CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

THÚ VUI MÙA NƯỚC LỢ Ở MIỆT VƯỜN - TỪ KẾ TƯỜNG

 

 See original image


THÚ VUI MÙA NƯỚC LỢ Ở MIỆT VƯỜN

Khi những cơn gió chuyển mùa đẩy nước từ rạch vào mương vườn mà vốc tay hớp thử ngụm nước mát lạnh có lẫn mùi vị phù sa lờ lợ thì người miệt vườn, miệt ruộng biết là mùa câu cua đã tới. Mùa này vào khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, kéo dài cho đến lúc mưa sa thì cua rút vào hang đợi kỳ lột vỏ. Theo người quê tôi thì cua vào độ nước lợ rất chắc thịt, gạch son, mai xanh màu rêu và đôi càng vàng lườm lượm màu gạch, một màu đặc trưng của phù sa châu thổ không trộn lẫn. Cua cuối tháng ba đầu tháng tư, tháng năm mười con như một, luộc cũng ngon mà nướng lửa than miễng gáo thì bay mùi khắp xóm.
Để chuẩn bị cho việc câu cua, trẻ con lứa tuổi chúng tôi ở miệt ruộng, miệt vườn thường tranh thủ vào những ngày nghỉ học cuối tuần khi sắp bước vào mùa nghỉ hè chuẩn bị đồ nghề cho việc câu cua. Tất cả dụng cụ câu cua đều làm bằng “cây nhà lá vườn”, tuyệt không có thứ gì phải bỏ tiền ra mua ngoài chợ, vì chắc chắn ngoài chợ không có bán.
Trước tiên là cục dằn dây câu. Thủa đó tôi thường lên đồng móc đất sét dẻo ở những thửa ruộng khô, hoặc xuống vườn tìm những hang tèn hen, lựa đám bùn dẻo do chúng đùn lên miệng hang đem về làm thứ dụng cụ không thể thiếu này. Một tảng đất sét ước lượng vừa đủ để làm chừng 20-30 chục cục dằn dây câu, đất được ngắt từng cục, vo tròn trong lòng bàn tay đến khi nó tròn như một viên bi lớn cỡ mặt đồng hồ đeo tay, lấy cây que xoi lỗ rồi mang ra sân phơi nắng cho khô trắng. Thường phải mất một buổi.
Chiều, đợi lúc mẹ nấu cơm xong, than miễng gáo còn trong bếp chỉ việc lấy ống thổi, thổi bùng lên, cho thêm miễng gáo vào, đợi chúng bén lửa tỏa hơi nóng rát mặt thì cho những cục đất tròn ấy vào nung cho đến khi cháy đỏ rực thì lấy ra để nguội. Những cục đất ấy bây giờ đã chuyển màu gạch và thực chất chúng đã trở thành những viên gạch cứng không tan khi dìm trong nước để thay cho những cục chì nặng đủ sức dằn sợi dây câu không bị dòng nước cuốn trôi. Những cục đất tròn này càng nung lửa già thì càng cứng, có thể bền vững suốt một mùa câu cua mà khỏi phải thay mới.
Việc kế tiếp là xuống vườn tìm chặt những cây bình linh non, bao nhiêu cần câu thì bấy nhiêu cây bình linh, đặc biệt của cây bình linh non để làm cần câu cua lý tưởng vì nó tròn, to cỡ ngón tay và thẳng, trong khi nếu làm cần câu cua bằng tre hay trúc thì phải hơ lửa uốn mới thẳng được, việc này mất rất nhiều công sức và thời gian. Cần câu cua làm bằng cây bình linh sau khi chặt ngọn, đẵng gốc còn dài cỡ 1,5m, tướt vỏ xanh còn lại lõi trắng.
Dây câu chắc và không sợ bị cua kẹp đứt ngoài loại nhợ gai màu trắng, sợi to cỡ cây tăm tre là chuẩn, dây câu độ dài cũng cỡ 1,2m một đầu cột chặt vào cần câu, đầu khia xỏ ngang qua cục dằn dây câu, dưới đó là một vòng kẽm để móc mồi câu. Sau khi móc mồi thì gài lại bằng cách bẻ cong hai đầu vòng kẽm móc lại là xong.
Mồi để câu cua là lươn, lịch, đẻn ruộng, cá kèo hoặc cóc. Nếu chọn mồi không phải là cóc thì chặt khúc cỡ lóng tay móc vào vòng kẽm, nếu mồi cóc thì chặt con cóc làm hai để móc vào vòng kẽm. Cua mùa nước lợ háu ăn, chúng ăn đủ thứ, nhưng món khoái khẩu của lũ cua là lươn chặc khúc và cóc chặt làm đôi.
Sẽ không đủ bộ dụng cụ câu cua nếu thiếu cây vợt cán dài cỡ 1m bằng tre to cỡ ngón chân cái, vợt là một tấm lưới cá luồn qua cái vòng bằng thép nhọn phần đáy và đủ độ thòng khoảng 6 tấc cho chú cua nằm gọn trong đó không thoát ra được. Cuối cùng là một cái giỏ đựng cua, dây trói cua bằng nylon hay dây chuối, lạt dừa tùy điều kiện của người câu. Cần câu cua móc mồi sẵn, vác lên vai người câu cùng với cây vợt, vai bên kia mang cái giỏ cua và canh khi nước vừa “nhữn lớn” từ rạch bò vào mương vườn thì đi “trãi câu”.
Mỗi cây cần câu cua cắm gốc sau vào mép mương vườn sao cho đủ sức chịu đựng được lực trì kéo của chú cua ham mồi, mồi câu thả đụng đáy mương, dây câu để thẳng góc với mép bờ, cần này cắm cách cần kia khoảng 10 bước chân và… chỉ việc chờ đợi để cua ăn câu mà vợt lên thôi. Nhưng không phải chú cua nào ngoạm mồi cũng bắt được dễ dàng nếu không có kinh nghiệm của người lão luyện “tay nghề”.
Khi đi thăm câu, thấy cần câu nào mà dây câu bị kéo thẳng về một hướng, có chú cua thích kéo ngược nước, có chú cua thích kéo xuôi nước nhưng dù ngược nước hay xuôi nước người câu cua tay phải cầm vợt, tay trái nhổ cần, từ từ nhấc cần lên khỏi mặt nước sao cho khéo léo để chú cua càng “tức khí”, càng “mê mồi” không bỏ nửa chừng. Đây là cả một nghệ thuật, vì nếu nhấc mạnh thì chú cua sẽ sợ, bỏ mồi và… người câu sẽ tiếc hùi hụi. Nên nhớ câu cua không phải bằng lưỡi câu mà chỉ bằng cục mồi móc vào vòng kẽm và cua chỉ dùng hai càng ngoạm mồi đưa vào miệng “rỉa từ từ” nên rất dễ “sẩy”.
Khi người câu nhấc cần lên, vừa thấy hai càng chú cua quơ quơ ngoạm cục mồi khỏi mặt nước là lập tức đưa vợt xuống ngay xuống phía dưới cục mồi vớt chú lên, giây phút này rất quan trọng, quyết định việc thành bại của ngườ câu cua, nếu đưa vợt xuống nhanh quá thì làm chú cua hoảng loạn bỏ mồi, nếu đưa vợt xuống chậm quá thì “hỏng ăn” vì chú cua đủ thời gian lặn mất.
Cua ăn câu đủ dạng, từ chú cua “nhé” chỉ bằng miệng tách cà phê đến chú cua kình khệnh khạng nặng trên ký lô chỉ nhìn thấy đôi càng quơ quơ ngoạm cục mồi đã “ khoái chí tử” muốn run tay. Sau khi vợt chú cua lên, nếu chú còn bé quá thì thả chú xuống mương, chỉ bắt những chú cua “ trưởng thành”và rút dây trói chú lại bỏ vào giỏ. Một con nước gọi là mùa câu cua như thế không kéo dài, từ lúc nước “ nhữn lớn” đến khi nhìn thấy “nước đứng” trong mương thì nhổ cần chuẩn bị ra về. Tính ra thời gian khoảng 2-3 tiếng đồng hồ. Người câu cua giỏi, gặp ngày “trúng mánh” sẽ bắt được 5-7 ký cua là chuyện bình thường.
Câu cua là môt thú vui đồng quê, rất căng thẳng, hồi hộp và là một nghệ thuật tổng hợp bao gồm sự khéo léo, chí kiên nhẫn và rèn luyện tư duy đối phó giữa người câu cua trên bờ và một chú cua dưới nước khá gay cấn nhưng lại rất thú vị. Cuối cùng là ai thắng ai, đó mới là kết quả cuối cùng. Bảo đảm ai đã từng câu cua mà lỡ để “sẩy” một chú cua kình cỡ 500 gram đến 1 ký lô thì… ăn không ngon ngủ không yên, cả trong giấc mơ cũng thấy tái hiện cuộc “chiến đấu” lãng mạn này và sẽ tiếc mãi, ám ảnh mãi thành... kỷ niệm khó phai.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

KINH TẾ VỈA HÈ TRONG ĐỜI SỐNG ĐÔ THỊ ĐÀ NẴNG - HỒ TỊNH



 


KINH TẾ VỈA HÈ TRONG ĐỜI SỐNG ĐÔ THỊ ĐÀ NẴNG

Trong cấu trúc không gian đô thị Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng, vỉa hè không chỉ là bộ phận của hạ tầng giao thông mà còn là một không gian xã hội – kinh tế đặc thù. Tại đây, các hoạt động buôn bán nhỏ lẻ, dịch vụ ăn uống, trao đổi hàng hóa diễn ra hằng ngày, hình thành nên “kinh tế vỉa hè” – một bộ phận điển hình của khu vực kinh tế phi chính thức. Vấn đề đặt ra là, trong quá trình xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại, chủ trương trả lại vỉa hè cho người đi bộ là hoàn toàn đúng đắn; tuy nhiên, nếu không giải quyết thấu đáo bài toán sinh kế cho người dân nghèo, việc này có thể tạo ra những hệ lụy xã hội đáng tiếc.
1. Kinh tế vỉa hè – Sắc thái đời sống đô thị
Vỉa hè là không gian đa chức năng, vừa phục vụ giao thông, vừa là nơi diễn ra các tương tác xã hội và hoạt động kinh tế nhỏ lẻ. Các nghiên cứu cho thấy, kinh tế vỉa hè là một bộ phận quan trọng của khu vực kinh tế phi chính thức – khu vực tạo ra một tỷ lệ đáng kể việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Ở Việt Nam, kinh tế phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động, với hàng triệu người tham gia, trong đó hoạt động buôn bán vỉa hè chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đây là khu vực có đặc điểm dễ gia nhập, vốn thấp, quy mô nhỏ, dựa vào lao động gia đình – những yếu tố khiến nó trở thành lựa chọn sinh kế phổ biến của người nghèo đô thị.
Tại Đà Nẵng, đặc biệt ở các tuyến phố trung tâm, khu du lịch ven biển, chợ truyền thống hay các khu dân cư đông đúc, hình ảnh những gánh hàng rong, xe đẩy, quán ăn nhỏ trên vỉa hè đã trở nên quen thuộc. Kinh tế vỉa hè không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương mà còn góp phần tạo nên “sắc thái đời sống đô thị” hấp dẫn du khách – một yếu tố không thể phủ nhận trong nền kinh tế dịch vụ – du lịch của thành phố.
2. Không gian sinh tồn của dân nghèo đô thị
Đằng sau sự nhộn nhịp của các hoạt động vỉa hè là đời sống mưu sinh đầy bấp bênh của một bộ phận cư dân đô thị, phần lớn là lao động nhập cư từ nông thôn, người lớn tuổi, phụ nữ, hoặc những người không có điều kiện tiếp cận việc làm chính thức.
Đối với họ, vỉa hè không chỉ là nơi buôn bán mà còn là “không gian sinh tồn”. Với số vốn ít ỏi, họ tận dụng mọi khoảng trống của đô thị để kiếm sống: bán hàng ăn sáng, nước giải khát, trái cây, đồ lưu niệm… Thu nhập tuy không cao nhưng ổn định theo ngày, đủ để trang trải chi phí sinh hoạt tối thiểu trong bối cảnh giá cả đô thị ngày càng đắt đỏ. Vì thế kinh tế vỉa hè đóng vai trò như một “lưới an sinh phi chính thức”. Trong nhiều trường hợp, nó giúp thu hút lực lượng lao động dư thừa, giảm áp lực thất nghiệp và góp phần duy trì sự ổn định xã hội.
Tuy nhiên, đặc trưng phi chính thức cũng khiến nhóm lao động này đối mặt với nhiều rủi ro: không có bảo hiểm, không có hợp đồng lao động, dễ bị xử phạt hành chính, bị tịch thu hàng hóa, và đặc biệt là luôn trong trạng thái “tạm bợ” về không gian kinh doanh.
3. Chủ trương lập lại trật tự vỉa hè- Cần nhưng chưa đủ
Trong tiến trình xây dựng Đà Nẵng trở thành “thành phố đáng sống”, chính quyền đã triển khai nhiều biện pháp nhằm lập lại trật tự đô thị, trong đó có việc giải tỏa tình trạng lấn chiếm vỉa hè, trả lại không gian cho người đi bộ.
Về nguyên tắc, đây là một chủ trương đúng đắn. Vỉa hè trước hết phải là không gian dành cho giao thông bộ hành, đảm bảo an toàn, mỹ quan và trật tự đô thị. Việc lấn chiếm tràn lan không chỉ gây cản trở giao thông mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh của một đô thị hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh Đà Nẵng hướng tới phát triển du lịch quốc tế.
Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ: khi vỉa hè được “làm sạch”, sinh kế của hàng nghìn người lao động nghèo sẽ đi về đâu? Nếu không có giải pháp thay thế, chính sách này có thể dẫn đến tình trạng “đẩy người nghèo lùi về phía sau”, làm gia tăng bất bình đẳng và tạo ra các vấn đề xã hội mới.
Kinh nghiệm từ Hà Nội và tp Hồ Chí Minh cho thấy, việc cấm buôn bán vỉa hè trên một số tuyến phố nhằm hiện đại hóa đô thị đã gặp nhiều khó khăn trong thực thi, bởi lực lượng bán hàng rong vẫn tồn tại như một nhu cầu kinh tế – xã hội tất yếu.
4. Kinh nghiệm từ các nước Đông Nam Á
Điều đáng chú ý là ngay cả ở các quốc gia phát triển hơn trong khu vực Đông Nam Á, hoạt động buôn bán vỉa hè không bị xóa bỏ hoàn toàn mà được quản lý theo hướng thích ứng.
Tại Bangkok, chính quyền từng tiến hành dẹp bỏ hàng rong để lập lại trật tự đô thị. Tuy nhiên, sau đó đã phải điều chỉnh chính sách theo hướng quy hoạch các khu vực bán hàng hợp pháp, cấp phép cho người bán và kết hợp với phát triển du lịch ẩm thực đường phố.
Tương tự, ở Kuala Lumpur, Jakarta, chính quyền không cấm tuyệt đối mà tổ chức lại không gian, phân vùng kinh doanh, thậm chí coi đây là một phần của sản phẩm du lịch đô thị.
Tại Singapore, một trong những đô thị hiện đại bậc nhất châu Á, mô hình “hawker centre” (khu ẩm thực tập trung) được xây dựng như một giải pháp dung hòa: vừa đảm bảo vệ sinh, trật tự, vừa duy trì sinh kế cho người bán hàng rong và bảo tồn văn hóa ẩm thực đường phố.
Những kinh nghiệm này cho thấy, vấn đề không phải là “xóa bỏ” hay “duy trì” kinh tế vỉa hè, mà là quản lý nó như thế nào.
5. Hướng tiếp cận cho Đà Nẵng
Để giải quyết hài hòa giữa yêu cầu chỉnh trang đô thị và đảm bảo sinh kế cho người dân, Đà Nẵng cần một cách tiếp cận linh hoạt và nhân văn hơn đối với kinh tế vỉa hè.
Trước hết, cần nhìn nhận kinh tế vỉa hè như một bộ phận hợp pháp và không thể thiếu của đời sống đô thị.
Thứ hai, quy hoạch không gian vỉa hè theo hướng phân vùng chức năng: những khu vực trung tâm, tuyến phố chính có thể hạn chế hoặc cấm buôn bán; trong khi đó, các khu vực khác có thể cho phép kinh doanh có kiểm soát, cấp phép và thu phí hợp lý.
Thứ ba, xây dựng các mô hình thay thế như chợ đêm, phố ẩm thực, khu bán hàng tập trung… vừa tạo điều kiện cho người dân tiếp tục mưu sinh, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ và hình ảnh đô thị.
Thứ tư, kết hợp chính sách an sinh xã hội: đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm… để giúp người dân từng bước thoát khỏi sự phụ thuộc vào kinh tế phi chính thức.
Và quan trọng hơn là, trước khi làm thông thoáng vỉa hè cần giúp đỡ những người đang mưu sinh trên vỉa hè có nơi buôn bán.
***
Chủ trương trả lại vỉa hè cho người đi bộ là cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở việc “lập lại trật tự” mà không đi kèm với các giải pháp sinh kế cho người dân thì sẽ thiếu tính bền vững. Kinh nghiệm từ các đô thị Đông Nam Á cho thấy, hướng đi phù hợp là là tổ chức, quản lý và tích hợp kinh tế vỉa hè vào cấu trúc đô thị hiện đại, LÀM CHO VỈA HÈ VỪA LÀ KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG VĂN MINH, VỪA LÀ KHÔNG GIAN MƯU SINH CỦA NHỮNG NGƯỜI YẾU THẾ TRONG ĐÔ THỊ.


HỒ TỊNH

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

CHUÔNG CHIỀU - THƠ HUY VỤ


Có thể là hình ảnh đen trắng 


CHUÔNG CHIỀU

Liễu buông tóc rủ lưng chiều
Làn mây lơ lửng phiêu diêu cuối trời
Tôi đem kỷ niệm ra phơi
Trang thư ngày ấy tả tơi úa nhàu
Nắng soi nét chữ bạc mầu
Lời xưa như nước dưới cầu lặng trôi
Tình trần rất dễ phai phôi
Soi gương tóc bạc da mồi ngẩn ngơ
Đành lòng phải vịn vào thơ
Giờ bao cay đắng hững hờ cho qua
Bạc tiền rất dễ lìa xa
Thay cho son sắt lại là nhạt phai
Lời tiền nhân vẳng bên tai
Ngàn năm hai chữ mệnh tài xót xa
May mà ta vẫn là ta
Bút nghiên lần lữa chẳng qua chữ tình
Câu thơ vô ảnh vô hình
Tha hương trải bấy lộ trình quắt quay
Một ngày tôi lại muốn say
Mượn câu lục bát vẽ bày nối điêu
Lặng nhìn theo bóng trời chiều
Xót xa câu nói "nhiễu điều giá gương"
Mịt mùng phía biển mù sương
Chuông chùa vọng tiếng vô thường thế nhân.


HUY VỤ 
09/04/2026

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

CA SĨ KHÁNH NGỌC QUA CA KHÚC “MẮT BUỒN HANOI” - TRẦN HỮU NGƯ



 Có thể là hình ảnh về văn bản


CA SĨ KHÁNH NGỌC QUA CA KHÚC “MẮT BUỒN HANOI”

Mỗi ngày tôi cố gắng nghe ít nhất một CD do tôi tuyển chọn, để nghe có bài nào mà tôi quên không? Nếu có “bài mới” (mới là… quên nghe!) và biết đâu từ “mới” này mà tôi có một đề tài đề viết; như nghe CD HAI CHUYẾN TÀU ĐÊM và bắt gặp ca khúc MẮT BUỒN HANOI của nhạc sĩ Thanh Trang qua tiếng hát Khánh Ngọc. Từ CD này tôi sẽ có một bài viết mới:
-CA SĨ KHÁNH NGỌC QUA CA KHÚC “MẮT BUỒN HANOI”.
Tôi đã viết về Thanh Trang qua CD HUYỀN, người nhạc sĩ mà tôi lần đầu tiên tôi nghe những bài Tango “rớt nhịp” của anh. (Có dịp tôi trở lại CD HUYỀN)
Chuyện buồn Khánh Ngọc, Phạm Đình Chương và Phạm Duy báo chí đã tốn nhiều giấy mực, nay tôi xin khép lại…chỉ nói về nhạc buồn: MẮT BUỒN HANOI.
Các bạn có bao giờ nghe nhạc của nhạc sĩ Thanh Trang?
Nhạc Thanh Trang, theo tôi, anh không đi vào “công thức” mà là những “Verbs bất quy tắc”… nhờ “bất quy tắt” này mà nhạc anh nghe rất lạ thuở đầu và quen tai thân thiện thuở sau.
Theo tôi, ca sĩ Khánh Ngọc không được nổi tiếng như một số ca sĩ trong ban nhạc Thăng Long, nhưng vì Khánh Ngọc là vợ Phạm Đình Chương, nên được chồng hướng dẫn, về sau hát khá hơn!
Nếu ca sĩ Khánh Ngọc đi theo con đường ca hát thì sẽ thành công, nhưng vì nghe người khác dụ đóng phim, như dễ nổi tiếng, thành minh tinh màn bạc… nên mới ra nông nỗi! (Bây giờ có ai có mê đóng phim mà đánh mất hạnh phúc gia đình không?).
Nhạc viết về Hanoi, nhất là những ca khúc “Tiền chiến” nghe rất hay. Và sau 1975 cũng có một số bài hát viết Hanoi được gọi là khá, nhưng so với nhạc viết về Hanoi thời tiền chiến thì “khó sánh kịp”!
Nước Việt Nam có ba miền Bắc-Trung-Nam, nếu làm một bản tổng kết nhạc của ba miền thì sẽ thấy như sau:
-Nhạc miền Bắc viết về Hanoi thì số lượng nhiều hơn nhạc miền Trung viết về Huế và nhạc miền Nam viết rất ít về Saigon.
Ca khúc MẮT BUỒN HANOI khá dài, tôi xin trích ra, mời các bạn lên mạng mà nghe Khánh Ngọc ca:
“… Tôi mơ về Hà Nội
một ngày bình yên trên lối xưa quen
Chân hoang mòn phiêu lãng
lạc loài hồn rêu xanh tháp cô liêu
Thắp trong tôi nắng son nhạt màu
lộng kinh thành cũ bốn hướng trôi mau
Như liễu buồn nương náu
tóc rũ người yêu lệ thắm hoen sầu
Tôi mơ về ngày nào
nẻo buồn hồ xưa mưa trắng giăng mau
Môi em nồng hơi ấm
sưởi lại tình tôi cho mối duyên sau
Tiếng chim vui khung trời thơ ấu
guốc giòn canh thâu cũng thoáng qua mau
Đêm có buồn vai áo
thấp thoáng cửa đêm sáng hoen màu!
Cho quay về từ đầu
một dòng chiêm bao mối tình xôn xao
Cho tim còn nghẹn ngào
từng hồn mưa lâu, đường ngút đêm thâu…”
Bây giờ tất cả đều đã đi xa:
-Phạm Duy (1921-2013)
-Phạm Đình Chương (1929-2003)
-Khánh Ngọc (1937-2021)
Và tôi viết bài này như một nén nhang thắp lên tưởng nhớ ca sĩ Khánh Ngọc.


TRẦN HỮU NGƯ
(Boléro Xóm Gà Giađinh, 6.4.2026)

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

DÁNG HUẾ HOÀNG KIM XƯA - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI


 


DÁNG HUẾ HOÀNG KIM XƯA


Tìm em giữa nội thành xưa Huế cũ
Rêu phong buồn… che khuất một hoàng kim
Ta lần bước qua miền xưa kỹ niệm
Gọi tên O… mà lòng mãi lặng im…

Ai gọi mô tê… giữa chiều bảng lảng
Tên của O… rơi xuống nước Hương Giang
Sầu chi chứa… bóng người xưa năm cũ
Áo hoàng kim… đã mất… bóng mây tan

Hương Giang ơi…  trôi đi mô trôi vội
Để tình ta… lạc mất giữa sương mù…
Ta không còn… là ta ngày nớ nữa…
Chỉ còn đây… một bóng lẻ ưu tư…

Chuông Thiên Mụ… ngân chi mà sầu rứa

Nghe trong lòng… rát ruột .. một niềm đau…
Huế xưa ơi… răng mà buồn chi lạ …
Giữ tình người… dao cứa mãi lòng sầu…

O mô rồi… người ơi…. năm xưa ấy…
Bỏ lại ta …dưới bóng ánh trăng tàn…
Một lần bên nhau… mà thương mà nhớ
Để mô chừ… ta mãi mãi …miên man…

Ta là gió…gió bay qua thành nội
Ta là mây …mây trôi… giữa trời xa
Thôi đừng kím… một điều không có nữa
Kẻo đau lòng… tái tê một ngày qua……

Ta thương O… thiệt lòng… O có biết …
Thương quá khi duyên ni đã lỡ làng…
Dẫu trăm năm… ta còn mong còn đợi…
Ôi trăm năm…! cũng chỉ rứa mà thôi…

Hương Giang ơi… đừng trôi nhanh tội lắm…
Cho ta còn… giữ chút bóng người xưa…
Ta tan rồi… như sương sa buổi sớm…
Chỉ còn người… trôi mãi giữa dòng mưa…

Chuông Thiên Mụ… còn ngân trong gió lạnh…
Như tình ni… không dứt được mô tê…
Huế mình ơi… răng mà buồn chi lạ…
Giữ thương đau… chưa trọn một câu thề…

Tình đã lỡ… răng còn thương đến rứa…
Rứa còn thương, con nhớ….Cẩm Tú ơi… …


HUỲNH TÂM HOÀI


Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

GIẤC MƠ THIÊN THẦN - THƠ NHẬT QUANG


Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Giấc mơ... Thiên thần Jos Nhật Quáng'


 GIẤC MƠ THIÊN THẦN 


Em mơ đôi cánh thiên thần bé nhỏ

Chấp cánh bay tới khung trời yêu thương 

Đưa anh đến cung Hằng hoa sáng tỏa

Ôi! Nồng nàn đêm huyền mộng ngát hương 

Anh ơi! Vầng trăng đêm nay đẹp quá!

Ta bên nhau phiêu lãng giữa trời mây

Hồn chơi vơi nơi thiên đường tình ái

Đêm mặn nồng...nụ hôn đắm ngất ngây

Em mơ đôi cánh thiên thần xa vút

Mộng thần tiên giữa chốn thiên thai

Em lãng đãng trong bình minh nắng sớm

Có anh bên em, ấm áp những đêm dài

Em sẽ mãi là thiên thần bé nhỏ

Cho anh dệt thắm những vần thơ

Anh ép vào thơ đóa hồng nhung đỏ

Nở yêu thương... em ôm ấp mong chờ.


JOS NHẬT QUANG


HẠT MƯA - THƠ NGUYỄN AN BÌNH



 


HẠT MƯA


Long lanh trên phiến lá

Hình như mới đêm qua

Hạt sương hay hạt ngọc

Hay là hạt mưa sa.


Xin biến thành hạt lệ

Gọi nụ tình trổ hoa

Ngày sau như hạt bụi

Hòa vào cõi thiên hà.


Đợi ngàn năm chuyển kiếp

Lại thành hạt mưa sa

Reo thì thầm trên lá

Kể chuyện tình chưa xa.



NGUYỄN AN BÌNH

(những bài thơ ngắn)