Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020
Thứ Ba, 12 tháng 5, 2020
THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH : LA LÀ LÁ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC
THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH :
LA LÀ LÁ
Inline image
Thế trong dù lớn hơn ngoài,
Trước hàm sư tử gởi người ĐẰNG LA.
ĐẰNG LA 藤蘿 : Đằng 藤 là Dây mây, LA 蘿 là Dây leo. Nên ĐẰNG LA nói chung là dây leo, là ô rô cóc kèn sống chùm gởi bám vào thân cây lớn. Trong văn học cổ thường dùng để chỉ người vợ sống nương tựa vào chồng, nhất là dùng để chỉ những người vợ lẻ, tiểu thiếp sống bám vào ông chồng để nhờ sự che chở. Như khi Thúc Sinh muốn chuộc Thúy Kiều về làm vợ lẻ, thì cô Kiều đã e ngại khôn khéo mà rào đón rằng :"Như chàng có vững tay co, mười phần cũng lắp liếm cho một vài", nhưng nếu :
Thế trong dù lớn hơn ngoài,
Trước hàm sư tử gởi người ĐẰNG LA.
Có nghĩa :
Thế trong nhà của vợ chàng lớn hơn cái thế bên ngoài của chàng (Ý nói nếu chàng "sợ vợ"), thì chẳng khác nào đem thân phận nhỏ nhoi của thiếp mà gởi vào cái hàm sư tử Hà Đông dữ dằn của vợ chàng). Như thế thì dù cho có :
Cúi đầu luồn xuống mái nhà,
Giấm Chua lại tội bằng ba Lửa Nồng.
GIẤM CHUA là sự hành hạ do ghen tuông cay nghiệt của vợ lớn; còn LỬA NỒNG là chỉ cuộc sống ngột ngạt đọa đày của các kỹ nữ như đang ở trong hầm lửa nóng của địa ngục vậy.
LA 蘿 là Dây leo, nhưng nếu bỏ Thảo Đầu 艹 ở trên đi thì LA 羅 có nghĩa là Lụa Là. Như LA CÂN 羅巾 : là chiếc khăn tay bằng lụa là của các bà các cô ngày xưa, gọi tắt là KHĂN LÀ, như khi hẹn ước và trao đổi tín vật với Thúy Kiều, Kim Trọng đã :
Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc KHĂN LÀ một vuông.
Inline image
Áo của các bà các cô ngày xưa cũng được may bằng lụa là, như khi Thúy Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường để quyên sinh, được sư Giác Duyên thuê ngư phủ giăng chài kéo lên, thì thấy :
Trên mui lướt mướt ÁO LÀ,
Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương.
QUẦN LÀ ÁO LƯỢT là thành ngữ chỉ ăn mặc sang trọng của người giàu ngày xưa, như trong ca dao dân gian có câu :
Người giầu má đỏ, mày xanh,
QUẦN LÀ ÁO LƯỢT đua tranh lên đường.
Quần Là chữ Nho là LA QUẦN 羅裙 chỉ quần bằng lụa, như trong bài Thái Liên Khúc 採蓮曲 (khúc hát hái sen) của nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường :
荷葉羅裙一色裁, Hà diệp LA QUẦN nhất sắc tài,
芙蓉向臉兩邊開。 Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai.
亂入池中看不見, Loạn nhập trì trung khan bất kiến,
聞歌始覺有人來。 Văn ca thủy giác hữu nhân lai !
Có nghĩa :
Inline image
Lá sen quần lụa xếp hai hàng,
Mặt tựa phù dung mới điểm trang.
Lẫn khuất trong ao nào ai thấy,
Nghe ca mới biết có người sang !.
Về LÁ, thì trong văn học cổ của ta có LÁ DƯƠNG TÊN BẮN, có xuất xứ từ thành ngữ Bách Bộ Xuyên Dương 百步穿楊 do tích sau đây :
Theo Chiến Quốc Sách, quyển Tây Chu. Có người nước Sở tên là Dưỡng Do Cơ có thể ở ngoài trăm bước, giương cung lắp tên bắn trúng được lá dương liễu, trăm lần không sai một. Do tích nầy ta lại còn có thêm được một thành ngữ nữa là BÁCH PHÁT BÁCH TRÚNG 百發百中. Cả hai thành ngữ đều dùng để chỉ tài bắn cung (bắn súng) giỏi.
Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những tay thiện xạ, sau dùng rộng ra để chỉ làm việc gì đó luôn luôn thành công mà không hề thất bại. Như hễ đi thi thì đỗ ngay, trăm lần như một, thì cũng có thể gọi là Bách Phát Bách Trúng ! Trong tác phẫm văn học thơ Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng của ta có câu :
LÁ DƯƠNG một phát đưa TÊN BẮN,
Đèn sách cho cam thuở học hành !
Inline image
Sau Lá Dương , ta có LÁ GIÓ CÀNH CHIM, có nghĩa "Lá thì đun đưa theo gió, còn cành thì đón chim đến đậu" theo như tích sau đây :
TIẾT ĐÀO (768-831), tự là Hồng Độ 洪度, có bản ghi là Hoằng Độ 宏度, là nữ thi nhân, ca kỹ, nhạc kỹ. Người đất Trường An (Tây An, Thiểm Tây ngày nay). Cha là Tiết Vân 薛鄖, làm quan ở đất Thục. Theo Danh Viện Thi Quy 名媛詩歸 ghi lại : Tiết Đào lúc tám chín tuổi đã biết làm thơ, rất thông minh và lại tinh thông âm luật. Một hôm, đang ngồi hóng mát với cha ở trung đình, ông cha bèn chỉ vào cây ngô đồng bên miêng giếng mà đọc rằng :
庭除一古桐, Đình trừ nhất cổ đồng,
聳杆入雲中。 Tủng cán nhập vân trung.
Có nghĩa :
Trong sân cao ngất ngô đồng,
Vương cao cành lá lẫn trong mây trời.
Tiết Đào nghe xong, bèn đọc hai câu tiếp rằng :
枝迎南北鳥, Chi nghinh nam bắc điểu,
葉送往来風. Diệp tống vãn lai phong.
Có nghĩa :
Lá thì theo gió lả lơi,
Cành thì nam bắc rủ mời chim qua.
Inline image
Ông cha nghe xong rất ngạc nhiên cho tài thông minh nhanh nhạy của con gái, nhưng lại lắc đầu buồn bã vì ý thơ phóng túng buông thả, báo cho điềm xấu về cuộc đời của con gái sau nầy. Qủa nhiên, sau nầy cha mất sớm. Mới 16 tuổi Tiết Đào đã trở thành danh kỹ nổi tiếng ở đất Trường An.
Khi tả cuộc sống của Thúy Kiều ở lầu xanh, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :
...Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu LÁ GIÓ CÀNH CHIM,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh
Sau Lá Gió Cành Chim, ta có LÁ NGỌC CÀNH VÀNG, là Lá bằng Ngọc, còn Cành thì bằng Vàng. Có xuất xứ từ thành ngữ KIM CHI NGỌC DIỆP 金枝玉葉, từ Cổ kim Chú. Dự Phục 古今注·舆服. Có nghĩa : Cỏ cây hoa lá rất mượt mà xanh tươi đẹp đẽ. Thường dùng để chỉ gia quyến, con cái của nhà vua hay của hoàng tộc, theo như bài từ Điều Tiếu Lệnh. Hồ Điệp 調笑令·蝴蝶 của Vương Kiến đời Đường :
胡蝶,胡蝶, Hồ điệp, hồ điệp,
飛上金枝玉葉。 Phi thượng kim chi ngọc diệp.
君前對舞春風, Quân tiền đối vũ xuân phong.
百葉桃花樹紅。 Bách diệp đào hoa thọ hồng.
紅樹,紅樹, Hồng thọ, hồng thọ,
燕語鶯啼日暮。 Yến ngữ oanh đề nhật mộ !
Có nghĩa :
Bướm vàng, bướm vàng,
Đậu trên LÁ NGỌC CÀNH VÀNG.
Trước vua gió xuân ca múa,
Đào hồng lá đỏ ngàn cây.
Lá đỏ, lá đỏ,
Oanh ca én hót chiều nay !
Trong "Hà Thành Chính Khí Ca" của Ba Giai (cặp đôi của Tú Xuất), bài ca ca ngợi gương chiến đấu hy sinh oanh liệt của danh tướng Tổng Đốc Hoàng Diêu và lên án những người mang tiếng là KIM CHI NGỌC DIỆP mà không biết bảo vệ đất nước giang sơn như Án Sát Tôn Thất Bá :
Kìa Tôn Thất Bá Niết Công,
KIM CHI NGỌC DIỆP, vốn dòng tôn nhân,
Đã quốc tộc, lại vương thần,
Cũng nên hết sức kinh luân mới là...
Inline image
Tổng Đốc Hoàng Diệu
Còn trong truyện Nôm khuyết danh Hoàng Trừu - Công Chúa Đội Đèn của ta cũng có câu :
Xem bằng LÁ NGỌC CÀNH VÀNG,
Bỗng sao mà phải cơ hàn bấy lâu.
Cuối cùng ta có LÁ THẮM CHỈ HỒNG là do thành ngữ điển tích Hồng Diệp Xích Thằng 紅葉赤繩 mà ra. Xem thành ngữ điển tích 1 và 2.
Sau khi đã "Tình trong như đã mặt ngoài còn e" với người đẹp Thúy Kiều trong hội Đạp Thanh xong, thì hôm sau Kim tìm đến nhà Kiều định có dịp để làm quen, nhưng lại đụng phải :
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng LÁ THẮM dứt đường chim xanh.
Khi đã nhận lời tỏ tình của Kim Trọng xong rồi, Thúy Kiều cũng đã khôn khéo mà nhắn nhủ với người tình mới rằng :
Dù khi LÁ THẮM CHỈ HỒNG,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Còn trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện thì gọi Lá Thắm là LÁ HỒNG :
Gớm nơi ngôi bảng duềnh khơi,
LÁ HỒNG bỗng đến chi nơi nổi chìm.
Inline image
Trong "Tứ Thời Khúc Vịnh" của Hoàng Sĩ Khải thì gọi là THƠ BÀI LÁ ĐỎ như sau :
Thực nhân tình THƠ BÀI LÁ ĐỎ,
Mạch sầu kia biết tỏ cùng ai ?
Xin được kết thúc bài viết LA, LÀ, LÁ ở đây. Hẹn bài viết tới !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
LA LÀ LÁ
Inline image
Thế trong dù lớn hơn ngoài,
Trước hàm sư tử gởi người ĐẰNG LA.
ĐẰNG LA 藤蘿 : Đằng 藤 là Dây mây, LA 蘿 là Dây leo. Nên ĐẰNG LA nói chung là dây leo, là ô rô cóc kèn sống chùm gởi bám vào thân cây lớn. Trong văn học cổ thường dùng để chỉ người vợ sống nương tựa vào chồng, nhất là dùng để chỉ những người vợ lẻ, tiểu thiếp sống bám vào ông chồng để nhờ sự che chở. Như khi Thúc Sinh muốn chuộc Thúy Kiều về làm vợ lẻ, thì cô Kiều đã e ngại khôn khéo mà rào đón rằng :"Như chàng có vững tay co, mười phần cũng lắp liếm cho một vài", nhưng nếu :
Thế trong dù lớn hơn ngoài,
Trước hàm sư tử gởi người ĐẰNG LA.
Có nghĩa :
Thế trong nhà của vợ chàng lớn hơn cái thế bên ngoài của chàng (Ý nói nếu chàng "sợ vợ"), thì chẳng khác nào đem thân phận nhỏ nhoi của thiếp mà gởi vào cái hàm sư tử Hà Đông dữ dằn của vợ chàng). Như thế thì dù cho có :
Cúi đầu luồn xuống mái nhà,
Giấm Chua lại tội bằng ba Lửa Nồng.
GIẤM CHUA là sự hành hạ do ghen tuông cay nghiệt của vợ lớn; còn LỬA NỒNG là chỉ cuộc sống ngột ngạt đọa đày của các kỹ nữ như đang ở trong hầm lửa nóng của địa ngục vậy.
LA 蘿 là Dây leo, nhưng nếu bỏ Thảo Đầu 艹 ở trên đi thì LA 羅 có nghĩa là Lụa Là. Như LA CÂN 羅巾 : là chiếc khăn tay bằng lụa là của các bà các cô ngày xưa, gọi tắt là KHĂN LÀ, như khi hẹn ước và trao đổi tín vật với Thúy Kiều, Kim Trọng đã :
Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc KHĂN LÀ một vuông.
Inline image
Áo của các bà các cô ngày xưa cũng được may bằng lụa là, như khi Thúy Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường để quyên sinh, được sư Giác Duyên thuê ngư phủ giăng chài kéo lên, thì thấy :
Trên mui lướt mướt ÁO LÀ,
Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương.
QUẦN LÀ ÁO LƯỢT là thành ngữ chỉ ăn mặc sang trọng của người giàu ngày xưa, như trong ca dao dân gian có câu :
Người giầu má đỏ, mày xanh,
QUẦN LÀ ÁO LƯỢT đua tranh lên đường.
Quần Là chữ Nho là LA QUẦN 羅裙 chỉ quần bằng lụa, như trong bài Thái Liên Khúc 採蓮曲 (khúc hát hái sen) của nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường :
荷葉羅裙一色裁, Hà diệp LA QUẦN nhất sắc tài,
芙蓉向臉兩邊開。 Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai.
亂入池中看不見, Loạn nhập trì trung khan bất kiến,
聞歌始覺有人來。 Văn ca thủy giác hữu nhân lai !
Có nghĩa :
Inline image
Lá sen quần lụa xếp hai hàng,
Mặt tựa phù dung mới điểm trang.
Lẫn khuất trong ao nào ai thấy,
Nghe ca mới biết có người sang !.
Về LÁ, thì trong văn học cổ của ta có LÁ DƯƠNG TÊN BẮN, có xuất xứ từ thành ngữ Bách Bộ Xuyên Dương 百步穿楊 do tích sau đây :
Theo Chiến Quốc Sách, quyển Tây Chu. Có người nước Sở tên là Dưỡng Do Cơ có thể ở ngoài trăm bước, giương cung lắp tên bắn trúng được lá dương liễu, trăm lần không sai một. Do tích nầy ta lại còn có thêm được một thành ngữ nữa là BÁCH PHÁT BÁCH TRÚNG 百發百中. Cả hai thành ngữ đều dùng để chỉ tài bắn cung (bắn súng) giỏi.
Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những tay thiện xạ, sau dùng rộng ra để chỉ làm việc gì đó luôn luôn thành công mà không hề thất bại. Như hễ đi thi thì đỗ ngay, trăm lần như một, thì cũng có thể gọi là Bách Phát Bách Trúng ! Trong tác phẫm văn học thơ Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng của ta có câu :
LÁ DƯƠNG một phát đưa TÊN BẮN,
Đèn sách cho cam thuở học hành !
Inline image
Sau Lá Dương , ta có LÁ GIÓ CÀNH CHIM, có nghĩa "Lá thì đun đưa theo gió, còn cành thì đón chim đến đậu" theo như tích sau đây :
TIẾT ĐÀO (768-831), tự là Hồng Độ 洪度, có bản ghi là Hoằng Độ 宏度, là nữ thi nhân, ca kỹ, nhạc kỹ. Người đất Trường An (Tây An, Thiểm Tây ngày nay). Cha là Tiết Vân 薛鄖, làm quan ở đất Thục. Theo Danh Viện Thi Quy 名媛詩歸 ghi lại : Tiết Đào lúc tám chín tuổi đã biết làm thơ, rất thông minh và lại tinh thông âm luật. Một hôm, đang ngồi hóng mát với cha ở trung đình, ông cha bèn chỉ vào cây ngô đồng bên miêng giếng mà đọc rằng :
庭除一古桐, Đình trừ nhất cổ đồng,
聳杆入雲中。 Tủng cán nhập vân trung.
Có nghĩa :
Trong sân cao ngất ngô đồng,
Vương cao cành lá lẫn trong mây trời.
Tiết Đào nghe xong, bèn đọc hai câu tiếp rằng :
枝迎南北鳥, Chi nghinh nam bắc điểu,
葉送往来風. Diệp tống vãn lai phong.
Có nghĩa :
Lá thì theo gió lả lơi,
Cành thì nam bắc rủ mời chim qua.
Inline image
Ông cha nghe xong rất ngạc nhiên cho tài thông minh nhanh nhạy của con gái, nhưng lại lắc đầu buồn bã vì ý thơ phóng túng buông thả, báo cho điềm xấu về cuộc đời của con gái sau nầy. Qủa nhiên, sau nầy cha mất sớm. Mới 16 tuổi Tiết Đào đã trở thành danh kỹ nổi tiếng ở đất Trường An.
Khi tả cuộc sống của Thúy Kiều ở lầu xanh, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :
...Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu LÁ GIÓ CÀNH CHIM,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh
Sau Lá Gió Cành Chim, ta có LÁ NGỌC CÀNH VÀNG, là Lá bằng Ngọc, còn Cành thì bằng Vàng. Có xuất xứ từ thành ngữ KIM CHI NGỌC DIỆP 金枝玉葉, từ Cổ kim Chú. Dự Phục 古今注·舆服. Có nghĩa : Cỏ cây hoa lá rất mượt mà xanh tươi đẹp đẽ. Thường dùng để chỉ gia quyến, con cái của nhà vua hay của hoàng tộc, theo như bài từ Điều Tiếu Lệnh. Hồ Điệp 調笑令·蝴蝶 của Vương Kiến đời Đường :
胡蝶,胡蝶, Hồ điệp, hồ điệp,
飛上金枝玉葉。 Phi thượng kim chi ngọc diệp.
君前對舞春風, Quân tiền đối vũ xuân phong.
百葉桃花樹紅。 Bách diệp đào hoa thọ hồng.
紅樹,紅樹, Hồng thọ, hồng thọ,
燕語鶯啼日暮。 Yến ngữ oanh đề nhật mộ !
Có nghĩa :
Bướm vàng, bướm vàng,
Đậu trên LÁ NGỌC CÀNH VÀNG.
Trước vua gió xuân ca múa,
Đào hồng lá đỏ ngàn cây.
Lá đỏ, lá đỏ,
Oanh ca én hót chiều nay !
Trong "Hà Thành Chính Khí Ca" của Ba Giai (cặp đôi của Tú Xuất), bài ca ca ngợi gương chiến đấu hy sinh oanh liệt của danh tướng Tổng Đốc Hoàng Diêu và lên án những người mang tiếng là KIM CHI NGỌC DIỆP mà không biết bảo vệ đất nước giang sơn như Án Sát Tôn Thất Bá :
Kìa Tôn Thất Bá Niết Công,
KIM CHI NGỌC DIỆP, vốn dòng tôn nhân,
Đã quốc tộc, lại vương thần,
Cũng nên hết sức kinh luân mới là...
Inline image
Tổng Đốc Hoàng Diệu
Còn trong truyện Nôm khuyết danh Hoàng Trừu - Công Chúa Đội Đèn của ta cũng có câu :
Xem bằng LÁ NGỌC CÀNH VÀNG,
Bỗng sao mà phải cơ hàn bấy lâu.
Cuối cùng ta có LÁ THẮM CHỈ HỒNG là do thành ngữ điển tích Hồng Diệp Xích Thằng 紅葉赤繩 mà ra. Xem thành ngữ điển tích 1 và 2.
Sau khi đã "Tình trong như đã mặt ngoài còn e" với người đẹp Thúy Kiều trong hội Đạp Thanh xong, thì hôm sau Kim tìm đến nhà Kiều định có dịp để làm quen, nhưng lại đụng phải :
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng LÁ THẮM dứt đường chim xanh.
Khi đã nhận lời tỏ tình của Kim Trọng xong rồi, Thúy Kiều cũng đã khôn khéo mà nhắn nhủ với người tình mới rằng :
Dù khi LÁ THẮM CHỈ HỒNG,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Còn trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện thì gọi Lá Thắm là LÁ HỒNG :
Gớm nơi ngôi bảng duềnh khơi,
LÁ HỒNG bỗng đến chi nơi nổi chìm.
Inline image
Trong "Tứ Thời Khúc Vịnh" của Hoàng Sĩ Khải thì gọi là THƠ BÀI LÁ ĐỎ như sau :
Thực nhân tình THƠ BÀI LÁ ĐỎ,
Mạch sầu kia biết tỏ cùng ai ?
Xin được kết thúc bài viết LA, LÀ, LÁ ở đây. Hẹn bài viết tới !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Thứ Hai, 11 tháng 5, 2020
CON THƯƠNG MẾN MẸ - THƠ LIÊU XUYÊN
Van Nguyen
09:47, CN, 10 thg 5 (1 ngày trước)
Nhân ngày Lễ Mẹ, xin mời đọc bài thơ Thuận Nghịch về Mẹ :
CON THƯƠNG MẾN MẸ
Đọc Xuôi:
Con thương mến Mẹ đức tâm hiền,
Khéo dạ lòng ngay chính mẫu tiên.
Son sắt mãi gìn không hiểm độc,
Tảo tần luôn giữ chẳng đa phiền !
Tròn duyên nghĩa vững bền gia thất,
Đẹp ý chồng vui thuận mối giềng.
Ngon ngọt thảo dâu tình nghĩa nặng…
Con thương mến mẹ đức tâm hiền !
Đọc Ngược:
Hiền tâm đức Mẹ mến thương con,
Nặng nghĩa tình dâu thảo ngọt ngon.
Giềng mối thuận vui chồng ý đẹp,
Thất gia bền vững nghĩa duyên tròn.
Phiền đa chẳng giữ luôn tần tảo,
Độc hiểm không gìn mãi sắc son.
Tiên mẫu chính ngay lòng dạ khéo…
Hiền tâm đức Mẹ mến thương con !
LIÊU XUYÊN
Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2020
THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH : KIỀU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Chieu Duc <chieuduc15@yahoo.com> 08:18 6 tháng 5, 2020
Tới, Ngọc Sương <nhamyngocsuong@gmail.com>
THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH :
KIỀU
Inline image
Trộm nghe thơm nức hương lân,
Một nền Đồng Tước khoá xuân hai KIỀU.
Đó là hai câu thơ cụ Nguyễn Du dùng để giới thiệu sắc đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân. Cụ đã so sánh chị em của Thúy Kiều đẹp giống như là chị em của Đại Kiều và Tiểu Kiều ở Giang Đông thời Tam Quốc vậy. Câu "Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều" đã được thoát dịch từ câu "Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều 銅雀春深鎖二喬". Có xuất xứ theo tích sau đây :
Năm Kiến An thứ 13 (Công nguyên 208) Khi bình định xong Viên Thiệu ở phương bắc, Tào Tháo thừa thắng kéo hơn tám mươi vạn binh xuôi nam uy hiếp Kinh Châu và Đông Ngô. Lúc bấy giờ Lưu Bị thua ở Tân Dã, chạy về đóng binh ở Giang Hạ. Chúa Kinh Châu là Lưu Biểu lại chết, con là Lưu Tông nghe theo lời phe chủ hàng Thái Mạo đầu hàng Tào Tháo. Lưu Bị vì đã mất đi phần bắc bộ Kinh Châu, đành cố thủ nơi Giang Hạ để chống cự lại quân Tào, rồi phái Khổng Minh Gia Cát Lượng đến Đông Ngô thuyết phục Tôn Quyền cùng liên minh kháng Tào.
Lúc bấy giờ Đô Đốc tam quân của Đông Ngô là Chu Du đang còn do dự chưa quyết, nên Khổng Minh mới dùng kế khích tướng, làm như không biết Tiểu Kiều là vợ của Chu Du, mới bảo Chu là : " Tào Tháo cho xây Đồng Tước Đài là để khi đánh tan quân Đông Ngô rồi thì bắt hai người đẹp nổi tiếng của Giang Đông là Đại Kiều và Tiểu Kiều về khóa xuân trong đài Đồng Tước để vui hưởng tuổi già. Nay nếu Đô Đốc sợ hao binh tổn tướng không dám đánh, thì cứ bắt hai nàng Kiều đem dâng cho Tào Tháo. Giang Đông chỉ mất có hai nàng Kiều mà tránh khỏi chiến tranh và chức Đô Đốc của tướng quân cũng sẽ vững như bàn thạch !". Chu Du nghe xong, trong lòng đà nổi giận, nhưng vẫn bình tĩnh hỏi lại rằng : " Có chi làm bằng ?!".
Khổng Minh bèn cười mà đáp : " Có chứ ! ", bèn đọc lại hai câu trong bài phú Đồng Tước Đài của Tào Thực ( là con trai thứ của Tào Tháo rất giỏi văn thơ ) đã làm theo lệnh của Tào Tháo khi Đồng Tước Đài vừa xây xong là :
攬二喬于東南兮, Lãm nhị Kiều vu đông nam hề,
樂朝夕之與共。 Lạc triêu tịch chi dữ cộng,
Có nghĩa :
Ôm ấp hai nàng Kiều ở phía đông nam nầy...
Cùng nhau mà vui vầy sớm tối.
Inline image
Chu Du nghe xong cả giận, rút gươm chém đứt một gốc bàn, mắng rằng :" Lão tặc Tào Tháo, ta quyết sẽ không đội trời chung với ngươi ! Từ rày về sau ai còn bàn việc hàng Tào, thì hãy xem gốc bàn nầy mà làm gương ". Khổng Minh làm bộ kinh ngạc hỏi :" Chỉ là 2 nàng Kiều thôi, sao Đô Đốc lại giận dữ thế ?!" Lỗ Túc đáp rằng :" Tại quân sư không hiểu thôi, Tiểu Kiều chính là Đô Đốc phu nhân đó".
Từ đó về sau, quân của Lưu Bị và Đông Ngô liên kết để chống lại quân của Tào Tháo. Vì quân Tào Tháo ở phương bắc, quen với đánh bộ, lại là quân ô họp đầu hàng của các lộ quân khác, nên tuy nhiều mà không tinh, không quen thủy tánh như quân của Giang Đông, lại bị Khổng Minh cho người hiến kế liên kết các chiến thuyền lại với nhau cho dễ đốt. Khổng Minh lại thừa đêm có nhiều sương mù, giả vờ tấn công thủy dinh của Tào Tháo để gạt lấy hết tên bằng các thuyền cỏ. Tất cả đều chuẩn bị xong xuôi. Chu Du rất đắc ý đứng nhìn thủy quân thiện chiến của mình ở bến sông, chợt một lá quân kỳ bay phất vào mặt, Chu Du như tỉnh ngộ hét to một tiếng, mồm hộc máu tươi, nằm luôn ở giường bệnh, các thái y vội vàng chạy chửa thuốc thang nhưng vẫn không khỏi bệnh, cứ nằm mà thở ngắn than dài.
Khi mưu sĩ Lổ Túc đến báo tin, thì Khổng Minh cười rằng :"Bệnh của Đô Đốc ta có thể chửa được !". Bèn đến thăm mạch và kê một toa thuốc như sau :
欲破曹公, Dục phá Tào công,
宜用火攻; Nghi dụng hỏa công;
萬事俱備, Vạn sự câu bị,
只欠東風。 Chỉ khiếm đông phong.
Có nghĩa :
Muốn phá quân Tào, Nên dùng hỏa công;
Muôn việc đều sẵn, Chỉ thiếu gió đông .
Inline image
Thì ra, lúc lá quân kỳ phất vào mặt mình, Chu Du mới chợt nhớ ra rằng, bây giờ là mùa thu chỉ có gió Tây, là gió thổi ngược về thủy trại của mình, nếu dùng hoả công không khéo mình lại tự đốt mình, nên mới ói máu ưu tư là thế. Thấy Khổng Minh nói đúng tâm sự của mình, bèn bật dậy nắm lấy tay Khổng Minh mà hỏi rằng :"Chắc quân sư có kế gì giúp ta phải chăng ?". Khổng Minh cho biết là khi xưa mình có gặp được một dị nhân dạy cho phép hô phong hoán vũ, nên nói với Chu Du ở Nam Bình Sơn lập cho mình một cái Thất Tinh Đàn để tế gió, thì sẽ có thể mượn cho ba ngày gió đông. Chu Du cười mà nói rằng , chỉ cần một ngày thôi là đã có thể phá tan quân Tào Tháo rồi. Qủa nhiên Khổng Minh cầu được gió đông và cùng hợp sức với Chu Du đốt tiêu hơn tám mươi vạn quân Tào Tháo trên dòng sông Xích Bích tạo nên một chiến tích không tiền khoáng hậu về chiến thuật lấy ít thắng nhiều.
Vì tích trên mà hơn sáu trăm năm sau, khi làm bài thơ " Xích Bích Hoài Cổ " nhà thơ Đỗ Mục của buổi tàn Đường đã hạ hai câu thơ bất hũ :
東風不与周郎便, Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
銅雀春深鎖二喬。 Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều !
Có nghĩa :
Gió đông không giúp chàng Chu thắng,
Đồng Tước khóa xuân cả nhị Kiều !
KIỀU 喬 là họ Kiều, nên Nhị Kiều 二喬 là Hai nàng con gái họ Kiều, con của Kiều Công (ông già họ Kiều) ở Giang Nam như đã nói ở trên. KIỀU 嬌 có bộ Nữ 女 bên trái chỉ các cô con gái đẹp đẽ mềm mại đáng yêu, như hai câu :
Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai KIỀU e lệ nép vào dưới hoa.
HAI KIỀU ở đây là hai cô gái đẹp, chỉ chị em Thúy Kiều và Thuý Vân.
Hay như sau buổi gặp gỡ với Kim Trọng và hồn ma Đạm Tiên trong tiết Thanh Minh, khi tối về Thúy Kiều đã "Một mình lặng ngắm bóng nga, Rộn đường gần với nỗi xa bời bời" đến đỗi " Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu ", và ...
Thoắt đâu thấy một TIỂU KIỀU...
Có chiều phong vận có chiều thanh tân.
Inline image
"TIỂU KIỀU 小嬌" là một nàng con gái nhỏ nhắn đẹp đẽ. Chỉ hồn ma Đạm Tiên. Còn...
Tên của Thuý Kiều 翠翹, thì chữ THÚY 翠 là màu xanh biếc, chữ KIỀU 翹 là lông đuôi dài và cất cao lên của các con chim đẹp. Nên THÚY KIỀU 翠翹 là Chiếc lông đuôi xanh biếc tuyệt đẹp của loài chim. Đây là tên đẹp thường dùng để đặt cho các cô gái.
KIỀU 喬 còn có nghĩa là Kiều Mộc 喬木, là Cây cao bóng cả. LA 蘿 là Nữ La 女蘿 là một loại dây leo sống bám vào thân cây lớn. Ngày xưa mượn để ví với người con gái như dây leo mềm yếu phải sống vựa vào cây cao bóng cả ví như người chồng để được che chở. Nên trong văn học cổ hay gặp từ KIỀU LA 喬蘿, như trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :
Bóng KIỀU mong gửi thân LA,
Biết đem rìu búa để mà cậy ai ?
Còn trong truyện Nôm Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng thì có câu :
Bàn tay che trước vừng hồng,
Uốn cây KIỀU MỘC đau lòng trượng phu !
Inline image
Còn trong chương Chu Tụng của Kinh Thi 詩經·周颂 thì có câu : "Hoài nhu bách thần, cập hà Kiều Nhạc 懷柔百神,及河喬岳" Có nghĩa : Nhớ nhung quyến luyến trăm phần, Không bằng KIỀU NHẠC cao ngần bên sông. KIỀU 喬 là cây cao, còn NHẠC 岳 là núi cao; nên KIỀU NHẠC 喬岳 dùng để chỉ những gì cao to ngất ngưỡng. Trong bài Tư Dung Vãn của cụ Đào Duy Từ có câu :
Màn trời muôn trượng không dời,
Cao thay KIỀU NHẠC, vững thay Thái Bàn.
Nhưng KIỀU TÙNG 喬松 thì là tên của 2 vị tiên. KIỀU là Vương Tử Kiều 王子喬, là Thái tử của Chu Linh Vương, vốn họ Cơ tên Tấn, tự là Tử Kiều. Ông lìa cung đi tầm đạo, được phương sĩ Phù Khâu Sinh dẫn đến Tung Sơn luyện phép trường sinh bất lão, nên Linh Vương ngỡ là ông đã chết. Ba mươi năm sau, ông nhờ Đại phu Hoàn Lương hẹn với em mình là Chu Cảnh Vương ngày mùng bảy tháng bảy gặp mặt ở Hầu Sơn. Đến hẹn Vương Tử Kiều cởi bạch hạc thổi tiêu đến gặp em mình, bảy ngày sau thì cởi hạc lên tiên. Còn TÙNG là Xích Tùng Tử 赤松子, lại có tên là Xích Tụng Tử 赤誦子, hiệu là Tả Tiên Thái Hư Chân Nhân 左仙太虚真人. Theo Thái Bình Hoàn Vũ Ký thì Xích Tùng Tử tu ở núi Kim Hoa động Xích Tùng, dùng lửa tự hỏa thiêu mình để thành tiên lên trời. Theo truyền thuyết đời Tần Hán thì Vương Tử Kiều và Xích Tùng Tử là hai ông tiên tượng trưng cho sự sống lâu trường thọ ở đời.
Trong tập sử trường thiên ra đời vào cuối thế kỷ 17 Thiên Nam Ngữ Lục đoạn tả anh em Phùng Hưng Bố Cái Đại Vương có câu :
Ước làm Bành Tổ KIỀU TÙNG,
Nào hay thiên vận cởi rồng lên tiên.
Inline image
Vương Tử Kiều Bành Tổ Xích Tùng Tử
Cuối cùng ta có KIỀU là LAM KIỀU 藍橋, còn gọi là Cầu Lam. Theo tích của Bùi Hàng giả thuốc gặp tiên như sau :
Theo sách Thái Bình Quảng Ký, quyển 50: Đời Đường Mục Tông (795-824), năm Trường Khánh có Tú tài Bùi Hàng 裴航 lai kinh ứng thí, nhưng thi rớt. Buồn vì vô tích sự nên định đi du ngoạn Tương Dương một chuyến để giải khuây. Khi đến bến để thuê thuyền thì chỉ còn một khoang thuyền nhỏ, khoang chính của thuyền đã có một phu nhân thuê rồi. Mặc dù có rèm sáo che chắn, nhưng vì ở chung trên một chiếc thuyền, lúc lên xuống ra vào, khi gió động rèm châu, Bùi Hàng cũng lén ngắm nhìn dung nhan của vị phu nhân chung thuyền. Chàng chợt ngẩn người ra và mê mẫn trước sắc đẹp như tiên giáng thế của vị phu nhân mà ngày thường chỉ nghe tiếng nói thanh tao như ngọc của nàng qua bức rèm châu. Hỏi thăm thị nữ theo hầu thì được biết đó là Phàn Phu Nhân. Chàng bèn làm một bài thơ tỏ tình ái mộ của mình, rồi nhờ thị nữ chuyển đến cho phu nhân bài thơ sau đây :
同舟胡越猶懷想, Đồng chu Hồ Việt do hoài tưởng.
況遇天仙隔錦屏。 Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình.
倘若玉京朝會去, Thảng nhược Ngọc kinh triều hội khứ,
願隨鸞鶴入青雲。 Nguyện tùy loan hạc nhập thanh vân.
Có nghĩa :
Cùng thuyền Hồ Việt cũng thương nhau,
Huống gặp người tiên cách sáo rào.
Nếu đó Ngọc Kinh về phó hội,
Nguyện cùng chắp cánh vút trời cao !
Phàn phu nhân xem xong mỉm cười nói thầm : Rõ khéo đa tình, rất tiếc ta không phải là đối tượng của chàng ! Bèn lấy ra một mảnh hoa tiên, cất bút đề thơ hồi âm :
一飲瓊漿百感生, Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sanh,
玄霜搗盡見雲英。 Huyền sương đão tận kiến Vân Anh.
藍橋便是神仙窟, Lam Kiều tiện thị thần tiên quật.
何必崎嶇上玉京? Hà tất khi khu thướng Ngọc Kinh ?
Có nghĩa :
Một chén quỳnh tương trăm cảm sanh,
Chày sương giã thuốc gặp Vân Anh.
Lam Kiều chốn ấy thần tiên ngụ,
Sao phải gập ghềnh đến Ngọc Kinh ?!
Inline image
Bùi Hàng đọc thơ mà không hiểu ngụ ý của Phu nhân muốn nói chi. Huyền sương là cái gì và Vân Anh là ai, sao lại ở trong thần tiên quật (hang động của thần tiên). Chàng cứ ngẩn ngơ suy nghĩ mãi không hiểu nàng muốn ám chỉ việc gì. Chừng định hồn lại thì phu nhân và thị nữ đã lên bờ đi mất. Buồn lòng, chàng bèn quay trở lại Trường an định chờ khoa thi tới. Khi về đến Lam Kiều Dịch, xa xa trông thấy có mấy mái nhà tranh thật nên thơ, sẵn đang khát nước chàng bèn ghé lại xin chén nước uống. Sau khi hỏi xin bà lão đang ngồi quay tơ trứơc cửa, thì bà lão gọi vói vào trong nhà : "Vân Anh, bưng nước ra mời khách !". Bùi Hàng ngẩn người ra nhớ lại bài thơ của Phàn phu nhân có nhắc đến Vân Anh. Chàng hồi hộp nhìn vào bên trong bình phong, quả nhiên một người con gái khoảng mười lăm mười sáu tuổi đẹp như tiên nga bưng nước ra mời khách. Chàng uống cạn ly nước mát ngọt lịm tận tim gan. Chàng lấy cớ là đi đường người mệt ngựa mõi mà nấn ná ở lại nghỉ ngơi.
Sau khi làm quen và trao đổi hàn huyên với bà lão, Bùi Hàng mới khẩn khoản ngỏ ý muốn xin cưới Vân Anh, thì bà lão bảo rằng :" Đó là cháu gái của lão, bà cháu sống nương tựa lẫn nhau, nếu muốn cưới nó thì phải giúp lão giả xong thang thuốc Huyền Sương, vì là thuốc của tiên ban nên phải giả bằng chày ngọc cối ngọc. Nếu trong một trăm ngày mà chàng tìm được chày ngọc cối ngọc đến đây giả thuốc cho ta , thì ta sẽ gả nó cho chàng ". Bùi Hàng vui mừng hớn hở từ biệt bà lão để ra đi tìm chày ngọc cối ngọc.
Một hôm đang lang thang để hỏi thăm tin tức ở kinh thành, tình cờ gặp được người buôn ngọc cho chàng biết là có người đang rao bán chày cối ngọc, nhưng lại đòi đến hai ngàn lượng bạc. Chàng đành phải bán cả hành trang, cả ngựa và cả tên gia đồng theo hầu mới đổi được chày ngọc cối ngọc mang về Lam Kiều cho bà lão. Bà lại bảo chàng phải ở lại Lam Kiều để giã thuốc Huyền Sương cho đúng một trăm ngày nữa. Khi thuốc đã giã xong và khi bà lão đã uống xong thuốc, bèn dẫn Vân Anh ra đi và bảo chàng hãy nán đợi. Hôm sau, có đoàn ngựa xe từ đâu đến đón chàng đi đến một nơi mây mù vần vũ, lầu các nguy nga, tòa rộng dãy dài, tiêu thiều nhạc sáo vang vang, trúc tơ dìu dặc như tiên cảnh. Bà lão không còn nghèo nàn như trước mà hiện ra như một lão Phật gia trong cung tiên, cô dâu Vân Anh đẹp rực rỡ với " Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng " được thị tì hai bên đở ra để làm lễ tơ hồng. Bùi Hàng bàng hoàng ngây ngất, sung sướng đê mê bên cô dâu thơm phức và đẹp như … tiên !
Sau khi cử hành hôn lễ, bà lão còn đưa hai vợ chồng đến ra mắt một tiên nương chị của cô dâu Vân Anh là Vân Kiều. Bùi Hàng mới giật mình nhận ra đây là Phàn phu nhân đi cùng thuyền với mình lúc trước. Thì ra Vân Kiều Phàn phu nhân đã báo trước mối duyên giã thuốc của mình với Vân Anh ở Lam Kiều rồì, mà trước đây mình đâu có biết.
Sau những năm tháng sống vui vẻ bên nhau, vợ chồng Bùi Hàng cũng cùng tu và cùng đắc đạo thành tiên cả.
LAM KIỀU là nơi ở của người đẹp mà ta hằng ao ước. Nên khi dò la tìm chỗ ở của Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du đã viết về chàng Kim Trọng như sau :
Tình riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo LAM KIỀU lần sang.
Ngay cả Mã Giám Sinh khi đến trả giá để mua Thúy Kiều cũng phải làm ra vẻ cao qúy nho nhã lịch sự :
Rằng mua ngọc đến LAM KIỀU,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường.
Inline image
KIỀU NỮ là gái đẹp. "Những nàng Kiều Nữ ở Cố Đô" là "Các cô gái đẹp ở Huế". Nhưng nếu nói "Thân phận của NHỮNG NÀNG KIỀU ở Huế " thì lại chỉ " Thân phận của CÁC CÔ GÁI ĐIẾM ở Cố Đô". Đó chính là "Tập quán Ngôn ngữ", cũng cùng một từ KIỀU nhưng ý nghĩa thì lại chênh nhau một trời một vực !
Hẹn bài viết tới !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Tới, Ngọc Sương <nhamyngocsuong@gmail.com>
THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH :
KIỀU
Inline image
Trộm nghe thơm nức hương lân,
Một nền Đồng Tước khoá xuân hai KIỀU.
Đó là hai câu thơ cụ Nguyễn Du dùng để giới thiệu sắc đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân. Cụ đã so sánh chị em của Thúy Kiều đẹp giống như là chị em của Đại Kiều và Tiểu Kiều ở Giang Đông thời Tam Quốc vậy. Câu "Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều" đã được thoát dịch từ câu "Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều 銅雀春深鎖二喬". Có xuất xứ theo tích sau đây :
Năm Kiến An thứ 13 (Công nguyên 208) Khi bình định xong Viên Thiệu ở phương bắc, Tào Tháo thừa thắng kéo hơn tám mươi vạn binh xuôi nam uy hiếp Kinh Châu và Đông Ngô. Lúc bấy giờ Lưu Bị thua ở Tân Dã, chạy về đóng binh ở Giang Hạ. Chúa Kinh Châu là Lưu Biểu lại chết, con là Lưu Tông nghe theo lời phe chủ hàng Thái Mạo đầu hàng Tào Tháo. Lưu Bị vì đã mất đi phần bắc bộ Kinh Châu, đành cố thủ nơi Giang Hạ để chống cự lại quân Tào, rồi phái Khổng Minh Gia Cát Lượng đến Đông Ngô thuyết phục Tôn Quyền cùng liên minh kháng Tào.
Lúc bấy giờ Đô Đốc tam quân của Đông Ngô là Chu Du đang còn do dự chưa quyết, nên Khổng Minh mới dùng kế khích tướng, làm như không biết Tiểu Kiều là vợ của Chu Du, mới bảo Chu là : " Tào Tháo cho xây Đồng Tước Đài là để khi đánh tan quân Đông Ngô rồi thì bắt hai người đẹp nổi tiếng của Giang Đông là Đại Kiều và Tiểu Kiều về khóa xuân trong đài Đồng Tước để vui hưởng tuổi già. Nay nếu Đô Đốc sợ hao binh tổn tướng không dám đánh, thì cứ bắt hai nàng Kiều đem dâng cho Tào Tháo. Giang Đông chỉ mất có hai nàng Kiều mà tránh khỏi chiến tranh và chức Đô Đốc của tướng quân cũng sẽ vững như bàn thạch !". Chu Du nghe xong, trong lòng đà nổi giận, nhưng vẫn bình tĩnh hỏi lại rằng : " Có chi làm bằng ?!".
Khổng Minh bèn cười mà đáp : " Có chứ ! ", bèn đọc lại hai câu trong bài phú Đồng Tước Đài của Tào Thực ( là con trai thứ của Tào Tháo rất giỏi văn thơ ) đã làm theo lệnh của Tào Tháo khi Đồng Tước Đài vừa xây xong là :
攬二喬于東南兮, Lãm nhị Kiều vu đông nam hề,
樂朝夕之與共。 Lạc triêu tịch chi dữ cộng,
Có nghĩa :
Ôm ấp hai nàng Kiều ở phía đông nam nầy...
Cùng nhau mà vui vầy sớm tối.
Inline image
Chu Du nghe xong cả giận, rút gươm chém đứt một gốc bàn, mắng rằng :" Lão tặc Tào Tháo, ta quyết sẽ không đội trời chung với ngươi ! Từ rày về sau ai còn bàn việc hàng Tào, thì hãy xem gốc bàn nầy mà làm gương ". Khổng Minh làm bộ kinh ngạc hỏi :" Chỉ là 2 nàng Kiều thôi, sao Đô Đốc lại giận dữ thế ?!" Lỗ Túc đáp rằng :" Tại quân sư không hiểu thôi, Tiểu Kiều chính là Đô Đốc phu nhân đó".
Từ đó về sau, quân của Lưu Bị và Đông Ngô liên kết để chống lại quân của Tào Tháo. Vì quân Tào Tháo ở phương bắc, quen với đánh bộ, lại là quân ô họp đầu hàng của các lộ quân khác, nên tuy nhiều mà không tinh, không quen thủy tánh như quân của Giang Đông, lại bị Khổng Minh cho người hiến kế liên kết các chiến thuyền lại với nhau cho dễ đốt. Khổng Minh lại thừa đêm có nhiều sương mù, giả vờ tấn công thủy dinh của Tào Tháo để gạt lấy hết tên bằng các thuyền cỏ. Tất cả đều chuẩn bị xong xuôi. Chu Du rất đắc ý đứng nhìn thủy quân thiện chiến của mình ở bến sông, chợt một lá quân kỳ bay phất vào mặt, Chu Du như tỉnh ngộ hét to một tiếng, mồm hộc máu tươi, nằm luôn ở giường bệnh, các thái y vội vàng chạy chửa thuốc thang nhưng vẫn không khỏi bệnh, cứ nằm mà thở ngắn than dài.
Khi mưu sĩ Lổ Túc đến báo tin, thì Khổng Minh cười rằng :"Bệnh của Đô Đốc ta có thể chửa được !". Bèn đến thăm mạch và kê một toa thuốc như sau :
欲破曹公, Dục phá Tào công,
宜用火攻; Nghi dụng hỏa công;
萬事俱備, Vạn sự câu bị,
只欠東風。 Chỉ khiếm đông phong.
Có nghĩa :
Muốn phá quân Tào, Nên dùng hỏa công;
Muôn việc đều sẵn, Chỉ thiếu gió đông .
Inline image
Thì ra, lúc lá quân kỳ phất vào mặt mình, Chu Du mới chợt nhớ ra rằng, bây giờ là mùa thu chỉ có gió Tây, là gió thổi ngược về thủy trại của mình, nếu dùng hoả công không khéo mình lại tự đốt mình, nên mới ói máu ưu tư là thế. Thấy Khổng Minh nói đúng tâm sự của mình, bèn bật dậy nắm lấy tay Khổng Minh mà hỏi rằng :"Chắc quân sư có kế gì giúp ta phải chăng ?". Khổng Minh cho biết là khi xưa mình có gặp được một dị nhân dạy cho phép hô phong hoán vũ, nên nói với Chu Du ở Nam Bình Sơn lập cho mình một cái Thất Tinh Đàn để tế gió, thì sẽ có thể mượn cho ba ngày gió đông. Chu Du cười mà nói rằng , chỉ cần một ngày thôi là đã có thể phá tan quân Tào Tháo rồi. Qủa nhiên Khổng Minh cầu được gió đông và cùng hợp sức với Chu Du đốt tiêu hơn tám mươi vạn quân Tào Tháo trên dòng sông Xích Bích tạo nên một chiến tích không tiền khoáng hậu về chiến thuật lấy ít thắng nhiều.
Vì tích trên mà hơn sáu trăm năm sau, khi làm bài thơ " Xích Bích Hoài Cổ " nhà thơ Đỗ Mục của buổi tàn Đường đã hạ hai câu thơ bất hũ :
東風不与周郎便, Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
銅雀春深鎖二喬。 Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều !
Có nghĩa :
Gió đông không giúp chàng Chu thắng,
Đồng Tước khóa xuân cả nhị Kiều !
KIỀU 喬 là họ Kiều, nên Nhị Kiều 二喬 là Hai nàng con gái họ Kiều, con của Kiều Công (ông già họ Kiều) ở Giang Nam như đã nói ở trên. KIỀU 嬌 có bộ Nữ 女 bên trái chỉ các cô con gái đẹp đẽ mềm mại đáng yêu, như hai câu :
Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai KIỀU e lệ nép vào dưới hoa.
HAI KIỀU ở đây là hai cô gái đẹp, chỉ chị em Thúy Kiều và Thuý Vân.
Hay như sau buổi gặp gỡ với Kim Trọng và hồn ma Đạm Tiên trong tiết Thanh Minh, khi tối về Thúy Kiều đã "Một mình lặng ngắm bóng nga, Rộn đường gần với nỗi xa bời bời" đến đỗi " Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu ", và ...
Thoắt đâu thấy một TIỂU KIỀU...
Có chiều phong vận có chiều thanh tân.
Inline image
"TIỂU KIỀU 小嬌" là một nàng con gái nhỏ nhắn đẹp đẽ. Chỉ hồn ma Đạm Tiên. Còn...
Tên của Thuý Kiều 翠翹, thì chữ THÚY 翠 là màu xanh biếc, chữ KIỀU 翹 là lông đuôi dài và cất cao lên của các con chim đẹp. Nên THÚY KIỀU 翠翹 là Chiếc lông đuôi xanh biếc tuyệt đẹp của loài chim. Đây là tên đẹp thường dùng để đặt cho các cô gái.
KIỀU 喬 còn có nghĩa là Kiều Mộc 喬木, là Cây cao bóng cả. LA 蘿 là Nữ La 女蘿 là một loại dây leo sống bám vào thân cây lớn. Ngày xưa mượn để ví với người con gái như dây leo mềm yếu phải sống vựa vào cây cao bóng cả ví như người chồng để được che chở. Nên trong văn học cổ hay gặp từ KIỀU LA 喬蘿, như trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :
Bóng KIỀU mong gửi thân LA,
Biết đem rìu búa để mà cậy ai ?
Còn trong truyện Nôm Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng thì có câu :
Bàn tay che trước vừng hồng,
Uốn cây KIỀU MỘC đau lòng trượng phu !
Inline image
Còn trong chương Chu Tụng của Kinh Thi 詩經·周颂 thì có câu : "Hoài nhu bách thần, cập hà Kiều Nhạc 懷柔百神,及河喬岳" Có nghĩa : Nhớ nhung quyến luyến trăm phần, Không bằng KIỀU NHẠC cao ngần bên sông. KIỀU 喬 là cây cao, còn NHẠC 岳 là núi cao; nên KIỀU NHẠC 喬岳 dùng để chỉ những gì cao to ngất ngưỡng. Trong bài Tư Dung Vãn của cụ Đào Duy Từ có câu :
Màn trời muôn trượng không dời,
Cao thay KIỀU NHẠC, vững thay Thái Bàn.
Nhưng KIỀU TÙNG 喬松 thì là tên của 2 vị tiên. KIỀU là Vương Tử Kiều 王子喬, là Thái tử của Chu Linh Vương, vốn họ Cơ tên Tấn, tự là Tử Kiều. Ông lìa cung đi tầm đạo, được phương sĩ Phù Khâu Sinh dẫn đến Tung Sơn luyện phép trường sinh bất lão, nên Linh Vương ngỡ là ông đã chết. Ba mươi năm sau, ông nhờ Đại phu Hoàn Lương hẹn với em mình là Chu Cảnh Vương ngày mùng bảy tháng bảy gặp mặt ở Hầu Sơn. Đến hẹn Vương Tử Kiều cởi bạch hạc thổi tiêu đến gặp em mình, bảy ngày sau thì cởi hạc lên tiên. Còn TÙNG là Xích Tùng Tử 赤松子, lại có tên là Xích Tụng Tử 赤誦子, hiệu là Tả Tiên Thái Hư Chân Nhân 左仙太虚真人. Theo Thái Bình Hoàn Vũ Ký thì Xích Tùng Tử tu ở núi Kim Hoa động Xích Tùng, dùng lửa tự hỏa thiêu mình để thành tiên lên trời. Theo truyền thuyết đời Tần Hán thì Vương Tử Kiều và Xích Tùng Tử là hai ông tiên tượng trưng cho sự sống lâu trường thọ ở đời.
Trong tập sử trường thiên ra đời vào cuối thế kỷ 17 Thiên Nam Ngữ Lục đoạn tả anh em Phùng Hưng Bố Cái Đại Vương có câu :
Ước làm Bành Tổ KIỀU TÙNG,
Nào hay thiên vận cởi rồng lên tiên.
Inline image
Vương Tử Kiều Bành Tổ Xích Tùng Tử
Cuối cùng ta có KIỀU là LAM KIỀU 藍橋, còn gọi là Cầu Lam. Theo tích của Bùi Hàng giả thuốc gặp tiên như sau :
Theo sách Thái Bình Quảng Ký, quyển 50: Đời Đường Mục Tông (795-824), năm Trường Khánh có Tú tài Bùi Hàng 裴航 lai kinh ứng thí, nhưng thi rớt. Buồn vì vô tích sự nên định đi du ngoạn Tương Dương một chuyến để giải khuây. Khi đến bến để thuê thuyền thì chỉ còn một khoang thuyền nhỏ, khoang chính của thuyền đã có một phu nhân thuê rồi. Mặc dù có rèm sáo che chắn, nhưng vì ở chung trên một chiếc thuyền, lúc lên xuống ra vào, khi gió động rèm châu, Bùi Hàng cũng lén ngắm nhìn dung nhan của vị phu nhân chung thuyền. Chàng chợt ngẩn người ra và mê mẫn trước sắc đẹp như tiên giáng thế của vị phu nhân mà ngày thường chỉ nghe tiếng nói thanh tao như ngọc của nàng qua bức rèm châu. Hỏi thăm thị nữ theo hầu thì được biết đó là Phàn Phu Nhân. Chàng bèn làm một bài thơ tỏ tình ái mộ của mình, rồi nhờ thị nữ chuyển đến cho phu nhân bài thơ sau đây :
同舟胡越猶懷想, Đồng chu Hồ Việt do hoài tưởng.
況遇天仙隔錦屏。 Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình.
倘若玉京朝會去, Thảng nhược Ngọc kinh triều hội khứ,
願隨鸞鶴入青雲。 Nguyện tùy loan hạc nhập thanh vân.
Có nghĩa :
Cùng thuyền Hồ Việt cũng thương nhau,
Huống gặp người tiên cách sáo rào.
Nếu đó Ngọc Kinh về phó hội,
Nguyện cùng chắp cánh vút trời cao !
Phàn phu nhân xem xong mỉm cười nói thầm : Rõ khéo đa tình, rất tiếc ta không phải là đối tượng của chàng ! Bèn lấy ra một mảnh hoa tiên, cất bút đề thơ hồi âm :
一飲瓊漿百感生, Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sanh,
玄霜搗盡見雲英。 Huyền sương đão tận kiến Vân Anh.
藍橋便是神仙窟, Lam Kiều tiện thị thần tiên quật.
何必崎嶇上玉京? Hà tất khi khu thướng Ngọc Kinh ?
Có nghĩa :
Một chén quỳnh tương trăm cảm sanh,
Chày sương giã thuốc gặp Vân Anh.
Lam Kiều chốn ấy thần tiên ngụ,
Sao phải gập ghềnh đến Ngọc Kinh ?!
Inline image
Bùi Hàng đọc thơ mà không hiểu ngụ ý của Phu nhân muốn nói chi. Huyền sương là cái gì và Vân Anh là ai, sao lại ở trong thần tiên quật (hang động của thần tiên). Chàng cứ ngẩn ngơ suy nghĩ mãi không hiểu nàng muốn ám chỉ việc gì. Chừng định hồn lại thì phu nhân và thị nữ đã lên bờ đi mất. Buồn lòng, chàng bèn quay trở lại Trường an định chờ khoa thi tới. Khi về đến Lam Kiều Dịch, xa xa trông thấy có mấy mái nhà tranh thật nên thơ, sẵn đang khát nước chàng bèn ghé lại xin chén nước uống. Sau khi hỏi xin bà lão đang ngồi quay tơ trứơc cửa, thì bà lão gọi vói vào trong nhà : "Vân Anh, bưng nước ra mời khách !". Bùi Hàng ngẩn người ra nhớ lại bài thơ của Phàn phu nhân có nhắc đến Vân Anh. Chàng hồi hộp nhìn vào bên trong bình phong, quả nhiên một người con gái khoảng mười lăm mười sáu tuổi đẹp như tiên nga bưng nước ra mời khách. Chàng uống cạn ly nước mát ngọt lịm tận tim gan. Chàng lấy cớ là đi đường người mệt ngựa mõi mà nấn ná ở lại nghỉ ngơi.
Sau khi làm quen và trao đổi hàn huyên với bà lão, Bùi Hàng mới khẩn khoản ngỏ ý muốn xin cưới Vân Anh, thì bà lão bảo rằng :" Đó là cháu gái của lão, bà cháu sống nương tựa lẫn nhau, nếu muốn cưới nó thì phải giúp lão giả xong thang thuốc Huyền Sương, vì là thuốc của tiên ban nên phải giả bằng chày ngọc cối ngọc. Nếu trong một trăm ngày mà chàng tìm được chày ngọc cối ngọc đến đây giả thuốc cho ta , thì ta sẽ gả nó cho chàng ". Bùi Hàng vui mừng hớn hở từ biệt bà lão để ra đi tìm chày ngọc cối ngọc.
Một hôm đang lang thang để hỏi thăm tin tức ở kinh thành, tình cờ gặp được người buôn ngọc cho chàng biết là có người đang rao bán chày cối ngọc, nhưng lại đòi đến hai ngàn lượng bạc. Chàng đành phải bán cả hành trang, cả ngựa và cả tên gia đồng theo hầu mới đổi được chày ngọc cối ngọc mang về Lam Kiều cho bà lão. Bà lại bảo chàng phải ở lại Lam Kiều để giã thuốc Huyền Sương cho đúng một trăm ngày nữa. Khi thuốc đã giã xong và khi bà lão đã uống xong thuốc, bèn dẫn Vân Anh ra đi và bảo chàng hãy nán đợi. Hôm sau, có đoàn ngựa xe từ đâu đến đón chàng đi đến một nơi mây mù vần vũ, lầu các nguy nga, tòa rộng dãy dài, tiêu thiều nhạc sáo vang vang, trúc tơ dìu dặc như tiên cảnh. Bà lão không còn nghèo nàn như trước mà hiện ra như một lão Phật gia trong cung tiên, cô dâu Vân Anh đẹp rực rỡ với " Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng " được thị tì hai bên đở ra để làm lễ tơ hồng. Bùi Hàng bàng hoàng ngây ngất, sung sướng đê mê bên cô dâu thơm phức và đẹp như … tiên !
Sau khi cử hành hôn lễ, bà lão còn đưa hai vợ chồng đến ra mắt một tiên nương chị của cô dâu Vân Anh là Vân Kiều. Bùi Hàng mới giật mình nhận ra đây là Phàn phu nhân đi cùng thuyền với mình lúc trước. Thì ra Vân Kiều Phàn phu nhân đã báo trước mối duyên giã thuốc của mình với Vân Anh ở Lam Kiều rồì, mà trước đây mình đâu có biết.
Sau những năm tháng sống vui vẻ bên nhau, vợ chồng Bùi Hàng cũng cùng tu và cùng đắc đạo thành tiên cả.
LAM KIỀU là nơi ở của người đẹp mà ta hằng ao ước. Nên khi dò la tìm chỗ ở của Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du đã viết về chàng Kim Trọng như sau :
Tình riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo LAM KIỀU lần sang.
Ngay cả Mã Giám Sinh khi đến trả giá để mua Thúy Kiều cũng phải làm ra vẻ cao qúy nho nhã lịch sự :
Rằng mua ngọc đến LAM KIỀU,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường.
Inline image
KIỀU NỮ là gái đẹp. "Những nàng Kiều Nữ ở Cố Đô" là "Các cô gái đẹp ở Huế". Nhưng nếu nói "Thân phận của NHỮNG NÀNG KIỀU ở Huế " thì lại chỉ " Thân phận của CÁC CÔ GÁI ĐIẾM ở Cố Đô". Đó chính là "Tập quán Ngôn ngữ", cũng cùng một từ KIỀU nhưng ý nghĩa thì lại chênh nhau một trời một vực !
Hẹn bài viết tới !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2020
BAO LA LÒNG MẸ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC
HỌA VẬN :
BAO LA LÒNG MẸ
Tận tụy suốt đời chẳng ngại thân
,Lo toan sau trước vẹn trăm phần
.Giúp chồng chẳng quản lao cùng nhọc,
Dưỡng tử nề chi tảo với tần
.Hiền dịu ôn hòa khi hữu sự,
Khoan dung từ ái lúc chiên truân
.Bao la biển Thái, ôi lòng mẹ..
.Dào dạt mênh mông ức triệu lần !
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
LỄ MẸ
Chúa Nhật thứ hai của tháng 5 hằng năm là ngày LỄ MẸ ( Mother's day ) ở Mỹ. LỄ MẸ năm nay nhằm ngày Chúa Nhật 10 tháng 5 tới đây.. Việt Nam ta không có ngày Lễ Mẹ chính thức, mọi người lấy ngày Lễ Vu Lan Bồn là ngày rằm tháng 7 Âm lịch làm ngày tưởng nhớ đến Mẹ Hiền. Trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa ở Miền Nam, nhà sư Nhất Hạnh lấy ngày Rằm tháng 7 này làm ngày Bông Hồng Cài Áo. Ai còn Mẹ thì được cài một bông hồng màu ĐỎ, người nào chẳng may đã mất Mẹ rồi thì cài một bông hồng màu TRẮNG lên áo để tưởng nhớ đến Mẹ Hiền....
Nay, nhân ngày Lễ Mẹ ở xứ người, lại nhớ đến ngày Lễ Vu Lan ở xứ ta, xin chân thành gởi đến tất cả mọi người một Bông Hồng...Thơ, để tưởng nhớ đến Mẹ Hiền qua tâm tình của một Du Tử phiêu bạt phương trời : Bài thơ " DU TỬ NGÂM " của Mạnh Giao đời Đường...
DU TỬ NGÂM 遊子吟
Từ mẫu thủ trung tuyến 慈母手中线
Du tử thân thượng y 遊子身上衣
Lâm hành mật mật phùng 临行密密缝
Ý khủng trì trì quy 意恐遲遲歸
Thùy ngôn thốn thảo tâm 誰言寸草心
Báo đắc tam xuân huy 報得三春暉
MẠNH GIAO 孟 郊
Bài thơ có tựa là KHÚC NGÂM của NGƯỜI DU TỬ, người lãng du phiêu bạt giang hồ nhớ về Mẹ như sau : Sợi chỉ trong tay bà mẹ hiền, khâu nên chiếc áo ở trên mình người du tử. Lúc ra đi, mẹ đã từng mũi từng mũi một khâu thật chắc, ý sợ rằng con mình mê mãi thú giang hồ mà nấn ná dần dà trễ tràng trở về quê cũ. Ai bảo rằng tất lòng của cọng cỏ non kia, có thể báo đáp được ánh nắng ấm áp của ba tháng mùa xuân.( Trong mùa đông, cỏ chết rụi cả, chỉ sống lại nhờ ánh sáng của mùa xuân mà thôi ! ).
Ôi, nỗi lòng thương con của bà mẹ thật tỉ mỉ, chi li, nhưng lại bao la sâu rộng vô cùng. Bà không trách con đi lâu, cũng không buộc con phải về sớm, vì bà biết tánh lãng tử của con mình. Bà chỉ âm thâm chắc chiu từng mũi kim cho thật chặc, chỉnh e khi ở xứ lạ quê người, áo của con bị sứt chỉ đường tà sẽ không có ai khâu hộ. Việc tuy nhỏ nhặt, nhưng lại hàm chứa biết bao nỗi thương yêu lo lắng của Mẹ Hiền. Tác giả đã kết bằng cách mượn nỗi lòng của một tấc cỏ nhỏ nhoi, thì làm thế nào có thể báo đáp cho được ánh nắng ấm áp của 3 tháng mùa xuân đã mang sức sống và xanh tươi đến cho cây cỏ vạn vật muôn loài cho được ! Khi diễn tả cô Kiều cân nhắc giữa tình và hiếu, rồi quyết định bán mình chuộc tội cho cha. Hành động bán mình là việc làm cao cả, vĩ đại, nhưng đối với công lao trời biển, sanh thành dưỡng dục của cha mẹ thì Nguyễn Du vẫn cho là chưa đủ, cho nên ông đã dùng chữ " Liều " một cách rất tài tình :
Hạt mưa xá nghĩ phận hèn
LIỀU đem TẤC CỎ quyết đền BA XUÂN !
Sự thật, bán mình chuộc cha thì cô Kiều có thể nói đã hoàn toàn trả được chữ hiếu rồi !( hết đời rồi , còn gì nữa ! ) : " Bán mình là hiếu, cứu người là nhân " mà, và như Sư Tam Hợp đã nói : " Bán mình đã động hiếu tâm đến trời ". Nỗi lòng " tấc cỏ " của cô Kiều khả dĩ nói là đã đáp đền được " ánh nắng của ba xuân " rồi hay chưa ?! DIỄN NÔM :
Kim chỉ trên tay từ mẫu,
Khâu nên áo lãng du nhân.
Khi đi chắc chiu từng mũi,
Sợ ngày về lắm lần khần.
Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,
Báo đền được nắng ba xuân ?!
LỤC BÁT :
Đường kim mũi chỉ mẹ hiền,
Khâu nên chiếc áo trên mình lãng du,
Chắc chiu từng mũi từng khâu,
Sợ e con trẻ đi lâu chửa về
Ai rằng tấc cỏ bên lề,
Báo đền được ánh nắng về ba xuân ?!
Đỗ Chiêu Đức diễn nôm.
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ :
MẠNH GIAO 孟郊 ( 751- 814 )
Mạnh Giao tự là Đông Dã, người đất Võ Khang. Lúc nhỏ ở ẩn trong núi Tung Sơn, tánh tình thầm lặng, làm thơ hay thiên về lý trí, lại chắt lọc từng chữ một. Hàn Dũ rất mến tài ông mà kết thành bạn vong niên. Mãi đến năm 50 tuổi ông mới đậu Tiến Sĩ ở niên hiệu Trinh Nguyên đời nhà Đường.
Ngoài bài Du Tử Ngâm được nhiều người biết đến, Mạnh Giao còn nổi tiếng với bài Liệt Nữ Tháo. Cả hai bài đều làm theo thể Ngũ ngôn Cổ phong.( Mỗi câu năm chữ, có thể gieo cả vần Bằng lẫn vần Trắc và không hạn định số câu của một bài.). Mời đọc một giai thoại văn chương về Mạnh Giao trong bài tới. Xin cầu chúc tất cả mọi người đều có một ngày Lễ Mẹ tuyệt vời !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
VĨNH BIỆT NHẠC SĨ VŨ ĐỨC SAO BIỂN “THU, HÁT CHO NGƯỜI” - LA THỤY
Phu Đoan
17:13 (1 giờ trước)

VĨNH BIỆT NHẠC SĨ VŨ ĐỨC SAO BIỂN “THU, HÁT CHO NGƯỜI” - La Thụy
‘Thu hát cho người” có lời nhạc đẹp, giai điệu sang trọng mượt mà, có khung cảnh thu vàng, đồi sim trái chín, hoa tím mênh mông, ánh chiều biêng biếc… thật huyền mơ thấm đọng vào hồn người. Tuy nhiên “Thu hát cho người” có những ca từ khó hiểu, chúng tôi không rõ “đêm nguyệt cầm”, “sáng linh lan” có ý nghĩa cụ thể thế nào. Tôi cho rằng Vũ Đức Sao Biển khi viết “đêm nguyệt cầm”, nhạc sĩ đã liên tưởng đến tứ thơ “Nguyệt cầm” của Xuân Diệu:
“Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.”
Thử tìm hiểu “sáng linh lan”, tôi biết có loài hoa linh lan hay lan chuông thuộc một họ thực vật có hoa là họ Asparagaceae. Hoa này trong tiếng Anh còn được gọi là Our Lady's tears (Nước mắt của Mẹ) do, theo một truyền thuyết, từ những giọt nước mắt của Eva rơi xuống, khi bị đuổi ra khỏi thiên đàng, đã trở thành hoa linh lan. Theo một truyền thuyết khác, những giọt nước mắt của Đức Mẹ đồng trinh Mary rơi trên cây thánh giá đã trở thành hoa linh lan.
Loại hoa linh lan (hoa lan chuông) này thường có ở châu Âu
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển từng học Đại học Văn khoa Triết, dù chủ yếu là học Triết Đông, có lẽ vẫn tham khảo tìm hiểu thêm Triết Tây. Như lời ông nói: “không hiểu sao tôi lại yêu thi ca của Đường Tống, Trung Hoa và thi ca trường phái lãng mạn Pháp… Khi tôi viết ‘Thu, hát cho người’ cũng nặng trĩu những suy tưởng về sự sống, tình yêu và sự xa biệt”. Với tính nghệ sĩ đa cảm và tâm hồn đồng điệu, ông đưa loại hoa linh lan “nước mắt của Mẹ” này vào lời nhạc của ca khúc “Thu hát cho người” chăng?
..................................................................
..................................................................
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển được mọi người yêu dấu qua những nhạc phẩm của anh. Nhưng, một số người lại không ưa thích anh qua những bài báo, bài phiếm luận, tiểu phẩm trào phúng dưới bút danh Đồ Bì, Đinh Ba, Mạc Đại… Anh bị một số người đả kích nhiều nhất qua bài viết “Để ngày cuối tuần hạnh phúc” đăng trên báo Người Lao Động, khi khuyên công nhân không tham gia biểu tình khiến hoạt động của xí nghiệp, công ty bị ngưng trệ sau sự kiện “Dự luật đặc khu”...
https://nld.com.vn/thoi-su/de-ngay-cuoi-tuan-hanh-phuc-20180616220010586.htm
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển đã từ giã cõi đời tạm bợ đầy bụi bặm này sau 72 năm làm kiếp con người. Nếu anh có những ứng xử đời thường để lại sự yêu ghét là chuyện đương nhiên. Những bài viết đả kích, tán dương anh với quan điểm chính kiến đối nghịch nhau trong thế giới đa chiều và phân cực này cũng là lẽ thường.
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển đang làm cánh hạc vàng bay mãi đến cõi trời mơ. Kính cầu nguyện hương linh anh siêu thoát ở miền miên viễn và xin hát gửi đến anh lời vĩnh biệt:
Biệt ly nào không muộn phiền trên dấu môi.
Mùa vàng lên, biêng biếc ánh chiều rơi.
Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người.
Thu hát cho người
LATHỤY
Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020
VĨNH BIỆT NHẠC SĨ VŨ ĐỨC SAO BIỂN “THU, HÁT CHO NGƯỜI” - LA THỤY

Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển qua nét vẽ của họa sĩ Lê Sa Long
VĨNH BIỆT
NHẠC SĨ VŨ ĐỨC SAO BIỂN “THU, HÁT CHO NGƯỜI”
Anh Vũ Đức Sao Biển trút hơi thở cuối cùng vào 23h25 tối 6/5 tại nhà riêng ở TP.HCM, hưởng thọ 72 tuổi, để lại nỗi tiếc thương trong lòng thân quyến, bạn bè và người mến mộ.
Vũ Đức Sao Biển là nhà văn, nhà báo với nhiều bút danh: Đồ Bì, Đinh Ba, Mạc Đại… Anh còn được gọi là “Nhà Kim Dung học Việt Nam”, đã xuất bản bộ “Kim Dung giữa đời tôi” được bạn đọc yêu mến, ủng hộ...
Nhưng âm nhạc mới là lãnh vực mà anh được nhiều người biết và hâm mộ hơn cả. Vũ Đức Sao Biển là tác giả của nhiều ca khúc như: “Thu, hát cho người, Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang, Đau xót lý chim quyên, Điệu buồn phương Nam, Trên đồi xưa, Trở lại Bạc Liêu, Trên sóng Cửu Long, Huyền thoại Ngũ hành sơn…”. Trong đó, ca khúc “Thu, hát cho người” để dấu ấn sâu đậm nhất.
“Thu, hát cho người” là ca khúc có giai điệu sang trọng, ca từ đẹp phảng phất sắc thái Đường Thi, mang niềm hoài cảm mênh mang làm lay động tâm hồn người thưởng lãm.
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển nói về ca khúc này như sau:
“Tôi sinh ra giữa một làng quê nghèo ven biển miền Trung, không biết kết bạn với ai mà cũng ít có ai để kết bạn. Lớn lên đi học, không hiểu sao tôi lại yêu thi ca của Đường Tống, Trung Hoa và thi ca trường phái lãng mạn Pháp. Bạn biết đấy, thi ca Đường Tống rất cô đọng, đọc lên tự nhiên nghe buồn bã. Thời trung học, tôi dành nhiều thời gian cho việc đọc sách. Khi tôi viết ‘Thu, hát cho người’ cũng nặng trĩu những suy tưởng về sự sống, tình yêu và sự xa biệt”.
(Vũ Đức Sao Biển trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên)
https://thanhnien.vn/van-hoa/nhac-si-nha-bao-vu-duc-sao-bien-khong-the-co-thu-hat-cho-nguoi-thu-hai-1186307.html

Thu, hát cho người
Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt.
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa.
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ.
Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ.
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó,
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư.
Đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió.
Sáng linh lan hồn ta khóc bao giờ.
Ta vẫn chờ em trên bao la đồi nương,
Trong mênh mông chiều sương
Giữa thu vàng, bên đồi sim trái chín
Một mình ta ngồi khóc tuổi thơ bay.
Thời gian nào trôi bềnh bồng trên phận người.
Biệt ly nào không muộn phiền trên dấu môi.
Mùa vàng lên, biêng biếc ánh chiều rơi.
Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người.
Thu hát cho người
Thu hát cho người, người yêu ơi!
Vũ Đức Sao Biển từng học Đại học Sư phạm khoa Việt - Hán và Đại học Văn khoa Triết (anh tốt nghiệp năm 1970) nên ca khúc “Thu hát cho người” sáng tác năm 1968, khá đậm chất Đường thi, không chỉ ở những điển tích và hình ảnh xưa cũ như ‘Hoàng Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ’, mà cả trong ca từ cũng mang tính cân phương của loại văn biền ngẫu
“Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt/ Mùa thu nào cho người về thăm bến xưa/ Hoàng hạc bay bay mãi bỏ trời mơ/ Về đồi sim ta nhớ người vô bờ… Đêm nguyệt cầm, ta gọi em trong gió/ Sáng linh lan, hồn ta khóc bao giờ”.
Một thời, chúng tôi - giới trẻ sinh viên học sinh trước năm 1975 đã thả hồn bay bổng, mơ màng, say đắm… theo những ca khúc có ca từ diễm lệ, giai điệu sang trọng của các nhạc sĩ Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An… và ca khúc “Thu hát cho người” của nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển…
‘Thu hát cho người” có lời nhạc đẹp, giai điệu sang trọng mượt mà, có khung cảnh thu vàng, đồi sim trái chín, hoa tím mênh mông, ánh chiều biêng biếc… thật huyền mơ thấm đọng vào hồn người. Tuy nhiên “Thu hát cho người” có những ca từ khó hiểu, chúng tôi không rõ “đêm nguyệt cầm”, “sáng linh lan” có ý nghĩa cụ thể thế nào. Tôi cho rằng Vũ Đức Sao Biển khi viết “đêm nguyệt cầm”, nhạc sĩ đã liên tưởng đến tứ thơ “Nguyệt cầm” của Xuân Diệu:
“Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.”
Thử tìm hiểu “sáng linh lan”, tôi biết có loài hoa linh lan hay lan chuông thuộc một họ thực vật có hoa là họ Asparagaceae. Hoa này trong tiếng Anh còn được gọi là Our Lady's tears (Nước mắt của Mẹ) do, theo một truyền thuyết, từ những giọt nước mắt của Eva rơi xuống, khi bị đuổi ra khỏi thiên đàng, đã trở thành hoa linh lan. Theo một truyền thuyết khác, những giọt nước mắt của Đức Mẹ đồng trinh Mary rơi trên cây thánh giá đã trở thành hoa linh lan.
Loại hoa linh lan (hoa lan chuông) này thường có ở châu Âu
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển từng học Đại học Văn khoa Triết, dù chủ yếu là học Triết Đông, có lẽ vẫn tham khảo tìm hiểu thêm Triết Tây. Như lời ông nói: “không hiểu sao tôi lại yêu thi ca của Đường Tống, Trung Hoa và thi ca trường phái lãng mạn Pháp… Khi tôi viết ‘Thu, hát cho người’ cũng nặng trĩu những suy tưởng về sự sống, tình yêu và sự xa biệt”. Với tính nghệ sĩ đa cảm và tâm hồn đồng điệu, ông đưa loại hoa linh lan “nước mắt của Mẹ” này vào lời nhạc của ca khúc “Thu hát cho người” chăng?
Loại tử linh lan này còn có tên hoa Violet châu Phi, thường mọc ở vùng nhiệt đới châu Phi, châu Á...
Nhưng, “sáng linh lan” có nghĩa là “buổi sáng linh lan” hay “linh lan tươi sáng”?
Như đã nói ở trên, nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển sử dụng tính đối ngẫu của văn chương cổ điển “đi - về; trời - đất; đêm - ngày; ta - người” trong ca từ, cho nên khi đọc “đêm nguyệt cầm”, “sáng linh lan” tôi nghiêng về ý “sáng linh lan” có nghĩa là “buổi sáng linh lan”
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển giải thích thế nào về “đêm nguyệt cầm và ‘sáng linh lan”:
- Có lần lựa lúc vui chuyện nhà thơ Hồ Thi Ca hỏi đột ngột: ‘Sáng linh lan’ là cái buổi sáng kỳ quái nào thế?
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển nở nụ cười mỉm chi nửa miệng quen thuộc: ‘Ông hiểu sao tùy ông!’.
- Ông Lê Đức Dương hỏi nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển về “đêm nguyệt cầm” và “sáng linh lan”:
“Nhạc sĩ kể, những đêm trăng trên đất phương Nam, ông thường treo cây guitare Yamaha G tra bộ dây Hoffner ngoài cửa sổ; còn linh lan là một loại lan rừng mọc từ trong đá ra, tím ngát cả cành, cả nhánh và cả hoa.”
Theo như lời thuật lại của ông Lê Đức Dương, thì nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển cho biết “linh lan là một loại lan rừng mọc từ trong đá ra, tím ngát cả cành, cả nhánh và cả hoa.” thì hoa linh lan này không phải là lan chuông thuộc một họ thực vật có hoa là họ Asparagaceae thường có ở châu Âu, có sắc trắng là phổ biến (dù cũng có loài hoa màu tím nhưng hiếm hơn).
Còn có một loại linh lan tím (tử linh lan) có tên hoa Violet châu Phi, thường mọc ở vùng nhiệt đới châu Phi, châu Á... chẳng biết có phải đó là loại linh lan mà nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển nói không?
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển xác nhận ý nhạc “Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ” do anh dùng điển tích “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản” trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.
Anh cũng nhắc đến thi sĩ Bùi Giáng, người đồng hương Quảng Nam của anh khi viết: “Giữa thu vàng, bên đồi sim trái chín” là liên tưởng đến đoạn thơ:
“Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh”
Bùi Giáng
Đọc bài thơ “Một chút tình” của nhà thơ Lưu Trọng Lư, có đoạn:
Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau
Cùng nhau nhắc lại chuyện xưa sau
Chờ anh dưới gốc sim già nhé
Sẽ hái dâng em đóa mộng đầu
Lưu Trọng Lư
Đối chiếu hai câu cuối “Chờ anh dưới gốc sim già nhé / Sẽ hái dâng em đóa mộng đầu” trong đoạn thơ “Một chút tình” vừa dẫn ở trên của Lưu Trọng Lư, với ý nhạc “Ta vẫn chờ em, dưới gốc sim già đó, để hái dâng người một đóa đẫm tương tư...” trong ca khúc “Thu hát cho người” ta thấy có sự giống nhau; nhưng tôi chưa nghe nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển nhắc đến nhà thơ Lưu Trọng Lư, khi nói về ca khúc “Thu hát cho người”. Có lẽ, trong vô thức anh mượn ý thơ Lưu Trọng Lư mà không nhớ, hoặc có sự giống nhau chỉ do ngẫu nhiên chăng ?
Báo Quảng Nam online nhận định:
“‘Thu, hát cho người’ mang nỗi buồn chất ngất và lộng lẫy của chàng tuổi trẻ yêu quê hương da diết và si tình đến ngây dại... Ca khúc không chỉ đẹp về giai điệu mà còn chuyển tải hình ảnh quê hương xứ sở của ông với đồi sim tím, mùa thu đầy nắng gió và dòng sông cũ đã ‘đưa người tình đi biền biệt’...
Giữa muôn nghìn bài hát lãng mạn về tình yêu thì ‘Thu, hát cho người’ của Vũ Đức Sao Biển vẫn đứng riêng một góc trời đầy kiêu hãnh, được rất nhiều người yêu thích suốt hơn 48 năm qua.”
(Báo QNO)
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển tự đánh giá ca khúc “Thu, hát cho người qua trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên:
“Tôi vẫn thường mường tượng sáng tác ca khúc như một trạng thái lên đồng (cười); hễ khi nào đồng nhập trọn vẹn thì ca khúc ra đời. Ca khúc “Thu, hát cho người” tôi viết năm 1968 ra đời trong trạng thái… lên đồng như vậy. Giả thiết rằng, bây giờ tôi trở lại với đồi núi ngày xưa ấy, ngồi một mình trong chiều thu vàng ruộm với ngàn hoa sim tím đẹp mênh mông thì tôi vẫn không thể viết ra được một khúc tình ca như “Thu, hát cho người” của ngày xưa ấy.
Theo tôi, “Thu, hát cho người” có sức sống bền bỉ vì nó là một bài tình ca đẹp về giai điệu, giàu tính tư tưởng và tính nghệ thuật về ca từ. Nó ra đời ở năm đôi mươi khi người ta còn rất trẻ, nỗi si tình cũng mới tinh khôi. Âm nhạc là một trong bảy nghệ thuật nên ca từ của ca khúc phải đẹp, nếu không đẹp thì không phải là âm nhạc ca khúc. Tôi thích viết ca từ đẹp.”
Giới chuyên môn nhận định: “chỉ với ‘Thu, hát cho người’, bao nhiêu tinh hoa, tài năng của Vũ Đức Sao Biển đã phát tiết và gói gọn. Và chỉ cần một và chỉ một ‘Thu, hát cho người’, Vũ Đức Sao Biển đã có thể để đời với thế nhân bằng tác phẩm độc nhất như nhà thơ Hữu Loan nổi tiếng với ‘Màu tím hoa sim’, như nhạc sĩ Đinh Trầm Ca với ‘Ru con tình cũ’, như Nguyễn Thiện Tơ với ‘Giáo đường im bóng’… Sau này, chính nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển cũng thừa nhận trong rất nhiều tác phẩm, ca khúc mình yêu nhất vẫn là ‘Thu, hát cho người’.”
Vũ Đức Sao Biển đang bay về vùng trời miên viễn “hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ”, hơn 48 năm qua anh đã từng“Thu hát cho người” và giờ đây người đời sẽ hát ru anh dù thu chưa kịp trở lại.
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển được mọi người yêu dấu qua những nhạc phẩm của anh. Nhưng, một số người lại không ưa thích anh qua những bài báo, bài phiếm luận, tiểu phẩm trào phúng dưới bút danh Đồ Bì, Đinh Ba, Mạc Đại… Anh bị một số người đả kích nhiều nhất qua bài viết “Để ngày cuối tuần hạnh phúc” đăng trên báo Người Lao Động, khi khuyên công nhân không tham gia biểu tình khiến hoạt động của xí nghiệp, công ty bị ngưng trệ sau sự kiện “Dự luật đặc khu” với đoạn văn tiêu biểu:
“Mấy ngày vừa qua, đã có hiện tượng một số anh em công nhân (CN) bị rủ rê, lôi kéo vào chỗ tụ tập đông người; thậm chí ngừng việc hàng loạt khiến hoạt động của xí nghiệp, công ty bị ngưng trệ. Hiện tượng đáng tiếc ấy đã được tổ chức Công đoàn các cấp kịp thời phân tích, uốn nắn, ổn định tình hình.
Dưới cái nhìn của bạn bè quốc tế, đất nước Việt Nam ta là đất nước hòa bình, ổn định bậc nhất; xứng đáng để đến đây tham quan, du lịch, đầu tư. Chúng ta đã xây dựng được một nền kinh tế thị trường phát triển, ổn định, bền vững, trong đó mỗi công dân đều có quyền sống, quyền được bảo vệ phẩm giá và tính mạng. Phải nói rằng trong suốt lịch sử dân tộc thì chỉ có thời đại chúng ta đang sống, người Việt Nam mới có được cuộc sống no đủ, an vui đến như vậy. Chúng ta đã xây dựng được một nền kinh tế thị trường phát triển, ổn định, bền vững; trong đó mỗi công dân đều có quyền sống, quyền được bảo vệ phẩm giá và tính mạng...”
(Vũ Đức Sao Biển, báo Người Lao Động)
https://nld.com.vn/thoi-su/de-ngay-cuoi-tuan-hanh-phuc-20180616220010586.htm
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển đã từ giã cõi đời tạm bợ đầy bụi bặm này sau 72 năm làm kiếp con người. Nếu anh có những ứng xử đời thường để lại sự yêu ghét là chuyện đương nhiên. Những bài viết đả kích, tán dương anh với quan điểm chính kiến đối nghịch nhau trong thế giới đa chiều và phân cực này cũng là lẽ thường.
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển đang làm cánh hạc vàng bay mãi đến cõi trời mơ. Kính cầu nguyện hương linh anh siêu thoát ở miền miên viễn và xin hát gửi đến anh lời vĩnh biệt:
Biệt ly nào không muộn phiền trên dấu môi.
Mùa vàng lên, biêng biếc ánh chiều rơi.
Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người.
Thu hát cho người
Thu hát cho người, người yêu ơi!
LATHỤY
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
