CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG : MÁ HỒNG ĐỔI NGỰA TRUY PHONG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 

 Tô Đông Pha qua điện ảnh


Giai Thoại Văn Chương :   

                MÁ HỒNG ĐỔI NGỰA TRUY PHONG
                            (Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風)  

                                                         
 
 Tô Đông Pha và Vương Phất qua điện ảnh

       Năm Hi Ninh thứ 8 đời Tống Thần Tông (1075) Tô Đông Pha 蘇東坡 đã 40 tuổi, đang là Tri huyện Mật Châu (Sơn Đông). Ngày 20 tháng giêng năm đó, ông nằm mơ thấy người vợ đã mất 10 năm trước của mình. Khi tỉnh giấc ông đã làm một bài "điếu vong từ" nổi tiếng thiên cổ với tên từ khúc là : Giang Thành Tử 江城子 như sau :

             十年生死两茫茫,         Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,
             不思量,自難忘。         Bất tư lương, nan tự vương.
             千里孤墳,無處話凄凉。Thiên lý cô phần, vô xứ thoại thê lương.
             縱使相逢應不識,        Túng sử tương phùng ưng bất thức,
             塵满面,鬓如霜。        Trần mãn diện, Mấn như sương !

             夜来幽梦忽還鄉,         Dạ lai u mộng hốt hoàn hương,
             小軒窗,正梳妆。         Tiểu hiên song, chính sơ trang.
             相顧無言,惟有泪千行。Tương cố vô ngôn, duy hữu lệ thiên hàng.
             料得年年腸斷處,         Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ,
             明月夜,短松崗。         Minh nguyệt dạ, Đoản tùng cương.
    Có nghĩa :
                    Mười năm sống chết hai nơi,
                    Không cần nghĩ ngợi khó thời khó quên.
                    Dặm ngàn nấm mộ chênh vênh,
                    Thê lương biết nói sao nên lòng nầy.
                    Gặp nhau biết có nhận ngay,
                    Phong trần đầy mặt tóc dài như sương !

                    Đêm qua chợt mộng hoàn hương,
                    bên hiên song nhỏ nàng đương chải đầu.
                    Nhìn nhau luống những nghẹn ngào,
                    Muôn hàng lệ nhỏ thêm sầu lòng đây.
                    Năm năm ruột đứt nơi nầy,
                    Dưới vầng trăng sáng thông gầy đồi xa !


                          Vương Nhuận Chi qua điện ảnh

       Bài từ nhớ vợ bi thương là thế, xót xa là thế; Mỗi hàng mỗi chữ đều như là những dòng lệ nhớ thương vô tận. Đó chính là nàng Vương Phất 王弗 ái nữ của Tiến sĩ Vương Phương là thầy dạy học của Tô Đông Pha từ vỡ lòng cho đến lớn; Nàng là người con gái nết na, tri thư đạt lễ, kết hôn với Tô năm nàng 17 tuổi và Tô 19 tuổi. Vợ chồng trẻ yêu thương rất mực, ân ái mặn nồng. Nhưng chỉ 11 năm sau nàng nhuốm bệnh và qua đời ở tuổi 27. Tô đau lòng đứt ruột, thơ thẩn vào ra chỉ nhớ tới bóng dáng của vợ hiền. Ba năm sau, Tô lại cưới cô em họ của vợ là Vương Nhuận Chi 王閏之, cô nầy tánh tình hiền thục, sống yên phận nên ít có dấu ấn trong văn thơ của Tô. Nhưng đến năm 46 tuổi thì cũng lại nhuốm bệnh qua đời khi Tô đã 58 tuổi rồi. Ngoài hai chị em họ Vương ra, năm 38 tuổi Tô Đông Pha đã từ lầu xanh chuộc về một cô bé 12 tuổi cũng họ Vương tên là Triêu Vân 王朝雲, giỏi cả cầm kỳ thi họa, khi lớn lên đã được Tô nạp làm ái thiếp và theo hầu cận Tô suốt con đường hoạn lộ. Nhưng hồng nhan bạc mệnh, năm 34 tuổi Vương Triêu Vân cũng nhuốm bệnh mà qua đời. Tô rất bi thương, soạn mộ chí và điếu từ, làm bài thơ "Điếu Triêu Vân 悼朝雲" và bài từ "Tây Giang Nguyệt. Mai Hoa 西江月·梅花" ví Triêu Vân như là Mai Hoa cao khiết đã về với cỏi tiên : 

               玉骨那愁瘴霧,      Ngọc cốt nả sầu chướng vụ,
               冰姿自有仙風。      Băng tư tự hữu tiên phong.
               海仙時遣探芳叢。    Hải tiên thì khiển thám phương tùng.
               倒掛綠毛幺鳳。      Đảo quải lục mao yêu phụng.

               素面翻嫌粉涴,      Tố diện phiên hiềm phấn uyển,
               洗妝不褪脣紅。      Tẩy trang bất thối thần hồng.
               高情已逐曉雲空。    Cao tình dĩ trục hiểu vân không.
               不與梨花同夢。      Bất dữ lê hoa đồng mộng !
      Có nghĩa :
                   Cành ngọc nào ngại mù sương,
                   Phong tư yểu điệu tợ dường tiên nga.
                   Cỏi tiên sứ gỉa lân la,
                   Chim xanh phụng biếc hộ hoa bao ngày.

                   Mặt ngọc chê phấn son phai,
                   Môi son vẫn đỏ hơn dày điểm trang.
                   Tình nồng mây sớm mênh mang,
                   Lê hoa cũng chịu mơ màng nhớ nhung !


                                             Vương Triêu Vân qua điện ảnh

       Ngoài ba người phu nhân họ Vương ra, trong đời của Tô Đông Pha còn có rất nhiều thê thiếp mà ông từng sủng ái; Trong số đó có một người ái thiếp tên là Xuân Nương 春娘. Xuân Nương là người nơi nào, sanh năm nào, gia cảnh ra sao thì không ai biết được, vì chỉ theo lời kể của văn học gia Phùng Mộng Long 馮夢龍 đời nhà Minh kể lại trong tác phẩm 《Tình Sử Loại Liệt 情史類略》truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風" như sau :
      Năm Nguyên Phong thứ 3 đời Tống Thần Tông (1080), vì vụ "Ô Đài Thi Án" Tô Đông Pha bị biếm đi làm Đoàn luyện phó sứ ở Hoàng Châu. Khi sắp lên đường, có công tử họ Tưởng đến để tiễn hành. Tô vô cùng cảm động bèn cho người thiếp trẻ đẹp là Xuân Nương ra chuốc rượu mời khách. Thấy Xuân Nương trẻ đẹp lại giỏi văn thơ ứng đối, Tưởng công tử mới động lòng bèn hỏi Tô rằng : Ngài đi đến xứ Hoàng Châu xa xôi, định an trí người đẹp như thế nào đây ? Tô đáp : Đưa nàng về quê với cha mẹ ruột. Nghe thế Tưởng công tử bèn đưa ra một đề nghị thật hoang đường là : Ta có thể dùng một con bạch mã truy phong giúp cho Ngài ngày đi ngàn dặm để đổi lấy Xuân Nương hay không ? Tô Đông Pha nghe thế bèn nghĩ rằng, từ đây đến Hoàng Châu xa xôi ngàn dặm lại núi non cách trở, có được con ngựa đỡ chân cũng là điều rất tốt, bèn không kịp nghĩ gì đến cảm nhận của Xuân Nương mà vui vẻ ưng thuận "Đổi Người lấy Ngựa". Họ Tưởng có được người đẹp, bèn rất đắc ý mà ngâm 4 câu thơ như sau :

                 不惜霜毛雨雪蹄,  Bất tích sương mao vũ tuyết đề,
                 等閒分付贖娥眉。  Đẳng nhàn phân phó thục nga mi.
                 雖無金勒嘶明月,  Tuy vô kim lặc tê minh nguyệt,
                 却有佳人捧玉卮。  Khước hữu giai nhân phủng ngọc chi !
      Có nghĩa :
                  Truy phong bạch mã chi mà tiếc,
                  Đổi được nga mi cũng thỏa tâm.
                  Tuy chẳng cương vàng phi dưới nguyệt,
                  Lại vui chén ngọc với giai nhân.

      Cùng là giới bút mực với nhau, nên Tô Đông Pha cũng đáp lễ lại bằng 4 câu thơ rằng :

               春娘此去太匆匆,   Xuân Nương thử khứ thái thông thông,
               不敢啼聲在恨中。   Bất cảm đề thanh tại hận trung.
               只為山行多險阻,   Chỉ vị sơn hành đa hiểm trở,
               故將紅粉換追風。   Cố tương hồng phấn hoán truy phong.
      Có nghĩa :
                 Xuân Nương đem đổi qủa là ngông,
                 Chẳng dám than van oán ngập lòng.
                 Chỉ tại núi non đường hiểm trở,
                 Mới đem má phấn đổi truy phong !

      "Chỉ tại núi non đường hiểm trở, Mới đem má phấn đổi truy phong!" Qủa là một cái cớ vụng về tàn nhẫn của kẻ bạc tình, nên vừa nghe xong Xuân Nương đã lòng lạnh như tiền, bước đến che mặt nói rằng :"Thiếp nghe nói khi xưa Tề Cảnh Công muốn chém người giữ chuồng ngựa khi để chuồng ngựa bị cháy. Án Tử mới can rằng : Khi chuồng ngựa cháy, Khổng Tử chỉ hỏi "Người có sao không, mà không hỏi Ngựa có sao không" Ấy là qúy người hơn là súc vật. Nay Học sĩ lại đem người để đổi ngựa, là qúy súc vật hơn là qúy người". Nói xong bèn đọc 4 câu thơ rằng :

               為人莫作婦人身,   Vị nhân mạc tác phụ nhân thân,
               百般苦樂在他人。   Bách ban khổ lạc tại tha nhân.
               今日始知人賤畜,   Kim nhật thủy tri nhân tiện súc,
               此生苟活怨誰嗔?    Thử sinh cẩu hoạt oán thùy sân ?
     Có nghĩa :
                 Làm người chớ chọn làm thân gái,
                 Cay đắng sướng vui chỉ tại ai.
                 Nay biết người không bằng súc vật,
                 Sống thừa một kiếp oán ai đây ?!


                                         Hồng Phấn Hoán Truy Phong

      Đọc thơ xong, che mặt khóc lớn, rồi chạy xuống dưới thềm, va đầu vào cây hòe mà chết. Tô Đông Pha đã tỏ ra vô cùng hối hận về sự việc nầy. Ông chỉ muốn tìm cho Xuân Nương một chốn yên thân, không ngờ nàng lại qúa chung tình với ông mà tìm đến cái chết. Có thuyết còn cho rằng vì Xuân Nương đang mang thai con của ông nên nàng càng uất ức... làm cho câu truyện càng trở nên bạc bẽo và nhẫn tâm hơn đối với Tô Đông Pha. Nhưng...

      Câu truyện trên đây có phải là một câu truyện có thực hay không thì còn đang tranh cải; Vì truyện được kể bởi một nhà biên kịch, một kịch tác gia đời nhà Minh là Phùng Mộng Long 馮夢龍 chớ không phải của một nhà chuyên viết sử chân chính. Phùng Mộng Long là nhà chuyên viết về Tiểu thuyết, Kịch bản của các Hí khúc, Dân Ca và Truyện cười dân gian... thường kết hợp những thực tế của cuộc sống mà hư cấu sáng tác nên những tác phẩm như Dụ Thế Minh Ngôn《喻世明言》、Cảnh Thế Thông Ngôn《警世通言》、Tỉnh Thế Hằng Ngôn《醒世恒言》Hợp xưng là TAM NGÔN ... Vả lại...


                                           Phùng Mộng Long qua điện ảnh

       Trong chính sử ghi chép, không tìm đâu ra lý lịch của nàng Xuân Nương, cũng như không tìm thấy Tưởng Công Tử là nhân vật như thế nào, thân thế ra làm sao... Nên, câu truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風" đa phần là do Phùng Mộng Long hư cấu gán ghép mà nên. Nhưng...
       Trong cái xã hội phong kiến đời Đường Tống, việc trọng nam khinh nữ là việc thường tình ở trong cuộc sống. Trai năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường; Qua bài viết nầy ta cũng đã biết Tô Đông Pha cũng chẳng đã tam thê tứ thiếp hay sao. Hơn nữa, việc tặng một người tì thiếp cho một người bạn thơ tri kỷ cũng là môt chuyện thường tình, như truyện của ông Tư Không Lý Thân 司空李紳 đời Đường chỉ vì hai câu thơ của Lưu Vũ Tích là "Tư Không kiến quán hồn nhàn sự, Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường 司空見慣渾閒事,斷盡蘇州刺史腸!"Có nghĩa :"Tư Không quen mắt không cho lạ, Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi !" mà tặng luôn nàng ca kỹ "cung dạng trang (ăn mặc như cung nữ trong cung vua)" cho Lưu Vũ Tích để cho ông ta đừng có "đứt ruột" nữa !(Xem "Bài Thơ Mẫn Nông Thứ Ba ?" của ĐCĐ).
       Khi quan trường bất đắc chí, bị đàn hạch và bị biếm đến Hoàng Châu xa xôi, Tô Đông Pha đang lúc tâm thần bấn loạn, gia đạo rối ren, khí tiết của kẻ sĩ đang đi xuống, nên cũng khó mà giữ được cái phong độ và tiết tháo của một bậc đại phu, mà có những quyết định sai lầm, hồ đồ đến nổi đem người tì thiếp yêu dấu đang có mang của mình để đổi lấy con bạch mã truy phong...
      Thầy Mạnh Tử dạy rằng :“Phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị Đại Trượng Phu 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫”. Nhưng ở đời, có mấy ai đã làm được "Đại Trượng Phu" như lời thầy  Mạnh Tử đã dạy đâu, nhất là ở vào các hoàn cảnh khó khăn, éo le, nghèo nàn, thất bại và bất đắc chí về mọi mặt !

                                                      

       Hẹn bài viết tới !


                                       杜紹德
                                    ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

THƠ TUY LÝ VƯƠNG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM


 

  Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh

Góc Việt Thi :  
                          Thơ TUY LÝ VƯƠNG
                                    

      Tuy Lý Vương 綏理王 (1820-1897) là tước hiệu của Nguyễn Phúc Miên Trinh 阮福綿寊, sinh ngày 19 tháng 12 năm Kỷ Mão (3 tháng 2 năm 1820) tại viện sau Thanh Hòa điện. Tự là Khôn Chương 坤章, Quý Trọng 季仲, hiệu Tĩnh Phố 靜圃, biệt hiệu Vĩ Dạ 葦野. Minh Mạng đặt cho tên Thư, Tự Đức ban thêm tên Thuyết, thuỵ Đoan Trang. Ông là con thứ 11 của vua Minh Mạng. Nguyễn Phúc Miên Trinh từng giữ các chức Đổng Sự Tôn Học Đường, Hữu Tôn Nhân, Phụ Chính Thân Thần, Phụ Nghị Cận Thần.
      Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, ông được cử làm Đệ nhất Phụ chính Thân thần, kiêm nhiếp Tông Nhân Phủ Tả Tôn Chính, tấn thăng Tuy Lý Quận vương như trước. Năm 1894, tháng 7, vì có công lao lớn, ông lại được tấn phong làm Tuy Lý Vương (綏理王).
      Năm 1897, vì tuổi già, ông xin về nghỉ, chẳng bao lâu thì bị bệnh mất ngày 24 tháng 10 năm Đinh Dậu (18 tháng 11 năm 1897), hưởng thọ 77 tuổi. Nghe tin ông mất, Thành Thái cấp một ngàn quan tiền lo việc tang và ban thụy là Đoan Cung (端恭). Mộ Tuy Lý Vương nay thuộc phường Phường Đúc, sát bên đường Bùi Thị Xuân, thành phố Huế.

Tác phẩm:
- Vĩ Dạ hợp tập 葦野合集 (thơ và văn bằng chữ Hán)
- Nữ phạm diễn nghĩa từ 女範演義詞 (thơ chữ Nôm viết bằng thể lục bát)

       Dưới đây là những bài thơ tiêu biểu của ông.

1. Bài thơ PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU 訪阮文超 :

           偶攀桂樹懷高士,   Ngẫu phan quế thụ hoài cao sĩ,
           為扣柴扉訪友生。   Vị khấu sài phi phỏng hữu sinh.
           華鬢潘郎仍宦拙,   Hoa mấn Phan lang nhưng hoạn chuyết,
           青年阮瑀舊詩名。   Thanh niên Nguyễn Vũ cựu thi danh.


          
                                   Ảnh nguyễn Văn Siêu trên mạng

  * Chú thích :
    - Phỏng 訪 : là Bái Phỏng, là đến thăm ai đó; đây là cách nói trịnh trọng và lịch sự. PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU là Đến thăm viếng nguyễn Văn Siêu. Nói thêm : Nguyễn Văn Siêu sanh năm 1799, còn Tuy Lý Vương sanh 1820, nhỏ hơn Nguyễn Văn Siêu 22 tuổi. Siêu lại bậc đại khoa làm quan đến chức Án Sát, nên Vương rất kính trọng và ngưỡng mộ Siêu.
    - Ngẫu 偶 : là Ngẫu nhiên; Chuyện đưa đến mà không có dự tính trước.  
    - Phan Quế 攀桂 : là Trèo lên cây quế; chỉ Thi Đậu. Ở đây chỉ "Đi thăm người có khoa cử" như là đèo bồng mà trèo lên cây quế vậy. Hàm ý khiêm nhượng và tôn trọng của Tuy Lý Vương đối với Nguyễn Văn Siêu.
    - Cao Sĩ 高士 : Kẻ sĩ cao nhã; chỉ Nguyễn Văn Siêu.
    - Sài Phi 柴扉 : là Cánh cửa bằng gỗ, chỉ ở trong nhà tranh vách đất.
    - Hữu Sinh 友生 : là Bạn bè cùng học tập hay cùng là giới văn bút với nhau. Có xuất xứ từ Kinh Thi. Chương Tiểu Nhã. bài Thường Đệ《诗·小雅·常棣》 có câu : "Tuy hữu huynh đệ, Bất như HỮU SINH 虽有兄弟,不如友生". Có nghĩa : Mặc dù có anh em, nhưng vẫn không bằng được bạn cùng học tập".
    - Hoa Mấn Phan Lang 華鬢潘郎 : Tóc mai hoa râm của chàng họ Phan. Có xuất xứ từ câu từ của Sử Đạt Tổ đời Tống 宋。史達祖 : Thu phong tảo nhập Phan Lang mấn 秋風早入潘郎鬢. Có nghĩa "Gío thu sớm đã thổi vào tóc mai của chàng Phan". Y chỉ "tóc mai" đã hoa râm, đã già qúa nữa đời người rồi.
    - Hoạn Chuyết 宦拙 : là Quan trường vụng về; ý chỉ "Quan trường trắc trở".
    - Nguyễn Vũ 阮瑀 : là cháu của Nguyễn Tịch 阮籍. Hai chú cháu đều có tên trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn. Nên THANH NIÊN NGUYỄN VŨ 青年阮瑀 chỉ chung "những người tuổi trẻ mà tài cao". Đây là lời ca ngợi Nguyễn Văn Siêu của Tuy Lý Vương.

   * Nghĩa bài thơ :
                     ĐẾN THĂM NGUYỄN VĂN SIÊU
          Ngẫu nhiên mà ta có ý muốn trèo cao để đến với kẻ sĩ cao nhã; Vì thế mới gỏ cửa sài để thăm viếng người cùng trong giới văn chương học tập. Thương thay cái anh chàng Siêu nầy cũng giống như anh chàng Phan, tóc đã hoa râm rồi mà đường hoạn lộ vẫn còn nhiều trắc trở; trong khi lại có tài hoa như là chàng Nguyễn Vũ lúc còn thanh niên trai trẻ vậy.

       
                                 Nguyễn Vũ và Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm Thất Hiền

      Bài thơ chỉ cò 4 câu mà đầy rẫy những điển tích và điển tích. Đây cũng là điều chứng tỏ Tuy Lý Vương có sở học uyên bác hơn người, xuất khẩu thành chương đối với giới học thuật, chớ giới bình dân thì không bao giờ với tới nổi...

   * Diễn Nôm :
                      PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU

                   Đèo bồng đến với người cao nhã,
                   Nên gõ cửa sài viếng bạn văn.
                   Tóc bạc Phan lang còn lận đận,
                   Thanh niên Nguyễn Vũ qủa tài năng !
        Lục bát :
                   Đèo bồng với tới người cao,
                   Cửa sài đánh bạo gỏ ào viếng thăm.
                   Chàng Phan tóc đã hoa râm,
                   Thanh niên Nguyễn Vũ tài năng vang lừng !


2. Bài thơ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈黎凝甫 :

           詞賦鄒枚舊勝流,   Từ phú Trâu Mai cựu thắng lưu,
           一麾出守幾清秋。   Nhất huy xuất thú kỷ thanh thu.
           三千風月留吟賞,   Tam thiên phong nguyệt lưu ngâm thưởng,
           羨殺輕篷印渚舟。   Tiện sát khinh bồng Ấn chử chu.


Ảnh minh họa Trâu Dương &Mai Thừa
                             
   * Chú thích :
     - TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈黎凝甫 : Thơ làm tặng cho Lê Ngưng Phủ. Chưa rõ Lê Ngưng Phủ là ai, chỉ biết ông làm quan tại Quảng Ngãi. Tuy Lý Vương Miên Trinh có đề thơ tặng cho ông. Lời thơ thành thật, thẳng thắn, đề cao tài năng xuất chúng của họ Lê. 
     - Trâu Mai 鄒枚 : Tức Trâu Dương 鄒陽 (206-129 Trước Công nguyên) và Mai Thừa 枚乘 (?-140 Trước Công nguyên), hai nhà Tản văn và nhà Từ phú thời Tây Hán. Trâu Dương là tác giả bài "Thướng Ngô vương thư 上吳王書", "Vu ngục trung thướng thư tự minh 于獄中上書自明". Mai Thừa là tác giả bài phú "Thất phát 七發". Ở đây, Tuy Lý Vương Miên Trinh đề cao tài văn chương của Lê Ngưng Phủ hơn hẳn hai họ Trâu, Mai của thời Tây Hán, là thời cực thịnh của Tản văn và Từ phú.
    - Nhất Huy Xuất Thú  一麾出守 : Mệnh quan triều đình được đặc phái ra làm quan ở bên ngoài. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Nhan Diên Chi, nhà Tống ở Nam Triều 南朝·宋·颜延之 là : Lũ tiến bất nhập quan, Nhất huy nãi xuất thú 屢荐不入官,一麾乃出守. Có nghĩa : Mấy lần tiến cử chẳng nên quan, Chỉ phất cờ chỉ huy là làm ngay Thái Thú. 
    - Tam Thiên Phong Nguyệt 三千風月 : Ba ngàn bài thơ ngâm vịnh gió trăng. Có xuất xứ từ hai câu thơ nói về sự xung đột giữa Tễ tướng Vương An Thạch và nhà từ phú Âu Dương Tu là : Hàn lâm phong nguyệt tam thiên thủ, Lại bộ văn chương nhị bách niên 翰林風月三千首,吏部文章二百年. Có nghĩa : Hai trăm năm văn chương Lại bộ, Ba ngàn bài trăng gió Hàn lâm. Ý chỉ "Những áng văn chương tuyệt tác".
    - Tiện Sát Khinh Bồng Ấn Chử Chu 羨殺輕篷印渚舟 : là "Rất hâm mộ cho cánh buồm nhẹ để lại dấu ấn cho chiếc thuyền trên bến nước sông". Có thể là tích của    tướng quân Tạ Thượng 謝尚 của đời Đông Tấn, là người đất Thái Khang tỉnh Hà Nam, là anh họ chú bác của danh tướng Tạ An 謝安. Ông là người văn võ song toàn, giỏi cả cầm kỳ thi họa, được phong là Trấn Tây Tướng Quân trấn thủ vùng núi Ngưu Chử. Trong một đêm thu khi ông cùng các tuỳ tùng thả thuyền theo dòng Tây Giang để ngắm trăng, tình cờ nghe được trong một chiếc thuyền nan có một chàng thư sinh đang ngâm thơ vịnh sử; Ông bèn cho người đến mời lên thuyền của mình và hai người đã cùng đàm đạo với nhau suốt đêm rất là tương đắc. Người thư sinh đó chính là Viên Hoằng 袁宏, nhà nghèo lại mồ côi sớm, đang làm nghề đưa đò để độ nhật. Sau hôm gặp gỡ và cùng đàm đạo suốt đêm với Tướng Tạ Thượng, tiếng tăm tài giỏi của Viên Hoằng được đồn đại khắp nơi, và sau nầy phát tích làm quan đến chức Thái Thú của Đông Dương.

   * Nghĩa bài thơ :
                       THƠ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ
         Từ và phú của hai họ Trâu và họ Mai là những bậc nổi tiếng từ xưa. Là mệnh quan triều đình được điều đi làm Thái Thú bên ngoài mấy mùa thu rồi. Ba ngàn gió trăng phong nguyệt còn để lại để ngâm vịnh thưởng thức; Làm cho người ta hâm mộ muốn chết về chiếc buồn con để lại dấu ấn bên bến nước sông.

       Lại cũng chỉ là một bài Thất ngôn tứ tuyệt nhưng lại tràn ngập những điển tích và điển tích ! Thơ qúa bác học làm cho người đọc không sao theo kịp để nhận biết được cái hay ho thi vị của nó mà thưởng thức. Và... Ông đã ca ngợi đề cao Lê Ngưng Phủ một cách qúa đáng, xa rời thực tế đến không thể chấp nhận được. 

   * Diễn Nôm :



                      TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ

                 Từ phú Trâu Mai cũng chịu thua,
                 Cử làm Thái Thú mấy thu qua.
                 Ba ngàn phong nguyệt thơ ngâm vịnh,
                 Hâm mộ cánh buồm bến nước xưa.
       Lục bát :
                 Trâu Mai từ phú thua xa,
                 Cử làm Thái Thú thu qua mấy mùa, 
                 Ba ngàn trăng gió ngâm nga,
                 Bến xa Ngưu chữ thuyền qua in bờ.


3. Bài thơ TUẾ MỘ 歲暮 :

           北望閭簷空杼柚,   Bắc vọng lư thiềm không trữ trục,
           南來壁壘尚干戈。   Nam lai bích luỹ thượng can qua.
           衮衣肉食終無補,   Cổn y nhục thực chung vô bổ,
           愧爾飧英帶女蘿。   Quý nhĩ san anh đới nữ la.

                    

   * Chú thích :
     - TUẾ MỘ 歲暮 : TUẾ là Tuổi, là Năm; MỘ có bộ Nhật ở dưới, chỉ mặt trời lặn, là đã về chiều. Nên TUẾ MỘ là Năm đã về chiều, là CUỐI NĂM.
     - Bắc Vọng 北望 : là Ngóng về phương bắc.
     - Lư Thiềm 閭簷 : là Cổng và Mái nhà; chỉ chung cho "Nhà cửa".
     - Trữ Trục 杼柚 : là Con thoi dùng để dệt vải. TRỮ để dệt sợi ngang, còn TRỤC thì dệt sợi dọc.
     - Nam Lai 南來 : là Đi về hướng Nam.
     - Bích Luỹ 壁壘 : là Những Bờ lũy và Tường chắn trong chiến tranh.
     - Can Qua 干戈 : CAN là cái khiên để đở; QUA là cây mác để đâm chém. Nên CAN QUA có nghĩa là Đánh nhau là Chiến tranh.
     - Cổn Y Nhục Thực 衮衣肉食 : CỔN Y là Quần áo qúy giá của vua quan mặc; NHỤC THỰC là Ăn thịt thà sang trọng. Nên CỔN Y NHỤC THỰC là Ăn ngon mặc đẹp. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Khu Sĩ Hành 區仕衡 đời Tống là : Hạt y tằng thế cổn y sầu, Nhục thực thùy tri hoắc thực ưu 褐衣曾替衮衣愁,肉食誰知藿食憂。Có nghĩa : Người mặc áo vải thô thường sầu thế cho người mặc áo đẹp; còn người ăn thịt có ai biết được cái ưu tư của người ăn rau cải đâu !.
     - Qúy 愧 : là Thẹn thùa, là mắc cở.
     - San Anh Đới Nữ La 飧英帶女蘿 : Ăn bông hoa và đeo những dây leo chằng chịt; Chỉ Ăn mặc cầu kỳ diêm dúa. Có xuất xứ từ bài Sơn Qũy trong Cửu Ca của Khuất Nguyên 屈原的《九歌·山鬼》đời Tiên Tần với hai câu mở đầu : Nhược hữu nhân hề sơn chi a, Bị bệ lệ hề đới nữ la 若有人兮山之阿,被薜荔兮带女萝。Có nghĩa : Nếu như có người đi ở trên triền núi, khoác áo dâu tằm và đeo những dây leo có bông hoa sặc sỡ (Chỉ "Ăn mặc diêm dúa").

   * Nghĩa bài thơ :
                            CUỐI NĂM 
        Ngóng về phương bắc thì nhà cửa không có nghe tiếng của khung cửi con thoi nào cả; còn đi về phương nam thì đồn luỹ chập chùng đang trong cơn chiến loạn. Ăn ngon mặc đẹp trong ngày Tết đâm ra rất vô bổ, không làm sao cả. Thẹn cho người còn ăn mặc cầu kỳ diêm dúa như một con qũy núi.  
        Ý chỉ đơn giản có thế, nhưng ông Tuy Lý Vương của ta lại sử dụng chữ nghĩa cầu kỳ cao siêu và điển tích hiễm hóc làm cho người đọc hoang mang mơ hồ không biết là ông định nói lên điều gì...

   * Diễn Nôm :
                                   TUẾ MỘ 

                        
                      Trông lên bắc nhà không dệt cửi,
                      Xuôi về nam thành lũy can qua.
                      Ăn ngon mặc đẹp chừng vô ích,
                      Thẹn bạn cầu kỳ với áo hoa !
   Song thất Lục bát :
                      Về bắc ngóng nhà không dệt cửi,
                      Xuôi nam thì chiến lũy can qua.
                      Ăn ngon mặc đẹp chi mà...
                      Thẹn người diêm dúa áo hoa làm gì ?!


4. Bài thơ LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅夜得故人書 :

              小館閉柴荊,   Tiểu quán bế sài kinh,
              寒燈暗復明。   Hàn đăng ám phục minh.
              忽驚書問訊,   Hốt kinh thư vấn tín,
              坐覺歲崢嶸。   Tọa giác tuế tranh vanh.
              曉月兼霜色,   Hiểu nguyệt kiêm sương sắc,
              秋風似雨聲。   Thu phong tự vũ thanh.
              酒醒相憶處,   Tửu tinh tương ức xứ,
              鐘漏隔嚴城。   Chung lậu cách nghiêm thành.

               

   * Chú thích :
     - LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅夜得故人書 : là "Đêm ở đất khách, nhận được thư bạn cũ".
     - Sài Kinh 柴荊 : SÀI là Củi, KINH là loại cây mọc thành bụi. Ở nhà quê hay dùng cây Kinh để đan phên, vì thế nên cánh cửa phên ở dưới quê gọi là “Sài Kinh”. 
     - Hốt Kinh 忽驚 : KINH ở đây là Ngạc nhiên chớ không phải Sợ hãi. Nên HỐT KINH là Bỗng cảm thấy ngạc nhiên.
     - Tranh Vanh 崢嶸 : Chót vót, ở đây có nghĩa là Lơ Lửng chập chờn.
     - Hiểu Nguyệt 曉月 : là Ánh trăng buổi sáng.
     - Chung Lậu 鐘漏 : Tiếng chuông đồng hồ nhỏ giọt báo thời gian.
     - Nghiêm Thành 嚴城 : Thành quách được giới nghiêm và phòng bị kỹ càng. 

   * Nghĩa bài thơ :
                      ĐÊM Ở ĐẤT KHÁCH NHẬN ĐƯỢC THƯ BẠN CŨ
          Ta đóng lại cửa phên nơi quán trọ nhỏ nhoi nầy, trong ngọn đèn lạnh lẽo tranh tối tranh sáng. Bỗng ngạc nhiên làm sao khi nhận được thư hỏi thăm tin tức, ngồi đây mà cảm thấy như thời gian của năm tháng đang lơ lửng ở trên đầu. Trong cảnh trăng tàn buổi sáng hòa vào trong màu sương sớm, tiếng gió thu hiu hắt tựa như là những tiếng mưa rơi. Rượu đã tỉnh nhớ lại chỗ nhớ nhau là nơi thành quách đang giới nghiêm trong tiếng thời gian nhỏ giọt của khắc lậu canh tàn !

   * Diễn Nôm :
                    LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ

                  

                    Cửa gài phên quán nhỏ,
                    Đèn lạnh khi mờ tỏ.
                    Bỗng nhận thư hỏi tin,
                    Thời gian như bỏ ngỏ.
                    Trăng sớm mờ sương đêm,
                    Mưa thu ngờ tiếng gió.
                    Rượu tỉnh nhớ nhau đây,
                    Khắc lậu thành nghiêm đó ! 
        Lục bát :
                    Cửa sài quán nhỏ phên kinh,
                    Chập chờn đèn lạnh chợt minh chợt mờ.
                    Bỗng dưng nhận được tin thơ,
                    Thời gian lơ lửng ngồi trơ canh dài.
                    Trăng hòa sương sớm ban mai,
                    Gió thu xào xạt ngỡ ngoài đổ mưa.
                    Rượu say tỉnh giấc nhớ xưa,
                    Giới nghiêm thành quách canh vừa điểm chuông.


5. Bài thơ ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬夜雜詩 : 

              有客至自遠,   Hữu khách chí tự viễn,
              排闥升堂階。   Bài thát thăng đường giai.
              矍然執手笑,   Quắc nhiên chấp thủ tiếu,
              乃心久所懷。   Nãi tâm cửu sở hoài.
              淵塞固景仰,   Uyên tắc cố cảnh ngưỡng,
              矧茲富藻辭。   Thẩn tư phú tảo từ.
              瑤琴久不弄,   Dao cầm cửu bất lộng,
              為君理朱絲。   Vị quân lý chu ty.
              施恐風雨散,   Thi khủng phong vũ tán,
              仳我念裨離。   Tỷ ngã niệm bì ly.

                
   * Chú thích :  
     - ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬夜雜詩 : TẠP là Tạp nhạp, vặt vãnh; Nên ĐÔNG DẠ TẠP THI là Bài thơ vặt vãnh được làm trong đêm đông.
     - Bài Thát 排闥 : THÁT là cái cửa ngách, cửa nhỏ bên hông; Nên BÀI THÁT là Đẩy cửa hông mà vào.  
     - Quắc nhiên 矍然 : là Nhớn nhác; ở đây có nghĩa là Vội vàng.       
     - Uyên Tắc 淵塞 : UYÊN là Vực sâu; TẮC là bế tắc, cách trở. Nên UYÊN TẮC là Xa xôi cách trở.
     - Thẩn Tư 矧茲 : là Huống hồ, Huống chi...
     - Tảo Từ 藻辭 : là Nói những lời lẽ tốt đẹp.
     - Chu Ty 朱絲 : là những sợi tơ dùng làm dây đàn.
     - Tỷ 仳 : TỶ là TỶ LY 仳離 là Chia tay, Chia lìa.
     - Bì Ly 裨離 : Một nước nhỏ xa xôi ở vùng Cam Túc xưa. Ở đây mượn chỉ Vùng xa xôi cách trở.

   * Nghĩa bài thơ :
                         BÀI THƠ VẶT LÀM TRONG ĐÊM ĐÔNG
          Có khách từ phương xa đến, đẩy cửa hông mà vào lên đến bậc thềm phòng khách. Ta vội vàng đến nắm tay mà cười đón, vì đây chính là người mà hằng lâu ta đã nhớ mong. Đường xá xa xôi cách trở nên luôn ngưỡng mộ nhau, huống hồ chi là những lời nói tốt đẹp dành cho nhau. Chiếc dao cầm lâu ngày đã không đụng đến; Bây giờ sẽ vì bạn mà sửa lại dây tơ (để đàn một khúc). Chỉnh e rồi mưa gió lại phải phân tán chia ly. Rời xa ta rồi thì chỉ còn có nước thương nhớ về nơi xa xôi!...

   * Diễn Nôm :
                        ĐÔNG DẠ TẠP THI

                    

                      Có khách từ xa đến, 
                      Đẩy cửa hông bước vào.
                      Vội vàng cười đón tiếp,
                      Vì lòng những ước ao.
                      Xa xôi luôn ngưỡng mộ,
                      Lời khách sáo nhớ sao.
                      Dao cầm lâu chưa gãy,
                      Vì bạn thay dây nào.
                      Chỉnh e trời mưa gió,
                      Chia tay nhớ biết bao !
         Lục bát :
                      Từ xa có khách đến chơi,
                      Xô cửa thẳng bước tới nơi công đường.
                      Vội vàng tay bắt mặt mừng,
                      Bởi lòng luống những bâng khuâng nhớ người.
                      Xa xôi ngưỡng mộ lâu rồi,
                      Bao lời khách sáo nói cười cùng nhau.
                      Dao cầm ngày tháng tiêu hao,
                      Vì người vội vả thay mau dây đàn.
                      Chỉnh e mưa gió ly tan,
                      Chia tay lại nhớ ngút ngàn nơi xa !

       Xin được tạm ngưng bài dịch thơ của Tuy Lý Vương Miên Trinh ở đây. Sẽ dịch tiếp khi có cơ duyên mới !...


                                        杜紹德
                                      ĐỖ CHIÊU ĐỨC

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

NGÀY XUÂN THẮP NẮNG - THƠ NGUYỄN AN BÌNH


  


NGÀY XUÂN THẮP NẮNG


Xin được gọi mùa xuân về thắp nắng
Rất khẽ khàng chim sáo báo tin vui
Những chiếc lá xanh non còn lấp lánh
Rạo rực tim mình như thuở đôi mươi.
*
Ta đếm ngược còn mấy ngày đến tết
Đừng hờn ghen thời tuổi trẻ đã qua
Mỗi sớm mai ta cựa mình thức dậy
Chăn chiếu nồng niềm khát vọng chưa xa.
*
Màu nắng mới chứa bao điều dung dị
Dòng nhựa tươi mang nhịp thở xuân thì
Hoa tím dại bên triền sông nở muộn
Thương ngõ hoa vàng ngày đó em đi.
*
Nhớ khôn nguôi mùi rạ rơm ủ mục
Qua ngày đông bạc đất rét hanh hao
Muốn nhắc ta đừng quên thời gian khó
Khói cơm thơm góc bếp đã phai màu
*
Đàn én nhỏ lại về em có biết
Khơi mạch nguồn khao khát nụ tầm xuân
Em áo lụa màu da trời xanh biếc
Bước dịu dàng đón tia nắng đầu năm.


NGUYỄN AN BÌNH

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

MÁI ẤM - THƠ LÊ KIM THƯỢNG



 MÁI ẤM

 

1. 

 

Người về… đi giữa hàng cây

Dặm đường gió bụi nhuộm đầy cô liêu

Người về mái ấm nhà yêu

Đất nghèo xưa cũ cũng nhiều đợi mong…

Thẹn thùng cơn gió tàn Đông

Tiêng chim Chiền Chiện trên đồng hót vang

Mùa về êm ấm xóm làng 

Đào hồng chúm chím, mai vàng chờ xuân

Rì rào sóng lúa vang ngân

Hẹn người mùa vụ đầy sân lúa vàng…

Sợi mây cõng vạt nắng tan

Gió qua vườn vắng muộn màng chơi vơi

Nắng vàng còn chút đem phơi

Giọt chuông lắng đọng rơi rơi lưng đèo

Mái hiên cong mảnh trăng treo

Đêm buông dìu dịu xóm nghèo xanh xao…

 

2. 

 

Người đi biền biệt phương nào

Quê hương một dạ dạt dào không phai

Phận đời gánh nặng hai vai

Hạt mưa sa giữa bi hài nhân gian…

Trước thềm giọt nắng hanh vàng

Mẹ già vẫn đợi muôn ngàn nhớ con

Lâu rồi lòng dạ héo hon

Con đi biệt xứ hao mòn ngày xanh…

Nhớ quê xứ sở an lành

Bông hoa nở đỏ, mái tranh gió lùa

Mâm cơm gạo mới đầu mùa

Mắm kho, canh bí, dưa chua cải ngồng…

Niềm vui cột với nỗi buồn

Trông về quê cũ, cánh chuồn phân vân

Bao giờ giũ áo phong trần

Về quê vui với người thân xóm làng …



           

            Nha Trang, tháng 03. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

MẶC LÒNG - THƠ HUY VỤ



 MẶC LÒNG

Trăm năm một cõi vô thường
Xin đừng để lệ phải vương mắt sầu
Mặc lòng mây trắng về đâu
Mặc cho bãi bể nương dâu đổi dời
Dù bao nhiêu kiếp luân hồi
Sông kia vẫn mãi lở bồi ngàn năm
Trải qua một cuộc phù trầm
Mặc cho nhân nghĩa lạnh câm nhạt nhòa
Nhủ lòng ta cứ là ta
Mặc cho tri kỷ giang hà chờ ai
Mặc cho vàng đá phôi phai
Dẫu cho hết kiếp được vài câu thơ
Phận tằm thì phải buông tơ
Mặc cho nhân thế hững hờ quay lưng
Mặc đời những cuộc phế hưng
Xuân về nghiên bút không ngừng miên man
Mặc tình muôn sự hợp tan
Cớ chi vì đám tro tàn mà đau
Cố nhân khuất phía ngàn dâu
Ta ngồi lặng ngắm sắc mầu phôi phai.


HUY VỤ
09/03/2026

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2026

CA TỪ TRIẾT LÝ - TRẦN HỮU NGƯ


Ảnh tác giả Trần Hữu Ngư

 

CA TỪ TRIẾT LÝ

Một bài viết tải lên mạng được bạn đọc đón đọc và có lời bình phẩm, nhận xét khen chê, hay, dở, là niềm vinh dự và vô cùng hạnh phúc của người viết.
Tôi đã viết:
-ĐIỀU KIỆN GÌ ĐỂ BÀI HÁT VIỆT NAM BẤT TỬ?
Và tôi cũng tự trả lời rằng:
-Để bài hát được bất tử là ca khúc không hư cấu, không tưởng tượng, không ảo, không cầu kỳ, không triết lý…
Và cũng rất vui, khi có không ít bạn đồng ý với tôi câu này, và lưu ý một điều rất quan trọng nữa là:
-Bài hát không nên có nhiều ca từ… “triết lý”.
“Ca từ không triết lý”… tôi giật mình, có lẽ có không ít người cạn nghĩ, chủ quan, và nghe nhạc “triết lý” với cái tai bình dân, đầu óc “học vụ”, nên không hiểu hết những nhạc phẩm có ca từ “triết lý” mà chỉ nhờ giai điệu đưa đẩy nên nghe nó thuận tai, và hùa nhau khen hay?
Thú thật, cho mãi đến bây giờ, có rất nhiều người nghe là nghe, hát là hát, có mấy ai hiểu được “Đóa hoa vô thường”, “Biết đâu nguồn cội” của Trịnh Công Sơn? Ngay cả, ca khúc “Diễm xưa”, ông nói gà bà nói vịt về câu “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”! Và ca khúc “Ngọc Lan” của Dương Thiệu Tước. Chưa hiểu thì chịu khó tìm hiểu, chứ chưa hiểu mà hùa nhau mà khen hay thì tôi… xin đầu hàng!
Sở dĩ tôi nói “nhạc không cần triết lý” là có lý do của nó:
Những bài hát “tiền chiến” từ Bắc di cư vào Nam, những ca khúc sinh ra ở miền Nam trước 1975, đã đáp ứng nhu cầu thưởng thức của “anh hùng quần chúng lao động”, đám cần lao, làm nông, buôn gánh bán bưng, đàn ông đi chân đất hút thuốc rê, đàn bà nhai trầu bỏm bẻm… không biết “triết lý” là gì, ngay cả cái đám “rớt tú tài anh đi trung sĩ”… chỉ mới vở lòng “triết lý”. Bảo đảm với các bạn rằng, tất cả những bài hát Boléro sở dĩ người ta yêu mến, thích hát, thích nghe… vì không có ca từ “triết lý”.
Điển hình, những ca khúc của các nhạc sĩ Lam Phương, Trúc Phương, Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng, Châu Kỳ, Hoàng Trọng, Hoàng Thi Thơ, Phạm Thế Mỹ, Hoài An, Thanh Sơn, Phạm Đình Chương, Phạm Duy… nhờ không có ca từ triết lý nên nó bất tử trong lòng người nghe?
Bây giờ phần nhiều ca từ của những bài hát được viết “nhuốm màu triết lý”, và buồn thay, đó là “triết lý dỏm”, và có những ca khúc đang hát ngon lành, bỗng dưng… ứ ứ… u u… a a… thay ca từ, rồi thêm mấy chữ tiếng Anh vào… tưởng hay, nhưng nghe nó… lãng xẹt, vì ví như đang mặc áo dài, nhưng mặc quần một ống!
Thịt heo thì có thịt ba rọi, bây giờ có thêm nhạc ba rọi nữa, thì quả là nhạc Việt đang vươn mình!
Xin cám ơn những đóng góp vô cùng quý báu của các anh chị.
Mong được đón nhận những ý kiến vàng ngọc của các cao thủ.



TRẦN HỮU NGƯ
(Saigon-Giađinh, tháng 3.2026, ngồi nghe nhạc ba rọi, buồn cười quá, nên gãi… tóc, tóc… tăn tăn!)

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

XÓM LÀNG - THƠ LÊ KIM THƯỢNG

 


XÓM LÀNG
 
1.
Người về… đi giữa hàng cây
Dặm đường gió bụi nhuộm đầy cô liêu
Người về mái ấm nhà yêu
Đất nghèo xưa cũ cũng nhiều đợi mong…
Thẹn thùng cơn gió tàn Đông
Tiếng chim Chiền Chiện trên đồng hót vang
Mùa về êm ấm xóm làng
Đào hồng chúm chím, mai vàng chờ xuân
Rì rào sóng lúa vang ngân
Hẹn người mùa vụ đầy sân lúa vàng…
Sợi mây cõng vạt nắng tan
Gió qua vườn vắng muộn màng chơi vơi
Nắng vàng còn chút đem phơi
Giọt chuông lắng đọng rơi rơi lưng đèo
Mái hiên cong mảnh trăng treo
Đêm buông dìu dịu xóm nghèo xanh xao…
 
2.
Người đi biền biệt phương nào
Quê hương một dạ dạt dào không phai
Phận đời gánh nặng hai vai
Hạt mưa sa giữa bi hài nhân gian…
Trước thềm giọt nắng hanh vàng
Mẹ già vẫn đợi muôn ngàn nhớ con
Lâu rồi lòng dạ héo hon
Con đi biệt xứ hao mòn ngày xanh…
Nhớ quê xứ sở an lành
Bông hoa nở đỏ, mái tranh gió lùa
Mâm cơm gạo mới đầu mùa
Mắm kho, canh bí, dưa chua cải ngồng…
Niềm vui cột với nỗi buồn
Trông về quê cũ, cánh chuồn phân vân
Bao giờ giũ áo phong trần
Về quê vui với người thân xóm làng …

 

 
Nha Trang, tháng 02. 2026
LÊ KIM THƯỢNG