CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

LỄ MẸ NHỚ MÁ MÁ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 

Đôi Điều Tâm Sự : 

                                        LỄ MẸ NHỚ MÁ MÁ

               

      Tôi là người Việt gốc Tiều Châu, nên gọi MẸ là MÁ MÁ Trong bài thơ "NHỚ TÙA HIA" làm để điếu tang để nhớ và kỷ niệm lúc Ba tôi mất (2013), tôi có giới thiệu chi tiết : Má Má tôi là cháu gái của bà chủ chành lúa. Đó là Chành Khổng Hưng Phát của thập niên 1940, ở phía bên kia cầu sắt bắt qua sông ngang nhà lồng chợ Cái Răng, là chành lúa lớn nhất Thị Trấn Cái Răng lúc bấy giờ, nên Má Má tôi cũng thuộc dạng Tiểu Thơ, mặc dù ở trên Ba Láng thuộc miệt vườn, nhưng vẫn được ông bà ngoại cho đi học chữ Hoa, nên cũng biết chút đỉnh chữ Nho, và theo nề nếp cổ xưa, nên cũng học đủ các thứ Công Dung Ngôn Hạnh...của một cô gái vùng đồng bằng sông nước của Nam kỳ Lục tỉnh; nên mặc dù là một "Tiểu thơ miệt vườn" Má MÁ tôi vẫn giúp mẹ chăm lo cho em út, quán xuyến việc nhà như gánh nước tưới rau, tưới cải, tưới trầu, giặt giũ quần áo... vì Má Má là Chị Hai ở trong nhà.


1947              1955                 1956               1960                 1962


      Mỗi lần Tết nhứt hay nhà có đám giỗ đám tiệc, thì các "Tiểu thơ miệt vườn" cũng ra sức trang điểm các món ăn cho đẹp mắt, nhất là các loại dưa và cải chua được khắc thành những chữ Nho như : Phước, Lộc, Thọ, Khang, Ninh 福,祿,壽,康,寧... Các Hương Sư, Hương Quản thường để mắt xem xét xà khen con gái xứ Ba Láng  biết chữ Nho. Ngoài ra trên các mặt bàn hoặc màn treo còn được các cô thêu đủ loại bông hoa chim cá cảnh và chữ Nho, như Gia Đình Hạnh Phúc 家庭幸福, Diên Niên Ích Thọ 延年益壽, Như Hoa Mỹ Quyến 如花美眷, Hoa Hảo Nguyệt Viên 花好月圓... v.v. và v.v... 


             Nên...

      Má Má tôi cũng là một tay thêu rất đẹp, rất khéo, tất cả các mặt gối ở nhà nằm đều do một tay bà thêu ra cả ! Còn tôi, theo thị hiếu của gia đình, tôi thay "Tùa Hia" (Ba tôi) làm "chuyên gia" tạo mẫu và "can-kê" các mẫu thêu lên vải cho Má Má tôi thêu. Sau nầy, lớn hơn, vẽ khéo tay mà lại viết chữ đẹp, tôi còn vẽ và chế tác các mẫu thêu mới cho Má Má tôi nữa.

         

 1963                  1964                 1968                1971                  1973


      Vì gia đình đông anh em, tôi có tới 8 đứa em, năm gái ba trai; Nên mỗi đứa đều phải có một cái gối thêu theo tuổi của mỗi đứa. Vì vậy mà tôi phải tìm mẫu để thiết kế cả 12 Con Giáp cho gối của đứa nào thì ra đứa nấy mà không lộn xộn giành giựt nhau mỗi tối !

      Trong quá trình tìm mẫu thiết kế cho 12 con giáp thật là vất vả : Ví dụ như : Tuổi Dần, tuổi Thìn, tuổi Ngọ thì rất đễ dàng tìm mẫu con Cọp, con Rồng, con Ngựa thật đẹp để làm mẫu thêu. Còn như "Tuổi Tý là con chuột nhà, bắt vịt bắt gà khoét lổ đào hang" hổng lẽ vẽ hình con chuột mỏ nhọn lĩu thì thêu lên coi sao được, nên tôi đã phải mượn hình tượng của con MICKEY MOUSE để làm mẫu thêu cho đẹp. Cũng như Tuổi Thân con khỉ thì mượn hình tượng của Tề Thiên Đại Thánh, tuổi Hợi con Heo thì mượn hình tượng của Trư Bát Giới...  

              

 Rồi...

       Không lẽ chỉ vẽ có cái hình mà thôi, còn phải có chữ nữa chớ ! Cái nầy mới rắc rối đây, phải tìm chữ nào cho phù hợp với cái mặt gối nằm ngủ mà còn phải có ý nghĩa và "ăn với cái hình" thì mới được. Ví dụ như : Mặt gối hình con Ngựa tuổi Ngọ thì viết bốn chữ MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG 馬到成功, hình Tề Thiên con Khỉ tuổi Thân thì viết 4 chữ THÔNG MINH DĨNH NGỘ 聪明颖悟, hình Trư Bát Giới con Heo thì hạ 4 chữ CAO CHẨM VÔ ƯU 高枕無憂, có nghĩa : Ăn no ngủ kỷ không lo lắng gì cả !... Có nhiều con liên quan đến Thành Ngữ Điển Tích như con Gà tuổi Dậu, thì tôi viết câu Thành Ngữ VĂN KÊ KHỞI VŨ 聞雞起舞 (là Nghe Gà gáy thức dậy múa may luyện võ ) lấy tích của ông ....

       TỔ ĐỊCH 祖逖 (chữ nầy còn được đọc là THÍCH), người đời Tấn, từ nhỏ đã có chí lớn, ngoài việc học văn, mỗi sáng cứ nghe gà gáy là ông thức dậy luyện võ, trở thành người văn võ song toàn. Sau làm đến chức Trấn Tây Tướng Quân. Nên thành ngữ "Văn Kê Khởi Vũ" sử dụng cho hình con gà thì không còn gì thích hợp hơn.


                  

       Có nhiều con rất khó tìm câu chữ cho thích hợp, như con Chuột, con Rắn... thì trên mặt gối chỉ thêu thêm 2 chữ "Good-night" hoặc 晚安 (Vãn An nghĩa như Good-night) mà thôi.

       Một hôm, tôi đang tạo mẫu cho tuổi Tuất, vẽ xong hình con Chó nằm dưới khóm hoa ngẩn đầu lên nhìn trăng, còn đang băn khoăn chưa biết phải hạ chữ gì, thì thời may có ông Cậu đến chơi. Ông Cậu nầy cũng là Cậu Chủ của Ba tôi ngày xưa, nên giỏi cả cầm kỳ thi họa, ông gợi ý và nhắc cho tôi về điển tích giữa Tô Đông Pha và Tể Tướng Vương An Thạch, rồi sẵn cây viết Nguyên Tử ông khoanh luôn cho tôi 5 chữ : HOÀNG CẨU NGỌA HOA ÂM 黄狗卧花陰 để hoàn tất mẫu gối thêu "Tuổi Tuất là con chó cò, nằm khoanh trong lò lổ mũi lọ lem !".


       Về Điển Tích giữa Tô Đông Pha và Vương An Thạch như sau...

       Vương  An Thạch 王安石 là Tể Tướng đương triều thời Bắc Tống, chẳng những giỏi văn thơ mà còn giỏi về chính trị nữa (Vương An Thạch Tân Pháp, là cải cách chính trị nổi tiếng của ông lúc bấy giờ, ở đây, ta chỉ nói về văn chương). Tô Đông Pha là một quan Hàn Lâm, rất giỏi văn thơ (Trong Đường Tống Bát Đại Gia, ngoài Vương An Thạch ra, thì cha con Tô Đông Pha chiếm hết 3 ghế rồi) và có lẽ vì thế mà ông cũng hơi hợm mình, nên mới cả gan sửa thơ của Tể Tướng, vì ông cho Vương An Thạch đã nhầm lẫn, khi viết 2 câu thơ  sau :


            Minh nguyệt đương đầu KHIẾU,  明月當頭叫,

            Hoàng cẩu ngọa hoa TÂM .         黄狗卧花心.

Có nghĩa :

          Trăng sáng Kêu ngay ở trên đầu, và Con chó vàng Nằm giữa lòng hoa.


       Ông cho là Tể Tướng đã lẫm cẫm nên nhầm, mới sửa lại là :


           Minh nguyệt đương đầu CHIẾU,   明月當頭照,

           Hoàng cẩu ngọa hoa ÂM.            黄狗卧花陰.

Có nghĩa :

         Trăng sáng Soi ngay trên đĩnh đầu, và Con chó vàng Nằm dưới bóng hoa.


           

       Vương giận, mới đày ông xuống miền Mân Nam (Vùng Phúc Kiến, Quảng Đông ngày nay). Một hôm, Tô Đông Pha đi dạo trong làng để thăm hỏi dân tình thì thấy một con chim lạ rất đẹp, mới hỏi thăm dân làng đó là con chim gì ? Dân làng đáp rằng : Đó là con chim Minh Nguyệt !. Tô nghe nói giật mình. Dân lại nói tiếp là, loài chim nầy chuyên tìm ăn loại sâu bọ màu vàng nằm giữa lòng hoa. Tô hỏi là loại sâu gì ?, thì dân bèn tìm ngắt một đóa hoa thật đẹp, nhưng ở giữa nhụy hoa có một con sâu màu vàng nằm cuốn tròn, mõm dài và mình đầy lông trông như một con chó con bé xíu, dân bảo con sâu đó tên là Hoàng Cẩu !. Tô bèn thở dài và chép miệng : "Thật đáng kiếp !". Ông trách cho sự dốt nát và hợm hĩnh của mình. Từ đó, mới chịu phục Tể Tướng là giỏi....


      Thì ra hai câu thơ của Tể Tướng là để nói về 2 loài vật nầy :

            Con chim Minh Nguyệt đang hót ở trên đầu, và...

            Con sâu Hoàng Cẩu nằm rút mình giữa nhụy hoa.

Trở lại với...

      Má Má tôi, bà có đôi mắt rất tinh tường và đôi tay khéo léo, không chút run rẫy khi cầm kim thêu, mặc dù đã trên 60 tuổi rồi. "Bà xã" và các cô em gái của tôi đều là "học trò" về thêu thùa của bà. Nhớ có lần, "bà xã tôi" thêu cái mỏ chim hơi to, các em đùa là "Cái mỏ chim bị xỉ mủ"; Lại có lần, một đứa em gái tôi thêu cái hàng rào màu đỏ và màu hường. Mấy đứa khác xúm nhau cười nhạo, thì cô em lại nói ngang rằng : "Hàng rào thì người ta muốn sơn màu nào thì sơn chớ, cười cái gì !". Mãi cho đến hơn 70 tuổi Má Má tôi mới thôi không còn thêu nữa. 

      Trong cuộc đời thêu thùa của bà, ngoài việc thêu các mặt gối cho người nhà nằm, bà còn thêu tặng cho các bà con em cháu khác... Nhớ một lần, cô Ba của tôi sanh em bé nhằm năm Tuất, bà bèn thêu cái mặt gối có con chó và câu "Hoàng Cẩu ngọa hoa âm" để tặng. Mấy hôm sau, Bà Nội tôi ghé nhà nhắc nhở Má Má tôi, sao tặng cái mặt gối "KỲ QUÁ VẬY !". Má tôi mới chợt nhớ ra rằng, dượng Ba của tôi là Thầy Thuốc Bắc họ HUỲNH (Hoàng) 姓黄. Câu "Hoàng Cẩu ngọa hoa âm" khác nào gọi con của cô dượng Ba là "Con Chó Vàng nằm dưới bóng hoa"!. Vỡ lẽ ra thì việc đã rồi, nên đành phải nín thinh luôn, may mà cô dượng Ba cũng không có để ý mà bắt lỗi gì hết, thiệt là hết hồn ! Nên... Nhiều khi không phải mình cố ý, hảo ý nữa là đằng khác, nhưng cũng làm ra những chuyện dễ "Giựt Mình"!...


      Suốt một cuộc đời vất vả với chồng con, Má Má tôi vẫn kiên trì "Tướng phu giáo tử 相夫教子 : Giúp đỡ chồng và nuôi dạy con cái. Vừa làm dâu, vừa làm vợ, vừa làm mẹ trong gia đình bên chồng, lại phải vừa làm chị quan tâm giúp đỡ cho các em còn nhỏ dại khi bà Ngoại mất còn ông Ngoại thì đi về Tàu lúc các dì và cậu hãy còn chưa tới tuổi dậy thì...

      Những tưởng Má Má sẽ đi trước "Tùa Hia" là Ba tôi, nào ngờ bà lại sống thọ hơn những 13 năm (2013-2026). Giờ thì "Ông Bà" đã gặp gỡ và đoàn tụ nhau rồi. Chúc cho Pá Pá Má Má sẽ luôn luôn hạnh phúc bên nhau trong cõi vĩnh hằng !


2010          2018         2021           2024                2025               2026 


      Nay nhân ngày LỄ MẸ, lại nhằm lúc MÁ MÁ mới vừa nhắm mắt ra đi, con xin chân thành ghi lại mấy hàng vội vả nầy. Như một nén hương lòng nguyện cho hương hồn của Má Má sẽ mãi mãi được thanh thản nơi miền cực lạc.


      Thay mặt cho bà xã và các em, các con, các cháu... 


      Con trai đầu lòng của Má Má 

       杜紹德

   ĐỖ CHIÊU ĐỨC


         MÁ MÁ


Má Má là mẹ tuyệt vời,

"Tiểu thơ Ba Láng" thuở đời còn xinh.

Theo chồng vất vả linh đinh.

Cái Chanh buôn bán một mình sớm hôm.

Cái Răng tần tảo nuôi con,

Trở vế Ba Láng gót son rạng ngời.

Nội ngoại đồng loạt đổi đời,

Trưởng thành con cháu khắp nơi đạt thành.

Má Má nét mặt hiền lành,

Thọ niên chín tám mới đành ra đi.

Bao la lòng mẹ nói gì...

Chúng con chỉ biết khắc ghi trong lòng.

Má là biển rộng mênh mông !...


                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC 

                               Kính tưởng nhớ nhân ngày

                                        LỄ MẸ 2026


Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

XIN ĐỜI ĐÔI PHÚT BÌNH YÊN - THƠ THY LỆ TRANG

         

       

              


     XIN ĐỜI ĐÔI PHÚT BÌNH YÊN 

     Họa lại bài GỬI LẠI CHO ĐỜI của anh ĐỔ CÔNG LUẬN


Đêm mơ nhặt ánh nắng tàn

Suối ưu tư chảy miên man vào hồn

Tuổi nào bóng ngã hoàng hôn ?

Tuổi nào khao khát vẫn còn trong ta?

Làm sao dứt bỏ phiền hà ?

Làm sao thoát cảnh bôn ba kiếp người ?

Sáu mươi năm lặng lờ trôi

Hỏi ta còn nhớ bao lời kệ kinh?

Đêm mơ qua cổng sân đình

Vầng trăng xưa vẫn lung linh ảo huyền

Xin đời đôi phút bình yên 

Tham,sân,si bỏ lại miền phù hoa

Gối tay bên cội thông già

Để nghe hương cỏ vô ưu ngập hồn



               THY LỆ TRANG 

            MASSACHUSETTS. 


Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM,VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN - THƠ ĐỖ ANH TUYẾN


 Kết quả hình ảnh cho ảnh xa cách


LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM

.

Tháng Năm rồi mà trời trở gió ngang

Chút rét mồ côi đậu trên nhành lá biếc

Anh đứng đợi em, lòng riêng thầm tiếc

Nắng đâu rồi? Để lạnh buốt bàn tay.

.

Cứ ngỡ mùa này phượng đã đỏ hây hây

Sen hồ kia đã bắt đầu xòe cánh mỏng

Ai biết được cái hanh hao se bóng

Lại tìm về giữa mùa hạ chói chang.

.

Áo mỏng chờ nhau, gió tạt ngỡ ngàng

Cái rét ngọt cứ len vào nấc cửa

Em có đến hay em còn lần lựa

Sợ ngoài đường sương muối đọng vai thon.

.

Anh vùi tay sâu trong túi áo sờn

Nghe hơi thở hóa thành làn khói nhẹ

Tháng Năm lạ kỳ, dịu dàng và khe khẽ

Dỗ dành anh bằng một chút heo may.

.

Dẫu có lạnh thêm, anh vẫn đứng đây

Gom hết gió mùa đông vừa lạc tới 

Để lúc em sang giữa dòng người mải miết

Ủ ấm bàn tay, bù lại những hao gầy...


.

VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN

.

Nắng đã chín trên đầu vạt cỏ

Gió bắt đầu ve vuốt những kẽ tay

Anh vẫn đứng nơi ngõ gầy năm cũ

Chờ một người... chẳng biết có về đây

.

Tháng Tư giấu mình vào trang vở cũ

Bằng lăng phai tím cả những âm thầm

Phố vẫn thế, người ngược xuôi mải miết

Chỉ riêng anh ngồi đếm thời gian.

.

Bến sông vắng, mình anh và ký ức

Sóng vỗ về hay lòng dạ xôn xao

Thoảng trong gió chút hương thầm xưa cũ

Cứ ngỡ bàn tay em vừa khẽ chạm vào


*

ĐỖ ANH TUYẾN


Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

BÀI TRĂM NĂM - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

Trần Yên Hòa | Sáng Tạo


BÀI TRĂM NĂM

  

Không biết bao lâu ta chưa gặp lại

một vùng quê có một dòng sông

dòng sông tuổi thơ của ngày nhỏ dại

nâng niu đời ta như dải mây hồng

 

Có lẽ rất lâu - trong giấc mơ nào

ta trở về, miền thơ ấu hồn nhiên

buổi chiều đồng quê, có loài chim chiện

bay tít trên cao và hót, thật hiền

 

Có lẽ rất lâu hình như sớm lắm

ta đến trường cùng gió heo may

ôm tập vở nhàu trông không rõ chữ

thầy giáo gõ đầu, cô giáo khẻ tay

  

Có lẽ rất xưa - ngày ta mới lớn

ta đi cùng em, ta chạy cùng em

ta làm xe đua, ta làm ngựa cỡi

mộng mơ đầy tràn trang vở hoa niên

 

Có lẽ rất xưa - ngày em vào xuân

đôi má em hồng như trái bồ quân

đôi mắt em đen như nhung, ướt rượt

đốt cháy hồn anh, cùng nắng sân trường

 

Rồi thế rồi thôi - ta lạc nhau mất

lạc nhau đành đoạn suốt nửa đời

lạc nhau trong giấc chiêm bao cũ

biển loạn đời ta, thân nổi trôi

 

Thời gian như chiếc thoi khung cửi

qua lại hoài bao cuộc biển dâu

ta ôm mộng tưởng đi trăm ngã

nghiêng, ngửa, say, quên, túy lúy sầu

 

Đa đoan nửa đời sau gặp lại

nhìn em lại thấy bóng quê nhà

như cơn mưa đổ ngoài sân lạnh

đốt đuốc mà hơ những ngón tay

 

Đành đoạn nửa đời không thấy mặt

áo hồng em vẫn tựa màu xưa

màu xưa có nắng và mây nữa

em mang về theo lá thu mưa

 

Ơi nửa đời làm ta đau điếng

mất, được, làm sao biết hở em

anh vẫn còn trơ con tim trắng

và dòng máu đỏ chảy xuôi im

 

Ơi nửa đời làm ta đau nhói

đánh tráo nhau trong cuộc tình sầu

nửa đời trót đã nhàu thân thể

ta cam đành làm kẻ tình thua

 

Có lẽ, nửa đời, ta mới gặp

tuổi ấu thơ trong giấc mơ già

có lẽ, nửa đời, ta đánh mất

nơi em, miền thơ dại cùng ta

 

Hạnh ngộ mùa xuân cùng em bất tận

hoa hồng nhung là máu tim người

hạnh ngộ mùa xuân với trăng tình tự

hoa hồng còn thơm ngát người xưa

  

Nửa đời ta như mưa phơ phất

bỗng nhặt được lòng nhân ái từ tâm

của em, đánh rơi vào tình thứ nhất

để ta ôm hoài, đi giữa nhân gian

 


TRẦN YÊN  HOÀ


Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

NHẠC CỎ - TRẦN HỮU NGƯ


 Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'LAM PHƯƠNG COUA Co UA'Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'hồng'

NHẠC… CỎ
Tìm đâu xa… Cỏ cũng viết được bài hát!
-Cỏ.
Nhà nông đã từng khổ vì nhổ cỏ ruộng.
Tôi đã từng khổ vì dãy cỏ ở rẫy. Cỏ sống rất dai, dãy chỗ này nó mọc chỗ khác.
Người ta nói “sống dai như đỉa”, nhưng theo tôi cỏ cũng sống dai, sống dai như cỏ!
Nếu con người mà ăn cỏ để sống, thì thành phố sẽ không còn ai ở. Và thế giới này sẽ không còn người chết đói?
Có bài thơ nào viết về cỏ không? Nhưng truyện thì có “Ngọn cỏ gió đùa” của Hồ Biểu Chánh.
Trong âm nhạc cỏ lại được nói đến như ca khúc “Cỏ hồng” của Phạm Duy và “Cỏ úa” của Lam Phương.
Đời cỏ sinh ra cho đến khi cỏ hồng rồi cỏ úa.
Hai tư tưởng lớn đã gặp nhau: Nhưng Phạm Duy thì hồng, còn Lam Phương thì úa!
-CỎ HỒNG của PHẠM DUY (viết ở Dalat năm 1970):
“… Rước em lên đồi cỏ hoang ngập lối
Rước em lên đồi hẹn với bình minh
Đôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép
Hãy vứt chiếc dép bước đi ôm cỏ mềm
Đồi êm êm cỏ im im ngủ yên yên mộng rất hiền
Giọt sương đêm còn trinh nguyên
Nằm mê man chờ nắng sớm lên
Rước em lên đồi tiên
Đồi nghiêng nghiêng cỏ lóng lánh
Rồi rung rinh bừng thoát giấc lành
Trời mênh mông đồi thênh thang
Cỏ chênh vênh chờ đôi nhân tình
Rước em lên đồi xanh
Rước em lên đồi trinh…
Em ơi đây con đồi dài như bao nhiêu mộng đời
Nghiêng nghiêng nghe mặt trời yêu thương
Núi em trên đồi cỏ thơm mùi sữa
Níu em yêu ngồi trên bãi cỏ non
Giương đôi tay ôm thân tròn ơn mưa móc
Hãy vuốt mái tóc rũ trên vai anh mòn…
Em ngoan như tình nồng
Em bao la mịt mùng
Em thơm như cỏ hồng em ơi!...”
-CỎ ÚA của LAM PHƯƠNG (viết sau 1975 ở hải ngoại khi cuộc sống rơi vào cảnh cơ cực, cô đơn):
“… Còn nhớ tên nhau xin gọi trong giấc mộng
Còn chút thương yêu xin đưa vào dư âm
Có phải còn yêu vì đôi lần thấm nhớ?
Mình đã thật quên cớ sao lòng vẫn chờ?
Từ lúc anh đi trong rượu cay men nồng
Màu trắng khăn tang quanh căn phòng cô đơn
Bão tố triền miên ngày em về nhà đó
Buồn hắt buồn hiu ngõ đêm sầu cô đơn
Một chiều trên đồi anh làm thơ
Cỏ biếc tương tư vàng úa
Mộng dệt theo đàn bên người mơ
Mới biết mình mơ bao giờ
Hỡi cố nhân ơi chuyện thần tiên xa rồi
Tình đã như vôi mong chi còn chung đôi
Cứ cúi mặt đi để nghe đời lầm lỡ
Đừng níu thời gian cho thêm sầu vương mang…”
Cỏ: Hai câu chuyện trình trái ngược nhau:
1-Cỏ Hồng của Phạm Duy là hạnh phúc của tác giả trên một ngọn đồi đầy cỏ hồng lãng mạn.
2-Cỏ Úa của Lam Phương là sự bất hạnh của chính tác giả trong tình yêu dẫn đến cỏ bạt lòng héo úa!
Cỏ, dù hồng hay úa, cũng làm nên hai tuyệt phẩm của hai nhạc sĩ đã gắn trọn đời cho âm nhạc.
-“Chỉ có chết mới chia lìa âm nhạc”.



TRẦN HỮU NGƯ
(Saigon-Gidinh, 5.9.2024)

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

ĐỌC TẬP THƠ 'NÍN THỞ'' CỦA NGUYỄN HỮU THUỴ - PHAN NI TẤN

 

Có thể là hình minh họa về ‎văn bản cho biết '‎כולן こちい nthở thở nin ty TiL 2 Hữu m Nguyễn NHÀXUÁTBAĐÀNĂNG NHÀ XUATE BÀ ĐÀ ÀNANG‎'‎

Nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy ở bên nhà có nhờ cô Biên Huỳnh Phạm gởi cho tôi một tập thơ tựa đề Nín Thở, tôi đọc:

NÍN THỞ

Nín Thở, tựa đề tập thơ của Nguyễn Hữu Thụy gồm 56 bài, 142 trang. Lẽ ra còn nhiều bài hơn, như nhà thơ cho biết số phận tập thơ Nín Thở đã trải qua rất nhiều nhà xuất bản vẫn không cấp cho giấy phép – cuối cùng phải bỏ đi một số bài mới qua truông kiểm duyệt. Nguyễn Hữu Thụy tâm sự: "Ở đây những người làm thơ ngoài luồng, đứng độc lập như tôi rất hiếm hoi và cô đơn lắm". Mà thật, thơ Nín Thở mới vào đề đã mang lời lẽ ngông nghênh, trái nết, tuy "không giống ai" nhưng được cái là khí phách, nhất là giữ được chất thơ hào sảng, ngang tàng mà "đám ruồi bu" khó chấp nhận:
Không giống ai - ta chỉ giống chính mình
Thằng trái tính khó ưa mà rất thiệt
Trái thời cuộc lâu ngày thành trái nết
Ít người thương mà đứa ghét lại nhiều
Sách đắc nhân tâm chỉ dạy đủ điều
Ai làm được đã danh nhân hiền triết
Lại nghe nói "Cái tôi là đáng ghét"
Nghiệm lại chính mình bù trất cả hai
Thấy đám ruồi bu mà ngứa lỗ tai
Nghe thở hơi đồng xốn con mắt đỏ
Trong suy nghĩ thắp treo mình đèn bão
Tim – bấc sắp tàn vừa đủ tự soi
Cứ sống chính danh đủ biết lỗi thời
Như phần mềm nằm sâu trong bộ não
Khi được lập trình dưới tay tạo hóa
Ngay từ đầu lộn cái bị điên điên
Cõi tạm dung đời có một cõi riêng
Ai thương ghét khác nhau thì đã rõ
Xin cúi xuống cảm ơn lời hỉ… nộ
Trong xa vời để ngó mảnh vườn rêu.
(Không Giống Ai, tr. 5, 6)
Thuở ấy, cái thời trai trẻ vốn hoang phí ấy, nhà thơ Nín Thở ngất ngưởng phán đời đã buồn lại trôi như nước thì giữ làm gì, chỉ có rượu trên tay uống quên đời mới khai thông trí hóa, giải phá cơn sầu, lùa sầu vào trong máu:
Ta đã phí một khoảng đời trai trẻ
Rượu thâu đêm suốt sáng với trăng tà
Đời đã buồn héo úa cả thịt da
Thì lắm lúc tiếc gì cho cuộc sống
Ngày đã qua như một trang lịch mỏng
Thì tiếc gì khi ngọn lửa đang lên
Đời đã trôi như dòng nước không tên
Thì giữ lại làm chi thêm phiền muộn
Đời chỉ có một đôi lần sung sướng
Trăm ngàn lần quờ quạng trước đau thương
Nên uống đi cho lấp hết nỗi buồn…
(Rượu Trên Tay, tr.7, 😎
Có ai từng thấy… "màu thơ" chưa? Mà màu thơ là màu gì? Trời xanh, mây trắng, bông lê, bông lựu, bốn mùa xuân hạ thu đông… là những cảnh vật ở thể nổi mới có màu sắc tự nhiên. Vẽ ra một hình thể hay khắc nên một hình tượng, ngay cả viết thành chữ cái, nét chữ đậm nếu có màu vàng hay thau thì còn nhận thấy, đằng này thơ vốn trừu tượng thì thơ làm sao có màu, cho dù "những câu thơ có tiềm tàng nội lực" thì thơ cũng khó mà có… màu thơ.
Nói là nói vậy chớ màu thơ của Nguyễn Hữu Thụy có khác gì màu thơ rực rỡ của Xuân Diệu đâu: "Thu biếc tỏ, hè nâu thơm vị quế. Xuân ngát hồng, đông xám cũng đầy mơ". Cũng ở ngoài Bắc, màu thơ của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ cũng thật đặc sắc: "Cây bàng lên búp nhỏ. Xanh như là thương nhau". Cho nên "màu thơ" của Nguyễn Hữu Thụy là ngôn ngữ thơ gợi lên cái đẹp, lạ và hay, được tô điểm bằng một tấm lòng dạt dào rung cảm tứ thơ:
Vàng sẽ là vàng
Thau sẽ là thau
Quyền tối thượng chỉ dành cho độc giả
Và thời gian sẽ dũa mài tất cả
Những râu ria sơn phết màu thơ…
(Thơ Mai Sau, tr. 13)
Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn là bản tình ca bất hủ, nội dung gởi gắm một nỗi buồn ray rức khôn nguôi. Ca khúc này ra đời từ năm 1960 đến nay vẫn thong dong hát mãi trên đầu môi chót lưỡi con người, cho nên người trần gian dựa vào đó mà khéo ví von cái gì xưa đều thành… xưa rồi Diễm. Trong Nín Thở, bài thơ "Xưa Rồi Diễm" của Nguyễn Hữu Thụy cũng bày tỏ một loại ngôn ngữ mất mát, trăn trở, hư hao là trạng thái của một người thất tình. Toàn bài gồm 32 câu chung qui nếu chỉ dẫn chứng bốn câu cũng đủ gợi lên một nỗi bẽ bàng:
Yêu nhau chịu phận cùng oan nghiệt
Rồi ra không đủ sức gánh gồng
Lẳng lặng chia xa là chấm hết
Mỗi phận đời riêng mỗi nhánh sông … (tr.11)
Xưa nay thi sĩ vốn là nòi tình, là loài trời sinh để yêu cho dù có bị hất hủi thậm chí còn bị đánh đập, bị đạp xuống bùn nhơ, bị knock out đến bất tỉnh vẫn không chừa, khi tỉnh lại vẫn một mực… làm thơ:
Tạ lỗi hồng nhan – khi nào ta còn thấy
Mắt biếc đưa tình là tim đập xôn xao
Đã bao lần lãnh đủ cú knock out
Vẫn thích thú làm thơ khi tỉnh lại.
Nguyễn Hữu Thụy vốn sở trường về thơ bảy chữ, tám chữ và tự do, thỉnh thoảng mới chuyển qua thể thơ lục bát. Như ta đều biết lục bát là thể thơ truyền thống mười bốn chữ của dân tộc Việt Nam, xuất hiện từ cuối thế kỷ XV. Thuở cha ông ta, những người làm thơ vô danh nơi thôn dã dùng lục bát để thể hiện tâm ý mình: ngắn gọn không khuôn sáo, sinh động ở nét uyển chuyển, mềm ngại, ngân nga và tràn đấy thi tính.
Thơ lục bát của Nguyễn Hữu Thụy cũng có sự luyến láy, mềm mại, diễn tả tình cảm ngọt ngào, trầm lắng, thiết tha. Trong Nín Thở, nhan đề Hạt Muối mô tả mối tình keo sơn trong sáng gợi cho người đọc nhớ tới câu ca dao về muối và gừng gắn liền với sự thủy chung, son sắt, nghĩa tình sâu nặng "Muối ba năm muối đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa". Ta đọc ở đây vài câu lục bát mặn mòi, lấp lánh của Hạt Muối, là một thể thơ trữ tình thuần túy mang đậm nét thủy chung như nhất:
Muối thường nhắc nhở cho đời
Gừng cay muối mặn ướp lời yêu thương
So cùng nước biếc đại dương
Muối đây một nắng hai sương ướp tình
Giữ lòng hạt muối kết tinh
Mặn trên đầu lưỡi dặn mình chớ quên (tr.20).
Thơ mà ca ngợi quê hương đất nước, ngợi ca tình tự dân tộc bao giờ cũng đánh động lương tâm những ai vốn yêu nước thương nòi. Lịch sử Việt Nam, sau đại họa tháng 4/75, những bậc tri thức ưu thời mẫn thế, những văn nhân thi sĩ chân chính có ý thức đấu tranh đã mang vào thơ văn những ngôn từ, hình ảnh khá mới mẻ, dù băn khoăn trước thời thế vẫn không để mất giá trị nghệ thuật, điển hình là tác giả tập thơ Nín Thở. Nguyễn Hữu Thụy là một nhà thơ có tài trong cách sử dụng hình ảnh và nhạc điệu để gởi gắm đất nước khổ nạn vào dòng chảy của con sông quê, dòng sông mà tác giả ví như dòng máu tổ tiên:
Đất nước bao đời ở với dòng sông
Từ ngày khai thiên đến ngày lập quốc
Những dòng chảy mang đầy tiềm lực
Có linh hồn và hơi thở linh thiêng
Những dòng sông đã nối tiếp nhau
Căng no gió thuyền buồm xuôi ra biển
Đã bồi lỡ nổi chìm bao trận chiến
Giữ cho còn tên gọi một quê hương
Lời tỏ cùng sông thương nhớ dặm dài
Nứt nẻ những bàn chân cầu Trời khấn Phật
Thân cóng lạnh trôi dài trên mặt đất
Đến tận cùng khổ nạn vận sông quê.
(Tỏ Lời Cùng Những Dòng Sông. tr.27, 28)
Ta yêu nước dặm dài bao thế kỷ
Chở ca dao nhịp võng Mẹ ru hời
Nghe tiếng thoi đưa bóng hạc bỏ xa trời
Thơ yêu nước nồng nàn nuôi ta lớn
(Thơ – Với Thơ Đầu Năm. tr.33)
So với ba miền, thiết tưởng đất phương Nam tương đối là đất lành, dân tình rộng lượng thương người lỡ bước vốn là "tình Phương Nam như Mẹ kế đỡ đàn". Học sử ta đều biết Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là người mở đầu cho sự nghiệp mở đất phương Nam đời đời ai cũng một lòng tưởng nhớ công ơn đúng như lời thơ tha thiết của Nguyễn Hữu Thụy "ghi nợ đất phương này":
Ơn chúa Nguyễn Hoàng khi xưa mở đất
Đời chúng ta còn hưởng xái chút tình
Cuối đường cong chữ S đã tượng hình
Có khoảng trời xanh ngoi lên để thở…
(Phương Nam. tr.37)
Nghiên cứu về nguồn gốc và quê quán dòng tộc Nguyễn Hữu thì tộc này đã trải qua nhiều đời từ Ninh Bình đến Gia Miêu, Thượng Trung, Thanh Hóa… Riêng ở Nghệ An, vào thế kỷ XVI, tộc Nguyễn Hữu có bề dầy lịch sừ hơn 300 năm gồm 17 đời 6 chi hậu duệ sâu sắc nhất với truyền thống khoa bảng, nhân từ, trung hậu, môt tấm gương sáng ngời có công trong việc mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước.
Đó là lược sử nước Nam được ghi chép từ đời xa xưa. Đi tìm cái đẹp của nếp thời gian thăm thẳm đó, Nguyễn Hữu Thụy đã cung cấp cho ta một hình ảnh đặc biệt từ một bản chất sâu xa, đó là "Cây phổ hệ" là loại cây chỉ việc ghi chép lại lịch sử, nguồn gốc của một dòng họ hoặc gia đình có công trạng từ xưa đến nay. Tác giả cũng cho biết cây phổ hệ đời thứ mười hai của tộc Nguyễn Hữu tại vị Phúc Khương bị vỡ tổ vì thiên tai chiến tranh đành phải hướng tới một cuộc sống lưu dân trôi giạt vào Nam.
Dưới ngòi viết gốc Quảng Nam của Nguyễn Hữu Thụy, bài thơ tự sự "Nguyễn Hữu Phía Nam" gồm mười sáu đọan, mỗi đoạn bốn câu mô tả hoàn cảnh và tình cảm của tộc Nguyễn Hữu với biết bao cái ngổn ngang, ngóc ngách của cuộc đời vốn rối rắm khởi từ cái rất xưa đến cái hiện nay. Vẻ đẹp của những câu thơ có chứa chan chân tình mà cũng trớ trêu, ngang trái nhưng đọc lên không có gì là ồn ào, cường điệu, phá phách mà cái khí cốt của hồn thơ "phía Nam đi tới" lại đậm đà, chân chất và thi vị nhằm bày tỏ một thái độ đối với nhân sinh nhọc nhằn cho dù bộ tộc rất nhỏ bé nhưng "Chắc cũng tròn đều bọc trứng Âu Cơ". Xin trích đoạn bài thơ trên để kết thúc bài viết về tập Nín Thở này.
Thiên hạ tộc to họ lớn
Gặp được thời xưng bá xưng vương
Nguyễn Hữu đời ta tại vị Phúc Khương
Phúc chẳng thấy – Khương đâu chẳng thấy!
Từ Nghệ An khó nghèo biết mấy
Vào Quảng Nam theo Chúa Nguyễn Hoàng
Ba trăm năm dựng nghiệp nông tang
Cây phổ hệ sum suê cành gốc ngọn
Nguyễn Hữu phía Nam – phía Nam đi tới
Cây liếp cây xanh thay lá đổi màu
Nguyễn Hữu đời ta tại vi Phúc Khương
Phúc khởi sáng Khương nay khởi sáng
Trà rượu trống chiêng – tinh thần hào sảng
Ta đọc bài hành cúng buổi tế xuân thơm.


PHAN NI TẤN

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

HỒI SINH TÔI - THƠ TRẦN YÊN HOÀ


Amazon.com: Rớt Xuống Tuổi Thơ Tôi ...

 


HỒI SINH TÔI


Tôi trần thân, tôi đau đời quá đổi

Như cây cành bị gió xô nghiêng

Tôi cuốn trôi như giòng thác lũ

Chao trên đời chạm dòng điện viễn liên

 

Tôi chấp chới giữa giòng nước xoáy

Quay mòng trong đêm tối mịt mùng

Tôi qụy ngã bên bờ mương rẫy

Không còn phân chia sáng, tối. dững dưng.

 

Đời cô quạnh khi người bỏ đi

May có em hồi sinh ta thở

May có em cho ta nỗi nhớ

Giữa dòng cuồng lưu ta bám được bờ

 

Em thiên thần em trong ta diệu vợi

Vẫy nước cam lồ cứu thoát ta qua

Cửa sinh tử em vớt ta đứng dậy

Giữa nhân gian ta quay trở lại nhà

 

Hồi sinh ta có em đứng cạnh

Có em là hạnh phúc gần bên

Ta cúi xuống gục đầu trong tưởng vọng

Màu tình xanh cho giấc mộng thật gần

 

Hạnh phúc tôi, hạnh phúc em nhập một

Tôi xin qùy cảm tạ ơn trên

Ơn chót vót, (còn đời tôi dại dột)

Yêu một người mà tưởng cứ trăm năm

 

Hạnh phúc em, hạnh phúc tôi là một

Ta dắt díu nhau về miên viễn vô cùng

Anh trải cho em tấm chăn thật ấm

Vai tựa vào anh, luôn nhìn má em hồng…

 


TRẦN YÊN HOÀ

Nguồn : từ email của tác giả gửi