
Nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy ở bên nhà có nhờ cô Biên Huỳnh Phạm gởi cho tôi một tập thơ tựa đề Nín Thở, tôi đọc:
NÍN THỞ
Nín Thở, tựa đề tập thơ của Nguyễn Hữu Thụy gồm 56 bài, 142 trang. Lẽ ra còn nhiều bài hơn, như nhà thơ cho biết số phận tập thơ Nín Thở đã trải qua rất nhiều nhà xuất bản vẫn không cấp cho giấy phép – cuối cùng phải bỏ đi một số bài mới qua truông kiểm duyệt. Nguyễn Hữu Thụy tâm sự: "Ở đây những người làm thơ ngoài luồng, đứng độc lập như tôi rất hiếm hoi và cô đơn lắm". Mà thật, thơ Nín Thở mới vào đề đã mang lời lẽ ngông nghênh, trái nết, tuy "không giống ai" nhưng được cái là khí phách, nhất là giữ được chất thơ hào sảng, ngang tàng mà "đám ruồi bu" khó chấp nhận:
Không giống ai - ta chỉ giống chính mình
Thằng trái tính khó ưa mà rất thiệt
Trái thời cuộc lâu ngày thành trái nết
Ít người thương mà đứa ghét lại nhiều
Sách đắc nhân tâm chỉ dạy đủ điều
Ai làm được đã danh nhân hiền triết
Lại nghe nói "Cái tôi là đáng ghét"
Nghiệm lại chính mình bù trất cả hai
Thấy đám ruồi bu mà ngứa lỗ tai
Nghe thở hơi đồng xốn con mắt đỏ
Trong suy nghĩ thắp treo mình đèn bão
Tim – bấc sắp tàn vừa đủ tự soi
Cứ sống chính danh đủ biết lỗi thời
Như phần mềm nằm sâu trong bộ não
Khi được lập trình dưới tay tạo hóa
Ngay từ đầu lộn cái bị điên điên
Cõi tạm dung đời có một cõi riêng
Ai thương ghét khác nhau thì đã rõ
Xin cúi xuống cảm ơn lời hỉ… nộ
Trong xa vời để ngó mảnh vườn rêu.
(Không Giống Ai, tr. 5, 6)
Thuở ấy, cái thời trai trẻ vốn hoang phí ấy, nhà thơ Nín Thở ngất ngưởng phán đời đã buồn lại trôi như nước thì giữ làm gì, chỉ có rượu trên tay uống quên đời mới khai thông trí hóa, giải phá cơn sầu, lùa sầu vào trong máu:
Ta đã phí một khoảng đời trai trẻ
Rượu thâu đêm suốt sáng với trăng tà
Đời đã buồn héo úa cả thịt da
Thì lắm lúc tiếc gì cho cuộc sống
Ngày đã qua như một trang lịch mỏng
Thì tiếc gì khi ngọn lửa đang lên
Đời đã trôi như dòng nước không tên
Thì giữ lại làm chi thêm phiền muộn
Đời chỉ có một đôi lần sung sướng
Trăm ngàn lần quờ quạng trước đau thương
Nên uống đi cho lấp hết nỗi buồn…
(Rượu Trên Tay, tr.7,
Có ai từng thấy… "màu thơ" chưa? Mà màu thơ là màu gì? Trời xanh, mây trắng, bông lê, bông lựu, bốn mùa xuân hạ thu đông… là những cảnh vật ở thể nổi mới có màu sắc tự nhiên. Vẽ ra một hình thể hay khắc nên một hình tượng, ngay cả viết thành chữ cái, nét chữ đậm nếu có màu vàng hay thau thì còn nhận thấy, đằng này thơ vốn trừu tượng thì thơ làm sao có màu, cho dù "những câu thơ có tiềm tàng nội lực" thì thơ cũng khó mà có… màu thơ.
Nói là nói vậy chớ màu thơ của Nguyễn Hữu Thụy có khác gì màu thơ rực rỡ của Xuân Diệu đâu: "Thu biếc tỏ, hè nâu thơm vị quế. Xuân ngát hồng, đông xám cũng đầy mơ". Cũng ở ngoài Bắc, màu thơ của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ cũng thật đặc sắc: "Cây bàng lên búp nhỏ. Xanh như là thương nhau". Cho nên "màu thơ" của Nguyễn Hữu Thụy là ngôn ngữ thơ gợi lên cái đẹp, lạ và hay, được tô điểm bằng một tấm lòng dạt dào rung cảm tứ thơ:
Vàng sẽ là vàng
Thau sẽ là thau
Quyền tối thượng chỉ dành cho độc giả
Và thời gian sẽ dũa mài tất cả
Những râu ria sơn phết màu thơ…
(Thơ Mai Sau, tr. 13)
Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn là bản tình ca bất hủ, nội dung gởi gắm một nỗi buồn ray rức khôn nguôi. Ca khúc này ra đời từ năm 1960 đến nay vẫn thong dong hát mãi trên đầu môi chót lưỡi con người, cho nên người trần gian dựa vào đó mà khéo ví von cái gì xưa đều thành… xưa rồi Diễm. Trong Nín Thở, bài thơ "Xưa Rồi Diễm" của Nguyễn Hữu Thụy cũng bày tỏ một loại ngôn ngữ mất mát, trăn trở, hư hao là trạng thái của một người thất tình. Toàn bài gồm 32 câu chung qui nếu chỉ dẫn chứng bốn câu cũng đủ gợi lên một nỗi bẽ bàng:
Yêu nhau chịu phận cùng oan nghiệt
Rồi ra không đủ sức gánh gồng
Lẳng lặng chia xa là chấm hết
Mỗi phận đời riêng mỗi nhánh sông … (tr.11)
Xưa nay thi sĩ vốn là nòi tình, là loài trời sinh để yêu cho dù có bị hất hủi thậm chí còn bị đánh đập, bị đạp xuống bùn nhơ, bị knock out đến bất tỉnh vẫn không chừa, khi tỉnh lại vẫn một mực… làm thơ:
Tạ lỗi hồng nhan – khi nào ta còn thấy
Mắt biếc đưa tình là tim đập xôn xao
Đã bao lần lãnh đủ cú knock out
Vẫn thích thú làm thơ khi tỉnh lại.
Nguyễn Hữu Thụy vốn sở trường về thơ bảy chữ, tám chữ và tự do, thỉnh thoảng mới chuyển qua thể thơ lục bát. Như ta đều biết lục bát là thể thơ truyền thống mười bốn chữ của dân tộc Việt Nam, xuất hiện từ cuối thế kỷ XV. Thuở cha ông ta, những người làm thơ vô danh nơi thôn dã dùng lục bát để thể hiện tâm ý mình: ngắn gọn không khuôn sáo, sinh động ở nét uyển chuyển, mềm ngại, ngân nga và tràn đấy thi tính.
Thơ lục bát của Nguyễn Hữu Thụy cũng có sự luyến láy, mềm mại, diễn tả tình cảm ngọt ngào, trầm lắng, thiết tha. Trong Nín Thở, nhan đề Hạt Muối mô tả mối tình keo sơn trong sáng gợi cho người đọc nhớ tới câu ca dao về muối và gừng gắn liền với sự thủy chung, son sắt, nghĩa tình sâu nặng "Muối ba năm muối đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa". Ta đọc ở đây vài câu lục bát mặn mòi, lấp lánh của Hạt Muối, là một thể thơ trữ tình thuần túy mang đậm nét thủy chung như nhất:
Muối thường nhắc nhở cho đời
Gừng cay muối mặn ướp lời yêu thương
So cùng nước biếc đại dương
Muối đây một nắng hai sương ướp tình
Giữ lòng hạt muối kết tinh
Mặn trên đầu lưỡi dặn mình chớ quên (tr.20).
Thơ mà ca ngợi quê hương đất nước, ngợi ca tình tự dân tộc bao giờ cũng đánh động lương tâm những ai vốn yêu nước thương nòi. Lịch sử Việt Nam, sau đại họa tháng 4/75, những bậc tri thức ưu thời mẫn thế, những văn nhân thi sĩ chân chính có ý thức đấu tranh đã mang vào thơ văn những ngôn từ, hình ảnh khá mới mẻ, dù băn khoăn trước thời thế vẫn không để mất giá trị nghệ thuật, điển hình là tác giả tập thơ Nín Thở. Nguyễn Hữu Thụy là một nhà thơ có tài trong cách sử dụng hình ảnh và nhạc điệu để gởi gắm đất nước khổ nạn vào dòng chảy của con sông quê, dòng sông mà tác giả ví như dòng máu tổ tiên:
Đất nước bao đời ở với dòng sông
Từ ngày khai thiên đến ngày lập quốc
Những dòng chảy mang đầy tiềm lực
Có linh hồn và hơi thở linh thiêng
Những dòng sông đã nối tiếp nhau
Căng no gió thuyền buồm xuôi ra biển
Đã bồi lỡ nổi chìm bao trận chiến
Giữ cho còn tên gọi một quê hương
Lời tỏ cùng sông thương nhớ dặm dài
Nứt nẻ những bàn chân cầu Trời khấn Phật
Thân cóng lạnh trôi dài trên mặt đất
Đến tận cùng khổ nạn vận sông quê.
(Tỏ Lời Cùng Những Dòng Sông. tr.27, 28)
Ta yêu nước dặm dài bao thế kỷ
Chở ca dao nhịp võng Mẹ ru hời
Nghe tiếng thoi đưa bóng hạc bỏ xa trời
Thơ yêu nước nồng nàn nuôi ta lớn
(Thơ – Với Thơ Đầu Năm. tr.33)
So với ba miền, thiết tưởng đất phương Nam tương đối là đất lành, dân tình rộng lượng thương người lỡ bước vốn là "tình Phương Nam như Mẹ kế đỡ đàn". Học sử ta đều biết Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là người mở đầu cho sự nghiệp mở đất phương Nam đời đời ai cũng một lòng tưởng nhớ công ơn đúng như lời thơ tha thiết của Nguyễn Hữu Thụy "ghi nợ đất phương này":
Ơn chúa Nguyễn Hoàng khi xưa mở đất
Đời chúng ta còn hưởng xái chút tình
Cuối đường cong chữ S đã tượng hình
Có khoảng trời xanh ngoi lên để thở…
(Phương Nam. tr.37)
Nghiên cứu về nguồn gốc và quê quán dòng tộc Nguyễn Hữu thì tộc này đã trải qua nhiều đời từ Ninh Bình đến Gia Miêu, Thượng Trung, Thanh Hóa… Riêng ở Nghệ An, vào thế kỷ XVI, tộc Nguyễn Hữu có bề dầy lịch sừ hơn 300 năm gồm 17 đời 6 chi hậu duệ sâu sắc nhất với truyền thống khoa bảng, nhân từ, trung hậu, môt tấm gương sáng ngời có công trong việc mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước.
Đó là lược sử nước Nam được ghi chép từ đời xa xưa. Đi tìm cái đẹp của nếp thời gian thăm thẳm đó, Nguyễn Hữu Thụy đã cung cấp cho ta một hình ảnh đặc biệt từ một bản chất sâu xa, đó là "Cây phổ hệ" là loại cây chỉ việc ghi chép lại lịch sử, nguồn gốc của một dòng họ hoặc gia đình có công trạng từ xưa đến nay. Tác giả cũng cho biết cây phổ hệ đời thứ mười hai của tộc Nguyễn Hữu tại vị Phúc Khương bị vỡ tổ vì thiên tai chiến tranh đành phải hướng tới một cuộc sống lưu dân trôi giạt vào Nam.
Dưới ngòi viết gốc Quảng Nam của Nguyễn Hữu Thụy, bài thơ tự sự "Nguyễn Hữu Phía Nam" gồm mười sáu đọan, mỗi đoạn bốn câu mô tả hoàn cảnh và tình cảm của tộc Nguyễn Hữu với biết bao cái ngổn ngang, ngóc ngách của cuộc đời vốn rối rắm khởi từ cái rất xưa đến cái hiện nay. Vẻ đẹp của những câu thơ có chứa chan chân tình mà cũng trớ trêu, ngang trái nhưng đọc lên không có gì là ồn ào, cường điệu, phá phách mà cái khí cốt của hồn thơ "phía Nam đi tới" lại đậm đà, chân chất và thi vị nhằm bày tỏ một thái độ đối với nhân sinh nhọc nhằn cho dù bộ tộc rất nhỏ bé nhưng "Chắc cũng tròn đều bọc trứng Âu Cơ". Xin trích đoạn bài thơ trên để kết thúc bài viết về tập Nín Thở này.
Thiên hạ tộc to họ lớn
Gặp được thời xưng bá xưng vương
Nguyễn Hữu đời ta tại vị Phúc Khương
Phúc chẳng thấy – Khương đâu chẳng thấy!
Từ Nghệ An khó nghèo biết mấy
Vào Quảng Nam theo Chúa Nguyễn Hoàng
Ba trăm năm dựng nghiệp nông tang
Cây phổ hệ sum suê cành gốc ngọn
Nguyễn Hữu phía Nam – phía Nam đi tới
Cây liếp cây xanh thay lá đổi màu
Nguyễn Hữu đời ta tại vi Phúc Khương
Phúc khởi sáng Khương nay khởi sáng
Trà rượu trống chiêng – tinh thần hào sảng
Ta đọc bài hành cúng buổi tế xuân thơm.
PHAN NI TẤN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét