CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

XẾ CHIỀU... - THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
03:53, Th 7, 10 thg 11 (4 ngày trước)
tới Phu, Da, tôi, Giống, Trần, Vu, Xuân, Nguyễn, PV, Tuyen















XẾ CHIỀU...


- (thơ vui) -

.
Bực!
Gạ bán chẳng ai mua
Gạ cho chẳng ai nhận
Gạ tặng chẳng ai cần
Đứng đứng ngồi ngồi 
Chỏng trơ
Ế.

.
Ừ!
Chẳng bù khi xưa còn trẻ
Chả cần một câu rao bán
Chả cần một tiếng gạ mua
Chỉ vẩn vơ cười
Đã ngọt ngào tanh tách tôm tươi
Mẹ thói đời
Đểu.

.
Này. 
Chửi đấy
Cha đứa ngày trước háu ăn
Mẹ đứa ngày trước nhỏ dãi chết thèm
Giờ... 
Chạy cả đâu rồi
Cha lũ đểu.

*.

Làng Đá, đêm 25.08.2018

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

ĐÊM TIỄN BIỆT - THƠ NGUYÊN LẠC


Steven Nguyen
05:42, CN, 11 thg 11 (2 ngày trước)
tới tôi

Gởi đến Nha My SL thêm thơ
Chúc sức khỏe
Tình thân
Lac 11/11/2018
.............................


























ĐÊM TIỄN BIỆT


(Kỷ niệm vùng sông Hậu, của một thời xa lắm)

.
Chiều chợt vội. căn chòi hoang bên ruộng vắng
Tiễn mối tình. chẳng hẹn sẽ dài lâu
Buồn mắt ai. rưng rức úa màu!
Tiếng chim vịt kêu chiều. đồng vọng!
.
Ôm em anh ơi. trời lạnh lắm!
Gió bạo hành. đùa cợt thịt da người!
Vòng tay ân tình. siết chặt thêm đi thôi!
Để ấm tình này...
Mai trùng khơi ly biệt!
.
Hôn em thêm đi. bờ môi rồi khô nhạt!
Ve vuốt thêm đi. thân xác sẽ hoang tàn!
Để mai rồi. đôi ngả ly tan!
Để chút gì...
làm hành trang cuộc lữ!
.
Để còn lại. cho người trở về phố cũ
Rồi từng đêm. đường kỷ niệm. đã từng ...!
Rồi từng đêm. khi phố thị lên đèn
Nỗi vô vọng thanh xuân. mòn. đếm bước!

Cơn mưa đêm ngoài trời.  sướt mướt
Từng tiếng mau. như báo tử một cuộc tình!
Động nỗi lòng. dâu bể nhân sinh
Gây chi cảnh sinh ly. tử biệt?!
.
Yêu em nữa đi anh. cho cạn kiệt!
Thân xác ân cần. em dâng trọn đêm nay
Tiếng vạc kêu sương. như tiếng thở dài!
Đêm sắp tàn
và rồi ta sẽ...!
.
Trên chiếc đò xuôi. một người. trở về phố thị
Một người lưng tròng
bên bến vắng. ngùi trông
Kẻ.  rồi phố thị cô đơn
Kẻ. sẽ ra đi
thách đố cuộc tử sinh
với nỗi tan tác trong lòng!
.
Và như thế... cuộc tình thời bão loạn!
.
NGUYÊN  LẠC

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

KHA TIỆM LY THÍCH ĐỌC THƠ TỊNH ĐÀM - CHÂU THẠCH


van tran
Tệp đính kèm
00:53, Th 7, 10 thg 11 (2 ngày trước)
tới tôi




(Ảnh Tịnh Đàm)


KHA TIỆM LY THÍCH ĐỌC THƠ TỊNH ĐÀM
                                         Châu Thạch


              “Tôi thích đọc thơ Tịnh Đàm”: Đó là câu nói của nhà thơ Kha Tiệm Ly. Châu Thạch tôi cũng thế, nhưng tất nhiên Kha Tiệm Ly là nhà thơ đươc mến mộ và có uy tín hiện nay nên tôi mạn phép mượn lời nói của ông để làm đầu đề cho bài viết.


Tôi biết nhà thơ Tịnh Đàm qua dòng thời gian facebook của ông có tên là Đàm Tài Nguyên. Một buổi sáng, một bài thơ của ông đã đánh động tâm hồn tôi, buộc tôi phải dừng lại lâu dài trên trang fay ấy. Bài thơ ngắn gọn như sau:



MẤY DÒNG LỤC BÁT .


Tương tư nào ?
Khép bên đời
Trả người áo mộng
Một thời vàng hoa !



Cũng đành
Quên
Những thiết tha
Nhủ tôi :
Người đã bước qua...
Cuộc tình !



Còn lại gì ?
Nỗi lặng thinh !
Hai con mắt nhắm
Ru mình...
Vào đêm !


Qua cảm nhận đầu tiên, tôi thấy ở hai khổ thơ đầu, những câu thơ như những chiếc lá mùa thu đang bay. Chỉ mười chiếc lá thôi nhưng nó mang tất cả một cuộc tình không phải của chỉ Tịnh Đàm mà của tất cả chúng ta, những ai đã một lần có “Trả người áo mộng/Một thời vàng hoa!”

Rồi ba câu thơ ở khổ thơ cuối đã làm cho tâm hồn tôi lặng xuống trong nỗi trầm kha, tưởng đến những điều khắc khỏai của lòng mình có suốt một đời trong giấc ngủ nửa tỉnh nửa mê. Trong phần bình luận ở dưới bài thơ, tôi dám viết rằng Câu thơ “Còn hai con mắt/Khóc người một con” của Bùi Giáng cũng hay ngang bằng “Hai con mắt nhắm/ Ru mình… Vào đêm!” của Tịnh Đàm mà không sợ bị ném đá bao giờ. Tôi nghĩ câu thơ của Bùi Giáng thật khó hiểu. Nó được tôn vinh vì lạ và mang tên Bùi Giáng. Nếu Tịnh Đàm làm câu thơ của Bùi Giáng có lẽ cũng chỉ Châu Thạch và một số ít người để ý tới thôi, còn Bùi Giáng mà làm câu thơ của Tịnh Đàm thì sách vở viết về nó sẽ nhiều. “Hai con mắt/Ru mình…/Vào đêm!” thì ai cũng vô tình nói được nhưng để cho nó trở thành hữu tình trong một bài thơ lục bát nhẹ nhàng, thanh thoát nhưng sâu đậm ưu tư, thiết tha và khắc khoải thì Tịnh Đàm như đã gắn một viên kim cương có màu lệ trong ánh sáng trong của nó vào cuối bài thơ.

Thế rồi tôi cởi ngựa xem hoa trong vườn thơ của Tịnh Đàm. Không đi lâu được vì tôi phải qua rất nhiều vườn thơ khác. Thế nhưng tôi thấy Tịnh Đàm sáng tác nhiều bài thơ lục bát. Những bài lục bát của ông rất ngắn nhưng lại đem đến cho tôi những cảm xúc rất dài. Mỗi bài thơ của ông như một lẳng hoa nhỏ, kết những sắc hoa bình dị, nhưng tâm hồn người kết hoa đầy tính nghệ sĩ, bàn tay người kết hoa thật là tài hoa, đã dành cho đời những những nét đẹp văn chương đúng ý nghĩa của nó. Đơn cử như bài thơ “Gởi Anh Một Chút Niềm Tin” đầy nhân văn của tác giả:


GỬI ANH MỘT CHÚT NIỀM TIN .
( thân tặng bác G.T.Điệp những ngày nằm bệnh )


Gởi anh , một chút nắng hiền
Về bên cửa sổ gợi miền ước mơ .
Chuyện xưa nào đã phai mờ 
Bóng người năm cũ bây giờ tìm đâu ?!


Gởi anh , một chút đêm sâu 
Nằm nghe câu hát " Vì Nhau " mới buồn !
Dòng sông cứ mãi xa nguồn ,
Đời người cũng vậy vẫn luôn đổi dời !


Gởi anh , một chút tơ trời 
Cho lòng rộng mở những lời thơ hay .
Đưa nhau tàn cuộc mộng này ,
Thì trăm năm ấy đợi ngày hóa thân !


Gởi anh , một chút duyên phần
Có từ kiếp trước hẹn lần đến nay .
Gặp nhau vui buổi sum vầy
Thơ ngâm hào sảng ngất ngây ý tình .


Gởi anh , một chút niềm tin
Sống trong hy vọng với nghìn yêu thương .
Dẫu đời còn lắm sầu vương ,
Không làm chùn bước nẻo đường ta đi .
TỊNH ĐÀM

        Với tôi đây là một bài thơ nhân cách trọn vẹn. Bài thơ gởi cho người bạn đang nằm trên giường bệnh, tiếng thơ êm đềm như chiếc võng đong đưa, ý thơ phảng phất nỗi buồn trần gian thật đằm thắm, và tứ thơ thật là khôn ngoan khích lệ bạn quên nỗi buồn đó để thanh thản tâm hồn.
Thât tình bài thơ đi vào tâm hồn tôi trọn ven mà tôi không có lời chi bình nó tốt hơn được ngoài chữ hay!!!. Trong thơ tôi không thấy một giọt nước mắt nào, không thấy một tiếng thở dài nào, tuy thơ vẫn hiển hiện bóng người năm cũ phai mờ, vẫn hiển hiện bãi bể nương dâu và cuộc đi xa lìa trần thế.
Những món quà mà Tịnh Đàm gởi cho bạn, đẹp như những đóa hoa thần thánh. Những món quà đó,nó đã cô đọng cuộc đời vào đó, nó lóng lánh hương vị, sắc màu rất thật của đời người, nó có mãnh lực truyền niềm tin vào con người đang bi quan vì bệnh tât. Những câu mở đầu ở mỗi khổ thơ “Gởi anh, một chút nắng hiền/ Gởi anh, một chút đêm sâu/ Gởi anh, một chút tơ trời/ Gởi anh, một chút duyên phần/ Gởi anh, một chút niềm tin” hình ảnh đậm đà như những đóa trầm hương, còn âm thanh vào tai người như tiếng suối ngàn êm đềm chảy róc rách.


Thơ Tịnh Đàm là như thế. Đọc thơ ông, có mãnh lực gì không biết buộc tôi phải viết, nên tôi viết. Viết tới đây thì vừa đủ dài cho một bài cảm nhận không làm mệt mắt người xem. Vậy mời bạn đọc đừng quên tìm đọc thơ ông, vì nó còn rất nhiều bài thơ hay nữa!!!  ./.

             CHÂU THẠCH 

      
Mời đọc thơ Tịnh Đàm trong blog NM
https://nhamyngocsuong.blogspot.com/search/label/T%E1%BB%8ANH%20%C4%90%C3%80M

TÌNH KHÚC 1954-1975 ở MIỀN NAM - LÊ THIÊN MINH KHOA

Minh Khoa Lê Thiên
Tệp đính kèm
23:52, Th 4, 7 thg 11 (5 ngày trước)
tới tôi

C:\Users\TTC\Pictures\CA KHÚC (In) copy (1).jpg

Phác thảo bìa cuốn sách “9 thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam”- Lê Thiên Minh Khoa.

TÌNH KHÚC 1954-1975 ở MIỀN NAM
                                                             LÊ THIÊN MINH KHOA



         Ở Miền Nam từ 1954-1975, một lớp nhạc sĩ trẻ hơn xuất hiện với các bản tình ca mới. Khác với dòng nhạc tiền chiến thường mượn cảnh mùa thu, mưa, sương, đêm khuya... để nói lên tình cảm của mình, những nhạc sĩ này có cách thể hiện trực tiếp hơn, ca từ lãng mạn vẫn là ngôn ngữ văn hóa nhưng mới mẻ hơn, trẻ trung hơn và sống động hơn, với nhiều cung bậc tình cảm hơn, khoắc khoải, nồng nàn, sâu lắng, say mê, man mác, hoài nhớ, tiếc thương... thường theo các thể điệu Slow Rock, Slow, Valse, Ballad, Boston… Gần với nhạc tiền chiến hơn, cung điệu cũng trau chuốt, nhưng khác nhạc tiền chiến là thường ít chậm hơn, biểu hiện tâm trạng cá nhân không có không gian cụ thể và có tính hiện đại hơn, và cũng xa rời nhạc cổ điển hơn so với nhạc tiền chiến, tình ca 1954-1975 là dòng nhạc được giới trí thức, trung lưu và sinh viên, học sinh (SVHS) ở miền Nam thưở ấy yêu thích.
               
                   http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRBBFmKGoKI8CCkkSY5CgEe-evNtiRGR2n_jhlPN-DajT0WG3jq

        Giai đoạn này, bên cạnh nhạc sĩ tiền bối Phạm Duy vẫn sáng tác đều đặn những ca khúc có giá trị nghệ thuật: Cỏ hồng, Trả lại em yêu, Mùa thu chết, Nghìn trùng xa cách, Nha Trang ngày về…, còn xuất hiện thêm những nhạc sĩ với phong cách riêng: Lê Uyên - Phương, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn, Hoàng Nguyên, Nguyễn Ánh 9, Khánh Băng, Nguyễn Phú Yên, Trần Trịnh, Nguyễn Văn Đông,  Phạm Trọng Cầu, Từ Công Phụng, Văn Phụng, Trần Quang Lộc, Vũ Thành An, Lê Hựu Hà, Cung Tiến, Lê Trọng Nguyễn, Phạm Mạnh Cương, Đức Huy, Phạm Đình Chương, Quốc Dũng, Hoàng Trọng, Vũ Đức Sao Biển…

                  Image result for ca sÄ© thái thanh
                                        Ca sĩ Thái Thanh.       

        Không thể kể hết những tình khúc nổi tiếng đương thời:  Em đến thăm anh đêm 30,  các  bài Không tên của Vũ Thành An; Thuyền em đi trong đêm, Ngàn năm vẫn lạ, Tiếng chim rừng hát mừng sông núi, Cô giáo trẻ trên bản làng xa của Nguyễn Phú Yên; Chiều nay không có em, Niệm khúc cuối, Mắt biếc, Dấu tình sầu, Bản tình cuối của Ngô Thụy Miên;  Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta, Uống nước bên bờ suối, Cho lần cuối của Lê Uyên - Phương; Suối lệ xanh của Phạm Mạnh Cương; Bây giờ tháng mấy, Lời cuối, Giọt lệ cho ngàn sau, Mắt lệ cho người, Tuổi xa người, Bài cho em của Từ Công Phụng; Nụ cười thơ ngây, Sầu đông, Nếu một ngày, Vọng ngày xanh của Khánh Băng. Đặc biệt là Vọng ngày xanh viết năm 1956 được nhiều ca sĩ nổi tiếng đương thời  như Minh Trang, Lệ Thu, Thái Thanh... trình bày, trong đó thành công hơn cả phải kể đến danh ca Thái Thanh. Bài hát này được nhà văn nữ nổi tiếng Françoise Sagan viết lời Pháp và nhờ vậy, ông được Hội Tác quyền Thế giới mời gia nhập…

                http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSIGMz6kE5X5t90TUl5ytJ3LsIL_ncInLziqMp4ChxF4Brbh8V8qg
                                                           
         Nhiều tình khúc nổi tiếng khác rất được ưa chuộng vào thời gian này như Thanh Trang với Huyền, Tình khúc mùa đông, Duyên thề; Hoàng Nguyên với Cho người tình lỡ; Tà áo tím; Quốc  Dũng với Đường xưa, Cơn gió thoảng; Nguyễn Ánh 9 với Không, Buồn ơi , xin chào mi; Văn Phụng với Yêu, Tình, Suối tóc, Tôi đi giữa hoàng hôn; Vũ Đức Sao Biển với Thu hát cho người; Y Vân với Buồn, Ngăn cách, Ảo ảnh, Những bước chân âm thầm; Đức Huy với Bay đi cánh chim biển, Cơn mưa phùn; Anh Bằng với Nỗi lòng người  đi; Nguyễn Hiền với Mái tóc dạ hương; Đan Thọ với Chiều tím; Trần Trịnh với Lệ đá; Tuấn Khanh với Hoa xoan bên thềm cũ, Chiếc lá cuối cùng; Nguyễn Văn Đông với Hải ngoại thương ca. Phạm Trọng Cầu khi du  học ở nhạc viện  Paris (Conser - vatoire Supérieur de Musique de Paris) cũng đã viết Mùa thu không trở lại để đời…

                cungtien_01-content
                                    NS Cung Tiến     
                 
         Hoàng Trọng thành công với các bài hát theo điệu tango: Ngỡ ngàng, Lạnh lùng, Tiễn bước sang ngang…,  đặc biệt bài Ngàn thu áo tím (lời Vĩnh Phúc) điệu valse luôn được công chúng trước nay ưa thích.   
         Cung Tiến nối tiếp dòng nhạc lãng mạn tiền chiến với những tình khúc bất tử: Hương xưa, Hương xuân, Mùa hoa nở, Đêm hoa đăng, Mắt biếc (khác bài Mắt biếc của Ngô Thụy Miên)…

           Image result for Nhạc sÄ© Văn Phụng
                          NS Văn Phụng

        Phạm Duy, Trần Quang Lộc, Phạm Đình Chương, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Trần Trịnh, Cung Tiến, Ngô Thụy Miên… có nhiều tình khúc phổ thơ nổi tiếng. Với Phạm Duy là: Còn chút gì để nhớ (thơ Vũ Hữu Định), Ngậm ngùi (thơ Huy Cận), Áo anh sứt chỉ đường tà (thơ Hữu Loan), Tiếng sáo Thiên thai (1959 - thơ Thế Lữ), Tiễn em, Mùa thu Paris (thơ Cung Trầm Tưởng), Tỳ bà (thơ Bích Khê), Vần thơ sầu rụng (thơ Lưu Trọng Lư), Tình cầm (thơ Hoàng Cầm); Em hiền như masoeur, Thà như giọt mưa, Hai năm tình lận đận (thơ Nguyễn Tất Nhiên), Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm động hoa vàng (thơ Phạm Thiên Thư), Chuyện tình buồn và 12 tháng anh đi (thơ Phạm Văn Bình), Màu thời gian (1971- thơ Đoàn Phú Tứ)… Với Trần Quang Lộc là: Về đây nghe em (thơ A Khuê), Em theo đoàn lưu dân (thơ Phạm Hòa Việt), Có phải em mùa thu Hà Nội (thơ Tô Như Châu)… Phạm Đình Chương là: Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ), Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng)… Vũ Thành An là Tình khúc thứ nhất (thơ Nguyễn Đình Toàn)… Từ Công Phụng là Trên ngọn tình sầu (thơ Du Tử Lê)… Trần Trịnh là Lệ đá (thơ Hà Huyền Chi), Chiếc lá cuối cùng (thơ Théophile Gauthier)… Cung Tiến là: Đôi bờ (thơ Quang Dũng), Hoàng Hạc lâu (thơ Thôi  Hiệu - Vũ Hoàng  Chương dịch), Kẻ ở (Mai chị về - thơ Nguyễn Đình Tiên), Khói hồ bay (thơ Nguyễn Tường Giang), Nguyệt cầm (ý thơ Xuân Diệu), Thuở làm thơ yêu em (thơ Trần Dạ Từ), Vết chim bay (thơ Phạm Thiên Thư) và ba bài: Vang vang trời vào xuân, Đêm, Lệ đá xanh đều phổ thơ Thanh Tâm Tuyền…Và Ngô Thụy Miên là Tình khúc buồn (thơ Phạm Duy Quang), và nhiều ca khúc phổ từ  các bài thơ nổi tiếng của Nguyên Sa: Áo Lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tình khúc tháng sáu, Tuổi 13…
         Nổi bật nhất là Trịnh Công Sơn với hàng loạt tình ca muôn thuở như: Tình nhớ, Tình xa, Phôi pha, Diễm xưa, Nhìn những mùa thu đi, Hạ trắng, Biển nhớ, Cát bụi, Như cánh vạc bay, Còn tuổi nào cho em, Tuổi đá buồn, Chiều một mình qua phố...           
         Các danh ca hát  tình khúc giai đoạn này có: Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Hoàng Oanh…                                         
         
              Image result for Từ Công Phụng,
     
     Tuy chỉ có 20 năm, nhưng giai đoạn này tại miền Nam đã  hình thành một số lượng tình khúc khổng lồ, trong đó có nhiều bản nhạc nổi tiếng, được yêu thích và lưu truyền qua nhiều thế hệ.                                 

                            (Kỳ tới: NHẠC VÀNG 1954-1975 ở MIỀN NAM ).
                                              LÊ THIÊN MINH KHOA
  (Trích trong cuốn  sách “9 THẬP KỶ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM”-
 nghiên cứu, nhận định- Lê Thiên Minh Khoa-  trang 49-52, sắp xuất bản, 2018).
-----------------
Nguồn ảnh: Internet và  các nhạc sĩ cung cấp.

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

TÌM HIỂU NHỮNG BÀI THƠ, CA DAO LIÊN QUAN TỚI “CANH GÀ THỌ XƯƠNG” - VƯƠNG TRUNG HIẾU


  Tác giả Vương Trung Hiếu

Vương Trung Hiếu sinh 1959 tại Long Xuyên, sống bằng nghề cầm bút ở Sài Gòn từ năm 1987. Năm 2011, ông cùng vợ sang học tập và làm việc tại Bangkok, Thái Lan. Trong giai đoạn đầu viết lách, Vương Trung Hiếu chủ yếu viết báo, sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết. Về sau ông chuyển dần sang biên soạn và dịch sách. Tính đến nay ông đã trình làng trên 200 đầu sách.

TÌM HIỂU NHỮNG BÀI THƠ, CA DAO LIÊN QUAN TỚI “CANH GÀ THỌ XƯƠNG” - Vương Trung Hiếu

Nguồn: https://damau.org/archives/27920

                     
                   Trước đây nhiều nhà nghiên cứu đã tranh luận sôi nổi về nguồn gốc, dị văn, dị bản của những câu ca dao và bài thơ có liên quan đến “canh gà Thọ Xương”. Năm 2012, thêm một lần nữa, xuất hiện rầm rộ những bài viết liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là quan điểm cho rằng “canh gà” là một món ăn, điều này trái ngược với nhận định truyền thống: “canh gà” chỉ thời gian (tiếng gà báo canh). Thật hư thế nào, chúng ta thử tìm hiểu các quan điểm, phân tích và minh định đôi điều, bởi vì đây là một tác phẩm đã từng xuất hiện trong sách giáo khoa trung học và đại học, đã từng được ghi nhận, đánh giá trong những công trình nghiên cứu có trọng lượng như “Lịch sử văn học Việt Nam” (NXB Khoa Học Xã Hội, 1980), “Văn học dân gian” (NXB Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1973) hay “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan (1956, tái bản nhiều lần)….

Về cơ bản có ba bài như sau:

Trong ca dao Hà Nội:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa làn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.

Bài thơ “Hà Nội tức cảnh” của Dương Khuê:

Phất phơ ngọn trúc trăng tà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mùng khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây hồ.

Và trong ca dao Huế:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Thuyền về xuôi mái dòng Hương,
Biết đâu tâm sự đôi đường đắng cay.

I. Nguồn gốc

Hiện nay có ba quan điểm chính: 1. Ca dao Huế và Hà Nội có trước bài “Hà Nội tức cảnh” của Dương Khuê; 2. Thơ Dương Khuê xuất hiện trước, sau đó trở thành ca dao Hà Nội rồi lan truyền đến Huế để thành ca dao Huế; 3. Ca dao Huế có trước, sau đó Dương Khuê dựa trên bài này để sáng tác “Hà Nội tức cảnh”, cuối cùng bài thơ được dân gian hóa để trở thành ca dao Hà Nội.

Để tìm nguồn gốc, chúng ta cần xác định những chi tiết liên quan.

– Thơ Dương Khuê: Do ca dao không có mốc thời gian sáng tác cụ thể nên chúng tôi căn cứ vào bài thơ của Dương Khuê để tiện việc đối chiếu. Theo PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh [1], bài “Hà Nội tứ cảnh”của Dương Khuê nằm trong tập “Vân Trì thi thảo” (雲池詩草 – Bản thảo thơ Vân Trì), (ký hiệu VHv. 2482) đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Chúng ta biết rằng Dương Khuê (1839-1902), là quan nhà Nguyễn, một nhà thơ nổi tiếng, rất có khả năng bài “Hà Nội tứ cảnh” ra đời khoảng nửa cuối thế kỷ 19. Những địa danh trong bài thơ của ông trùng khớp với các địa danh ở Hà Nội xuất hiện trong ca dao Hà Nội.

– Những địa danh trong ca dao Hà Nội

+ Trấn Vũ: Trấn Vũ Quán (hay đền Quán Thánh) nằm bên cạnh Hồ Tây, phía Tây Bắc Hà Nội. Ngôi đền này được xây dựng từ đời vua Lý Thái Tổ (Kỷ Dậu 1009 – Mậu Thìn 1028), nơi thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, một trong bốn vị thần trấn giữ bốn cửa ngõ của thành Thăng Long ngày xưa (Thăng Long tứ trấn).

+ Thọ Xương: Theo Đồng Khánh địa dư chí (同慶地輿志) – Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn khoảng nửa cuối thế kỷ 19, Thọ Xương là một huyện của thành Thăng Long xưa, có tên chữ Hán là 壽昌縣 (Thọ Xương huyện). Ngày nay huyện này là khu vực thuộc thành phố Hà Nội, nằm trong địa phận quận Hoàn Kiếm, quận Hai Bà Trưng và một phần quận Đống Đa. Vào thời Lê sơ (Mậu Thân 1428 – Đinh Hợi 1527), Thọ Xương có tên là huyện Vĩnh Xương (永昌縣), đến thời nhà Mạc (Đinh Hợi 1527- Nhâm Thìn 1593) đổi tên là Thọ Xương. Ngày 1 tháng 10 năm 1888 (Đinh Hợi), vua Đồng Khánh ra đạo dụ nhượng hẳn thành Hà Nội cho Pháp, sau đó huyện Thọ Xương đã bị bãi bỏ. Hiện nay, Thọ Xương chỉ còn là tên một ngõ nhỏ (ngõ Thọ xương) thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm [2].

+ Yên Thái: là địa danh nói về Làng Yên Thái (còn gọi là Làng Bưởi) ở bờ nam Hồ Tây, Hà Nội. Ngày xưa, làng này nổi tiếng với nghề làm giấy, kẹo mạch nha và cất rượu, đặc biệt nhất là nghề làm giấy dó trong giai đoạn cuối TK 19 – đầu TK 20, bao gồm: giấy sắc (dùng để viết sắc vua ban), giấy lệnh (dùng để viết các lệnh chỉ, thần phả), giấy để chép gia phả dòng họ, giấy để in tranh khắc gỗ, vẽ tranh dân gian, làm đồ chơi trung Thu, in kinh Phật, viết chữ Nho, làm quạt, bao bì, vàng mã..Ngày nay người ta còn dùng giấy đó để giấy chống ẩm, sản xuất tấm cách âm, cách nhiệt, làm màng loa máy thu thanh…

Nhiều nhà nghiên cứu công nhận rằng “Nhịp chày Yên Thái” dùng để chỉ tiếng chày phát ra khi người dân làng này sử dụng chày giã vỏ cây dó trong cối để làm giấy. Trong quyển Technique du peuple annamite (Kỹ thuật của người An Nam, tái bản 2009), Henri Oger cho biết vỏ cây dó được nấu và ngâm trong nước vôi khoảng ba tháng, bóc bỏ lần vỏ đen rồi giã bằng cối và chày, sau đó mới thực hiện những công đoạn khác để chế tạo giấy (tr. 215).

+ Tây Hồ hay Hồ Tây: là một hồ nước tự nhiên lớn nhất trong nội thành Hà Nội. Trước đây, hồ này còn có những tên gọi khác là Đầm Xác Cáo, Hồ Kim Ngưu, Lãng Bạc, Dâm Đàm, Đoài Hồ…. [3]. Đây chính là địa danh trong câu mở đầu bài thơ “Phong cảnh Tây Hồ” của quan Chương Lĩnh Hầu Nguyễn Huy Lượng (? – 1808): “Đầy vơi thực lạ cảnh Tây Hồ”. Và cũng chính là địa danh trong vế đầu của câu đối nằm trên Cổng Giáp Đông – làng Hồ Khẩu (cũ, nay thuộc quận Tây Hồ): ” Mỹ tục thuần phong vĩnh chiếu Tây Hồ minh kính” (Mỹ tục thuần phong soi gương Tây Hồ trong sáng) [4].

– Trong ca dao Huế

+ Thiên Mụ ở đây chính là chùa Thiên Mụ (天姥). Ngôi chùa cổ này nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế (Việt Nam) khoảng 5 km về phía tây [5]. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí (大南一統志 ) – do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), trong triều đại chúa Tiên Nguyễn Hoàng (vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong). Đến năm Canh Dần (1710), chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725) cho đúc một chiếc chuông lớn (gọi là Đại Hồng Chung) đặt trong chùa Thiên Mụ. Chuông này nặng hơn 2 tấn, trên thành ngoài có khắc một bài văn của Chúa Nguyễn Phúc Chu. “Tiếng chuông Thiên Mụ” là cụm từ đã từng xuất hiện trong văn bản từ nửa đầu thế kỷ 19, đó chính là tựa đề bài thơ Thiên Mụ Chung Thanh (天姥鐘聲 – Tiếng chuông Thiên Mụ) của vua Thiệu Trị (1807 – 1847), diễn tả cảnh đẹp thứ mười bốn (đệ thập tứ cảnh, 第十四景) trong hai mươi cảnh đẹp của đất Thần Kinh do nhà vua xếp loại. Bài thơ này được ghi vào bia đá dựng gần cổng chùa [5]. Hiện nay chùa Thiên Mụ còn được gọi là chùa Linh Mụ (靈姥). Lý do là vào năm Nhâm Tuất (1862), vua Tự Đức cầu khấn mong có con nối dõi, vua sợ chữ "Thiên" phạm đến Trời nên cho đổi "Thiên Mụ" thành "Linh Mụ". Việc kiêng cữ này chỉ đến năm Kỷ Tỵ (1869), về sau người dân muốn gọi là chùa Thiên Mụ hay Linh Mụ đều được [5].

+ Thọ Xương là địa danh cũ, một khu vực thuộc làng Nguyệt Biều nằm bên bờ sông Hương, bên kia sông là chùa Thiên Mụ. Theo Đại Nam Nhất Thống chí (sđd), trước đây vùng này có tên gọi là Thọ Khương (Thọ Khang), đến năm Nhâm Tuất (1802) đầu triều đại Gia Long được đổi tên thành Thọ Xương, năm Minh Mạng thứ năm (Giáp Thân – 1824) đổi thành Long Thọ Cương 龍壽崗, tức đồi Long Thọ (trong chữ Hán “đồi” được viết là 崗 hoặc 岡), hiện nay chỉ còn gọi là Long Thọ, thuộc phường Thủy Biều, thành phố Huế.

Xét những địa danh trên, chúng ta thấy rằng tất cả đều xuất hiện trước thời Dương Khuê sống. Điều này dẫn tới hai khả năng: thứ nhất, những câu ca dao liên quan với “canh gà Thọ Xương” ở Huế và Hà Nội có thể ra đời trước khi Dương Khuê sáng tác bài “Hà Nội tứ cảnh”. Nếu như thế thì cần tìm kiếm những câu ca dao đó được viết bằng chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ trong những văn bản từ nửa đầu thế kỷ 19 trở về trước. Chúng ta biết rằng chữ Nôm hình thành trước thế kỷ 15, định hình rồi phổ biến dần trong văn chương Việt Nam cho đến cuối thế kỷ 19. Ngày 1 tháng 1 năm 1879 chính quyền Pháp ra nghị định buộc các văn kiện chính thức phải dùng chữ Quốc ngữ [6]. Như vậy, nếu những câu ca dao Huế và Hà Nội có liên quan với “canh gà Thọ Xương” ra đời từ nửa cuối thế kỷ 19 thì vẫn có khả năng được ghi nhận bằng văn bản. Trong trường hợp không thể tìm thấy bất kỳ tài liệu nào chứng minh những câu ca dao ấy xuất hiện trước giai đoạn Dương Khuê sống thì phải công nhận khả năng thứ hai: bài Hà Nội tứ cảnh của Dương Khuê đã được dân gian hóa để trở thành những câu ca dao Huế và Hà Nội.

Tháng 4 năm 1918, Phạm Quỳnh viết bút ký “Mười ngày ở Huế”, đăng trên tạp chí Nam Phong, mở đầu phần IV trong đó có hai câu:

“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương [7]

Một số nhà nghiên cứu cho rằng Phạm Quỳnh đã dựa vào “tiếng chuông Trấn Vũ” trong ca dao Hà Nội để chế ra “tiếng chuông Thiên Mụ” rồi khẳng định rằng ca dao Hà Nội có trước, còn ca dao Huế là “sản phẩm ăn theo”, cải biên từ ca dao Hà Nội. Có thật vậy không? Xin mời xem đoạn văn kế tiếp Phạm Quỳnh viết sau hai câu ca dao kể trên:

“Cả cái hồn thơ của xứ Huế như chan chứa trong hai câu ca ấy. Chùa Thiên Mụ là một chốn danh lam, có cái tháp bẩy từng, ở ngay trên bờ sông Hương, làng Thọ Xương thì ở bờ bên kia. Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt thành câu ca cho con trẻ hát, ấy mới rõ cái tính tình của người xứ Huế” [7].

Như vậy Phạm Quỳnh đã biết rõ rằng ngày xưa ở Huế có địa danh Thọ Xương, mặt khác, vào nửa đầu thế kỷ 19 vua Thiệu Trị đã sáng tác bài thơ rất nổi tiếng là “Thiên Mụ chung thanh” (Tiếng chuông Thiên Mụ), vậy hà cớ gì Phạm Quỳnh phải dựa vào “Tiếng chuông Trấn Vũ” để tạo ra “Tiếng chuông Thiên Mụ”? Theo chúng tôi, câu Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương ra đời trước khi Phạm Quỳnh đến Huế vào năm 1918. Phạm Quỳnh chỉ là người đưa câu ca đó vào bút ký của mình mà thôi, bởi vì vào năm 1824 địa danh Thọ Xương đã được đổi thành Long Thọ Cương. Nếu không am hiểu chi tiết này, chắc chắn trong đoạn văn trên Phạm Quỳnh đã viết là Long Thọ Cương (hay Thọ Cương) – địa danh hiện tại năm 1918, chứ không thể là Thọ Xương – địa danh cũ cách năm Phạm Quỳnh đến Huế gần một thế kỷ (94 năm).

Chúng tôi cho rằng, khởi thủy chỉ có hai câu:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương (hoặc Thọ Cương).

Về sau người ta mới ghép thêm hai câu nữa:

Thuyền về xuôi mái dòng Hương,
Biết đâu tâm sự đôi đường đắng cay?

Nếu như thế thì câu ca Huế là độc lập, không dính dáng gì tới câu ca Hà Nội và thơ Dương Khuê. Trong quyển “Những điều nên biết” tác giả Nguyễn Văn Thái viết:

…“Không biết từ lúc nào, câu ca dao xứ Huế với “tiếng chuông Thiên Mụ” đã trở thành câu thơ miêu tả phong cảnh Hà Nội với “tiếng chuông Trấn Vũ”. Người ta cho rằng cụ Dương Khuê là người đầu tiên đã đưa “tiếng chuông Thiên Mụ” ra Hà Nội trong một bài thơ lục bát của cụ.”…

…Bài thơ “Hà Nội tức cảnh” của cụ Dương Khuê được sáng tác vào khoảng thập niên 1870, sau nhiều năm cụ sống tại Huế. Do đó ta có thể nói rằng câu ca dao trên đây đã thấm nhập vào trí óc cụ Dương Khuê. Vì thế, khi cụ trở ra miền bắc, gặp lúc thời thế nhiễu nhương, cụ làm bài thơ Hà Nội tức cảnh để gửi gấm nỗi lòng của mình. Hai dòng đầu của bài thơ, cụ đã mượn câu ca dao nói trên nhưng thay đổi địa danh cho hợp với phong cảnh của Hà Nội: Chùa Thiên Mụ đổi thành chùa Trấn Vũ. Rất may là Hà Nội cũng có địa danh Thọ Xương cho nên cụ không cần phải đổi địa danh này.

Có điều khác biệt là, Thọ Xương ở Hà Nội, ngày nay vẫn còn mang tên Thọ Xương; trong khi Thọ Xương ở Huế đã thay đổi tên nhiều lần theo dòng thời gian, từ Thọ Khương, đến Thọ Xương, đến Thọ Cương, và nay là Long Thọ”… [8]

Nếu quả thật nhà thơ Dương Khuê có nhiều năm sống tại Huế thì chúng tôi đồng tình với nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thái, rất có khả năng Dương Khuê đã mượn ca dao Huế để sáng tác bài “Hà Nội tức cảnh”, sau đó bài thơ này được dân gian hóa, trở thành ca dao Hà Nội. Bằng chứng là ngoài hai câu đầu giống với ca dao Huế, ca dao Hà Nội còn có thêm hai câu cuối: “Mịt mù khói tỏa làn sương / Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ” rất giống với thơ Dương Khuê. Tuy nhiên, chúng tôi không tán thành chi tiết “Thọ Xương ở Hà Nội, ngày nay vẫn còn mang tên Thọ Xương” trong bài của Nguyễn Văn Thái. Xét về nghĩa của câu này thì không có gì sai, bởi vì hiện nay Hà Nội vẫn còn địa danh Thọ Xương, song, đó chỉ là tên một ngõ nhỏ thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm. Còn địa danh Thọ Xương thật sự, xuất hiện trong trong thơ Dương Khuê và ca dao Hà Nội đã không còn sử dụng từ năm 1888, sau khi vua Đồng Khánh ra đạo dụ nhượng hẳn Hà Nội cho người Pháp.

2. Canh gà Thọ Xương là gì?

Trong ca dao Việt Nam, ngoài những bài đang phân tích ở đây, còn có những câu ghi nhận chữ “canh gà”:

– Người đứng cối, kẻ giần sang
Nghe canh gà gáy phàn nàn chửa xong.

– Nếm muỗng đường om mùi thơm vị ngọt
Qua thương nhớ bậu thức trót canh gà.

Về địa danh “Thọ Xương” thì có:

– Trên chùa đã động tiếng chuông
Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu.

– Sở tại là những huyện nào
Thọ Xương, Vĩnh Thuận, phủ Hoài thống kiêm.

Riêng cụm từ “canh gà Thọ Xương” thì chỉ có trong ca dao Huế và Hà Nội đã được trích dẫn ở đầu bài viết này, chúng tôi chưa tìm thấy bài ca dao nào khác.

Xét những câu ca dao trên, chúng ta thấy canh gà gáy và thức trót canh gà là hai tổ hợp từ chỉ thời gian, tương ứng với canh gà Thọ Xương trong ca dao Huế và Hà Nội, không có tổ hợp nào cho thấy đó là món ăn. Một câu khác cho biết Thọ Xương là huyện, câu còn lại cho thấy Gà Thọ Xương đã gáy, cả hai câu đều nói về địa danh.

Xin chú ý chi tiết, câu Gió đưa cành trúc la đà trong ca dao Huế và Hà Nội đơn thuần chỉ là “đường dẫn bắt cầu” cho câu kế tiếp, cũng giống như những câu ca khác: Gió đưa bụi chuối sau hè, Gió đưa gió đẩy lá dừa, Gió đưa lau lách quanh bờ…Chúng không làm tiền đề chỉ thời gian. Chính câu thơ của Dương Khuê mới nêu bật được tính thời gian trong canh gà Thọ Xương, đó là câu Phất phơ ngọn trúc trăng tà. “Trăng tà” có nghĩa là mặt trăng đã chếch hẳn về một phía khi đêm sắp hết, bình minh sắp ló dạng. Vào thời điểm đó gà ở Thọ Xương bắt đầu gáy vang. Như người xưa từng nói “Đêm năm canh, ngày sáu khắc”. Nếu tính Nửa đêm giờ Tý canh ba (23 giờ đến 1 giờ sáng) thì canh tư sẽ là giờ Sửu (1 đến 3 giờ sáng), còn canh năm là giờ Dần (3 đến 5 giờ sáng). Như vậy, thời điểm trăng tà hay gà gáy là vào lúc canh năm.

Tóm lại, rất ít có khả năng Canh gà Thọ Xương là một món ăn. Điều này còn được chứng minh bằng bài “Hà Nội tứ cảnh” của Dương Khuê trong tập Vân Trì thi thảo. Theo TS Trịnh Khắc Mạnh , trong bài thơ đó chữ canh được viết là 更 (canh giờ), chứ không phải chữ canh 羹 (bát canh, món canh) [1]. Chúng tôi đồng thuận với nhận định này, bởi vì hai chữ Nôm mà TS Trịnh Khắc Mạnh dẫn chứng đều có nguồn gốc từ chữ Hán: canh 更 (thuộc bộ Viết曰), có nghĩa là “đơn vị thời gian dùng cho ban đêm”, giống như trong tác phẩm Thái Bình mại ca giả 太平賣歌者, thi hào Nguyễn Du đã viết “Đàn tận tâm lực cơ nhất canh” 殫盡心力幾一更 (Dốc hết tâm lực gần một canh). Chữ canh 更 còn dùng để chỉ trống canh như Tôn Quang Hiến 孫光憲 (thời vua Tống Thái Tổ (960-975), Trung Quốc) đã viết: “Thính hàn canh, văn viễn nhạn” 聽寒更, 聞遠雁 (Lắng nghe tiếng trống canh lạnh, nghe thấy tiếng chim nhạn xa).

Nếu nói một món ăn thì phải dùng chữ canh 羹 (thuộc bộ Dương 羊). Chữ này có nghĩa là “món canh, món ăn nước”, thí dụ điều canh 調羹 (nêm món canh cho vừa ăn).

Tuy nhiên, có một chi tiết cần chú ý, TS Trịnh Khắc Mạnh cho rằng canh gà Thọ Xương là tiếng gà gáy báo canh ở Thọ Xương. Đây là cách hiểu thông thường, bởi vì khi nghe tiếng gà gáy lúc rạng đông chúng ta nhận thức rằng thời điểm lúc đó là canh năm (3 đến 5 giờ sáng). Nhưng trên thực tế, gà gáy không phải để báo cho chúng ta biết đó là canh mấy, tất cả là do đồng hồ sinh học nội tại của chúng. Tiếng gà gáy là kết quả phản ứng nhịp sinh học trong cơ thể gà trống, gọi là Circadian rhythm trong tiếng Anh [9]. Rất có khả năng ánh sáng và nhiệt độ lúc rạng đông đã kích thích, tác động tới cơ thể buộc con gà cất tiếng gáy.

3. Những dị văn và dị bản

Chúng ta biết rằng ca dao là thể loại văn vần, thuộc dòng văn học dân gian truyền khẩu, do đó việc tam sao thất bản là điều không tránh khỏi, chắc chắn sẽ có những dị biệt trong các văn bản nào đó. Trong quá trình sưu tập ca dao, chúng ta chấp nhận mọi dị văn và dị bản, xem mỗi bản là một đặc trưng phản ánh tính chất vùng miền và những điều khác. Tuy nhiên, đối với thơ Dương Khuê thì cần hiệu đính nghiêm túc tác phẩm do chính ông sáng tác. Muốn làm được điều này, chúng ta cần phải so sánh, đối chiếu và phân tích các văn bản để đưa ra kết luận cụ thể.

Hà thành hay Hà Nội

Trên trang blog cá nhân, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện cho biết trong “Dương gia phả ký” (bản đánh máy chữ quốc ngữ, 122 trang), Dương Thiệu Cương lập vào cuối mùa hạ năm Quý Sửu (1973), Dã Lan Nguyễn Đức Dụ in ấn có bài thơ “Hà thành tức cảnh” của Dương Khuê – bài thứ hai trong trang 106 [10]. Nhưng trong quyển “Luận đề về Dương Khuê” (Nguyễn Duy Diễn, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1960), bài thơ này được ghi tựa là “Hà Nội tức cảnh”. Theo chúng tôi, sách của Nguyễn Duy Diễn là công trình nghiên cứu về Dương Khuê có giá trị học thuật, đáng tin cậy, có lẽ vì thế nên TS Dương Thiệu Tống đã trích dẫn bài thơ của Dương Khuê trong sách của Nguyễn Duy Diễn với tựa đề là “Hà Nội tức cảnh”, không theo tựa “Hà thành tứ cảnh” trong Dương gia phả ký. TS. Dương Thiệu Tống đã cho đăng bài này trong sách của ông: “Tâm trạng Dương Khuê – Dương Lâm” (NXB Khoa học Xã hội, 2005).

Tứ hay tức

Như trên đã nói, bài thơ của Dương Khuê có tựa đề là “Hà Nội tứ cảnh”, nằm trong tập “Vân Trì thi thảo” [1], còn trong “Luận đề về Dương Khuê” (sđd), “Tâm Trạng Dương Khuê – Dương Lâm” (sđd) và Dương gia phả ký kể trên thì lại ghi nhận là “tức cảnh” chứ không phải “tứ cảnh”. Vậy tựa nào là chính xác như Dương Khuê đã viết?

Chúng ta biết rằng tập “Vân Trì thi thảo” của Viện Nghiên cứu Hán Nôm là bản viết thảo, chữ viết không dễ đọc, có thể do người khác chép lại chứ không phải là thủ bút của Dương Khuê (cần kiểm chứng điều này). Hai chữ “tứ” và “tức” trong thơ Dương Khuê là chữ Nôm nhưng được viết theo phép giả tá, nghĩa là mượn nguyên xi từ chữ Hán, do đó ta có thể giải thích ý nghĩa giống như chữ Hán. Tứ 四 (thuộc bộ Vi 囗) có nghĩa là “bốn”, giống như chữ tứ trong bài Thu chí 秋至 của Nguyễn Du : Tứ thì hảo cảnh vô đa nhật 四時好景無多日 (Cảnh đẹp bốn mùa chẳng được bao ngày); còn tức 即 (thuộc bộ Tiết卩) trong tức cảnh 即景 ở đây có nghĩa là sáng tác thơ do có cảm hứng với phong cảnh trước mắt, giống như tức cảnh thi 即景詩 (thơ tức cảnh).

Theo thiển ý của chúng tôi, tựa bài thơ của Dương Khuê nên hiệu đính là tức cảnh, không viết là tứ cảnh. Vì sao? Đồng ý rằng trong bài có bốn địa danh (Trấn Vũ, Thọ Xương, Yên Thái, Tây Hồ), nhưng nếu muốn đặc tả về cảnh đẹp, tại sao tác giả không chọn những cảnh đẹp tiêu biểu khác của Hà Nội mà lại chọn là Thọ Xương và Yên Thái – hai địa danh chưa phải là xuất sắc bậc nhất của Hà Nội? Chính vì thế, sử dụng “tức cảnh” sẽ dễ được người đọc chấp nhận hơn.

Phất phơ và gió đưa

Cách sử dụng từ phất phơ của Dương Khuê trong câu lục Phất phơ ngọc trúc trăng tà có thể xem là rất riêng, không trùng lặp với ca dao, bởi vì chúng ta không thấy những câu lục nào trong ca dao khởi đầu bằng từ này, chỉ thấy trong câu bát [11]:

– Cái cò lặn lội bờ ao / Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay.

– Thân em như tấm lụa đào / Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

– Đi đâu đường đất một mình / Phất phơ chéo áo giống hình phu quân.

– Thân em như chẽn lúa đòng đòng / Phất phơ dưới ngọn nắng hồng buổi mai.

Cách dân gian chuyển “phất phơ” thành “gió đưa” là hợp với lô gíc thông thường, bởi vì chúng ta thấy tổ hợp “gió đưa” xuất hiện khá nhiều trong ca dao Việt Nam, phù hợp với “phất phơ” trong câu lục của Dương Khuê:

– Gió đưa bụi chuối sau hè / Anh theo vợ bé bỏ bè con thơ.

– Gió đưa con buồn ngủ lên bờ / Mùng ai có rộng… cho tôi ngủ nhờ một đêm.

– Gió đưa gió đẩy lá dừa / Muốn ai thì muốn nhưng chừa em ra.

– Gió đưa lau lách quanh bờ / Thương nhau chẳng đặng đừng chờ uổng công.

Trấn Vũ hay Trấn Võ

Ngoài bản ghi “tiếng chuông Trấn Vũ” người ta còn thấy bản ghi “tiếng chuông Trấn Võ”. Trên thực tế, trong chữ Hán – Nôm, vũ 武 hay võ 武 tuy đọc theo âm Hán Việt là khác nhau nhưng viết đều giống nhau. Sở dĩ có sự khác biệt này là do người viết văn bản ca dao thuộc miền nào. Ghi theo cách đọc của người miền Bắc sẽ là Vũ, còn theo cách đọc của người miền Nam sẽ là Võ. Như vậy, bản chính xác nên viết là Trấn Vũ, bởi vì đây là ca dao Hà Nội.

Thọ Xương hay Thọ Cương

Trong ca dao Huế có bản ghi là “Thọ Xương”, bản ghi là “Thọ Cương”. Hai cách ghi này không có gì sai, bởi vì đây là hai địa danh có thật ở Huế và cùng chỉ một khu vực. Sự khác biệt đơn giản chỉ là thời gian. Địa danh Thọ Xương xuất hiện trong thời vua Gia Long (1802 – 1820), đến năm 1824 (thời Minh Mạng) địa danh này được đổi thành Long Thọ Cương. Do vần của ca dao qui định nên người ta viết gọn là Thọ Cương, chứ không ghi là Long Thọ Cương. Tuy trong quyển “Văn học dân gian Bình Trị Thiên” (1987), khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Huế ghi nhận là “Thọ Cương” (Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương), nhưng theo chúng tôi, viết “Thọ Xương” sẽ đầy đủ nghĩa hơn là “Thọ Cương”, vì không phải ai cũng biết Thọ Cương là chữ viết gọn của Long Thọ Cương, mặt khác, hiện nay địa danh này đã đổi thành Long Thọ.

Mịt mù hay mịt mùng

– Thơ Dương Khuê có hai dị bản, thể hiện qua câu: Mịt mù khói tỏa ngàn sương và Mịt mùng khói tỏa ngàn sương. Vậy viết đúng thì phải là “mịt mù” hay “mịt mùng”? Chúng tôi cho rằng viết mịt mùng sẽ diễn đạt hay hơn và chính xác hơn. Bởi vì mịt mù (giống như mù mịt) có nghĩa là “bị bao phủ dày đặc không nhìn thấy gì”; còn mịt mùng có nghĩa là “không gian bao la, mờ ảo”. Nếu tả cảnh thì khói tỏa ngàn sương trong cái không gian bao la, mờ ảo sẽ hay hơn nhiều so với không gian bị bao phủ dày đặc, không nhìn thấy gì cả.

Đây cũng là chi tiết cho thấy Dương Khuê không chịu ảnh hưởng bởi ca dao, bởi vỉ chúng tôi chưa tìm thấy câu ca dao nào có từ mịt mùng nằm ở đầu hoặc bất kỳ vị trí nào trong câu lục, còn mịt mù thì lại thấy xuất hiện mở đầu những câu lục:

– Mịt mù gió thổi cát bay / Một lời giao ngãi, ngàn ngày nhớ thương.

– Mịt mù khói tỏa màn sương / Không ai tin thấu tỏ tường dạ em.

Ngàn và làn

Thơ Dương Khuê có bản ghi là khói tỏa ngàn sương, nhưng bản khác lại viết là khói tỏa làn sương. Trước hết chúng ta phân tích chữ ngàn. Có ý kiến cho rằng “Ngàn tương đương với “bờ”, chứ không phải “rừng” hay “một ngàn” [12]. Chúng tôi không nghĩ vậy. Đầu tiên, cần xác định rằng ngàn ở đây là chữ Nôm, chứ không phải chữ Hán. Chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào cho biết “ngàn tương đương với bờ”, mặt khác, hai chữ Nôm 坡 và 坡 có nghĩa là bờ trong bờ ruộng, chẳng liên quan gì tới ngàn cả. Vậy, ngàn ở đây có khả năng là rừng hoặc là số đếm được không? Chúng ta biết rằng, ngàn là số đếm, thí dụ như trong “một ngàn, muôn ngàn”, còn ngàn 岸 là “rừng”, như trong “núi ngàn” (núi rừng). Cả hai chữ này đều có thể kết hợp với chữ sương 霜 (霜 hay 岸霜) để thể hiện nghĩa bóng là “có nhiều sương” (frost).

Về chữ làn, nếu tả cảnh mà sử dụng từ làn sương e rằng mỏng manh quá, không phù hợp với “mịt mù” hay “mịt mùng”. Chúng tôi cho rằng chữ ngàn sẽ chính xác hơn. Ngoài ra, cần lưu ý đến chữ màn trong câu ca dao dưới đây:

Mịt mù khói tỏa màn sương
Không ai tin thấu tỏ tường dạ em

Chữ màn 幔 cũng là chi tiết đáng chú ý để chúng ta đối chiếu, hiệu đính văn bản khi tìm thấy những bản Nôm khác về ca dao Hà Nội, Huế và thơ của Dương Khuê.

Dịp chày, tiếng chày hay nhịp chày

Bài “Hà thành tức cảnh” trong Dương gia phả ký (sđd) ghi là “Dịp chày” (Dịp chày An – Thái, mặt gương Tây – Hồ), bài “Hà Nội tức cảnh” trong quyển “Luận đề về Dương Khuê” (sđd) ghi là “Nhịp chày”, còn bài “Hà Nội tứ cảnh” trong tập Vân Trì thi thảo (sđd) lại ghi là “Tiếng chày”. Những dị văn này gây khó khăn trong quá trình hiệu đính thơ của Dương Khuê. Chúng ta thử đi tìm, phân tích xem chữ nào là chính xác nhất:

– Trong chữ Nôm, có những chữ được viết là “dịp” như , 堞, 擛, 蹀…; tất cả những chữ này đều xuất hiện trong cấu trúc “nhân dịp, dịp may”, không thể phù hợp với chữ “chày” có nghĩa là “cái chày”. Ngoài ra, “dịp” cũng không thể kết hợp với những chữ Nôm khác có nghĩa là “cái chày” hay “chày kình” (khúc gỗ hình cá voi để đánh chuông lớn), thí dụ chữ , hay 杵…. Như vậy, “dịp” là chữ viết sai, có thể do sự nhầm lẫn giữa phụ âm đầu d và nh của người ghi chép.

– Trong bài “Hà Nội tứ cảnh”, chữ “tiếng” xuất hiện trong câu thứ hai (tiếng chuông), nếu Dương Khuê sử dụng lặp lại chữ “tiếng” trong câu bốn (tiếng chày) thì hiệu quả nghệ thuật của bài thơ sẽ kém đi. Đây không phải là thủ pháp điệp từ để nâng cao giá trị nghệ thuật của Dương Khuê. Trong chữ Nôm, tiếng 㗂 có nghĩa là “tiếng kêu, tiếng nói”, từ này viết khác hẳn những chữ đọc là nhịp, thí dụ trong ăn nhịp, trong đánh nhịp, 喋 trong nhịp phách; vì thế khó có thể cho rằng người ghi chép nhìn chữ Nôm nhịp rồi viết nhầm sang chữ Quốc ngữ là tiếng. Đây là dị văn cần chú ý để hiệu đính thơ Dương Khuê.

Nếu tính về xác suất, chữ dịp chỉ xuất hiện trong bài “Hà thành tức cảnh”, còn chữ tiếng chỉ có trong “Hà Nội tứ cảnh”, riêng chữ “nhịp” thì không những nằm trong “Hà Nội tức cảnh” mà còn trong các dị bản của ca dao Hà Nội. Nói cách khác, chữ nhịp xuất hiện trong nhiều văn bản, do đó rất có khả năng đó là chữ chính xác nhất.

An Thái hay Yên Thái

Trong “Văn đàn bảo giám” Trần Trung Viên (1926 – Tản Đà đề tựa, Trần Tuấn Khải hiệu đính), bản thơ Dương Khuê có địa danh là “An Thái”, trong khi đó bài “Hà Nội tứ cảnh” trong Vân Trì thi thảo (sđd) và nhiều tài liệu khác lại ghi là “Yên Thái”. Vậy địa danh nào là chính xác?

Chúng ta biết rằng trong Hán – Nôm, An 安 và Yên 安 viết giống nhau nhưng đọc theo âm Hán Việt thì khác nhau. Hiện tượng này cũng giống như vũ 武 (Trấn Vũ) và võ 武 (Trấn Võ) trong những dị bản thơ của Dương Khuê. Đối với bài “Hà Nội tức cảnh” nên ghi là “Yên Thái”, bởi vì địa danh này xuất hiện trong rất nhiều sách: “Tìm hiểu văn hóa dân gian làng Yên Thái (Tây Hồ – Hà Nội)” của Lê Văn Kỳ (NXB Văn hóa Dân tộc, 2011), “Hà Nội những vấn đề ngôn ngữ văn hóa” của Hội Ngôn ngữ học Hà Nội (NXB Văn hóa Thông tin, 2001, tr.146), “Chân dung Thăng Long – Hà Nội” của Lý Khắc Cung (NXB Hà Nội, 2004, tr.14), “Hà Nội Thành phố nghìn năm” của Nguyễn Vinh Phúc (Hội hữu nghị Việt-Pháp TP Hà Nội, 2002, tr.71), “Hà Nội và Hà Nội” của Tô Hoài (NXB Hà Nội, 1996, tr.20)…

4. Kết luận:

– Về nguồn gốc những bài liên quan tới “canh gà Thọ Xương”, chúng tôi cho rằng ca dao Huế có trước, khởi thủy chỉ có hai câu: Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Nhà thơ Dương Khuê đã mượn hai câu này để sáng tác bài “Hà Nội tức cảnh” (xem dẫn chứng ở đầu bài viết), sau đó “Hà Nội tức cảnh” được dân gian hóa để trở thành ca dao Hà Nội.

– Về dị văn và dị bản, chúng tôi đề nghị, cần hiệu đính bản nào được xem là chính xác nhất của thơ Dương Khuê và bản nào được xem là đặc sắc nhất trong ca dao Huế và Hà Nội liên quan tới “canh gà Thọ Xương” để thống nhất tài liệu; tránh trường hợp mỗi nơi in ấn và giải thích khác nhau, đặc biệt là trong sách giáo khoa và việc giảng dạy tại nhà trường.

Cuối cùng, hy vọng giới nghiên cứu sẽ tìm thấy những văn bản chữ Nôm khác về thơ và ca dao liên quan đến “canh gà Thọ Xương”, những văn bản thật sự thuyết phục để chấm dứt tình trạng tranh cãi về nguồn gốc, dị văn và dị bản như chúng tôi đã đề cập trong bài viết này.

                                                                           VƯƠNG TRUNG HIẾU

………………….

Tài liệu tham khảo

1. Hà, Thu 2013., Sự thật về chữ “canh” trong “canh gà Thọ Xương” . Truy cập ngày 22 tháng 06 năm 2013, từ http://www.anninhthudo.vn/Xa-hoi/Su-that-ve-chu-canh-trong-canh-ga-Tho-Xuong/470123.antd

2. Wikipedia 2013. Thọ Xương. Truy cập ngày 22 tháng 06 năm 2013, từ http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8D_X%C6%B0%C6%A1ng

3. Wikipedia 2013. Hồ Tây. Truy cập ngày 22 tháng 06 năm 2013, từ http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y

4. (hanoi.gov.vn) 2013. Lưu giữ những "mảnh hồn làng" của Hà Nội. Truy cập ngày 22 tháng 06 năm 2013, từ http://hanoi.vietnamplus.vn/Home/Luu-giu-nhung-manh-hon-lang-cua-Ha-Noi/201212/9733.vnplus

5. Wikipedia 2013. Chùa Thiên Mụ. Truy cập ngày 22 tháng 06 năm 2013, từ http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_Thi%C3%AAn_M%E1%BB%A5#T.C3.AAn_g.E1.BB.8Di

6. Việt, Hoàng Xuân 2006. Bạch thư chữ Quốc ngữ. Hội văn hóa Việt, San Jose, CA, tr. 374-375.

7. Quỳnh, Phạm 2009. Mười ngày ở Huế. Truy cập ngày 22 tháng 06 năm 2013, từ http://phamquynh.wordpress.com/2009/02/19/tac-ph%E1%BA%A9m-m%C6%B0%E1%BB%9Di-ngay-%E1%BB%9F-hu%E1%BA%BF/

8. Thái, Nguyễn Văn 2010. Chùa Thiên Mụ hay chùa Trấn Vũ?. Truy cập ngày 23 tháng 06 năm 2013, từ http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=2533

9. Wikipedia 2013. Circadian rhythm. Truy cập ngày 23 tháng 06 năm 2013, từ http://en.wikipedia.org/wiki/Circadian_rhythm

10. Diện, Nguyễn Xuân 2012. Đã tìm thấy câu thơ "Canh gà Thọ Xương" trong Dương gia phả ký. Truy cập ngày 23 tháng 06 năm 2013, từ http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8D_X%C6%B0%C6%A1ng

11. Hoài, Hà Phương 2013. Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam. Truy cập ngày 22, 23 và 24 tháng 06 năm 2013, từ http://e-cadao.com/cadaodoor.htm

12. Ưu, Vô 2012. Sao vậy ca dao hóa thơ Dương Khuê?. Truy cập ngày 24 tháng 06 năm 2013, từ http://nhavantphcm.com.vn/doc-duong-van-hoc/sao-voi-ca-dao-hoa-tho-duong-khue.html



CHÚ THÍCH CUẢ LA THỤY (PHÚ ĐOÀN )



Phu Đoan09:47 17 tháng 10, 2018
Đã có lúc người ta "ăn không ngồi rồi" dám phịa ra chuyện như thật:

“Nguyên bản cuốn Vân Đình Dương KhuêThượng Thư Tiên Sinh Thi Tập hiện đang lưu trữ tại thư Viện nghiên cứu Hán Nôm. Sách này có chép bài thơ mang tên Tối ức Thọ Xương thang (Nhớ nhất canh Thọ Xương) của Dương Khuê”

Nguyên văn viết: 

裊裊搖風竹,

蒼蒼鎮武鐘,

壽昌多故舊,

同買燉雞湯。

煙鎖西湖水,

杵驚安泰鄉,

河城斯美景,

最耐客思量

“Niểu niểu dao phong trúc, 
thương thương Trấn Vũ chung, 
Thọ Xương đa cố cựu, 
đồng mãi đốn kê thang. 
Yên tỏa Tây Hồ thủy, 
chử kinh Yên Thái hương, 
Hà thành tư mỹ cảnh, 
tối nại khách tư lương.”

Dịch nghĩa nôm na: 

Gió lay trúc phất phơ, chuông Trấn Vũ xa thẳm, quán Thọ Xương nhiều ông bạn cũ, ĐỀU ĐẾN MUA CANH GÀ HẦM. Khói sương vây bủa mặt nước hồ Tây, nhịp chày kinh động làng Yên Thái, cảnh đẹp này của Hà Thành, khiến khách nhớ nhung nhất.

Phía dưới có một dòng chữ nhỏ, chú rằng “sau khi bài này làm ra, sĩ phu tranh nhau ngâm tụng. Bà Thọ chủ quán Thọ Xương mắng tiếng, đích thân đến nhà ta xin chữ, song lại cầu ta diễn ra quốc âm ngõ hầu hiểu được trọn nghĩa.

Ta liền bỏ hai câu cuối mà diễn lại rằng:

“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mùng khói tỏa ngàn sương
Dịp chày Yên Thái mặt gương Tây hồ.”

DƯƠNG KHUÊ 

https://hieuminh.org/.../canh-ga-tho-xuong-dung-la-canh-ga/


Những kẻ "ăn không ngồi rồi" tha hồ tưởng tượng chuyện phịa như thật:

Bác nào thử tìm trong thư viện Hán Nôm cuốn Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư Tiên Sinh (144 tr., 27 x 15. Ký hiệu: A.2185 Thư viện Viện Hán Nôm) xem có bài này không. Làm ơn chụp cả trang đưa lên cho bà con xem.

“Sáng nay có cậu bạn làm trong Viện Hán Nôm bảo, trong sách Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư Tiên Sinh (144 tr., 27 x 15. Ký hiệu: A.2185 Thư viện Viện Hán Nôm) cũng chép bài thơ này. Xin lưu ý, Dương Khuê viết thơ bằng chữ Nôm, nỏ phải chữ Quốc ngữ. Nguyên văn viết chữ Canh là 羹 (bát canh, món canh), không phải 更 (canh khuya, canh chầy). Chứng tỏ canh gà là món ăn, chứ chả phải tiếng gà tiếng qué gì cả. Chắc hồi ấy các cụ đi tập thể dục từ sáng sớm, khi chùa Trấn Vũ đổ chuông, quán Thọ Xương mở hàng, các cụ rủ nhau vào ăn canh gà.”

http://www.tathy.com/thanglong/showthread.php?t=28159...


Nhiều người xôn xao – kể cả các học giả, các nhà trí thức – bởi bấy lâu chữ “canh gà” vẫn được hiểu là tiếng gà báo sang canh… vậy mà nay hóa ra không phải – Canh gà lại là canh thịt gà ư ?! Nếu vậy thì việc cô giáo chấm bài văn, cho điểm 8 chưa hẳn là sai.
Bài của Hocmon có nét đáng ngờ trước hết do lai lịch tác giả không rõ: Hocmon chắc chắn không phải tên thật… và nếu cho là bút hiệu thì cũng không phải… vì xa lạ quá, chưa thấy xuất hiện ở trên tập san, báo chí nào, cũng chưa được trang mạng nào giới thiệu, ngôn ngữ lại có phần bỡn cợt… vậy mà nội dung lại có vẻ xác đáng bởi có kèm cả bài thơ chữ Hán, câu chữ khá chuẩn lại chỉ được đích danh cuốn Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư Tiên Sinh, nêu đúng cả số trang, khổ sách và cả kí hiệu A.2185 trong thư viện Viện Hán Nôm nữa… khiến mọi người băn khoăn không ít.
Các nhà nghiên cứu thấy có trách nhiệm trước vấn đề. Để làm sáng tỏ, trước hết Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh đã tìm ở sách Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư tiên sinh ở Viện mà không thấy có bài thơ nào như trên. TS. Mạnh tìm thêm bài thơ chữ Nôm của Dương Khuê được nói đến thì thấy có bài Hà Nội tức cảnh trong sách Vân Trì Thi Thảo (ký hiệu VHv. 2482, Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Bài thơ có 4 câu: “Phất phơ ngọn trúc trăng tà/ Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói tỏa ngàn sương/ Tiếng chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ”… Đáng lưu ý là chữ “canh” ở đây được viết là 更chứ không phải là 羹 (bát canh, món canh) như blog Hiệu Minh đã nêu. Chữ 更 trong văn cảnh của bài thơ phải hiểu là canh giờ(2), “canh gà Thọ Xương” là tiếng gà gáy báo canh ở Thọ Xương.
Một ý kiến khác của Giảng viên Nguyễn Hùng Vỹ tại Đại học KHXH&NV Hà Nội khi trả lời phỏng vấn về câu chuyện trên: “Theo như nguồn dẫn sách Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư Tiên Sinh (144 tr., 27×15. Ký hiệu: A.2185, Thư viện Viện Hán Nôm) thì không có bài thơ nào mang tên “Tối ức Thọ Xương thang” cả. Theo tôi, đây chỉ là một sản phẩm của “trí tưởng tượng” mà thôi, không có trong cuốn sách cổ nào hết. Đối với anh em trẻ thạo Hán Nôm thì từ cái tứ của Dương Khuê, bịa ra một bài chữ Hán na ná là không khó khăn gì …”(3)
Vậy là không có bài thơ nào gọi là Tối ức Thọ Xương Thang, cũng chẳng có bài thơ nôm nào của Dương Khuê lại viết chữ CANH là 羹. Đúng là chuyện bịa như thật và ai đó phải là người thông thuộc kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì mới biết rõ từng chi tiết sách Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư tiên sinh được lưu trữ – đồng thời cũng phải là người giỏi Hán Nôm mới bịa ra được chứng cứ như thật.
Quả là chuyện oái oăm trong làng Văn chương Việt.
https://khoahocnet.com/2018/06/26/nguyen-cam-xuyen-canh-ga-tho-xuong-chuyen-bia-nhu-that/ 

Nguồn : từ blog Bâng Khuâng (phudoanlagi.blogspot.com)

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

LẶNG IM - THƠ TỊNH ĐÀM


Đàm Nguyễn Tài
18:51, 8 thg 11, 2018 (3 ngày trước)
tới tôi






*LẶNG IM
( Thân tặng bác GT.Điệp )

Lặng im, tôi với một mình
Đèn chong đối bóng tưởng hình người xưa !
Nghe chừng gió lạnh đêm mưa
Lòng đau muôn nỗi sầu chưa tỏ tường !

Lặng im trong cõi vô thường
Thấy đời bé mọn , có dường như không !
Một mai mỏi bước phiêu bồng
Còn vương lại chút bụi hồng nào chăng ?!

TỊNH ĐÀM

ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC 2 : CH Ỉ HỒNG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Chieu Duc
17:19, Th 5, 8 thg 11 (2 ngày trước)



ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC 2 :
                   CH Ỉ HỒNG

                        Inline image

         
       Điển tích “ CHỈ HỒNG “ cũng được sử dụng rất nhiều trong văn học cổ Việt Nam ta, như khi nghe Kim Trọng tỏ tình, Thúy Kiều đã trả lời một cách rất khéo léo và khôn ngoan rằng :

                          Dù khi lá thắm CHỈ HỒNG,
                    Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.

      Chỉ Hồng còn được nói trại đi thành CHỈ THẮM, như trong Tây Sương Ký :

                          Nhân duyên sao khéo hẹn hò,
                    Rắp đem CHỈ THẮM xe cho Trịnh Hằng.

      Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, Chỉ Hồng không gọi là Chỉ Thắm mà còn được gọi là DÂY THẮM như :

                     Ý cũng rắp ra ngoài đào chú,
                     Quyết lộn vòng phu phụ cho cam.
                     Ai ngờ trời chẳng cho làm
                     Nở đem DÂY THẮM mà giam bông đào.

      Nhưng Dây Thắm, Chỉ Thắm hay Chỉ Hồng gì đều cùng một gốc Hán Việt là XÍCH THẰNG ( là sợi dây màu đỏ ) mà ra cả.  Như lời Thúy Kiều đã nói với Kim Trọng trong lần đầu Kim Kiều hội ngộ :

                      Nàng rằng hồng diệp XÍCH THẰNG,
                     Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.

hay như lời Mã Giám Sinh đã thề và hứa với Vương Viên Ngoại khi sắp lên đường ở “Bề ngoài mười dặm trường đình “  là :

                          Cạn lời khách mới thưa rằng :
                  Buộc chân thôi cũng XÍCH THẰNG nhiệm trao.
                          Sau dù sinh sự thế nào,
                   Kìa gươm nhật nguyệt nọ dao qủy thần !

hoặc như nàng cung nữ của trong Cung Oán đã than van oán trách :
                       
                        Ngẫm nhân sự cớ chi ra thế, 
                    Sợi XÍCH THẮNG chi để vướng chân

… và Xích Thằng hay Chỉ Thắm, Chỉ Hồng gì gì … đều do tay NGUYỆT LÃO mà ra cả. Nguyệt Lão đã xe Chỉ Hồng rồi thì … chạy trời không khỏi nắng, đôi lứa tất phải lấy nhau mà thôi, cho dù nàng cung nữ của Ôn Như Hầu có nghi ngờ thì cũng đành cam chịu :

                        Tay NGUYỆT LÃO chẳng xe thì chớ,
                        Xe thế nầy có dở dang không ?

      Đôi khi Nguyệt Lão còn được gọi là NGUYỆT SỨ, như trong truyện Từ Thức gặp Tiên :
                          Lọ là NGUYỆT SỨ băng môi,
                     Phận này duyên ấy ắt thời trong tay.

      Nguyệt Lão là từ nói gọn lại của nhóm từ “ NGUYỆT HẠ LÃO NHÂN 月下老人“ là “Ông gìa dưới trăng “, vì chuyên xe tơ cho trai gái lấy nhau, nên còn được gọi là ÔNG TƠ, như khi Kim Trọng đến từ biệt Thúy Kiều để đi Liêu Dương hộ tang chú, thì Thúy Kiều cũng đã oán trách :

                            ÔNG TƠ ghét bỏ chi nhau,
                       Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.

       Hay khi bị Hồ Tôn Hiến ép gã cho thổ quan, Thúy Kiều lại một lần nữa lên tiếng oán trách :

                            ÔNG TƠ sao khéo đa đoan,
                         Xe tơ sao lại vơ quàng vơ xiên ?!

        Vậy, Ông Tơ là ai, Nguyệt Lão là ai, chuyện xe tơ là như thế nào mà người thì cam chịu, người thì “đổ thừa “, người thì oán trách … Mời đọc tiếp phần xuất xứ sau đây sẽ rõ.
        Điển tích Chỉ Hồng, Chỉ Thắm, Dây Thắm, Xích Thằng, Ông Tơ hay Nguyệt Lão … có xuất xứ như sau :



                            Inline image
                             Nguyệt Lão  và  Vi Cố

                     
       Theo Tục U Quái Lục của Lý Phục Ngôn đời Đường 唐朝文学家李复言所著的《续玄怪录 : Vào năm Đường Trinh Quan thứ hai (638), đất Đỗ Lăng có thư sinh Vi Cố韋固, con nhà thế gia vọng tộc. Cha mẹ mất sơm, nên Cố đi du học bốn phương, vừa để học tập cầu tiến vừa để tìm kiếm hôn nhân. Khi đến Tống Thành, có người mai mối cho Vi Cố cưới con gái của quan tiền nhiệm huyện Thanh Hà là Tư Mã Phan làm vợ. Hẹn rằng sáng sớm hôm rằm sẽ gặp người mai mối ở trước cửa chùa Long Hưng Tự ở Nam Điếm để nói chuyện.
         Đến hẹn, Vi Cố vì nóng lòng với chuyện hôn nhân nên đêm đó không ngủ được. Trời chưa sáng mà đã lần mò đến trước cửa chùa. Bỗng chàng trông thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, tiên phong đạo cốt ngồi trên bậc tam cấp trước cửa chùa đang giở xem một quyển sách. Hiếu kỳ chàng bèn đi tới ghé mắt nhìn vào, thì ngạc nhiên làm sao, trên sách là loại chữ rất đặc biệt không sao đọc được. Chàng bèn khẩn khoản hỏi thăm ông lão, thì được ông lão cho biết đó không phải là chữ của nhân gian, và bản thân ông cũng không phải là người của nhân gian nữa. Hiếu kỳ và thích thú, Vi Cố hỏi trong sách ghi chép những gì, thì ông lão cho biết đó là sách ghi chép tất cả những cuộc hôn nhân của trai gái trên đời nầy. Đoạn ông lấy ra một cuộn chỉ đỏ và giải thích rằng, khi ông đã buộc chỉ đỏ nầy vào chân của cặp trai gái nào rồi, thì dù cho có quan san cách trở hay thù oán lẫn nhau gì gì đi nữa, thì rốt cuộc cũng sẽ thành vợ thành chồng với nhau mà thôi.
         Trong lúc đang tìm kiếm hôn nhân, Vi Cố bèn hỏi ông lão xem có biết mình chừng nào kết hôn và vị hôn thê của mình là ai không ? Ông lão bèn lật sách ra xem rồi nói rằng : Vợ của Vi Cố năm nay mới có ba tuổi và phải mười bốn năm sau thì hai người mới kết hôn được. Đang lúc nóng lòng muốn cưới vợ, nghe ông lão nói thế, Vi Cố nản qúa bèn hỏi tới rằng : “ Vậy chớ bây giờ vợ tôi đang ở đâu ?”. Ông lão đáp là : “ Vợ của cậu đang ở tại đây, ở phía bắc của Nam Điếm nầy, đang do một người đàn bà bán cải trông nom. Cậu đừng nóng ruột, trời sáng thì sẽ gặp mặt thôi !”
                                                     
