

NGHỆ THUẬT VẼ NGỰA TRÊN GỐM CHU ĐẬU
Chu Ðậu là tên gọi chung của các loại gốm tìm được ở nhiều địa điểm sản xuất gốm ở Hải Dương như Mỹ Xá, Trạm Ðiền, Vạn Yên, Bãi Trụ Thượng, Kiết Ðoài, Linh Xá, Phúc Láo, Làng Ngói, Bá Thủy, Hợp Lễ, Xích Ðằng... Các làng gốm này đều nằm ở 2 bên bờ sông Thương, sông Thái Bình(1), nhờ vậy thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên liệu về lò và đưa các sản phẩm ra cảng biển. Ðồ gốm Chu Ðậu bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ XIV, phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XV-XVI rồi tàn lụi vào khoảng thế kỷ XVII.
Gốm Chu Đậu trên “Con đường gốm sứ”
Khoảng cuối thế kỷ XIV, gốm tráng men Việt đã được sản xuất rất nhiều ở vùng đồng bằng Bắc bộ, sản phẩm gốm men trắng hoa lam, men màu thời bấy giờ đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của gốm-sứ Việt; lúc bấy giờ có nhiều làng gốm ở Bắc bộ, trong đó hai trung tâm gốm nổi tiếng nhất là Chu Đậu (Hải Dương) và Bát Tràng (Hà Nội). Thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước ở Đông Nam Á thường xuyên ghé vào Phố Hiến và Thăng Long để lấy hàng hóa, trong đó gốm sứ là mặt hàng rất được ưa chuộng; có thể nói gốm tráng men Việt đã góp phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của "Con đường gốm sứ” thời bấy giờ.
Trong nhiều thế kỷ, hoạt động hàng hải trên biển Thái Bình Dương rất nhộn nhịp, con đường giao thông trên biển nầy được gọi là Con đường tơ lụa trên biển hoặc con đường gốm sứ, bởi ngoài những mặt hàng như tơ lụa, hồ tiêu, trầm hương..., gốm sứ là loại hàng hóa không thể thiếu từ Trung Quốc và Việt Nam đi đến các nước Nam Á và Tây Á. Từ năm 1371đến 1567, nhà Minh chủ trương đóng cửa để chiếm độc quyền hoạt động hàng hải vào tay triều đình, chỉ có các đội tàu của Hoàng Đế và sứ bộc các nước mới được ra vào các cảng Trung Quốc; đây là cơ hội cho các nước vùng Đông Nam Á giành thị phần; ở Việt Nam các cảng Vân Đồn, Đại Chiêm vẫn tiếp đón thương thuyền các nước. Nhu cầu sử dụng đồ gốm sứ không ngừng gia tăng, nhưng lại thiếu hụt gốm sứ Trung Quốc, do vậy đồ gốm tráng men của Việt Nam trở nên được ưa chuộng. Theo Gs. Aoyagi Yoji (Đại học Yochi-Nhật Bản), cho đến nay đã biết được 32 di tích khảo cổ học ở vùng Đông Nam Á phát hiện được gốm Việt Nam: Malaysia có 9 địa điẻm, Brunei có 02 địa điểm, Philippines có 10 địa điểm, Indonesia có 11 địa điểm(2). Kết quả khai quật khảo cổ học đưới nước ở vùng biển Cù Lao Chàm đã cung cấp thêm nhiều cứ liệu về con đường gốm sứ này; qua nghiên cứu con tàu đắm cổ và các di vật trên tàu, các nhà khảo cổ cho biết đây là thương thuyền của Thái Lan cập cảng Vân Đồn vào thế kỷ XV để chở một khối lượng đồ gốm khá lớn của vùng Chu Đậu - Mỹ Xá (Hải Dương) đi xuống phía Nam, ngang qua vùng biển Cù Lao Chàm, có lẽ vì chở quá nặng và gặp bão tố nên con tàu này đã bị đắm. Theo Gs. Hasebe Gakuji (Bảo tàng quốc gia Tokyo - Nhật Bản), vào thế kỷ XV-XVII, gốm sứ Việt Nam được nhập vào Nhật Bản rất nhiều, người Nhật thời bấy giờ rất thích gốm Chu Đậu. Những thuyền buôn Nhật Bản đến Việt Nam để mua tơ lụa, hương liệu, tạp hóa và một khối lượng lớn đồ gốm, trong đó có nhiều di vật vẫn còn được bảo quản tốt trong các gia đình dòng dõi Shôgun (Tướng quân), Daimyo (võ sĩ)(3).

Sắc hoa màu gốm
Gốm tráng men Việt thế kỷ XV được xem là đã đạt đến đỉnh cao về loại hình sản phẩm, nghệ thuật trang trí lẫn công nghệ sản xuất. Những hiện vật được khai quật trong những năm 1997 - 2000 từ con tàu đắm cổ thế kỷ XV-XVI ở vùng biển Cù Lao Chàm- Quảng Nam thuộc dòng gốm Chu Đậu đã minh chứng cho quá khứ vàng son của gốm Việt ở thế kỷ XV-XVII. Trình độ khoa học và công nghệ vật liệu khá cao đã lưu dấu ấn của truyền thống gốm Việt trong những sản phẩm thời kỳ này.
Gốm Chu Ðậu rất phong phú về loại hình: bát chân cao, bát chân thấp, tô, đĩa, chén, tước, bình, ấm, âu, chậu, lu, hũ, chân đèn, lư hương, hộp, lọ, bình vôi, nghiên mực; các loại tượng người, tượng động vật... Trong đó đặc sắc nhất phải kể đến loại bình ngọc hồ xuân mà ta quen gọi là bình tỳ bà bởi hình dạng gần giống như chiếc đàn tỳ bà, loại hình nầy xuất hiện khá nhiều trong con tàu đắm cổ vùng biển Cù Lao Chàm, theo một số nhà nghiên cứu, loại bình ngọc hồ xuân nầy chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của nước ngoài.
Trong số các sản phẩm gốm Chu Đậu còn tồn tại đến ngày nay, đồ gốm men trắng hoa lam và men nhiều màu (thường có các màu: lam, đỏ, xanh lá cây, vàng...) được thể hiện bằng những họa tiết trang trí đặc sắc. Với đồ gốm men trắng hoa lam, men lam được vẽ trước khi tráng lớp men trong suốt. Theo các nhà chuyên môn, màu lam này được tạo ra từ chất liệu coban; màu xanh lam hình thành do Co phân ly trong thủy tinh alumino-silicate cùng với Fe và Mn trong quá trình nung sản phẩm. Trong dòng gốm men trắng hoa lam nầy, gam màu lam thay đổi từ màu lam tươi đến xanh đen sẫm, các nhà chuyên môn cho biết, tỉ lệ Fe và Co càng cao thì cho màu xanh lam càng đậm, chuyển thành màu xanh đen. Với đồ gốm men nhiều màu, sau khi đã nung sản phẩm tạo lớp men trong suốt, người ta mới vẽ trang trí trên men, sau đó sản phẩm được nung lần thứ hai để cố định màu. Bên cạnh đó, có lúc người ta còn áp dụng kỹ thuật trang trí men trắng hoa lam và men nhiều màu trên cùng một sản phẩm để tạo hiệu quả mỹ thuật tối đa. Dưới đáy những loại đồ gốm nầy thường quét một lớp men màu nâu, mà thuật ngữ chuyên môn gọi là men chocolate. Những họa tiết trang trí màu lam rất bền nhờ lớp men phủ bên trên bảo vệ. Loại men xanh lá cây là men thủy tinh chì (Pb) pha đồng (Cu). Ngoài phần vẽ men xanh lá cây, dấu vết của Pb cũng được phát hiện khá rõ khắp bề mặt men, nguyên nhân là do sự khuếch tán của Pb trong khi nung sản phẩm(4).
Đặt biệt, trong bộ sưu tập gốm Chu Đậu được tìm thấy trong tàu đắm cổ Cù Lao Chàm, có một số di vật được vẽ bằng kĩ thuật vẽ vàng kim/tô vàng trên gốm, người thợ vẽ dùng bột vàng tô viền theo những hoạ tiết chính của hoa văn, làm tăng thêm phần sang trọng, quý phái cho sản phẩm, đồng thời cũng thể hiện tài năng điêu luyện và kỹ thuật tiến bộ của các nghệ nhân gốm Việt ngày xưa.
Các chi tiết hoa văn trên gốm Chu Đậu được thể hiện đậm nhạt theo lối phóng bút hoặc vẻ bằng những nét tinh tế theo lối công bút. Cũng có sản phẩm người ta sử dụng cả hai phương pháp trên để trang trí hoa văn. Đề tài trang trí trên gốm Chu Đậu rất phong phú, từ những con vật thần thoại như bộ tứ linh: long - lân - quy - phụng, cá hóa rồng, đến các loại động vật trong đời thường như cá chép, tôm, hổ, trâu, dê, ngựa, chim sẻ, chim bói cá, mây nước, cánh sen, vịt bơi trong hồ sen; các đồ án hoa mẫu đơn, cúc, trúc; hoa văn hình học như bát giác, lục giác, hình thoi, hình sóng nước... và không ít những cảnh sinh hoạt ở chốn cung đình lẫn nông thôn, phong cảnh sơn thủy.
Từ ngựa đến long mã


Trong số các cổ vật gốm Chu Đậu được trục vớt từ con tàu đắm cổ Cù Lao Chàm, có một số di vật vẽ hình ngựa kết hợp với các loại hoa văn khác. Trên nền tảng một hệ thống đề tài trang trí phong phú, nghệ thuật vẽ ngựa trên gốm Chu Đậu tiêu biểu cho khả năng dung hòa giữa đời sống hiện thực, tư duy biểu tượng và cảm quan tạo hình giàu tính dân gian. Ngựa – vốn là con vật quen thuộc trong sinh hoạt, chiến trận và vận tải của xã hội trung đại – khi đi vào thế giới gốm Chu Đậu, ngựa được nâng lên thành một hình tượng mang tính biểu trưng cao, đặc biệt thông qua biến thể long mã.
Trên một chiếc liễn men trắng vẽ hoa lam, cùng với dải hoa văn cánh sen cách điệu, long mã được thể hiện dưới dạng cổ điển, tuy nhiên không trang nghiêm như long mã ở các bức bình phong, ở đây, người nghệ sĩ dân gian đã phóng bút vẽ một long mã tung vó phi trong mây, con vật có đầu rồng với 2 sừng dài, thân hình ngựa phủ vảy rồng, chiếc đuôi xoắn của kỳ lân. Những đám mây quanh long mã cách điệu hình đao lửa (đám mây xoắn cuộn kết hợp hình đao ngọn lửa), đôi cánh như một đám mây đao lửa kéo dài từ ức lên lưng long mã và tung bay về phía sau (H.1). Trong tác phẩm long mã này, yếu tố “ngựa” được khai thác theo dáng vẻ cổ điển, với đầu rồng, thân ngựa phủ vảy, đuôi kỳ lân, nhấn mạnh yếu tố linh vật và tính biểu trưng vũ trụ. Tuy nhiên, ngựa không bị “hòa tan” hoàn toàn vào rồng, mà giữ vai trò chủ đạo trong tư thế, chuyển động và cảm xúc tạo hình. Long mã phi nước đại, tung vó trong mây, biểu đạt tinh thần vận động, biến hóa – đúng với quan niệm Âm – Dương giao hòa và sự chuyển hóa không ngừng của vũ trụ.
Đặc sắc hơn cả là những tác phẩm long mã mang đậm “chất ngựa”, nơi hình tượng ngựa gần như chiếm trọn không gian thị giác. Trên một thạp gốm men trắng hoa lam, Phần vai và chân thạp trang trí văn cánh sen cách điệu quen thuộc của gốm Chu Đậu. Phần giữa thân thạp là một long mã đang phi nước đại giữa đám mây cuộn. Con long mã này không theo kiểu truyền thống như trong nghệ thuật Trung Hoa. Với nét vẽ đầy chất ngẫu hứng, phóng khoáng, người họa sĩ dân gian đã thể hiện một con ngựa có cánh gần giống với con ngựa bay Pegasus trong thần thoại Hy Lạp, đôi cánh ngựa cách điệu, tạo đường viền như một dải mây; trên mình ngựa cũng vẽ nhiều đốm lớn nhỏ xen lẫn nhau, phần đầu ngựa được thể hiện khác lạ, phần mõm khá dữ tợn, dường như đang hóa dần thành đầu rồng. Phần khớp gối của 2 chân sau phủ túm lông như chân kỳ lân (H.2). Đôi cánh được cách điệu từ mây, từ đao lửa, gắn liền với thân ngựa một cách tự nhiên, không gượng ép. Cách xử lý này cho thấy nghệ nhân Chu Đậu không sao chép máy móc mô thức long mã Trung Hoa, mà sáng tạo một biến thể riêng, rất phóng khoáng, thậm chí có những tương đồng ngẫu nhiên với hình tượng ngựa bay trong thần thoại phương Tây. Điều đó phản ánh khả năng tiếp biến văn hóa linh hoạt của nghệ thuật gốm Việt Nam thế kỷ XV–XVI.
Trên một chiếc đĩa lớn, men nhiều màu, vành đĩa tạo hình cánh sen, giữa lòng đĩa thể hiện một con ngựa có cánh dài đang tung vó bay trong mây, con long mã nầy cũng mang đậm chất ngựa như bức vẽ trên thạp gốm. Long mã và các đám mây được bố cục theo dạng tròn, đầu long mã vươn cao, nét phóng bút nhẹ nhàng khiến bức vẽ long mã trở nên linh hoạt hơn, khiến người xem có thể hình dung long mã đang chuyển động theo vòng tròn trên bầu trời. (H.3)
Ở giữa một chiếc đĩa men trắng hoa lam, người nghệ sĩ dân gian vẽ một con ngựa đang sải vó phi nước đại, bao quanh ngựa là những đám mây cách điệu hình đao lửa. Nét độc đáo ở đây là đám mây đao lửa ôm lấy phần cổ và bay ra phía sau giống như đôi cánh ngắn, cổ ngựa vươn cao, động tác toàn thân như đang chuyển theo vòng tròn. (H.4)
Trên thân một chiếc hủ men trắng hoa lam, ngựa trong tư thế phi nước đại, được đặt trong không gian mây cuộn, thân ngựa vươn dài, bốn chân co – duỗi nhịp nhàng, tạo nên cảm giác chuyển động liên tục. Trên thân ngựa, các chấm tròn và nét ngắn rải đều làm giảm bớt sự đơn điệu của mảng thân lớn. Ngựa mang đôi cánh lớn với hoa văn chấm như trên thân. Đuôi ngựa tung về phía sau, được kéo dài bằng những đường bút mềm nhưng dứt khoát, nhấn mạnh hướng ngựa chuyển động về phía trước. Trong bối cảnh gốm Chu Đậu vốn phục vụ cả thị trường trong nước lẫn xuất khẩu, hình ảnh ngựa có cánh có lẽ sự tiếp biến giữa tư tưởng bản địa với mỹ thuật Trung Hoa và Tây Á, nơi các mô-típ linh thú bay xuất hiện khá phổ biến. (H.5)
Về bố cục, ngựa và long mã trên các đĩa gốm Chu Đậu thường được đặt trong không gian mây trời chuyển động theo dạng tròn, tạo cảm giác tuần hoàn và liên tục. Bố cục tròn này không chỉ phù hợp với hình dáng của đồ gốm, mà còn hàm chứa tư duy vũ trụ luận phương Đông, nơi mọi chuyển động đều nằm trong một chu trình khép kín. Ngựa vì thế không chỉ là hình ảnh động vật, mà trở thành “trục chuyển động” của toàn bộ bố cục, dẫn dắt nhịp điệu của mây, lửa cùng các loại hoa văn khác ở xung quanh.
Có thể khẳng định, nghệ thuật vẽ ngựa trên gốm Chu Đậu là sự kết tinh của tay nghề tạo hình điêu luyện, tư duy sâu sắc và tinh thần sáng tạo dân gian phóng khoáng. Thông qua hình tượng ngựa và long mã, phải chăng những nghệ nhân gốm Chu Đậu muốn gửi gắm vào tác phẩm quan niệm về sức sống, thời gian, sự vận động của vũ trụ và khát vọng bay bổng của con người. Đó chính là giá trị độc đáo của hình tượng ngựa trên gốm Chu Đậu trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam.
HỒ XUÂN TỊNH
Chú thích:
(1) Tăng Bá Hoành (chủ biên) Gốm Chu Đậu. Kinh Books. Hà Nội 1999, tr.14 - 17
(2) Aoyagi Yoji. Đồ gốm Việt Nam đào được ở vùng quần đảo Đông Nam Á. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đô thị cổ Hội An. NXB Khoa học Xã Hội 1991, tr. 113 - 119
(3) Hasebe Gakuji. Tìm hiểu mối quan hệ Nhật – Việt qua đồ gốm sứ. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đô thị cổ Hội An. NXB Khoa học Xã Hội 1991, tr. 81 - 85
(4) Nguyễn Quang Liêm, Colomban Ph., Vũ Xuân Quang, Hà Văn Tấn. Xác định công nghệ chế tạo gốm sứ cổ Việt Nam trên cơ sở những nghiên cứu khoa học vật liệu. Khảo cổ học, số 2-2002




