CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

BÊN SÔNG SÀI GÒN ĐỌC THƠ ĐÀ LẠT. - THƠ CHÂU THẠCH

 



BÊN SÔNG SÀI GÒN  

      ĐỌC THƠ ĐÀ LẠT 

   (Tặng Nguyễn An Bình) 

                  

                   --00-- 

Ngồi bên sông Sài Gòn 

Đọc thơ về Đà Lạt 

Gió Hồ Xuân Hương ngát 

Trong thơ Nguyễn An Bình 

 

Đèn Sài Gòn lung linh 

Sông Sài Gòn lặng lẽ 

Hương thông rừng thoáng nhẹ 

Từ trong thơ bay ra. 

 

Có tiếng gì xa xa 

Như tiếng rừng rơi lá 

Lá rơi buồn rất lạ 

Đà Lạt sương và mơ! 

 

Đà Lạt trong tập thơ 

"Tình Tôi Người Lữ Khách" 

Tay ta cầm tập sách 

Lòng mơ Mimosa. 

 

Lòng mơ con đường hoa 

Hoa đào và phượng tím 

Nhớ và thương kỷ niệm 

Rừng hương, hoa thơ xinh 

 

Đêm nay ta một mình 

Ngồi bên sông Sài Gòn 

Đọc thơ Nguyễn An Bình 

Men thơ và men tình 

Làm ta say ngây ngất! 


            CHÂU THẠCH

 


Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2022

THÁNG BA NĂM ĐÓ - THƠ NGUYÊN LẠC

 


                  



THÁNG BA NĂM ĐÓ

.

Tháng ba người nhớ hay không?

"Tháng ba gãy súng" não nùng đời nhau [*]

.

1.

Tháng ba lại tháng ba nào

Tháng ba năm đó làm sao quên người?

Tháng ba vỡ mộng tình đôi

Tháng ba thảm lắm tình tôi nghìn trùng!

.

Mười năm về lại dã nhân

Thấy đời hụt hẫng đoạn trường bể dâu

Tìm người giờ biết tìm đâu?

Tìm trong ký ức những câu nhạc tình?

"Chanh đường uống ngọt môi trinh"

"Hẹn hò cuốn quít thiên đường lối xưa" [**]

Lối xưa lạ lẫm hững hờ

Phố xưa đã đổi màu cờ máu tim

Đường xưa giờ đã đổi tên

Nhà xưa đổi chủ buồn tênh cổng gài

Tin người ? Như khói sương phai!

Dã nhân lê bước thở dài mưa rơi

Thôi tôi mất dấu em rồi

Trùng dương cuồng nộ vùi đời thanh xuân!


2.

Tha hương kiếp "luân lạc nhân"

Ai người tri kỷ cùng ngâm Hồ Trường?

"Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng loạn

Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chan

Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương

Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt,

có người quá chén như điên như cuồng" [***]

Mùa về đắ́ng chén lưu vong

Thống ngâm thơ cổ ngất hồn tháng ba!

.

Tháng ba cuộc đó đã xa

Xa rồi... xa lắm... sao ta vẫn buồn?

Tháng ba mưng mủ vết thương

Người ơi nhức nhối... đoạn trường sao quên?!

.

Tháng ba nâng chén mình ên

Hồn người lính cũ buồn tênh phận mình

Tháng ba đắng chén nhân sinh

Mất, còn bạn hữu bóng hình khói sương

.

Thì thôi nhân thế vô thường

Bầu nghiêng, rượu rưới thay hương khóc người!

Tháng ba lại tháng ba rồi

Hồ trường cô lữ lệ mời tháng ba!

..............


NGUYÊN LẠC


[*] Tên hồi ký của Cao Xuân Huy

[**] Mượn ý "Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt" và câu nhạc khác của Phạm Duy

[***] Hồ Trường-Nguyễn Bá Trác

.


.......................

“Tháng Ba Gãy Súng” – hồi ký Cao Xuân Huy: Ghi lại cuộc “di tản chiến thuật” của các người lính Thủy Quân Lục Chiến (VNCH) tháng 3, 1975 tại cửa biển Thuận An – Quảng Trị. Ngoài một số bị giết, đa số các TQLC còn lại bị bắt làm tù binh, rồi đi "cải tạo".

Vùng tệp đính kèm


Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2022

NGẪU HỨNG THÁNG BA - THƠ NGUYỄN AN BÌNH




                     Ảnh tác giả Nguyễn An Bình & MC Nam Hiệp chương trình Thi Ca Điểm Hẹn .



NGẪU HỨNG THÁNG BA



Sông ơi chảy một dòng thôi

Biết đâu nguồn cội ngược xuôi kiếp người

Phù sa nặng nợ đắp bồi

Ngày sau khắc dấu nổi trôi thương hồ.



Gieo mùa quả ngọt nên thơ

Nắng trong veo giữa bãi bờ tháng ba

Hồng lên môi mắt người xa

Giữ bao thương nhớ theo tà áo rơi.



Gieo chi hạt nhớ đầu đời

Mà sao mưa lại trắng trời tương tư

Chút ngỡ ngàng lá tình thư

Nhớ nhau vai áo hình như đã nhàu.



Xanh lên bờ tóc thuở nào

Cánh chiều chim mỏi về đâu cuối ngàn

Dẫu môi còn chút nồng nàn

Tuổi đôi mươi đã phai tàn sắc hương.



Rồi trong nắng gió bụi đường

Tìm đâu câu hát dịu dàng tiếng xưa

Ru từng phiến lá ngày mưa

Nguyện làm hoa nở bốn mùa yêu nhau.


12/3/2022

NGUYỄN AN BÌNH



THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH : RẠNG ,RAU ,RÈM, ROI,RỐN. - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 



THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 89 :  

                                      RẠNG RAU RÈM ROI RỐN



                               Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ

          
           Vào thời Nam Bắc Triều của Trung Hoa, một trong những nước của Bắc Triều là Bắc Chu 北周 (557-581) có một đại thần tên là Đậu Nghị 竇毅, người đất Hàm Dương (Thiểm Tây) được phong hiệu là Thần Võ Quận Công. Đâu Nghị có một cô con gái tài mạo song toàn, cầm kỳ thi họa mỗi thứ đều tinh thông; nên ông không muốn gả con cho những kẻ tầm thường theo mai mối; ông muốn chọn một chàng rễ thật sự có tài, bèn cho thợ vẽ hai con khổng tước (con Công) lên trên bức bình phong trước nhà và ra thông cáo rằng : Hễ chàng trai nào cùng lúc dùng 2 tên bắn trúng vào 2 con mắt của 2 con khổng tước thì ông sẽ gả con gái cho. Rất nhiều vương tôn công tử đến xin bắn thử đều không cùng lúc trúng đích. Lúc đó Đường Cao Tổ Lý Uyên 唐高祖李渊 còn là một bạch y tú sĩ, đã phát 2 tên cùng trúng vào 2 mắt của chim công; nên được Đậu Nghị gả Đậu tiểu thơ cho chàng; bà chính là Thái Mục Hoàng Hậu 太穆皇后 sau nầy khi Lý Uyên Đường Cao Tổ lên ngôi nhà Đường. 
        Vì tích trên mà ta có thành ngữ CẨM BÌNH XẠ TƯỚC 锦屏射雀 có nghĩa : Bắn con chim công trên bình phong gấm, để chỉ việc kén rể hiền, rể qúy. Trong văn học cổ của ta thì gọi là RẠNG BÌNH XẠ TƯỚC như trong "Sơ Kính Tân Trang" của Chiêu Lỳ Phạm Thái có câu :

                          Nguyện lòng này với lửa hương,
                   RẠNG BÌNH XẠ TƯỚC níu giường thừa long.


         Nhưng vì chữ TƯỚC 雀 khi được ghép với chữ Khổng là KHỔNG TƯỚC 孔雀 là con Công; nhưng khi được ghép với chữ Hoàng thì thành HOÀNG TƯỚC 黃雀 là con chim Sẻ. Nên XẠ TƯỚC 射雀 còn được hiểu là "Bắn Sẻ" như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều khi tả sắc đẹp nàng cung nữ đã có câu :

                      Làng cung kiếm rắp ranh BẮN SẺ,
                      Khách công hầu gấm ghé mong sao.
 
         Nhưng BẮN CÔNG hay BẮN SẺ gì đều có nghĩa là "việc đua tài trong một cuộc kén rể qúy, rể hiền ngày xưa". Thành ngữ "Cẩm Bình Xạ Tước 锦屏射雀" còn có hai thành ngữ phụ cũng cùng một ý là "Tước Bình Trúng Tuyển 雀屏中選" (Trúng tuyển được làm rể vì bắn chim tước trên bình phong) và "Xạ Bình Đắc Ngẫu 射屏得偶" (Vì bắn vào bình phong mà có được người phối ngẫu).




          Lại nói về Trương Hàn 張翰 tự là Qúy Ưng, văn học gia đời Tây Tấn, là thuộc quan của Tề Vương Tư Mã Quýnh ở Lạc Dương, chức quan nhỏ nhoi lại phải xa quê nhà. Một năm kia, thấy gió thu thổi bỗng chạnh nhớ đến quê hương, nhớ đến canh rau Thuần cá Vược của quê nhà trong lúc thu sang mà mẹ của ông thường nấu các món nầy cho ông ăn; bèn tự mình nhủ mình :"Sao ta lại phải vì chức quan phụ tá nhỏ nhoi nầy mà lìa xa quê hương mấy ngàn dặm để rốt cuộc được gì đây?!" Tự nhủ xong, ông bèn đến gặp Tề Vương xin từ chức về quê để phụng dưỡng mẹ già. Ít lâu sau Tê Vương Tư Mã Quýnh làm phản bất thành, cả nhà đều bị tru di, ngay cả những quan viên thuộc cấp cũng bị vạ lây. Mọi người đều khen Trương Hàn là người biết trước thời cơ nên không bị hại.                                                        
       Canh Rau THUẦN 蒓(蓴) : Một loại rau cải sống dưới nước như rau Nhút (rau Rút) của ta. Cá LÔ 鱸 : Ta gọi là cá Vược (cá Hức), đều là hai món ăn đạm bạc của nhà quê. 
     Trong bài thơ "Ký Dương Lục Thị Lang 寄楊六侍郎" của Bạch Cư Dị có nhắc đến tích của Trương Hàn bằng hai câu thơ sau đây :

                       秋風一箸鱸魚鱠, Thu phong nhất trợ lô ngư khoái,
                       張翰搖頭喚不回! Trương Hàn dao đầu hoán bất hồi !
Có nghĩa :
              Một đũa gỏi cá Vược trong gió thu, làm cho...
              Trương Hàn lắt đầu, gọi cũng không trở lại !   
     
                     



      Trong Truyện Kiều, tả lúc Thúc Sinh nghe theo lời khuyên của Thúy Kiều về thăm Hoạn Thư ở quê nhà. Cụ Nguyễn Du cũng đã viết :

                      Thú quê THUẦN HỨC bén mùi,
                  Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô !

     Trong truyện thơ Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện cũng dẫn tích nầy với từ RAU THUẦN như sau :

                           Vạc mai chán nếm tràng danh,
                 RAU THUẦN chạnh nhớ mùi canh ngọt ngào !  

     Còn trong Tứ Thời Khúc Vịnh của Hoàng Sĩ Khải, một danh sĩ dưới thời nhà Mạc thì dùng cả RAU THUẦN GỎI VƯỢC như sau :

                                  Hèn nào khách ở Liêu Đông,
                        RAU THUẦN GỎI VƯỢC chốc mồng thú quê.  
 



          
       RÈM TƯƠNG là bức rèm làm bằng TƯƠNG PHI TRÚC 湘妃竹, theo tích sau đây :
       Tương Phi 湘妃 chỉ hai bà phi vợ của vua Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh. Khi vua Thuấn mất ở cánh đồng Thương Ngô bên bờ sông Tương, hai bà phi đã khóc đến nước mắt chảy máu vẫy đầy lên những cây trúc xanh ở nơi đó thành các đóm đỏ sậm màu. Loại trúc có đốm nầy rất đẹp và qúy, gọi là Tương Phi Trúc. Nên RÈM TƯƠNG là loại rèm làm bằng trúc Tương Phi, ý chỉ rèm qúy của các gia đình khá giả, như trong Bích Câu Kỳ Ngộ tả lúc Tú Uyên và Giáng Kiều cùng nhau uống rượu giao bôi :

                        Phòng tiêu dìu dặt chén đồng,
               RÈM TƯƠNG rủ thấp, trướng hồng treo cao.

       Còn trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du lại gọi là MÀNH TƯƠNG để tả lúc Kim Trọng tương tư Thúy Kiều :

                             MÀNH TƯƠNG phân phất gió đàn,
                         Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.



                             Rèm Tương  và  Tương Phi Trúc

       ROI BỒ là Cây roi làm bằng cỏ bồ. Chữ Nho là BỒ TIÊN 蒲鞭. Theo sách Hậu Hán Thư, quyển 25, Lưu Khoan Truyện 《後漢書.卷二五.劉寬傳》: LƯU KHOAN người đất Hoa Âm; là quan Thái Thú 3 quận ở Nam Dương dưới thời Hán Thuận Đế. Một hôm ông đang đi trên xe trâu, có người nông dân mất trâu đến nhìn con trâu đang kéo xe cho ông là trâu của mình. Ông bèn xuống xe đi bộ trả lại con trâu cho người nông dân. Khi về đến phủ nha không bao lâu thì người nông dân dắt con trâu đến xin lỗi và trả lại trâu cho ông, vì anh ta đã tìm được con trâu của mình, rồi quỳ xuống chịu phạt. Ông đỡ dậy và bảo :"Các con trâu đều giống nhau, nhầm lẫn là việc thường tình, anh đã tìm thấy trâu của mình, còn phải mất công dắt trâu đến trả cho ta, thế là tốt rồi. Có lỗi gì đâu mà phạt ? Lưu Khoan quan niệm rằng, dùng hình phạt nặng đối với dân chúng, thì dân chúng sẽ tìm cách né tránh mà không có lòng hối lỗi; nên ông cho bện sẵn một cây roi bằng cỏ bồ để khi ai có lỗi thì sẽ bắt qùy trước công chúng và đánh bằng roi bồ, không làm cho da thịt đau đớn, chỉ muốn cho người phạm lỗi cảm thấy xấu hổ mà hối cải để sửa sai mà thôi. Từ tích trên, trong văn học cổ hình thành thành ngữ BỒ TIÊN THỊ NHỤC 蒲鞭示辱 Có nghĩa : Đánh bằng roi bồ để làm cho cảm thấy hổ thẹn nhục nhã. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ các ông quan nhân từ thương dân như con, chỉ muốn cảm hóa dân mà không dùng đến bạo lực hoặc chính trị hà khắc.
      Trong bài thơ "Tặng Thanh Chương Minh Phủ Điêt Duật 贈清漳明府姪聿" của Thi Tiên Lý Bạch đời Đường có câu :

                蒲鞭挂簷枝,  BỒ TIÊN quải thiềm chi,
                示恥無撲抶。  Thị sỉ vô phác sất.
      Có nghĩa :
                         ROI BỒ treo trước mái hiên,
                Thẹn không đánh đập chỉ khuyên làm lành.

      Trong tác phẫm SÃI VÃI của cụ Nguyễn Cư Trinh, khi ông Sãi nói về xuất thân của mình cũng có những câu :
                     Xưa Sãi cũng biết giữ mình làm côi; 
                     Xưa Sãi cũng hay lấy đức chăn dân.
                     Giữ thước mực cầm cân; 
                     Đánh ROI BỒ răn chúng !

      

          

      RỐN BỂ CỬA HẦU : RỐN BỂ là nơi sâu thẳm của đại dương; Còn CỬA HẦU là từ Nôm của từ Hầu Môn 侯門, dùng để chỉ cửa nhà của những người quyền quý, của những bậc vương hầu; theo như tích sau đây :
       * Theo sách Tình Sử : Vợ Tiêu Lang là Lục Châu, bị bắt đem dâng cho Quách Tử Nghi; Từ đấy Tiêu Lang thấy vợ đành dửng dưng như khách qua đường không dám nhìn.  
       * Theo Toàn Đường Thi Thoại : Thi nhân đời Đường Nguyên Hòa là Tú Tài Thôi Giao 崔郊, thương một người nô tì tài sắc vẹn toàn của nhà cô. Sau vì nghèo, cô bán nô tì đó cho Liên Soái làm tì thiếp. Giao cứ thơ thẩn trước cửa Liên Soái mà không dám vào. Nhân tiết Hàn Thực người tì thiếp đi ra ngoài gặp gỡ Thôi Giao bên rặng liễu. Giao cảm xúc làm tặng nàng bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng sau đây :

            公子王孫逐後塵,   Công tử vương tôn trục hậu trần,
            綠珠垂淚濕羅巾。   Lục Châu thùy lệ thấp la cân.
            侯門一入深如海,   Hầu môn nhất nhập thâm như hải,
            從此蕭郎是路人。   Tòng thử Tiêu Lang thị lộ nhân.
Có nghĩa :
               Vương tôn công tử theo sau,
               Lục Châu nhỏ lệ ướt bao khăn là.
               CỬA HẦU sâu tợ biển xa,
               Chàng Tiêu từ đó như là người dưng.

               


       Có người mách lẻo, định tâng công, đem bài thơ nầy cho Liên Soái xem. Liên Soái cho mời Thôi Giao vào dinh. Mọi người đều lo sợ cho chàng. Không ngờ Liên Soái cũng thuộc nòi tình, tuy rất yêu thương người tì thiếp tài hoa, nhưng thấy hai người vẫn còn yêu nhau tha thiết, nên trả nàng lại cho Thôi Giao và còn tặng cho bốn ngàn nén bạc về quê để ... yêu nhau ! Tạo nên một giai thoại trong làng thơ lúc bấy giờ.

       Trong Truyện Kiều, lúc Kim Kiều tái hợp, cụ Nguyễn Du cũng đã hạ câu :

                            Có còn chi nữa mà ngờ,
                 Khách qua đường dễ hung hờ Chàng Tiêu.

      Còn trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện thì gọi là RỐN BIỂN CỬA HẦU để chỉ nhà của những người quyền qúy không phải lúc nào muốn vào ra cũng được. Ta hãy xem những câu sau đây khi tả nhà Dương Tướng Công :

                           Dò la Dương tướng dinh đâu,
                 Tụ hiền phương ấy CỬA HẦU thâm nghiêm.
      Và ...
                        ... Và là RỐN BỂ CỬA HẦU,
                  Ra vào vì chút thâm sâu ngại ngùng.



          Hẹn bài viết tới !
                                           
                                                  杜紹德
                                                                                                  
                                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC


                 

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022

CHIẾN CUỘC UKRAINE - THƠ TRẦN QUỐC BẢO

 


                        



CHIẾN CUỘC UKRAINE


 

Putin phát động cuộc chiến tranh xâm lược,

Đưa quân Nga sang tàn phá Ukraine!

Đàn áp láng giềng nhược tiểu đã quen,

Dàn binh hùng hậu, lấy mười đè một.

 

Dùng chiến thuật đánh phủ đầu đột ngột,

Thiết giáp vào Kiev, vây kín Thủ đô,

Trận chiến đẫm máu trên sông Dniepro!

Mig 15 dội bom, hăm ba (23) thành phố!



 



 

Hỏa tiễn bộc phá, những dinh cơ đồ sộ!

Quân đội xâm lăng, theo lệnh Putin.

Dốc toàn lực lượng, tốc chiến thật nhanh,

San bình địa: Kherson, Mariupol, Kharkiv 

 

Khói lửa ngút trời: Irpin, Sumy, Mykolaviv

Rosket vào: trường học, bệnh viện nhi đồng!

Tiếng khóc trẻ thơ, nghe đến não lòng!

Giữa lúc, hàng triệu người tìm đường tỵ nạn!            

 



       



           

 Cả dân tộc Ukrain, bi thương ai oán!

Xúc động lương tâm Thế Giới cộng đồng.

Liên Hiệp Quốc chống đối, cũng như không.

Tòa Án Quốc Tế, vô phương ngăn chận.

 

Thế Giới thấy rõ, chuyện giặc Nga xâm lấn!

Nhưng Putin, vẫn tuyên bố ngang xương,

Rằng  – “Ukraine cấu kết với Tây Phương

Sắp tấn công Nga, nên Nga đánh trước!”

 

 



     



Lời lẽ  Putin, thật vô cùng ngang ngược!

Y tin rằng, chiến thắng nắm trong tay,

Ukraine phải đầu hàng… chỉ trong một vài ngày.

Ai đâu ngờ … cục diện không như thế!

 

Quân lực  Ukraine tuy ít, nhưng tinh nhuệ,

Với lòng ái quốc, như ngọn lửa thiêng.

Kết hợp toàn dân, thành sức mạnh vô biên!

Giặc vào nhà, tất cả là chiến sĩ !

 



   



Với yểm trợ dồi dào từ Âu Mỹ,

Máy bay, hỏa tiễn, ngân quỹ quốc phòng,

Ukraine vùng lên dũng mãnh, phản công

Diệt năm Tướng Nga, trong ba tuần lễ (*)

 

Lính Nga đầu hàng Ukraine nhiều vô kể !

Số quân thương vong, trên hai mươi ngàn, 

Xác phi cơ thiết giáp, nằm ngổn ngang,

Mức chiến thắng, nghiêng về bên nhược tiểu!

 

  


     



 Tổng Thống Zelensky, nhân vật tiêu biểu,

Cho tinh thần Ái quốc của Ukraine.

Quyết bảo vệ giang sơn, không yếu hèn!

Vị Tổng Tư Lệnh vẹn toàn tài đức.

 

Lại có Đệ Nhất Phu Nhân hợp lực,

Hai vợ chồng sát cánh với dân quân.

Cuộc chiến tranh này, thắng bại chưa phân,

Nhưng Chính Nghĩa, bên Ukraine sáng tỏ !

 


       



 

Được Liên Hiệp Quốc, Vatican ủng hộ.

Còn phía Nga, riêng Trung Cộng vuốt ve,

Một nửa tán dương, một nửa e dè,

Miệng lưỡi tầu phù, nhiều đường lắt léo!

 

Cả Thế Giới, lo ngại tương lai xui xẻo,

Mồi lửa chiến tranh, lan rộng toàn cầu,

Các Đại Cường Quốc, một khi đối đầu…

Đệ tam Thế chiến, ắt vô cùng kinh khủng!

 


       

  

 

Bom nguyên tử, tàn sát nhau tuyệt chủng!

Ước mong… “Ác Mộng” ấy sẽ không xảy ra.

Nguyện xin Hòa Bình, hãy ở mãi cùng ta.(**)

Nhân loại vẫn giữ được chữ “Nhân” làm gốc!


 

            TRẦN QUỐC BẢO

                    Richmond, Virginia