nguyên cặp sách trên lưng, tôi nhào đến cạnh mẹ, sung sướng và ngạc nhiên:

<!>

- A! Hôm nay được ăn cơm thịt gà rồi! Có sự kiện gì đặc biệt à mẹ?

Không như mọi bận, mẹ nói với giọng buồn buồn:

- Thôi, con vào cất sách vở đi rồi ra giúp mẹ một tay. Hôm nay nhà mình có khách.

Tôi vấn cố nèo một câu:

- Vị khách này chắc ở diện "đặc biệt quan trọng" phải không mẹ?

Mẹ không trả lời chỉ khẽ gật đầu và giục:

- Con có nhanh lên không nào! 

Tôi nghĩ, chắc hôm nay chị Thuý đưa người yêu về trình diện với mẹ. Mấy hôm trước tôi đã nghe chị nói với mẹ như vậy. Nhưng hôm ấy, mẹ có vẻ vui hơn hôm nay nhiều. Sợ mẹ lại giục lần nữa, tôi chạy ào vào nhà và tôi sững sờ khi gặp một người đàn ông dáng khắc khổ, rụt rè đứng sau mành như đang đón đợi. Người đàn ông mà tôi đã thề là không bao giờ mong ngóng. Tôi căm thù ông ta. Người mà khi tôi mới lên sáu tuổi, tôi đã mài dao giấu dưới gối chờ ông quay lại. Tám năm trôi qua, nhiều khi tôi không còn nhớ đến con dao ấy nữa và cũng không hiểu nó biến mất từ lúc nào. Bây giờ bất ngờ nhìn thấy gương mặt này, cơn giận của tôi lại bừng bừng bốc lửa. Tôi không nghe người ấy nói gì mà quay ngoắt người chạy ra giếng. Mẹ tôi vẫn bình thản như chẳng có chuyện gì xảy ra. 


- Mẹ! - Tôi gằn giọng - Ông ta về đây làm gì?

Mẹ tôi không trả lời câu hỏi của tôi mà chỉ giục:

- Con nhanh lên còn ra giúp mẹ một tay nào!

Tôi vùng vằng:

- Nhưng mà...

Mẹ tôi nhẹ nhàng:

- Thôi nào, hộ mẹ tí đã rồi hẵng hay. Đi, con gái!

Vẫn vùng vằng, tôi miễn cưỡng đi vào. Tôi không vào nhà để cất cặp sách và thay quần áo vì không muốn nhìn thấy gương mặt người ấy, người đã làm cho mẹ con tôi khốn khổ trong bao nhiêu năm trời. Tôi quăng cặp sách lên mặt bể rồi vào bếp nấu cơm. Tôi cầm que cời đập vào cái thành xoong vô tội vì nó to hơn mọi bữa. Mẹ tôi vẫn không tỏ thái độ gì, vẫn như ngày xưa, nhẹ nhàng, ân cần với người ấy ngay cả khi người ta thú với mẹ rằng đã trót đem lòng yêu thương người đàn bà khác. Rằng đã lỡ sắp có con với người ta. Khi đó, tôi đang chuẩn bị đi học lớp Một. 


Dì Xuyến kể, trước đây tôi cũng có một người bố. Bố của tôi là một người rất tuyệt vời. Bố yêu mẹ khi cả hai người còn đang học cấp ba trường huyện. Hồi ấy, những người bạn của bố và mẹ đều ao ước có một mối tình như thế. Bố đi bộ đội, mẹ vào học trường trung cấp nông nghiệp tỉnh. Sau năm năm ở bộ đội, bố chuyển sang công tác tại Sở Giao thông vận tải với một chức vụ nhiều người mơ ước. Bố mẹ cưới nhau và một năm sau, chị Thuý được sinh ra trong ánh hào quang rực rỡ của tình yêu. Lúc đón mẹ và chị Thuý từ nhà hộ sinh về, bố nâng chị giơ lên khoe với mọi người, vụng về đến nỗi làm chị đau, chị oa oa khóc rồi tè ướt cả ngực áo bố. Mọi người cười ngả nghiêng. Bố lấy làm hãnh diện vì điều đó nên trước khi trao chị Thuý cho mẹ,Õ bố còn âu yếm thơm lên khuôn mặt nhăn nheo của chị. Dù sao thì chị Thuý cũng vẫn còn có những tháng năm sung sướng. Chị được sự yêu chiều cả bố lẫn mẹ. Sau này, chị kể cho tôi nghe rằng, dù trời nắng nóng đến mấy mỗi khi đi làm về, bố không kịp thay quần áo đã bò ra nhà làm ngựa cho chị nhong nhong trên lưng. Những ngày nghỉ, bố chẳng mấy khi đi đâu mà chỉ quanh quẩn ở nhà cho mẹ sai vặt và làm cho chị những đồ chơi tinh xảo như được mua từ cửa hàng về vậy. Chị Thuý lớn dần, chị càng lớn bố càng có vẻ bận việc và ít về nhà hơn và nếu có về cũng chỉ ghé vội qua nhà, để lại cho hai mẹ con ít tiền hay một vài thứ đồ dùng gì đó rồi lại đi luôn chứ không nghỉ qua đêm ở nhà. Năm chị Thuý lên sáu tuổi, bố tôi về nghỉ ở nhà hẳn một ngày. Bố có vẻ buồn buồn và dường như có điều gì đấy định nói với mẹ mà không nói được. Mẹ thì vẫn dịu dàng chăm sóc bố. Thấy bố buồn, mẹ càng yêu thương bố hơn. Chiều đến, bố bắt gặp mẹ lặng lẽ khóc trong bếp và thế là đêm ấy bố ở lại. Dì Xuyến bảo, tuổi của tôi phải bắt đầu tính từ đêm hôm ấy. Khi có tôi, những đồ chơi bố làm cho chị Thuý dạo nào chị chỉ giữ lại một con búp bê gỗ còn chị cho tôi tất cả vì khi ấy bố đã chuyển công tác đi nơi xa ít khi về nhà được. Từ khi ấy mẹ tôi trở nên trầm lặng hơn trước nhưng đối với mọi người trong nhà, mẹ lại tỏ ra ân cần hơn. Ông bà nội ngoại của chúng tôi đều đã già cả. Dì Xuyến lại đi học xa, mẹ tôi như con thoi đi về cả hai bên. Còn bố tôi thì cứ đi công tác biền biệt mãi, nhiều năm, tết đến bố cũng không về, thư từ cũng chẳng có. Một mình mẹ tất bật sắm sửa mọi thứ để cả nhà đón năm mới như mọi nhà khác. Mẹ bảo, bố không về được là vì bận công tác đặc biệt. Mẹ đưa chị em tôi đi tết hết bên nội rồi bên ngoại. Hồi ấy, cả chị Thuý và tôi đều còn bé, chúng tôi còn mải vui với những bộ quần áo mới, với những đồng tiền mừng tuổi và nhiều thứ khác trong dịp tết nên nỗi buồn thiếu vắng bố chỉ thoáng qua. Chúng tôi luôn yên chí rằng bố đang bận một công việc gì đó quan trọng lắm. Thú thật, lúc đó có ai hỏi về bố, tôi còn lấy làm hãnh diện, vênh mặt mà trả lời rằng: "Bố cháu đi công tác!" và tôi nghĩ họ sẽ hiểu rằng công việc ở cơ quan mà thiếu bố thì sẽ hỏng bét, không thể có người thứ hai thay thế được bố! Điều đó làm cho tôi tự hào vì tôi là con gái của một người như thế. 


Năm tôi lên sáu tuổi, mẹ và chị Thuý đưa tôi đi học lớp Một. Trước khi vào lớp, tôi hỏi:

- Mẹ! Đây là một sự kiện quan trọng đối với con phải không?

Mẹ nhìn tôi mỉm cười:

- Ai bảo con vậy?

- Chị Thuý!

Mẹ âu yếm xoa đầu tôi:

- Chị Thuý nói đúng đấy con ạ! Hôm nay đối với con thật quan trọng vì con bắt đầu đi học.

Tôi vội ngắt lời:

- Vậy mà bố không có ở đây với con. Tiếc quá!

Mẹ không nói gì. Chị Thuý quát khẽ:

- Thôi, nói năng lung tung thế đủ rồi. Vào lớp đi chẳng bọn chúng nó ngồi hết chỗ!

Chị khẽ ẩy vào vai tôi. Tôi chạy đi nhưng vẫn ngoái đầu lại nhìn mẹ và chị Thuý. Tôi thấy mẹ gật đầu mỉm cười. Nụ cười ấy không tươi như lúc trước. Khi ấy, tôi không hiểu gì và tôi cũng không quan tâm lắm đến mọi chuyện xung quanh, vì tôi còn đang mải nghĩ đến những đứa bạn mới ngồi bên cạnh và nghĩ đến những trò chơi mới đang đợi ở sân trường. 


