CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

ĐỌC TẬP THƠ 'NÍN THỞ'' CỦA NGUYỄN HỮU THUỴ - PHAN NI TẤN

 

Có thể là hình minh họa về ‎văn bản cho biết '‎כולן こちい nthở thở nin ty TiL 2 Hữu m Nguyễn NHÀXUÁTBAĐÀNĂNG NHÀ XUATE BÀ ĐÀ ÀNANG‎'‎

Nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy ở bên nhà có nhờ cô Biên Huỳnh Phạm gởi cho tôi một tập thơ tựa đề Nín Thở, tôi đọc:

NÍN THỞ

Nín Thở, tựa đề tập thơ của Nguyễn Hữu Thụy gồm 56 bài, 142 trang. Lẽ ra còn nhiều bài hơn, như nhà thơ cho biết số phận tập thơ Nín Thở đã trải qua rất nhiều nhà xuất bản vẫn không cấp cho giấy phép – cuối cùng phải bỏ đi một số bài mới qua truông kiểm duyệt. Nguyễn Hữu Thụy tâm sự: "Ở đây những người làm thơ ngoài luồng, đứng độc lập như tôi rất hiếm hoi và cô đơn lắm". Mà thật, thơ Nín Thở mới vào đề đã mang lời lẽ ngông nghênh, trái nết, tuy "không giống ai" nhưng được cái là khí phách, nhất là giữ được chất thơ hào sảng, ngang tàng mà "đám ruồi bu" khó chấp nhận:
Không giống ai - ta chỉ giống chính mình
Thằng trái tính khó ưa mà rất thiệt
Trái thời cuộc lâu ngày thành trái nết
Ít người thương mà đứa ghét lại nhiều
Sách đắc nhân tâm chỉ dạy đủ điều
Ai làm được đã danh nhân hiền triết
Lại nghe nói "Cái tôi là đáng ghét"
Nghiệm lại chính mình bù trất cả hai
Thấy đám ruồi bu mà ngứa lỗ tai
Nghe thở hơi đồng xốn con mắt đỏ
Trong suy nghĩ thắp treo mình đèn bão
Tim – bấc sắp tàn vừa đủ tự soi
Cứ sống chính danh đủ biết lỗi thời
Như phần mềm nằm sâu trong bộ não
Khi được lập trình dưới tay tạo hóa
Ngay từ đầu lộn cái bị điên điên
Cõi tạm dung đời có một cõi riêng
Ai thương ghét khác nhau thì đã rõ
Xin cúi xuống cảm ơn lời hỉ… nộ
Trong xa vời để ngó mảnh vườn rêu.
(Không Giống Ai, tr. 5, 6)
Thuở ấy, cái thời trai trẻ vốn hoang phí ấy, nhà thơ Nín Thở ngất ngưởng phán đời đã buồn lại trôi như nước thì giữ làm gì, chỉ có rượu trên tay uống quên đời mới khai thông trí hóa, giải phá cơn sầu, lùa sầu vào trong máu:
Ta đã phí một khoảng đời trai trẻ
Rượu thâu đêm suốt sáng với trăng tà
Đời đã buồn héo úa cả thịt da
Thì lắm lúc tiếc gì cho cuộc sống
Ngày đã qua như một trang lịch mỏng
Thì tiếc gì khi ngọn lửa đang lên
Đời đã trôi như dòng nước không tên
Thì giữ lại làm chi thêm phiền muộn
Đời chỉ có một đôi lần sung sướng
Trăm ngàn lần quờ quạng trước đau thương
Nên uống đi cho lấp hết nỗi buồn…
(Rượu Trên Tay, tr.7, 😎
Có ai từng thấy… "màu thơ" chưa? Mà màu thơ là màu gì? Trời xanh, mây trắng, bông lê, bông lựu, bốn mùa xuân hạ thu đông… là những cảnh vật ở thể nổi mới có màu sắc tự nhiên. Vẽ ra một hình thể hay khắc nên một hình tượng, ngay cả viết thành chữ cái, nét chữ đậm nếu có màu vàng hay thau thì còn nhận thấy, đằng này thơ vốn trừu tượng thì thơ làm sao có màu, cho dù "những câu thơ có tiềm tàng nội lực" thì thơ cũng khó mà có… màu thơ.
Nói là nói vậy chớ màu thơ của Nguyễn Hữu Thụy có khác gì màu thơ rực rỡ của Xuân Diệu đâu: "Thu biếc tỏ, hè nâu thơm vị quế. Xuân ngát hồng, đông xám cũng đầy mơ". Cũng ở ngoài Bắc, màu thơ của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ cũng thật đặc sắc: "Cây bàng lên búp nhỏ. Xanh như là thương nhau". Cho nên "màu thơ" của Nguyễn Hữu Thụy là ngôn ngữ thơ gợi lên cái đẹp, lạ và hay, được tô điểm bằng một tấm lòng dạt dào rung cảm tứ thơ:
Vàng sẽ là vàng
Thau sẽ là thau
Quyền tối thượng chỉ dành cho độc giả
Và thời gian sẽ dũa mài tất cả
Những râu ria sơn phết màu thơ…
(Thơ Mai Sau, tr. 13)
Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn là bản tình ca bất hủ, nội dung gởi gắm một nỗi buồn ray rức khôn nguôi. Ca khúc này ra đời từ năm 1960 đến nay vẫn thong dong hát mãi trên đầu môi chót lưỡi con người, cho nên người trần gian dựa vào đó mà khéo ví von cái gì xưa đều thành… xưa rồi Diễm. Trong Nín Thở, bài thơ "Xưa Rồi Diễm" của Nguyễn Hữu Thụy cũng bày tỏ một loại ngôn ngữ mất mát, trăn trở, hư hao là trạng thái của một người thất tình. Toàn bài gồm 32 câu chung qui nếu chỉ dẫn chứng bốn câu cũng đủ gợi lên một nỗi bẽ bàng:
Yêu nhau chịu phận cùng oan nghiệt
Rồi ra không đủ sức gánh gồng
Lẳng lặng chia xa là chấm hết
Mỗi phận đời riêng mỗi nhánh sông … (tr.11)
Xưa nay thi sĩ vốn là nòi tình, là loài trời sinh để yêu cho dù có bị hất hủi thậm chí còn bị đánh đập, bị đạp xuống bùn nhơ, bị knock out đến bất tỉnh vẫn không chừa, khi tỉnh lại vẫn một mực… làm thơ:
Tạ lỗi hồng nhan – khi nào ta còn thấy
Mắt biếc đưa tình là tim đập xôn xao
Đã bao lần lãnh đủ cú knock out
Vẫn thích thú làm thơ khi tỉnh lại.
Nguyễn Hữu Thụy vốn sở trường về thơ bảy chữ, tám chữ và tự do, thỉnh thoảng mới chuyển qua thể thơ lục bát. Như ta đều biết lục bát là thể thơ truyền thống mười bốn chữ của dân tộc Việt Nam, xuất hiện từ cuối thế kỷ XV. Thuở cha ông ta, những người làm thơ vô danh nơi thôn dã dùng lục bát để thể hiện tâm ý mình: ngắn gọn không khuôn sáo, sinh động ở nét uyển chuyển, mềm ngại, ngân nga và tràn đấy thi tính.
Thơ lục bát của Nguyễn Hữu Thụy cũng có sự luyến láy, mềm mại, diễn tả tình cảm ngọt ngào, trầm lắng, thiết tha. Trong Nín Thở, nhan đề Hạt Muối mô tả mối tình keo sơn trong sáng gợi cho người đọc nhớ tới câu ca dao về muối và gừng gắn liền với sự thủy chung, son sắt, nghĩa tình sâu nặng "Muối ba năm muối đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa". Ta đọc ở đây vài câu lục bát mặn mòi, lấp lánh của Hạt Muối, là một thể thơ trữ tình thuần túy mang đậm nét thủy chung như nhất:
Muối thường nhắc nhở cho đời
Gừng cay muối mặn ướp lời yêu thương
So cùng nước biếc đại dương
Muối đây một nắng hai sương ướp tình
Giữ lòng hạt muối kết tinh
Mặn trên đầu lưỡi dặn mình chớ quên (tr.20).
Thơ mà ca ngợi quê hương đất nước, ngợi ca tình tự dân tộc bao giờ cũng đánh động lương tâm những ai vốn yêu nước thương nòi. Lịch sử Việt Nam, sau đại họa tháng 4/75, những bậc tri thức ưu thời mẫn thế, những văn nhân thi sĩ chân chính có ý thức đấu tranh đã mang vào thơ văn những ngôn từ, hình ảnh khá mới mẻ, dù băn khoăn trước thời thế vẫn không để mất giá trị nghệ thuật, điển hình là tác giả tập thơ Nín Thở. Nguyễn Hữu Thụy là một nhà thơ có tài trong cách sử dụng hình ảnh và nhạc điệu để gởi gắm đất nước khổ nạn vào dòng chảy của con sông quê, dòng sông mà tác giả ví như dòng máu tổ tiên:
Đất nước bao đời ở với dòng sông
Từ ngày khai thiên đến ngày lập quốc
Những dòng chảy mang đầy tiềm lực
Có linh hồn và hơi thở linh thiêng
Những dòng sông đã nối tiếp nhau
Căng no gió thuyền buồm xuôi ra biển
Đã bồi lỡ nổi chìm bao trận chiến
Giữ cho còn tên gọi một quê hương
Lời tỏ cùng sông thương nhớ dặm dài
Nứt nẻ những bàn chân cầu Trời khấn Phật
Thân cóng lạnh trôi dài trên mặt đất
Đến tận cùng khổ nạn vận sông quê.
(Tỏ Lời Cùng Những Dòng Sông. tr.27, 28)
Ta yêu nước dặm dài bao thế kỷ
Chở ca dao nhịp võng Mẹ ru hời
Nghe tiếng thoi đưa bóng hạc bỏ xa trời
Thơ yêu nước nồng nàn nuôi ta lớn
(Thơ – Với Thơ Đầu Năm. tr.33)
So với ba miền, thiết tưởng đất phương Nam tương đối là đất lành, dân tình rộng lượng thương người lỡ bước vốn là "tình Phương Nam như Mẹ kế đỡ đàn". Học sử ta đều biết Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là người mở đầu cho sự nghiệp mở đất phương Nam đời đời ai cũng một lòng tưởng nhớ công ơn đúng như lời thơ tha thiết của Nguyễn Hữu Thụy "ghi nợ đất phương này":
Ơn chúa Nguyễn Hoàng khi xưa mở đất
Đời chúng ta còn hưởng xái chút tình
Cuối đường cong chữ S đã tượng hình
Có khoảng trời xanh ngoi lên để thở…
(Phương Nam. tr.37)
Nghiên cứu về nguồn gốc và quê quán dòng tộc Nguyễn Hữu thì tộc này đã trải qua nhiều đời từ Ninh Bình đến Gia Miêu, Thượng Trung, Thanh Hóa… Riêng ở Nghệ An, vào thế kỷ XVI, tộc Nguyễn Hữu có bề dầy lịch sừ hơn 300 năm gồm 17 đời 6 chi hậu duệ sâu sắc nhất với truyền thống khoa bảng, nhân từ, trung hậu, môt tấm gương sáng ngời có công trong việc mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước.
Đó là lược sử nước Nam được ghi chép từ đời xa xưa. Đi tìm cái đẹp của nếp thời gian thăm thẳm đó, Nguyễn Hữu Thụy đã cung cấp cho ta một hình ảnh đặc biệt từ một bản chất sâu xa, đó là "Cây phổ hệ" là loại cây chỉ việc ghi chép lại lịch sử, nguồn gốc của một dòng họ hoặc gia đình có công trạng từ xưa đến nay. Tác giả cũng cho biết cây phổ hệ đời thứ mười hai của tộc Nguyễn Hữu tại vị Phúc Khương bị vỡ tổ vì thiên tai chiến tranh đành phải hướng tới một cuộc sống lưu dân trôi giạt vào Nam.
Dưới ngòi viết gốc Quảng Nam của Nguyễn Hữu Thụy, bài thơ tự sự "Nguyễn Hữu Phía Nam" gồm mười sáu đọan, mỗi đoạn bốn câu mô tả hoàn cảnh và tình cảm của tộc Nguyễn Hữu với biết bao cái ngổn ngang, ngóc ngách của cuộc đời vốn rối rắm khởi từ cái rất xưa đến cái hiện nay. Vẻ đẹp của những câu thơ có chứa chan chân tình mà cũng trớ trêu, ngang trái nhưng đọc lên không có gì là ồn ào, cường điệu, phá phách mà cái khí cốt của hồn thơ "phía Nam đi tới" lại đậm đà, chân chất và thi vị nhằm bày tỏ một thái độ đối với nhân sinh nhọc nhằn cho dù bộ tộc rất nhỏ bé nhưng "Chắc cũng tròn đều bọc trứng Âu Cơ". Xin trích đoạn bài thơ trên để kết thúc bài viết về tập Nín Thở này.
Thiên hạ tộc to họ lớn
Gặp được thời xưng bá xưng vương
Nguyễn Hữu đời ta tại vị Phúc Khương
Phúc chẳng thấy – Khương đâu chẳng thấy!
Từ Nghệ An khó nghèo biết mấy
Vào Quảng Nam theo Chúa Nguyễn Hoàng
Ba trăm năm dựng nghiệp nông tang
Cây phổ hệ sum suê cành gốc ngọn
Nguyễn Hữu phía Nam – phía Nam đi tới
Cây liếp cây xanh thay lá đổi màu
Nguyễn Hữu đời ta tại vi Phúc Khương
Phúc khởi sáng Khương nay khởi sáng
Trà rượu trống chiêng – tinh thần hào sảng
Ta đọc bài hành cúng buổi tế xuân thơm.


PHAN NI TẤN

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

HỒI SINH TÔI - THƠ TRẦN YÊN HOÀ


Amazon.com: Rớt Xuống Tuổi Thơ Tôi ...

 


HỒI SINH TÔI


Tôi trần thân, tôi đau đời quá đổi

Như cây cành bị gió xô nghiêng

Tôi cuốn trôi như giòng thác lũ

Chao trên đời chạm dòng điện viễn liên

 

Tôi chấp chới giữa giòng nước xoáy

Quay mòng trong đêm tối mịt mùng

Tôi qụy ngã bên bờ mương rẫy

Không còn phân chia sáng, tối. dững dưng.

 

Đời cô quạnh khi người bỏ đi

May có em hồi sinh ta thở

May có em cho ta nỗi nhớ

Giữa dòng cuồng lưu ta bám được bờ

 

Em thiên thần em trong ta diệu vợi

Vẫy nước cam lồ cứu thoát ta qua

Cửa sinh tử em vớt ta đứng dậy

Giữa nhân gian ta quay trở lại nhà

 

Hồi sinh ta có em đứng cạnh

Có em là hạnh phúc gần bên

Ta cúi xuống gục đầu trong tưởng vọng

Màu tình xanh cho giấc mộng thật gần

 

Hạnh phúc tôi, hạnh phúc em nhập một

Tôi xin qùy cảm tạ ơn trên

Ơn chót vót, (còn đời tôi dại dột)

Yêu một người mà tưởng cứ trăm năm

 

Hạnh phúc em, hạnh phúc tôi là một

Ta dắt díu nhau về miên viễn vô cùng

Anh trải cho em tấm chăn thật ấm

Vai tựa vào anh, luôn nhìn má em hồng…

 


TRẦN YÊN HOÀ

Nguồn : từ email của tác giả gửi


Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN

 


ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO

 

gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố

mùa đi qua cho lá rụng xuống đường

tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ

khi mưa về làm ướt cả muôn phương

 

lòng cũng hẹp như trăng tròn lại khuyết

màu trời kia đã sáng xuống bên đồi

muốn che hết chút phận người quá mỏng

để thấy đời như hạt bụi rong chơi

 

sẽ là gì khi thời gian không đợi

cứ lãng du theo gió bão trên trời

biết là vậy mà quên đi một bữa

nắng không đầy cho má đỏ thắm tươi

 

rồi cứ thế cứ mưa chiều nắng sớm

tuổi cứ chồng lên từng đám mây cao

đi cho hết trăm năm còn mớ ngủ

giữa đêm dài hư ảo với trăng sao

 

đừng chờ nữa một mùi hương đã chín

đã thơm lên nhưng rất khó kiếm tìm

dù mơ ước khỏng thành mây trên núi

sao đợi hoài giọt máu chảy về tim

 

rồi thuở ấy xin hoàng hôn mái tóc

để chải đầy từng dĩ vãng qua tay

lần này nữa quyết đưa hương lên áo

để níu về giấc mộng sót trên cây.

 


HUỲNH LIỄU NGẠN

Nguồn : từ email Trần Yên Hoà gửi 



Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

GÁC XÉP - PHAN NI TẤN



 GÁC XÉP

Đang ngủ trên gác xép nửa đêm Thế giựt mình choàng tỉnh vì có tiếng người đập cửa ở dưới nhà. Thủy nằm kế bên cũng thức giấc, ngẩng đầu lên nghe ngóng rồi hoảng hốt ngồi bật dậy la thầm: "Chết rồi anh nờ! Mạ em trên Đà Lạt xuống tề".
Hơn bốn tháng trước, khi lén đưa Thế về giấu trên gác, Thủy có nói mỗi lần về Sài Gòn mạ của Thủy thường ngủ trên gác này, nhưng năm ba tháng có việc bà mới về; còn nếu đêm hôm Công An xét nhà Thế cứ trèo lên núp trên nóc gia ở ban-công phía sau là an toàn. Trong chập chờn, thấy Thủy lộ vẻ lo lắng, Thế thương cảm, choàng tay ôm lấy nàng trấn an rồi hé cửa vọt ra ban-công phía sau, Thủy sốt ruột cũng ra theo. Thế quơ vội dôi dép mòn đế, há miệng thảy xuống đường hẻm, rồi nhanh nhẹn đu tường tuột xuống đất, Thủy nhìn theo mà ứa nước mắt.
Ban đêm con hẻm tối om, Thế đang lò mò tỉm đôi dép, đúng lúc hai người đàn ông rọi đèn pin trong hẻm đi ra, Thủy vội hụp xuống. Nửa đêm nửa hôm bất ngờ đụng phải kẻ lạ mặt, một người la lên: "Ai đó? Làm gì ở đây? Ăn trộm hả? Rồi tri hô: Ăn trộm! Ăn trộm! Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!".
Nghe la Thủy điếng hồn lum khum nhìn xuống. Trong lúc bối rối Thế chưa kịp phân trần anh đã bị tóm cổ. Một người kẹp cổ Thế ghì đầu xuống, người kia bẻ quặt cánh tay anh ra sau, sừng sộ: "Tổ trưởng dân phố đây. Ăn trộm hả? Gặp tao là mầy xong đời". Người kẹp cổ Thế hổn hển giục: "Trói nó lại, giải tới đồn Công an đi, anh Năm".
Nghe nói tới Công an, Thế chợt bừng tỉnh. Thủy biết máu giang hồ trong anh lại sôi lên. Liền đó Thủy thấy người kẹp cổ Thế la "ối" một tiếng, rướn người lên, vòng tay nới lỏng. Chỉ chờ có vậy, Thế hụp đầu xuống xoay mình đấm thóc vào hông người này, đồng thời xô mạnh hắn vào người kia khiến cả hai mất thăng bằng té lăn ra đất. Mặc tiếng la "bắt lấy nó", Thế băng mình vọt ra đường cái, bỏ dép chạy thục mạng về hướng chợ Thái Bình. Lúc đó cả Thủy và Thế đều không ngờ lần bỏ chạy đó là lần cuối cùng Thế chạy ra khỏi cuộc đời Thủy.
* * *
Thế sinh ra dưới một ngôi sao xấu, anh thường nghĩ vậy. Khi trở nên gắn bó, Thế tâm sự Thủy nghe mà đau thắt trong lòng. Cuộc đời của Lương Hữu Thế có thể nói là một chuỗi bi kịch. Vừa bưng đầu ra đã khóc chóe trước cổng tam quan của một ngôi chùa ở miệt Hạnh Thông Tây. Nhà chùa thương tình đem vô nuôi. Mười ba tuổi bỏ chùa đi bụi với bọn trẻ đánh giày. Mười bảy tuổi thành quân đầu trộm đuôi cướp, khét tiếng trong giới giang hồ với hỗn danh "Thế chém". Mười tám tuổi trốn quân dịch bị bắt lính thảy vào Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Nhiều lần định đào ngũ nhưng không biết nghĩ sao Thế lại thôi. Ra trường dưới hình thù một anh lính "đơ-dèm cùi bắp" thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh đóng ở Xuân Lộc, Long Khánh. Sẵn máu giang hồ, coi cái chết nhẹ tợ lông hồng, Thế đánh giặc rất hăng, coi giặc như kẻ thù truyền kiếp. Sau những trận đánh ác liệt, Thế thường lập được nhiều chiến công hiển hách, nhờ vậy binh nhì Lương Hữu Thế được đặc cách lên lon vùn vụt ngoài mặt trận.
Năm 1963, Thế theo học khóa Sĩ Quan Đặc Biệt tại trường Bộ Binh Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường đầu quân vào Lực Lượng Biệt Kích Dù, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài các hoạt động nhảy toán làm nhiệm vụ tình báo, Thế còn giả dạng thường dân xâm nhập vào Nam Lào thám thính và triệt hạ các tuyến đường giao liên của Việt Cộng.
Sau nhiều năm chiến đấu sống chết ngoài mặt trận, súng đạn đã nung đúc Trung úy Thế trở nên dày dạn hơn, lì lợm hơn nhưng đầm tính hơn. Máu du côn hung hãn ngày xưa chuyển dần thành dòng máu anh hùng. "Thế chém" ngày xưa chưa từng chém chết ai, nhưng "Thế độc" sau này lại đốn ngã nhiều quân thù bên kia chiến tuyến.
Có lần tò mò Thủy hỏi sao gọi là "Thế chém", anh lắc đầu thở dài không nói. Tôn trọng sự im lặng của anh, Thủy cũng không hỏi nghĩa "Thế độc" là gì, như đồng đội thân thiết của anh thường gọi. Nhưng mà, dù Thủy không biết trong quá khứ "Thế chém" từng chém những ai hay bị ai chém mà khi Thủy gặp Thế thì trên mặt anh đã hằn sâu một vết sẹo dài sọc, đỏ ửng bên má trái. Đó cũng là hình ảnh kỷ niệm thuở ban đầu Thủy gặp Thế, đã hằn sâu trong trí nhớ của Thủy như một món quà trân quí của tình yêu mà trời đất đã ban tặng cho mình..
Thủy là người yêu đầu đời của Thế. Thủy biết chắc điều này là nhờ bạn bè lính tráng của Thế cho biết. Rằng đường binh nghiệp của Trung úy Lương Hữu Thế lên như diều gặp gió nhưng đã 25 tuổi đầu mà đường tình yêu vẫn vắng bóng hồng, cho tới khi gặp Thủy. Nói không quá, ngầu như "Thế chém" vang bóng một thời, hay ngầu như "Thế độc" bắn giết nhau với kẻ thù trên rừng núi, có lẽ vì quá ngầu nên Thế chưa từng biết yêu là gì, nói chi đến gái, kể cả các cô gái ăn sương.
Cho đến một hôm Thủy đạp xe mini tới Thảo Cầm Viên Sài Gòn (còn gọi là Sở Thú) dạo mát. Buổi trưa đầu tuần, vườn Bách thảo hầu như vắng bóng người. Thủy ngồi trên ghế đá cạnh hồ nước trước đền thờ vua Hùng đọc sách. Lúc lật sang trang Thủy ngước lên tình cờ thấy anh lính rằn ri đang nhìn về hướng mình. Ngồi trên bậc thềm Viện Bảo Tàng Quốc Gia, người lính châm thuốc hút. Thật tình Thủy không để ý tới anh ta nên cúi xuống chăm chú đọc tiếp. Nắng trên cao lỗ chỗ đổ xuống trang sách làm Thủy phải nhích sang một bên.
Đang say sưa thả hồn theo từng dòng chữ thình lình một đám năm sáu anh thanh niên áo quần xốc xếch, mặt mũi bặm trợn ào tới vây quanh Thủy chọc ghẹo. Có lẽ những hành vi sàm sỡ của đám người này làm người lính chú ý. Thủy bực mình đứng dậy bỏ đi. Lợi dụng chỗ vắng người bọn họ cố tình chận Thủy lại; người giựt sách, kẻ làm càn vuốt tóc, sờ tay sờ chân. Thủy càng cự nự chúng càng làm tới. Coi trời bằng vung, bọn họ lôi Thủy vô bụi cây.
Đúng lúc đó, một tiếng gằn dữ dội "Buông cô ta ra!" khiến cà bọn khựng lại. Quay đầu lại bọn họ thấy một người lính rằn ri mặt thẹo trông dữ tợn, mắt trợn trừng tóe lửa đang xăm xăm bước tới. Thấy người lính to như ông hộ pháp tiến tới, đám ba que xỏ lá buông cô gái ra luýnh quýnh thụt lùi, trừ một tên, có vẻ đầu sỏ, ra oai vung gậy bổ xuống đầu anh lính. Anh gầm lên, phóng tới đá văng cây gậy rồi áp sát, bẻ quặt cánh tay hắn ra sau, vặn mạnh khiến hắn la làng. Để dằn mặt đám lưu manh, anh lên gối thúc vào bàn tọa tống hắn văng ùm xuống hồ nước. Cả đám lâu la thấy thế đều thất kinh hồn vía hè nhau bỏ chạy, mặc cho tên đầu sỏ run rẩy lóp ngóp bò lên chạy biến.
* * *
Thưa bạn đọc,
Hồi kỳ trên của cô Hoàng Thị Ngọc Thủy viết trong cuốn sổ tay chỉ có bấy nhiêu, còn lại là những trang trống. Bìa cuốn sổ tay đã cũ, vài trang hơi sờn, nét mực đã phai, nhiều chữ bị nhòe, vừa đọc vừa đoán. Tuần trước, Ngọc Trảng, em của Thủy, đưa tôi cuốn sổ tay này nhờ tôi đọc, sửa lại câu cú xong gởi đăng báo giùm, nếu được. Đọc xong tôi đạp xe tới nhà Ngọc Trảng trên đường Lương Hữu Khánh xin gặp Ngọc Thủy để hỏi thêm vài điều cần biết. Thường ngày Ngọc Trảng rất liến thoắng, hay đốp chát lấn lướt tôi trên phone, nhưng lần này cô nín lặng một hồi mới sụt sùi kể lể làm tôi chưng hửng.
Thì ra cách đây hơn 30 năm, chị Ngọc Thủy của Ngọc Trảng bị xe đụng chết trên cầu chữ Y lúc chị đạp xe về nhà dưới cơn mưa tầm tã. Ngọc Trảng cũng tiết lộ cho tôi biết lòng biết ơn của chị với Trung úy Thế là thủy chung cùng anh, người lính Biệt Kích Dù đã từng cứu chị thoát khỏi tay bọn côn đồ trong vườn Bách Thảo năm xưa.
Khi mất nước, Biệt Kích Dù là lực lượng cuối cùng của phe miền Nam hạ khí giới. Trung úy Lương Hữu Thể đi tù rồi vượt ngục về Sài Gòn sống như phường trôi sông lạc chợ, được chị Ngọc Thủy liều mạng giấu anh trên căn gác xép. Nhưng ông trời khéo trêu ngươi. Từ cái đêm anh Thế bỏ dép chạy thoát khỏi tay phường đội không ai biết việc gì đã xẩy ra cho anh sau đó mà anh không bao giờ quay trở lại. Chị của Ngọc Trảng âm thầm tìm kiếm, hỏi thăm tin tức, nhẫn nại chờ đợi nhưng anh vẫn biệt mù tăm cá. Có lẽ vì vậy chị sanh bệnh trầm cảm xẩy đến cái chết thương tâm.
Ngọc Trảng nói: "Từ ngày chị em mất, không lâu sau mạ em cũng qua đời, vợ chồng em dọn về đây cho tới bây chừ". Chỉ tay lên gác, Trảng nhỏ nhẹ: "Anh lên gác xem. Vợ chồng em thờ ba mạ em và chị Ngọc Thủy trên nớ tề".
Đó là căn gác nhỏ buồn thiu. Vì là chỗ thờ tự lâu năm nên căn gác cứ bàng bạc một không khí huyền hoặc mờ ảo. Vậy mà ở đây đã từng nảy nở một cuộc tình bí mật, kỳ lạ, diễm lệ và phi thường, Nhưng cũng ở đây, trên căn gác xép hẩm hiu này có hai linh hồn bất hạnh từng gánh chịu nỗi đau khổ trong cuộc làm người cho đến chết. Những người sống trên căn gác bây giờ đều không còn nữa. Nhưng vong linh họ vẫn bay thấp thoáng trong chiêu niệm của người thân.
Lúc tôi từ giã ra về Ngọc Trảng chỉ cây vú sữa trồng trước sân nhà nói: "Anh Tấn thấy cái chảng ba không? Lúc trốn tù về anh Thế đã ngủ trên đó".



PHAN NI TẤN

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

HÁT TÁC PHẨM ''HÙNG VƯƠNG'' ĐỂ NHỚ CÔNG ĐỨC CỦA NGÀI - TRẦN HỮU NGƯ



 Có thể là hình ảnh về ‎văn bản cho biết '‎NHAC آs THẨM OÁNH (1916 (1916-1996 1996) SUỐT ĐỜI PHỤNG รบ CHO NGHỆ THUẬT‎'‎


HÁT NHẠC PHẨM
“HÙNG VƯƠNG”,
ĐỂ NHỚ CÔNG ĐỨC CỦA NGÀI
Hằng năm đến mùng 10 tháng 3 Âm lịch là giỗ tổ Hùng Vương.
Nhắc đến ông tổ của Việt Nam, tôi nhớ nhạc phẩm “Hùng Vương” của nhạc sĩ Thẩm Oánh. Đây là một trong những bản hùng ca, lịch sử ca, non sông ca, đất nước ca, ông cha ca… nằm trong số nhạc phẩm của những nhạc sĩ “Tiền chiến” một thời nặng nợ với tổ quốc như: Lưu Hữu Phước, Hoàng Qúy, Đỗ Nhuận, Văn Cao, Phạm Duy, Tô Vũ, Lê Thương, Thẩm Oánh…
Thẩm Oánh, một Giáo sư âm nhạc, ông tiên phong trong thời kỳ nền tân nhạc Việt Nam vừa mới thoát ly ra khỏi nhạc Tây, Tàu… để viết nên những bản nhạc Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Được biết, trước 1975 ở miền Nam ông rất khắc khe với một số nhạc sĩ “mới ra lò”, mới viết được một vài ca khúc, những nhạc phẩm này gởi đến nhờ ông để thẩm định. Xem qua, chưa nói đến ca từ, giai điệu, trật luật “cân phương” (Carrure) là ông loại ngay vòng đầu. Đúng “thẩm”, như Thẩm Oánh!
Thẩm Oánh tên thật là Thẩm Ngọc Oánh (không biết có bà con gì với Thẩm Thệ Hà (GS, tôi đã học văn từ sách của ông) hay không, và hình như họ Thẩm có rất ít ở Việt Nam?)
-Ông sinh năm 1916 tại Hanoi
-Qua đời năm 1996 tại Hoa Kỳ
Nhạc sĩ Thẩm Oánh viết chừng 50 tác phẩm, nhưng không phải nhạc phẩm nào của ông cũng “nghe được”, rất kén chọn người nghe, vì nhạc ông “khó nghe” (Nhưng nghe lâu sẽ thấm). Giới yêu chuộng âm nhạc, nghe nhạc phẩm ông qua các giọng ca: Thanh Lan, Mai Hương, Kim Tước, Tâm Vấn, Hà Thanh, Duy Trác, Anh Ngọc… với những nhạc phẩm:
-Gió hoan ca, Nhớ nhung, Tôi bán đường tơ, Thiếu phụ Nam Xương, Tòa miếu cổ, Sóng nước viễn phương, Xa cách muôn trùng, Cô hàng hoa, Nàng bân, Vợ chồng ngâu, Chiều tưởng nhớ, Vương tơ, và Hùng Vương…
Tôi nhớ chừng khoảng năm 1993, tôi có mua một băng Vidéo “Bản hùng ca”, đây cũng là lần đầu, tôi nghe những bài “lịch sử ca” chính gốc, mà tôi tưởng đã mai một theo thời gian. Băng Vidéo dàn dựng cảnh núi non, sông nước, biên ải… khá công phu, gồm những bài hát lịch sử của một thời lừng danh như:
-Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng giang (Lưu Hữu Phước), Bóng cờ lau (Hoàng Qúy), Ngày xưa (Tô Vũ), Gò Đống Đa (Văn Cao), Hùng Vương (Thẩm Oánh).
Riêng nhạc phẩm “Hùng Vương”, khác những nhạc sĩ khác, Thẩm Oánh chỉ dùng hai chữ “Hùng Vương” mà không dùng từ ngữ nào khác để nói về công đức vua Hùng.
Những nhạc sĩ tiền bối nêu trên đã đóng góp cho cuộc kháng chiến bằng nhiều nhạc phẩm ca ngợi đất nước và người Việt Nam, dù nhỏ bé nhưng là một dân tộc anh hùng, đã từng đánh tan đạo quân xâm lược phương Bắc, giữ vững non sông từ ngày lập quốc cho đến nay. Âm nhạc tuy không mạnh như vũ khí tối tân, nhưng là nguồn động viên tinh thần của muôn người xông pha nơi trận mạc.
Bài hùng ca lịch sử của nhạc sĩ Thẩm Oánh và một số nhạc lịch sử đã kể trên là những bài ca không biên giới, là những ngọn triều dâng phá tan nô lệ xiềng xích, đó cũng là những “giai điệu tự hào” của ông cha chúng ta đã đổ máu để có ngày Hòa bình, và riêng bài hát “Hùng Vương” chúng tôi đã từng hát như một lời tri ân của những anh hùng liệt sĩ vô danh:
-“ Nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương”.
Thẩm Oánh là một nhạc sĩ “Tiền chiến”, ông sinh năm 1916 tại Hà Nội, ngoài nhạc phẩm, ông còn sáng tác ba vở nhạc kịch:
-Quán giang hồ, Bá Nha-Tử Kỳ, Đoàn kết là sức mạnh.
Và, mỗi năm đến ngày giỗ tổ Hùng Vương, hãy hát nhạc phẩm “Hùng Vương” - để tự hào - đất nước chúng ta có bốn ngàn năm văn hiến:
“… Bốn ngàn năm văn hiến
Nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương
Hoa gấm giang sơn này cùng chung đắp xây
Bao đời hùng uy vẻ vang
Đời đời nhờ Hùng Vương đã vì quốc dân lập non nước này
Cho cháu con quây quần vẽ nên cơ đồ bền vững tới nay
Việt Nam bao sáng tươi
Thề cùng bền gắng cương quyết xây nhà Nam
Đây cháu con Lạc Hồng từ Bắc chí Nam
Xin đoàn kết tâm đồng
Non nước Việt Nam nhờ Hùng Vương quyết thắng muôn năm
Dòng giống khang cường…”
Ban “Tam ca áo trắng” đã trình bày bài hát này trong băng Vidéo “Những bài hùng ca”, nghe như những lời “vọng cố hương” dù đã nghìn trùng xa xăm. Lịch sử bốn ngàn năm văn hiến, gói gọn trong bài hát chỉ có mấy phút, và mỗi năm hát “Hùng Vương” để mặc niệm nhớ về công đức của Ngài.
Giới nghiên cứu và phê bình âm nhạc Việt Nam mà quên nhạc sĩ Thẩm Oánh và quên ca khúc HÙNG VƯƠNG là một thiếu sót đáng trách!
Lịch sử, nếu giảng không hay, hoặc dạy không hấp dẫn, sẽ trở thành môn học khô khan, nhàm chán.
Để dung hòa, thay vì học lịch sử, ta hát lịch sử vậy!
Lời bài hát Hùng Vương còn vang vọng khắc ghi:
-“… Đây cháu con Lạc Hồng từ Bắc chí Nam
Xin đoàn kết tâm đồng…”
Thắp lên nén nhang để tưởng nhớ nhạc sĩ Thẩm Oánh và hát ca khúc Hùng Vương để nhớ:
- Nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương…
Tại sao, vì lý do gì đến ngày Giỗ tổ Hùng Vương, mà không hát nhạc phẩm HÙNG VƯƠNG?
Tôi xin hỏi, có nhạc phẩm nào hay hơn ca khúc HÙNG VƯƠNG?
Mong rằng những ngày Lễ, Tết… xin chọn những ca khúc mang trọn vẹn ý nghĩa, đáp ứng nhu cầu của giới thưởng ngoạn, chớ đừng vì cái mới mà quên cái cũ đầy nhân văn, đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người.



TRẦN HỮU NGƯ
(Mùng 10 thảng 3, ngày Canh Ngọ, giờ Bính Tý – 2026)

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

MIỀN QUÊ - THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


MIỀN  QUÊ

 

1. 

 

Người về… một sớm bình minh

Vịn vào cơn nhớ… tìm hình tuổi thơ…

Nghiêng vành nón lá nhấp nhô

Giữa làn sóng lúa xanh mơ cánh đồng

Màu trời xanh biếc, xanh trong

Chích chòe réo gọi hừng đông lên rồi

Một đàn chim sẻ rong chơi

Tiếng kêu ríu rít, tiếng rơi bồi hồi

Trời cao lãng đãng mây trôi

Dậy mùi hương đất, gió xuôi bãi bờ

Cảnh quê như thực, như mơ

Bâng khuâng, xao xuyến bài thơ không lời

Chuồn chuồn đậu ngọn mồng tơi

Cuối mùa lá úa, lá rơi đầy thềm

Nắng nghiêng xuống gót chân mềm

Áo nâu trong gió bóng em bồng bềnh…

 

 

2. 

 

Rời xa quê cũ buồn tênh

Dòng sông chảy mãi, tuổi tên chất chồng

Cánh cò trắng, cánh gió đồng

Cánh diều bay giữa mênh mông trời chiều

Lá dừa chao gió liêu xiêu

Đồng xanh chao gió hiu hiu đậm tình

Nắng rơi từng giọt lung linh

Rơi trên nón lá rung rinh bóng tròn

Chiều tà nắng xuống đầu non

Ai mang giấu ánh hoàng hôn cuối ngày

Buồn buồn ngọn gió Heo may

Tan vào nỗi nhớ tràn đầy xanh xao

Gió mơn man, rét hanh hao

Thấm vào áo mỏng ngọt ngào tái tê

Người bình dị… người chân quê

Tay nâng ly rượu hẹn thề tri âm…

 

           

            Nha Trang, tháng 04. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG