Nữ thi nhân nước Tống thời Nam Triều là Bào Lệnh Huy 鮑令暉 thì viết hẵn thành một bài Ngũ ngôn Cổ phong với nhiều tình tiết nhớ thương và mong đợi... như sau :
自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
臨軒不解顏。 Lâm hiên bất giải nhan.
砧杵夜不發, Châm chữ dạ bất phát,
高門晝恆關。 Cao môn trú hằng quan.
帳中流熠耀, Trướng trung lưu tập diệu,
庭前華紫蘭。 Đình tiền hoa tử lan.
物枯識節異, Vật khô thức tiết dị,
鴻來知客寒。 Hồng lai tri khách hàn.
游用暮冬盡, Du dụng mộ đông tận,
除春待君還。 Trừ xuân đãi quân hoàn !
* Chú thích :
- Lâm Hiên 臨軒 : là đến trước mái hiên nhà.
- Giải Nhan 解顏 : là Mở mày mở mặt, chỉ vui vẻ. Nên Bất Giải Nhan là mặt mày không vui chút nào cả.
- Châm Chữ 砧杵 : CHÂM 砧 có bộ THẠCH 石 bên trái, là cái Chày bằng đá, mà cũng có nghĩa là tấm thớt nữa. CHỮ 杵 có bộ MỘC 木 bên trái, là Chày bằng cây. Nói chung CHÂM CHỮ là dụng cụ dùng để giặt giũ ngày xưa. Vì vải thô và dầy nên thường phải đập bằng chày.
- Hằng Quan 恆關 : HẰNG là Thường; QUAN (động từ) có nghĩa là Đóng; nên HẰNG QUAN là Thường đóng kín lại.
- Tập Diệu 熠耀 : TÂP là Sáng lắp lánh; DIỆU là Sáng choang, sáng chói. Nên Tập Diệu là Sáng lắp lánh rực rỡ. Lưu Tập Diệu 流熠耀 là chỉ những con đom đóm bay nhấp nháy trong màn.
- Tử Lan 紫蘭 :là một loại hoa lan, có màu tím, trắng, lam, vàng...
- Tiết Dị 節異 : là Thời tiết đã khác đi.
- Hồng Lai 鴻來 : là Chim hồng nhạn bay đến.
- Du Dụng 游用 : Chỉ người du tử dạo chơi khắp chốn.
- Trừ Xuân 除春 : Chỉ cuối đông đầu xuân.
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng ra đi rồi, thiếp thường ra đứng ở mái hiên để trông ngóng chàng một cách buồn bã vì chẳng thấy chàng đâu.
Thớt chày đêm đêm cũng không còn vang lên tiếng giặt giũ; và cửa nhà luôn được đóng kín lúc ban ngày.
Trong trướng thì mỗi đêm đều có đom đóm bay chập chờn lắp lánh; Trong sân nhà thì các loại hoa tử lan lại nở đầy.
Vạn vật cứ khô héo dần nên thiếp biết là thời tiết đã thay đổi khác đi rồi; và chim hồng nhạn bay đến nên thiếp biết là ở nơi đất khách trời đã trở lạnh rồi.
Chàng dạo chơi khắp chốn nhưng cũng nên biết là mùa đông đã sắp tàn rồi, và đầu xuân nầy thiếp sẽ mong đợi chàng về (để đôi ta được đoàn tụ).
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng đi xa,
Buồn ngóng mái hiên nhà.
Tiếng chày đêm hết giặt,
Cửa ngày chẳng mở ra.
Trong trướng đóm bay lượn,
Ngoài sân lan nở hoa.
Vật khô thời tiết đổi,
Nhạn về lạnh khách xa.
ngao du đông đà hết,
Đầu xuân đợi về nhà !
Lục bát :
Từ ngày chàng bước chân đi,
Bên hiên buồn ngóng vui chi sao đành.
Chày giặt im tiếng đêm thanh,
Cửa nhà đóng chặc không đành mở ra.
Trong màn đóm lượn lấp la,
Ngoài sân lan đã nở hoa khắp cùng.
Sao vời vật đổi mông lung,
Nhạn về đất khách lạnh cùng khắp nơi.
Ngao du đông đã hết rồi,
Đầu xuân thiếp đợi, chàng ơi hãy về !
Sau đây là bài thơ của Ngu Hi 虞羲, môt thi nhân của buổi Tề Lương, khi thơ ngũ ngôn bát cú vừa mới manh nha thành hình :
自君之出矣, Tự quân chi xuất hỉ,
楊柳正依依。 Dương liễu chính y y.
君去無消息, Quân khứ vô tiêu tức,
唯見黃鶴飛。 Duy kiến hoàng hạc phi.
關山多險阻, Quan sơn đa hiễm trở,
士馬少光輝。 Sĩ mã thiểu quang huy.
流年無止極, Lưu niên vô chỉ cực,
君去何時歸。 Quân khứ hà thời quy ?!
* Chú thích :
- 依依 Y Y : Y là dựa dẵm. Y Y là Lưu luyến, nắm níu không nở rời nhau.
- Tiêu Tức 消息 : là Tin tức; những việc xảy ra mà mình muốn biết.
- Quan Sơn 關山 : QUAN là Cửa ải; Sơn là Núi non. Nên QUAN SƠN là nơi quan ải với núi non hiểm trở.
- Sĩ Mã 士馬 : Lính và Ngựa; chỉ quân đội ngày xưa.
- Quang Huy 光輝 : là Sáng sủa. Trong bài là THIỂU QUANG HUY 少光輝 Không phải là "Thiếu sáng sủa"; mà chỉ "Rất vất vả, lao nhọc".
- Lưu Niên 流年 : là Suốt năm, cũng có nghĩa là "Hết năm nầy qua năm khác".
- Chỉ Cực 止極 : CHỈ là ngừng; CỰC là Hết mức. Nên CHỈ CỰC là Hết mức rồi nên dừng lại. VÔ CHỈ CỰC 無止極 là "Không có điểm để dừng lại", có nghĩa là "Cứ tiếp tục mãi như thế".
- Hà Thời 何時 : là Chừng nào, lúc nào, khi nào...
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi, thì cũng chính là lúc thiếp như nhành dương liễu cứ nắm níu lưu luyến mãi không nở rời xa.
Chàng ra đi rồi thì bặt tin bặt tức (không có chim nhạn đưa thư gì cả!) chỉ thấy có những con hạc vàng bay vút tận chân trời.
Trên con đường quan ải núi non trùng điệp nhiều hiễm trở khó đi; Chắc binh sĩ và ngựa chiến cũng rất là gian nan vất vả.
Suốt năm nầy qua năm kia đều không có điểm dừng chân ngừng nghỉ; Thế thì chàng ra đi biết đến khi nào mới được trở lại đây ?!
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng lên đường,
Liễu rũ cũng vấn vương.
Tin nhạn đâu không thấy,
Hạc vàng bay tứ phương.
Ải núi nhiều hiễm trở,
Binh mã cũng thê lương.
Hết năm nầy năm khác,
Khi nào về quê hương ?!
Lục bát :
Từ ngày chàng bước lên đường,
Thiếp như liễu rũ vấn vương khác nào...
Chàng đi biệt tích âm hao,
Trông trời chỉ thấy bay cao hạc vàng.
Quan sơn hiễm trở muôn vàng,
Lính ngựa vất vả ngổn ngang núi rừng.
Năm nầy năm, nữa chẳng dừng...
Ngày nào chàng mới trùng phùng hồi quê ?!
Đột phá nhất là Tể Tướng Vương An Thạch 王安石 đời Tống, ông làm thơ TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ theo vần Trắc để tưởng nhớ bạn bè chớ không phải tình yêu của người cô phụ trông chồng. Ta cùng đọc bài "Hoài Nguyên Độ 懷元度"(Nhớ đến nhà sư Nguyên Độ) sau đây :
自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
何其掛懷抱。 Hà kỳ quải hoài bão.
孤坐屢窮辰, Cô tọa lũ cùng thần,
山林跡如掃。 Sơn lâm tích như tảo.
數枝石榴發, Sổ chi thạch lựu phát,
豈無一時好。 Khởi vô nhất thời hảo ?
不可持寄君, Bất khả trì ký quân,
思君令人老。 Tư quân lệnh nhân lão !
* Chú thích :
- Hà Kỳ 何其 : là Cái gì đó, Cái nào đó...
- Hoài Bão 懷抱 : Cái mà người ta ôm ấp, ấp ủ ở trong lòng.
- Cùng Thần 窮辰 : là Hết giờ giấc; có nghĩa là suốt ngày suốt buổi.
- Thạch Lựu 石榴 : là cây lựu, trái lựu.
- Khởi Vô 豈無 : Chả lẽ không...
- Trì 持 : là Cầm, nắm, níu.
- Lệnh 令 : là Làm cho, Khiến cho...
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày bạn ra đi rồi, thì như có cái gì đó cứ vương vấn mãi ở trong lòng tôi.
Tôi ngồi một mình suốt cả mấy ngày liền, trong rừng núi sạch sẽ như được quét dọn đến không một vết tích nào cả.
Có mấy cây lựu đang trổ hoa kết trái; Chả lẽ không có một đôi lúc nào tốt hay sao ?
Không thể đem được cái nỗi lòng nầy của tôi để gởi đến bạn; Nhớ đến bạn lại làm cho con nguời ta cảm thấy như già hơn ra.
Vì là thơ nhớ đến một nhà sư (Nguyên Độ) nên có vẻ cao siêu, như có một ý Thiền ẩn hiện đâu đây trong bài thơ...
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày bạn ra đi,
Như có vấn vương gì.
Mấy ngày ngồi ngơ ngẩn,
Rừng núi được quét đi.
Mấy cành hoa lựu nở,
Tốt lành cũng có khi ?
Không thể gởi gan ruột,
Nhớ bạn người già đi !
Lục bát :
Từ ngày bạn rời chân đi,
Lòng tôi như có chút gì vấn vương.
Một mình ngồi suốt mấy hôm,
Núi rừng được quét sạch trơn ai ngờ.
Mấy cành lựu trổ hoa mơ,
Tốt lành đâu hẵn phải chờ có khi ?
Khó đem gan ruột gởi đi,
Nhớ bạn lại khiến người thì già thêm !
Đến Lư Long Vân 盧龍雲 đời Minh thì phá cách hẵn; Chẳng còn lối phủ định ở câu 2 và lối Tỉ giảo với từ NHƯ 如 ở câu 3 nữa. Ta đọc bài thơ sau đây của ông :
自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
時序速如梭。 Thời tự tốc như thoa.
雪裡春將動, Tuyết lý xuân tương động,
流光一歲過。 Lưu quang nhất tuế qua !
* Chú thích :
- Thời Tự 時序 : là sự Tuần tự của thời gian; là Thời gian lần lượt...
- Tốc Như Thoa 速如梭 : là Nhanh như con thoi (trong khung cưởi).
- Tương 將 : là Sắp, là Sẽ...
- Lưu Quang 流光 : là Thiều quang qua đi như nước chảy; Ý chỉ Thời gian qua nhanh.
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi; thì thời gian cũng tuần tự qua nhanh như là thoi đưa vậy. Trong cảnh tuyết rơi, thì mùa xuân cũng đã khởi động rồi; và thời gian nhanh đến nỗi môt năm cũng sắp qua đi rồi !
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng đi rồi,
Thời gian tựa như thoi.
Trong tuyết xuân đà bén,
Một năm sắp qua rồi !
Lục bát :
Từ ngày chàng bước chân đi,
Thời gian tuần tự thua gì con thoi.
Tuyết rơi xuân cũng đến nơi,
Một năm một tuổi qua rồi một năm !
Cuối cùng là chủ nhân của "Tài Tử Đa Cùng Phú" của ta là Cao Bá Quát cũng góp phần "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" với một bài Ngũ ngôn Luật thi hẵn hoi, như sau :
自君之出矣, Tự quân chi xuất hỹ,
夜夜守空床. Dạ dạ thủ không sàng.
海月照孤夢, Hải nguyệt chiếu cô mộng,
江風生暮涼. Giang phong sinh mộ lương.
小鏡寄遠篋, Tiểu kính ký viễn khiếp,
寒衣留故房. Hàn y lưu cố phòng.
持此各自慰, Trì thử các tự ủy,
不遣兩相忘! Bất khiển lưỡng tương vong!
* Chú thích :
- Cô Mộng 孤夢 : là Giấc mộng cô đơn, lẻ loi chỉ có một mình.
- Mộ Lương 暮涼 : Cái lạnh lẽo khi chiều xuống đêm về.
- Viễn Khiếp 遠篋 : KHIẾP là cái Rương, cái Tráp, cái "Va-ly" nhỏ. Nên VIỄN KHIẾP là "Cái tráp của người đi xa".
- Cố Phòng 故房 : là "Cái phòng cố hữu", là cái phòng xưa nay vẫn ở đó.
- Trì Thử 持此 : TRÌ là Cầm, là nắm; Nên TRÌ THỬ là "Giữ những thứ nầy".
- Tự Ủy 自慰 : là Tự mình an ủi mình.
- Bất Khiển 不遣 : là "Chẳng khiến cho...; Chẳng làm cho...".
- Lưỡng Tương Vong 兩相忘 : là "Cả hai cùng quên nhau".
* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng bước chân đi rồi, đêm đêm em vẫn giữ lấy chiếc giường trống không nầy.
Ánh trăng trên biển đêm đêm vẫn chiếu vào giấc mộng cô đơn lẻ loi của em; và gió trên sông thổi đến làm tăng thêm cái lạnh lẽo khi chiều xuống đêm về.
Chiếc gương nhỏ thì đã gởi vào cái tráp của người đi xa rồi, còn chiếc áo lạnh thì vẫn hãy còn ở phòng cũ đây.
Giữ những thứ nầy để hai ta tự an ủi nhau khi nhìn thấy nó; và để "chẳng làm cho hai ta cùng quên nhau được!"(có nghĩa là : Sẽ mãi mãi nhớ nhau !).
* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
Từ ngày chàng đi rồi,
Đêm đêm giường không thôi.
Trăng biển soi mộng lẻ,
Gió sông thổi lạnh người.
Gương nhỏ theo tráp mất,
Áo lạnh giữ phòng côi.
Cùng giữ để yên ủi,
Cùng không quên bạn đời !
Lục bát :
Từ ngày chàng bước chân đi,
Giường không thiếp giữ xá gì đêm đêm.
Trăng soi bể vắng cô miên,
Gió sông thổi lạnh màn đêm xuống rồi.
Gương nhỏ theo tráp xa xôi,
Hàn y giữ lại phòng côi một mình.
Cùng giữ để cùng ngắm nhìn,
Cùng yên ủy chẳng quên tình đôi ta !
Đó là tất cả xuất xứ và lịch sử của quá trình diễn tiến hình thành của thể Nhạc phủ có tên rất nên thơ và đượm chút u buồn là TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自君之出矣, có nghĩa là : Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi !...
Hẹn bài viết tới !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC