CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

SÀI GÒN NGỒI NHỚ : 'CHÍ MÈ PHỦ'' TRONG TIẾNG RAO ĐÊM - TỪ KẾ TƯỜNG


 


SÀI GÒN NGỒI NHỚ:
“CHÍ MÀ PHỦ” TRONG TIẾNG RAO ĐÊM
Sài Gòn lắm ngõ ngách, có những con ngõ, con hẻm được đặt tên và phần lớn là không tên. Nhưng dù ngõ ngách, hẻm hóc có tên hoặc không tên đều tượng trưng cho những khu xóm lao động nghèo nằm sâu cạnh những vùng thị tứ tấp nập của thành phố và ở đó ngày nắng cháy bỏng da hay những đêm mưa rét cóng của một thời “đèn Sài Gòn” ngọn lu ngọn tỏ” tiếng rao của những người bán hàng gánh, thúng bưng vẫn là mối hoài niệm khó quên đối với những ai là dân cố cựu của đất Sài Gòn.
Ngày ấy, khoảng năm 1963-1964 nhà tôi ở hẻm Nam Tiến đường Bến Vân Đồn Q4 (Hồi đó còn gọi là Khánh Hội) bị hỏa hoạn, trận hỏa hoạn kinh hồn từ 16 giờ đến 3 giờ sáng hôm sau mới được dập tắt đã thiêu rụi cả một khu vực rộng lớn gồm toàn dân lao động nghèo. Gia đình tôi cũng như những người dân khác trong khu hỏa hoạn phải tìm chỗ trọ mới. Tôi về ở trọ nhà một người bác, bà con xa ở hẻm Hàng Phân. Đây là con hẻm nhỏ nằm trên đường Bến Vân Đồn Q4 gần hãng thuốc lá Bastos dẫn sâu vào chợ Hãng Phân ăn luồn qua một khu vực khác cũng thuộc Q4. Tôi ở trên căn gác gỗ trần lợp tôn ẩm thấp và nóng hầm hập như lò bánh mì. Năm ấy tôi chuẩn bị thi Trung học Đệ nhất cấp, một kỳ thi rất quan trọng thời bấy giờ nhưng điều kiện học tập thiếu thốn do ở trọ, nhất là thiếu ánh sáng học bài. Mỗi tối tôi ngủ ngoài mái hiên gác trọ và học bài nhờ ngọn đèn đường vàng hoe từ trên cây cột điện trước cửa nhà chiếu xuống.
Nhà bác tôi rất đông người, căn gác nhỏ kẻ lớn, người nhỏ ngủ sấp lớp, trên gác lại có mấy khạp mắm lóc, mùi mắm trong đêm khuya bốc lên ngợp thở nên tôi ngủ ngoài mái hiên gác trọ được hít thở không khí trong lành, không có mùi mắm và được tự do ngồi ngắm sinh hoạt trong con hẻm sâu hun hút dần thưa vắng người lúc nửa đêm khiến tôi thích thú như được ở chốn…thiên đàng. Nhưng ở ngoài mái hiên có khó khăn trong việc đi lại, cửa trước dưới nhà thì đóng, muốn xuống đường dạo chơi tôi phải…leo cột đèn, khi lên cũng phải leo cột đèn để lên. Tuy nhiên như thế cũng là sự tự do, không phiền lụy đến người trong nhà.
Những buổi tối nằm trong mùng, hay ngồi dựa lan can gác học bài dưới ánh đèn bóng tròn, vàng hoe tôi thường chú ý đến những người bán hàng rong khi họ cất tiếng rao từ đầu hẻm. Chị bán chè bà ba có giọng rao lanh lãnh, trong vắt :” ai ăn chè bột khoai nước dừa đường cát h…ô…n”, chú “chệc” bán bánh tiêu, bánh bò đạp chiếc xe có cái lồng kiếng đựng bánh phía trước giọng lơ lớ: “ Ai bánh tiêu bánh bò ché q…u…ả…y lớ”. Không hiểu sao cuối câu rao lại có chữ lớ lên cao giọng khá ngô nghĩnh.
Rồi ông đấm bóp giác hơi đạp xe rè rè vào hẻm với tiếng rao rất đặc trưng không thành lời mà vang lên một âm điệu “xập xòe” của xâu nút khoén đong đưa, lắc lư. Nhưng ấn tượng với tôi hơn cả là người bán “chí mà phủ” tức chè mè đen, một loại chè đặc trưng của người “khách trú” theo tên gọi thời bấy giờ. Đó là người đàn bà Tàu tấp người, lưng hơi còng với thời gian, mặc bộ đồ sẫm màu đen, cũ, đầu đội nón rộng vành có cái chóp nhọn, chân mang dép cao su lẹp xẹp, gánh trên vai thùng chè tròn có nắp đậy phía dưới là cái lò than đỏ rực phía trước. Gánh phía sau là thùng nước rửa chén , đậy bằng một cái khai nhôm, trên có mấy cái chén và mấy cái muỗng. Người đàn bà Tàu bán “chí mà phủ” này mỗi lần gánh chè vào hẻm đều cất giọng rao rất đặc trưng: “ chí mà p…h…ụ” âm thanh nghe đục, ngắn, cất lên đột ngột mà chấm dứt cũng rất đột ngột khiến người nghe thấy thiếu thiếu và tức tức đâm ra tò mò và muốn…ăn chè mè đen của bà một lần cho biết.
Và tôi đã ăn thử một lần cho biết rồi…ghiền luôn. Phải nói “chế mà phủ” của người đàn bà Tàu này có bí mật “gia truyền”, nó có hương vị đặc biệt, béo, bùi, thơm không ngọt gắt, ngon…không tả được và không giống như chè mè đen người khác bán mà tôi cũng thường ăn, kể cả ông già người Tàu bán bên hông phía nhà chú Hỏa đường Nguyễn Thái Bình Q1 (bây giờ). Tôi đã trở thành mối ruột cùa người đàn bà Tàu bán “chí mà phủ” từ những đêm trèo cột đèn xuống khi bà cố ý ngồi lại dưới chân cột đèn, đặt gánh chè xuống và rao: “chí mà p…h…ụ”. Ngày nắng gánh chè của bà vơi gần đáy, nhưng gnày mưa thường ế nên bà mời tôi ăn ủng hộ cũng với giọng khàn khàn, đục đục, lơ lớ:” hầy, mưa gió ế quá lị ăn ủng hộ ngộ một hai chén li”. Ăn thì được, nhưng học trò nghèo ăn chịu hơn là trả tiền “tươi”. Và mãi tới tận bây giờ tôi nhớ là vẫn còn…nợ bà người Tàu bán “chí mà phủ” mấy chén chè chưa trả.
Những tiếng rao dài ngõ hẻm, âm vang tiếng rao hàng gánh, thúng bưng rất đặc trưng của những người bán quà rong Sài Gòn thủa ấy vẫn còn đi theo mãi với tôi cho tới tận bây giờ với nỗi nhớ hẻm, nhớ Sài Gòn thời “đèn ngọn xanh ngọn đỏ” khôn nguôi.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



 Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và đàn ghi ta


LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH
(Gởi người dệt nhạc, ca ngâm)

Xin cúi đầu cảm tạ những bàn tay
Âm thầm dệt nốt trầm – cung thăng
Từ nhịp thở đời thường, từ giọt lệ mong manh
Thành khúc nhạc ru người qua dâu bể.
Cảm ơn những nhạc sĩ
Lấy cô đơn làm khuôn nhạc
Lấy nhân gian làm giai điệu
Để nỗi buồn vui cũng biết hát,biết ca.
Cảm ơn những ca sĩ
Luôn gửi trọn tâm tư vào giọng hát
Cho một chữ yêu ngân lên ấm áp
Cho một chữ đau không còn lẻ loi.
Tiếng hát bay qua những phận người
Chạm vào tim kẻ vui – người khổ
Làm đời bớt cằn khô, bớt hoang vắng
Thêm thi vị giữa tháng ngày mưu sinh.
Nếu nhân gian còn chút dịu dàng
Ấy là nhờ những nốt nhạc, những lời ca
Xin gửi một lời cảm ơn rất khẽ
Mà rất sâu – đến những người làm cho đời biết nghe.
(Chặng đời còn ở nhân gian)


HUỲNH TÂM HOÀI


MÙA ĐÔNG RIÊNG ANH - THƠ ĐỖ ANH TUYẾN



Sương mù



MÙA ĐÔNG RIÊNG ANH

 

Gió bấc về lùa qua kẽ tay

Phố cũ mình anh bước hao gầy

Em đi bên ấy môi cười ấm

Chẳng biết nơi này gió bủa vây.

 

Anh gom chút nắng cuối chiều rơi

Sưởi ấm tình câm chẳng thốt lời

Sợ nói ra rồi như khói thuốc

Tan vào sương giá biệt mù khơi.

 

Bàn tay giá buốt giấu vào túi

Anh đứng một mình dưới đêm khuya

Người ta sưởi ấm bằng chăn đệm

Anh sưởi tim mình bằng nhớ em.

*


ĐỖ ANH TUYẾN


Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

TỐNG CỰU NGHINH TÂN (2) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 


Góc Cổ Thi :  
                                  TỐNG CỰU NGHINH TÂN  (2)
 

      Nhắc đến "Tống Cựu Nghinh Tân 送舊迎新" trong đêm Giao thừa, thì không thể không nhắc đến câu ngạn ngữ cổ xưa đã truyền tụng trong dân gian là :

                  一夜連雙歲,   Nhất dạ liên song tuế,
                  五更分二年.   Ngũ canh phân nhị niên.
        Có nghĩa :
                  Một đêm nối liền hai tuổi,
                  Năm canh chia đều hai năm.
        Qủa là :
                    Một đêm hai tuổi liền nhau,
               Năm canh sau trước chia đều hai năm.

      Không phải chỉ trong dân gian mà cả trong cung của vua Đường; nhà vua tài hoa văn võ song toàn Đường Thái Tôn Lý Thế Dân 唐太宗李世民 cũng có bài thơ "Thủ Tuế" trong đó có các câu rất hay như sau :

                 寒辭去冬雪,   Hàn từ khứ đông tuyết,
                 暖帶入春風。   Noãn đới nhập xuân phong.
        Có nghĩa :
             - Cái lạnh giả từ ra đi mang theo cả tuyết của mùa đông, và...
             - Cái ấm về lại mang cả gió xuân ấm áp theo về.

                     Lạnh đi mang cả tuyết đông,
                 Ấm về mang cả xuân phong theo về !
       Và...

               
                 共歡新故歲,   Cộng hoan tân cố tuế,
                 迎送一宵中。   Nghinh tống nhất tiêu trung !
       Có nghĩa :
            - Cùng vui vẻ với tuổi cũ và tuổi mới, vì...
            - Đón năm mới và đưa năm cũ chỉ trong một đêm mà thôi !

                              Cùng vui tuổi mới cũ vong,
                     Nghinh tân tống cựu trong vòng một đêm !     

       Rõ nét nhất, cụ thể nhất và cũng thi vị nhất là bài thơ Ngũ ngôn tuyệt cú《Trừ Dạ 除夜》là "Đêm Trừ tịch" của Tào Tung 曹鬆 đời Đường :  

                殘臘即又盡,     Tàn lạp tức hựu tận,
                東風應漸聞.     Đông phong ưng tiệm văn.
                一宵猶幾許,     Nhất tiêu do kỷ hử,
                兩歲欲平分.     Lưỡng tuế dục bình phân ?
       Có nghĩa :
            - Tháng Chạp sẽ tàn lụi ngay trước mắt đây thôi (Tức hựu tận).
            - Đã dần dần nghe có tiếng gió xuân (Đông phong) thổi đến rồi.
            - Một đêm là thời gian còn có bao lâu (kỷ hử) đâu, mà...
            - Hai tuổi, hai năm lại muốn chia đều (bình phân) với nhau ?!...

                
       Qủa là :
                   Tháng Chạp đã sắp tàn rồi,
                   Đã nghe tiếng gió xuân bồi hồi sang.
                   Một đêm ngắn chẳng đầy gang,
                   Chia đều hai tuổi chia làm sao đây ?!

       "Tống cựu nghinh tân" cũng có nhiều điều rất thi vị và lý thú, nên thơ  đến... ngẩn ngơ !

       Trong đêm trừ tịch, khi nghe tiếng pháo tre đì đà đì đẹt nổ để đón giao thừa, thì tất cả mọi người trong gia đình đều cùng nhau nâng ly rượu "Đồ Tô" trừ tà, trừ dịch bệnh lên để cùng nhau "Chúc Mừng Năm Mới". Tiêu biểu nhất là bài thơ "Nguyên Nhật 元日" là "Ngày đầu một năm" của một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" là Tể Tướng Vương An Thạch 王安石 đời Tống như sau :

               爆竹聲中一歲除,     Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ,
               春風送暖入屠蘇.     Xuân phong tống noãn nhập Đồ tô.
               千門萬戶曈曈日,     Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật,
               總把新桃換舊符.     Tổng bả tân đào hoán cựu phù.


                     Có nghĩa :
           - Trong tiếng pháo tre nổ thì một tuổi (một năm) đã được trừ đi,
           - Gió xuân đưa làn hơi ấm áp vào trong ly rượu Đồ tô.
           - Muôn nhà ngàn hộ đang đón ánh nắng ban mai theo mặt trời mọc...
           - Đều cùng "Gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".
      * Đào Phù 桃符 : là "Lá bùa được viết để dán lên cành đào". Ta gọi là "Lá bùa nêu". Thường được viết trên giấy đỏ và đều là những lời viết tốt đẹp. Sau phát triển thành những câu "Liễn Tết" mà ta gọi là "Câu Đối Đỏ". Nên "Tổng bả tân đào hoán cựu phù 總把新桃換舊符 là "Đều cùng gỡ tờ liễn cũ xuống để thay tờ liễn mới lên".

                   Một tuổi qua đi trong tiếng pháo,
                   Gió xuân đưa ấm rượu Đồ tô.
                   Muôn nhà chờ nắng ngày xuân mới,
                   Thay liễn đều cùng đón ước mơ !

       Trên đây là những gia đình được đoàn tụ, sum họp trong đêm Ba mươi Tết để cùng đón giao thừa, cùng vui hưởng cái thiên luân của một gia đình đoàn viên hạnh phúc; Còn những người tha phương cầu thực, gởi thân nơi đất khách, phiêu bạc nơi xứ lạ quê người thì đón Giao thừa trong đêm Trừ tịch như thế nào đây ? Ta hãy cùng đọc bài thơ 《TRỪ DẠ 除夜》của thi nhân TỪ BÍ 徐賁 đời Nguyên như sau đây :


                 
               客舍無人更寂寥,  Khách xá vô nhân cánh tịch liêu,
               聲傳爆竹隔林遙。  Thanh truyền bộc trúc cách lâm diêu.
               幾多時節何堪恨,  Kỷ đa thời tiết hà kham hận,
               送卻流年是此宵。  Tống khước lưu niên thị thử tiêu !
      Có nghĩa :
           - Nhà khách không người nên càng (cánh) cảm thấy cô đơn vắng vẻ,
           - Tiếng pháo tre văng vẳng đưa lại từ mé rừng xa xa...
           - Biết bao lễ tiết đi qua làm sao nói cho hết được cái hận ở trong lòng ?
           - Lại phải đưa quách đi cái lễ tiết cuối cùng của năm nay trong đêm nay !

       Đưa tiễn năm cũ qua đi một cách dỗi hờn trong đêm trừ tịch. Quả là một cách đưa tiễn hờn mát của một kẻ xa nhà khi năm tàn Tết đến mà chẳng được cùng gia đình đoàn tụ .


                        
                    Nhà khách không người càng vắng lặng,
                    Pháo tre đì đẹt cách rừng xa...
                    Bao nhiêu lễ Tết còn chi hận...
                    Đưa quách năm tàn  đêm đã qua !

      Sau đây là tâm sự buồn thương day dứt của Thi Bá Bạch Cư Dị 詩霸 白居易 phải đón giao thừa nơi đất khách khi công chưa thành danh chưa toại qua bài thơ  KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ 客中守歲 (Đón Giao thừa nơi đất khách) của ông :   

              守歲樽無酒,   Thủ tuế tôn vô tửu,
              思鄉淚滿巾。   Tư hương lệ mãn cân.
              始知爲客苦,   Thủy tri vi khách khổ,
              不及在家貧。   Bất cập tại gia bần.
              畏老偏驚節,   Úy lão thiên kinh tiết,
              防愁預惡春。   Phòng sầu dự ố xuân.
              故園今夜裏,   Cố viên kim dạ lý,
              應念未歸人。   Ưng niệm vị quy nhân.
                        白居易                    Bạch Cư Dị


            
* CHÚ THÍCH :
    - Khách Trung 客中 : là Trong lòng đất khách, có nghĩa là Đang ở nơi đất khách.
    - Thủy Tri 始知 : Mới biết được rằng ...
    - Bất Cập 不及 : Không bằng được ....
    - Úy 畏 : là Sợ, mà Kinh 驚 : cũng là Sợ, ta có từ kép Kinh Úy 驚畏 là Sợ Hãi.
    - Ố 惡 : là Ghét. ta có từ KHẢ Ố 可惡 : là Đáng ghét.
    - Cố Viên 故園 : là Vườn Xưa, từ dùng để chỉ Quê Nhà, Quê Xưa, Quê hương.
    - Ưng Niệm 應念 : là Chắc là đang nhớ đến, nhắc đến...                    

* NGHĨA BÀI THƠ :

              ĐÓN GIAO THỪA NƠI ĐẤT KHÁCH
             
       Đón giao thừa mà trong chai đã hết rượu rồi.
       Nước mắt nhớ quê hương ướt đẫm cả khăn tay. 
       Mới biết rằng làm người khách xa quê hương là rất khổ, 
       Không bằng nghèo khó mà được ở quê nhà. Vì...
       Sợ gìa nên cũng sợ luôn cả các lễ Tết...
       Dự phòng sầu muộn nên cũng ghét luôn cả mùa xuân. 
       Ở nơi quê nhà trong đêm nay, chắc mọi người cũng...
       Đang nhắc đến cái người đi chưa về là mình đây !

      Lễ Tết đến mà lại phải tha phương cầu thực. Đón giao thừa nơi đất khách mà chai thì hết rượu, túi lại không tiền, Mới biết rằng thà nghèo khổ mà Tết được ở nhà còn hơn đi tìm chữ công danh mà lang thang chân trời góc bễ. Trong khi tuổi già cứ sồng sộc ập xuống đầu nên càng sợ xuân về Tết đến hơn bao giờ hết, như lời thơ của nhà thơ Chế Lan Viên thời Tiền Chiến :

                     Tôi có chờ đâu có đợi đâu,
                   Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

* DIỄN NÔM :           
                 KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ



                Giao thừa chai hết rượu,
                Nhớ quê lệ ướt khăn.
                Mới hay tha hương khổ,
                Không bằng nghèo yên thân.
                Ngại gìa lại e Tết,
                Sợ buồn cũng ghét xuân.
                Quê nhà đêm nay chắc...
                Nhớ người đi bâng khuâng.
   Lục bát :
                Giao thừa chai rượu lại không,
                Nhớ quê lệ ướt đầm khăn đêm này.
                Mới hay lưu lạc khổ thay,
                Không bằng nghèo khó ngày ngày yên thân.
                Sợ gìa sợ cả nàng xuân,
                Sợ ngày tháng lụn năm cùng ngổn ngang.
                Đêm nay chắc cả thôn làng,
                Ngóng trông những kẻ lang thang chưa về !
                                       
       Buồn cho thân phận tha phương đón Tết của mình, Bạch Cư Dị cũng buồn luôn cho những thân nhân đang đón giao thừa nơi quê nhà : Chắc mọi người cũng đang khoắc khoải trông ngóng lo lắng cho mình, là kẻ còn lưu lạc phương trời, không biết sẽ đón giao thừa và  ăn Tết ra sao ?!    

       Hẹn bài dịch tới !

                                                 
                  杜紹德
            ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

TỤNG CA - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI, NHẠC A.I





TỤNG CA
(Riêng tặng Tố Mai)

Lần tay dìu nốt cung đàn,
Ca ngâm sương khói, mây ngàn phiêu du.
Tiếng tơ chạm giấc thiên thu,
Hồn xưa thức dậy giữa ru trầm buồn.
Nàng vui giữa cõi vô thường,
Một tay viết nhạc, một hồn ngây thơ.
Âm vang nửa thực nửa mơ,
Như trăng rót xuống bên bờ thời gian.
Giọng ca hong ấm trăng tàn,
Lời ngâm dệt gió, mây ngàn cúi nghe.
Cung thương rớt giọt sơn khê,
Nhân gian lặng thở giữa mê TỈNH HỒN
Không phô sắc, chẳng phô hình,
Chỉ đem tâm ý thắp tình thanh âm.
Ngón tay gieo hạt thăng trằm,
Nở hoa nhạc mộng, trầm ngâm cõi người.
Nàng là viên ngọc không lời,
Là thơ chưa viết, mà đời đã say.
Lòng nàng theo nhạc xa bay
Tên nàng… còn mãi trong ngày âm vang.

HTH


Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

CUNG ĐÀN MÙA XUÂN - THƠ NHẬT QUANG



 CUNG ĐÀN MÙA XUÂN


Xuân về, gió hát giữa trời xanh
Nắng chạm hiên nhà phút ấm lành
Phím loan nhẹ ru hồn hoa lá
Lao xao gọi mùa - xua giá bằng

Giọt sương óng ánh trên cành mơ
Điệu nhạc rộn vui khúc mong chờ
Cánh én chao nghiêng qua phố nhỏ
Mang tin Xuân thắm dệt tình thơ

Tay em rải nhẹ phím yêu thương
Cung bậc mênh mang giữa vô thường
Mỗi nốt nhạc tươi sắc hoa nở
Tô đẹp Xuân ngời khắp quê hương

Cung đàn mùa Xuân còn ngân mãi
Theo nhịp thời gian chẳng phai phôi
Giữ hộ nhân gian niềm ấm áp
Qua rồi Đông giá, một mùa vui.