Gần tết năm ấy bố tôi về ở nhà vài hôm. Cả tôi và chị Thuý đang thích mê đi vì những món quà tết của bố cho và những bộ quần áo còn thơm mùi vải mới. Nhưng còn già nửa tháng nữa mới đến tết, chúng tôi lại cất tất cả những thứ đó vào tủ để dành. Đi học về, tôi quấn quýt với bố, kể cho bố nghe tất cả những chuyện của mình ở nhà, ở lớp nhưng bố cứ ậm ừ cho qua chuyện làm tôi thấy chán. Hình như bố đang có điều gì khó xử và giữa bố và mẹ có chuyện gì đó muốn giấu không cho cho chị em tôi biết nên hai người đang nói chuyện hễ thấy chúng tôi lại dừng. Mẹ như muốn nuốt tiếng thở dài vào bụng. Đêm ấy, chúng tôi đi ngủ đã lâu, tôi chợt thức giấc vì mót đi tiểu. Nhìn ra nhà ngoài thấy đèn vẫn sáng, tôi định gọi mẹ, bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng sụt sịt. Hình như mẹ khóc. Tôi ngạc nhiên. Sao mẹ lại khóc? Vẫn im lặng. Một lúc sau, mẹ hỏi:


- Thế mình định bao giờ đi?

Tiếng bố khàn khàn, nặng nhọc:

- Cũng không thể nấn ná được nữa... Cô ấy sắp đến ngày sinh... Đợt này lên chắc tôi không còn được làm việc ở cơ quan nữa... Tôi cũng không còn là đảng viên... Mình với các con tha lỗi cho tôi. Tôi không thể giấu mình và các con mãi được...


Tiếng mẹ run run nhưng có vẻ đã lấy lại được sự bình tĩnh:

- Tôi xin mình đừng nói cho các con biết. Cứ để sau này chúng lớn đã... Mình nói với tôi thế là được rồi... 

Giọng nói của mẹ tắc nghẹn trong im lặng. Tôi nằm cứng đơ như khúc gỗ không phải vì mót tiểu mà vì ức lên tận cổ. Tôi đã lờ mờ đoán được chuyện gì sắp xảy ra. Thì ra, lâu nay bố không về với mẹ con tôi vì đã đi theo người đàn bà khác. Bố đã bỏ mẹ con tôi, không còn yêu thương chúng tôi vì bố sắp có một đứa con khác. Tất cả những điều tốt đẹp về bố bỗng vỡ oà trước mắt tôi. Thương mẹ bao nhiêu tôi lại căm bố bấy nhiêu. Trong tôi chợt bùng cháy dữ dội một ý nghĩ, không thể để cho ông ấy đi với người khác, không một đứa trẻ nào được làm con ông ấy nữa. Tôi phải giết ông ấy ngay đêm nay! Phải, ngay đêm nay! 


Mãi lâu tôi mới nghe thấy tiếng mở mành, chắc ai đó đã đi ra sân, tôi vờ ngái ngủ gọi: Mẹ ơi! Mẹ chạy vào. Tôi vờ nhõng nhẽo đòi đi tiểu. Mẹ vén màn cho tôi ra. Tôi không đi tiểu mà lẻn vào bếp mò mẫm mãi mới nhặt được con dao tôi vẫn dùng thái các thứ lá để chơi bán hàng. Tôi vội giắt trong cạp quần đem vào giấu dưới gối rồi đi nằm. Tôi chờ cho ông ấy ngủ sau. 


Sáng hôm sau, tôi giật mình tỉnh dậy khi nghe tiếng chị Thuý hỏi: 

- Có chuyện gì thế mẹ? Sao mắt mẹ lại sưng mọng thế kia? Nhện nó đái vào mắt mẹ à?

Tôi chạy bổ ra ngoài thấy mẹ lắc đầu cười. Mẹ nói:

- Là bố con không thể ở nhà ăn tết cùng mẹ con mình được!

- Thế bố đâu rồi, mẹ?

- Bố đã đi cho kịp chuyến tàu.

Tôi sững sờ nhìn mẹ và chưa bao giờ thấy mẹ cười mà buồn đến vậy! Chị Thuý nhìn tôi, bịt mũi cười ngặt nghẽo:

- Mẹ! Mẹ nhìn nó kìa!

Tôi vội sờ tay xuống thấy quần mình còn ẩm và có mùi khai. Tôi không cười mà bật khóc nức nở vì đã để ông ấy đi mất. Mẹ không cười nữa, kéo tôi vào lòng, bảo:

- Thôi, để mẹ lấy quần khác thay cho con rồi còn đi học chứ!

Tôi vùng vằng:

- Con không đi học nữa đâu!

Mẹ dỗ dành:

- Ấy không. Không đi học sao được! Nào chị Thuý lấy bộ quần áo khác để mẹ thay cho em rồi dẫn em đi học kẻo muộn!

Tôi gào lên:

- Không đi học! Không đi học!

Tôi giằng lấy bộ quần áo từ tay chị Thuý đưa lên miệng nhe răng cắn xé. Chị Thuý lùi lại, kêu lên:

- Mẹ ơi! Nó điên thật rồi!

Lúc ấy, tôi điên thật. Trong tay tôi không phải là bộ quần áo mà là người đàn ông ấy. Mẹ bế tôi lên vỗ về âu yếm. Tôi ôm ghì lấy cổ mẹ và tấm tức khóc. Hôm ấy, ngồi trong lớp đầu óc tôi quay cuồng. Tôi không thể cầm bút viết nổi một con chữ nào trong giờ tập viết. Người tôi nóng hầm hập. Cô giáo phải dừng giờ dạy ở lớp để đưa tôi sang trạm xá. Đợt ấy, tôi ốm đến qua tết mới khỏi. Những ngày nằm bẹp trên giường, tôi chỉ mơ thấy cầm dao đuổi theo người đàn ông ấy. 

Bẵng đi gần chục năm, tôi đã coi như quên người ấy. Trong cuộc sống của mẹ con tôi, tôi cố tìm mọi cách để không còn hình bóng gì của người ấy nữa. Tôi đã cố xoá nhoà những kỷ niệm buồn trong quá khứ. Chị Thuý đã đi làm ở phòng nông nghiệp huyện và đã có người yêu. Người yêu của chị Thuý phải công nhận là đẹp trai, có tài kể chuyện, lại rất khéo tay, làm việc gì cũng được. Chị Thuý yêu anh, ngưỡng mộ anh như thần tượng. Chị luôn thấy mình nhỏ bé trước anh. Còn tôi, tôi cứ thấy có gì gờn gợn trong ánh mắt, nụ cười của con người hào hoa ấy. 


° ° °

Nồi cơm sôi trào xuống bếp gio, tôi vội lấy que cời xâu vào quai vung xoong để mở ra cho khỏi trào. Một mùi thơm giống như hương cốm mới ngào ngạt cả gian bếp. Mùi thơm của gạo tám. Tôi bỗng nhớ đến những bữa cơm thời xa xưa, khi mà tôi còn bé tí. Những lúc ấy tôi được ngồi trong lòng người đàn ông còn trai trẻ và thoả sức thò tay bốc nhón những thứ mình thích trong mâm mà không sợ bị mẹ đánh vào tay. Mùi thơm này lâu lắm rồi tôi không được ngửi, bởi vì sức mẹ chỉ đủ nuôi chị em tôi bằng hạt gạo khô xác, nở như bông, không còn cả mùi của cám. Nhìn những hạt gạo trắng bóng cười trong nồi tôi bỗng thấy tủi thân, nước mắt giàn giụa trên má. Những giọt nước mắt xót thương cho chính ba mẹ con tôi. Đến trưa, chị Thuý đi làm về cũng ngạc nhiên, ô a kêu lên như tôi khi thấy mâm cơm thịnh soạn đặt trên bàn. Chị còn thò tay nhón một miếng thịt gà rang bày trên đĩa bỏ vào miệng vừa nhai vừa cười khúc khích khi bị mẹ mắng. Lúc biết người khách về nhà mình là ai, chị chỉ thốt lên: "Thế ư mẹ?". Hình như chị còn chạy vào nhà chào người ấy. Về sau, tôi trách chị, chị bảo: "Là tao muốn xem ông ấy bây giờ thế nào thôi". Lúc sắp cơm ra tôi mới biết, ông ấy không về một mình mà còn đem theo một đứa con trai chừng sáu bảy tuổi. Thằng bé gày gò, ngơ ngác, vẻ sợ sệt hiện rõ trên nét mặt của nó và lúc nào nó cũng nép sau lưng ông ấy. Tôi nhìn nó bằng ánh mắt căm thù. Chính nó là kẻ đã cướp mất bố của tôi. Tôi căm nó và chỉ muốn tiện chân cho nó một cú đá "thọt dái lên cổ" mới bõ hận. Sắp xong bữa, mẹ vào nhà dắt thằng bé ra giếng, lấy khăn mặt của mình rửa ráy cho nó. Thằng bé có vẻ sợ hãi cứ cúi gằm mặt nhìn xuống đất. Mẹ vừa rửa vừa tỉ tê nói với nó điều gì đó như dỗ dành. Tôi đi ra giếng định sẽ cho nó một câu gì để bõ tức, nhưng gặp ánh mắt đau đáu như van xin của mẹ nhìn tôi nên lại thôi. Mẹ vén ống quần của thằng bé lên. Khiếp, chân với cẳng gì mà như hai cái ống nứa tép. Tôi chỉ gạt mạnh một cái là gãy. Những ngón tay mẹ nhè nhẹ kỳ vết đất bám quanh cổ chân thằng bé đầy vẻ xót xa. Ngày xưa, mẹ cũng kỳ cọ chân cho tôi như vậy. Sao bây giờ mẹ lại cũng rửa chân cho thằng bé như đã rửa cho tôi? Mẹ đang san sẻ tình thương của tôi sang cho nó. Cho cái thằng đã cướp mất bố của tôi. Uất ức tôi huỳnh huỵch chạy vào trong bếp. 


