CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

CHUÔNG CHIỀU - THƠ HUY VỤ


Có thể là hình ảnh đen trắng 


CHUÔNG CHIỀU

Liễu buông tóc rủ lưng chiều
Làn mây lơ lửng phiêu diêu cuối trời
Tôi đem kỷ niệm ra phơi
Trang thư ngày ấy tả tơi úa nhàu
Nắng soi nét chữ bạc mầu
Lời xưa như nước dưới cầu lặng trôi
Tình trần rất dễ phai phôi
Soi gương tóc bạc da mồi ngẩn ngơ
Đành lòng phải vịn vào thơ
Giờ bao cay đắng hững hờ cho qua
Bạc tiền rất dễ lìa xa
Thay cho son sắt lại là nhạt phai
Lời tiền nhân vẳng bên tai
Ngàn năm hai chữ mệnh tài xót xa
May mà ta vẫn là ta
Bút nghiên lần lữa chẳng qua chữ tình
Câu thơ vô ảnh vô hình
Tha hương trải bấy lộ trình quắt quay
Một ngày tôi lại muốn say
Mượn câu lục bát vẽ bày nối điêu
Lặng nhìn theo bóng trời chiều
Xót xa câu nói "nhiễu điều giá gương"
Mịt mùng phía biển mù sương
Chuông chùa vọng tiếng vô thường thế nhân.


HUY VỤ 
09/04/2026

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

CA SĨ KHÁNH NGỌC QUA CA KHÚC “MẮT BUỒN HANOI” - TRẦN HỮU NGƯ



 Có thể là hình ảnh về văn bản


CA SĨ KHÁNH NGỌC QUA CA KHÚC “MẮT BUỒN HANOI”

Mỗi ngày tôi cố gắng nghe ít nhất một CD do tôi tuyển chọn, để nghe có bài nào mà tôi quên không? Nếu có “bài mới” (mới là… quên nghe!) và biết đâu từ “mới” này mà tôi có một đề tài đề viết; như nghe CD HAI CHUYẾN TÀU ĐÊM và bắt gặp ca khúc MẮT BUỒN HANOI của nhạc sĩ Thanh Trang qua tiếng hát Khánh Ngọc. Từ CD này tôi sẽ có một bài viết mới:
-CA SĨ KHÁNH NGỌC QUA CA KHÚC “MẮT BUỒN HANOI”.
Tôi đã viết về Thanh Trang qua CD HUYỀN, người nhạc sĩ mà tôi lần đầu tiên tôi nghe những bài Tango “rớt nhịp” của anh. (Có dịp tôi trở lại CD HUYỀN)
Chuyện buồn Khánh Ngọc, Phạm Đình Chương và Phạm Duy báo chí đã tốn nhiều giấy mực, nay tôi xin khép lại…chỉ nói về nhạc buồn: MẮT BUỒN HANOI.
Các bạn có bao giờ nghe nhạc của nhạc sĩ Thanh Trang?
Nhạc Thanh Trang, theo tôi, anh không đi vào “công thức” mà là những “Verbs bất quy tắc”… nhờ “bất quy tắt” này mà nhạc anh nghe rất lạ thuở đầu và quen tai thân thiện thuở sau.
Theo tôi, ca sĩ Khánh Ngọc không được nổi tiếng như một số ca sĩ trong ban nhạc Thăng Long, nhưng vì Khánh Ngọc là vợ Phạm Đình Chương, nên được chồng hướng dẫn, về sau hát khá hơn!
Nếu ca sĩ Khánh Ngọc đi theo con đường ca hát thì sẽ thành công, nhưng vì nghe người khác dụ đóng phim, như dễ nổi tiếng, thành minh tinh màn bạc… nên mới ra nông nỗi! (Bây giờ có ai có mê đóng phim mà đánh mất hạnh phúc gia đình không?).
Nhạc viết về Hanoi, nhất là những ca khúc “Tiền chiến” nghe rất hay. Và sau 1975 cũng có một số bài hát viết Hanoi được gọi là khá, nhưng so với nhạc viết về Hanoi thời tiền chiến thì “khó sánh kịp”!
Nước Việt Nam có ba miền Bắc-Trung-Nam, nếu làm một bản tổng kết nhạc của ba miền thì sẽ thấy như sau:
-Nhạc miền Bắc viết về Hanoi thì số lượng nhiều hơn nhạc miền Trung viết về Huế và nhạc miền Nam viết rất ít về Saigon.
Ca khúc MẮT BUỒN HANOI khá dài, tôi xin trích ra, mời các bạn lên mạng mà nghe Khánh Ngọc ca:
“… Tôi mơ về Hà Nội
một ngày bình yên trên lối xưa quen
Chân hoang mòn phiêu lãng
lạc loài hồn rêu xanh tháp cô liêu
Thắp trong tôi nắng son nhạt màu
lộng kinh thành cũ bốn hướng trôi mau
Như liễu buồn nương náu
tóc rũ người yêu lệ thắm hoen sầu
Tôi mơ về ngày nào
nẻo buồn hồ xưa mưa trắng giăng mau
Môi em nồng hơi ấm
sưởi lại tình tôi cho mối duyên sau
Tiếng chim vui khung trời thơ ấu
guốc giòn canh thâu cũng thoáng qua mau
Đêm có buồn vai áo
thấp thoáng cửa đêm sáng hoen màu!
Cho quay về từ đầu
một dòng chiêm bao mối tình xôn xao
Cho tim còn nghẹn ngào
từng hồn mưa lâu, đường ngút đêm thâu…”
Bây giờ tất cả đều đã đi xa:
-Phạm Duy (1921-2013)
-Phạm Đình Chương (1929-2003)
-Khánh Ngọc (1937-2021)
Và tôi viết bài này như một nén nhang thắp lên tưởng nhớ ca sĩ Khánh Ngọc.


TRẦN HỮU NGƯ
(Boléro Xóm Gà Giađinh, 6.4.2026)

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

DÁNG HUẾ HOÀNG KIM XƯA - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI


 


DÁNG HUẾ HOÀNG KIM XƯA


Tìm em giữa nội thành xưa Huế cũ
Rêu phong buồn… che khuất một hoàng kim
Ta lần bước qua miền xưa kỹ niệm
Gọi tên O… mà lòng mãi lặng im…

Ai gọi mô tê… giữa chiều bảng lảng
Tên của O… rơi xuống nước Hương Giang
Sầu chi chứa… bóng người xưa năm cũ
Áo hoàng kim… đã mất… bóng mây tan

Hương Giang ơi…  trôi đi mô trôi vội
Để tình ta… lạc mất giữa sương mù…
Ta không còn… là ta ngày nớ nữa…
Chỉ còn đây… một bóng lẻ ưu tư…

Chuông Thiên Mụ… ngân chi mà sầu rứa

Nghe trong lòng… rát ruột .. một niềm đau…
Huế xưa ơi… răng mà buồn chi lạ …
Giữ tình người… dao cứa mãi lòng sầu…

O mô rồi… người ơi…. năm xưa ấy…
Bỏ lại ta …dưới bóng ánh trăng tàn…
Một lần bên nhau… mà thương mà nhớ
Để mô chừ… ta mãi mãi …miên man…

Ta là gió…gió bay qua thành nội
Ta là mây …mây trôi… giữa trời xa
Thôi đừng kím… một điều không có nữa
Kẻo đau lòng… tái tê một ngày qua……

Ta thương O… thiệt lòng… O có biết …
Thương quá khi duyên ni đã lỡ làng…
Dẫu trăm năm… ta còn mong còn đợi…
Ôi trăm năm…! cũng chỉ rứa mà thôi…

Hương Giang ơi… đừng trôi nhanh tội lắm…
Cho ta còn… giữ chút bóng người xưa…
Ta tan rồi… như sương sa buổi sớm…
Chỉ còn người… trôi mãi giữa dòng mưa…

Chuông Thiên Mụ… còn ngân trong gió lạnh…
Như tình ni… không dứt được mô tê…
Huế mình ơi… răng mà buồn chi lạ…
Giữ thương đau… chưa trọn một câu thề…

Tình đã lỡ… răng còn thương đến rứa…
Rứa còn thương, con nhớ….Cẩm Tú ơi… …


HUỲNH TÂM HOÀI


Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

GIẤC MƠ THIÊN THẦN - THƠ NHẬT QUANG


Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Giấc mơ... Thiên thần Jos Nhật Quáng'


 GIẤC MƠ THIÊN THẦN 


Em mơ đôi cánh thiên thần bé nhỏ

Chấp cánh bay tới khung trời yêu thương 

Đưa anh đến cung Hằng hoa sáng tỏa

Ôi! Nồng nàn đêm huyền mộng ngát hương 

Anh ơi! Vầng trăng đêm nay đẹp quá!

Ta bên nhau phiêu lãng giữa trời mây

Hồn chơi vơi nơi thiên đường tình ái

Đêm mặn nồng...nụ hôn đắm ngất ngây

Em mơ đôi cánh thiên thần xa vút

Mộng thần tiên giữa chốn thiên thai

Em lãng đãng trong bình minh nắng sớm

Có anh bên em, ấm áp những đêm dài

Em sẽ mãi là thiên thần bé nhỏ

Cho anh dệt thắm những vần thơ

Anh ép vào thơ đóa hồng nhung đỏ

Nở yêu thương... em ôm ấp mong chờ.


JOS NHẬT QUANG


HẠT MƯA - THƠ NGUYỄN AN BÌNH



 


HẠT MƯA


Long lanh trên phiến lá

Hình như mới đêm qua

Hạt sương hay hạt ngọc

Hay là hạt mưa sa.


Xin biến thành hạt lệ

Gọi nụ tình trổ hoa

Ngày sau như hạt bụi

Hòa vào cõi thiên hà.


Đợi ngàn năm chuyển kiếp

Lại thành hạt mưa sa

Reo thì thầm trên lá

Kể chuyện tình chưa xa.



NGUYỄN AN BÌNH

(những bài thơ ngắn)


Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

THƠ MỪNG TIỂU HÈ 80 XUÂN - NGUYỄN KHÔI



 THƠ MỪNG TIỂU HÈ 80 XUÂN 


Thế là Nàng đã 80

Chừng như Xuân Sắc thoáng thời Thanh Xuân

Ngang vai suối tóc buông trần

Ngực non như mới nhú tuần sướng non

Lưng ong từng địu cõng con

Lên rừng xuống biển chẳng mòn gót chân

Long lanh mắt đượm phong trần

Trãi qua bom đạn xem chừng vẫn tươi

Bây giờ nàng đã 80

Cháu con mỗi đứa mỗi nơi một đàng

Bây giờ Chàng ở bên Nàng 

Bỏ thời công tác mỗi phương một người

Đời vui còn có tiếng cười

Nhà mình mình ở tự nuôi chăm mình

Cháu rau đượm ấm trà xanh

80 xuân thắm duyên tình thương yêu


NGUYỄN KHÔI

HN 4-4-2026 


Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2026

TÊN SÔNG 'THẠCH HÃN ''CÓ NGUỒN GỐC TỪ TÊN LÀNG - LA THỤY


  

TÊN SÔNG 'THẠCH HÃN ''CÓ NGUỒN GỐC TỪ TÊN LÀNG

Tên sông Thạch Hãn được vua Minh Mạng cho khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế) dưới dạng chữ Hán là Thạch Hãn giang 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái)
Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn () theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
 
Sông Thạch Hãn khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu, Huế)

Sông Thạch Hãn có nguồn gốc địa danh từ tên làng Thạch Hãn. Tên Thạch Hãn xuất hiện từ thế kỷ XVI - XVII và được các nhà Nho diễn nghĩa Hán tự từ ghồ đá cản dòng trên sông, đoạn đi qua làng Thạch Hãn. Trước đó, khi làng Thạch Hãn còn mang tên là Thạch Hàn/Đá Hàn thì sông được gọi là sông Đá Hàn. Vì thế, dân gian gọi là Nguồn Hàn.
 
Sông Hãn cường ngạnh, kiên trinh, không chịu phục tùng tự nhiên hay chính nó cũng đã tạo nên tính cách của con người Quảng Trị !

Về tên gọi Thạch Hãn, nguyên tên trước là Thạch Hàn [石瀚]
Sách “Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí” (1806) mô tả: “Từ bến trước công đường (tức Ái Tử), đi thuyền theo đường sông... theo hướng tây nam đi lên 2.200 tầm, phía bắc là đất phù sa và đất khô, phía nam là dân cư và chợ Thạch Hãn, chợ đông vào buổi sáng, quán xá thưa thớt, khách đi đường có thể nghỉ lại, đến kho cũ Thạch Hãn. Ở đây có dãy đá nằm ngang sông nổi lên mặt nước, chỉ chừa lại một lỗ hổng nhưng thuyền bè có thể qua lại được, bị dãy đá cản nên chỗ này nước chảy rất xiết, đến mùa thu đông mưa lụt, nước đầy lút mất đá, thuyền đi không biết đâm phải có khi không còn”.
 
Làng Thạch Hãn được hình thành từ nửa cuối thế kỷ XV với tên là làng Thạch Hàn (石韓). Chữ HÀN () của làng Thạch Hàn được chép trong “Ô châu cận lục” hàm nghĩa là tên nước, tên họ (như Hàn Quốc, Hàn Tín) chứ không phải chữ Hàn/Hãn () mang nghĩa mồ hôi.
 
Trong dân gian, 2 chữ Thạch Hàn được diễn Nôm là ĐÁ HÀN. Tên làng Thạch Hàn cũng được gọi là làng Đá Hàn. Ngày nay, địa danh này vẫn còn lưu ảnh ở thị xã Quảng Trị qua nhà thờ Thiên Chúa mang tên Đá Hàn. Vì thế, tên sông trong dân gian vẫn gọi là sông ĐÁ HÀN. Tên NGUỒN HÀN là theo chữ Hàn () này và từ đó mà ra. Nhưng tên sông Đá Hàn có khi được hiểu là do nước trong và lạnh, nhưng có khi lại được hiểu theo nghĩa “thành giếng bằng đá”. Cụm từ “thành giếng bằng đá” có lẽ là việc diễn Nôm từ nghĩa Hán tự vừa mang cả chữ Hàn  (lạnh) lại vừa mang cả chữ  (bảo vệ).
 
Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn () theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
Năm 1836, sau khi ổn định đất nước, vua Minh Mạng đã chọn sông Thạch Hãn là một trong 9 thắng cảnh của đất nước để đúc vào Cửu Đinh bày ở sân rồng coi như quốc bảo.

Cửu Đỉnh (nhà Nguyễn)
 
Tên sông Thạch Hãn được vua Minh Mạng cho khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế) dưới dạng chữ Hán là Thạch Hãn giang 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái)
 
Ở Quảng Trị xưa đã có câu ca dao:
 
“Chẳng thơm cũng thể hương dàn
Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra”
 
Nguồn Hàn là tên gọi dân gian chỉ sông Thạch Hãn. Về tên gọi Thạch Hãn, lâu nay không ít người tự hiểu theo nghĩa chủ quan là… “mồ hôi của đá”. Thực ra không phải như vậy, thạch thì đúng là đá rồi, còn hãn hay hàn có nghĩa là ngăn cản. Vì ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này, thành sông Thạch Hãn.
 
Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì sông Thạch Hãn chỉ dài khoảng 170 dặm bao gồm cả đầu nguồn, nghĩa là chỉ độ 100km. Với độ dài như vậy nên lượng phù sa do sông tải đến không nhiều, trừ những ngày lũ lụt, nước thường trong xanh nhìn thấy đáy. Điều đó được nói đến trong 2 câu thơ của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến:
 
“Tây phong Hà xứ xuy trần khởi
Bất tụ niên tiền triệt thể thanh”
 
Lương An dịch:
 
“Gió tây cuốn bụi dồn
Nước trong thấy đáy nay còn nữa đâu”
 
Sông Thạch Hãn là con sông dài và đẹp nhất tỉnh Quảng Trị. Sông bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn ở phía Tây Nam của tỉnh. Dòng sông uốn lượn từ hướng Đông và Đông Bắc, gặp sông Rào Quán lại chảy về hướng Đông rồi ngược lên phía Bắc, nhập với sông Cam Lộ (tức sông Hiếu, chảy qua thị xã Đông Hà) tại ngã ba Dã Độ (sau này quen gọi thành Gia Độ) rồi lại quay về hướng Đông, đỗ ra cửa Việt Yên, gọi tắt là Cửa Việt.

Sông Thạch Hãn trên bản đồ

Không chỉ từ xưa mà cho đến cả bây giờ, sông Thạch Hãn vẫn là mạch máu giao thông đường thủy rất quan trọng của tỉnh Quảng Trị.
Với hình thể uốn lượn uyển chuyển như thế lại có thêm nhiều phụ lưu thuốc các huyện Triệu Phong - Hải lăng là hai vựa lúa của tỉnh Quảng Trị như Vĩnh Định, Vĩnh Phước, Điếu Ngao nên mật độ giao thông trên sông ngày càng lớn. Đặc biệt, là con hào thiên tạo phía Bắc thành cổ Quảng Trị (nay là thị xã Quảng Trị) con sông Thạch Hãn lại có vị trí chiến lược về quân sự.
Đoạn trên trích từ bài viết của Lưu Thị Thu Anh

 
Tóm lại:
 
Sông Thạch Hãn có nguồn gốc địa danh từ tên làng Thạch Hãn. Về tên gọi Thạch Hãn, không có nghĩa là “mồ hôi của đá” như nhiều người lầm tưởng.
 
Thạch Hãn (石韓) là ghồ đá cản dòng trên sông. Người Quảng Trị gọi loại đá cản dòng trên sông này là “đá giăng cừ”
Đoạn sông đi qua làng Thạch Hãn, ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này, thành sông Thạch Hãn.

Các văn tự viết bằng chữ Hán có liên quan đến tên sông Thạch Hãn của các làng trong vùng đều viết chữ Hãn là  theo nghĩa là ương bướng, cản trở chứ không viết chữ Hãn () theo nghĩa mồ hôi.
Thạch Hãn giang viết theo chữ Hán là 江捍石 (đọc ngược từ phải sang trái) theo như hình khắc trên Thuần Đỉnh (đỉnh thứ 5 trong bộ Cửu Đỉnh, đặt trước Thế Tổ Miếu - Hoàng thành Huế)

 


                                  LA THUỴ sưu tầm và biên tập