CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 3 tháng 7, 2017

GỬI YÊN BÁI - THƠ NGUYỄN KHÔI

Lời thưa: Bố tôi bảo "Yên Bái là đất dữ... nên 1945 ông đưa gia đình về xuôi... Nguyễn Khôi tôi sinh ra ở Thị xã Yên Bái (26/12/1938), nay 80 tuổi (ta) ngẫm thấy lời Bố tôi xưa quả là rất nghiệm, có đôi vần cảm tác, viết cách nay đã 5 năm mà vẫn như những lời "dự báo" về cái  vùng Đất Dữ hôm nay, xin được chia sẻ cùng các Bạn thơ :





GỬI YÊN BÁI
(Tặng: Nhà văn Thế Phong - Sài Gòn)
                      
Nơi mẹ sinh tôi đầu nguồn nước lũ
Đi bặt tăm chẳng có ngày về...
                     
Ơi Yên Bái, người đi không ngoái lại
bỏ lại vầng trăng, câu hát lưng đèo
Về Hà Nội giữa dòng đời ngang trái
đi tìm hoài một dáng thương yêu.
                     
Đâu hương Quế, hương Hồi chiều xanh ngát
giữa phố phường chật chội sặc hơi Tiền
giữa chen chúc lòng ngắc ngư câu hát
Thèm một khoảng rừng ở góc Công viên...
                     
Ta là người điên - kẻ quên quá khứ
Trong cơn mê lảnh một tiếng còi tàu
cứ ngỡ đêm rừng qua ga Phú Thọ
Lửa lập lòe ai đợi bến Âu Lâu ?
                    
Nơi sông Thao đổ vào đầu phố
cây Đa mé chợ, nơi "đoạn đầu đài" (1)
Phố là phố của người đi chẳng nhớ
Tiếng súng đùng đoàng chạng vạng hôm mai (2)
                      
Ai đi xa có ngày về Yên Bái
Tôi đi xa là trốn biệt nơi này
là kẻ phụ tình, đứa quên xứ sở
để cõi lòng rỉ máu, buốt đôi tay.

                 Hà Nội 13/01/2012
                   NGUYỄN KHÔI

-------
(1) Nơi xử tử Nguyễn Thái Học và các Đồng chí...
(2) Nơi quyết chiến của VM & VNQDĐ sau 1945... và của các "nhóm lợi ích" thanh toán nhau hôm nay...
Nguồn : từ email cả tác giả Nguyễn Khôi gửi nhamyngocsuong
NM cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khôi thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.


Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2017

GẶP LẠI CỐ NHÂN - THƠ LỆ HOA TRẦN


Tran Van Mau
11:22 (10 giờ trước)

tới tôi 
Kính chị em gởi tiếp cho người bạn
Thủy Điền




Ảnh tác giả LệHoaTrần


GẶP LẠI CỐ NHÂN


Ngày về gặp lại anh
Chỉ biết đứng thở...dài
Khi anh hỏi là ai?
Nghe ôi ! Buồn vô tận

Ngày về gặp cố nhân
Chẳng nụ cười, quyến luyến
Gương mặt lạnh như tiền
Lòng em thấy xót đau

Ngày về ta nhìn nhau
Bốn mắt như kẻ lạ
Anh bây giờ khác quá
Đường, hai bóng đi qua.

LỆ  HOA TRẦN
26-06-2017

NM cảm ơn Thuỷ Điền và tác giả Lệ Hoa Trần

Thứ Năm, 29 tháng 6, 2017

GIẢI TRÍ NGÀY XƯA Ở QUÊ TÔI - KHA TIỆM LY

 





                            GIẢI TRÍ NGÀY XƯA Ở QUÊ TÔI


Từ năm 1954 trở về trước, nguồn giải trí ở quê tôi (có lẽ nơi khác cũng vậy) dường như không có, nếu không kể lâu lâu mới được xem văn nghệ của các đoàn văn công kháng chiến.  Cuộc sống vật chất với bao khốn khổ, hiểm nguy của người dân bị trị còn lo chưa xong thì nói gì đến đời sống tinh thần?

Sau năm 1956, khi cuộc sống có “khỏe” hơn đôi chút thì đời sống tinh thần mới được quan tâm, nhưng chỉ cũng tựu trung vào các buổi tết nhứt hội hè qua các trò chơi dân dã như kéo co, bịt mắt đập nồi, nhảy bao…,  Với các cụ thì đánh cờ, hay ngồi quanh uống trà bàn chuyện nắng mưa thời vụ. “Ra dô” (radio)  chưa ai có, còn  “nhật trình” (nhật báo) thì … cả năm mới  thấy một tờ do mấy vị “có học” như thầy Tư tiệm thuốc bắc, chú chín Xước, ông Tư Tông gởi mua từ những ai có dịp đi Bến Tre. Cũng nên nói, quê tôi ở làng An Thuận, quận Thạnh Phú (lúc đó không gọi là “huyện”), cách chợ Bến Tre  không hơn năm chục cây số, vậy mà muốn đi đến đó không dễ dàng gì: Phải thức từ hai, ba giờ sáng, chuẩn bị cơm nước mang theo (cho đỡ hao tốn), rồi cuốc bộ quãng đường năm cây số dưới trời tối thui như mực, nếu nhằm những ngày mưa thì thêm lầy lội, để kịp chuyến đò dọc duy nhứt đậu tại chợ quận khởi hành tùy theo giờ con nước lớn. Cho nên “Đi Bến Tre” – đi lên tỉnh nhà -  hồi đó vất vả còn hơn bây giờ ra… Hà Nội vậy!

Những tờ “nhật trình” đó chuyền tay coi đến “lên nước” mới thôi! Và những tin tức… nguội ngắt ấy mấy ông thường kể khi gặp bất cứ ai cho tới khi… có những tin mới ở một tờ nhật trình mới khác!

Lâu lâu có gánh hát bội về thì y như ngày hội, bởi đó là món ăn tinh thần lạ lẫm và “khoái khẩu” của làng tôi.

Nhớ mà thương cho quê hương tôi thời ấy: Trong mục “trình độ học vấn” ở các giấy tờ hành chánh thường bị ghi là “dốt”; còn “biết đọc biết viết”, đồng nghĩa với biết kí tên nguệch ngoạc cũng chẳng được bao nhiêu. Số người “đọc chạy” – tức đọc khá nhanh mà không vấp – chỉ đếm trên đầu ngón tay! Cũng như trẻ em mê chuyện cổ tích, người làng tôi rất thích nghe truyện Tàu. Mỗi tối họ tụ tập lại nhà ông Tư Tông bán tạp hóa (Tư Tiệm) để nghe cô Năm Thảnh đọc Tiết Nhân Quý Chinh Đông. Tiết Đinh San Chinh Tây, Mạnh Lệ Quân, Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Hán Sở Tranh Hùng, Thủy Hử, Phi Long, Ngũ Hổ Bình Tây…  Cứ hết bộ nầy lại đọc tiếp bộ khác. Sau khi hết vài chục bộ, thì cô đọc lại bộ ban đầu. Riết rồi thành như thói quen, như ghiền (!), nên cứ sẫm tối là họ lục đục rủ nhau lại nhà ông Tư Tiệm. Trưởng thượng thì ngồi ở bàn tròn , “hạng cá kèo” gồm các cô chú sồn sồn, các anh, và lũ nhóc chúng tôi thì ngồi ngoài sân trên ghế cóc mang theo, và tay cầm cái quạt mo để... đuổi muỗi!

Lâu ngày thì người đọc lẫn người nghe đều thuộc nằm lòng các pho truyện. Nhờ vậy mà cô bác làng tôi tuy dốt chữ, nhưng về mặt điển tích thì chưa chắc thua ai! Những đặc điểm, tính cách, điều trung hiếu, tiết nghĩa của từng nhân vật trong truyện đã ăn sâu vào tâm khảm họ và đi theo cuộc sống đời thường: Khen chê ai họ thường nói: “Ông đó còn hơn Khổng Minh!”,  “Nó đa nghi còn hơn Tào Tháo!” hoặc: “Anh hùng tử khí hùng nào tử”, (mượn lời Đơn Hùng Tín nói với La Thành để khen những người can đảm, sĩ khí). Hoặc “ Bộ tụi bây muốn lạn (loạn) trào hả?” để rầy la khi bọn nhóc chúng tôi quậy phá.(tích Tiêu Anh Phụng loạn trào) 

Khi mọi người đều nằm lòng, sanh chán các pho truyện thì cô Năm đọc qua thơ: Thơ Vân Tiên, Thơ Thạch Sanh Lý Thông, Thơ Chàng Nhái Kiểng Tiên, Thơ Sáu Trọng, Thơ Sáu Nhỏ, Thơ Ông Trượng Tiên Bửu, Thơ Phạm Công Cúc Hoa… Đó là những tập thơ mỏng dính được bán tại tiệm ông Tư. Và một lần nữa, mọi người dù không biết chữ nhưng ai cũng thuộc vanh vách, thuộc làu làu những cuốn thơ đó!

Một thú giải trí không thường xuyên nhưng cao cấp là “máy hát”. Nó giống in như cái va li đựng quần áo khi đóng nắp lại. Mở ra, nó gồm bộ phận quay dĩa và một cái đầu mà trước mỏ được gắn một cây kim. Bên hông có một tay quay để lên “dây thiều”!

Khi có đám giỗ, đám cưới, chủ nhân chiếc máy hát là chú Tư Kiệt luôn được trân trọng mời tới để phục vụ, và được dành cho một góc ván mà tha hồ bày biện, “yêu sách”: Đầu tiên là “mượn cái mền” lót dưới cho êm máy, kế đó là “xin miếng dầu dừa” để thoa dĩa! Cuối cùng là lời dặn bọn nhóc chúng tôi: “Mấy đứa coi (thì) coi, chớ hổng được phá nhen!”. Rồi màn “trình diễn”  bắt đầu với  những bài vọng cổ của Viễn Châu qua giọng ca của Út Trà Ôn, Thanh Hương, Bạch Huệ mà các ông các bà khen mùi … rụng rún!

Kĩ thuật thời đó còn thô sơ nên chủ nhân máy hát phải ngồi canh để thay mặt dĩa, vì dường như mỗi mặt dĩa chỉ chứa được có ba câu vọng cổ; ba câu sau ở mặt dĩa bên kia! Đó là chưa nói “hát” được vài dĩa thì kim bị tà, phải thay kim; lại còn thỉnh thoảng phải “lên dây thiều”, nếu không giọng hát bị nghe éo éo! Có phải vì vậy mà cụm từ “hết dây thiều” để chỉ những người có giọng nói nhựa nhựa, yếu ớt như hết hơi chăng?

Khoảng năm 1958, khi chiếc “ra dô” đầu tiên xuất hiện ở nhà ông chín Xước - ở sát nhà ông Tư Tiệm – thì việc “đọc truyện đêm khuya” mới chấm dứt vì dân làng tôi khoái nghe cải lương hơn, vả lại, mấy pho truyện đó họ đã nhàm! Và cũng chính vì “ra dô” là vật giải trí thượng đẳng hơn, lạ hơn, nếu không nói nó là một… kì quan của quê tôi ngày ấy! Cứ mỗi chiều, khi việc nhà việc ruộng xong xuôi, thì tốp năm tốp ba, ai cũng mang theo cái ghế cóc; mấy bà, mấy ông già thì mang thêm bịch trầu, gói thuốc rê đến sân chú Chín rồi chọn chỗ thuận tiện nhất. Mỗi tối thứ bảy đều có “truyền thanh tuồng cải lương” nên số thính giả gấp đôi gấp ba ngày thường tức khoảng bốn năm chục người – trông như cái chợ!

Cái “ra dô” hồi đó chắc phải nhiều tiền lắm nên xem chừng chú Chín quí lắm. Nó được may cho cái “áo” bằng vải bông hoa với những ren tua sau trước. Nó được đặt ở vị trí trang trọng và cao nhất trong nhà là trên đầu tủ đứng. Mỗi lần “mở đài” phải đứng trên ghế mới thực hiện được! 

Khi cái “ra dô” được “khai trương” vài ngày thì trong đám thính giả có một bà lụm cụm đi đến (cái “ra dô”) chăm chú quan sát trước sau với nhiều cặp mắt ngạc nhiên của mọi người. Chú Chín cũng lấy làm lạ, hỏi: “ Bà kiếm gì vậy, bà Bảy? Bà Bảy không trả lời mà hỏi lại: “ Có ai trong buồng nhà bây không vậy?”. Mọi người càng ngạc nhiên hơn, chú Chín đáp: “Có ai ở trỏng đâu! Chi vậy bà?” – “Hỏng có sao… cái hộp nầy nó hát được?” Mọi người cười rần. Chú Chín cười ngất, giải thích: “Đây là cái “ra dô” bà Bảy ơi! Ở trên Sài Gòn nó hát rồi máy nầy thu tiếng vào”.  Bà Bảy: “Hỗm rày nghe sáp nhỏ nói, tao đâu có tin. Tao nói cái “ra dô” là phải có người… đi ra đi dô mới hát được chớ!... Ai ngờ như dầy mà nó hát được! Hay quá bây há?”.

Mấy năm sau, chuyện tụ tập trước nhà chú Chín cũng lơi đi bởi cũng có nhiều người sắm được “ra dô”. Dù vậy, giá trị nó không hề suy giảm: Nó vẫn được mặc “áo”  thêu hoa, tua ren còn sặc sỡ hơn, lại có thêm dây quai để mang trên vai khi ra khỏi nhà! Chợ làng ngoài tiếng ồn ào cố hữu, nay thỉnh thoảng có thêm tiếng “xuống” vọng cổ thật mùi từ những cái “đài phát thanh di động”! Thời buổi đó, ai mang theo “ra dô” đi chợ được coi là sang, là  bảnh  lắm!

 Chuyện cách nay hơn 60 năm với “người thật việc thật” một trăm phần trăm.  Nay chúng tôi nhắc lại bằng một tấm lòng của kẻ ly hương từ thuở ấu thơ: Thỉnh thoảng nhớ về quê mình da diết với những con người nghèo khổ, dốt nát mà tâm hồn thật thà, đôn hậu, chất phác đến ngây ngô. Tình yêu, lòng nhớ thương quê xưa người cũ đã làm cho chúng tôi khó cầm nước mắt khi viết bài nầy.


 KHA TIỆM LY


Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

NGƯỜI THƠ - THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
26 thg 6 (2 ngày trước)
tới Tran, Giống, bài_blog, Phu, tôi, Da, Trác






NGƯỜI THƠ

Kệ vợ tru tréo hết gạo
Mặc con thiếu bữa xanh xao
Người thơ
tấp tểnh in thơ
Mang thơ
dọa tặng trăm họ

Ngó nghiêng trò đời điên đảo
Ngác ngơ thế sự ồn ào
Người thơ
phiêu cùng mây gió
Thả hồn bát phố
luận thơ
*.
Hà Nội, 12 tháng 06.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Thứ Ba, 27 tháng 6, 2017

LẮNG LÒNG, DỪNG BƯỚC BẾN PHƯƠNG HỒNG -THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ






LẮNG LÒNG,

DỪNG BƯỚC BẾN PHƯƠNG HỒNG


LẮNG LÒNG nghe tiếng vô thanh
Từ nguồn diệu lý qua thành kim cương
Ai hay một đoá vô thường !
Tặng nhau một sớm mười phương nhiệm mầu.

BƯỚC DỪNG tỉnh giấc chiêm bao
Dấu rêu cồn - đã nhạt màu bể dâu
Ngàn xưa chớp mộng xuân nào...
Gió lùa hạt bụi bay vào non xa.

BẾN PHƯƠNG HỒNG cỏ tình ca
Trời Vô ưu - giữa ta bà vô ưu
Cò gì thật, có gì hư ?
Có chi ! là cuộc tầm ngư tự rày !

Chùa Kỳ Viên, South Dakota, 26.6.2017.
MẶC PHƯƠNG TỬ


Nguồn : từ email của tác giả Mặc Phương Tử gởi nhamyngocsuong.
NM cảm ơn Thầy Mặc Phương Tử đã thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

KHÚC TƯƠNG TƯ - XƯỚNG HỌA NGUYỄN GIA KHANH , NHÃ MY







KHÚC TƯƠNG TƯ

Nhớ bạn tay mềm trải phím tơ
So dây lệ rỏ mấy cung chờ
Trông người lại xót cơn bi mộng
Vọng nguyệt thêm sầu giấc huyễn mơ
Cuộc ái chưa trao tình rẽ lối
Thuyền hoa lại tiễn kẻ sang bờ
Âm thầm một khúc tương tư trỗi
Dĩ vãng xưa nhòa bóng cảo thơ.

NGUYỄN  GIA  KHANH


 HỌA:

KHÚC TƯƠNG TƯ
Đàn lỗi cung rồi nghẹn tiếng tơ
Mình ai thao thức mãi mong chờ
So dây nhớ bạn còn lưu luyến
Gõ nhịp thương người vẫn ước mơ
Giấc mộng trao tình chưa ghé bến
Thuyền yêu  quên khách đã xa bờ
Tương tư  lệ khúc âm thầm trỗi
Thấm cả  hồn đau  lạnh phiến thơ !

NHÃ MY

Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2017