Bữa trưa hôm ấy tôi định không ăn cùng mọi người. Tôi kêu đau bụng. Mẹ năn nỉ mãi tôi mới miễn cưỡng ngồi xuống góc chiếu. Mẹ xới cơm cho cả nhà, ân cần giục mọi người ăn cho nóng. Tôi để ý thấy mẹ vẫn điềm đạm như mọi ngày. Mẹ với tay sang phía bên kia mâm lấy chai rượu rót ra chén nâng bằng cả hai tay đặt xuống trước mặt ông ấy. Đã lâu lắm trong nhà tôi mới có hơi rượu cay nồng ngào ngạt trong bữa ăn. Mẹ gắp cái đầu gà luộc đặt vào bát cho ông ấy rồi giục khẽ: 


- Mình uống rượu đi! Rượu nhà nấu đấy mà. Mình uống thử xem có ngon không?

Chị Thuý thật thà:

- Lâu lắm rồi mẹ chỉ nấu rượu để bán mà không để lại chai nào.

Tôi không cần giữ ý, sẵng giọng:

- Để lại cho ai uống mà để! 

Ông ấy vừa nhấc chén rượu lên lại run run đặt xuống mâm. Hình như ông ấy khóc. Khóc mà không hề có nước mắt chảy ra như tôi vẫn khóc. Làm như không có chuyện gì, mẹ đưa tay đón thằng bé đang ngồi nép cạnh ông ấy sang để cho nó ngồi vào lòng mình, xé thịt gà cho nó ăn. Thằng bé muốn chết ngẹn nhưng thi thoảng nó vẫn liếc nhìn tôi đầy vẻ sợ sệt. Mỗi lần thấy nó nhìn mình, tôi lại trợn mắt thầm dọa: "Đợi đấy, rồi tao sẽ cho mày biết tay!". Thằng bé vẫn lén nhìn trộm tôi và vẫn nuốt vội những miếng thịt gà to tướng. Chắc lâu lắm nó mới được ăn bữa cơm như thế này. Nó có biết đâu rằng chị em tôi cũng không hơn gì nó. 


Hôm sau, lúc ngồi xem mẹ cất rượu, tôi hỏi:

- Bao giờ ông ấy đi, mẹ?

- Cũng lâu lâu, con ạ!

Tôi giận dỗi:

- Giữ ông ấy lại làm gì? Đây không còn là nhà của ông ấy nữa!

Mẹ giận dữ vung tay mạnh về phía tôi. Tôi nhắm mắt chờ đội một cái tát nhưng mẹ lại buông thõng bàn tay xuống và ghé mắt vào cửa bếp thổi lửa. Tôi đứng dậy ấm ức bỏ ra ngoài. Nếu tôi là mẹ, tôi đã kéo chà rào rấp ngõ từ lâu. Đằng này... Tự nhiên, từ thương mẹ, tôi đâm giận lây cả mẹ. Chị Thuý thì cứ vô tư vùi đầu vào công việc và say mê với tình yêu của mình để mặc cho mỗi mình tôi với nỗi ấm ức không có cách nào giải toả. Ông ấy thì hầu như suốt ngày chỉ quanh quẩn ở trong nhà, thằng bé cứ bám riết lấy ông ấy như con chó trung thành với chủ. Nó luôn nhìn mọi người với con mắt sợ sệt. Mẹ lúc nào cũng ngọt ngào với nó mà nó có vẻ vẫn sợ. Còn tôi, chỉ chờ dịp là tìm cách hăm doạ nó, chí ít là tôi cũng trợn mắt lên. Có lần tôi vờ vô ý dẫm chân lên nó. Nó đau đến chảy nước mắt mà không dám hé răng kêu một tiếng. Nhưng thực ra tôi cũng chẳng khoái gì với việc đó. Ánh mắt của thằng bé và sự lặng lẽ của ông ấy chỉ làm tôi cảm thấy nặng nề thêm. Tôi thấy mình cô đơn ngay trong nhà mình. Tôi nhìn ai cũng với vẻ cảnh giác, xa lạ. Gặp ánh mắt say đắm của ông anh rể tương lai nhìn chị Thuý, tôi cũng thấy đằng sau đó có ẩn chứa một điều gì đó đầy sự bất trắc. Dì Xuyến thì mãi vẫn không lấy chồng làm cho bà ngoại lo lắng đến phát bệnh. Bà mắng, dì cười trừ nói là sợ đàn ông. Tôi thì không sợ mà tôi ghét, tôi hận họ. 


Chiều thứ bảy, tan học, tôi tìm đến chỗ dì Xuyến làm. Tôi ở với dì suốt ngày chủ nhật và xin dì cho tôi ở với dì ít hôm. Dì phải nhờ người nhắn về nhà cho mẹ khỏi lo. Dì còn hứa cho tôi mượn xe đạp để đi học. Tôi hỏi dì bao nhiêu là chuyện. Chỉ riêng chuyện về ông ấy là tôi tránh. Là người tế nhị, dì cũng không hề đả động đến chuyện trở về của ông ấy, chuyện mà cả làng tôi ở chỗ nào cũng thấy người ta xì xào bàn tán. Từ chỗ dì Xuyến làm đến trường học của tôi cách khoảng sáu bảy cây số. Dì Xuyến bảo nếu tôi đủ sức đạp xe hơn chục cây số đi về mỗi ngày thì tôi có thể muốn ở với dì bao lâu cũng được, dì sẽ xin mẹ cho. Tôi ôm lấy cổ dì. Dì đẩy tôi ra, dí ngón tay vào trán tôi, mắng: "Còn bé lắm đấy!". Tôi cười, dụi mặt vào ngực dì. Tôi thấy mùi dì cũng thơm như mùi mẹ. Tối tối, tôi ngồi học bài, bên cạnh dì Xuyến ngồi loay hoay may vá. Tôi khoái chí nghĩ, không lấy chồng như dì Xuyến lại hoá hay. Sau này, tôi cũng sẽ sống như dì Xuyến. Có tôi, dì có vẻ vui hơn. Lúc rảnh rỗi hai dì cháu tôi lại kéo nhau đi chợ, dù đi chả để mua sắm thứ gì. Tôi cũng nguôi dần chuyện ông ấy nên hàng tháng liền dì cháu tôi không nghĩ đến chuyện về nhà. Tôi lại chuyên tâm cho việc học và thi thoảng lại có thể khe khẽ cất lên những câu hát vu vơ. 


Một hôm đi học về, tôi thấy mảnh giấy để trên bàn. Dì Xuyến dặn: "Cơm trong chạn, cháu cứ ăn rồi học bài. Dì có việc về qua nhà. Tối sẽ lên!". Đọc xong, tự dưng tôi thấy nao nao. Tôi nhớ mẹ. Tôi chẳng muốn ăn cơm, cũng chẳng muốn học bài. Suốt buổi chỉ ngồi bó gối ngóng ra đường chờ dì Xuyến. Tôi chờ mãi đến quá giờ cơm chiều dì Xuyến mới về. Hai dì cháu tôi hâm lại cơm nguội và ngồi ăn với nhau không một chút hào hứng. Tối hôm ấy, không hiểu sao tôi học mãi mà chẳng thuộc được chữ nào. Ngồi bên cạnh, dì Xuyến cứ mải làm cái gì đó như chẳng hề có tôi tồn tại trong phòng. Không hiểu ở nhà có chuyện gì không mà từ lúc về đến giờ dì chẳng nói với tôi một câu làm tôi đoán già đoán non mãi. Cuối cùng, tôi đành hỏi: 


- Ở nhà có chuyện gì không hở dì?

Không ngẩng lên, dì hỏi lại:

- Chuyện gì là làm sao?

- Là bà ngoại, ông bà nội cháu, mẹ cháu có khoẻ cả không?

- Khoẻ.

- Chị Thuý có hay về không?

- Có.

Như những câu hỏi của tôi không làm dì bận tâm nên dì vẫn cắm cúi với công việc của mình. Hồi lâu, tôi lại hỏi:

- Dì, mẹ không nhắn gì cháu sao?

- Có đấy! - Dì đáp.

Tôi ngạc nhiên:

- Sao dì không nói với cháu?

Dì Xuyến chậm rãi:

- Nhưng cháu không muốn nghe điều này.

- Sao dì biết?

- À, vì cháu đã không thích ở nhà mà lên đây với dì. 

Tôi hiểu và im lặng. Dì Xuyến cũng im lặng. Tôi vờ như không quan tâm đến điều đó nên cúi đầu xuống trang vở nhưng rồi mãi cũng chẳng có chữ nào đọng lại trong đầu. Tôi chỉ nghe tiếng con mọt nghiến kèn kẹt trong một cái chân giường phía sát tường. Chắc con mọt này đã già lắm rồi nên tiếng nghiến gỗ rời rạc đứt ra thành từng đoạn ngắn, lúc to, lúc nhỏ. Tôi có cảm giác tiếng con mọt cứ chậm rãi, nhẫn nại nghiến tôi đứt dần ra từng đoạn làm tôi phải vén áo của mình lên xem. Cứ mãi như vậy, tôi không thể chịu nổi.


- Cháu muốn nghe, dì Xuyến ạ!

Dì Xuyến đến ngồi cạnh tôi, khe khẽ thở dài:

- Bố cháu, à ông ấy đang ốm. Nặng lắm! Chắc khó qua khỏi. Mẹ cháu muốn cháu về...

Dì chỉ nói vậy và đặt tay lên vai tôi bóp nhẹ rồi đứng dậy đi ra ngoài để lại tôi ngồi một mình với những con chữ nhảy múa lung tung trên trang vở. 

Ông ấy ốm! Làm sao mà ốm! Lại còn chắc khó qua khỏi! Nghĩa là ông ấy đang phải cận kề bên cái chết. Ngay từ hôm về, ông ấy trông lọm khọm như người sáu bảy mươi tuổi, da dẻ lúc nào cũng vàng ệch như xát nghệ. Mẹ chăm mãi cũng chỉ có mỗi thằng bé là phổng phao lên được tí chút. Nó đã gần chín tuổi mà trông không bằng con người ta lên năm, lên sáu. Sao mà tôi ghét nó thế! Cho dù chưa lúc nào nó dám nhìn thẳng vào tôi. Đêm nằm cạnh dì Xuyến, tôi hỏi:


- Mẹ thằng bé có về không?

- Nó không còn mẹ! Nó chẳng có cậu, cũng chẳng có dì và cũng không còn ông bà ngoại...

Tôi bỗng thấy lạnh toát một bên người. 

Hôm sau, tôi dạy sớm gói ghém bộ quần áo cho vào túi. Dì Xuyến lấy xe đạp lai tôi về. Nhà tôi có đông người qua lại. Tôi len lén lách moi người vào trong nhà sao cho không ai để ý đến sự có mặt của mình. Mẹ đang ngồi cạnh giường bón cho người ốm thìa nước cháo. Thằng bé đứng ở phía cuối giường. Nó như cũng đang cố thu nhỏ người lại. Thấy tôi vào, nó từ từ ngồi nép xuống đất như lẩn trốn. Người ốm chợt nhìn thấy tôi. Lần đầu tiên kể từ hôm ông ấy về, tôi nhìn thẳng vào mặt ông ấy với ánh mắt không giận dữ. Một vẻ gì bỗng bừng lên làm rạng rỡ gương mặt u tối, người ốm cố vươn cánh tay về phía tôi, nặng nhọc nói từng lời rời rạc:


- Thanh... con... tha... lỗi... cho... bố... 

Nước mắt tôi bỗng túa ra. Người ốm vẫn nhìn tôi như cầu khẩn. Tôi khẽ gật đầu. Người ốm ngả hẳn đầu xuống gối, miệng hơi nhếch lên như mỉm cười rồi từ từ nhắm mắt. Ai đó kêu lên: "Thôi, ông ấy đi rồi!". Mẹ như đổ gục xuống cạnh giường. Thằng bé vụt qua mặt tôi, chồm lên giường ôm chặt lấy người ốm. Không ai nghe thấy tiếng nó khóc. Không ai giằng được nó ra khỏi giường. Một phút sững sờ, tôi bổ đến, ôm ghì lấy nó. Thằng bé bỗng quay hẳn người lại, rúc mặt vào ngực tôi. Nó khóc. Tiếng "Bố!" nghẹn đắng trong cổ tôi không sao thoát ra được. 


° ° °

Sau đấy, mẹ vẫn lầm lụi sống nuôi ba chị em tôi. Thằng bé bắt đầu đi học. Về nhà, tôi dạy kèm cho nó để đuổi kịp bọn trẻ cùng tuổi. Tối đến, tôi rửa chân tay cho nó. Nó tin cậy chìa bàn chân ra cho tôi mà không sợ tôi bẻ gãy. Càng ngày, tôi càng thấy gắn bó với nó và nó cũng dần dần sống cởi mở với mọi người. 


Dù muộn màng nhưng rồi dì Xuyến cũng lấy chồng. Chồng dì là một bác bộ đội trong ngày 22-12 hàng năm có huân huy chương đeo nặng cả ngực áo. Hình như dì chờ người ấy vì đấy không phải là ai xa lạ mà chính là bác Đông cùng làng. Chẳng hiểu bác là gì mà đi biền biệt mãi đến bây giờ mới về làng để làm đám cưới.


Tôi hỏi dì Xuyến:

- Sao người ta lại cứ phải lấy chồng, dì nhỉ?

Ôm ngang lưng tôi, dì Xuyến thở dài:

- Phận đàn bà, con ạ! 

 

HOÀNG PHƯƠNG NHÂM

Nguồn: Thơ Văn Trần Yên Hoà



Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

BÀN VỀ LOGO ĐÀ NẴNG - HỒ TỊNH


Có thể là đồ họa về văn bản cho biết 'ĐA NĂNG'


 BÀN VỀ LOGO ĐÀ NẴNG

Logo hiện nay của thành phố Đà Nẵng được xây dựng với hai hình tượng chủ đạo là Ngũ Hành Sơn và cầu sông Hàn trên nền sông - biển.
Trải qua nhiều năm sử dụng, biểu trưng này đã trở nên quen thuộc trong các hoạt động đối nội, đối ngoại cũng như công tác quảng bá hình ảnh địa phương. Dù vẫn còn những ý kiến khác nhau về tính khái quát và khả năng đại diện cho một đô thị đang phát triển mạnh mẽ, có thể khẳng định rằng đây vẫn là một trong những thiết kế có giá trị biểu tượng cao và cho đến nay chưa có phương án nào thực sự vượt trội để thay thế.
Trước hết, hình tượng Ngũ Hành Sơn trong logo không đơn thuần là biểu tượng riêng của thành phố Đà Nẵng theo địa giới hành chính cũ. Xét trên bình diện lịch sử và văn hóa, Ngũ Hành Sơn từ lâu đã là một biểu tượng thiên nhiên – văn hóa của toàn xứ Quảng. Danh thắng này gắn với lịch sử hình thành vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng, với giá trị đăc biệt về địa chất, địa mạo; nhiều lớp trầm tích văn hóa kéo dài qua nhiều thế kỷ, từ thời Sa Huỳnh, Champa đến Đại Việt; hệ thống hang động, làng nghề đá mỹ nghệ, tín ngưỡng dân gian. Chính vì vậy, việc đưa Ngũ Hành Sơn vào logo không chỉ nhằm nhận diện một địa danh cụ thể mà còn thể hiện chiều sâu lịch sử, văn hóa và bản sắc của cả không gian văn hóa xứ Quảng – vùng đất mà Đà Nẵng cũ là một bộ phận quan trọng trong tiến trình phát triển.
Nếu Ngũ Hành Sơn đại diện cho chiều sâu truyền thống thì cầu sông Hàn lại biểu trưng cho khát vọng vươn lên của một đô thị hiện đại. Đây là cây cầu đầu tiên được xây dựng trong thời kỳ đổi mới bằng nội lực của chính quyền và nhân dân thành phố. Sự ra đời của cầu sông Hàn không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông mà còn mở ra một giai đoạn phát triển mới của Đà Nẵng, đánh dấu bước chuyển mình từ một đô thị ven biển còn nhiều khó khăn trở thành thành phố năng động, hiện đại và hội nhập. Vì vậy, hình ảnh cây cầu trong logo mang ý nghĩa vượt lên trên giá trị kiến trúc đơn thuần; đó là biểu tượng của ý chí đổi mới, tinh thần sáng tạo và niềm tin vào tương lai.
Dĩ nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan rằng logo hiện nay chưa phải là một thiết kế hoàn hảo. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, mặc dù đã có không ít phương án logo mới được giới thiệu, vẫn chưa có mẫu thiết kế nào tạo được sự đồng thuận cao hoặc thể hiện sức thuyết phục đủ lớn để có thể sánh ngang, chứ chưa nói đến vượt qua giá trị biểu tượng của logo hiện tại.
Một biểu trưng đô thị không chỉ được đánh giá qua tính thẩm mỹ của thiết kế mà còn ở khả năng tích hợp giá trị lịch sử - văn hóa của một vùng đất. Với ý nghĩa lịch sử, văn hóa và tinh thần mà hai hình tượng Ngũ Hành Sơn và cầu sông Hàn trên nền sông – biển đã chuyển tải, logo hiện nay vẫn là dấu ấn nhận diện có sức sống lâu dài của thành phố Đà Nẵng.
Dưới góc độ xây dựng thương hiệu đô thị, một logo không đơn thuần là sản phẩm của mỹ thuật ứng dụng mà còn là tài sản thương hiệu được hình thành và tích lũy qua thời gian. Giá trị của một biểu trưng không chỉ nằm ở hình thức tạo hình mà còn ở mức độ nhận diện, sự ghi nhớ của công chúng và những ý nghĩa lịch sử, văn hóa trong logo đó. Qua quá trình sử dụng lâu dài, logo Đà Nẵng cũ dần trở thành một phần trong bản sắc của đô thị, gắn với hình ảnh, uy tín và vị thế của địa phương trong nhận thức của người dân, du khách cũng như các đối tác trong và ngoài nước.
Vì vậy, việc thay đổi một logo đã được xã hội chấp nhận không nên chỉ xuất phát từ nhu cầu làm mới về mặt thẩm mỹ. Một biểu trưng mới chỉ thực sự có ý nghĩa khi sở hữu giá trị biểu đạt vượt trội, phản ánh đầy đủ hơn tầm nhìn phát triển của đô thị và, quan trọng hơn, nhận được sự đồng thuận rộng rãi của cộng đồng – chủ thể trực tiếp kiến tạo và gìn giữ thương hiệu của thành phố


HỒ XUÂN TỊNH

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ CUỐI NĂM - NGUYỄN THỊ CHÂU GIANG



NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẸP | Tin tuc CẬP NHẬT , nguoi dan ba dep | Báo Người lao động


NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ CUỐI NĂM


 Phòng bếp nhỏ, sực nức mùi bơ rán, mùi cá chiên và thức ăn lạnh ủ lâu ngày. Trong những căn hộ nhỏ cho thuê, không khí không có lối thoát, nhất là vào mùa đông, các cửa đều đóng kín, nên mùi thức ăn cứ bay luẩn quẩn, chui rúc trong những góc tối của căn phòng.

 <!>

Cửa ra vào treo một vòng hoa nhỏ bằng vỏ bào. Tủ kính kê sát tường xếp đủ loại chai lọ lỉnh kỉnh bằng thủy tinh. Bốn người đàn bà quây quanh chiếc bàn gỗ đánh bài. Tiền lẻ quăng vung vãi trên bàn nhưng vẫn chia ra thành bốn tụ. Người đàn bà thứ năm ngồi đan áo hoặc là một chiếc khăn choàng màu lông chuột bên cạnh cửa sổ trông ra đường. Bên ngoài tuyết phủ trắng xóa và bầu trời xanh xám với những cụm mây nhỏ màu chì. Ánh mặt trời chiếu xuyên qua những tảng băng bám dầy trên cây làm chúng trở nên trong suốt như pha lê. Không một bóng người. Động vật sống duy nhất lúc đó là bầy quạ đen gục đầu ủ rũ như những chiếc lá khô khổng lồ còn níu lại được trên những cành khẳng khiu đâm ngang qua ô cửa. 

Trong phòng chỉ nghe thấy tiếng máy sưởi chạy o o và tiếng rên của chiếc tủ lạnh khi khởi động lại máy. Thỉnh thoảng nghe tiếng đập bài đánh xoạch xuống mặt bàn. Tiếng ho khan, tiếng xuýt xoa và tiếng cười vang sung sướng. Người đàn bà mặc chiếc áo len cổ lọ màu vàng đề nghị, bật nhạc lên nhé. Nhạc gì cũng được. Nhưng phải là nhạc Việt Nam. Người đàn bà đeo chiếc băng đô đỏ với tay bật cassette. Tiếng hát Tuấn Ngọc vang lên, giống như vẳng ra từ trần nhà dán giấy hoa tím nhạt. "Em còn nhớ hay em đã quên… Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng…". Tao không thể chịu được giọng của Tuấn Ngọc. Vì nó đàn ông quá. Những người có tính cách quá đàn ông thường làm phụ nữ khổ. Người đàn bà có đôi mắt cắt mí kẻ chì đen đậm theo phong cách những năm sáu mươi, bảy mươi bảo. Khi hát bài này, nó làm tim tao đau nhói. Cuộc sống ở đây cuốn mình đi. Tao có cảm giác mình đã quên dần Sài Gòn. Người đàn bà mặc chiếc áo lót đen để trễ nải qua cổ áo hình trái tim xẻ rộng đưa tay kéo lại dây áo lót vào phía khuất trong áo, khóe miệng trễ xuống hình dấu ớ. Chị lặng lẽ xốc lại bài và chia đều ra thành bốn tụ. Có ai uống cà phê không? Người đàn bà đeo băng đô đứng lên. Chị có thân hình to cao. Bộ ngực vồng lên làm chật căng chiếc áo thun hoa đen trắng. Giờ này trong công sở tao phải uống một ly cho tỉnh ngủ. Không biết bao giờ mới hết tình trạng thiếu ngủ như thế này. Đấy là một đòi hỏi quá cao ở nước Mỹ. Người đàn bà đeo vòng cẩm thạch ở cần cổ trắng, cao nhưng đã có những nếp da bắt đầu xếp lên nhau ngồi bên cửa sổ vừa đan vừa góp chuyện. Nhà chỉ có cà phê Mỹ thôi. Ở trong tủ gỗ đó. Người đàn bà đeo băng đô đỏ nói, vậy cũng được. Tao đã quen với vị cà phê Mỹ rồi. Hai mươi mấy năm đủ làm tao quen với tất cả mọi thứ. Chị lui hui pha cà phê rồi bưng chiếc bình nghi ngút khói lại. Miệng bình chạm vào thành ly sứ lanh canh. Một chất nước nâu lờ nhờ chảy ra. Loãng và gần như không mùi thơm ngoài vị đắng, hăng hắc. Chị uống không đường, không sữa. Không ai uống cà phê với chị. Người đàn bà mặc áo lót đen uống sữa tươi. Những người khác uống nước cam đóng hộp lấy từ tủ lạnh ra. Hơi lạnh làm thành ly mờ đục như phủ khói. Người đàn bà đan áo hỏi, có muốn ăn gì không? Người đàn bà có đôi mắt cắt mí trả lời, thôi. Để bụng đến giao thừa. Chỉ còn có vài giờ đồng hồ nữa.

Con chim gỗ gõ vào khúc cây chín tiếng. Bão tuyết lồng lộn ngoài ô cửa, tạo thành những cuộn lốc màu trắng với những đám bụi mờ mịt. Mặt trời khuất đâu đó sau những rừng cây trụi lá. Trời vẫn sáng. Một thứ ánh sáng lạnh lẽo màu xám buồn. Những con quạ đen cuối cùng đã bay đi. Khắp nơi phủ màu trắng xóa. Cả đến bầu trời xám cũng đã chuyển dần sang màu trắng đục. Có bóng một chiếc áo khoác da nâu di chuyển dần về hướng ô cửa người đàn bà đan áo đang ngồi. Chị hơi nhỏm người lên. Cánh tay tỳ lên bậu cửa nổi rõ những sợi gân xanh. Bóng áo khoác nâu khuất dần.

Có tiếng gõ cửa. Lúc đầu nhỏ sau to lên dần. Chùm chuông trên cửa kêu những tiếng trong veo. "Có khách" Những người đàn bà bỏ bài xuống chờ đợi. Người đàn bà đan áo lẩm bẩm, có thể là con bé Vi. Nó luôn luôn quên chìa khóa ở đâu đó. Chị đứng dậy nhưng không để ý cuộn len đang nằm trong lòng. Nó lăn xuống, chạy dài dưới đất. Con mèo con như một cuộn lông tơ vàng từ góc nhà nhảy xồ ra, hất tung cuộn len lên trời. Người đàn bà cẩn thận nhìn qua lỗ nhỏ trên cánh cửa rồi mở cửa. Giá lạnh ùa vào cùng với người lạ, mang theo hơi ẩm ướt và mùi vị nhàn nhạt của tuyết và gió. Người đàn bà khẽ kêu lên một tiếng nhỏ nhưng vẫn đứng yên. Bốn người đàn bà ngồi ở bàn quay lại, nhìn người lạ dò xét. Người lạ gật đầu chào, lúng túng không biết nên cởi giày hay không. Sàn trải thảm nhung nâu đất viền hoa vàng rất đẹp và sạch sẽ. Cũng không biết đặt áo măng tô ở đâu vì không có móc ở trên tường. Người lạ nhìn quanh, rụt rè bảo, ở ngoài lạnh quá. Cháu muốn gặp mẹ của Vivian. Có cô ấy ở đây không ạ?

Là tôi đây. Người đàn bà đan áo trả lời. Lúc này chị mới nhìn rõ người lạ. Một cậu thanh niên chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi. Da trắng, mũi thẳng. Tóc cắt bàn đinh, phía trước hơi nhuộm vàng để lộ vầng trán cao rộng và đôi mắt một mí xếch dài. Đôi môi mỏng khi cười kéo thành hai sợi chỉ nhưng trở nên duyên dáng nhờ lúm đồng tiền ở bên má trái. Trông cậu giống một người Triều Tiên hơn là một người Việt Nam. Và giống hệt một người…Nghĩ đến đấy tim chị nhói đau. Chị trấn tĩnh lại hỏi, xin lỗi, cậu là ai? Cháu là bạn của Vivian. Cháu tên Tường. Chị đưa tay lên xoa mặt. Chị hỏi, họ của cháu là gì? Thế con bé không về à? Họ của cháu là Nguyễn. Nguyễn Xuân Tường. Vivian không báo gì cho cô biết sao? Người đàn bà đan áo kín đáo thở một hơi dài. Người ấy họ Kim kia. Một cái họ đặc biệt chẳng thể lẫn được với ai. Mà mình sao lạ. Nhớ nhung chuyện đó để làm gì. Hai mươi mấy năm rồi. Trong khi đó người lạ vẫn tiếp tục nói, bằng một thứ tiếng Việt không sõi, Vivian không về được vì không xin phép nghỉ được ở công ty. Cô ấy nhờ cháu mang cái này, à mang cái quà này tới cho cô. Người đàn bà đan áo kéo cậu vào phòng khách, đặt cậu ngồi trên chiếc sô pha ấm áp, rót cho cậu một ly cà phê và bảo, Vi có nói với tôi là nó sẽ cố gắng về. Bảy năm rồi nó không đón Tết ở nhà. Vậy mà…Những tháng đầu năm này công ty có nhiều việc lắm. Người lạ đổi tư thế ngồi cho thoải mái hơn. Chúng cháu không thể nghỉ được. Không thì là bị mất việc thôi. Cậu quay mặt đi, đưa tay che miệng ngáp. Rồi cười ngượng nghịu, năm hôm nay cháu thức trắng đêm. Lại phải lái xe từ New York về đây nên mệt quá. Người đàn bà hỏi, thế cháu ở chơi với cô được lâu không? Cậu bảo, tý nữa cháu có hẹn làm việc với khách hàng và lại che miệng ngáp. Người đàn bà đan áo đứng dậy bảo, thôi được rồi, để cô đi làm chút gì nóng cho cháu ăn đã. Chị quay trở lại bếp. Khi đến cửa, chị ngoái nhìn lại. Tường đã ngủ. Đầu ngoẹo sang một bên. Cái cà vạt lụa in hoa sặc sỡ buông thõng thượt trên ngực áo. Tim chị lại nhói đau. Chị bảo, sao mà có người giống người làm vậy.

Trong bếp những người đàn bà vẫn đang chơi bài. Người đàn bà mặc áo cổ lọ hỏi, ai thế? Người đàn bà đan áo trả lời, bạn của con bé Vi. Vậy là cả cái Tết này nữa, nó cũng không về. Tội nghiệp thằng bé, đi cả một đoạn đường dài, chưa kịp ăn uống gì đã ngủ mất.

Chà, con bé Vi dạo này thế nào rồi nhỉ? Người đàn bà có đôi mắt cắt mí nói, quay qua quay lại đã gần chục năm không gặp nó. Cô nàng chắc giờ khác lắm. Nó ngày càng xinh đẹp, người đàn bà đan áo nói, và giờ thì quên tiếng Việt nhiều lắm rồi. Gọi điện về cho mẹ chỉ toàn nói tiếng Anh. Mình cũng dở, hồi đó cứ sợ nó không hòa nhập được với xã hội Mỹ nên không chú tâm vào việc cho nó học tiếng Việt. Chuyện bình thường thôi. Người đàn bà đeo băng đô đỏ nói. Lũ trẻ bây giờ là vậy. Mà nó phải là vậy. Sống ở Mỹ, làm việc với Mỹ, cái gì cũng dính Mỹ hết. Hỏi làm sao nó không quên dần tiếng Việt được. Thì biết là thế. Người đàn bà đan áo miết những ngón tay thon dài lên cạnh bàn, nhưng vẫn cứ buồn. Tất cả những ngày lễ Tết dân tộc chúng nó chẳng còn quan tâm để ý đến nữa. Chúng nó cứ lấy công việc bận rộn ra mà bào chữa. Thật ra thì chỉ vì chúng mình già rồi chúng mình mới nghĩ thế. Người đàn bà mặc áo cổ lọ nói. Khi già người ta mới thấy cái gốc quan trọng thế nào. Người ta mới thấy cần quê hương đến mức nào. Bọn trẻ bây giờ, việc sống để tồn tại trên đất Mỹ này đã đủ để choán hết thời gian và suy nghĩ của chúng rồi. Quan trọng là cái lòng mình thôi, chứ thái độ bên ngoài đâu có chắc là thật đâu. Người đàn bà mặc áo lót đen lại đưa tay sửa lại áo nói. Hôm vừa rồi bà chị tao ở Việt Nam về mang theo mấy tờ báo trong đó viết về giới trẻ với việc bảo tồn bảo tàng văn hóa dân tộc. Cứ gì nước Mỹ mà ngay cả ở quê mình, không thiếu những đám thanh niên vọng ngoại. Chúng vẫn chơi suốt những ngày lễ, nhưng ý nghĩa của mấy ngày lễ đó thì chúng hoàn toàn mờ tịt. Thế thì có được gì đâu. Chị lại khẳng định lại một lần nữa. Cho nên tao nghĩ cái chính là ở lòng mình. Chị đứng dậy xoa tay vào bụng, vặn người. Những khớp xương kêu răng rắc. Mười giờ rồi, chuẩn bị là vừa thôi. Người đàn bà đeo băng đô đỏ cũng đứng dậy, mở tủ lạnh. Trong tủ lạnh, đồ ăn chất đầy ngất. Người đàn bà mặc áo lót đen tiếp tục. Nếu tụi mình không gặp mặt ngày hôm nay, thì cũng chẳng có ngày Tết nào cả. Hai thằng con với ông xã đều phải đi làm, thậm chí chúng nó đi đến khuya mới về. Ăn bậy bạ vài thứ rồi lăn quay ra ngủ. Này, cái con gà này định làm món gì? Xé phay nhé. Tao nhớ hồi ở nhà Tết mình hay mua con gà trống bẻ chân bẻ cánh, gắn hoa huệ ở trên mỏ nó để cúng ông bà. Cái dáng của con gà sao đẹp quá thế. Rồi lúc cúng xong thì đem xuống chặt miếng chấm muối tiêu chanh ăn với lá chanh sắt sợi. Thịt nó ngọt và dai. Chứ không bở như gà Mỹ thế này. 

Ở ngoài phòng khách có tiếng động. Người đàn bà đan áo rời khỏi chỗ, có lẽ thằng bé đã dậy. Các cậu muốn làm món gì thì làm. Mọi thứ có sẵn hết rồi. Người đàn bà có đôi mắt cắt mí giở gương chải lại tóc, bảo, nhớ nói cậu ấy ở lại chơi nhé.

Tường đã dậy, loay hoay sửa lại chiếc cà vạt. Người đàn bà đan áo bước vào bảo, cháu thôi không ngủ nữa à? Tường trả lời, mắt sốt ruột nhìn đồng hồ. Cháu ngủ quên mất. Cháu phải đi bây giờ đây, không lại muộn hết việc. Thế cháu không ở chơi với cô được sao? Đôi mắt chị thoáng vẻ thất vọng. Các dì ấy đang chuẩn bị một vài món đón năm mới. Năm mới? Tường trợn mắt. Chẳng phải năm mới đã qua hơn một tháng nay rồi. Chị đưa tay lên xoa mặt, mỗi khi xúc động chị lại có thói quen đưa tay lên xoa mặt , không, là năm mới theo Tết âm lịch kia. Oh really, Tường đập tay vào trán. Cháu tệ thật. Hóa ra hôm nay là năm mới của Việt Nam. Cháu tiếc quá. Nhưng cháu phải đi thôi. Cậu chỉ gói quà đặt trên bàn, là của Vivian gửi cho cô. Cháu cũng chẳng biết đấy là cái gì nữa. Nhưng cô ấy dặn phải cẩn thận ghê lắm. Thôi cháu đi cô nhé. Cháu rất vui khi được gặp cô. Cô đẹp hơn cháu tưởng nhiều. Tường bước tới, choàng tay ôm người đàn bà. Chị thấy xúc động. Vì sự có mặt của chàng trai trẻ này trong nhà vào một ngày cuối năm. Nó nhắc chị nhớ đến mối tình đầu và nhớ đến con bé Vi yêu thương. Nửa năm rồi cô không gặp Vi, chị hỏi, nó vẫn khỏe chứ cháu? Tường bảo, Vivian vẫn khỏe. Và nhắc đến cô luôn.

Họ đi ra cửa. Đi ngang qua nhà bếp, chỗ những người đàn bà đang nhộn nhịp nấu ăn. Người đàn bà đan áo bảo, Tường bận việc phải đi. Tường cười, gật đầu chào từ biệt. Người đàn bà mặc áo lót đen bảo, nửa đùa nửa thật, không thể ở lại được à? Chúng tôi nấu để thết đãi cậu đây. Bây giờ cậu đi thì ai ăn hết chỗ thức ăn này chứ? Tường cười bối rối. Sao con trai mà hiền thế, người đàn bà có đôi mắt cắt mí cũng cười, hiền thế thì sao đủ tiêu chuẩn làm bodyguard cho cháu gái tôi được. Mọi người bật cười làm Tường đỏ mặt. Người đàn bà đan áo bảo, thôi đi các bà. Để cháu nó đi không muộn việc. Hai người ra đến cửa còn nghe tiếng cười và giọng nói cố đuổi theo họ, chưa gì mà đã bênh chăm chặp con rể tương lai rồi. Người đàn bà mở cửa, lại hỏi, cháu họ gì nhỉ. Tường trả lời, vẻ hơi ngạc nhiên, cháu họ Nguyễn. Nguyễn Xuân Tường cô ạ. Người đàn bà lầm bầm, thế mà nó chẳng nói gì trước với mình cả. Cái con bé Vi này.

Cánh cửa gỗ khép lại. Tấm bảng mica khắc dòng chữ "Hãy đến và đi với nụ cười hạnh phúc" màu hồng rung lên nhè nhẹ rồi đứng yên trở lại. Người đàn bà đan áo quay trở lại ô cửa sổ, dõi mắt nhìn xuống đường. Tường đang đi xiên xẹo dưới sân vì tuyết rơi khá dầy. Một lúc thì khuất sau lưng tòa nhà. Từ đó một chiếc xe Civic màu đen, trần bám đầy tuyết lao vụt ra. Đôi mắt với những sợi lông mi dài của người đàn bà khép lại ."Ngoài kia tuyết rơi đầy. Sao anh không đến bên em chiều nay. Ngoài kia tuyết rơi rơi. Trong buốt giá tim em lẻ loi…" Giọng ca khàn của cô ca sỹ già văng vẳng trong lòng chị. Chị bảo, mọi người có thấy nó giống Hoàng không. Đấy là tại lòng mày thôi. Người đàn bà mặc áo lót đen nói, chứ nó có giống Hoàng chút nào đâu. 

Những người đàn bà bắt đầu dọn bàn ăn. Chỉ có năm người nhưng họ bày biện đủ các món. Tất cả đều là những món đông lạnh mua sẵn ngoài cửa tiệm Việt Nam. Về nhà, bỏ vào lò vi ba, năm phút sau là xong. Cũng khói bay nghi ngút. Nhưng hương vị nhạt hơn nhiều.

Mọi người vào phòng thay đồ. Người đàn bà đan áo mặc áo dài nâu. Người đàn bà đeo băng đô đỏ mặc áo dài màu thiên thanh hoa vàng. Người đàn bà mặc áo lót đen bận áo dài xám. Người đàn bà có đôi mắt cắt mí mặc áo gấm đỏ. Ngưới đàn bà bận áo cổ lọ mặc áo nhung đen in mờ những chiếc lá hình trái tim. Trông họ nghiêm trang và trở về với đúng tuổi của mình.

Người đàn bà đan áo bảo, kéo rèm lại nhé. Người đàn bà đeo băng đô đỏ mở tủ lấy chai sâm banh và người đàn bà mặc áo cổ lọ bày ly lên bàn. Đồng hồ chỉ mười một giờ kém năm. 

Căn phòng tối sầm lại, như trong đêm. Chỉ thấy lờ mờ những khuôn mặt trắng của những người đàn bà và bóng người đàn bà đan áo di chuyển đến gần chiếc tủ gỗ đặt điện thoại và một bình hoa cúc dại. Chị khom người đốt nến. Ánh sáng tỏa ra màu hồng nhạt, có mùi thơm của cỏ. Chị đi một vòng và đốt những cây đèn cầy còn lại. Những cây nến hình vuông, đủ màu với những cánh hoa nhấn chìm trong đó, làm chúng trở nên huyền ảo. Những giọt sáp chậm chạp chảy tràn xuống mặt bàn. Trên đường đi chúng đã kịp đông lại và xoắn xuýt với nhau thành những hình thù kỳ lạ. Mùi thức ăn loãng dần. Căn phòng tràn ngập mùi nến, ấm cúng và thơm tho. Đó là mùi hương quen thuộc của bất kỳ gia đình nào ở Mỹ. Nhưng giờ đây, trong không khí này, nó gợi nhớ đến một mùi hương xưa cũ với tuổi thanh xuân và những tà áo dài sột soạt trong ngày lễ hội. Tuổi thanh xuân của chúng ta… Ai đó cất tiếng khe khẽ. Người đàn bà mặc áo cổ lọ thở dài, nhưng thời đó đã qua rồi. Chúng ta đã già.

Người đàn bà đan áo quay về lại chỗ cũ, bên cửa sổ kéo kín rèm. Chị ngồi thẳng lưng, hai tay chắp trên đầu gối. Con mèo con đã bỏ đi đâu mất. Cuộn len nằm lăn lóc trên sàn. Người đàn bà ngồi đầu hơi gục xuống, lưng tạo thành một đường cong duyên dáng. Người đàn bà có đôi mắt cắt mí nằm xoài ra bàn, ấp những ngón tay dài lên mặt. Người đàn bà mặc áo cổ lọ châm thuốc hút. Khói bay thành những vòng tròn nhỏ không hiểu sao lại thơm mùi bạc hà. Hai người đàn bà còn lại ngồi tựa lưng vào thành ghế, người như sắp trôi tuột xuống đất. Người đeo băng đô đỏ ư ử trong cổ họng một bài hát tiếng Anh.

Lời bài hát thế này " Hãy nhắm mắt lại và đưa bàn tay của anh cho em. Anh có nghe thấy chăng trái tim em đang đập. Và anh có hiểu, anh có cảm thấy như em…" . Những người đàn bà khác hát hòa giọng theo. Người đàn bà mặc áo lót đen dùng chiếc muỗng bạc gõ vào thành ly leng keng. Con chim gỗ nhỏ lại thò đầu mổ vào khúc cây treo trên tường mười một tiếng. Đến tiếng thứ chín thì người đàn bà mặc áo lót đen nổ sâm banh. Bọt rượu tràn ra ngoài, chảy xuống tay chị ướt đẫm.

Mọi người chạm ly. Và gắp bánh chưng vào chén. Nhưng chẳng ai muốn đụng đũa. Người đàn bà mặc áo cổ lọ thì thầm, giờ này ở nhà mọi người đang đón giao thừa. Cũng uống sâm banh và bổ dưa hấu. Rồi đi hái lộc trong chùa. Mình ngồi đây nhớ mọi người ở nhà nhưng chắc mọi người chả ai nhớ đến mình. Người đàn bà đeo băng đô bảo, hai mươi lăm năm rồi. Năm nào cũng chỉ có duy nhất ngày này là thấy giống những ngày ở Việt Nam nhất.

Người đàn bà đan áo đi vào phòng khách. Khi quay trở lại, trong tay chị ôm món quà của cô con gái. Chị đặt nó lên bàn, bảo, quà Năm mới của con bé Vi đấy. Nó chắc chẳng nhớ đến giờ giao thừa này đâu.

Chị gỡ lớp giấy bọc xung quanh. Khi lớp giấy vừa được bóc ra, mọi người ồ lên. Đó là một gốc mai nhỏ trồng trong chậu đất bằng sứ. Trên cành, chỉ có duy nhất một chiếc nụ đang èo uột nở và một bông mai đã rụng hết ba cánh. Bị động, chiếc cánh thứ tư rơi xuống , chạm khẽ khàng vào mặt bàn. Trong ánh nến, nó càng trở nên mỏng mảnh và ánh lên như một vảy vàng.

Người đàn bà đan áo mỉm miệng cười. Khi đưa tay lên xoa mặt, chị mới nhận ra nước mắt chị đã chảy ra dàn dụa trên má từ lúc nào.



NGUYỄN THỊ CHÂU GIANG
Nguồn : Thơ Văn Trần Yên Hoà

CÁT BỤI - THƠ LÊ KIM THƯỢNG



CÁT   BỤI

 

1. 

 

Xa quê xứ lạ dung thân

Trong lòng vẫn mãi bâng khuâng trông chờ…

Quê nhà đẹp tựa bài thơ

Sông dài nối những bến bờ chiêm bao

Chiều buông vạt nắng hanh hao

Gió đùa sóng lúa dạt dào mông mênh

Cánh diều no gió thênh thênh

Trời xanh xanh thẳm bồng bềnh mây trôi

Gió lùa mây xuống góc trời

Ráng chiều sắc đỏ chơi vơi dạt dào

Nắng chiều rũ bóng xanh xao

Xô nghiêng chiều tím ngã vào hoàng hôn…

Những ngày chớp biển mưa nguồn

Võng đưa kẽo kẹt, tiếng buồn ru con

Lời ru tha thiết héo hon

“Cái cò lặn lội… nỉ non…” chung tình…

 

 

2. 

 

Một mình thì vẫn một mình

Cô đơn một bóng, một hình đơn côi…

 Quê nhà xa cách phương trời

Chôn nhau, cát rốn là nơi thiếu thời

Gom từng chiếc lá vàng rơi

Đếm từng nỗi nhớ đầy vơi thắm đằm

Người đi, đi mãi biệt tăm

Quê nhà là tiếng gọi thầm mà đau

Chỉ là cát bụi mai sau

Cuối đời chỉ thấy một màu thê lương

Nhân sinh mộng ảo vô thường

Trầm luân một kiếp vấn vương làm gì…

Nhớ nhiều ngày ấy Mẹ đi

Rưng rưng nước mắt chia ly không lời

Khói nhang đưa tiễn một đời

Mẹ đi về phía xa vời Tây Phương…


           

            Nha Trang, tháng 07. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG 

 

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

VỊNH ĐÀ NẴNG QUA GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HOÁ - HỒ TỊNH


 


VỊNH ĐÀ NẴNG QUA GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA

Trong cấu trúc không gian ven biển miền Trung, vịnh Đà Nẵng có vị trí địa lý đặc biệt – nơi hội tụ của các yếu tố địa mạo, hải dương học và lịch sử, văn hóa. Nơi đây còn là một “không gian địa văn hóa” điển hình, nơi tự nhiên và con người tương tác, kiến tạo nên những lớp trầm tích văn hóa bền bỉ qua thời gian.
Từ hòn Sơn Chà đến núi Sơn Trà
Vịnh Đà Nẵng (còn gọi là Vũng Thùng) được hình thành bởi hai khối núi lớn là Hải Vân ở phía Bắc và bán đảo Sơn Trà ở phía Đông – Đông Nam, tạo thành một vòng cung ôm lấy mặt nước. Với chiều dài theo trục Bắc – Nam khoảng 16 km, chiều ngang Đông – Tây khoảng 10 km, độ sâu trung bình 8–10 m, vịnh có điều kiện tự nhiên lý tưởng: kín gió, ít sóng, thuận tiện cho tàu thuyền neo đậu và tránh bão.
Phía Bắc vịnh là núi Hải Vân – một nhánh trong dãy núi Bạch Mã- là phần kéo dài của dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển. Không chỉ đóng vai trò là ranh giới hành chính giữa Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng, Hải Vân còn là đường phân giới tự nhiên quan trọng về địa chất, địa lý và khí hậu: phía Bắc mang sắc thái cận nhiệt đới ẩm, phía Nam chuyển dần sang nhiệt đới gió mùa điển hình.
Từ dãy Hải Vân, một nhánh núi tiếp tục vươn ra biển, phần trũng chìm nước biển, tạo thành đảo nhỏ gần bờ – hòn Sơn Chà (Hòn Chảo). Nhìn từ xa, đảo giống như một chiếc chảo úp ngược. Đây là một hệ sinh thái gần như nguyên sơ, với rừng tự nhiên phong phú, các rạn san hô và nguồn hải sản đa dạng.
Ở phía Đông Nam, bán đảo Sơn Trà như một “bức bình phong xanh” che chắn cho vịnh. Với địa hình núi cao sát biển, hệ sinh thái rừng nhiệt đới và vùng biển ven bờ giàu tài nguyên, Sơn Trà là không gian sinh thái – văn hóa đặc biệt của Đà Nẵng.
Vịnh Đà Nẵng là điểm hội tụ của các dòng chảy từ lục địa đổ ra. Hai hệ thống sông chính góp phần định hình không gian thủy văn của vịnh là sông Cu Đê ở phía Bắc và sông Hàn ở phía Nam. Sông Cu Đê dài khoảng 40 km, hình thành từ hai nguồn: nhánh phía Bắc từ núi Giáo Lao và nhánh phía Nam từ núi Mang. Dòng sông này chảy qua vùng Nam Ô trước khi đổ ra vịnh, mang theo phù sa và góp phần tạo nên các bãi bồi ven biển.
Trong khi đó, sông Hàn – dù chỉ dài khoảng 7,7 km – lại giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là hợp lưu của các chi lưu từ hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, tạo nên một tuyến giao thông thủy kết nối vùng núi Quảng Nam với biển. Chính nhờ hệ thống này, vịnh Đà Nẵng trở thành “cửa ngõ” trung chuyển giữa nội địa và thế giới bên ngoài. Trong lịch sử, tuyến đường thủy từ vịnh Đà Nẵng theo sông Hàn – sông Cổ Cò vào Hội An đã từng là một trục giao thương quan trọng, góp phần hình thành nên mạng lưới kinh tế – văn hóa ven biển miền Trung.
Từ thương cảng Champa đến cửa ngõ Đàng Trong
Có một số ý kiến khác nhau về tên gọi Đà Nẵng, tuy nhiên căn cứ vào Từ điển Chăm – Việt do GS. Bùi Khánh Thế chủ biên, có nhiều khả năng tên gọi Đà Nẵng bắt nguồn từ tiếng Chăm: danang = bến tàu/ bến cảng…. Trong thời kỳ Champa, vịnh Đà Nẵng là nơi tàu thuyền quốc tế có thể neo đậu , buôn bán trước khi vào các cảng nội địa như Hội An. Đến thời Nguyễn, sách Đại Nam nhất thống chí đã mô tả rõ về vị trí và vai trò của vịnh: một vụng biển lớn, kín gió, có thể chứa hàng ngàn thuyền bè, là nơi lý tưởng để trú đậu.
Năm Ất Hợi (1695), Hòa thượng Thích Đại Sán đến Đàng Trong. Trên đường từ Huế đến Hội An, ông vào vịnh Đà Nẵng, đi dọc sông Hàn rồi theo sông Cổ Cò đến Hội An. Trong tập Hải ngoại ký sự ông đã viết: “Dọc bờ biển đá, lèn lởm chởm, trên cây vượn trắng nhảy nhót từng bầy; trái đồi hoa núi, xanh đỏ sum sê. Xa trông cách bờ, cột buồm như rừng tên xúm xít, hỏi ra mới biết đó là đoàn thuyền chở lương, đậu chờ gió tại cửa Hội An vậy”. Theo mô tả trên thì đây là vịnh Đà Nẵng và núi Sơn Trà, lúc bấy giờ, thuyền bè các nước đến Hội An có một số ghé vào vịnh Đà Nẵng trú lại trước khi theo sông Hàn qua sông Cổ Cò vào Hội An.
Văn hóa biển- sinh kế, tri thức và tín ngưỡng
Sự hiện diện của biển không chỉ định hình cảnh quan mà còn chi phối sâu sắc đời sống văn hóa của cư dân bản địa. Từ hàng ngàn năm trước, cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã biết khai thác biển bằng các phương thức đánh bắt sơ khai. Đến thời Champa, nghề đánh cá biển phát triển mạnh, với kỹ thuật đi biển xa và chế biến hải sản.
Một trong những sản phẩm đặc trưng là nước mắm – kết tinh của tri thức bản địa trong việc bảo quản và chế biến cá biển. Nhà truyền giáo Cristoforo Borri trong tác phẩm Xứ Đàng Trong đã mô tả loại gia vị “balaciam” – thực chất là nước mắm – như một yếu tố không thể thiếu trong đời sống ẩm thực. Tại Đà Nẵng, các làng nghề như Nam Ô và Tân Thái nổi tiếng với nghề làm nước mắm truyền thống. Dù trải qua nhiều biến động, nghề mắm vẫn tồn tại như một biểu tượng văn hóa – kinh tế của cư dân ven biển.
Gắn bó, nương nhờ vào biển để sinh tồn, người dân miền biển thường xuyên phải đương đầu với bao nguy hiểm giữa biển cả mênh mông, ngư dân đặt niềm tin vào sự phò trợ của các vị thần linh, mong được tai qua nạn khỏi. Tín ngưỡng thờ cúng cá Ông tại các làng chài ven biển đã làm nên nét đặc trưng trong văn hóa dân gian miền biển từ duyên hải Trung Bộ vào đến Nam Bộ. Cá Ông được xem là vị thần cứu nạn cho thuyền chài trên biển. Lễ hội cầu ngư, lễ tế cá Ông trở thành những sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc, phản ánh mối quan hệ giữa con người và biển cả.
Vịnh Đà Nẵng - không gian địa văn hóa
Từ góc nhìn địa – văn hóa, vịnh Đà Nẵng là một hệ thống tổng hợp, nơi các yếu tố địa lý, lịch sử và văn hóa tương tác lẫn nhau:
- Về địa lý, vịnh là sản phẩm của quá trình kiến tạo địa chất lâu dài, với cấu trúc vòng cung đặc trưng.
- Về lịch sử, vịnh là điểm nút trong mạng lưới giao thương khu vực và quốc tế.
- Về văn hóa, vịnh là không gian sinh tồn, nơi hình thành các tri thức bản địa, nghề nghiệp truyền thống và tín ngưỡng dân gian.
Chính sự tích hợp các yếu tố này đã tạo nên một bản sắc địa văn hóa riêng biệt cho vịnh Đà Nẵng – một bản sắc không thể tách rời khỏi bối cảnh địa văn hóa của duyên hải Nam Trung Bộ.
Ngày nay, trong quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế biển, vịnh Đà Nẵng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Việc khai thác cảng biển, du lịch và dịch vụ cần được đặt trong mối quan hệ cân bằng với bảo tồn hệ sinh thái và giá trị văn hóa truyền thống.
Nhìn từ góc độ địa văn hóa, vịnh Đà Nẵng không chỉ là một tài nguyên mà còn là một “di sản sống” – nơi lưu giữ ký ức địa chất, dấu ấn lịch sử và bản sắc văn hóa của cư dân miền biển. Từ hòn Sơn Chà đến núi Sơn Trà, mỗi đường nét của cảnh quan đều là một trang sử, mỗi làng chài ven biển đều là một “bảo tàng sống” của văn hóa biển Việt Nam. Vì thế, giữ gìn và phát huy giá trị của vịnh Đà Nẵng chính là bảo tồn một phần di sản quý giá của không gian văn hóa duyên hải miền Trung.


HỒ XUÂN TỊNH

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2026

THÁNG GIÊNG - THƠ LÊ NHO QUẾ SƠN


Tại sao tháng 1 gọi là tháng Giêng? - Báo VTC News


 THÁNG GIÊNG

 

 Tháng giêng không rượu, không bè bạn

tráng chí hùng văn cũng biệt tăm

cha mất ngậm ngùi lau sạch oán

lưu lạc may còn một bát nhang

 

Bưng bình trút rượu vào gan ruột

nát dạ mà chưa nát thỏa lòng

vẳng nghe vó ngựa ngoài muôn dặm

rầm rập như tuồng sắp đứt hơi

 

Nhà mới thơ tình phơi trắng đất

nền cũ mèo hoang cắn xé nhau

còn ai, ai biết cho ai chứ?

mẹ đất chong đèn mắt đỏ hoe!

 

Đốt đuốc qua đèo nghe thác chảy

thấy thương gò đống thuở mài gươm

thấy còn mắc nợ con đường nhỏ

bạc tóc chưa qua hết cổng làng

 

Tháng giêng không thắm, không hò hẹn

chim Lạc không về vui với ai

bó rọ bắt câm mà ngứa miệng

nước còn cau mặt huống chi ta!



LÊ NHO QUẾ SƠN

Nguồn : Thơ Văn Trần Yên Hoà


Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

QUỲNH NỞ NHỚ MÔI EM - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI


 


QUỲNH NỞ NHỚ MÔI EM
(Nhớ hoài một thuở bên nhau)

Nhớ đôi môi ấy lòng mê đắm,
Tựa đóa Quỳnh Hương nở dưới trăng.
Hương ngọc nhẹ bay trong gió mát,
Rót đầy tim mộng một cung hằng.
Môi vừa khẽ chạm, đêm im tiếng,
Gió cũng dừng chân ngắm ái ân.
Trăng nép đầu non, mây e ấp,
Chỉ còn đôi bóng hóa tri âm.
Hương Quỳnh quyện gió, hương em ngát,
Thoảng giữa không gian ngỡ cõi tiên.
Mắt biếc trao nhau ngàn ý nguyện,
Một lần say đắm... vạn lần duyên.
Anh hôn em giữa đêm huyền ảo,
Nghe cánh Quỳnh rơi xuống tóc mềm.
Mỗi cánh hoa như lời thương nhớ,
Thơm mãi ngàn sau... nhớ môi em.


HUỲNH TÂM HOÀI