         Khi trời đã sáng hẵn rồi, mà người mai mối ước hẹn với Vi Cố cũng không thấy tới. Ông lão ngồi dưới trăng cũng cất sách vào bọc. Đoạn đứng dậy bảo Vi Cố đi theo ông ta vào chợ. Khi đến hàng cải, thấy có người đàn bà một mắt tay đang ẵm một đứa bé mũi dãi thò lò, đang mua cải. Ông lão bèn chỉ vào cô bé gái bảo : “Đây là vợ cậu đó !”. Vi Cố nghe xong cả giận nói : “ Nếu lời nói của ông không sai, thì tôi sẽ giết con bé nầy !”. Ông lão cười bảo : “Đây là mạng số đã an bày, e rằng cậu sẽ không giết nổi cô ấy đâu !”. Nói đoạn, ông lão quay lưng bỏ đi mất.
          Vi Cố là con nhà thế gia vọng tộc, cho là ông lão cố ý làm nhục mình, nên khi về đến nhà trọ, bèn đưa một con dao nhỏ cho một gia đồng, bảo ra chợ đâm chết con bé gái của người đàn bà một mắt. Trong thời buổi phong kiến, thì việc con nhà quyền thế, cậy quyền cậy thế để giết hại người nghèo cũng là chuyện thường tình, còn các đầy tớ do chủ nuôi thì cứ sai đâu đánh đó, nhắm mắt làm càng. Tuy nhiên, mạng người hệ trọng, giữa chợ giữa búa lại là lúc ban ngày ban mặt mà dám giết người giữa chợ thì cũng không phải là chuyện tầm thường. Nên khi ra đến chợ, tên gia đồng lừa thế đâm đứa bé một nhát rồi bỏ chạy trối chết. Khi về đến nhà trọ Vu Hựu hỏi kết qủa thế nào. Tên gia đồng bảo là vì có người đàn bà che chở, nhưng vẫn đâm trúng một nhát vào đứa bé, còn sống chết ra sao thì chưa biết !
         Sau vụ om sòm ngoài chợ, Vu Hựu cũng hối hận cho sự nóng giận bồng bột của mình, nên bỏ đi nơi khác. Những năm sau đó chàng tiếp tục tìm người hôn phối khắp nơi để cầu hôn, nhưng đều thất bại, cộng thêm mấy lần thi rớt, công danh không thành, hôn phối không xong, gia cảnh ngày một khốn khó. Cuối cùng, chàng đành phải dẹp lòng tự ái tự trọng để xin một chức phụ ấm của cha để lại : làm Tham Quân cho xứ Tương Châu. Lúc bấy giờ chàng đã ngoài ba mươi tuổi và vẫn còn độc thân trơ trọi có một mình.
         Thứ sử Tương Châu là Vương Thái thấy chàng tướng mạo đoan trang, lại có văn tài, giao cho chàng kiêm nhiệm luôn về tư pháp ty của địa phương, chàng đều hoàn thành thật xuất sắc. Thấy chàng đã ngoài ba mươi mà chưa thành gia lập thất, nên Vương bèn gả con gái út cho chàng làm vợ. Cầu hôn suốt mười mấy năm trời đều thất bại, bỗng dưng được vợ, lại là con gái cưng của thượng cấp, Vi Cố vui mừng quá đổi.

                           Inline image
                              Vi Cố cưới vợ

         Đêm động phòng hoa chúc, thấy cô dâu Vương Thị chỉ khoảng mười bảy mười tám tuổi, xinh đẹp vô cùng, lại theo thời trang đính một hoa vàng ở giữa đôi mày trông càng xinh xắn kiểu dáng vô cùng. Vi Cố rất thỏa mãn và hạnh phúc với cô vợ trẻ đẹp này. Nhưng không biết vì sao đóa hoa vàng làm dáng ở giữa mày, cả khi đi ngủ đi tắm nàng cũng không chịu mở ra, khiến Vi Cố vô cùng thắc mắc.
          Một hôm, khi vợ chồng đang trò chuyện thân mật với nhau, chàng mới thừa cơ hỏi rõ nguyên do. Nàng bèn cười mà đáp rằng : “Đó chẳng qua là tính thích làm đẹp của phái nữ, muốn giữ cho đẹp mà thôi !” Đoạn kể cho chàng nghe về lai lịch của mình. Thì ra, nàng không phải là con ruột của Vương Thứ Sử, chỉ là cháu gọi bằng chú mà thôi. Lúc nhỏ vì trên đường đi làm quan xa, cha nàng bị bệnh mất sớm, chẳng bao lâu mẹ cũng buồn rầu mà mất theo. Lúc đó nàng chỉ mới ba tuổi, phải sống nương nhờ vào bà vú nuôi, trồng cải ở mảnh đất sau nhà, nên mỗi ngày phải ra chợ bán cải cho bạn hàng. Một hôm không biết vì cớ gì có một kẻ côn đồ cầm dao định đâm nàng chết, may mà bà vú nhanh mắt tránh sang một bên, nên chỉ sướt qua giữa chân mày, vì thế mà nàng phải đính một đóa hoa vàng để che đi cái thẹo còn để lại. Sau đó chú nàng là Vương Thái tìm đến đem nàng về nuôi nấng và nhận làm con nuôi.
          Vi Cố nghe xong cả kinh, mồ hôi ra ướt cả mình, hỏi lại rằng : “ Có phải bà vú của nàng là người đàn bà chỉ có một mắt hay không ?” Vương Thị cũng rất ngạc nhiên mà hỏi lại rằng : “ Sao chàng lại biết ?!”. Đến nước nầy, Vi Cố bèn kể lại chuyện Nguyệt Lão là Ông gìa dưới trăng đã định sẵn hôn nhân của hai vợ chồng cho nàng nghe. Vương Thị cũng vô cùng cảm khái cho cuộc hôn nhân tiền định nầy, vì thế mà vợ chồng càng yêu thương khắn khít nhau hơn là những cặp vợ chồng thường khác.
          Vi Cố vì hưởng phụ ấm mà được chức quan nhỏ, nhưng nhờ gia đình bên vợ nâng đở, nên đường hoạn lộ cũng hanh thông. Sau nhờ con trai trưởng là Vi Cổn bình loạn có công, được phong làm Thái Thú Nhạn Môn Quan, lại được vua ban hàm Tướng Quân, mẹ là Vương Thị cũng được phong hàm Thái Nguyên Quận Thái Phu Nhân. Vì thế, mà câu chuyện Nguyệt Lão ở Nam Điếm của Tống thành ngày xưa được nhân gian truyền tụng và nhắc nhở. Huyện lệnh Tống Thành bèn đổi Nam Điếm thành Định Hôn Điếm定婚店là nơi Định đoạt Hôn Nhân của người thế gian, đồng thời cũng cho xây miếu để thờ phượng Ông Già Dưới Trăng, gọi là Nguyệt Lão Miếu月老廟.



                           Inline image
                         Nguyệt Hạ Lão Nhân Miếu

          Ngày nay, khắp nơi đều có miếu thờ Nguyệt Lão, nếu không thì cũng có bàn thờ Nguyệt Lão được thờ chung với các vị thần khác ở tất cả các miếu. Riêng ở Trung Hoa thì miếu thờ Nguyệt Lão có ở khắp nơi trong nước, nhưng nổi tiếng nhất là Nguyệt Lão Miếu ở Hàng Châu, không phải vì nó đẹp và linh thiêng hơn các nơi khác mà vì nó có nét cổ kính và nhất là đôi câu đối bất hủ ở hai bên cổng miếu không biết do danh sĩ nào đã làm ra :

             Nguyện thiên hạ hữu tình nhân chung thành liễu quyến thuộc,
                  願   天    下   有   情    人       终      成     了    眷      屬,
             Thị tam sanh chú định sự mạc thác qúa nhân duyên !
                 是  三   生    註    定   事   莫    錯    過    良     緣。
Có nghĩa :
           Mong cho tất cả tình nhân trong thiên hạ, đều được nên gia thất,
           Là chuyện tiền định từ ba kiếp trước, đừng để lở mất duyên lành !

        Rất bình dân, rất nên thơ mà cũng rất thực tế, rất thiệt tình !

                   
                       
    Inline imageInline image
                       Tượng Nguyệt Lão
             
        Còn một chuyện rất mỉa mai đến buồn cười là : Nguyệt Lão ở Trung Hoa là Ông Gíà Dưới Trăng lẻ loi đơn độc có một mình. Mặc dù chuyên xe tơ kết tóc cho người đời nên duyên chồng vợ với nhau, nhưng sang qua Việt Nam, có thể dân ta thấy tội nghiệp cho ông suốt đời chỉ mai mối cho người khác còn mình thì vẫn lẻ loi, và theo quan niệm của người Việt Nam ta, có “Ông” thì phải có “Bà”, nên mới “cưới” cho ông một “ Bà Nguyệt “ nữa, thành một cặp “Ông Tơ Bà Nguyệt”, và thành ngữ “Ông Tơ Bà Nguyệt” chỉ có trong ngôn ngữ và văn chương Việt Nam ta mà thôi, chớ ở bên Tàu thì “Ông Tơ” là Nguyệt Lão vẫn chỉ trơ trọi có một mình, không biết chuyện trai gái là gì cả, nên mới bị nàng Cung phi của Nguyễn Gia Thiều bỡn cợt :

                      Tay NGUYỆT LÃO khờ sao có một
                      Bỗng tơ tình vướng gót cung phi.
                      Cái đêm hôm ấy đêm gì? 
                      Bóng gương lồng bóng đồ mi trập trùng.


                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC