CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

NHẠC CUNG TIẾN ,NHỮNG GAM MÀU TÊ TÁI - TRẦN HỮU NGƯ



 NHẠC CUNG TIẾN, NHỮNG GAM MÀU TÊ TÁI!

-Một bài viết đã lâu, nhưng chiều ngày 22.3.2026, lúc 14giờ trên VTV3 có chiếu chương trình “Giai điệu kết nối” giới thiệu tiếng hát nam ca sĩ L.A.D, và ca sĩ này có hát ca khúc HƯƠNG XƯA của CUNG TIẾN, nên tôi đăng lại bài viết này.
Tôi mong rằng, GIAI ĐIỆU KẾT NỐI sẽ không phân biệt “nhạc trước 1975” ở miền Nam, và sẽ cho hát “những bài hát hay”, miễn sao những bài hát cũ “không ảnh hưởng đến hòa bình thế giới”, dù nhạc sĩ ở phía “Bên thua cuộc”.
Khi MC phỏng vấn ca sĩ L.A.D, anh nói rằng, HƯƠNG XƯA là một nhạc phẩm tiền chiến, và trong bài có nhiều từ cổ, triết lý, người trẻ sẽ không hiểu được? Tôi đồng ý với anh câu nói nói này, nhưng riêng “từ cổ” thì tôi xin nói một chút theo sự hiểu biết của mình: Nhạc phẩm HƯƠNG XƯA của Cung Tiến, không dùng “từ cổ”, “triết lý”, mà dùng… điển tích.
Nhạc Cung Tiến gắn liền với ca sĩ Mai Hương, rất vui khi nghe ca sĩ L.A,D hát “Hương Xưa”. “Hương xưa” nói riêng, và nói chung tất cả những ca khúc của Cung Tiến, đều khó hát. Nhưng mới nghe một lần L.A.D hát nên chưa đánh giá được gì!
Theo cá nhân tôi, tôi chưa nghe ca sĩ nào hát nhạc Cung Tiến vượt qua “lằn ranh xanh” ca sĩ Mai Hương?
….
-Cung Tiến, người nhạc sĩ sáng tác nhạc sang trọng bậc nhất Việt Nam?
-Rất tiếc, anh sáng tác quá ít!
-Anh tự nhận mình không phải là nhạc sĩ?
-Bây giờ ca sĩ Diva, ND, Ưu tú có hát được nhạc Cung Tiến?
-Nhạc Cung Tiến khó hát, nhưng dễ nghe (khác với nhạc bây giờ dễ hát nhưng khó nghe)
-Nhạc Phạm Duy có Thái Thanh
-Nhạc Trịnh Công Sơn có Khánh Ly
-Nhạc Cung Tiến có Mai Hương
-Nhạc Trúc Phương có Thanh Thúy
-Nhạc Phương có Lê Uyên
-Nhạc Nguyễn Văn Đông có Hà Thanh
V.v…
Nếu nói nhạc Cung Tiến là trữ tình, lãng mạn, hay những từ hoa mỹ nào khác để diễn tả về nhạc anh…,tất cả đều phiến diện. Từ những lời ca, nốt nhạc trong sự trau chuốt từng nhạc phẩm của anh, để chúng ta nghe, thấy, rồi nói rằng, nhạc Cung Tiến là “Những gam màu tê tái” là không có gì cường điệu, và “Màu tê tái” xuất phát từ ý tưởng nhạc phẩm THU VÀNG. Đây cũng là nhạc phẩm anh viết tặng Hanoi, những ngày thơ ấu:
“… Nhặt lá vàng rơi
Xem màu lá con tươi
Nghe chừng như đây màu tê tái…”.
Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938 tại Hanoi. Chưa rõ anh và gia đình vào Nam năm nào, nhưng từ năm 1957 Cung Tiến theo học ngành kinh tế ở Úc.
Những năm 1950 đến 1960, anh viết những bài phê bình, nhận định văn học với Bút hiệu Thạch Chương, và anh sống ở Hoa Kỳ, thỉnh thoảng có viết báo ký tên Đăng Hoàng. Anh đã từng học Ký-Xướng-Âm với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Nếu nghe nhạc anh, chưa đủ, mà phải nhìn cách viết nhạc của anh mới thấy anh là người có nghề và đam mê âm nhạc đến vô tận.
Trong khuôn nhạc mở đầu, anh cẩn thận ghi “Giọng hát, đàn Dương cầm, Tây Ban Nha, và phân Gamme để người chơi nhạc dựa theo đó mà biến tấu”… (Năm 1972, tủ sách nhạc Kẻ Sĩ, đã in tập nhạc Cung Tiến do Hiện Đại số 44/5 Công Lý Saigon tổng phát hành. Tập nhạc này chọn lọc 9 nhạc phẩm. Con số 9 mang một ý nghĩa đặc biệt, và đăng hình anh qua nét vẽ của họa sĩ Duy Thanh).
Vậy mà Cung Tiến không nhận mình là nhạc sĩ, chỉ viết nhạc như một thú tiêu khiển, mặc dù anh viết được 17 bài hát mà bài nào cũng đáp ứng được nhu cầu của giới thưởng thức có trình độ hiểu biết âm nhạc cao. Anh chẳng quan tâm đến tác quyền, tên tuổi, chỉ nhận mình là nghiệp dư, đây có lẽ là đức tính khiêm nhường “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam, vì có rất nhiều người viết nhạc tự phong cho mình là nhạc sĩ, nhưng chỉ viết được một vài bản nhạc hát và nghe một lần rồi bài hát cảm thấy lạc lõng, cô đơn… rồi tự động biến mất, không để lại dấu vết!
Những nhà nghiên cứu và phê bình âm nhạc có thể đánh giá nhạc sĩ Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương… Nhưng ở Cung Tiến, nhạc anh khó mà đánh giá, xếp hạng, cân đo đong đếm được?
Theo các tài liệu, thông tin, và những bài viết ngắn rải rác trên mạng… thì ca khúc THU VÀNG và HOÀI CẢM được Cung Tiến sáng tác năm 1953, lúc đó anh mới 15 tuổi! Nếu đúng như vậy, thì Cung Tiến được xếp vào thần đồng âm nhạc Việt Nam mà hơn nửa thế kỷ qua giới nhạc sĩ đã quên anh?
Cung Tiến còn là một bậc thầy phổ thơ. Những bài thơ vượt thời gian của Thanh Tâm Tuyền (Đêm), Quang Dũng (Đôi bờ), Thôi Hiệu, (Vũ Hoàng Chương dịch Hoàng Hạc Lâu), Vũ Đình Tiên (Mai chị về, còn có tên là Kẻ ở), Xuân Diệu (Nguyệt Cầm), Trần Dạ Từ (Thuở làm thơ yêu em), Vết chim bay (Phạm Thiên Thư)…, đã làm cho những bài thơ ấy thăng hoa và người nghe cảm thấy lòng mình an bình mặc dù đất nước đang trong thời Chiến tranh.
Nhạc Cung Tiến khó nghe đối với những cái tai “bình dân học vụ”, khó hát với những ca sĩ “múa hay hơn hát”. Nhưng nhạc anh là những con suối trong xanh, mát dịu, luồn qua lau lách chảy mãi không bến bờ, ca từ sang trọng, nhưng không làm dáng, triết lý sáo rỗng, những nốt nhạc không chạy theo lối mòn… bắt người nghe phải động não suy tư mới thấm thía trọn vẹn, mới thấy nhạc Cung Tiến là những Gam màu tê tái!
Cảm nhận những ca khúc của Cung Tiến không phải “Đốt lò hương cũ”, mà là sự nhắc nhớ, tìm về, trong tình hình nhạc Việt Nam “Que sera sera”?
Ngoài thơ phổ nhạc, đây là ba tác phẩm thuộc hàng hiếm của âm nhạc Việt Nam, do anh viết nhạc và lời: HƯƠNG XƯA, HOÀI CẢM, THU VÀNG. Những nhạc phẩm này, thật khó xếp hạng cùng những ca khúc nhạc Việt - dù khó tính, hay đứng ở góc độ nào để bình phẩm - thì đây vẫn là đỉnh cao của nghệ thuật mà không phải nhạc sĩ chuyên nghiệp nào cũng viết được?
Nhạc phẩm THU VÀNG nhịp 6/8 với những nốt Đô, Fa, Sol Dièse (thăng) Gamme La Trưởng, mở đầu:
“… Chiều hôm qua lang thang trên đường
Hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương
Chiều hôm qua mình tôi bâng khuâng
Có mùa Thu về tơ vàng vương vương
Một mình đi lang thang trên đường
Buồn hiu hắt và nhớ bâng khuâng
Lòng xa xôi và sầu mênh mông
Có nghe lá vàng não nề rơi không?...”
Sự lặp lại “chiều hôm qua” và “bâng khuâng”, là chủ đích của tác giả, mà không có sự thừa thãi nào ở đây, để sau cùng anh viết một câu kết:
“… Chiều hôm nay trời nhiều mây vương
Có mùa Thu vàng bao nhiêu là hương…”
Nhạc sĩ Cung Tiến sử dụng “chiều hôm qua” và “chiều hôm nay”, chỉ có mình anh “lang thang trên đường” là một thời gian gần và xa, có thể xác định hay không xác định cũng được, nghĩa là anh đem đến cho người nghe rất xa nỗi nhớ và rất gần nỗi buồn trong cuộc đời.
Trong nhạc phẩm HOÀI CẢM, Cung Tiến viết nhịp ¾, Gamme Đô Thứ, La, Si, Mi Bémol (giảm). Trong Andantino xa vắng, chậm, âm thầm… Đây là tác phẩm… hoài cảm, anh viết tặng Đỗ Đình Tuân và đầu bản nhạc anh đề hai câu thơ của Xuân Diệu:
“Anh một mình nghe tất cả buổi chiều.
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh”.
Hoàn cảnh ra đời nhạc phẩm này cũng vào buổi chiều mùa Thu “mơ hồ nghe lá thu mưa” và “buổi chiều chợt nhớ cố nhân. Sương buồn lắng qua hoàng hôn”:
“… Chiều buồn len lén tâm tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa
Quạnh hiu về thấm không gian
Âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều ngồi nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn…”
Nghe HOÀI CẢM, người nghe như quặn lòng, thổn thức, buộc vào mình một nỗi đau, nếu chẳng may trong cuộc đời đánh mất một người thân yêu, để rồi:
“… Lòng cuồng điên vì nhớ
Ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa…
Cố nhân xa rồi có ai về lối xưa?...”
Những ca khúc được viết từ năm 1938 còn ảnh hưởng nhạc Tây, những năm sau này, các nhạc sĩ tìm cách thoát Tây, viết nhạc Ta. Theo lời nhạc sĩ Lê Thương, trong giai đoạn này, có không ít nhạc sĩ “tai bay vạ gió” vì những bài hát trữ tình lãng mạn còn có mùi “tiểu tư sản”!
Từ năm 1953, Cung Tiến nổi lên một ngôi sao sáng qua nhạc phẩm THU VÀNG và HOÀI CẢM. Nhưng trong toàn bộ tác phẩm của anh, có lẽ ca khúc HƯƠNG XƯA là tác phẩm dẫn đầu. HƯƠNG XƯA đầu bản nhạc anh đề tặng Khuất Duy Trác và trong Andante sostenuto, Cung Tiến làm người nghe lắng động để nghe anh kêu thầm… “Người ơi” trong nốt Đồ, La, dẫn vào cung bậc của HƯƠNG XƯA (*):
“… Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa/ Người ơi đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò/ Còn đó tiếng tre êm ru/ còn đó bóng đa hẹn hò/ còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu/ Người ơi còn nhớ mãi trưa nào, thời nào vàng bướm bên ao/ Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao/ Còn đó tiếng khung quay tơ/ Còn đó tiếng diều vật vờ/ còn đó… nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa/… Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi buồn sớm đưa chân cuộc đời/ Lời Đường thi nghe vẫn rền trong sương mưa, dù có bao giờ lắng men đợi chờ/ Tình Nhị Hồ vẫm yêu âm xưa/ Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô, nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ, vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó/ Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc mơ ai, dù đã quên lời hẹn hò/ Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha, chờ đến bao giờ tái sinh cho người? Đời lập từ những đêm hoang sơ/ Thanh bình như bóng tre đơn sơ nay đời tan biến trong hư vô, chết đầy từng mồ oán thù, máu xương tơi bời nhiều mùa thu…/ Người ơi, chiều nao có nắng vàng hiềnv hòa sưởi ấm nơi nơi/ Người ơi chiều nao có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi…/ Tình có ghi lên đôi môi, sầu có phai nhòa cuộc đời/ Người vẫn thương yêu loài người và yên vui sống cuộc sống vui/ Đời êm như tiếng hát của lứa đôi/ Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”
Đó là khúc hoài niệm, tìm nhớ về quá khứ của một thời hoàng kim để khơi dậy một Hương xưa trong lớp bụi mờ của thời gian.
Làm sao nói hết những dòng nhạc Cung Tiến…, một HƯƠNG XƯA cũng đủ để nói lên rằng, nhạc Cung Tiến là những Gam màu tê tái!
Ôi bây, giờ tìm một bài hát (dù chỉ một bài thôi) giống như những bài hát của Cung Tiến, như mò kim đáy biển. Hết rồi, không còn nữa rồi, thời nghe nhạc bác học, kinh điển, lãng mạn… đã qua!


TRẦN HỮU NGƯ
(*) Tôi trích nguyên ca khúc Hương Xưa đề thấy rằng “không có từ cổ”, “triết lý” mà chỉ có điển tích: Nhị Hồ, Cung Nguyệt Cầm, thời Hoàng Kim, nàng Quỳnh Như…

NỖI NHỚ SÔNG QUÊ - THƠ HUY VỤ



 

Ảnh của Tịnh Hồ 

NỖI NHỚ SÔNG QUÊ

“Sông Thương máu cuốn đại ngàn
Một trời mây nước gian nan bãi biền
Chiều nay sóng ngậm mạn thuyền
Triền đê khóc đóa mộc miên mù lòa…”*
Xoan còn rụng tím tháng ba
Em vui chân sáo nắng òa trên vai
Tuổi xuân ngắn tháng năm dài
Chớ trêu chữ mệnh chữ tài ghét nhau
Em đi khuất phía ngàn dâu
Còn thương câu hát qua cầu gió bay
Xót xa suối tóc hao gầy
Mùi hương bồ kết giờ đây nhạt rồi
Tiếng chuông vọng phía luân hồi
Dưới cầu con nước vẫn trôi não nề
Chuông còn vọng khắp sơn khê
Thõng tay bỏ rớt câu thề ngày xưa
Giờ này ngoài ấy có mưa
Chiều nay thấy lạnh như chưa bao giờ
Lặng nhìn con nhện giăng tơ
Bỗng nhiên giọt lệ không chờ mà sa
Ngỡ là như mới hôm qua
Ai hay năm tháng nhạt nhòa dấu môi
“Tôi về đem bỏ đói tôi
Đồng đê ngân ngấn một trời vô minh.”*


HUY VỤ

*Câu trong ngoặc là của NPLT trong bản GIẤC MƠ SÔNG THƯƠNG số 21

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2026

CUỐI NĂM VỀ QUA NGŨ HÀNH SƠN - THƠ NGUYỄN AN BÌNH


 


CUỐI NĂM VỀ QUA NGŨ HÀNH SƠN 

Xưa theo em nhẹ bước

Lên từng bậc đá cao

Đất và trời gần lại

Lòng tự hỏi chiêm bao.

Mây trắng Ngũ Hành Sơn

Ngày ấy bay nhiều quá

Sóng xô bãi cát vàng

Dấu chân người bỗng lạ.

Hồn đá ngàn năm trước

Trong dáng Phật u trầm

Thạch nhủ ẩn kỳ tích

Hóa hiện Quán Thế Âm.

Cheo leo Vọng Hải Đài

Dập dềnh con sóng cuộn

Em thả tóc vờn bay

Biển trời xanh lồng lộng.

Hẹn em lên Cổng Trời

Ngỡ quen từ kiếp trước

Trong ánh mắt rạng ngời

Khắc tình anh - Non Nước.

Mười năm anh trở lại

Ngũ Hành trắng mây xưa

Rừng vẫn xanh màu lá

Người thuở ấy về chưa?


NGUYỄN AN BÌNH


Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

BÀI RUMBA -BOLÉRO LỬA SUM HỌP - TRẦN HỮU NGƯ


 


BÀI RUMBA-BOLÉRO LỬA SUM HỌP
Bài viết này tôi nhắc đến nhạc sĩ Xuân Tiên và Y Vân
-Xuân Tiên (1921-2023): sống đến 102 tuổi.
-Y Vân (1933-1992): chỉ sống 51 tuổi.
Nhạc sĩ Y Vân nhỏ hơn nhạc sĩ Xuân Tiên 51 tuổi!
Nhạc sĩ Y Vân sinh sau mà chết trước nhạc sĩ Xuân Tiên.
-Nói về “Lượng” ca khúc thì Y Vân nhiều hơn Xuân Tiên.
-Nói về “Phẩm” thì tương đương nhau.
Nhạc Việt thật phong-phú, đa-dạng, chẳng những ở lời ca mà còn giàu ở các giai điệu:
-Tango dang-dở
-Slow tan hợp
-Valse đớn đau, nuối tiếc
- Boléro sum-họp
- Modérato hy-vọng
- Slow Rock lãng mạn
-Rumba tươi đẹp
- Cha-cha-cha hừng-đông
Trong hàng trăm bài Rumba-Boléro sum họp, nằm trong số này, có ca khúc “VỀ DƯỚI MÁI NHÀ” của nhạc sĩ Xuân-Tiên & Y-Vân là bài hát sum-họp có… LỬA ( Lửa theo nghĩa đen và nghĩa bóng).
Nói về LỬA thì như thế này:
Ngày xưa… ở nhà quê thường giữ ấm nhà bằng bếp Lửa. Nhà giàu thì chụm than, và để giữ Lửa thì vùi than dưới tro, mỗi ngày chỉ cần khều lên là có Lửa. Nhà nghèo thì dùng cây “củi gộc” (củi lớn), cháy trong bếp xuyên suốt ngày đêm. Vì hột quẹt ngày đó không có, nếu có thì tim là bông gòn thấm dầu lửa, quẹt cho cháy thì phồng ngón tay, và chụm được bếp lửa thì cũng đổ mồ hôi, chảy nước mắt! Nên giữ lửa bằng “củi gộc” là tiện lợi nhất.
Và trong Chiến-tranh đánh Tây, người dân sợ nhất là thằng Pháp đốt nhà, (đốt nhà là trò giải trí của nó! Tôi đã từng chứng kiến thằng Tây đốt nhà).
Lửa thì ai cũng sợ (chỉ có người tự thiêu là không sợ!) vì nó cháy nhà, cháy rừng, cháy người, cháy tiêu tan sự nghiệp… Nhưng chỉ nói riêng dân tộc Việt- Nam, từ ngày mới có mặt trên mặt đất, con người trước tiên là đi tìm… Lửa cái đã, rồi mọi chuyện khác sẽ tính sau. Vì có Lửa là có tất cả!
Chỉ một việc nhỏ thôi, nếu không có lửa thì không hút được thuốc, chuyện lớn hơn một chút là không có lửa đánh Bugi thì xe cũng không thể chạy, đời con người nói chung mà “Tắt lửa lòng” thì nhân loại đã tuyệt chủng từ lâu?
Còn mỗi người trong chúng ta mà để “mất lửa” thì chỉ có nước chờ… lửa giàn thiêu! Có lửa thì mới làm được nhiều thứ… Nói về Lửa, tôi nhớ “Tắt lửa lòng- Nguyễn-Công-Hoan”, “Tắt đèn – Ngô-Tất-Tố”, “Lửa cháy thành Đại La”…
Có một chuyện Lửa thực tế hơn trong những ngày Chiến-tranh:
“… Nổi lửa lên em…
Nổi lửa lên em…
Miếng nước ngọt ngào
Muối đượm quê hương tình thương chiến trận
Phút ngọt bùi nhớ nắm cơm ngon…”
(Bài hát “Nổi lửa lên em” - của Huy-Du).
Bài này mà nghe ca sĩ Ngọc-Ánh ca mới hay, và nhìn điệu bộ, giọng ca là muốn… nổi lửa ! Nổi lửa lên em… Nổi lửa lên em… nhé ? Anh và em cùng nổi lửa mới… đã!
Và tôi chọn “VỀ DƯỚI MÁI NHÀ” - ca khúc thời Chiến tranh ở miền Nam - một bài ca Rumba-Boléro sum họp có Lửa rất nổi tiếng:
“… Người ơi mau về đây
Về bên bếp hồng tay cầm tay
Cười lên chan chứa tươi làn môi
Nhớ phút vui đêm nay
Về đây cho lòng say
Tìm nhau mấy mùa hoa còn tươi
Tìm khi nắng lên hay chiều rơi
Ta nhắn nhau về đây
Nhà ai trong chiều nay
Lửa đêm đốt hồng vai kề vai
Và nghe câu hát yêu đời ai
Hát mãi sao khôn nguôi
Vì thương yêu đời nhau
Vì thương những chiều mưa về đâu
Vì thương những người không tình yêu
Nên nhớ đi tìm nhau
Ơi… bếp hồng sưởi ấm bếp hồng tươi
Tiếng ca xa vời hát mừng, mừng lửa hồng tươi
Ơi… nỗi lòng chan chứa hỡi người ơi
Biết bao cho vừa tình thương của bếp hồng soi
Chiều nay mưa còn rơi
Chiều nay bếp hồng đang còn say
Chiều nay vui sống trong tình yêu
Nhớ phút vui khôn nguôi
Nào ai xa ngàn nơi
Kìa bao mái nhà đang chờ ai
Kìa bao bếp hồng đang còn tươi
Thương nhớ lên đầy vơi…”
Đời sống, ngày nào cũng phải có lửa. Nhưng lửa của bếp hồng “ông táo” thì đã lui vào dĩ vãng nhường chỗ cho bếp điện, bếp ga. Ngày xưa, chỉ cần ba cục đá, cục gạch chụm lại cũng làm nên một bếp lửa nuôi sống và sưởi ấm biết bao thế hệ!
Và tôi, trước một đời sống văn minh, thỉnh thoảng tôi lại nhớ bếp than, bếp củi… có ánh lửa hồng tươi, nhìn đẹp đến rạng ngời, có khi nổ tí tách vui tai, cho ta một làn khói mỏng bay nhẹ như một dải lụa… của một thời “chụm được bếp lửa cũng đâu có dễ”, chụm lửa mà chảy nước mắt, nước mũi, tối tăm mày mặt…
“Bồng em thì khỏi chụm lửa, chụm lửa thì khỏi bồng em”. Bếp lửa đã cho tôi nhiều kỷ niệm của những ngày tuổi thơ, ngồi hơ lạnh vì áo mặc không đủ ấm, và một thời quây quần bên bếp lửa chờ… cơm chín, khoai lùi, sắn luộc:
“… Nào ai xa ngàn khơi
Kìa bao mái nhà đang chờ ai
Kìa bao bếp hồng đang còn tươi
Thương nhớ lên đầy vơi…”
(Nhạc phẩm Về dưới mái nhà).
Có người vì hoàn cảnh phải đi làm ăn, nhớ nhà thì ít mà nhớ bếp lửa thì nhiều, vì bếp lửa cho ta những bữa cơm đạm bạc có đôi khi chỉ là nồi cháu, rau, khoai, sôi sùng sục bốc khói bay khắp nhà.
Buổi sáng sớm, ngồi bên bếp lửa sưởi ấm những ngày trời lạnh, đợi ấm nước sôi, nồi cháo chín… cũng thấy cuộc đời ấm cúng, đáng yêu.
“VỀ DƯỚI MÁI NHÀ”, một bài hát hay quá, nếu đã nghe thì muốn nghe mãi, lời ca, nốt nhạc, điệu Rumba-Boléro… nghe sao như tiếng lòng của lửa, lửa của mầu nhiệm cuộc đời, lửa của anh linh muôn thuở, lửa của sự sống khơi nguồn, lửa của mạch yêu thương… đã đi theo tôi suốt một chiều dài thời gian, từ ngày Lửa còn lòng hừng hực, cho đến lúc Lửa chỉ còn là đống tro tàn!
Vâng, đó bếp lửa hồng, đã nuôi sống con người và sưởi ấm cuộc đời của một thời.
Bài viết này như nhúm lên một bếp lửa để nhớ hai nhạc sĩ tài danh XUÂN TIÊN & Y VÂN:
-Kìa bao bếp hồng đang con tươi
Thương nhớ lên đầy vơi!
(Lời ca khúc VỀ DƯỚI MÁI NHÀ)


TRẦN HỮU NGƯ

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

NÓI VỚI ĐÀN CỪU Ở PHAN RANG - THƠ NGUYỄN AN BÌNH





NÓI VỚI ĐÀN CỪU Ở PHAN RANG


Mai ta bỏ phố về núi ở

Mở lòng uống cạn nước sông Dinh

Một đời chăn thả trên đồng cháy

Ngươi có vì ta rũ chút tình.


Chỉ thấy sườn non men đá xám

Mắt thả trời cao núi trọc đầu

Ngậm cọng cỏ khô tê đầu lưỡi

Đắng lòng tri ngộ với ai đâu?


Hay ngươi nhìn ta như kẻ lạ

Ghé một hai ngày lại bỏ đi

Những tưởng tri âm nơi đất trích

Se lòng đất mặn có chứng tri.


Chẳng thấy màu xanh vờn bóng núi

Khô khốc liềm trăng sớm chưa về

Đồng khô cỏ cháy lòng cô quạnh

Rát bờ muối trắng mốc hồn quê.


Ngươi cứ nhởn nhơ không thèm nói

Ta ngủ trên đồi mộng chiêm bao

Nghe tù và rúc tờ đâu tới

Tô Vũ chăn dê ở chốn nào?



NGUYỄN AN BÌNH

30/7/2018


Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG : MÁ HỒNG ĐỔI NGỰA TRUY PHONG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 

 Tô Đông Pha qua điện ảnh


Giai Thoại Văn Chương :   

                MÁ HỒNG ĐỔI NGỰA TRUY PHONG
                            (Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風)  

                                                         
 
 Tô Đông Pha và Vương Phất qua điện ảnh

       Năm Hi Ninh thứ 8 đời Tống Thần Tông (1075) Tô Đông Pha 蘇東坡 đã 40 tuổi, đang là Tri huyện Mật Châu (Sơn Đông). Ngày 20 tháng giêng năm đó, ông nằm mơ thấy người vợ đã mất 10 năm trước của mình. Khi tỉnh giấc ông đã làm một bài "điếu vong từ" nổi tiếng thiên cổ với tên từ khúc là : Giang Thành Tử 江城子 như sau :

             十年生死两茫茫,         Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,
             不思量,自難忘。         Bất tư lương, nan tự vương.
             千里孤墳,無處話凄凉。Thiên lý cô phần, vô xứ thoại thê lương.
             縱使相逢應不識,        Túng sử tương phùng ưng bất thức,
             塵满面,鬓如霜。        Trần mãn diện, Mấn như sương !

             夜来幽梦忽還鄉,         Dạ lai u mộng hốt hoàn hương,
             小軒窗,正梳妆。         Tiểu hiên song, chính sơ trang.
             相顧無言,惟有泪千行。Tương cố vô ngôn, duy hữu lệ thiên hàng.
             料得年年腸斷處,         Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ,
             明月夜,短松崗。         Minh nguyệt dạ, Đoản tùng cương.
    Có nghĩa :
                    Mười năm sống chết hai nơi,
                    Không cần nghĩ ngợi khó thời khó quên.
                    Dặm ngàn nấm mộ chênh vênh,
                    Thê lương biết nói sao nên lòng nầy.
                    Gặp nhau biết có nhận ngay,
                    Phong trần đầy mặt tóc dài như sương !

                    Đêm qua chợt mộng hoàn hương,
                    bên hiên song nhỏ nàng đương chải đầu.
                    Nhìn nhau luống những nghẹn ngào,
                    Muôn hàng lệ nhỏ thêm sầu lòng đây.
                    Năm năm ruột đứt nơi nầy,
                    Dưới vầng trăng sáng thông gầy đồi xa !


                          Vương Nhuận Chi qua điện ảnh

       Bài từ nhớ vợ bi thương là thế, xót xa là thế; Mỗi hàng mỗi chữ đều như là những dòng lệ nhớ thương vô tận. Đó chính là nàng Vương Phất 王弗 ái nữ của Tiến sĩ Vương Phương là thầy dạy học của Tô Đông Pha từ vỡ lòng cho đến lớn; Nàng là người con gái nết na, tri thư đạt lễ, kết hôn với Tô năm nàng 17 tuổi và Tô 19 tuổi. Vợ chồng trẻ yêu thương rất mực, ân ái mặn nồng. Nhưng chỉ 11 năm sau nàng nhuốm bệnh và qua đời ở tuổi 27. Tô đau lòng đứt ruột, thơ thẩn vào ra chỉ nhớ tới bóng dáng của vợ hiền. Ba năm sau, Tô lại cưới cô em họ của vợ là Vương Nhuận Chi 王閏之, cô nầy tánh tình hiền thục, sống yên phận nên ít có dấu ấn trong văn thơ của Tô. Nhưng đến năm 46 tuổi thì cũng lại nhuốm bệnh qua đời khi Tô đã 58 tuổi rồi. Ngoài hai chị em họ Vương ra, năm 38 tuổi Tô Đông Pha đã từ lầu xanh chuộc về một cô bé 12 tuổi cũng họ Vương tên là Triêu Vân 王朝雲, giỏi cả cầm kỳ thi họa, khi lớn lên đã được Tô nạp làm ái thiếp và theo hầu cận Tô suốt con đường hoạn lộ. Nhưng hồng nhan bạc mệnh, năm 34 tuổi Vương Triêu Vân cũng nhuốm bệnh mà qua đời. Tô rất bi thương, soạn mộ chí và điếu từ, làm bài thơ "Điếu Triêu Vân 悼朝雲" và bài từ "Tây Giang Nguyệt. Mai Hoa 西江月·梅花" ví Triêu Vân như là Mai Hoa cao khiết đã về với cỏi tiên : 

               玉骨那愁瘴霧,      Ngọc cốt nả sầu chướng vụ,
               冰姿自有仙風。      Băng tư tự hữu tiên phong.
               海仙時遣探芳叢。    Hải tiên thì khiển thám phương tùng.
               倒掛綠毛幺鳳。      Đảo quải lục mao yêu phụng.

               素面翻嫌粉涴,      Tố diện phiên hiềm phấn uyển,
               洗妝不褪脣紅。      Tẩy trang bất thối thần hồng.
               高情已逐曉雲空。    Cao tình dĩ trục hiểu vân không.
               不與梨花同夢。      Bất dữ lê hoa đồng mộng !
      Có nghĩa :
                   Cành ngọc nào ngại mù sương,
                   Phong tư yểu điệu tợ dường tiên nga.
                   Cỏi tiên sứ gỉa lân la,
                   Chim xanh phụng biếc hộ hoa bao ngày.

                   Mặt ngọc chê phấn son phai,
                   Môi son vẫn đỏ hơn dày điểm trang.
                   Tình nồng mây sớm mênh mang,
                   Lê hoa cũng chịu mơ màng nhớ nhung !


                                             Vương Triêu Vân qua điện ảnh

       Ngoài ba người phu nhân họ Vương ra, trong đời của Tô Đông Pha còn có rất nhiều thê thiếp mà ông từng sủng ái; Trong số đó có một người ái thiếp tên là Xuân Nương 春娘. Xuân Nương là người nơi nào, sanh năm nào, gia cảnh ra sao thì không ai biết được, vì chỉ theo lời kể của văn học gia Phùng Mộng Long 馮夢龍 đời nhà Minh kể lại trong tác phẩm 《Tình Sử Loại Liệt 情史類略》truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風" như sau :
      Năm Nguyên Phong thứ 3 đời Tống Thần Tông (1080), vì vụ "Ô Đài Thi Án" Tô Đông Pha bị biếm đi làm Đoàn luyện phó sứ ở Hoàng Châu. Khi sắp lên đường, có công tử họ Tưởng đến để tiễn hành. Tô vô cùng cảm động bèn cho người thiếp trẻ đẹp là Xuân Nương ra chuốc rượu mời khách. Thấy Xuân Nương trẻ đẹp lại giỏi văn thơ ứng đối, Tưởng công tử mới động lòng bèn hỏi Tô rằng : Ngài đi đến xứ Hoàng Châu xa xôi, định an trí người đẹp như thế nào đây ? Tô đáp : Đưa nàng về quê với cha mẹ ruột. Nghe thế Tưởng công tử bèn đưa ra một đề nghị thật hoang đường là : Ta có thể dùng một con bạch mã truy phong giúp cho Ngài ngày đi ngàn dặm để đổi lấy Xuân Nương hay không ? Tô Đông Pha nghe thế bèn nghĩ rằng, từ đây đến Hoàng Châu xa xôi ngàn dặm lại núi non cách trở, có được con ngựa đỡ chân cũng là điều rất tốt, bèn không kịp nghĩ gì đến cảm nhận của Xuân Nương mà vui vẻ ưng thuận "Đổi Người lấy Ngựa". Họ Tưởng có được người đẹp, bèn rất đắc ý mà ngâm 4 câu thơ như sau :

                 不惜霜毛雨雪蹄,  Bất tích sương mao vũ tuyết đề,
                 等閒分付贖娥眉。  Đẳng nhàn phân phó thục nga mi.
                 雖無金勒嘶明月,  Tuy vô kim lặc tê minh nguyệt,
                 却有佳人捧玉卮。  Khước hữu giai nhân phủng ngọc chi !
      Có nghĩa :
                  Truy phong bạch mã chi mà tiếc,
                  Đổi được nga mi cũng thỏa tâm.
                  Tuy chẳng cương vàng phi dưới nguyệt,
                  Lại vui chén ngọc với giai nhân.

      Cùng là giới bút mực với nhau, nên Tô Đông Pha cũng đáp lễ lại bằng 4 câu thơ rằng :

               春娘此去太匆匆,   Xuân Nương thử khứ thái thông thông,
               不敢啼聲在恨中。   Bất cảm đề thanh tại hận trung.
               只為山行多險阻,   Chỉ vị sơn hành đa hiểm trở,
               故將紅粉換追風。   Cố tương hồng phấn hoán truy phong.
      Có nghĩa :
                 Xuân Nương đem đổi qủa là ngông,
                 Chẳng dám than van oán ngập lòng.
                 Chỉ tại núi non đường hiểm trở,
                 Mới đem má phấn đổi truy phong !

      "Chỉ tại núi non đường hiểm trở, Mới đem má phấn đổi truy phong!" Qủa là một cái cớ vụng về tàn nhẫn của kẻ bạc tình, nên vừa nghe xong Xuân Nương đã lòng lạnh như tiền, bước đến che mặt nói rằng :"Thiếp nghe nói khi xưa Tề Cảnh Công muốn chém người giữ chuồng ngựa khi để chuồng ngựa bị cháy. Án Tử mới can rằng : Khi chuồng ngựa cháy, Khổng Tử chỉ hỏi "Người có sao không, mà không hỏi Ngựa có sao không" Ấy là qúy người hơn là súc vật. Nay Học sĩ lại đem người để đổi ngựa, là qúy súc vật hơn là qúy người". Nói xong bèn đọc 4 câu thơ rằng :

               為人莫作婦人身,   Vị nhân mạc tác phụ nhân thân,
               百般苦樂在他人。   Bách ban khổ lạc tại tha nhân.
               今日始知人賤畜,   Kim nhật thủy tri nhân tiện súc,
               此生苟活怨誰嗔?    Thử sinh cẩu hoạt oán thùy sân ?
     Có nghĩa :
                 Làm người chớ chọn làm thân gái,
                 Cay đắng sướng vui chỉ tại ai.
                 Nay biết người không bằng súc vật,
                 Sống thừa một kiếp oán ai đây ?!


                                         Hồng Phấn Hoán Truy Phong

      Đọc thơ xong, che mặt khóc lớn, rồi chạy xuống dưới thềm, va đầu vào cây hòe mà chết. Tô Đông Pha đã tỏ ra vô cùng hối hận về sự việc nầy. Ông chỉ muốn tìm cho Xuân Nương một chốn yên thân, không ngờ nàng lại qúa chung tình với ông mà tìm đến cái chết. Có thuyết còn cho rằng vì Xuân Nương đang mang thai con của ông nên nàng càng uất ức... làm cho câu truyện càng trở nên bạc bẽo và nhẫn tâm hơn đối với Tô Đông Pha. Nhưng...

      Câu truyện trên đây có phải là một câu truyện có thực hay không thì còn đang tranh cải; Vì truyện được kể bởi một nhà biên kịch, một kịch tác gia đời nhà Minh là Phùng Mộng Long 馮夢龍 chớ không phải của một nhà chuyên viết sử chân chính. Phùng Mộng Long là nhà chuyên viết về Tiểu thuyết, Kịch bản của các Hí khúc, Dân Ca và Truyện cười dân gian... thường kết hợp những thực tế của cuộc sống mà hư cấu sáng tác nên những tác phẩm như Dụ Thế Minh Ngôn《喻世明言》、Cảnh Thế Thông Ngôn《警世通言》、Tỉnh Thế Hằng Ngôn《醒世恒言》Hợp xưng là TAM NGÔN ... Vả lại...


                                           Phùng Mộng Long qua điện ảnh

       Trong chính sử ghi chép, không tìm đâu ra lý lịch của nàng Xuân Nương, cũng như không tìm thấy Tưởng Công Tử là nhân vật như thế nào, thân thế ra làm sao... Nên, câu truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風" đa phần là do Phùng Mộng Long hư cấu gán ghép mà nên. Nhưng...
       Trong cái xã hội phong kiến đời Đường Tống, việc trọng nam khinh nữ là việc thường tình ở trong cuộc sống. Trai năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường; Qua bài viết nầy ta cũng đã biết Tô Đông Pha cũng chẳng đã tam thê tứ thiếp hay sao. Hơn nữa, việc tặng một người tì thiếp cho một người bạn thơ tri kỷ cũng là môt chuyện thường tình, như truyện của ông Tư Không Lý Thân 司空李紳 đời Đường chỉ vì hai câu thơ của Lưu Vũ Tích là "Tư Không kiến quán hồn nhàn sự, Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường 司空見慣渾閒事,斷盡蘇州刺史腸!"Có nghĩa :"Tư Không quen mắt không cho lạ, Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi !" mà tặng luôn nàng ca kỹ "cung dạng trang (ăn mặc như cung nữ trong cung vua)" cho Lưu Vũ Tích để cho ông ta đừng có "đứt ruột" nữa !(Xem "Bài Thơ Mẫn Nông Thứ Ba ?" của ĐCĐ).
       Khi quan trường bất đắc chí, bị đàn hạch và bị biếm đến Hoàng Châu xa xôi, Tô Đông Pha đang lúc tâm thần bấn loạn, gia đạo rối ren, khí tiết của kẻ sĩ đang đi xuống, nên cũng khó mà giữ được cái phong độ và tiết tháo của một bậc đại phu, mà có những quyết định sai lầm, hồ đồ đến nổi đem người tì thiếp yêu dấu đang có mang của mình để đổi lấy con bạch mã truy phong...
      Thầy Mạnh Tử dạy rằng :“Phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị Đại Trượng Phu 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫”. Nhưng ở đời, có mấy ai đã làm được "Đại Trượng Phu" như lời thầy  Mạnh Tử đã dạy đâu, nhất là ở vào các hoàn cảnh khó khăn, éo le, nghèo nàn, thất bại và bất đắc chí về mọi mặt !

                                                      

       Hẹn bài viết tới !


                                       杜紹德
                                    ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

THƠ TUY LÝ VƯƠNG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 

  Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh

Góc Việt Thi :  
                          Thơ TUY LÝ VƯƠNG
                                    

      Tuy Lý Vương 綏理王 (1820-1897) là tước hiệu của Nguyễn Phúc Miên Trinh 阮福綿寊, sinh ngày 19 tháng 12 năm Kỷ Mão (3 tháng 2 năm 1820) tại viện sau Thanh Hòa điện. Tự là Khôn Chương 坤章, Quý Trọng 季仲, hiệu Tĩnh Phố 靜圃, biệt hiệu Vĩ Dạ 葦野. Minh Mạng đặt cho tên Thư, Tự Đức ban thêm tên Thuyết, thuỵ Đoan Trang. Ông là con thứ 11 của vua Minh Mạng. Nguyễn Phúc Miên Trinh từng giữ các chức Đổng Sự Tôn Học Đường, Hữu Tôn Nhân, Phụ Chính Thân Thần, Phụ Nghị Cận Thần.
      Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, ông được cử làm Đệ nhất Phụ chính Thân thần, kiêm nhiếp Tông Nhân Phủ Tả Tôn Chính, tấn thăng Tuy Lý Quận vương như trước. Năm 1894, tháng 7, vì có công lao lớn, ông lại được tấn phong làm Tuy Lý Vương (綏理王).
      Năm 1897, vì tuổi già, ông xin về nghỉ, chẳng bao lâu thì bị bệnh mất ngày 24 tháng 10 năm Đinh Dậu (18 tháng 11 năm 1897), hưởng thọ 77 tuổi. Nghe tin ông mất, Thành Thái cấp một ngàn quan tiền lo việc tang và ban thụy là Đoan Cung (端恭). Mộ Tuy Lý Vương nay thuộc phường Phường Đúc, sát bên đường Bùi Thị Xuân, thành phố Huế.

Tác phẩm:
- Vĩ Dạ hợp tập 葦野合集 (thơ và văn bằng chữ Hán)
- Nữ phạm diễn nghĩa từ 女範演義詞 (thơ chữ Nôm viết bằng thể lục bát)

       Dưới đây là những bài thơ tiêu biểu của ông.

1. Bài thơ PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU 訪阮文超 :

           偶攀桂樹懷高士,   Ngẫu phan quế thụ hoài cao sĩ,
           為扣柴扉訪友生。   Vị khấu sài phi phỏng hữu sinh.
           華鬢潘郎仍宦拙,   Hoa mấn Phan lang nhưng hoạn chuyết,
           青年阮瑀舊詩名。   Thanh niên Nguyễn Vũ cựu thi danh.


          
                                   Ảnh nguyễn Văn Siêu trên mạng

  * Chú thích :
    - Phỏng 訪 : là Bái Phỏng, là đến thăm ai đó; đây là cách nói trịnh trọng và lịch sự. PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU là Đến thăm viếng nguyễn Văn Siêu. Nói thêm : Nguyễn Văn Siêu sanh năm 1799, còn Tuy Lý Vương sanh 1820, nhỏ hơn Nguyễn Văn Siêu 22 tuổi. Siêu lại bậc đại khoa làm quan đến chức Án Sát, nên Vương rất kính trọng và ngưỡng mộ Siêu.
    - Ngẫu 偶 : là Ngẫu nhiên; Chuyện đưa đến mà không có dự tính trước.  
    - Phan Quế 攀桂 : là Trèo lên cây quế; chỉ Thi Đậu. Ở đây chỉ "Đi thăm người có khoa cử" như là đèo bồng mà trèo lên cây quế vậy. Hàm ý khiêm nhượng và tôn trọng của Tuy Lý Vương đối với Nguyễn Văn Siêu.
    - Cao Sĩ 高士 : Kẻ sĩ cao nhã; chỉ Nguyễn Văn Siêu.
    - Sài Phi 柴扉 : là Cánh cửa bằng gỗ, chỉ ở trong nhà tranh vách đất.
    - Hữu Sinh 友生 : là Bạn bè cùng học tập hay cùng là giới văn bút với nhau. Có xuất xứ từ Kinh Thi. Chương Tiểu Nhã. bài Thường Đệ《诗·小雅·常棣》 có câu : "Tuy hữu huynh đệ, Bất như HỮU SINH 虽有兄弟,不如友生". Có nghĩa : Mặc dù có anh em, nhưng vẫn không bằng được bạn cùng học tập".
    - Hoa Mấn Phan Lang 華鬢潘郎 : Tóc mai hoa râm của chàng họ Phan. Có xuất xứ từ câu từ của Sử Đạt Tổ đời Tống 宋。史達祖 : Thu phong tảo nhập Phan Lang mấn 秋風早入潘郎鬢. Có nghĩa "Gío thu sớm đã thổi vào tóc mai của chàng Phan". Y chỉ "tóc mai" đã hoa râm, đã già qúa nữa đời người rồi.
    - Hoạn Chuyết 宦拙 : là Quan trường vụng về; ý chỉ "Quan trường trắc trở".
    - Nguyễn Vũ 阮瑀 : là cháu của Nguyễn Tịch 阮籍. Hai chú cháu đều có tên trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn. Nên THANH NIÊN NGUYỄN VŨ 青年阮瑀 chỉ chung "những người tuổi trẻ mà tài cao". Đây là lời ca ngợi Nguyễn Văn Siêu của Tuy Lý Vương.

   * Nghĩa bài thơ :
                     ĐẾN THĂM NGUYỄN VĂN SIÊU
          Ngẫu nhiên mà ta có ý muốn trèo cao để đến với kẻ sĩ cao nhã; Vì thế mới gỏ cửa sài để thăm viếng người cùng trong giới văn chương học tập. Thương thay cái anh chàng Siêu nầy cũng giống như anh chàng Phan, tóc đã hoa râm rồi mà đường hoạn lộ vẫn còn nhiều trắc trở; trong khi lại có tài hoa như là chàng Nguyễn Vũ lúc còn thanh niên trai trẻ vậy.

       
                                 Nguyễn Vũ và Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm Thất Hiền

      Bài thơ chỉ cò 4 câu mà đầy rẫy những điển tích và điển tích. Đây cũng là điều chứng tỏ Tuy Lý Vương có sở học uyên bác hơn người, xuất khẩu thành chương đối với giới học thuật, chớ giới bình dân thì không bao giờ với tới nổi...

   * Diễn Nôm :
                      PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU

                   Đèo bồng đến với người cao nhã,
                   Nên gõ cửa sài viếng bạn văn.
                   Tóc bạc Phan lang còn lận đận,
                   Thanh niên Nguyễn Vũ qủa tài năng !
        Lục bát :
                   Đèo bồng với tới người cao,
                   Cửa sài đánh bạo gỏ ào viếng thăm.
                   Chàng Phan tóc đã hoa râm,
                   Thanh niên Nguyễn Vũ tài năng vang lừng !


2. Bài thơ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈黎凝甫 :

           詞賦鄒枚舊勝流,   Từ phú Trâu Mai cựu thắng lưu,
           一麾出守幾清秋。   Nhất huy xuất thú kỷ thanh thu.
           三千風月留吟賞,   Tam thiên phong nguyệt lưu ngâm thưởng,
           羨殺輕篷印渚舟。   Tiện sát khinh bồng Ấn chử chu.


Ảnh minh họa Trâu Dương &Mai Thừa
                             
   * Chú thích :
     - TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈黎凝甫 : Thơ làm tặng cho Lê Ngưng Phủ. Chưa rõ Lê Ngưng Phủ là ai, chỉ biết ông làm quan tại Quảng Ngãi. Tuy Lý Vương Miên Trinh có đề thơ tặng cho ông. Lời thơ thành thật, thẳng thắn, đề cao tài năng xuất chúng của họ Lê. 
     - Trâu Mai 鄒枚 : Tức Trâu Dương 鄒陽 (206-129 Trước Công nguyên) và Mai Thừa 枚乘 (?-140 Trước Công nguyên), hai nhà Tản văn và nhà Từ phú thời Tây Hán. Trâu Dương là tác giả bài "Thướng Ngô vương thư 上吳王書", "Vu ngục trung thướng thư tự minh 于獄中上書自明". Mai Thừa là tác giả bài phú "Thất phát 七發". Ở đây, Tuy Lý Vương Miên Trinh đề cao tài văn chương của Lê Ngưng Phủ hơn hẳn hai họ Trâu, Mai của thời Tây Hán, là thời cực thịnh của Tản văn và Từ phú.
    - Nhất Huy Xuất Thú  一麾出守 : Mệnh quan triều đình được đặc phái ra làm quan ở bên ngoài. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Nhan Diên Chi, nhà Tống ở Nam Triều 南朝·宋·颜延之 là : Lũ tiến bất nhập quan, Nhất huy nãi xuất thú 屢荐不入官,一麾乃出守. Có nghĩa : Mấy lần tiến cử chẳng nên quan, Chỉ phất cờ chỉ huy là làm ngay Thái Thú. 
    - Tam Thiên Phong Nguyệt 三千風月 : Ba ngàn bài thơ ngâm vịnh gió trăng. Có xuất xứ từ hai câu thơ nói về sự xung đột giữa Tễ tướng Vương An Thạch và nhà từ phú Âu Dương Tu là : Hàn lâm phong nguyệt tam thiên thủ, Lại bộ văn chương nhị bách niên 翰林風月三千首,吏部文章二百年. Có nghĩa : Hai trăm năm văn chương Lại bộ, Ba ngàn bài trăng gió Hàn lâm. Ý chỉ "Những áng văn chương tuyệt tác".
    - Tiện Sát Khinh Bồng Ấn Chử Chu 羨殺輕篷印渚舟 : là "Rất hâm mộ cho cánh buồm nhẹ để lại dấu ấn cho chiếc thuyền trên bến nước sông". Có thể là tích của    tướng quân Tạ Thượng 謝尚 của đời Đông Tấn, là người đất Thái Khang tỉnh Hà Nam, là anh họ chú bác của danh tướng Tạ An 謝安. Ông là người văn võ song toàn, giỏi cả cầm kỳ thi họa, được phong là Trấn Tây Tướng Quân trấn thủ vùng núi Ngưu Chử. Trong một đêm thu khi ông cùng các tuỳ tùng thả thuyền theo dòng Tây Giang để ngắm trăng, tình cờ nghe được trong một chiếc thuyền nan có một chàng thư sinh đang ngâm thơ vịnh sử; Ông bèn cho người đến mời lên thuyền của mình và hai người đã cùng đàm đạo với nhau suốt đêm rất là tương đắc. Người thư sinh đó chính là Viên Hoằng 袁宏, nhà nghèo lại mồ côi sớm, đang làm nghề đưa đò để độ nhật. Sau hôm gặp gỡ và cùng đàm đạo suốt đêm với Tướng Tạ Thượng, tiếng tăm tài giỏi của Viên Hoằng được đồn đại khắp nơi, và sau nầy phát tích làm quan đến chức Thái Thú của Đông Dương.

   * Nghĩa bài thơ :
                       THƠ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ
         Từ và phú của hai họ Trâu và họ Mai là những bậc nổi tiếng từ xưa. Là mệnh quan triều đình được điều đi làm Thái Thú bên ngoài mấy mùa thu rồi. Ba ngàn gió trăng phong nguyệt còn để lại để ngâm vịnh thưởng thức; Làm cho người ta hâm mộ muốn chết về chiếc buồn con để lại dấu ấn bên bến nước sông.

       Lại cũng chỉ là một bài Thất ngôn tứ tuyệt nhưng lại tràn ngập những điển tích và điển tích ! Thơ qúa bác học làm cho người đọc không sao theo kịp để nhận biết được cái hay ho thi vị của nó mà thưởng thức. Và... Ông đã ca ngợi đề cao Lê Ngưng Phủ một cách qúa đáng, xa rời thực tế đến không thể chấp nhận được. 

   * Diễn Nôm :



                      TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ

                 Từ phú Trâu Mai cũng chịu thua,
                 Cử làm Thái Thú mấy thu qua.
                 Ba ngàn phong nguyệt thơ ngâm vịnh,
                 Hâm mộ cánh buồm bến nước xưa.
       Lục bát :
                 Trâu Mai từ phú thua xa,
                 Cử làm Thái Thú thu qua mấy mùa, 
                 Ba ngàn trăng gió ngâm nga,
                 Bến xa Ngưu chữ thuyền qua in bờ.


3. Bài thơ TUẾ MỘ 歲暮 :

           北望閭簷空杼柚,   Bắc vọng lư thiềm không trữ trục,
           南來壁壘尚干戈。   Nam lai bích luỹ thượng can qua.
           衮衣肉食終無補,   Cổn y nhục thực chung vô bổ,
           愧爾飧英帶女蘿。   Quý nhĩ san anh đới nữ la.

                    

   * Chú thích :
     - TUẾ MỘ 歲暮 : TUẾ là Tuổi, là Năm; MỘ có bộ Nhật ở dưới, chỉ mặt trời lặn, là đã về chiều. Nên TUẾ MỘ là Năm đã về chiều, là CUỐI NĂM.
     - Bắc Vọng 北望 : là Ngóng về phương bắc.
     - Lư Thiềm 閭簷 : là Cổng và Mái nhà; chỉ chung cho "Nhà cửa".
     - Trữ Trục 杼柚 : là Con thoi dùng để dệt vải. TRỮ để dệt sợi ngang, còn TRỤC thì dệt sợi dọc.
     - Nam Lai 南來 : là Đi về hướng Nam.
     - Bích Luỹ 壁壘 : là Những Bờ lũy và Tường chắn trong chiến tranh.
     - Can Qua 干戈 : CAN là cái khiên để đở; QUA là cây mác để đâm chém. Nên CAN QUA có nghĩa là Đánh nhau là Chiến tranh.
     - Cổn Y Nhục Thực 衮衣肉食 : CỔN Y là Quần áo qúy giá của vua quan mặc; NHỤC THỰC là Ăn thịt thà sang trọng. Nên CỔN Y NHỤC THỰC là Ăn ngon mặc đẹp. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Khu Sĩ Hành 區仕衡 đời Tống là : Hạt y tằng thế cổn y sầu, Nhục thực thùy tri hoắc thực ưu 褐衣曾替衮衣愁,肉食誰知藿食憂。Có nghĩa : Người mặc áo vải thô thường sầu thế cho người mặc áo đẹp; còn người ăn thịt có ai biết được cái ưu tư của người ăn rau cải đâu !.
     - Qúy 愧 : là Thẹn thùa, là mắc cở.
     - San Anh Đới Nữ La 飧英帶女蘿 : Ăn bông hoa và đeo những dây leo chằng chịt; Chỉ Ăn mặc cầu kỳ diêm dúa. Có xuất xứ từ bài Sơn Qũy trong Cửu Ca của Khuất Nguyên 屈原的《九歌·山鬼》đời Tiên Tần với hai câu mở đầu : Nhược hữu nhân hề sơn chi a, Bị bệ lệ hề đới nữ la 若有人兮山之阿,被薜荔兮带女萝。Có nghĩa : Nếu như có người đi ở trên triền núi, khoác áo dâu tằm và đeo những dây leo có bông hoa sặc sỡ (Chỉ "Ăn mặc diêm dúa").

   * Nghĩa bài thơ :
                            CUỐI NĂM 
        Ngóng về phương bắc thì nhà cửa không có nghe tiếng của khung cửi con thoi nào cả; còn đi về phương nam thì đồn luỹ chập chùng đang trong cơn chiến loạn. Ăn ngon mặc đẹp trong ngày Tết đâm ra rất vô bổ, không làm sao cả. Thẹn cho người còn ăn mặc cầu kỳ diêm dúa như một con qũy núi.  
        Ý chỉ đơn giản có thế, nhưng ông Tuy Lý Vương của ta lại sử dụng chữ nghĩa cầu kỳ cao siêu và điển tích hiễm hóc làm cho người đọc hoang mang mơ hồ không biết là ông định nói lên điều gì...

   * Diễn Nôm :
                                   TUẾ MỘ 

                        
                      Trông lên bắc nhà không dệt cửi,
                      Xuôi về nam thành lũy can qua.
                      Ăn ngon mặc đẹp chừng vô ích,
                      Thẹn bạn cầu kỳ với áo hoa !
   Song thất Lục bát :
                      Về bắc ngóng nhà không dệt cửi,
                      Xuôi nam thì chiến lũy can qua.
                      Ăn ngon mặc đẹp chi mà...
                      Thẹn người diêm dúa áo hoa làm gì ?!


4. Bài thơ LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅夜得故人書 :

              小館閉柴荊,   Tiểu quán bế sài kinh,
              寒燈暗復明。   Hàn đăng ám phục minh.
              忽驚書問訊,   Hốt kinh thư vấn tín,
              坐覺歲崢嶸。   Tọa giác tuế tranh vanh.
              曉月兼霜色,   Hiểu nguyệt kiêm sương sắc,
              秋風似雨聲。   Thu phong tự vũ thanh.
              酒醒相憶處,   Tửu tinh tương ức xứ,
              鐘漏隔嚴城。   Chung lậu cách nghiêm thành.

               

   * Chú thích :
     - LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅夜得故人書 : là "Đêm ở đất khách, nhận được thư bạn cũ".
     - Sài Kinh 柴荊 : SÀI là Củi, KINH là loại cây mọc thành bụi. Ở nhà quê hay dùng cây Kinh để đan phên, vì thế nên cánh cửa phên ở dưới quê gọi là “Sài Kinh”. 
     - Hốt Kinh 忽驚 : KINH ở đây là Ngạc nhiên chớ không phải Sợ hãi. Nên HỐT KINH là Bỗng cảm thấy ngạc nhiên.
     - Tranh Vanh 崢嶸 : Chót vót, ở đây có nghĩa là Lơ Lửng chập chờn.
     - Hiểu Nguyệt 曉月 : là Ánh trăng buổi sáng.
     - Chung Lậu 鐘漏 : Tiếng chuông đồng hồ nhỏ giọt báo thời gian.
     - Nghiêm Thành 嚴城 : Thành quách được giới nghiêm và phòng bị kỹ càng. 

   * Nghĩa bài thơ :
                      ĐÊM Ở ĐẤT KHÁCH NHẬN ĐƯỢC THƯ BẠN CŨ
          Ta đóng lại cửa phên nơi quán trọ nhỏ nhoi nầy, trong ngọn đèn lạnh lẽo tranh tối tranh sáng. Bỗng ngạc nhiên làm sao khi nhận được thư hỏi thăm tin tức, ngồi đây mà cảm thấy như thời gian của năm tháng đang lơ lửng ở trên đầu. Trong cảnh trăng tàn buổi sáng hòa vào trong màu sương sớm, tiếng gió thu hiu hắt tựa như là những tiếng mưa rơi. Rượu đã tỉnh nhớ lại chỗ nhớ nhau là nơi thành quách đang giới nghiêm trong tiếng thời gian nhỏ giọt của khắc lậu canh tàn !

   * Diễn Nôm :
                    LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ

                  

                    Cửa gài phên quán nhỏ,
                    Đèn lạnh khi mờ tỏ.
                    Bỗng nhận thư hỏi tin,
                    Thời gian như bỏ ngỏ.
                    Trăng sớm mờ sương đêm,
                    Mưa thu ngờ tiếng gió.
                    Rượu tỉnh nhớ nhau đây,
                    Khắc lậu thành nghiêm đó ! 
        Lục bát :
                    Cửa sài quán nhỏ phên kinh,
                    Chập chờn đèn lạnh chợt minh chợt mờ.
                    Bỗng dưng nhận được tin thơ,
                    Thời gian lơ lửng ngồi trơ canh dài.
                    Trăng hòa sương sớm ban mai,
                    Gió thu xào xạt ngỡ ngoài đổ mưa.
                    Rượu say tỉnh giấc nhớ xưa,
                    Giới nghiêm thành quách canh vừa điểm chuông.


5. Bài thơ ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬夜雜詩 : 

              有客至自遠,   Hữu khách chí tự viễn,
              排闥升堂階。   Bài thát thăng đường giai.
              矍然執手笑,   Quắc nhiên chấp thủ tiếu,
              乃心久所懷。   Nãi tâm cửu sở hoài.
              淵塞固景仰,   Uyên tắc cố cảnh ngưỡng,
              矧茲富藻辭。   Thẩn tư phú tảo từ.
              瑤琴久不弄,   Dao cầm cửu bất lộng,
              為君理朱絲。   Vị quân lý chu ty.
              施恐風雨散,   Thi khủng phong vũ tán,
              仳我念裨離。   Tỷ ngã niệm bì ly.

                
   * Chú thích :  
     - ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬夜雜詩 : TẠP là Tạp nhạp, vặt vãnh; Nên ĐÔNG DẠ TẠP THI là Bài thơ vặt vãnh được làm trong đêm đông.
     - Bài Thát 排闥 : THÁT là cái cửa ngách, cửa nhỏ bên hông; Nên BÀI THÁT là Đẩy cửa hông mà vào.  
     - Quắc nhiên 矍然 : là Nhớn nhác; ở đây có nghĩa là Vội vàng.       
     - Uyên Tắc 淵塞 : UYÊN là Vực sâu; TẮC là bế tắc, cách trở. Nên UYÊN TẮC là Xa xôi cách trở.
     - Thẩn Tư 矧茲 : là Huống hồ, Huống chi...
     - Tảo Từ 藻辭 : là Nói những lời lẽ tốt đẹp.
     - Chu Ty 朱絲 : là những sợi tơ dùng làm dây đàn.
     - Tỷ 仳 : TỶ là TỶ LY 仳離 là Chia tay, Chia lìa.
     - Bì Ly 裨離 : Một nước nhỏ xa xôi ở vùng Cam Túc xưa. Ở đây mượn chỉ Vùng xa xôi cách trở.

   * Nghĩa bài thơ :
                         BÀI THƠ VẶT LÀM TRONG ĐÊM ĐÔNG
          Có khách từ phương xa đến, đẩy cửa hông mà vào lên đến bậc thềm phòng khách. Ta vội vàng đến nắm tay mà cười đón, vì đây chính là người mà hằng lâu ta đã nhớ mong. Đường xá xa xôi cách trở nên luôn ngưỡng mộ nhau, huống hồ chi là những lời nói tốt đẹp dành cho nhau. Chiếc dao cầm lâu ngày đã không đụng đến; Bây giờ sẽ vì bạn mà sửa lại dây tơ (để đàn một khúc). Chỉnh e rồi mưa gió lại phải phân tán chia ly. Rời xa ta rồi thì chỉ còn có nước thương nhớ về nơi xa xôi!...

   * Diễn Nôm :
                        ĐÔNG DẠ TẠP THI

                    

                      Có khách từ xa đến, 
                      Đẩy cửa hông bước vào.
                      Vội vàng cười đón tiếp,
                      Vì lòng những ước ao.
                      Xa xôi luôn ngưỡng mộ,
                      Lời khách sáo nhớ sao.
                      Dao cầm lâu chưa gãy,
                      Vì bạn thay dây nào.
                      Chỉnh e trời mưa gió,
                      Chia tay nhớ biết bao !
         Lục bát :
                      Từ xa có khách đến chơi,
                      Xô cửa thẳng bước tới nơi công đường.
                      Vội vàng tay bắt mặt mừng,
                      Bởi lòng luống những bâng khuâng nhớ người.
                      Xa xôi ngưỡng mộ lâu rồi,
                      Bao lời khách sáo nói cười cùng nhau.
                      Dao cầm ngày tháng tiêu hao,
                      Vì người vội vả thay mau dây đàn.
                      Chỉnh e mưa gió ly tan,
                      Chia tay lại nhớ ngút ngàn nơi xa !

       Xin được tạm ngưng bài dịch thơ của Tuy Lý Vương Miên Trinh ở đây. Sẽ dịch tiếp khi có cơ duyên mới !...


                                        杜紹德
                                      ĐỖ CHIÊU ĐỨC