CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

NHỚ TẾT ĐOAN NGỌ XƯA - THƠ NGUYỄN KHÔI






NHỚ TẾT ĐOAN NGỌ XƯA
"Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng 5"
                     
Tết Đoan Ngọ, ngày xưa còn nhớ
Bảnh mắt ra : rôm xẩy cắn thịt da
Tụt khỏi giường là ào ra ao tắm
Bắt "chuồn chuồn cắn rốn"...
                  cùng lũ bạn nhẩn nha...
                      
Rồi về nhà : sà vào lòng mẹ :
- một bát đầy "Rượu Nếp" thơm ngon
-Hai quả trứng luộc xơi đã miệng
-chùm vải Thiều ngọt ứa linh hồn...
                      
"Giết sâu bọ" - Mẹ hiền nhắc nhủ :
-chớ ra sông giãi nắng đầu mùa
-chớ trèo cây đung đưa bẻ Nhãn
- chớ cưỡi Trâu phi đại dại đua...
                       
Tết Đoan Ngọ
Ôi tuổi thơ tươi đẹp
Mái tranh vàng thơm phức hương Cau
Mẹ cười răng hạt na đen nhánh
Thằng con trai 
                 chạy nhảy
                              bãi sông Cầu...
          
      Quê Bắc Ninh 5-5 Âl (20127)
               NGUYỄN KHÔI


 

Nguồn : từ email cả nhà thơ Nguyễn Khôi gửi lamngoc.
NM cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khôi thường xuyên chia xẻ những bài hay.

 

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

HAI MƯƠI NĂM - THƠ TRÚC THANH TÂM

Thân gởi: Nhà thơ Nhã My ( Hai Mươi Năm - thơ Trúc Thanh Tâm ) 
Hộp thư đến


TrucThanhTam Truc
24 thg 5 (3 ngày trước)

tới tôi 
thơ Trúc Thanh Tâm
    



 

 HAI MƯƠI NĂM 

  Lúc trước em mười tám tuổi
  Và ta đã tuổi hai mươi
  Tình yêu không thành duyên nợ
  Nhớ thương trả lại cho đời 

  Chiều nay, ta về chốn cũ
  Giáo đường, băng ghế vắng em
  Tiếng kinh cầu không thay đổi
  Riêng ta thêm nặng nỗi niềm

  Em cũng theo chồng xa xứ
  Từ hôm mặc áo cô dâu
  Em đưa tay làm dấu thánh
  Để tang cho mối tình đầu

  Ngày đó, dù em rữa tội
  Vẫn còn vương vấn tình ta
  Hai mươi năm rồi xa cách
  Chúa ơi, tình cũ đã già 

  Bây giờ, mình ta xưng tội
  Những gì ngày trước, xin quên
  Chúa ơi, cho con giữ lại
  Một thời đắm đuối, yêu em !


 TRÚC THANH TÂM
 ( Châu Đốc )

NM cảm ơn nhà thơ Trúc Thanh Tâm thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

BÂNG KHUÂNG GHE HÁT ĐI RỒI - KHA TIỆM LY

 





          BÂNG KHUÂNG GHE  HÁT ĐI RỒI


Nghe tiếng trống ba dùi một: Thùng thùng! Thùng! Thùng thùng, Thùng!... là tôi nôn nao cả người. Đó là tiếng trống “rao bảng” của gánh bầu Trình về hồi sáng mà thằng Tửng đã thông báo cho cả bọn chúng tôi hay. Mẹ đã hứa cho tôi tối được xem hát, nhưng với điều kiện là phải xắt và bầm xong một thúng chuối cây cho con ụt (heo)! Chuyện nầy không nặng mà cũng không nhẹ nhàng gì. Với con dao mà thợ rèn rèn để chuyên dùng cho việc xắt chuối nên nó bén ngót; và nhờ cái cán dài tựa vào vế, nên cây chuối to đùng tôi chỉ khứa có sáu khứa là xong một lát, nhưng sao lần nầy tôi thấy ngán cái việc tầm thường nầy quá! Còn nửa thúng nữa mới xong, tôi định bỏ dao chạy ra xem ( “rao bảng”), nhưng sợ mất thời gian mà trễ xuất hát. Đúng ra tôi muốn đến sớm để cùng lũ bạn chơi đùa và “ăn” nước đá nhận, chứ tới tối mới mở màn, thì làm sao trễ được? Phải chi có thằng Tửng lại, biểu nó phụ bằm thì hay biết mấy!

Từ “rao bảng” thời bây giờ ít được nhắc tới nên các bạn khó mường tượng được. Như vầy: Khi gánh hát vừa tới nơi thì có bộ phận trang trí sân khấu,…và một bộ phận đi … “rao bảng”!

Thường bầu hát mướn một cỗ xe ngựa,(loại phương tiện giao thông cao cấp thời ấy ở quê tôi), hai bên hông và sau xe được treo ba tấm bảng đề tên tuồng hát và hình ảnh ấn tượng nhất của vở tuồng được diễn tối hôm đó. Trên xe có một cái trống chầu và một người đánh trống, thường là người trong đoàn, nhưng đôi khi cũng là người tình nguyện ở lớp tuổi đàn anh của chúng tôi (để được đi xe ngựa và đựơc đánh trống chơi!). Sau xe ngựa là cả bọn chúng tôi… chạy bộ theo; dọc đường lại được các bọn khác tháp tùng, nên xe “rao bảng” cũng coi xôm tụ lắm.

Cứ hai tiếng nhặt, một tiếng khoan (Thùng thùng! Thùng!) theo bước chân ngựa thật chậm từ đầu làng đến cuối làng. Và như thói quen như nghe tiếng chuông cà rem; Nghe tiếng trống, thí ai cũng biết gánh hát về!

Tiếng trống xa dần,..Hồi sáng thằng Tửng nói tối nay hát tuồng Tôn Tẩn Hạ San tôi càng háo hức được xem. Tôi khoái chuyện nầy qua lời kể của mẹ tôi, nên lấy lại khí thế xắt cho xong nửa thúng còn lại. Để khích lệ tinh thần, mỗi lần khứa dao, tôi đọc thầm trong bụng: “Tôn -Tẩn - Hạ - San -Tôn -Tẩn - phực!”, đến “phực”, sáu khứa dao, là xong một lát chuối; lát mới tôi đếm lại từ đầu : “Tôn-Tẩn…..phực!”. được năm mười cái “phực” thì đã mỏi tay. Tôi kiên nhẫn thêm vài cái “phực” nữa thì thằng Tửng áo vắt trên vai, cổ lòng thòng chiếc ná thun, vốn là vật bất ly thân của nó; hổn hển hỏi tôi:

- Chưa rồi sao mậy?

Tôi mừng húm:

- Mầy phụ bầm với tao đi! Gần xong rồi!

Nó tự động lấy tấm thớt và con dao quen thuộc, ngồi cạnh tôi, hốt chuối ra bầm. Thao tác nhuần nhuyễn như đầu bếp chuyên nghiệp bầm thịt!

Trong bọn, tôi thích thằng Tửng nhất, vì nó xông xáo và hay giúp đở bạn bè. Nó lại có nhiều tài vặt mà bọn chúng tôi không có hoặc thua xa; như dám bơi qua lại con rạch cái hai lần khi nước chảy xiết, biết cỡi trâu, đặt lờ, bắt cá và leo cây như khỉ, còn gan dạ nữa! Đi chơi với nó không hề bị đói. Mùa vú sữa thì ăn vú sữa ở đinh, chùa. Các mùa khác thì…. chui rào hái trộm! Gần tết, khi ruộng vừa gặt xong, những chỗ nước đọng lại, nó chỉ huy chúng tôi đắp hầm bắt cá. Trong lúc chờ đợi cá nhảy vào, nó làm bẫy cò ke để bắt những con cò xấu số đang lặn hụp tìm mồi.

Được cá, nó bảo chúng tôi bứt gốc rạ khô, đốt lên rồi thảy cá lớn cá nhỏ vào. Chỉ một lát, mùi cá chín bốc lên ngậy cả mũi. Khều cá ra, lấy rạ chà sơ lớp cháy bên ngoài, để lộ lớp thịt vàng lươm…


Tôi dừng tay lại:

- Mầy rủ tụi nó chưa?

- Rồi! Làm lẹ đi!

Cứ mỗi lần gánh hát về thì bộ mặt làng tôi coi xôm tụ lắm. Mới bốn giờ chiều mà mấy chị đã trưng bày các “cửa hàng” của mình: Bốn năm xề mía chặt khúc, mấy xề đậu phọng nấu. Tấp nập nhất là “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Đó là một bàn chữ nhật khá cũ kỹ, ở trên để một bàn bào nước đá, cả chục cái ly và hai chai sirô. Chị liên tục bào đá, hứng vào một ly rồi ém chặt lại, sau đó xịt sirô vào, lật úp ly lại, lấy ra khối đá hình cái ly đượm màu sirô đỏ thắm, trao cho người mua, toàn là bọn trẻ lứa tuổi chúng tôi! Cứ thế chúng tôi mút! Mút liên tục (nếu không thì sirô theo đá tan ra thì uổng lắm).Tay nầy tê thì đổi qua tay kia, mút chừng nào khối đá còn một miếng nhỏ, chúng tôi bỏ tọt vào miệng nhai rào rạo! Món nầy gọi là “nước đá nhận”, xem ra rất thích hợp với chúng tôi, bởi vừa ăn, vừa chơi đùa được, lại tiện lợi là, sau khi ăn xong, hai môi đỏ đẹp như thoa son; hai tay sạch trơn, như vừa rửa vậy!

Không hiểu sao, cái món vừa ngon lành, vừa rẻ tiền, vừa tiện lợi như thế mà ngày thường các chị không bán, mà phải đợi đến gánh hát về?

Gánh hát đêm đầu, người xem đông.

Vì diễn ở nhà lồng chợ, chợ làng tôi cũng như chợ huyện thời ấy chỉ là một dãy nhà nhiều căn liên tục, xung quanh không rào, không cửa ( mới gọi là nhà lồng), nên gánh hát về phải lấy vải dày bao xung quanh, chỉ chừa một cái cửa để “bán vé”. Nói “bán vé” chứ vé viết gì đâu? Người bán “vé” luôn là bà bầu, tức là vợ của ông bầu gánh hát, kèm theo là con hay người trong đoàn mà bà tín cẩn. Cứ người lớn vô cửa thì ba đồng, con nít một đồng. Những đêm cuối, thì người lớn hai đồng, con nít vẫn giữ nguyên., bởi một đồng chỉ giá trị hai gói xôi! Tuy vậy, bà bầu cũng “du di”, thấy đứa nào sạch sẽ … như tôi (!), thì bà cho hai đứa một đồng! Bởi cái “du di” nầy mà xãy ra nhiều chuyện buồn cười:

- Sao hai thằng đó một đồng mà tôi với con tôi tới ba đồng ?

- Thi…thì tại hai đứa đó dễ thương.

- Vậy chớ con tôi dễ ghét lắm hả? Tui với nó hai đồng rưỡi thôi!

- Bà vô bốn người mà trả có hai đồng rưỡi, chắc chết tôi quá! Dắt một đứa, cõng một đứa, bồng một đứa….

- Em bé không tính tiền mà!

- Thôi vô đi bà nội, rầu bà quá!

Hai anh em thằng Xoài thằng Mận là chuyên gia coi cọp. Chúng đợi ở cửa, lợi dụng lúc đông người, xô đẩy nhau, chúng chen vào. Mười lần cũng lọt được năm sáu, những lần còn lại bị… kéo lổ tay, đuổi ra.

Tôi vốn nhát gan, nên mua “vé” đàng hoàng. Thằng Tửng nói với tôi:

- Mầy mua “vé”được rồi đó!

- Đợi một hồi cho bớt chen lấn rồi hãy vô.

- Đồ ngu! Mầy vô sau, đứng sau người ta, có nước… hửi đít họ chớ làm sao mà coi?

Rồi kéo tôi ra sau hông nhà lồng, chỉ vào một chỗ; nói:

- Lát nữa mầy vô, mầy lại cây cột nầy nghen!

Tôi ầm ừ, vì không phải lần đầu tiên tôi a tòng với nó. Nó dặn lại:

- Nhớ à nghen!

Vào cửa, vừa tới cây cột nó chỉ thì ở ngoài nó đánh vào vải “bịch, bịch”, biết ám hiệu, tôi nhìn quanh rồi giở vải cho nó chui vào. Chiến thuật nầy hiệu quả hơn của Xoài, Mận nhiều, vì hầu hết nó vô trót lọt! Nếu xui rủi bị phát hiện thì nó cũng không bị kéo lỗ tai; mà là tôi! Tôi khoái nó ở chỗ, dù có trót lọt hay không, hôm sau nó cũng đãi tôi một chầu đá nhận!

“Rạp hát” không có ghế ngồi cho khán giả, muốn ngồi ghế thì tự đem ghế nhà vào, thường là mấy bà già, còn hầu hết thì ai vô trước, đứng trước, ai vô sau đứng sau. Còn vô sau mà muốn đứng trước thì cứ chen lấn! Mấy đêm đầu, người sát như nêm, mùi mồ hôi ngậy mũi, tiếng cãi cọ luôn xảy ra khi chờ đợi mở màn: “Mấy thằng quỷ nầy làm gì chạy tới chạy lui hoài vậy?” Một người bịt mũi: “Ai bỏ “bom nguyên tử” vậy ta?”. Mọi người vừa bụm miệng thì lại có tiếng: “Hùm… “trái” nầy còn ác liệt hơn nữa!”. Ai cũng cười rung cả bụng. Một chị gái: “Lợi dụng hả?”. “Chật phải cho người ta đụng chớ? Sợ thì ở nhà đi!”

Quê tôi trước sau có bốn gánh hát (chuyện hi hữu tại một xã nghèo thưa thớt dân cư), mà bầu Bời, bầu Trình là kỳ cựu nhất. Đào kép trong đoàn đa phần cũng là con em trong làng. Dẫu sống đời lang bạc, nhưng họ cũng ít nhiều ưu ái với nơi cắt rún chôn nhau. Hậu trường các gánh khác chúng tôi dễ gì được vào xem. Với các gánh nầy, chúng tôi vào thoải mái, miễn đừng lớn tiếng, phá phách, với đừng … ăn ổi chín là được! Lần đầu tôi cầm trái ổi chín rục, thơm lừng, vừa cắn một miếng thì chị Ẩn, đào chánh giật lấy. Tôi nhơ ngác: “ Ổi của em mà!”. “Biết rồi! Trái nầy em cho chị”. “Bộ chị có bầu hả? Sáng mai em hái cho chị.” Chị vò đầu tôi: “Không phải, nhưng ăn trước bàn tổ không nên, ông bầu thấy ổng quánh bây giờ”. Chị lại cười: “Ví (với) một lát, mấy em không được ăn me trước mấy ông thổi kèn nghe không?” Tôi ngơ ngác dạ dạ cho qua. Sau nầy mới biết, không cho ăn ổi vì sợ… ông tổ thích mùi ổi chín mà bỏ đi (về nhà người ăn ổi); còn không cho ăn me trước mấy ông thổi kèn vì sợ mấy ổng… thèm chảy nước miếng mà thổi không được! Từ đó, tôi còn nghe người lớn nói như vầy: “Ăn cướp không bao giờ cướp đồ (tài sản) của gánh hát!”. “Sao vậy?”. “Vì họ cùng một ông tổ mà ra, hồi đó ông tổ gánh hát bỏ nghề rồi đi … ăn cướp” (?) “Ối! Xa lơ xa lắc, giờ cướp đại, chết thằng tây nào?”. “Bậy! Nếu cướp của gánh hát thì bị quan bắt liền, hồi trước ổng thề như vậy”. “Ờ hén”. “Có ghe cướp, cướp nhằm ghe gánh hát mà không biết, chừng về thấy mấy cái rương toàn là âu ria, áo mão, hoảng hồn, đem trả không kịp!”

Khán giả đa số là bà già, ông già, các lớp đàn anh đàn chị chúng tôi, tức khoảng mười bảy mười tám tuổi, tuổi sắp có chồng, có vợ! Thời đó, nam mười tám, nữ mười sáu có chồng có vợ là chuyện thường tình. Lớp trên hai mươi, con cái đùm đề, ít ai đi coi. Tuổi trung niên còn ít nữa, không hiểu vì sao!

Có một khán giả rất đặc biệt là thằng Hợp (sau nầy là kép cải lương của anh sáu Triều), nó ngồi một chỗ cũng rất đặc biệt: Dưới “bàn vua”. Đó là cái bàn chữ nhật như cái bua-rô của thầy giáo, không trải drap, phía sau là cái ghế đẩu, tượng trưng cho ngai vàng! Không hiểu sao, đêm nào cũng có cái bàn ấy đặt sát tấm màn phong cảnh tận cuối sân khấu, dù đêm đó không có vai vua cũng vậy!

Hợp ngồi xếp bằng dưới cái…. “long bàn” ấy. Áo luôn phanh ngực, lâu lâu quẹt mũi, nhìn xuống coi… khán giả, bởi mặt bàn che khuất tầm nhìn, làm sao coi đào kép?

Có gánh hát nào lại cho khán giả ngồi chỗ đó, ngoài gánh bầu Bời, bầu Trình? Ban đầu mở màn thấy nó ngồi, ai cũng cười dễ dãi, sau thành quen, xem như đó là ghế danh dự dành cho nó vậy!

Có lần vị vua nào đó lâm triều, vừa ngồi xuống ngai (ghế đẩu), vua duỗi chân ra, đạp nhằm nó, vua “ý” một tiếng, làm “bá quan văn võ”(thường có bốn người - hai văn hai võ) cũng giật mình. Khán giả thì cười rần. Rồi đâu cũng vào đấy, vua làm việc vua, nó ngồi tiếp!

Lại lần khác, vua vỗ bàn quát: “Giáp sĩ đâu?”, cùng lúc ngoài rạp có tiếng tía nó gọi: “Hợp ơi, về biểu!”, nó lật đật “dạ” một tiếng thật lớn còn hơn cả tập thể gánh hát “dạ” trong hậu trường, rồi vội vàng đứng dậy, đội luôn cả “long bàn” trên đầu. Vua quan ngơ ngác, còn khán giả thì cười vỡ bụng.

Thế mà hôm sau, nó cũng không vắng mặt ở chỗ ngồi danh dự đó!

Cũng nên nói thêm, gánh hát không có máy đèn. Ánh sáng là chiếc đèn măng sông duy nhất được treo giữa sân khấu và hàng ghế đầu tiên của khán giả. Nói “hàng ghế”cũng đúng, vì dường như đêm nào cũng có một hai hàng ghế "thượng hạng" dành cho các cụ, dù ghế nầy do các cụ mang tới. Đó hàng ghế bất khả xâm phạm trong một điều luật bất thành văn: Các anh chị và lũ chúng tôi ở phía dưới, cãi cọ, chen lấn làm gì làm, tuyệt nhiên không ai dám lướt qua các hàng ghế trưởng bối đó. Các cụ dù vô sau, chỉ cần đưa ghế lên (cho dễ đi), là có hàng loạt tiếng nói :- “Tránh ra cho bác Bảy ( ông Ba, bà Hai…) đi cà tụi bây ơi!”. “Cái thằng nầy lì quá, nói nãy giờ mà cứ giỡn hoài!”

Đó không phài là văn hoá kính lão, là điều đáng tự hào của quê hương tôi đó sao?

Về tuồng tích thì thường là những trích đoạn của các truyện Tàu mà cô Năm tôi thường đọc cho các người lớn trong làng nghe trong các buổi đám cưới, đám giỗ, hay những lúc nông nhàn, như “Phụng Nghi Đình”, “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”,”Tôn Tẩn hạ San”, “Triệu Tử Long đoạt ấu chúa”, “Chiêu Quân cống Hồ”.…Thật tình, giờ tôi nhớ được nội dung những chuyện ấy là nhờ nghe cô Năm đọc, còn coi hát bội, tôi không nhớ gì hết ngoài mấy tiếng “tróc mã đề thương, ứ ư, ứ ư…”, bởi hát bội thường “hát”chữ nho, hiểu đâu mà nhớ?!

Vài năm sau (khoảng năm 1959), các gánh hát bội của bầu Trình, bầu Bời dần dà ế khách, bị lép vế bởi các đoàn cải lương ở xa đến như Điền Viên, Kiếp Bướm, Ánh Sáng. Gánh bầu Trình phải diễn luôn cả suất ban ngày mà hầu như không đủ sống, bởi khán giả toàn là lũ nhí chúng tôi, mà tụ lại không bằng một gánh Sơn Đông mãi võ! Suất đêm là chính, lại bị “sập dàn” hoài! (*), bởi cũng chỉ có đám chúng tôi vào coi, chỉ là ham vui, hơn là ham coi hát!

Cửa vé vắng tanh, thằng Mận, thằng Xoài không còn cơ hội “thừa nước đục thả câu”, còn tôi cũng không dám giở màn cho thằng Tửng chui vào. Thằng Hợp cũng tự động rời khỏi đít “long bàn”. Các “cửa hàng” mía, đậu phọng đã dẹp tiệm, chỉ còn lại “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Chị bào nước đá thư thả hơn, gọi tụi tôi là “cưng” chứ không là “tụi bây” như trước, và ly nước đá cũng cao hơn, sirô nhiều hơn!

Ban ngày tôi thường lân la vào hậu trường chơi, chị Ẩn nằm một mình trên võng, thấy tôi chị cười , khoe hai hàm răng đều đặn, không phấn son mà tôi thấy chị đẹp lắm, song trông chị buồn còn hơn khi chị đóng vai Chiêu Quân lúc rời xa đất Hán!

- Ủa? Sao có một mình chị ở đây vậy? Mấy anh đâu hết rồi?

Mắt “Chiêu Quân” nhoà lệ:

- Mấy ảnh đi bắt cá hết rồi, chị ở nhà nấu cơm.

- Sao hồi sáng không mua, bắt làm chi cho mệt?

Chị rời võng, đến thêm củi cho nồi cơm tổ bố. Có lẽ khói cay, làm mắt chị ươn ướt, đỏ hoe:

- Hát ế quá đâu có tiền mua cá, em!

Hai giọt nước mắt chị rơi xuống, tôi chạnh lòng, vừa thương chị, vừa ân hận về việc đã bao lần a tòng với thằng Tửng giở vải để cho nó vào coi cọp. Chị lau nước mắt cười thật buồn, hỏi tôi:

- …Ổi nhà em có trái nhiều không?

- Có, có nhiều lắm. Sao chị bảo không nên ăn ổi chín chỗ này?

Chị vẫn cười buồn:

- …Chị muốn ăn ổi chua.

- Chị có bầu hả? Sao bụng chị nhỏ xíu vậy?

Chị hơi vui vì lời trẻ con của tôi; không đáp, chỉ gật nhẹ. Tôi nhanh nhẩu:

- Vậy chị chờ em chút nghe.

Rồi chạy vụt ra réo to:

- Tửng ơi Tửng! Tửng ơi Tửng! Về nhà tao chơi.

Chiều hôm ấy ông bầu đến từ giã bà con ở dãy ngã tư. Ông buồn hơn mọi ngày. Khi đến nhà thầy Tư (tiệm thuốc bắc) thì bà con cũng kéo đến. Chú chín chệt Xồi

- Tui tặng ông bầu hai ký lường (đường) táng uống lước (nước). Chừng nào lảnh (rảnh) dìa (về) hát cho dui (vui).

Chú chín chệt Xồi sống ở làng đã lâu đời, có vợ Việt, ăn mắm sống nên không “nị, ngộ” như các chú Tàu ở huyện.

Một lát chú Hai Cộc xách một xô cá từ mé triền lên:

- Mới tát đìa! Biếu anh Ba (ông bầu thứ ba) và anh em ăn lấy thảo.

Thằng Hợp vừa hít mũi vừa bưng một đĩa lớn bánh cam bánh cồng đầy ắp (chắc bán ế) lại, thưa:

- Má con nói biếu ông bầu ăn uống nước.

Thiếm tư quay quanh rồi nói:

- Ở đây cũng có bánh trái rồi…Hay là đứa nào mang qua nhà lồng cho mấy em ở bển. Đem cá của anh hai cho mấy em làm luôn thể, tối rồi.

Thầy Tư ngập ngừng nói với ông bầu:

- Hổm rày chắc vất vả lắm hả anh Ba?

- Thì anh thấy đó, cứ “sập dàn” hoài!

Chú Chệt Xồi:

- Hay là ông bầu dìa mua bán dí (với) tui, kiếm ăn lược lám ló! (được lắm đó)

Mọi người ái ngại cho câu nói thiệt lòng của chú Chín. Nhưng ông bầu chỉ thở dài:

- Làm như cái “nghiệp” anh Chín ơi! Khi ế anh em cứ than thở đòi về làm ruộng, nhưng khi được bà con ái mộ thì quên hết! “Cái nghiệp” khó dứt lắm anh ơi. Như con tằm ăn dâu phải nhả tơ đền nợ dâu vậy.

Sáng hôm sau khi tôi định xách thêm bọc ổi chua và gói muối ớt cho chị Ẩn, thì thấy thằng Tửng bọc một áo xoài đứng ở trước cửa. Tôi trố mắt hỏi nó:

- Mày ăn cắp hả?

- Tao xin đàng hoàng. Tao nói xin cho chị Ẩn, thím Bảy bảo hái cho khá khá. Ăn cắp gì mà nhiều dữ vậy?

Khi chúng tôi đến, mọi người đang ăn cơm. Chị nắm tay chúng tôi, nghẹn ngào:

- Cám ơn hai em nghen!

Ăn cơm xong mọi người lỉnh kỉnh gánh gồng xuống ghe. Tôi và Tửng đứng trên bến. Chị vò đầu chúng tôi rồi xuống sau cùng:

- Mấy em ở lại ráng học giỏi nghe. Lần sau chị về chị bao mấy em coi hát khỏi mua vé.

Thằng Tửng coi bộ sượng sùng vì lời chị. Tôi nói:

- Chừng nào chị về nhớ ẵm em bé về chơi nghen.

Ghe rời bến, chị yếu ớt vẫy tay. Ghe đi xa, chúng tôi nhìn đến khuất bóng mới thôi. Tôi ngó qua Tửng, nó ngượng ngùng quẹt nước mắt. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc. Và lần cuối cùng tôi gặp chi Ẩn.

KHA TIỆM LY


Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

CÚ ĐIỆN THOẠI BÌNH THƠ - ĐẶNG XUÂN XUYẾN

BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
23 thg 5 (1 ngày trước)

tới tôi





CÚ ĐIỆN THOẠI BÌNH THƠ


*
Ông điện cho tôi, giọng rổn rảng:
- Này cậu! Mấy bài thơ mới của cậu hay lắm. Tớ vừa đọc, rất khoái. Lớp trẻ các cậu bây giờ viết nhanh, trực giác mạnh nên bọn tớ đọc thơ của lứa các cậu thích đấy, nhưng mà... nói thật, để hiểu được thơ của các cậu cũng mệt óc lắm.
Rất thật, tôi rụt rè:
- Vâng. Cháu cám ơn chú đã khích lệ. Nhưng... Chú cho cháu một vài lời cụ thể được không ạ?
Có lẽ, cũng rất thật, ông chậm rãi:
- Thơ cậu, tớ đọc có hiểu mẹ gì đâu mà cho ý kiến cụ thể.
Rồi ông cao tông giọng:
- Thơ của cậu thế nào ý. Đấy đếch phải là thơ. Kiểu như cái bài “Lan Man Và Chuyện Đàn Cừu”, với bài “Lan Man Và Chuyện Thằng Bạn”. Đúng là lan man thật. Sao lại lôi con Cừu vào thơ thế? Lại bình đẳng con Cừu với Con Người Việt Nam ta là thế nào? Cậu có biết hình ảnh con Cừu trong biểu tượng văn hóa là tượng trưng cho điều gì không? Là nô lệ! Là tầng lớp bị trị ngu đần và bạc nhược! Ở Việt Nam ta có Cừu không? Có nhưng không nhiều, rất hiếm, vì đấy là hàng “nhập ngoại” nên không thể là hình ảnh tượng trưng cho bất kỳ điều gì trong thực trạng văn hóa của người Việt Nam cả. Cậu dùng hình ảnh con Trâu, con Bò hoặc con Chó, con Lợn,... còn khả dĩ chấp nhận được phần nào... Đằng này lại là hình ảnh con Cừu. Hẳn cả một đàn Cừu. Đấy. Phi thực tế như thế mà cũng đưa vào thơ được. Mà... Sao lại “bạn rủ tôi về nhà nghe hát”? Sao không là bạn rủ tôi về nhà nghe nhạc cho nó sát với thực tế, mà cũng đậm đà chất thơ? Lại còn nửa đêm sợ tiếng thạch sùng, với những tiếng tờ lạch tạch? Rất yếu đuối, rất phi thực tế. Đàn ông đàn ang, ai lại sợ những con vật nhỏ bé, yếu ớt như con thạch sùng, con gián, con kiến? Đàn bà, con gái cũng không ai yếu đuối đến vậy. Đã thế, đêm hôm không lo ngủ, hoặc lo bảo nhau làm mấy cái chuyện sung sướng lại dựng bạn dậy để khoe nhiều tiền.... Kiểu... Rất chi là vô học. Ừ. Còn lan man, vô lý ở chỗ: Đang tả bạn thờ thẫn, man dại vì thèm tiền lại nhảy sang tả khuôn mặt bạn người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm với những khuôn nét vừa của thánh nhân, vừa của quỷ dữ. Xong, chốt câu “Tôi đã từng sợ ma” để hạ màn. Vớ vẩn. Sao lại sợ ma ở đây? Chả ăn nhập gì với nhau. Linh tinh. Dở oẹt. Tóm lại, đấy đếch phải là thơ. Là tản mạn mấy tiếng thở dài của mấy thằng dở người nửa đêm nửa hôm đếch biết làm gì nên rủ nhau làm mấy cái chuyện khác người, rõ ngớ ngẩn.
Rồi Ông cụp máy cái rụp.
Tôi thẫn người vì tràng giang những điều ông vừa nói.
Chưa kịp giãi bày một hai điều thì ông đã cụp máy nên thực lòng, tôi cũng hơi ấm ức.
Vươn vai, làm mấy động tác cho giãn xương cốt, lưu thông khí huyết, tôi lên giường chuẩn bị ngủ thì ông lại điện đến.
Tôi uể oải nhấc máy:
- Dạ, cháu nghe...
Ông giật giọng:
- Này. Tớ hỏi thật nhé. Cậu có hiểu những điều tớ vừa nói không?
Tôi nhát gừng, giọng buồn ngủ nhưng thật lòng:
- Dạ! Thật sự là cháu không hiểu ạ!
Ông cười ngất, rồi chậm rãi:
- Tớ biết cậu không có hiểu nhưng cứ hỏi để kiểm chứng nhận định của tớ chính xác thế nào. Thôi. Cậu nghỉ đi. Tớ cũng đi ngủ đây. Muộn rồi.
*.

Hà Nội, 23 tháng 05.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

NM cảm ơn Xuân Xuyến đã chia xẻ một truyện vui.

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

BA MƯƠI NĂM - THƠ TRÚC THANH TÂM

Kính gởi: Nhà thơ Nhã My ( Ba Mươi Năm - thơ Trúc Thanh Tâm ) 
Hộp thư đến


TrucThanhTam Truc
23:38 (21 giờ trước)

tới tôi 
thơ Trúc Thanh Tâm



   


BA MƯƠI NĂM... 

 - Gởi Châu Đốc - Cà Mau

  Hơn ba mươi năm, biền biệt Cà Mau
  Bến tàu đó, em biết còn chốn cũ
  Mái trường tỉnh tôi chưa lần được học
  Rồi chiến tranh, từ đó cách xa mình   

  Nước nổi nơi nầy, nhớ gió U Minh
  Điên điển bông vàng nhớ tràm bông trắng
  Mắm Châu Đốc hương vị còn sâu đậm
  Than đước Cà Mau âm ấm nỗi lòng   

  Hơn ba mươi năm, dấu bụi mù tăm
  Nhưng dĩ vãng vẫn còn trong hơi thở
  Cầu quay đó cũng một lần bỡ ngỡ
  Mắt nhìn nhau, thương nhớ đến bây giờ  

  Cà Mau em, là nét đẹp trong thơ
  Châu Đốc tôi, dòng phù sa bồi mãi
  Có thổn thức mới thấy lòng trống trải
  Có xa quê mới thấu hiểu bao điều!


  TRÚC THANH TÂM
 ( Châu Đốc )

NM cảm ơn nhà thơ Trúc Thanh Tâm thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

ÂN NGHĨA TIỀN KIẾP- TRUYỆN NGẮN CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
16:47 (1 giờ trước)

tới tôi
Như giấc liêu trai -
Giấc mơ thứ tám:







ÂN NGHĨA TIỀN KIẾP
*
Mơ. (Đêm: 21/05/2017, sáng 22/05/2017) Một giấc mơ thật lạ.
Lại lững thững vào ngôi nhà với những nét cổ xưa, có mấy bụi tre đằng ngà, nằm ở phía bên trái cổng ra vào, và xa xa, nơi giáp với con đường làng gồ ghề, phía bên tay phải, là mấy bụi cúc tần xanh mướt... Mệt mỏi, tôi ngả lưng xuống phản. Đang thiu thiu thì hắn, người thanh niên dong dỏng cao, khuôn mặt trái xoan, nước da ngăm ngăm, đánh thức tôi dậy. Đưa cho tôi cốc nước nghi ngút khói, giục uống nhanh kẻo “mẹ về bắt gặp là em không được uống đâu.”. Định gạt đổ cốc nước, không uống, nhưng nghĩ sao tôi lại cầm, từ từ nhấp môi, uống. Thật lạ. Cốc nước nghi ngút khói mà uống vào lại thấy mát lạnh, rồi dương khí như chảy tràn khắp người, ấm nóng và sảng khoái. Hắn nhìn tôi, tủm tỉm:
- Biết nghe lời là tốt rồi. Không lo nữa. Cam lộ sẽ bảo vệ em. Chợp mắt tí đi rồi trở lại nơi đó, không ở lại đây được đâu, mẹ sẽ trị tội thêm nặng đấy.
Tôi ngả lưng xuống phản. Rồi thấy mình lơ lửng, lơ lửng, bay phía trên một con đường. Tôi càng cố hạ thấp độ cao để xuống con đường thì càng hạ, con đường càng thấp xuống, như cố giữ khoảng cách giữa tôi và con đường không thay đổi. Giữa lúc chán nản, định buông xuôi, thì con đường bị ngắt làm đôi, rồi như có ma lực rất mạnh hút tôi xuống hố sâu phía dưới. Hốt hoảng, tôi vũng vẫy để bay lên nhưng càng cố càng bị hút sâu xuống. Nhìn con đường cao dần, xa dần, tôi bất lực, bật khóc... Bỗng một thanh niên, từ đâu lao đến lấy thân mình làm bệ đỡ, hất tôi bay lên mặt đường, rồi người đó cũng bay lên, đổ vật xuống cạnh. Cảm động, tôi rối rít cám ơn. Cậu thanh niên lạnh tanh trả lời:
- Ơn huệ gì. Nợ thì phải trả. Còn 6 lần nữa, ông ạ.
Hỏi tên tuổi, nhất định cậu ta không nói. Rồi cậu ta ghé lưng bảo tôi ôm cổ để cậu ta cõng, bay cho nhanh. Chừng dập bã trầu, đến một ngôi đền, cậu ta đặt tôi xuống, giục: - Anh vào lễ Mẫu đi. Rồi lao xuống hồ nước. Tôi hét to hỏi tên, cậu ta trồi lên mặt nước, búng tay ra 2 chữ ĐT, rồi lại lặn sâu xuống hồ.
Tôi lững thững vào đền lễ Mẫu.
Thật lạ, ở ngoài là ngôi đền rất nhỏ nhưng vào bên trong lại rộng lớn, càng đi càng hun hút, hun hút. Đến một gian thờ, rộng lắm, bên phải, bên trái, trước mặt, sau lưng đều là những ban thờ, với những tượng thờ không rõ là thờ Tam Tòa Thánh Mẫu hay thờ Đức Thánh Trần Triều. Tôi loay hoay, loay hoay không biết thắp hương ban thờ nào trước và khấn lễ ra sao thì một ni cô, quãng chừng 18, 20 tuổi xuất hiện, chắp tay trước ngực, nhìn tôi, rất khẽ: - “A Di Đà Phật! Mẫu tại tâm! Phật tại tâm! Phật trong ta! Ta trong Phật!”. Rồi bay lên không trung, biến mất.
Tôi ngồi xuống, chắp tay trước ngực, tư thế như niệm chú. Rồi thấy mình lại lơ lửng, lơ lửng bay đến một khu vườn, cây cối xum xuê, đầy hoa trái.
Đến một ngôi nhà cao nhất, to nhất, tôi hạ xuống.
Đón tôi là một cụ ông, râu tóc bạc trắng, ánh mắt sáng quắc. Cụ hắng giọng, e hèm vào phía trong:
- Cậu về rồi. Sao bay không ra nước nôi cho cậu?.
Một đám choai choai, bưng nước ra để tôi rửa mặt. Rồi pha nước mời tôi uống.
Nhìn xuống nền nhà, tôi giật mình vì ngôi nhà lơ lửng giữa không trung, không có nền. Hun hút bên dưới là chen chúc những người là người. Tôi căng mắt nhìn và nhận ra một nhóm 7 người trông quen quen, có cả nam cả nữ, cả già cả trẻ đang bị đánh đập dã man. Tôi chỉ vào cậu thanh niên bị đánh nhiều nhất, hỏi cụ già:
- Cậu miệng lệch kia phạm tội gì mà bị đánh dã man thế?
Cụ ông phẩy phẩy quạt, thủng thẳng:
- Hạn Song Hao, khởi đầu là cờ bạc bịp, lừa đảo, mới chỉ là khởi đầu, cậu ạ. Đại vận 10 năm, mới là năm đầu, tránh sao được quả báo!
Tôi hỏi:
- Có cách gì cứu không?
Cụ già cười:
- Khó lắm! Mệnh trời, cãi sao được!
Tôi gặng:
- Chẳng lẽ không còn cách nào sao?
Cụ vuốt râu, khà khà:
- Có đấy cậu ạ. Ngoài tích đức thì lợi dụng bản tính của Song Hao mà tát nước theo mưa, may giảm được họa chút ít.
Thấy cậu ta bị đánh đau quá, tôi đứng dậy, búng tay một cái, một luồng điện chạy thẳng xuống đánh tên cai ngục gục ngã. Cụ ông hốt hoảng giữ tay tôi, lắp bắp:
- Thiện tại! Thiện tai! Thiên cơ bất khả lộ! Thiên cơ bất khả lộ!
Vừa lúc đấy, cụ bà với khuôn mặt tròn phúc hậu lại xuất hiện. Giơ cao gậy, chỉ thẳng mặt tôi, quát:
- Phục sinh nhà mày! Ai cho phép trở lại đây! Có cút ngay không!
Rồi phang tới tấp.
Tôi vội chạy.
Và lại thấy mình đứng trong sân nhà, ở quê. Nhìn mấy cây đào bị bứng ra khỏi chậu, tôi cằn nhằn với anh Thắng:
- Năm ngoái để chết cây đào bích tiếc quá. Năm nay gây lại được 2 cây đào phai, không đẹp nhưng trồng để trừ tà, rước lộc, sao bác lại bứng cả ra ngoài như thế?
Anh Thắng cười:
- Cây đào bích chết là do chú. Cây đang xanh tốt, chú về nghỉ cuối tuần, lại trách anh để ũng nước nên đào mới bị chết. Tuần sau y rằng cây đào bị chết. Cây khế cũng thế. Anh quên tưới nước nên cây bị khô, héo. Tưới nước lại, cây bắt đầu nảy mầm thì chú về, trách anh để chết cây khế quý. Y rằng, tối chủ nhật chú lên Hà Nội thì thứ 2, mấy mầm khế tự dưng héo, cây khế chết thật. Mà anh thấy chú lạ lắm. Cây bưởi mấy năm không ra quả. Chú đe không ra quả chú sẽ chặt thế là năm ngoái đậu được mấy quả, năm nay quả sai trĩu cành.
Tôi cằn nhằn:
- Em đang nói 2 cây đào phai và thêm cây sung kia nữa. Sao bác lại bứng ra khỏi chậu thế.
Anh Thắng gắt:
- Chú hay nhỉ. Cây thì chậu vỡ anh chưa thay được chậu. Cây thì để trồng trong chậu không hợp lý nên anh bứng ra, đợi kiếm được chậu hợp với cây thì thay. Chú toàn thắc mắc thừa.
Đang định to tiếng với anh Thắng thì cụ bà xuất hiện. Chống gậy đứng đầu cổng, ngắm nghía mấy cây cảnh, vẻ vừa ý, cụ gật đầu rồi nhìn tôi, bảo:
- Phục sinh nhà anh! An phận mà ở lại đây chứ còn bén mảng trở lại chốn đó là tôi đánh anh què chân đấy.
Nói xong. Cụ biến mất.
Tỉnh giấc. Nhìn đồng hồ: 05 Giờ 15, ngày 22 tháng 05 năm 2017.
Ghi lại giấc mơ để ngẫm xem sao.
*.
Hà Nội, sáng 22 tháng 05.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

NM cảm ơn Xuân Xuyến thường xuyên chia xẻ những bài viết hay.

Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

GIÃ BIỆT - THƠ KHA TIỆM LY

Tiemly Kha
19 thg 5 (2 ngày trước)
tới tôi










GĨA BIỆT



Đò vô thường luôn neo bến đợi,
Rồi một mai ta cũng phải đi về.
Bao đắng cay, phủi tay để lại,
Mặc cho người ai tỉnh, ai mê!


Chẳng lợi, chẳng danh, chẳng gì sợ mất,
Chẳng bạn tình chung, chẳng xót xa nhau.
Ta thư thả, dù nắng hong, mưa bấc,
Dù Nại Hà nhịp thấp, nhịp cao!


Ta giã biệt tên Lý Thông, Tần Cối,
Mặc các ngươi mê đắm bã hư danh,
Mãi lặn hụp trong đê hèn, tội lỗi,
Rồi một ngày cũng qua bến tử sanh.


Xin giã biệt những người em lỗi hẹn,
Chúc các em vui một cõi phù hoa,
Với mắt lạnh, với tiếng cười nhọn bén,
Không có một ngày như em đã phụ ta!


Ta tiếc chi ta, cái thân hàn sĩ,
Mà tiếc thơ ta chẳng có mộ phần!
Tiếc cho ta chưa hồng nhan tri kỉ,
Dù hoa đời không thiếu bóng giai nhân!


Ta lại tiếc một đời chánh khí,
Gươm anh linh chưa thỏa chí một lần.
Dù khua chèo nghĩa, đệ huynh vô số.
Dù mở kinh luân, đệ tử mấy ngàn,
Mà gươm báu vẫn nằm im mấy độ,
Nhớ Lương Sơn mà thẹn với Tống Giang!


Và lại tiếc sao tình em đến muộn,
Đàn sai cung nên lỡ một bài ca.
Trót rơi xuống thành giọt sương buổi sớm,
Nên suốt đời vẫn nợ một loài hoa!


 KHA TIỆM LY