CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

Ý NGHĨA CÁC LOẠI TRANH TREO NGÀY TẾT - ĐỖ CHIÊU ĐỨC






Ý NGHĨA CÁC LOẠI TRANH TREO NGÀY TẾT
                      

      Ngày Tết, ngoài việc treo các câu đối và những lời chúc tết đầu năm ra, người ta còn treo các loại tranh vẽ để  vừa trang trí cho phòng khách đẹp hơn, vừa có ý nghĩa vui tươi, may mắn cho ngày đầu năm đầu tháng.... Ta thử điểm qua việc làm vừa có tính nghệ thuật, vừa đem lại niềm tươi vui hy vọng theo tập tục cổ truyền nầy. Nào ta bắt đầu bằng ....

     1. Tranh Cửu Ngư Đồ 九魚圖:
  
Cửu 九 là số Chín, lại đồng âm với từ Trường Cửu 長久 là lâu dài. Ngư 魚 là Cá lại đồng âm với Dư 餘 (âm Quan Thoại) là Dư Dả, Có Thừa, lại vẽ chung với hoa sen là Liên Hoa 蓮花, đồng âm với Liên 連 là Liên Tục 連續, không gián đoạn. Nên tranh Cửu Ngư vẽ chung với hoa Sen, có nghĩa là: Luôn luôn sung túc dư dả có thừa liên tục mãi mãi!

              Kết quả hình ảnh cho tranh 9 con ca chep co y nghia gi



    2. Tranh Cá Chép:
Tất cả các tranh cá đều có nghĩa là "Hữu Dư 有餘 "(do âm Quan Thoại Dư 餘 và Ngư 魚 đồng âm). Có Cá tức là Có Dư, Dư ăn dư để. Tranh Cá còn mang 2 Ý chính sau:

      * Như Ngư Đắc Thuỷ 如魚得水: Ta nói là "Như Cá gặp nước!". Chỉ Như Ý, Thuận Lợi. Đây là câu nói của Lưu Bị đời Tam Quốc khi ông vừa gặp được Khổng Minh Gia Cát Lượng, mặc dù bị sự phản đối quyết liệt của Quan Vũ và Trương Phi, Lưu Bị vẫn nói là : " Ta gặp được Ngọa Long Tiên Sinh, như là Cá gặp được Nước vậy !".
       * Như Hóa Long Ngư 如化龍魚: là "Như Cá Hóa Rồng", chỉ sự đổi đời, thay đổi hoặc thành công vượt bực. Theo tích : Sách Tân Thị Tam Tần Ký 辛氏三秦記 ghi : Nơi cửa sông Hoàng Hà đổ ra biển rất hẹp nên thường gây lụt lội ở vùng đồng bằng trung lưu của sông, cửa sông nầy gọi là Long Môn. Sau nhờ vua Hạ Vũ hướng dẫn trị thủy, mở rộng cửa sông thêm hơn một dặm để dân chúng không bị lụt lội, nên Long Môn còn được gọi là Vũ Môn. Tương truyền cá Lý Ngư, ta gọi là cá Chép, khi nhảy vượt qua được Vũ Môn thì sẽ hóa thành Rồng bay lên trời. Ngày xưa ví những chàng thư sinh mười năm đèn sách thi đậu được Trạng Nguyên, Tiến Sĩ thì như cá Chép vượt qua được Vũ Môn vậy ! Ngày nay, Cá hoá Rồng dùng để chỉ những sự thành công vượt trội mà người đời không ngờ tới được. Trong bài Hát nói " Cuộc Phong Trần " của Cao Bá Quát có câu ;
                                      Hẵn bền lòng chớ chút oán vưu,
                                      Thời chí hĩ Ngư Long Biến Hóa ...
Có nghĩa :
                Hãy bền lòng mà đừng oán trách gì cả, khi thời đến thì Cá sẽ hoá Rồng mà thôi !
                 
        Ngoài ra còn rất nhiều loại tranh cá khác như:

      * Ông Câu ôm con cá lớn với hàng chữ: Ngư Ông Đắc Lợi chỉ trong năm sẽ được cái lợi như của Ngư Ông, cái lợi nhẹ nhàng ít tốn nhiều công sức như trong thành ngữ "Duật Bạng Tương Tranh, Ngư Ông Đắc Lợi". 鹬蚌相爭,漁翁得利。" Ta nói là "Ngao Cò tranh nhau, ngư ông được lợi". Thành ngữ do tích : Thời Chiến Quốc, nước Triệu muốn đánh nước Yên, mưu sĩ của nước Yên là Tô Đại sang du thuyết nói với vua Triệu rằng : " Có một con Cò đi doc theo bến nước, thấy một con Ngao đang mở vỏ ra để phơi nắng, bèn mổ vào phần thịt trắng nõn của con Ngao, Ngao vội vàng khép vỏ lại giữ chặc lấy mỏ Cò không buông. Cò nói : " Nắng gắt thế nầy, ngươi không buông ta ra thì sẽ bị nắng phơi cho khô chết mà thôi !" Ngao đáp : " Hôm nay ta không buông ra, ngày mai cũng không buông ra, thì nhà ngươi cũng sẽ bị đói chết luônn !". Còn đang dằng co, thì có một Ngư ông đi đến, nhẹ nhàng tóm hết cả 2 bỏ vào giỏ !". Nay, Triệu và Yên đánh nhau, khác nào Ngao Cò Tương Tranh, chỉ làm lợi cho nước Tần là Ngư Ông đang chực chờ để thủ lợi mà thôi ! ". Triệu Vương nghe xong bèn không cử binh đi đánh nước Yên nữa .
            

      * Tranh các đứa bé ôm con cá, lấy Ý "Tử Tôn Hữu Dư 子孫有餘" , vừa có nghĩa "Con Cháu có Thừa" vừa có nghĩa  "Có thừa Con Cháu!". Tranh nầy thường có hàng chữ "Niên Niên Hữu Dư 年年有餘 ". Có nghĩa: Mỗi năm đều dư ăn thừa mặc. Năm nào cũng có của ăn của để hết.


       Kết quả hình ảnh cho tranh mau don khai hoa



    3. Tranh Hoa Mẫu Đơn:
          Nhớ bài Học Thuộc Lòng hồi nhỏ, Á Nam Trần Tuấn Khải đã viết:
                              ... Mẫu Đơn hương kín thơm xa,
                                 Liễu rơi trước gió ngỡ là bướm bay...
        Hương kín thơm xa, nên Mẫu Đơn được phong tặng là Phú Quý Chi Hoa (Hoa tượng trưng cho sự Phú Quý). Ngoài ra, Hoa Mẫu Đơn còn được xem như là một loài hoa Vương Giả Không Sợ Quyền Uy, theo tích sau đây:
                

      Khi đã lên ngôi và xưng là Châu Thiên Tử xong. Có một năm vào cuối đông khi Tết gần kề, Võ Tắc Thiên thấy mai vàng trong cung đều nở hoa rực rỡ, đang cơn tửu hứng, bèn cất bút viết lên một đạo Thánh Chỉ của nhà Vua bằng một bài thơ ngũ ngôn để ra lệnh cho Chúa Xuân như sau đầy :

                             明朝遊上苑,火急報春知;
                            花須連夜發,莫待曉風吹。

                           Minh triêu du Thượng Uyển,
                           Hỏa cấp báo xuân tri.
                           Hoa tu liên dạ phát,     
                           Mạc đãi hiểu phong xuy!
Có nghĩa:
          Sáng mai ta sẽ dạo vườn Thương Uyển, hãy báo gấp cho Chúa Xuân biết là các loài hoa phải nở suốt trong đêm nay, đừng có đợi cho gió sớm thổi nhé ! ( Ý là : Tất cả các hoa phải nở trước khi trời sáng tỏ !).
Diễn nôm :
                                     Sáng mai ta du Thượng Uyển,
                                     Hỏa tốc báo Chúa Xuân hay,
                                     Hoa phải suốt đêm nở rộ,
                                     Trước khi gió sớm hây hây !
               

        " Nói cũng lạ ", sáng sớm hôm sau, khi Võ Tắc Thiên dẫn hết quần thần ra Ngự Hoa Viên để ngắm hoa, thì tất cả các hoa đều nở rộ trong đêm cả rồi, muôn hồng ngàn tía, sắc màu rực rỡ khắp nơi. Võ Tắc Thiên rất đẹp Ý, duy chỉ có một loài hoa không chịu nở, chính là Mẫu Đơn đó vậy! Võ giận cho loài hoa dám không tuân chỉ, mới hạ lệnh nhổ hết cả ngàn gốc Mẫu Đơn và ra lệnh đày xuống vùng Mang Sơn của đất Giang Nam. Và... "Nói cũng lạ", năm sau Mẫu Đơn bén rễ và nở đầy cả đồi núi Giang Nam một dãy...
       Trở lại với tranh hoa Mẫu Đơn, thường thì trên bức tranh luôn luôn có kèm theo 4 chữ "Hoa Khai Phú Quý" nên không cần phải giải thích nữa!
            

Hình ảnh có liên quan


   4. Tranh Hoa Sen:
         Sen là Liên 蓮 đồng âm với Liên 連 là  Liên Tục. Sen cũng còn được gọi là Hà Hoa chữ Hà 荷 đồng âm với chữ Hòa 和, là Hòa Thuận, Hòa Hợp.
      Ngoài ra, Sen còn là biểu tượng của người Quân Tử trong sạch thanh cao, do câu nói "Liên xuất tự trọc nê, hữu Quân tử chi thanh đức 蓮出自濁泥,有君子之清德。Có nghĩa: Sen mọc ra từ bùn sình dơ dáy, nhưng lại có cái đức thanh cao của người quân tử. Trong tiếng Việt ta cũng có câu ca dao khen tặng bông sen là :
                                        Trong đầm gì đẹp bằng sen,
                                Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.
                                        Nhụy vàng bông trắng lá xanh,
                              "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" ! 
             
              Nên ...
      Tranh Sen chỉ để tặng cho những người làm các nghề thanh cao chính trực, như Nhà Văn, nhà Giáo, nhà Báo, Luật Sư, Quan Tòa ...


Kết quả hình ảnh cho ảnh tranh tng2 bách
    5. Tranh Tùng Bách:
         Tùng Trúc Mai là "Tuế hàn tam hữu" 歲寒三友. Cuối năm mùa đông lạnh lẽo, các loại cây cỏ khác đều chết rụi cả, chỉ có 3 người bạn Tùng, Trúc và Mai là còn xanh tốt và phát triển mà thôi! nên Tùng Bách tượng trưng cho sự bền bĩ, dẻo dai, chịu đựng bất chấp thời tiết khắc nghiệt, vẫn vươn lên xanh tốt như thường! Ngoài ra, Tùng Bách còn có thân cây to lớn, tán lá rộng rãi là nơi núp bóng và che chở lý tưởng cho các thảo mộc thấp hèn yếu đuối khác dễ "núp bóng tùng quân!". Như Vương Viên Ngoại đã gởi gắm Thúy Kiều cho Mã Giám Sinh vậy :
                                          Nghìn tầm nhờ bóng Tùng Quân,
                                     Tuyết sương che chỡ cho thân cát đằng !
         Tranh Tùng Bách thường có 4 chữ "Tùng Bách Trường Thanh" 松柏長青. Có nghĩa Tùng Bách luôn luôn trường kỳ xanh tốt. Thích hợp để tặng cho Khai trương, Tân gia, Chúc Thọ. Nếu Chúc Thọ thì chỉ thích hợp tặng cho đàn ông, không thích hợp tặng cho các bà.
                  

Hình ảnh có liên quan


 6. Tranh Hoa Lan:
            Lan có nét đẹp thanh thoát, mềm mại, đầy tính nghệ thuật. Hoa Lan lại có mùi hương thoang thoảng nhẹ nhàng dễ làm say đắm ngất ngây lòng người. Chả trách từ xưa cổ nhân đã ca ngợi: "Lan sanh ư u cốc, vi vương giả chi hương 蘭生於幽谷為王者之!Có nghĩa: Hoa Lan sanh ra trong những sơn cốc thâm u, nhưng lại có mùi hương của bậc vương giả! Trong Cung Oán Ngâm Khúc Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng đã từng thương tiếc:
                                      Lan mấy đóa lạc loài sơn dã,
                              Uổng mùi hương vương giả lắm thay!
                  
         Tranh Hoa Lan chỉ thích hợp dùng để trang trí phòng khách, thư phòng... và chỉ thích hợp dùng để tặng cho các Bà các Cô mà thôi!


Kết quả hình ảnh cho tranh rong ngua ho


   7. Tranh Rồng Ngựa Hổ:
          Rồng Ngựa là Long Mã, linh hoạt và uyển chuyển như Rồng, nhanh nhẹn và xông xáo như Ngựa. Hai con vật: Một Huyền thoại, một thực tế tượng trưng cho sự hoạt động mạnh mẽ nên tục không ngừng nghỉ, không chồn chân, không lười biếng. Đó là cái tinh thần của Long và Mã. Các công ty, công xưởng, khi khai trương hoặc khi nghỉ Tết vào thường hay dán câu "Long Mã Tinh Thần" ở nơi làm việc và sản xuất để nhắc nhở nhân viên, công nhân phải làm việc lại với cái tinh thần xông xáo như rồng như ngựa vậy!
                           
Kết quả hình ảnh cho tranh ngua


          Về Tranh thì... trừ phi những người tuổi Thìn, hoặc tuổi Dần thì mới tìm mua tranh Rồng và Cọp, còn bình thường thì không ai dại gì rước Cọp về nhà, càng không có ai dám tặng Cọp cho người khác, nhất là lại vào dịp Tết nhất. Cọp là dã thú hung ác không thích hợp để treo và tặng. Nhưng nếu lỡ... có một bức tranh cọp trong nhà, thì nhớ treo làm sao cho cái đầu cọp hướng ra ngoài, để cọp... giữ nhà, chớ treo cọp quay đầu vào, nó sẽ... cắn hết những người trong nhà đó! Mặc dù nghe có vẻ ... hơi mê tín, nhưng " Tránh voi chẳng xấu mặt nào !", người ta vẫn rất úy kỵ Tranh Cọp ! Trừ phi các Hổ Tướng ngày xưa, các vị Nguyên Soái hay treo hình con Cọp nhe nanh múa vút ở phía sau trướng của mình ngồi cho thêm vẻ oai phong, ta thường gọi là Trướng Hùm, như chỗ ngồi của Từ Hải và Thúy Kiều khi cô Kiều báo ơn báo oán :
                                  TRƯỚNG HÙM mở giữa trung quân,
                                  Từ Công sánh với Phu nhân cùng ngồi !
       Tranh vẽ cọp thường có 4 chữ: Khiếu Chấn Sơn Hà 嘯震山河. Có nghĩa: Tiếng gầm thét vang động cả núi sông! để chỉ cái Uy Vũ dũng mãnh của Chúa Sơn Lâm.
           

         Tranh Rồng, nếu có treo và tặng cho ai, thì cũng thường thấy có 4 chữ "Vọng Tử Thành Long 望子成龍。" Có nghĩa: Ước mong cho con cháu mình, hoặc chúc cho con cháu người có được thành tựu vượt bực, trở mình hóa thân thành rồng!
          Ngựa là tranh thường thấy nhất, 2 con, 4 con, 6 con, hoặc 8 con gọi là Bát Tuấn Đồ. Dễ tặng dễ treo vì luôn có 4 chữ Mã Đáo Thành Công 馬到成功, không cần phải giải thích mà ai nấy đều thích, đều mua, đều tặng, đều treo... nhan nhản khắp nơi!.
Kết quả hình ảnh cho tranh de

                
8. Tranh Dê:
       Mùi: Đứng hàng thứ 8 trong Thập nhị Địa Chi, cầm tinh con Dê, từ Hán Việt là Dương 羊, đồng âm với Dương 陽 là Thái Dương, là Dương Khí sanh ra từ trời đất.
       Theo sách Chu Dịch. Sau tiết Đông Chí thì khí âm hàn bắt đầu tiêu thoái, và khí dương thì bắt đầu sanh trưởng, ta thường nghe các Thầy Bói gọi là  m Tiêu Dương Trưởng, đêm sẽ ngắn dần, ngày sẽ dài thêm ra, cho nên Tháng Mười Một là tháng Tý, thuộc quẻ Phục 復 là Nhất Dương Sanh, Tháng Mười Hai là Tháng Sửu, thuộc quẻ Lâm 臨 là Nhị Dương Sanh, và Tháng Giêng là Tháng Dần, thuộc quẻ Thái 泰 là Tam Dương Sanh. Vì thế nên Tết Nguyên Đán của tháng Giêng mới dùng câu Tam Dương Khai Thái 三陽開泰 mà chúc mừng cho năm mới mở ra vận hội mới, lấy Ý chữ Thái là Lớn, là Thông, như trong tiếng Việt ta thường nói "Hết vận Bỉ rồi thời lại Thái", hoặc "Bỉ cực thì Thái lai" và "Hết cơn Bỉ Cực, đến hồi Thái lai". Có nghĩa: Hết lúc Bế tắt, nghèo khó thì đến lúc Hanh Thông, khá giả !
           

          Vì 2 chữ Dương đồng âm, nên ta thường gặp những bức tranh vẽ hình 3 con dê thay thế cho khí dương của trời đất mà chúc nhau bằng câu Tam Dương Khai Thái như ta thường thấy!
          Tranh Dê rất thích hợp tặng nhau trong dịp Tết, để chúc cho đầu năm mở ra vận hội mới lớn hơn, phát đạt hơn năm rồi!.
Kết quả hình ảnh cho VAN SU NHU Y


   9. Liễn Treo, Câu Đối:
      
Liễn treo và Câu đối ngắn để chúc Tết thì nhiều vô số kể! Tiêu biểu như:
   * Nghinh Xuân Tiếp Phúc 迎春接福: Đón Xuân đón luôn Phước vào nhà.
   * Hoa Khai Phú Quý 花開富貴: Hoa nở tượng trưng cho sự phú quí của gia đình.
   * Trúc Báo Bình An 竹報平安: Tre Trúc luôn xanh tốt trong mùa đông như đem lại bình an cho mọi người.
   * Mai Khai Ngũ Phúc 梅開五福: Hoa mai nở 5 cánh như mang đến 5 cái phước cho gia đình (5 cái phước đó là: Thọ, Phú, Khang ninh, Du hảo đức và Khảo chung mệnh. 五福 是: 寿,富,康寜,攸好德,考终命。Sống lâu, giàu có, mạnh khỏe, được tiếng tốt và chết an lành. Đó là 5 cái phước mà mọi người đều mong mỏi.)
             

 * Trúc Báo Tam Đa 竹報三多: Một chi nhỏ của nhánh trúc thường có 3 lá, như điềm báo mang đến 3 cái nhiều (Tam Đa) mà người ta thường mong mỏi. Đó là: Đa Phúc, Đa Thọ, Đa Nam Tử 三多 是:多福,多寿,多男子。Nhiều phước, nhiều thọ, nhiều con trai.

          

   * Vạn Sự Như Ý 萬事如意, An Khang Thịnh Vượng 安康盛旺, Cung Chúc tân Xuân 恭賀新禧 ....
            Đặc biệt năm Dê, thịnh hành thêm câu: Tam Dương Khai Thái 三陽開泰 !
                       
Ghi Chú:
     Xin được nói thêm về 3 chữ "Nói cũng lạ"....
          Sau khi đã "lỡ ra lệnh" cho Chúa Xuân bắt hoa phải nở suốt đêm để ngày mai mình đi ngắm hoa xong, thì Võ Tắc Thiên cũng ngầm... ra lệnh luôn cho những người trồng hoa trong vườn Thượng Uyển với sự phối hợp của Quân đội dùng vải căng lều để căng lều cho tất cả những nơi trồng hoa trong vườn. Đoạn cho nổi lửa nấu nhiều nồi nước khổng lồ trong vườn Thượng Uyển để tạo một luồn noãn lưu ấm áp khắp nơi, nhờ thế các hoa như ở trong các greenhouse ấm áp của mùa đông như ở MỸ hiện nay... Và  cũng nhờ thế mà các loài hoa mới nở kịp cho bà ta ngắm, và bà ta mới có dịp diệu võ dương oai với quần thần để chứng tỏ cái Chơn Mạng Thiên Tử của mình đến cả Chúa xuân, hoa cỏ cũng đều phải khuất phục vâng lời !
       

         Đây cũng là cái cơ trí hơn người của Võ Tắc Thiên, chả trách bà ta là Nữ Hoàng Đế duy nhất trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.
                                                                     
            ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                                                                                              

SẮC XUÂN- THƠ TRƯƠNG THỊ THANH TÂM

Truong Thi Thanh Tam
14 thg 2 (2 ngày trước)
tới tôi

Vào Th 3, 13 thg 2, 2018 lúc 10:12 CH, Truong Thi Thanh Tam
<tinhnho1053@yahoo.com.vn> đã viết:





SẮC XUÂN

                ***
Nắng đã lên rồi , xuân đến đây 
Gío đông đùa với đoá hoàng mai 
Nhà phía bên kia vừa hé cửa 
Thấp thoáng bóng ai, tóc xõa dài 

Ngoài trời khóm trúc lá lao xao 
Mơn mởn chồi non, ngọn trúc đào 
Gío xuân áo mới hồng đôi má 
Đường hoa thoang thoảng chút hương cau 

Trong làn gió mới đào khoe nụ 
Đỏ thắm chậu hồng mới nở hoa 
Có đôi bướm trắng còn quanh quẩn 
Đàn sẻ trên cành ríu rít ca 

Đông còn tiếc nuối xuân tìm đến 
Thời gian có dừng lại chờ ai 
Buồn thương con nhện giăng tơ mỏng 
Soi gương bờ tóc...sắc màu phai 

Xuân nay vẫn mặc màu áo tím 
Để nhớ ngày xưa ta có đôi 
Pháo hoa chẳng có, trời thương nhớ 
Phố cũ giờ đây thiếu một người!

            TRƯƠNG THỊ THANH TÂM
                         Mytho 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI MẬU TUẤT 2018

 CHÙM ẢNH TẾT 2018
Ở SAIGON 







 

 







 
 


 

 







Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

XUÂN HỒNG- THƠ NHẬT QUANG


nhat quang
Tệp đính kèm14 thg 2 (1 ngày trước)
tới tôi 
Kính chúc chị năm mới An khang, vạn sự như ý!​



Kết quả hình ảnh cho ANH MUA XUAN


XUÂN HỒNG


Em buông nhẹ
Tiếng tơ mềm
Phím loan trầm lắng
Êm đềm, lả lơi
Khẽ khàng
Xuân vút chơi vơi
Hồn thơ đắm đuối…
Giữa trời nắng say

Hương hoa
Gió nhẹ thoảng bay
Xuân mơ màng…
Đắm ngất ngây
Tình nồng
Lụa thơm
Ngan ngát xuân hồng
Mênh mang khúc nhạc
Bềnh bồng ước mơ…

              NHẬT QUANG
               (Sài Gòn)

Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

VẪN MỘT TRỜI QUÊ- THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ


tong minh
Tệp đính kèm13 thg 2 (2 ngày trước)
tới tôi


Kết quả hình ảnh cho hình ảnh ngày tết nguyên đán



VẪN MỘT TRỜI QUÊ.


Thoáng, đã mười năm vắng Tết nhà
Phương trời lữ thứ hỏi mây qua
Đâu mùa hương cũ xa xôi nhớ
Chiều muộn tàn năm bóng mẹ già.!

Đâu thuở bình yên nơi xóm vắng
Bập bùng bếp lửa đêm ba mươi
Quê nghèo, nhưng ấm tình xưa ấy,
Đợi phút giao nguyên của đất trời.


Đâu cội mai vàng ngự trước sân
Đâu phong pháo đỏ nổ xa gần !
Và đâu nến ngọc lung linh sáng,
Lời mẹ cha còn vẳng tiếng xuân.

Đâu tiếng chuông xa nhịp mõ đều
Lời kinh mầu nhiệm quyện hương yêu,
Đã không còn nữa thời tao loạn
Sao nỗi lòng quê vẫn khổ nhiều.?

Đời đã mười năm theo gió mây
Trăng sao rót mộng xuống thân gầy.
Nhưng ta đã trót mười năm ấy,
Vẫn một trời quê giữa xứ nầy.

South Dakota (USA), 
Một ngày cuối năm 2017 âl 
MẶC PHƯƠNG TỬ.

Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018

NHỚ NHÀ- THƠ HOÀI HƯƠNG


Kết quả hình ảnh cho ANH TET QUE




NHỚ NHÀ.
Nửa khuya tỉnh giấc nhớ nhà,
Dường đâu đây có tiếng gà sang canh.
Dường như chim hót đầu cành,
Vu vơ chó suả,bập bùng bếp reo.
Đường xưa.lối cũ, xóm nghèo,
Tinh mơ rộn rã tiếng rao bánh mỳ.
Chiều ra quán nhỏ nhâm nhi.
Ly cà phê đắng ,còn gì vui hơn.
Thuốc Mai tuy rẻ mà thơm,
Bên nhau tâm sự xa gần buồn vui.
Ê a tiếng trẻ học bài,
Đàn gà chiu chit kêu ngoài vườn rau.
Xanh xanh giàn bí,gốc trầu,
Máy nhà ai hát vài câu nhạc vàng.
Quê hương biết mấy là thương,
Biết bao là nhớ, biết dừơng nào mong,
Quê hương rau mắm cũng thơm,
Cá tôm cũng ngọt ngào hơn quê người.
Quê hương Xuân thật là vui,
Quê người Xuân đến ngậm ngùi thở than,
Chuông reo tỉnh giấc mơ màng.
Nhìn trời sương phủ,dạ càng ngẩn ngơ.
Sương mờ mắt cũng lệ mờ.
Nỗi mong biết đến bao gìờ hồi hương.
PHX.HOÀI HƯƠNG

ĐẠO MẪU VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ TAM PHỦ, TỨ PHỦ QUA TRẬT TỰ CÁC GIÁ HẦU-ĐẶNG XUÂN XUYẾN


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
20:50 (12 giờ trước)

tới tôi








ĐẠO MẪU VÀ TÍN NGƯỠNG 
THỜ TAM PHỦ, TỨ PHỦ
QUA TRẬT TỰ CÁC GIÁ HẦU
- Trích trong VÀO CHÙA LỄ PHẬT - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
của Đặng Xuân Xuyến ; xuất bản năm 2006 -


*
Đạo thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời và rất thuần Việt. Nói đến Đạo Mẫu người ta có thể liên tưởng ngay đến việc tôn vinh những vị nữ thần tối cao mà người ta tôn là Thánh Mẫu hay Quốc Mẫu, tuy nhiên trong đạo thờ Mẫu, người ta không chỉ thờ riêng các vị Mẫu mà còn tôn thờ cả một hệ thống các vị thánh với một trật tự chặt chẽ (thể hiện trong các giá hầu đồng khi thỉnh các vị Thánh Mẫu, Chúa Bà, Quan Lớn, Chầu Bà, Quan Hoàng, Tiên Cô, Thánh Cậu...).
 Trong các đền phủ của Đạo Mẫu, luôn có rất nhiều ban thờ các vị thần thánh, nhất là NGỌC HOÀNG (thờ cúng với hai vị quan ở hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu), tuy nhiên khi thỉnh đồng người ta không thỉnh NGỌC HOÀNG mà người ta chỉ thỉnh các vị thánh sau:

A. TAM TÒA THÁNH MẪU:
Nếu không kể đến Ngọc Hoàng thì ba vị Thánh Mẫu là ba vị Thánh tối cao nhất của đạo Mẫu. Khi hầu đồng người ta phải thỉnh ba vị Thánh Mẫu trước tiên rồi mới đến các vị khác, tuy nhiên khi thỉnh Mẫu người hầu đồng không được mở khăn phủ diện mà chỉ đảo bóng rồi xa giá, đó là quy định không ai được làm trái, và sau giá Mẫu, từ hàng Trần Triều trở đi mới đựoc mở khăn hầu đồng. Theo tín ngưỡng cổ thì ba giá Mẫu hóa thân vào ba giá Chầu Bà từ Chầu Đệ Nhất đến Chầu Đệ Tam, nên coi như Ba giá Chầu Bà là hóa thân của Ba giá Mẫu.
Ba giá Mẫu trong Tứ Phủ gồm:
1.Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên: Cửu Trùng Thanh Vân Công Chúa hay chính là Công Chúa Liễu Hạnh. Đền thờ Mẫu Liễu có ở khắp mọi nơi nhưng quần thể di tích lớn nhất là Phủ Dày, Vụ Bản, Nam Định (Mở hội ngày 3/3 âm lịch), tương truyền là nơi Mẫu hạ trần với các đền phủ như Phủ Chính, Phủ Công Đồng, Phủ Bóng, ngoài ra còn có Đền Sòng ở Thanh Hoá, Phủ Tây Hồ ở Hà Nội.
2. Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn: Đông Cuông Công Chúa. Tương truyền là vị Thánh Mẫu cai quản Thượng Ngàn (rừng núi). Đền thờ chính Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn là Đền Đông Cuông, Tuần Quán thuộc tỉnh Yên Bái
3. Mẫu Đệ Tam Thoải Cung: Xích Lân Long Nữ. Tương truyền là vị Thánh Mẫu, con Vua Bát Hải Động Đình, cai quản các sông suối, biển, các mạch nước trên đất Nam Việt. Người ta thường lập đền thờ bà ở các cửa sông, cửa biển để cầu cho biển lặng sóng yên.

B. CHƯ VỊ TRẦN TRIỀU
Dân gian ta có câu
"Tháng tám hội Cha, tháng ba hội Mẹ"
Mẹ ở đây là Mẫu Liễu Hạnh, còn Cha là Đức Thánh Trần Hưng Đạo, cùng với một số giá gọi là hàng Trần Triều. Tuy nhiên theo tín ngưỡng dân gian thì bên Đạo Mẫu (Tam Tòa Thánh Mẫu) và bên Trần Triều rất kị nhau, vì thế phải là người đồng nào có căn mạng thì khi hầu đồng mới thỉnh và hầu về các giá Trần Triều sau giá Mẫu, còn không thì thông thường người ta không thỉnh về hàng Trần Triều.
Chư vị Trần Triều gồm:
1.Đức Thánh Ông Trần Triều: Hưng Đạo Đại Vương, được tín ngưỡng dân gian tôn làm Đức Thánh Trần, giúp dân sát quỷ trừ ma, trừ dịch bệnh, thế nên ở đâu có giặc dã dịch bệnh thì đều cầu đảo Ngài tất đựoc linh ứng. Khi hầu đồng về giá này, thanh đồng (người hầu đồng) mặc áo bào đỏ thêu rồng, tay cầm thanh đao, ngoài ra theo một tục cổ, khi hầu về giá Đức Thánh Trần Triều, người hầu đồng còn cầm dải lụa đỏ rồi mô phỏng động tác thắt cổ. Đền thờ Ngài cũng có ở rất nhiều nơi nhưng lớn nhất vẫn là đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương với hội mở ngày 20/8 âm lịch.
2. Đệ Nhất Vương Cô: Cô là con gái lớn của Hưng Đạo Đại Vương. Khi về đồng hay mặc áo đỏ thêu rồng, đội khăn đóng, vấn khăn đỏ phủ lên, tuy nhiên có ít người hầu giá này mà chỉ hay hầu về Đức Thánh Trần và Đệ Nhị Vương Cô.
3. Đệ Nhị Vương Cô: Cô là con gái thứ của Hưng Đạo Đại Vương. Khi về đồng hay mặc áo xanh thêu rồng, đội khăn đóng, vấn khăn xanh phủ lên, có kiếm cờ giắt sau lưng, hai tay cũng cầm kiếm và cờ, theo quan niệm, cô cũng là người có phép sát quỷ trừ tà, người hầu về giá này thường đốt một bó hương rồi cho vào miệng ngậm tắt lửa gọi là tiến lửa hay ăn lửa để tróc tà.

C. TAM VỊ CHÚA MƯỜNG
Trên Toà Sơn Lâm Sơn Trang có 18 Chúa Bói, 12 Chúa Chữa, nhưng khi hầu đồng, chỉ thỉnh ba vị tối thượng gọi là Tam Vị Chúa Mường, ba vị Chúa này là những người phụ nữ nhân đức, cả đời làm việc phúc giúp dân chúng và triều đình nên được người đời nhớ ơn và lập đền thờ.
Tam vị Chúa Mường gồm:
1. Chúa Đệ Nhất Thượng Thiên: Bà là người giúp vua trị quốc an dân, (Chúa Đệ Nhất Tây Thiên) hơn nữa theo quan niệm tín ngưỡng thì bà là người nắm giữ sổ Tam Tòa, trông coi mọi việc nên được tôn làm Chúa Thượng, ngoài ra thì những người có tài cúng lễ đều là do bà dạy và ban lộc nên đều phải do bà Chúa Thượng dạy đồng. Tuy nhiên Chúa Đệ Nhất rất ít khi ngự đồng. Thông thường, trong lễ khai đàn mở phủ mà có dâng đàn Chúa Bói thì người ta thường thỉnh bà về chứng tòa Chúa Đệ Nhất. Khi ngự đồng, chúa mặc áo đỏ (áo lụa thêu phượng hoặc áo gấm), cầm quạt khai quang. Chúa Tây Thiên không có đền thờ chính mà chỉ được thờ trên Đền Hùng thuộc tỉnh Phú Thọ và bà cũng được thờ cận bên Mẫu Tây Thiên ở Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Ngày hội chính của Chúa Đệ Nhất Tây Thiên là ngày 10 tháng 05 âm lịch (tương truyền là ngày Chúa giáng hạ trần phàm).
2. Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ (Chúa Nguyệt Hồ): Bà là người có tài xem bói, tương truyền, mỗi khi đức vua ra trận đều nhờ người đến thỉnh bà bấm đốt tay xem xét. Trong Tam Vị Chúa Mường thì bà Chúa Nguyệt là bà Chúa Bói danh tiếng bậc nhất và rất hay ngự đồng. Thông thường, khi có mở đàn Chúa Bói mà không thỉnh được cả Tam Vị Chúa Mường về ngự thì người ta thường hay thỉnh bà về chứng cả ba tòa Chúa (màu đỏ, màu xanh và màu trắng) còn bình thường thì Chúa về chứng tòa Chúa Đệ Nhị. Khi ngự đồng, chúa mặc áo xanh, múa mồi. Đôi khi Chúa về ngự còn dùng lá trầu quả cau để xem bói, phán bảo trần gian. Chúa Nguyệt Hồ được thờ chính tại Đền Nguyệt Hồ ở gần ga Kép, chợ Bố Hạ, tỉnh Bắc Giang (tương truyền là nguyên quán của Bà Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ). Ngày hội chính của Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ là ngày 15 và 16 tháng 02 âm lịch.
3. Chúa Đệ Tam Lâm Thao: Dân gian thành kính gọi bà là Chúa Chữa, Chúa Ót: - Tương truyền, bà là công chúa, con gái ruột của Vua Hùng, từ bé đã bị hỏng một bên mắt. Tuy vậy bà vẫn một lòng giúp vua cha trị quốc, bà là người lo việc quân nhu quân lương trong các cuộc chiến trận, ngoài ra bà còn là người có tài bốc thuốc nam. Bà đi khắp vùng đem tài năng của mình để cứu giúp dân lành. Bà Chúa Đệ Tam Lâm Thao cũng là một người có lòng mộ đạo, thường xuyên ăn chay niệm phật để cầu cho quốc thái dân an. Như hai vị chúa trên, khi người ta dâng đàn Chúa Bói thì thường thỉnh Chúa về chứng tòa Chúa Đệ Tam. Khi về đồng bà thường mặc áo trắng, có nơi khi hầu bà thì múa mồi như Chúa Bà Đệ Nhị Nguyệt Hồ, nhưng có nơi hầu Chúa lại chỉ dùng quạt khai quang. Chúa Lâm Thao được thờ chính tại Đền Lâm Thao ở Cao Mại, Việt Trì, Phú Thọ (tương truyền là nơi khi xưa chúa lập kho quân nhu quân lương và bốc thuốc cứu dân). Ngày hội chính của Bà Chúa Đệ Tam Lâm Thao tương truyền là 25 tháng 12 âm lịch.

D. NGŨ VỊ TÔN ÔNG - CÔNG ĐỒNG QUAN LỚN
Là các vị quan lớn trong Tứ Phủ, cai quan bốn phương và đều là các vị hoàng tử, danh tướng, có công với quốc gia. Gọi là Ngũ Vị Tôn Ông vì theo hàng chính là gồm 5 vị quan lớn, nhưng ở một số nơi khi hầu đồng người ta thỉnh 6 vị sau:
1. Quan Đệ Nhất: Tương truyền là Tôn Quan Đại Thần, sắc phong tước Công Hầu, ngôi Thượng Thiên. Khi ngự đồng mặc áo đỏ thêu rồng và chỉ làm lễ tế và chứng sớ điệp.
2. Quan Đệ Nhị: Quan Thanh Tra Giám Sát, sắc phong Thái Hoàng. Tương truyền là người cai quản sơn lâm thượng ngàn, thông tri thiên địa, có thể lệnh sai Hà Bá, Thủy Thần làm mưa làm gió. Khi ngự đồng mặc áo xanh thêu rồng. Đền thờ Quan Đệ Nhị là đền Quan Giám, Lạng Sơn. Chính hội là ngày 10 tháng 11 âm lịch.
3. Quan Đệ Tam: Quan Tam Phủ, Bơ Phủ Vương Quan, sắc phong Thái Tử Đệ Tam, con Vua Bát Hải Động Đình, là người nắm giữ kỉ cương nơi Long Cung, cai quản các con sông trên khắp nước Nam. Theo tương truyền thì ông giáng trần cứu dân, trở thành vị tướng thủy quân tài ba, trong một trận quyết chiến bên sông Lục Đầu, ông hy sinh, bị giặc chém mất đầu, chiếc đầu bay sang bờ bên kia con sông Lục Đầu, vì thế mới có hai đền thờ quan hai bên bờ sông Lục Đầu (Hưng Yên) là Đền Lảnh Giang - nơi thờ mình và Đền Xích Đằng - nơi thờ đầu. Chính hội là ngày 24 tháng 6 âm lịch. Khi ngự đồng mặc áo trắng thêu rồng, tay cầm song kiếm.
4. Quan Đệ Tứ: Là Quan Khâm Sai, sắc phong Thái Tử Thiên Cung, là người cai quản Tam Giới Tứ Phủ, mười phương trời đất, kiêm cả đạo phật thiền gia.
Khi ngự đồng mặc áo vàng thêu rồng, cũng chỉ làm lễ và chứng điệp sớ. Tuy nhiên, ít người hầu đồng về giá này.
5. Quan Đệ Ngũ: Là Quan Tuần Tranh, sắc phong Công Hầu, là vị tướng tài dưới thời Hùng Vương 18 cai quản miền duyên hải sông Tranh, giúp vua dẹp giặc Triệu Đà, tuy nhiên do bị oan khuất nên Ông bị đày về vùng Kì Cùng, Lạng Sơn. Tương truyền, quan Tuần Tranh là người cai quản thiên binh nhà trời, được nhân dân thờ phụng ở khắp các cửa sông mà hai ngôi đền lớn nhất là Đền Quan Lớn Tuần Tranh tại Ninh Giang, Hưng Yên (là nơi quê nhà) ở bên bờ sông Tranh và Đền Kì Cùng, Lạng Sơn (là nơi ông bị đày) bên bờ sông Kì Cùng có cây cầu Kì Lừa. Khi ngự đồng mặc áo lam thêu rồng cầm long đao để giúp dân tróc quỷ trừ tinh, tế độ sinh linh. Ngày mở hội là ngày 25 tháng 5 âm lịch, là ngày Ông bị đi đày.
6. Quan Điều Thất: Là hàng Quan thứ 7, giá Quan này chỉ một số nơi mới thỉnh về ngự đồng (như Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh). Tương truyền, Ngài cũng là con vua Bát Hải Động Đình, giáng thế giúp dân. Khi ngự đồng mặc áo đỏ điều, thêu rồng.

E. TỨ PHỦ CHẦU BÀ
Các vị Chầu Bà trong Tứ Phủ là những phụ nữ nhân đức hay các nữ tướng có công với dân với nước nên khi từ trần được nhân dân thờ phụng và được tôn thành các vị Chầu Bà trong Tứ Phủ, được Vua Mẫu giao cho cai quản sông núi và mọi việc nhân gian.
Hàng Tứ Phủ Chầu Bà có 12 vị tuy nhiên cũng như ở một số nơi có sự khác nhau, thêm 2 vị nữa vào hàng thứ 3 và thứ 5.
Các vị Chầu Bà gồm:
1. Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên: Được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhất khi thỉnh đồng. Là vị Chầu tối thượng, đứng đầu hàng Chầu, ngự tại Ngọc Điện, Thượng Giới. Tuy nhiên cũng ít người mở khăn phủ diện để hầu Chầu Đệ Nhất.
2. Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn: Được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhị. Bà vốn là Công Chúa Thiên Thai, giáng hạ để cai quản thượng ngàn và tam thập lục châu. Khi ngự đồng Chầu mặc áo xanh thêu hoa, đầu vấn khăn xanh, cài trâm hoa, tay cầm mồi tượng trưng cho bó đuốc. Đặc biệt khi hầu về giá này còn có nghi thức Trình Trầu: Các đệ tử ai có căn mạng hoặc đã tôn nhang bản mệnh, vào ngày hầu đồng trong lễ Thượng Nguyên (đầu năm mới), ngồi phủ khăn đỏ, đầu đội mâm trầu cau để "trước trình Phật Thánh sau trình Vua Cha, trình lên Tứ Vị Vua Bà, trình đồng Tiên Thánh, trình tòa Sơn Trang, trình lên Thập Vị Quan Hoàng, Tiên Cô, Thánh Cậu chứng mâm trầu trình". Khi Trình Trầu người ngồi lễ phải đặt lên mâm trầu cau 12 tờ tiền đồng, tượng trưng  dâng lên 12 giá chính của hàng Chầu Bà là những vị giúp mình được đội trầu. Đền thờ Chầu Đệ Nhị là Đền Đông Cuông, Tuần Quán, Yên Bái.
3. Chầu Đệ Tam Thoải Cung: Được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Tam, là Lân Nữ Công Chúa, Ngọc Hồ Thần Nữ, vốn là con vua Thủy Tề, ngự tại Thủy Phủ Thiên Thai chốn Thoải Cung, Tam Phủ. Bà được coi là người cai quản các sông suối biển hồ mạch nước trên đất Việt.
(Có nơi còn đưa Chúa Thác Bờ vào hàng Chầu Bà và người ta thỉnh Chúa Thác Bờ sau giá Chầu Đệ Tam hoặc không thỉnh Chầu Đệ Tam mà thỉnh luôn Chúa Thác Bờ. Tương truyền Chúa Thác Bờ vốn là tiên nữ giáng sinh tại nơi thắng tích, dạy người Mường biết trồng trọt, đánh bắt cá dưới sông Đà. Khi ngự đồng có lúc Chúa mặc áo trắng và khăn choàng trắng, có khi lại mặc váy đen áo trắng đai xanh, bên hông có xà tích bạc, túi dao quai, một tay cầm mồi, một tay cầm mái chèo. Đền thờ Chúa Thác Bờ là Đền Thác Bờ ở Kim Bôi, Hoà Bình.)
4. Chầu Đệ Tứ Khâm Sai: Bà được phong danh là Chiêu Dung Công Chúa, giáng thế là Chầu Bà Khâm Sai giúp dân, có quyền tra sổ Thiên Đình để đổi số nhân sinh... Khi ngự đồng bà mặc áo vàng thêu rồng, một tay cầm kiếm, một tay cầm cờ để đi cứu dân. Đền thờ bà là Đền Khâm Sai hay Phủ Bà Đệ Tứ (đền Cây Thị) ở Quý Hương, An Thái, Vụ Bản, Nam Định.
5. Chầu Năm Suối Lân: Bà là vị Chầu trên Sơn Trang Thượng Ngàn, trấn cửa rừng Suối Lân dưới thời Lê Trung Hưng. Khi ngự đồng mặc áo xanh hoặc áo lam thêu hoa đỏ, đầu vấn khăn chàm tím. Đền Chầu là đền Suối Lân, ngay bên cầu Sông Hóa 2 ở Lạng Sơn, bên cạnh đền là suối Suối Lân.
(Chúa Bà Năm Phương thường đựoc hầu ở Hải Phòng và được thỉnh trước giá Chầu Năm Suối Lân. Tương truyền, Chúa vốn là Bạch Hoa Công Chúa, bị trích giáng vào nhà họ Vũ ở cửa Cấm Giang, được giao là người cai quản bản cảnh ngũ phương trong trời đất. Khi ngự đồng, có lúc mặc cả bộ trắng, có khi chỉ phủ chiếc khăn phủ diện đỏ làm khăn choàng... Người ta thường dâng Chúa bộ nón hài và đĩa hoa trắng, trong đàn mã mở phủ phải có một cỗ xe trắng dâng Chúa Bà. Đền Chúa bà là Đền Cấm, Phố Cấm, Lê Lợi, Hải Phòng.)
6. Chầu Lục Cung Nương: Bà là Lê Triều Lục Cung Công Chúa trên Thượng Ngàn, cũng như Chầu Năm, bà trấn cửa rừng Chín Tư. Tương truyền bà có phép hô thần chú làm cả núi rừng chuyển động, tà ma phách tán hồn xiêu, người trần gian ai không biết mà làm điều trái luân thường đạo lý, độc ác, sẽ bị Chầu hành cho điên dại. Khi ngự đồng Chầu thường mặc trang phục gần giống với Chầu Năm Suối Lân. Đền Chầu lập tại rừng Chín Tư, Hữu Lũng, Lạng Sơn, gọi là đền Lũng, ngày mở hội là 20 tháng 9 âm lịch.
7. Chầu Bảy Kim Giao: Tương truyền bà cũng là vị Chầu Bà của dân tộc “Mọi”, bà giúp tộc “Mọi” biết làm ăn buôn bán nên được nhân dân nhớ ơn lập đền thờ. Khi ngự đồng Chầu mặc áo gấm tím. Đền Chầu là Đền Kim Giao, Mỏ Bạch, Thái Nguyên.
8. Chầu Tám Bát Nàn: Bà tên thật là Vũ Thục Nương, quê ở Tiên La, Đông Hưng, Thái Bình. Bà là Nữ Tướng dưới thời Hai Bà Trưng, phất cờ khởi nghĩa tại quê nhà để trả thù cho tướng công là Phạm Hương và cứu dân thoát khỏi Bát Nạn (8 nạn) nên nhân dân suy tôn làm Bát Nàn Đại Tướng Quân (Bát Nàn là đọc chệch đi của từ Bát Nạn), sau này (năm 43 SCN) bà hy sinh tại thị trấn Đồng Mỏ, Lạng Sơn. Nhân dân thương tiếc và lập đền thờ bà ở 2 nơi là Đền Tiên La, Đông Hưng, Thái Bình và Đền Đồng Mỏ, Lạng Sơn. Khi ngự đồng Chầu Bà mặc áo vàng, đội khăn đóng, sau lưng giắt kiếm cờ, hai tay cũng cầm kiếm và cờ lệnh xông pha một mình phá mấy vòng vây. Ngày mở hội lễ bà là ngày 17 tháng 3 âm lịch.
9. Chầu Chín Cửu Tỉnh: Bà là Chầu Cửu (âm Hán: Cửu Tỉnh là Chín Giếng) cai quản giếng âm dương điều hòa định thái. Khi ngự đồng Chầu mặc áo hồng, cầm quạt khai quang. Đền Chầu ngự cũng là đền Sòng ở Bỉm Sơn, Thanh Hóa.
10. Chầu Mười Mỏ Ba: Bà là Nữ Tướng trấn giữ ải Chi Lăng, giúp vua Lê Thái Tổ giết được tướng giặc Liễu Thăng, sau lại giúp dân lập ấp lên vùng Mỏ Ba, được triều đình phong công, nhân dân nhớ ơn... Khi ngự đồng Chầu mặc áo vàng, đeo vòng bạc đai xanh mĩ miều, chân quấn xà cạp, tay cầm kiếm, tay cầm cờ hoặc mồi. Đền Chầu là Đền Mỏ Ba, lập ngay sát ải Chi Lăng, Lạng Sơn.
11. Chầu Bé Thượng Ngàn: Đây là tên gọi chung các vị Chầu Bà người Thổ Mường, hầu hàng thứ 11, được coi là các vị Chầu Bé đành hanh nhưng tài phép, cai quản Tòa Sơn Trang, có Thập Nhị Bộ Tiên Nàng hầu cận. Khi ngự đồng mặc quầy (váy) xám; áo (dân tộc thiểu số), đầu chít khăn thổ cẩm, chân quấn xà cạp, vai đeo gùi tay cầm mồi soi đường.
Có rất nhiều vị Chầu Bé ở các Đền khác nhau, nhưng người ta hay thỉnh nhất là các vị sau: Chầu Bé Bắc Lệ, Chầu Bé Đông Cuông, Chầu Bé Đồng Đăng và Chầu Bé Tam Cờ.
12. Chầu Bé Thoải Cung: Bà cũng là chầu Bé nhưng là ở dưới Thoải chứ không phải trên Thượng như các Chầu Bé ở hàng thứ 11 nên được thỉnh riêng đứng hàng thứ 12. Tuy nhiên cũng có rất ít người hầu về giá này.

G. TỨ PHỦ ÔNG HOÀNG
Cũng như hàng Quan Lớn, các Ông Hoàng cũng là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng.
Hàng Ông Hoàng gồm:
1. Ông Hoàng Cả: Vốn là con Đức Vua Cha, giáng trần mang vẻ lịch sự tươi tốt, độ cho dân chúng ấm no, hạnh phúc. Khi ngự đồng ông mặc áo đỏ thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đầu đội khăn xếp, có phủ vỉ lép màu đỏ.
2. Ông Hoàng Đôi: Còn gọi là Quan Triệu Tường. Ông là danh tướng họ Nguyễn, thời phù Lê dẹp Mạc, có công lớn với nhà Lê. Khi ngự đồng mặc áo xanh thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đầu đội khăn xếp, có phủ vỉ lép xanh, tay cầm lá cờ lệnh to may bằng vải ngũ sắc. Đền thờ ông là Đền Quan Triệu ở Thanh Hóa.
3. Ông Hoàng Bơ: Vốn là con vua Bát Hải Động Đình, thường phù trợ cho người làm ăn buôn bán và những ngư dân đánh cá...
Khi ngự đồng ông mặc áo trắng thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đai vàng, đầu đội khăn xếp có phủ vỉ lép trắng, tay cầm đôi hèo hoa, cũng có khi một tay cầm quạt, một tay cầm mái chèo. Đền thờ ông thường được lập ở các cửa sông.
4. Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc: Ông vốn là thương gia bên Trung Quốc, từ nước Đại Yên sang Nam Việt bán buôn và cứu giúp người nghèo khổ lên được suy tôn làm Ông Bơ nhưng là Ông Bơ Bắc Quốc để phân biệt với Ông Hoàng Bơ Thoải của Việt Nam. Khi ngự đồng ông mặc áo tàu đội mũ ô sa. Đền thờ ông là Đền Quan trên Bắc Giang.
5. Ông Hoàng Bảy Bảo Hà: Ông vốn là con vua Thượng Đế Ngọc Hoàng, giáng vào nhà họ Nguyễn, người Tày Nùng làm người con thứ 7. Ông là người có công giúp vua Lê dẹp giặc trên vùng biên giới và giúp dân chúng khai hoang lập ấp, nên sau khi ông hy sinh trôi dạt vào nơi bên phà Trái Hút, người dân lập đền thờ ông. Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đầu đội khăn xếp phủ vỉ lép xanh lam, tay cầm đôi hèo hoa phi ngựa đi chấm đồng, nếu người nào được ông ném cây hèo vào người thì coi như người đó đã được chấm đồng và phải ra hầu Tứ Phủ, khi ông ngồi ngự có điệu hát dâng trà, rồi cả điệu hát miểu tả khi thanh nhàn ông ngồi đánh tổ tôm, tam cúc. Đền thờ ông là Đền Bảo Hà, bên bến phà Trái Hút, thị xã Lào Cai.
6. Ông Hoàng Mười Nghệ An: Còn gọi là Ông Mười Củi, vốn là thần tiên trong chốn Đào Nguyên, giáng trần trở thành vị tướng tài dưới thời nhà Lê. Không chỉ giỏi cầm quân ông còn là người có tài năng về văn chương thơ phú ... Khi ngự đồng ông mặc áo vàng thêu rồng kết thành hình chữ thọ, đầu đội khăn xếp có vỉ lép vàng trên đầu, các đệ tử thường lấy tờ tiền cài vào que hương tượng trưng cho việc dâng ông lá cờ. Những người muốn xuất ngoại, làm ăn buôn bán hoặc học hành thành công đều đến cửa ông để xin lộc. Đền ông là Đền Chợ Củi, qua cầu Bến Thủy, bên dòng sông Lam, Nghệ An.

H. TỨ PHỦ TIÊN CÔ
Tứ Phủ Tiên Cô là một hàng gồm các cô tiên nàng theo hầu cận các Thánh Mẫu, Chúa Mường, Chầu Bà. Các Tiên Cô là những cô gái đoan trang, liệt nữ, có công với giang sơn xã tắc nên được nhân dân lập đền thờ phụng.
Tứ Phủ Tiên Cô gồm:
1. Cô Nhất Thượng Thiên: Cô là Tiên Nữ trên Ngọc Điện, hầu Vua Mẫu, thường giúp trần gian có lời kêu cầu tấu thỉnh với các Tòa các giá trong Tứ Phủ. Có khi cô giáng trần làm phép hóa ra thuốc trị bách bệnh, cũng có Cô Nhất rong chơi khắp chốn từ Hà Nội, Hải Phòng đến Quảng Bình, Quảng Trị .... Khi ngự đồng cô mặc áo lụa đỏ thêu hoa phượng, đội khăn đóng phủ vỉ lép đỏ, cài hoa, tay cầm đôi quạt ngà như để quạt mát cho thế gian. Đền Cô Nhất thuộc tỉnh Nam Định.
2. Cô Đôi Thượng Ngàn: Cô là Công Chúa Sơn Tinh, là vị Tiên Cô hầu Vua Mẫu ba tòa. Cô đại tài, tiếng tăm lừng lẫy được Vua Bà yêu thương. Cô có rất nhiều đệ tử. Khi ngự đồng cô mặc áo lá xanh, đầu vấn khăn kết thành hình hoa, có vấn vỉ lép xanh, tay cầm mồi. Đền Cô nằm gần Đền Đông Cuông, trước cửa Đền Cô có giếng nước quanh năm trong vắt.
(Có nơi thờ Cô Đôi Cam Đường thay Cô Đôi Thượng Ngàn với truyền thuyết: Cô là tiên nữ xinh đẹp, giáng sinh ở đất Đình Bảng, Bắc Ninh, gia đình nối đời buôn bán vải tơ. Cô bán vải từ đường Quan Lộ, Chợ Dầu, Đình Bảng với đủ các loại tơ lụa, vải sồi, lĩnh tía, chàm xanh, nâu non. Khi ngự đồng cô mặc áo tứ thân xanh, chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao (nón ba tầm), trên vai là chiếc đòn gánh cong với hai đầu là đôi túi đẫy đựng vải. Tuy cô quê ở Bắc Ninh nhưng lại hiển thánh tại thị xã Cam Đường, Lào Cai nên nhân dân nhớ ơn đã lập đến cô là Đền Cô Đôi Cam Đường.)
3. Cô Bơ Hàn Sơn: Còn gọi là Cô Bơ Bông. Cô là con Vua Thủy Tề hầu trong Cung Quảng Hàn,rất xinh đẹp, lại đàn hát cũng hay nên được Đức Vương Mẫu phong là Công  Chúa Ba Bông hay Công Chúa Thủy Cung, cùng quan sứ giả chọn ngày lành để giáng hiện thần tôn thành cô thiếu nữ đất Hàn Sơn. Khi cô ngự đồng mặc áo trắng pha màu tuyết, đầu đội khăn đóng, vấn khăn ngang ba màu, tay cầm đôi mái chèo để vân du khắp nơi, cũng có khi cô cầm dải lụa để đi đo đất đo mây.
Đền thờ cô là Đền Cô Ba Bông ở Hà Trung, Thanh Hóa, ngay cửa sông. Mở hội vào ngày 12 tháng 6 âm lịch.
4.Cô Tư Ỷ La: Theo tài liệu cổ thì cô Tư là Tiên Nữ theo hầu Mẫu Thượng. Cô xinh đẹp dịu dàng, được Mẫu hết mực yêu quý. Khi thanh nhàn cô thường dạo chơi cảnh Tây Hồ với chiếc áo lụa vàng tha thướt thêu hoa lá. Cô được thờ trên đền Ỷ La (Tuyên Quang).
5. Cô Năm Suối Lân: Cô là Tiên Nàng người dân tộc theo hầu Chầu Năm Suối Lân. Cô ở Thượng Ngàn, là người cai quản con suối Suối Lân. Khi ngự đồng cô mặc áo xanh hoặc áo lam, đầu vấn khăn hình củ ấu và tay cầm đôi mồi lửa. Đền cô là ngôi đền nhỏ cạnh đền Chầu Năm, bên bờ sông Hóa ở Lạng Sơn.
6. Cô Sáu Sơn Trang: Cô là Tiên Nàng hầu cận Mẫu Thượng Trang Châu, cũng có nơi nói cô là người kề cận Chầu Lục Cung Nương và gọi cô là Cô Sáu Lục Cung, nhưng các tài liệu đều thống nhất cô Sáu là người có tài bốc thuốc cứu người, cô rất ghét người ăn nói quanh co, điêu ngoa. Khi giáng đồng cô mặc áo lam ngắn vạt, dài tay, chít khăn xanh, trâm cài, lược dắt, tay cầm bó mồi.
7. Cô Bảy Kim Giao: Cô theo hầu Chầu Bảy Kim Giao trên đất Thanh Liên, Mỏ Bạch, Thái Nguyên, cũng là người dân tộc “Mọi”. Cô hiển ứng, đêm đêm mắc võng đào cùng các bạn tiên ngồi ca hát. Khi về đồng cô mặc áo lụa tím.
8. Cô Tám Đồi Chè: Cô là thiếu nữ hái chè đất Hà Trung, cũng một lòng giúp vua, tuy chưa được đền đáp nhưng cô được dân lập đền thờ là đền Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hóa, cách đền Cô Bơ Bông một con sông. Khi ngự đồng cô mặc áo xanh váy xanh, đầu kết khăn xanh, cô múa mồi rồi múa dáng điệu hái chè.
9. Cô Chín Sòng Sơn: Còn gọi là cô Chín Giếng, Chín Rồng, Chín Suối, theo hầu Mẫu Sòng, có tài xem bói và có phép thần thông quảng đại…. Nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ là Đền Cô Chín ở Thanh Hóa, cách đền Sòng Sơn khoảng 30km. Khi ngự đồng cô mặc áo hồng phớt màu đào phai, có khi cô múa quạt tiến Mẫu, múa cờ tiến Vua, cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa, rồi lại múa cánh tiên. Lễ vật dâng cô: Nón đỏ hài hoa vòng hồng...
(Có nơi thờ cô Chín Tít Mù thay cô Chín Giếng nhưng khác ở điểm: Cô Chín Tít Mù ở trên Thượng Ngàn, có tài trị bệnh bằng nước suối, tuy nhiên cũng rất ít người hầu về giá này. Đền cô Chín Tít Mù lập ở đường lên Chầu Mười Mỏ Ba, ngôi miếu nhỏ có suối nước thiêng, ai kêu cầu cô thì dâng cô nón đỏ hoặc nón xanh để xin thuốc chữa bách bệnh.)
10. Cô Mười Mỏ Ba: Cô theo hầu Chầu Mười Mỏ Ba, giúp vua đánh giặc Ngô. Khi ngự đồng cô mặc áo vàng cầm cung kiếm, cưỡi trên mình ngựa theo Chầu Bà xông pha trận mạc. Cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười.
11. Cô Bé Thượng Ngàn: Cũng như Chầu Bé, các vị cô bé đều là những bộ nàng trên Tòa Sơn Trang, hầu Mẫu Thượng Ngàn. Có rất nhiều cô bé trên khắp các cửa rừng lớn nhỏ. Các cô về mặc quần áo thổ cẩm, chân quấn xà cạp, đeo kiềng bạc, tay cầm ô, vai đeo gùi. Các cô bé gồm: Cô Bé Thượng Ngàn (Thị Xã Lạng Sơn), Cô Bé Suối Ngang (Hữu Lũng), Cô Bé Đèo Kẻng (Thất Khê), Cô Bé Đông Cuông (Yên Bái), Cô Bé Tân An(Lào Cai), Cô Bé Cây Xanh (Bắc Giang), Cô Bé Nguyệt Hồ (Bắc Giang), Cô Bé Minh Lương (Tuyên Quang), Cô Bé Cây Xanh (Tuyên Quang) và Cô Bé Thác Bờ (Hòa Bình)
12.Cô Bé Thoải Phủ: Cô Bé ngự dưới tòa Thoải Phủ, chỉ tráng bóng chứ không mở khăn, đứng hàng 12 trong các cô.

K. TỨ PHỦ THÁNH CẬU
Là các vị cậu chết trẻ, tinh nghịch, thường phù hộ cho các gia đình buôn bán cũng như những người muốn cầu học hành.
Tứ Phủ Thánh Cậu gồm:
1. Cậu Hoàng Cả
2. Cậu Hoàng Đôi
3. Cậu Hoàng Bơ
4. Cậu Bé
                    a, Cậu Bé Đồi Ngang (Cậu Hoàng Quận)
                    b, Cậu Bé Đồi Non
Ngoài ra ở mỗi bản đền lại có một cậu bé coi giữ gọi là cậu bé bản đền, trong đó thường hay ngự đồng như: Cậu Bé Phủ Bóng, Cậu Bé Đông Cuông....
Các cậu về (ngự đồng) thường mặc áo cánh các màu ứng với mỗi giá, đầu vấn khăn, hai bên tay thường có hoa cài, chân quấn xà cạp, đi giày thêu. Các cậu về thường làm lễ tấu rồi đi hèo hoặc múa lân.

.
Mời tham khảo:ĐẠO MẪU VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ TAM PHỦ, TỨ PHỦ QUA TRẬT TỰ CÁC GIÁ HẦU - Tác giả: Đặng Xuân Xuyến