CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

SỐNG CŨNG VUI MÀ CHẾT CŨNG VUI

  Hôm qua NM check mail thấy người bạn gửi truyện này đọc hay hay nên chia xẻ lại vậy

************

Kính gởi quý vị đọc cho vui.
Đức Phú

Thưa ông, ông đưa ra một câu hỏi rất hay. Đó là một nghịch lý của cuộc đời. Người thì đã chết rồi. Biết người đó có vui mừng khi gặp Chúa không? Đời là tạm bợ, là thư thách niềm tin. Bao nhiêu chông gai trên đường đời! Vượt được thì là công trạng. Dĩ nhiên người đó sẽ vui mừng vì hành đạo chỉ trong mong được đắc đạo. Nhưng nếu người đó làm điều ác? Gặp Chúa họ có vui mừng không? Chắc là không. Nhưng họ chết rồi còn đâu để nói lại cho con cháu rằng họ vui mừng hay lo sợ!!! 

Nhưng những người thân còn lại thì sao? Dĩ nhiên trong thâm tâm của họ vẫn hy vọng người đó về Thiên Đàng cầu nguyện lại cho những người còn ở trần thế. Nhưng về xác thịt làm sao những người ấy vui cho được khi biết người thân của mình đã vĩnh viễn ra đi, và mình chỉ có thể gặp lại khi mình cũng từ giả họ hàng ra đi như họ.

Ngay như dân HO chúng ta. Chúng ta biết rằng sang Mỹ cuộc đời sẽ có tương lai hơn, sẽ sướng hơn. Thế mà cũng đã có người phải khóc khi xa người thân. Họ đáng lẻ phải cười thật tươi vì còn đường trước mặt sẽ nở đầy hoa. Nhưng họ cũng không đành bỏ lại mẹ già cùng những người con nào không ra đi được với họ. Còn những người ở lại thì khỏi nói.

Tôi nhớ lại lúc lên xe lửa, tôi thấy mẹ tôi cười tươi lắm để tôi khỏi bịn rịn. Nhưng lúc xe lửa vòng qua nhà, tôi thấy mẹ tôi khóc!! Và tôi cũng khóc! Vợ tôi cũng khóc! Chỉ có đám con nhỏ không khóc vì chúng chưa biết gì!

Nói vậy để một phần nào trả lời ông về việc có nên chia vui không?
   
Hoàng SP****************


Tác giả TRÀM CÀ MAU

   CHUYỆN ÔNG TƯ CHẾT MÀ VẪN VUI      
   

Ông Tư bị ung thư và biết chắc không thể sống lâu hơn sáu tháng. Ông bình tỉnh chờ cái chết, và vui vẻ sống những ngày ngắn ngủi còn lại, mà không bi ai, không sợ hãi. Ông muốn sau khi chết, gia đình làm đám tang theo ý riêng của ông.
 
Nếu có ai biết ông Tư đang cận kề cái chết mà ái ngại cho ông, thì ông cười vui mà an ủi họ - chứ không phải là họ an ủi ông - rằng, nếu tin theo đạo Chúa, thì khi chết được về thiên đàng, ngồi dưới chân Chúa, sung sướng thế sao mà ai cũng sợ chết ?
  
Nếu theo đạo Phật, thì khi chết cũng sẽ về Tây Phương Cực Lạc, vĩnh cửu an bình, thì mừng vui chứ sao lại bi ai ? Và nếu nói theo đức Đạt Lai Lạt Ma, thì cái xác thân ở trần gian, có thể ví như bộ áo quần ta mang, khi nó đã sờn cũ, xấu xí, rách rưới mục nát rồi, thì nên bỏ đi, mà mang bộ áo quần khác, đại ý nói đi đầu thai kiếp khác, mang thân xác mới hơn.
Ông Tư nói với bạn rằng, thân xác ông bây giờ như cái quần đã mục mông, rách đáy, không còn che được cái muốn che, thì phải bỏ đi, không xài nữa là hơn.
  
Bởi vậy, ông bình tỉnh đón chờ cái chết cận kề. Khi biết ông bị ung thư sắp chết, thì phút đầu tiên, ông lặng người đi. Nhưng rất mau sau đó, ông nghĩ ra rằng bây giờ chỉ còn hai con đường để lựa chọn.
   
Một là rầu rĩ bi ai, than thân trách phận, oán thán trời đất, làm cho những ngày ngắn ngủi còn lại trở thành u ám, khổ sở, muộn phiền. Hai là bình tỉnh chấp nhận điều không thể tránh được với thái độ tích cực, lạc quan, vui vẻ. Làm cho những ngày còn lại thành tươi vui, tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Khi ra đi sẽ không có chút tiếc thương vướng bận.
 
Ông chọn con đường sau, nên không buồn bả, không hoang mang, không bi ai. Ông thấy cuộc đời bỗng đáng yêu hơn, đẹp hơn. Ông mở lòng vui vẻ đón nhận từng thời khắc, từng ngày còn lại.
  
Mỗi sáng dậy, ông ca hát nhạc vui, và nói chuyện khôi hài cùng vợ con. Ông cố làm đẹp lòng mọi người, vì ông nghĩ rằng, sau khi nhắm mắt nằm xuống, thì dù có muốn tử tế với những người thân thương, cũng không còn làm được nữa.
  
Ông Tư dặn thêm vợ rằng đừng đăng báo, không đăng cáo phó gì cả. Đừng làm rộn, bận trí bà con gần xa, buộc họ phải thăm viếng. Không nên để phiền ai phúng điếu chia buồn. Ông đưa tờ báo cho bà, và nói:
   
Em nhìn vào mấy cái cáo phó nầy đây, đọc thấy buồn cười : Chúng tôi đau đớn báo tin cho thân bằng quyến thuộc: Ông Nguyễn Văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày , tháng, năm, hưởng thọ 82 tuổi... Được Chúa gọi thì phải vui mừng, sung sướng, chứ sao lại đau đớn báo tin ? Về với Chúa là khổ lắm sao ? Có đi tù cải tạo đâu mà đau buồn ?
   
Đáng ra phải cáo phó bằng câu : " Chúng tôi hoan hỉ báo tin cùng thân bằng quyến thuộc rằng, Ông Nguyễn văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày, tháng, năm,..". Và đây, một cáo phó khác, cũng " khóc báo " với thân bằng quyến thuộc là thân nhân chúng tôi đã về cõi Phật. Về cõi ma vương quỷ sứ mới khóc báo, chứ về cõi Phật, sướng quá, mà khóc cái nỗi gì ?
   
Mất cái gì mới ngại, chứ mất cái khổ đau hành hạ, thì cầu cho mất sớm, mất đi càng nhiều càng mau, càng tốt. Anh nghe nói người Lào có quan niệm rất hay về lẽ sống sự chết. Khi trong gia đình có người chết, họ không bao giờ khóc lóc rầu rĩ, mà bình tỉnh an nhiên, chắc rằng họ đã thấm nhuần cái lẽ thâm sâu của Phật giáo, biết chết là giải thoát, rũ sạch nợ đời.
  
Cuộc đời, có thể ví như một đêm, không đi ngủ lúc chín mười giờ, thì mười hai giờ, một giờ sáng cũng phải đi ngủ. Nếu đêm không vui, thì tội gì không đi ngủ sớm cho khỏe, mà phải thức để nỗi buồn gặm nhấm.
   
Nếu đêm nay đau răng thì cố thức làm gì, ngủ sớm đi mà quên đau. Nhiều người sống với thái độ như sẽ không bao giờ chết, cho nên tích tụ của cải, bao nhiêu cũng không vừa, làm nhiều điều không đúng, không phải. Bỡi vậy , khi biết mình sắp chết, thì hốt hoảng khóc lóc, bi ai, mà vẫn không tránh được. Nhiều vị vua chúa đời xưa cũng muốn sống đời, nên uồng thuốc trường sinh, mà ngộ độc chết sớm.
   
Thấy ông tươi vui, người biết ông có bệnh sắp chết, cũng quên mất là ông đang bệnh, người không biết bệnh trạng của ông, thì ông cũng không muốn nói ra làm gì. Ông đưa bà và hai con đi chơi một chuyến trên du thuyền. Ông tham gia các cuộc chơi tập thể trên du thuyền như hát hò, nhảy múa ca hát, tham gia các buổi hòa nhạc, uống rượu, cho đến khi mãn cuộc. Ông vui vẻ, bình tĩnh đến nỗi nhiều khi bà quên mất là vợ chồng không còn bên nhau bao lâu nữa.
   
Ông Tư chuẩn bị tinh thần cho vợ, cho con, để chấp nhận một sự thực không tránh được. Chấp nhận với sự bình tỉnh, sáng suốt, không vui vẻ nhưng không bi ai. Có người nói cho ông Tư nghe về kinh nghiệm của những kẽ đã chết thật rồi, mà sống lại nhờ sự mầu nhiệm nào đó. Rằng khi chết, thì thấy mình đi vào một vùng ánh sáng lạ, rất hân hoan sung sướng, khoái cảm tràn trề. Bỡi vậy, nên người đã trãi qua cận tử, thì không cón sợ chết nữa, mà đón nhận như là một ân huệ của trời đất.
   
( Về việc đóng tiền cho người khác để mua hòm và mai táng )
 
Kêu gọi thì tôi đóng tiền, chứ thực tình trong lòng tôi nghĩ khác. Chết thì hỏa thiêu là đẹp nhất, tốt nhất và lại vệ sinh. Chôn xuống đất cho dòi bọ nó rúc rỉa, cho sình thối chứ có được gì. Một vạn cái xác, mới có được một cái không thối rữa, mà cũng khô đét nằm nhăn răng ra, hôi hám xấu xí. Nằm chật chội trong tối tăm âm u, dưới đất lạnh lẽo, chứ có sung sướng gì đâu.
 
Rồi lâu ngày, thịt da cũng rữa, xương cũng mục. Được bao nhiêu năm ? Mà cứ nghĩ kỹ xem, nếu mỗi người chết phải có một nấm mồ chừng hai thước vuông, thì trên thế giới nầy từ triệu năm trước đến nay, và nhiều triệu năm sau nữa, tỉ tỉ người đã chết và sẽ chết, lấy đâu ra đất mà chôn. Không lẽ cả thế giới nầy chẵng còn một tấc đất mà trồng trọt, nhịn đói chết hết sao?
   
Nhiều xứ văn minh hiện nay, người ta thiêu xác. Bên Nhật, bên Tàu, Ấn Độ và nhiều xứ khác nữa, người chết được hỏa thiêu. Đạo Phật chính tông, thì các tăng ni đều được hỏa táng, nhưng những người theo đạo Phật nửa vời, thì lại chôn cất. Bày đặt ma chay linh đình cho thêm tốn kém.
   
Bạn ông Tư hỏi : - Có phải người theo đạo Chúa không dám hỏa táng ? Nghe đâu họ tin có ngày phán xét cuối cùng, và được sống lại. Bỡi vậy nên phải giữ thân thể, không muốn thiêu tan thành tro bụi.
  
Ông Tư cười lớn nói :
- Chờ đến ngày phán xét cuối cùng, thì sắt đá cũng đã mũn ra tro bụi, nói chi đến cái thân xác mong manh? Có lẽ những kẽ mê tín, kém hiểu biết, diễn dịch sai ý nghĩa của kinh Thánh chăng ? Mà dù cho xương cốt có còn, thì cũng chỉ là bộ xương cũ mục, làm sao mà sống lại trên bộ xương đó được ?

Bỡi thế, nên tôi cho hỏa thiêu là sạch sẽ và tiện lợi nhất.
 
Câu chuyện bàn rộng đến phong trào Việt Kiều về quê xây lăng mộ cho thân nhân, cho tổ tiên, đến nỗi có nhiều làng thi đua xây cất cho nguy nga, cho to lớn. Thấy lăng mộ người khác lớn hơn, thì đập cái cũ ra, xây lại cho lớn, cho đồ sộ hơn. Có nơi người ta đặt tên là Làng Ma, vì toàn cả lăng mộ.
   
Ông Tư cho rằng, xây lại mồ mả cho tổ tiên để báo hiếu, cũng là một hành động tốt, không có chi sai trái. Nhưng thi đua nhau xây và xây cất có tính cách phô trương thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Liệu những phần mộ kia đứng vững được bao nhiêu năm, và còn được con cháu chăm sóc đến bao giờ ?
   
Rồi cũng có ngày trở thành hoang phế, chẵng ai đoái hoài đến, mà mục rữa với thời gian. May ra, những nơi thiêng liêng như đền quốc tỗ Hùng Vương, lăng mộ các bậc anh hùng giữ nước, dựng nước, mới được con cháu tiếp tục tu sửa chăm nom. Thế mà cũng có còn tả tơi, tàn tạ, không ai chăm nom.
Huống chi mình, là thứ thường dân, vô danh tiểu tốt, chưa làm được gì. Chưa kể những kẽ là tội đồ của dân tộc, bày đặt xây lăng ướp xác, như các ông lảnh tụ cọng sản từ Âu sang Á, từ từ rồi mồ mã cũng bị phá bỏ , san bằng. Bỡi thế, ông Tư dặn vợ con đừng xây mộ, tạc bia cho ông làm chi.
   
Ông Tư mượn bài thơ của ông bạn về đánh máy và sắp xếp lại cho đẹp, in ra nhiều bản, phóng ra một bản lớn, để dành khi ông chết sẽ sử dụng.
Chỉ bốn tháng, sau khi được báo tin ung thư, ông Tư qua đời mà không đau đớn nhiều, không dùng hóa học trị liệu trước khi chết. Có người mách cho ông nhiều loại thuốc ngoại khoa, ông cũng dùng thử.
   
Trong giới bạn bè thân tình, có người nói là ông Tư đã tự chọn lấy con đường ra đi nhẹ nhàng, không để bệnh hoạn hành hạ trước khi chết. Ông Tư thường đùa rằng, còn nước thì còn tát, biết là dù có tát thì thuyền cũng chìm, thì quẳng gàu đi cho đở mệt trước khi thuyền chìm.
   
Bà con bạn bè đến viếng tang ông Tư tại nhà, khi bước vào cỗng, họ cố sửa soạn lại bộ mặt cho có vẽ buồn rầu, nghiêm nghị, để hợp với cảnh tang ma, dù trong lòng họ không có chút bi ai nào. Nhưng họ nghe có tiếng nhạc vui đang rộn rã vẵng ra từ bên trong, hòa với tiếng nhạc là tiếng cười vui vang vang, tiếng ồn ào. Người nào cũng giật mình, vội vả xem kỹ lại số nhà, sợ đi lầm.
   
Vào nhà, mỗi khách viếng tang được phát một tờ giấy màu hồng, bên trên ghi bài thơ Khi Tôi Chết . Bài thơ cũng được chụp phóng lớn, dán trên tấm bảng che kín cả một bức tường. Khách và chủ đang vui vẻ chuyện trò, cười đùa.
   
Không thấy quan tài ông Tư đâu cả. Trên bệ thờ có cái ảnh ông Tư phóng lớn, miệng cười toe toét, tóc bù gió lộng. Trước tấm ảnh có cái hộp vuông chứa tro xương của ông Tư. Tiếng nhạc vui vang vang từ máy hát. Bài thơ in đậm nét:
 
Khi Tôi Chết

Nếu làm biếng, cứ nằm nhà thoải mái
Viếng thăm chi, vài phút có thêm gì ?
Mắt đã nhắm. Lạnh thân. Da bầm tái .
Dẫu bôi son, trát phấn cũng thâm chì

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó,
Ai thay da mãi mãi sống trăm đời .
Kẽ trước người sau, xếp hàng xuống mộ
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi.

Nếu có khóc, khóc cho người còn lại,
Bỡi từ nay thiếu vắng nỗi đầy vơi .
Cũng mất mát, dáng hình , lời thân ái
Tựa nương nhau, hụt hẫng giữa đất trời.
   
Đừng đăng báo, phân ưu lời cáo phó
Chuyện thường tình, phí giấy có ích chi ?
Gởi mua gạo, giúp người nghèo đói khó
Dịu đau buồn những kiếp sống hàn vi,
 
Trỗi nhạc vui cho người người ý thức,
Cuộc nhân sinh sống chết cũng tương đồng,
Khi nằm xuống, xuôi tay và nhắm mắt
Thì đau buồn hạnh phúc cũng hư không.
   
Đừng xây mộ, khắc bia ghi tên tuổi
Vài trăm năm hoang vắng, chẳng ai hoài .
Vũ trụ vô cùng, thời gian tiếp nối,
Tỉ tỉ người đã chết tự sơ khai.
   
Khi tôi chết đừng ma chay đình đám,
Hỏa thiêu tàn, tro xác gởi về quê
Dẫu bốn biển, cũng là nhà, bầu bạn
Trong tôi còn tha thiết chút tình mê.
Thì cũng C, H, O, N kết lại,
Nắm tro xương hài cốt khác nhau gì,
Nhưng đất mẹ chan hòa niềm thân ái,
Cho tôi về, dù cát bụi vô tri.
  
Khi đọc xong bài thơ, có người thì mĩm cười, có người vui hẵn, và nói chuyện oang oang. Họ cho rằng bài thơ đã nói hết ý nguyện của người chết. Người chết không muốn bạn bè buồn rầu, thương tiếc, thì việc chi mà lại làm bộ, gượng gạo tạo ra nét buồn khổ trên mặt.
  
Vợ con người chết cũng không tỏ vẽ buồn rầu, mà cũng không hớn hở. Không một tiếng khóc lóc, thở than. Nhạc vui vẫn dồn dập phát ra từ máy vang dội. Khi khách đã đến chật nhà, và đúng giờ cử hành tang lễ, bà vợ ông Tư và đứa con trai mang áo quần trắng đứng chắp tay bên bàn thờ, cô con gái đứng bên tấm ảnh ông, cầm máy vi âm nhoẻn miệng cười và nói :
   
-Thưa các cụ, cô bác chú dì, bà con bạn bè thân thiết xa gần, chúng tôi xin cám ơn quý vị đã có lòng đến viếng tang Ba chúng tôi. Tang lễ nầy làm theo ý nguyện của người quá cố. Không làm tang lễ theo tục lệ bình thường, vì sợ trái với ước vọng cuối cùng của Ba chúng tôi. Chúng tôi xin nhận lấy mọi lời trách móc nếu có từ bà con bạn bè.
 
Ba chúng tôi đã bình tĩnh và vui vẻ đón cái chết như một sự trở về không tránh được . Trong những ngày cuối của cuộc đời, Ba chúng tôi rất vui, chuẩn bị kỹ cho gia đình và cho chính ông. Ông đã dặn dò chúng tôi, không nên khóc lóc, không nên buồn rầu, vì sự thực không có chi đáng buồn cả. Ông dặn chúng tôi vặn cuốn băng sau đây cho bà con cô bác nghe.
 
( Ông Tư đọc bài thơ trên )
   
Giọng Huế của ông Tư đọc chậm và ngân dài những đoạn ông đắc ý : Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó . Ai thay da mãi mãi sống muôn đời, Kẽ trước người sau xếp hàng xuống mộ, biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi. Cuối cùng, có một tràng cười ha ha của ông Tư để chấm dứt bài thơ.
   
Sau bài thơ, có ba ông người Mỹ, hai ông da đen, một ông da trắng, cầm đàn và kèn trỗi lên mấy khúc nhạc vui, các ông nhún nhẫy uốn éo, nhiều lúc dậm chân xuống sàn. Ba ông cùng lúc lắc, làm hàng một, đi quanh phòng khách, như múa lượn trước bàn thờ ông Tư. Những ông nầy, là bạn chơi nhạc với ông Tư tại các quán ca nhạc ban đêm.
   
Một bạn thân của ông Tư, quen nhau từ thuỡ trung học, đại diện bà con, đến trước bàn thờ, vỗ vào hộp tro xương, cười ha hả và nói:
- Tư ơi, ông là số một rồi đó, chả có ai bằng ông. Ông hiểu tận tường lẽ huyền vi của tạo hóa. Sống cũng vui, mà chết cũng vui. Sống cũng dám làm, mà chết rồi cũng dám làm, và làm được. Tôi cũng ước mong rằng, sau khi chết, vợ con làm cho tôi một đám tang như thế nầy, thì vô cùng sung sướng. Tưởng ông nói đùa chơi, ai ngờ làm thật.
   
Một vị mục sư là bạn thân của gia đình, cũng đến trước bàn thờ, và đoan chắc rằng bây giờ ông Tư đã được về với Thiên Chúa. Ông cho rằng thái độ của ông Tư trước cái chết rất sáng suốt, đáng khâm phục, và đáng được mọi người noi theo.
Một vị sư già, có bà con họ hàng với ông Tư, đã từng viết nhiều sách Phật và rao giảng đạo từ bi, nói trước linh vị :
- Bần đạo không cần đọc kinh cầu siêu cho thí chủ. Bởi linh hồn thí chủ đã thực sự siêu thoát trước khi chết. Thí chủ không vướng bận cõi trần, không hệ lụy vào cái thân xác tạm bợ. Thanh thản ra đi như kẽ đi chơi, thong dong, dễ dàng. Thí chủ đã hiểu thấu đáo cái lẽ vô thường trong đạo pháp.
   
Mọi người ra về, lòng nhẹ nhàng, tưởng như đi trong mơ. Từ phía nhà ông Tư, còn vang vọng nhạc vui đưa tiển đám tang khách.
   
Khi tôi chết, viếng tang đừng buồn bã
Cười cho to, kể chuyện tếu vui đùa ,
Trong sáu tấm biết chắc tôi hả dạ,
Lên tinh thần, ấm áp buổi tiễn đưa

Cuộc đời này chỉ là 1 giấc mơ.  Có nhiều người đang sống, nhưng vẫn còn mơ...
   
Đến khi bịnh hoạn lên giường nằm rồi, mới nhìn lại được quãng đời mình.
   
Như 1 cuốn phim, quay chậm...
Cuộc vui nào rồi cũng tàn, họp mặt nào rồi cũng chia xa, hạnh phúc nào rồi cũng ly tan.
  
Và con người nào rồi cũng trở thành cát bụi.  Đây là luật Vô Thường - không ai thoát được.
  
Có quán niệm được điều này (không qua nói miệng) trong mổi ngày, trong hành động, và từng hơi thở..
    Thì sẽ tìm được hạnh phúc không xa...

TRÀM CÀ MAU


NGUỒN: Từ email của ĐỨC PHÚ gửi lamngoc
Xin cảm ơn Tác giả ĐứcPhú.








Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

THƠ KHA TIỆM LY




Kết quả hình ảnh cho ảnh uống rượu


RƯỢU TÌNH 


Từ khi em bước qua cầu, 
Thơ ta bỗng gọi niềm đau trở về. 
Hạt buồn nhỏ xuống lê thê, 
Rượu không đắng lắm mà tê tái lòng. 

Dù không phải sợi chỉ hồng,
Ai xui đem buộc tấc lòng cho đau!
Nhớ ai rượu cũng nặng sầu,
Ơ hay! Trong rượu có màu tương tư!

Em đi từ độ bấy giờ,
Ta đong thương nhớ mấy hồ mới say?
Ta say vì tóc em dài,
Rượu say nên rượu cũng ngây vì tình?

Đời ta, một kiếp phiêu linh,
Rượu đời ta uống một mình cũng quen!
Ai xui rượu ngọt, môi mềm,
Để ta nợ rượu, để thèm má em?

Bâng khuậng lá rụng bên thềm,
Lá rơi phận lá, ta buồn phận ta.
Ai làm sương nợ hương hoa,
Yêu thương một chốc, phong ba một đời!

Nhạt tình, chén rượu luôn vơi,
Gối bên, sợi tóc mồ côi một mình!


Kết quả hình ảnh cho ảnh dấu chân trên cát



XIN TRẢ LẠI NGƯỜI


Đã quen nếm đủ mùi cay đắng,
Sao mỗi dở dang mỗi thấy buồn?
Đọc lại những trang thư ngày trước,
Cám ơn người cho chút nhớ thương.

Rượu đắng chứa men tình nhợt nhạt,
Đáy li mờ tỏ bóng liêu trai.
Giọt sương cợt cánh bèo phiêu bạt,
Cám ơn người cho chút đắm say…


Cát lặng lẽ tìm về sa mạc,
Xa rồi năm tháng giọt mưa nguồn.
Nắng lửa dội chai lòng sỏi cát,
Trả lại người một mối tơ vương!
 

Vàng đá ngày nay đã rẻ hời,
Mang nhiều thương nhớ chỉ buồn thôi.
Cho ta giữ lại lời chua chat.
Tất cả thương yêu, trả lại người.

KHA TIỆM LY



NGUỒN: TỪ EMAIL CỦA TG KTL GỬI LAMNGOC
NM CẢM ƠN KHA HUYNH ĐÃ CHIA XẺ NHỮNG BÀI THƠ HAY.


Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

CHUYỆN CHÚNG MÌNH- HOÀNG YÊN LYNH






CHUYỆN CHÚNG MÌNH
*Gởi H

Có những nhớ thương nhỏ bé cứ tưởng thời gian sẽ làm phai mờ đi tất cả . Nhưng không bất chợt trở về trong một buổi chiều bên một góc quán nhỏ nào đó ngồi nhìn mưa rơi nhẹ mặt đường , nhìn những chiếc lá vàng bay tản mạn trong gió ... Nó trở lại thật nhẹ nhàng không ồn ào , không ray rứt nhưng cũng đủ để khuấy động cả một trời dĩ vãng .

Không ai có thể làm được gì cho quá khứ ,chỉ còn hoài niệm , nuối tiếc. Trong tình yêu thủy chung không biết cứ phải là như nhất nhưng có một điều chẳng mấy ai cân nhắc tình đầu tình cuối , tất cả đều thương đều nhớ chỉ có chăng số lượng ân tình , trọng lượng nhớ thương có thể khác nhau . Nhưng dù sao những bóng dáng tình nhân đã đi qua đời tôi đều đã để lại trong tôi những dấu ấn,những ân tình say đắm.

Những khuôn mặt người tình dẫu chung cuộc có thế nào chăng nữa vẫn là những giấc mơ tuyệt vời , những kỷ niệm ngọt ngào của một thời tin yêu và mơ mộng .Khi cố nhìn về quá khứ tôi đã như một thanh mã tấu rỉ cùn , như một con ngựa già buồn bã gục đầu bên máng cỏ ... Cuối cùng tôi chỉ là kẻ cô đơn cố tìm về những ân tình năm cũ bỗng thấy mình như một kẻ chiến bại lạc loài giữa rừng chiến khu kỷ niệm ... Người ta chỉ có một thời để yêu và một thời để chết .

Tôi đã thấm thía nỗi buồn đau tủi hận , đã biết thế nào là thế thái nhân tình như cảnh trời sáng nắng chiều mưa ... Vì vậy với tình yêu dẫu chung cuộc có thế nào chăng nữa tôi vẫn đều nhớ,đều yêu và mỗi khuôn mặt người tình đều đã ngự trị trong tim tôi , đều mang đến cho tôi những giấc mơ nồng ấm tuyệt vời .

Cuộc đời riêng đã cho tôi hiểu thế nào là phú qúy giật lùi , công danh lộn ngược . Cho đến những năm tháng cuối đời tôi vẫn mãi là kẻ tha hương bất đắc dĩ , vẫn ôm nỗi hoài vọng tưởng tiếc về quê xưa đất cũ . Năm tháng cứ đi qua, tuổi đời đang chấm những dấu chấm cuối cùng tôi mới hiểu được chỉ có tình yêu mới thật sự trọn vẹn trong tôi từ tuổi vào đời cho đến khi tóc phai chân mỏi .

Nếu phải nói một điều gì với cố nhân , tôi xin được bày tỏ vối tất cả chân tình của lòng mình . Cám ơn tình yêu , cám ơn những cố nhân dẫu được yêu hay tình phụ ... Với tôi là giấc mơ ngọt ngào là hạnh phúc của cả một đời .

Và nếu có một kiếp người sau nữa tôi xin được yêu , được chân thành với tất cả bóng dáng tình nhân với tất cả đam mê lẫn ngậm ngùi cay đắng.Tình yêu tự nó là một ca khúc tuyệt vời chỉ có chúng ta vụng về làm cho tình yêu trở nên buồn thảm ...

Trời xanh và mắt ai xanh
Mặt hồ xanh áo ai xanh phố chiều
Tôi đi tìm mãi hương yêu
Bờ xa bến vắng quạnh hiu nẻo về
Áo đời mòn gót sơn khê
Tìm ai như thuở đam mê với người
Một màu xanh,xanh mây trời
Mà tôi bạc tóc cuối đời tìm... yêu


HOÀNG YÊN LYNH


Nguồn: từ email của TG HYL gửi lamngoc
NM cảm ơn nhà thơ HYL.

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

CẢM NHẬN BÀI THƠ MƯỜI NẮM - HUỲNH XUÂN SƠN





ẢNH TG HUỲNH XUÂN SƠN



Huỳnh Xuân Sơn Với Cảm Nhận Bài Thơ Mười Năm Của Tác giả Sương Lam Nhã My





Mười năm không gặp tưởng tình đã cũ
Mây bay bao năm tưởng mình đã quên
Như mây bay đi một trời thương nhớ..
Nhưng em yêu ơi một vùng ký ức
Vẫn còn trong ta cả một trời yêu…(Trần Quảng Nam).


Những ca từ trong ca khúc Mười Năm Yêu Em của nhạc sĩ Trần Quảng Nam trên đây, chính là điều mà tôi nghĩ tới khi đọc bài thơ Mười Năm của tác giả Sương Lam Nhã My. Duy chỉ có điều ca khúc của Nhạc sĩ Trần Quảng Nam là nỗi lòng của một trang nam tử, còn tác giả của chúng ta lại viết về tâm tư của một yểu điệu thục nữ…Nhưng điểm chung của họ là viết về một mối tình ngang trái sau mười năm họ nhìn lại cuộc tình này…


Và đây là tác phẩm Mười Năm của Thiếu phụ Sương Lam Nhã My


MUỜI NĂM


(tặng TT)


 Ta về như bóng mây qua ải
Lặng lẽ trời buồn vắng trăng sao
Về đâu muôn dặm đời hoang hoải
Lá chết ngập ngừng mấy nỗi đau
 Vĩnh biệt đâu là người đã mất
Mà đời không được bước cùng nhau
Mười năm lặng lẽ em giờ đã
 Tình chết ngậm ngùi bóng vó câu
 Ta về sợi tóc màu sương điểm
Nghe nặng thời gian nước qua cầu
Bóng ai thăm thẳm ngoài cõi vắng
Trong chốn hoang đường trắng nẻo xa
 Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nhưng đủ buộc đời ta nhớ ta 
Người đi hoa bưởi hoa xuân rụng
 Sỏi đá buồn theo bước ngập ngừng
 Em đã chết lòng theo xác pháo
 Áo hoa thờ thẩn nắng cài song
 Mười năm đâu kể là dâu bể
Một giấc mộng thôi quá não lòng
Cho dẫu tình đôi ta vẫn đợi
 Chắc gì đã được tỏ mà mong 
 Mười năm chẳng thể dài hơn nữa
Mà ngắn bao nhiêu ước mộng đầu
Ta gói thời gian trong lớp bụi


 Đã màu rêu úa lạnh đời nhau…(Nhã My)


Bài thơ với một chủ đề không mới (tình dang dở). Nhưng với sự gắn kết câu từ có chọn lọc trau chuốt, theo một nhịp thơ như trầm buồn như khắc khoải theo tiếng lòng người thiếu phụ sau khi “chết lòng theo xác pháo” hay bùi ngùi mười năm sau  ngày  “áo hoa thờ thẫn..” sang sông ấy trở về chốn cũ. Cảnh cũ người xưa ngày gặp lại diễn biến bài thơ được tác giả khéo léo sắp đặt theo thể thơ tự do, nhằm gửi gắm một tình thơ thật giàu cảm xúc. Nội tâm cũng như chuyển biến tâm lý của người thiếu phụ ngày trở về được tác giả khắc hoạ rõ nét qua từng khổ thơ…


Ngay hai câu mở đầu diễn tả sự trở về của người thiếu phụ đã mở ra những giai điệu mang âm hưởng buồn qua hình tượng:


Ta về như bóng mây qua ải
Lặng lẽ trời buồn vắng trăng sao


Lặng lẽ ta về thì ai chẳng vậy? không lý lại đi nói với “người xưa” ngày hôm nay em về ư? điều đó là không thể …Nhưng hình ảnh “như bóng mây qua ải” lại là thông điệp khác. Chứ không chỉ là về thăm cố hương hay thăm người cũ…Aỉ nào ở đây? để cho bóng mây lướt qua trong khi “trời buồn vắng trăng sao”. Một áng mây bay lặng lẽ qua một “ải” nào đó, trong trời đêm đen mù mịt được tác giả lấy làm cột mốc cho sự trở về sau Mười Năm của người thiếu phụ…Thật ám ảnh với một hồn thơ trĩu nặng để cùng tác giả đi tiếp:


 Về đâu muôn dặm đời hoang hoải?
Lá chết ngập ngừng mấy nỗi đau?
 Vĩnh biệt đâu là người đã mất
Mà đời không được bước cùng nhau


Một nỗi đau có lẽ đã vò xé bóp nát trái tim người thiếu phụ qua khổ thơ này. Hai từ “vĩnh biệt” làm cho cả khổ thơ như chùng xuống. Vẫn biết ngay sau hai từ ấy là sự khẳng định chắc chắn “đâu là người đã mất”. Chỉ là “đời không được bước cùng nhau”. Có phải căn nguyên của “lá chết ngập ngừng mấy nỗi đau” và  câu hỏi khiến người nghe không thể trả lời “về đâu muôn dặm đời hoang hoải?”. Được bắt nguồn từ khi “đời không được bước cùng nhau”,khi ấy cả hai đã coi như “vĩnh biệt” mặc dù mỗi người vẫn đang đi theo một ngả rẽ của riêng mình… Hôm nay “bóng mây qua ải” lặng lẽ trở về. Nhưng tự hỏi lòng biết về đâu? giữa chập chùng lối rẽ mà tác giả gọi nó là “ muôn dặm đời hoang hoải”…Vẫn chưa thấy “ngôi thứ hai” xuất hiện vẫn chỉ là những tâm tình của người thiếu phụ:


Mười năm lặng lẽ em giờ đã
 Tình chết ngậm ngùi bóng vó câu
 Ta về sợi tóc màu sương điểm
Nghe nặng thời gian nước qua cầu


“Mười năm lặng lẽ bây giờ đã”…một câu nói bỏ lửng  dẫn đến “Ta về sợi tóc màu sương điểm”. Mười năm, thời gian không phải quá dài nhưng đã đủ làm cho “nghe nặng thời gian bước qua cầu”. Có lẽ thời gian vẫn nhẹ nhàng trôi như qui luật của nó thôi, chỉ có lòng người nặng trĩu níu kéo thời gian lại . Bởi tự đáy lòng, tự trong trái tim đã biết mười năm ấy “tình chết ngậm ngùi bóng vó câu” rồi mà! Phải chăng ở câu thơ này còn ẩn chứa một uẩn khúc gì cho cuộc tình dở dang này thì phải? bởi không  khi mà tác giả mượn ý của câu thành ngữ “bóng Câu qua cửa sổ..” Tình chết ngậm ngùi và nhanh như “bóng  Câu qua cửa sổ” ư? Căn nguyên nào dẫn đến cái chết cho cuộc tình này lại nhanh đến vậy? ta cùng tác giả đi tiếp vào bài thơ


Bóng ai thăm thẳm ngoài cõi vắng
Trong chốn hoang đường trắng nẻo xa
 Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nhưng đủ buộc đời ta nhớ ta
Người đi hoa bưởi hoa xuân rụng
 Sỏi đá buồn theo bước ngập ngừng
 Em đã chết lòng theo xác pháo
 Áo hoa thờ thẩn nắng cài song


Mười năm trước “bóng ai thăm thẳm ngoài cõi vắng” để lại “lời thề” cho một người dõi mắt ngóng trông. Người ở lại nâng niu gìn giữ lời thề ấy dẫu đã biết chỉ là “chốn hoang đường” hay còn có chút vấn vương bởi “trắng nẻo xa” phía trước…Nhưng dù sao thì “lời thề buổi ấy” với người trở về hôm nay mãi mãi “đủ buộc đời ta nhớ ta”. Chỉ là nhớ thôi chứ chẳng phải là buộc đời ta với nhau phải không tác giả?..
(** cho dù còn giữ lấy lời thề năm cũ nhưng đối tượng tình yêu đã không còn thuộc về mình  nữa thì chỉ chua xót để nhận ra là  tự '' buộc đời ta nhớ ta'' mà thôi !Ai kêu '' ta'' cứ chung thủy làm gì  để rồi '' chết lòng theo xác pháo ''- chú thích của  NM )


Rồi ngã rẽ  không hề mong muốn cũng đến bởi “người đi hoa bưởi hoa xuân rụng”. Hoa bưởi rụng còn chờ ngày hái quả! Hoa xuân rụng ta đợi trái gì đây? Trong khi ấy “sỏi đá buồn theo ..” Em cũng đành phải “bước ngập ngừng” những bước đi vào ngã rẽ ấy mà mỗi bước là thêm chết một bước sâu vào đáy lòng “theo xác pháo”. Về bến ấy, cuối lối rẽ ấy có một cánh áo hoa có lẽ còn vương xác pháo “thờ thẫn ..” bên song. Nắng cài song? Hay nỗi lòng day dứt nhớ thương chết theo từng vệt nắng tắt dần ngoài song cửa  vào cái buổi chiều pháo nổ ấy!  Tất cả trôi đi… cuốn theo để dìm chết cuộc tình một cách nhanh nhất, bắt đầu từ cột mốc này thì phải…để rồi:


Mười năm đâu kể là dâu bể
Một giấc mộng thôi quá não lòng
Cho dẫu tình đôi ta vẫn đợi
 Chắc gì đã được tỏ mà mong


Một lời thề, một cuộc tình, một sự ra đi, một sự trở về…Một bước ngoặt  qua một cửa ải thật không dễ dàng với “mười năm đâu kể là dâu bể”…Không kể nhưng những ai đã từng yêu, từng phải xa, từng trở lại hẳn không chỉ là dâu bể mà là mênh mông biển rộng hun hút vực sâu ngăn lối…chẳng dễ vượt qua nổi. Nhạc sĩ Vũ Thành An khi cuộc tình đổ vỡ ông đã trách móc người yêu ..nhưng phải đợi nhiều năm sau ông mới sửa lời ca khúc Bài Không Tên Cuối Cùng trong đó có câu rất hợp với tâm trạng người thiếu phụ của tác giả Sương Lam Nhã My hôm nay:


“Nếu chúng mình có thành đôi lứa
Chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau”.


Người thiếu phụ sau mười năm ‘lặng lẽ như bóng mây..” để ‘qua ải” và trở về… Có lẽ  phải mất rất nhiều thời gian cùng với những dằn vặt khổ đau vì đã mang nặng lời thề để mà buộc nỗi nhớ vào mình, rồi sau khi cân đong đo đếm cuối  cùng  đã  nhận  ra“cho dẫu tình đôi ta vẫn đợi./ Chắc gì được tỏ mà mong..”…


Mười năm chẳng thể dài hơn nữa
Mà ngắn bao nhiêu ước mộng đầu
Ta gói thời gian trong lớp bụi
 Đã màu rêu úa lạnh đời nhau…


Khổ thơ kết đã đóng sập cánh cửa cho nỗi buồn day dứt suốt mười năm qua không có cơ hội nhân thêm mãi…Hai  câu thơ như hai vế đối làm điểm nhấn cho người trong cuộc. Để  người ngoài cuộc tự so sánh “ mười năm chẳng thể dài…” nhưng đã đủ để cho người thiếu phụ nhận ra “ngắn bao nhiêu ước mộng đầu”…Khi đã nhận ra, đã rũ bỏ được nỗi buồn thì đương nhiên không cứ người thiếu phụ ấy mà có lẽ tác giả, tôi, và sẽ có nhiều bạn đọc khác nữa sẽ “gói thời gian trong lớp bụi./”Bởi chính nó  suốt mười năm qua đã  làm  “  úa lạnh đời nhau”.


Nỗi niềm sau mười năm của người thiếu phụ phần nào đã được nguôi ngoai sau lần trở về này. Còn người ấy thì sao? Có lẽ ta có quyền chờ đợi ở tác giả Sương Lam Nhã My một tác phẩm khác viết về Trang nam tử mười năm sau.. Tác giả đề tặng TT, TTcó phải là người thiếu phụ? TT có phải là Trang Nam Tử ? Dù TT là ai thì đây cũng là một bài thơ tràn đầy cảm xúc và rất nhân văn rất tình người, và rất chân thật của tác giả Sương Lam Nhã My…


Nhạc sĩ Trần Quảng Nam khi kết thúc Mười Năm Yêu Em ông đã viết:


Ôi ! ta xa nhau tưởng chừng như đã..
Ôi ta yêu nhau để lòng cứ ngỡ
Tình bất phân ly- tinh vẫn như mơ
Đành nhủ lòng thôi giã từ kỷ niệm. (Trần Quảng Nam)


Còn nhạc sĩ Vũ Thành An khi kết cho ca khúc Bài Không Tên Cuối Cùng ông sửa lời lại thành:


…Này em hỡi con đường em đi đó, con đường em theo đó.


Đúng đấy em ơi
Nếu chúng mình có thành đôi lứa
Chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau
Nếu không còn gặp nữa
Giữ cho trọn ân tÌnh xưa
Xin gửi em một lời nguyện
Được bình yên, được bình yên suốt đời…(Vũ Thành An)


Và tôi mong rằng đó cũng là suy nghĩ là tâm tư, là nỗi niềm sâu kín, mà Trang nam tử của người thiếu phụ trở về hôm nay dành để nói với cố nhân của mình.


Sài Gòn 7/7/2014


HUỲNH  XUẬN SƠN
NGUỒN : http://tho.com.vn/xuan-son/post