BLOG CỦA NHÃ MY
Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026
NHỮNG MẮT NGƯỜI VÀ NHỮNG MẮT CÚ - THƠ ÁI ĐIỂU
Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026
NHỮNG NHÁNH ĐỜI CỦA BIỂN - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN
TRANH ĐINH CƯỜNG
NHỮNG NHÁNH ĐỜI CỦA BIỂN
tôi gởi lại bên một dòng sông chiều
tháng bảy những lâm thâm mưa bụi cuốn
trôi đi rác rưới mùa nước lụt về
sông sông trôi đi ánh đèn đêm về
cửa biển mà mẹ tôi bên kia nhà
cứ nghĩ con nó đã về chưa mà
lâu quá trời mưa chắc đường xa còn
ướt lạnh mà nhỏ dại dọc đường có
lỡ chuyến đò qua mùa lụt tháng bảy
nước lớn dâng lên đến thấu thềm nhà
tháng bảy nước nhảy lên bờ mẹ tôi
nói rồi đến nửa đêm mưa mau gió
thổi rì rầm mái tranh lật ngược nước
dột xuống nhà em tôi chị tôi chạy
đi lấy thau hứng đỡ ngồi thức trọn
đêm nghe mưa sau hè đổ ngọn tàu
cau cây chuối ngã rạp xuống mương nước
xoáy cuốn trôi đất cát vườn rau vườn
cà rụng trái theo sông sáng mai ngồi
dậy liền đi vớt củi để dành thổi
cơm mẹ dặn nhớ xăn quần cao kẻo
về ướt lạnh khổ lắm con ơi... thời
tuổi trẻ chắc chắn đã trôi qua bên
chiếc cầu ván đong đưa bên bờ ao
rau muống tôi nhìn lại và hai mươi
năm vút đi như vì sao chổi nhưng
sao chiều nay không dưng có cơn mưa
mù trút ngọn rồi mười năm hai mươi
năm chẳng còn là thời gian chờ đợi
lạy trời may thay mẹ tôi vẫn còn
bên kia nửa vòng trải đất anh em
thi mỗi người thất tán mỗi phương như
những nhánh củi rong rêu thuở nào không
biết bây giờ trôi nỗi về đâu mà
tha phương lại vèo thêm một thập niên
lưu lạc sao mẹ cứ dặn hoài đi
đâu rồi cũng nhớ về nhà cho kịp
chạng vạng tối trời khổ lắm con ơi.
HUỲNH LIỄU NGẠN
Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026
TÌNH GỞI NẪU - THƠ TRẦN YÊN HOÀ
TRANH ĐINH TRƯỜNG CHINH
TÌNH GỞI NẪU
Hàng cây xanh và hoa lá cũng xanh
Em thì xinh trong màu áo đỏ
Những bông hoa vàng trước ngực... lung linh
Khi em nói tiếng quê hương nở rộ
Em tinh khôi trong âm sắc quê mình
Giọng nói đó không lẫn vào đâu được
Cũng giống như anh - "Nẫu" thiệt tình
Anh Nẫu ngoài và em Nẫu trong
Tiếng Nẫu ngoài cộc cằn hơn là cái chắc
Vì quê anh vốn ăn cục nói hòn
Khi Nẫu nói, anh thấy mình trong đó
Có thịt, da, xương, hòa quyện trong lời
Ơi đất khổ của một thời chinh chiến
Anh băng qua rừng lội nát trường sơn
Anh dừng lại quê em, một miền đất Nẫu
Làm thân tù tội mấy năm trời
Xuân Phước, La Hai, oằn mình nín thở
Cố bơi qua sông, qua trời rộng sông dài
Đất Nẫu của anh, sao anh đi miết
Đi trong vô tâm, tìm kiếm thứ gì?
Nam bộ hiền khô, anh nào có biết
Bến bờ nào anh trở về gặp Nẫu
Giọng nói em cất lên buổi giao thời
Anh nghe lặng đi tim mình thổn thức
Đổ vỡ nào cũng có phút hồi sinh
Gởi Nẫu ơi, Nẫu thương yêu lắm đó
Đất cằn khô nhưng tim Nẫu rạt rào
Trái tim anh đập liên hồi kỳ trận
Sẽ dựng lại đời bên Nẫu. Ôi chao!
Anh đi xa ngái miền quê quán
Chợt nhớ về thương đất Quán Rường
Mai ta dắt Em về bên Mẹ
Nẫu có vui cùng mùi quê hương?
Mai em và ta cùng chung nhịp đập
TRẦN YÊN HOÀ
Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026
TRỤC KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG CẤU TRÚC ĐỊA VĂN HOÁ CHĂMPA- HỒ XUÂN TỊNH
Hòn Đền và Hòn Tàu nhìn từ sông Thu Bồn. Ảnh: H.X.T
TRỤC KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG CẤU TRÚC ĐỊA VĂN HOÁ CHĂMPA
ĐNCT - Vùng rừng núi phía tây xứ Quảng là một cấu trúc địa chất cổ, được hình thành từ các trầm tích biển cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam. Qua quá trình vận động kiến tạo, các lớp đá phiến, sa thạch và cuội kết được uốn nếp, tạo thành những dãy núi kéo dài theo hướng tây - đông.
Địa hình phân hóa rõ rệt thành hai bậc: Vùng núi cao trên 1.000m chạy dọc biên giới Việt - Lào và vùng núi thấp dưới 1.000m tỏa xuống các đồng bằng Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình và Tam Kỳ. Từ đây hình thành các nhánh núi riêng biệt như Bạch Mã - Hải Vân, Sơn Trà, Bà Nà, Hòn Tàu - Hòn Đền...
Núi thiêng và Thánh địa
Trong không gian địa mạo ấy, thung lũng Mỹ Sơn là một lòng chảo khép kín, được bao bọc bởi dãy núi Hòn Tàu - Hòn Đền, Dương Thông... Theo ghi chép của Đại Nam nhất thống chí, hệ thống núi này phân thành nhiều chi, trong đó núi Tào Sơn giữ vai trò “trấn sơn”, tạo thế vững chãi cho toàn vùng. Đỉnh cao nhất của dãy là Ấn Sơn cao khoảng 950m, từ đây có thể quan sát rộng đồng bằng Quảng Nam và vùng ven biển Đà Nẵng.
Trong hệ thống núi này, Hòn Đền còn được gọi là núi Răng Mèo - núi thiêng Mahaparvata, không phải đỉnh cao nhất nhưng lại giữ vị trí đặc biệt trong tâm thức dân gian và trong cấu trúc thiêng của Chămpa. Tên gọi “núi Chúa” vốn phổ biến ở nhiều vùng, thường chỉ những đỉnh núi được xem là nơi cư ngụ của thần linh. Với Hòn Đền, ý nghĩa ấy càng được củng cố bởi mối liên hệ trực tiếp với thánh địa Mỹ Sơn và những truyền thuyết bản địa.
Từ góc nhìn địa - văn hóa, GS. Trần Quốc Vượng cùng một số chuyên gia Đông Nam Á nhận định rằng Hòn Đền có thể được xem như Lingaparvata (núi Linga) theo quan niệm Ấn Độ giáo. Trong cấu trúc biểu tượng này, thung lũng Mỹ Sơn đóng vai trò như Yoni, còn dòng suối Khe Thẻ chảy qua trung tâm thánh địa chính là dòng năng lượng phồn thực kết nối hai yếu tố âm - dương. Sự kết hợp giữa địa hình tự nhiên và biểu tượng tôn giáo đã khiến Mỹ Sơn được chọn để xây dựng trung tâm tín ngưỡng bậc nhất của Chămpa.
Từ Thánh địa đến biển cả
Tuy nằm biệt lập trong thung lũng, Thánh địa Mỹ Sơn không tách rời khỏi đời sống kinh tế - xã hội xung quanh. Theo ghi nhận của Georges Maspero trong tác phẩm Vương quốc Chămpa, mỗi khu đền tháp được dâng cúng một lãnh địa rộng lớn, bao gồm đất đai, cư dân và nguồn sản vật phục vụ cho việc duy trì hoạt động tôn giáo. Điều này cho thấy cấu trúc kinh tế - tôn giáo của Chămpa mang tính tích hợp cao, trong đó quyền lực thần linh và quyền lực thế tục luôn song hành.
Từ Mỹ Sơn, nếu nhìn theo trục không gian dọc sông Thu Bồn, có thể nhận ra một mô hình quy hoạch lãnh thổ đặc trưng của tiểu quốc Amaravati. Ở thượng nguồn là núi thiêng và thánh địa; xuống trung lưu là kinh đô Trà Kiệu (Simhapura), gắn với vùng châu thổ nông nghiệp trù phú; và cuối cùng là cảng thị ven biển Hội An (Champapura), cùng cụm đảo tiền tiêu Cù Lao Chàm. Đây là một trục liên hoàn, thể hiện tư duy tổ chức không gian vừa mang tính thực dụng vừa mang chiều sâu biểu tượng.
Kinh đô Trà Kiệu, nằm cách Mỹ Sơn khoảng 10 km về phía đông, giữ vai trò trung tâm chính trị và kinh tế. Bao quanh khu vực này là những cánh đồng rộng lớn, được Lê Quý Đôn mô tả trong Phủ biên tạp lục là “đại đồng điền”. Không chỉ phát triển nông nghiệp lúa nước, cư dân Chămpa còn trồng dâu nuôi tằm, sản xuất tơ lụa và dệt vải, tạo nên những mặt hàng có giá trị cao trong thương mại.
Ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An thời Chămpa là một cảng thị quốc tế quan trọng, nằm trên tuyến hàng hải kết nối từ Trung Hoa đến Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á. Nhờ nguồn lâm thổ sản như trầm hương, quế, hồ tiêu… được đưa về từ thượng nguồn và các sản phẩm tơ lụa, Champapura trở thành đầu mối giao thương sầm uất, góp phần đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế và củng cố quyền lực chính trị của vương quốc.
Ngoài khơi, Cù Lao Chàm đóng vai trò như một “tiền cảng”, nơi các thương thuyền quốc tế dừng chân để lấy thêm nước, lương thực và tránh bão. Đây không chỉ là điểm neo đậu tàu thuyền mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc kiểm soát tuyến hàng hải khu vực.
Bên cạnh trục Mỹ Sơn - Trà Kiệu - Cù Lao Chàm, có thể nhận diện một trục không gian thứ hai theo hướng đông bắc, nối Mỹ Sơn - Hòn Đền với bán đảo Sơn Trà, thông qua hệ thống sông Vĩnh Điện - Cẩm Lệ. Trên trục này, vùng đồng bằng Điện Bàn - Hòa Vang đóng vai trò châu thổ, với các khu đền tháp Bằng An và Phong Lệ.
Đặc biệt, Ngũ Hành Sơn giữ vị trí trung gian giữa nội địa và biển cả. Nơi đây hiện diện những cơ sở tín ngưỡng Ấn Độ giáo và Phật giáo, đồng thời là vị trí quan trọng về quân sự và hàng hải. Từ trên đỉnh Thủy Sơn, có thể quan sát toàn bộ tuyến đường biển ven bờ và hệ thống sông dẫn vào nội địa; lợi thế này đã được triều Nguyễn khai thác khi dựng các đài quan sát Vọng Hải Đài và Vọng Giang Đài dưới thời vua Minh Mạng.
Xa hơn về phía đông, núi Sơn Trà trở thành một bức bình phong tự nhiên che chắn cho vịnh Đà Nẵng, kết hợp với dãy Bạch Mã - Hải Vân tạo thành một vùng biển kín gió, thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu.
Trong cấu trúc không gian ấy, Hòn Đền - Mahaparvata nổi lên như một “chủ sơn” mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa lý. Không phải là đỉnh núi cao nhất trong vùng, nhưng chính sự hội tụ của yếu tố địa hình, tín ngưỡng và biểu tượng đã khiến nơi đây trở thành trung tâm thiêng liêng trong thế giới quan Chămpa. Từ Mahaparvata, các trục không gian tỏa đi, kết nối thánh địa Mỹ Sơn với kinh đô, đồng bằng và biển cả, tạo nên một chỉnh thể hài hòa giữa tự nhiên và văn hóa.
Có thể nói, trên nền tảng địa lý tự nhiên, người Chăm xưa đã kiến tạo không gian liên kết từ núi thiêng đến biển cả, hình thành tư duy tổ chức lãnh thổ hướng biển, trong đó núi - sông - đồng bằng - hải đảo gắn kết thành một chỉnh thể. Sự kết hợp giữa không gian thiêng, trung tâm chính trị, vùng sản xuất và mạng lưới hàng hải không chỉ tạo nên nền tảng cho sự phát triển lâu dài của Chămpa, mà còn để lại di sản địa văn hóa đặc sắc, tiếp tục hiện diện trong không gian đất Quảng hôm nay.
HỒ XUÂN TỊNH • 20/09/2026 11:10
Nguồn : Báo ĐÀNẴNG .VN
https://baodanang.vn/truc-khong-gian-thieng-trong-cau...
Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026
GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG: SỬA THƠ TRONG MƠ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC
GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG:
SỬA THƠ TRONG MƠ
Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026
MÙA THU QUÊ EM - THƠ NGUYỄN VĨNH LONG
TRANH ĐINH TRƯỜNG CHINH
MÙA THU QUÊ EM
Sao cứ mùa thu phải có lá vàng
gió heo may trở mùa se sắt lạnh?
Mùa thu quê em là bao chiều gió lộng
nước mênh mông phủ kín những cánh đồng
Mùa thu quê em là hoa tím dòng sông
trưa nắng ngủ ấm bờ môi con gái
mùa thu quê em cuối vườn cây trái
con chim chuyền cành cất tiếng nỉ non…
Mùa thu quê em lấp lánh đèn đêm
soi cuộc sống những ghe mùa cá chạy
có tiếng thở dài ngược dòng tay lái
khoang cá vơi đầy một kiếp đời riêng
Mùa thu quê em là đôi mắt lặng thinh
hoa điên điển vàng bờ kinh phía trước
mùa thu quê em bao đời con nước
bên lở bên bồi, mặc những trăm năm..!
NGUYỄN VĨNH LONG
Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026
CHÙM THƠ THĂM HOA LỤC - THƠ NGUYỄN KHÔI
CHÙM THƠ THĂM HOA LỤC
( Tặng : Nhã My )
Trung Hoa rộng lớn nào đi hết
thì đển Nam Kinh ngắm Ngô Đồng (1)
Quyền thế ngất trời rồi cũng chết
Tình Yêu còn mãi với non sông.
———
( 1)-Đường phố cây Ngô Đồng ở Nam Kinh do Tưởng Giới Thạch trồng tặng Tống Mỹ Linh)
-1, NAM KINH
( Bởi mê Hồng Lâu Mộng
Nên tìm đến Nam Kinh)
Mộng đến Kim Lăng thăm Cảnh Ảo
tìm cô gái Việt ở Nam Kinh
hồn xưa còn giấu trong nếp áo
thơ xưa tơ liễu rủ hương tình
Trông lên phương bắc mang mang gió
Chim đậu cành Nam ngó đất trời
qua bao bình lửa cho gặp gỡ
Trung Sơn ta đứng lặng bên Người.🧍
“ Sơn thủy cổ thành tương ỷ” tuyệt
ai hay Thiên Quốc hận Thái Bình ?
nắng hắt Trường Giang cồn khói sóng
buồm ai cô lữ tới Nam Kinh.
-2, ĐI DỌC TIỀN ĐƯỜNG
( Sóng êm Phúc kiến , lửa tàn Chiết Giang)
Mênh mông con nước Tiền Đường
triều dâng hoa sóng dễ nhường mắt ai
tàu qua huýt tiếng còi dài
Chuyện xưa bỗng nhớ để hoài xót thương.
Đoạn nào Kiều đã trầm gương
bến nào gặp vãi Giác Duyên đón về ?
gió chiều se lạnh tái tê
ai người Quân tử sẻ chia Đoạn trường
bâng khuâng đi dọc Tiền Đường
trăm năm đâu chốn mồ chôn Nàng Kiều ?
-3,VỚI SÔNG TƯƠNG
Tàu đi theo nẻo Sông Tương
đôi bờ phẳng lặng như dường đón ai
núi đồi thon tựa bờ vai
mưa tuôn lệ Liễu bay hoài tương tư
**
Cuộc đời trôi nổi bôn ba
gặp sông Tương thấy thật là dịu êm
đầu sông bao cuộc đảo điên (1)
ai châm ngọn lửa đốt miền tre xanh ?
một phen khuấy động Kinh thành
Nông dân vùng dậy thác ghềnh sóng xô
Sông Tương thì cứ lặng tờ
để cho Dương Tử , Hoàng Hà réo sôi.
——
(1) Hồ Nam quê Mao Trạch Đông
-4, THĂM HÀN SƠN TỰ
Chùa cổ , thơ đề , vẳng tiếng chuông ,
Ngàn năm ngưỡng vọng đến Hàn Sơn.
“ Cô Tô thành ngoại “ in bóng nguyệt
Để khách đa tình phải vấn vương.
**
Nắng gắt , người chen, ánh chiều tà,
bờ Phong xoà bóng , Liễu thướt tha.
Chuông động hồn xưa Hàn Sơn tự,
lên tháp vời trông sóng Vận Hà .
-5, DẠO PHONG KIỀU LỘ
Chiều sương dạo phố Phong Kiều
tựa đình Chiết Liễu gió reo đôi bờ
thuyền ai về bến Cô Tô
lửng lơ nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
-6, NHỚ LỖ TẤN (1)
Qua làng chẳng thấy AQ
nhà cao cửa rộng liền kề tương thân
rượu quê một chén Thiệu Hưng
ai say thời cuộc mà không Chí Phèo ?
——
(1) Văn hào Trung Quốc với nhân vật AQ… VN có Nhà văn Nam Cao với nhân vật Chí Phèo.
NGUYỄN KHÔI
( Chiết Giang 18/6/2006-)
NM chân thành cảm ơn anh Nguyễn Khôi
