CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 27 tháng 6, 2023

KHI VỀ PENN-SYL-VA-NIA - THƠ NGUYỄN AN BÌNH


 




KHI VỀ PENN-SYL-VA-NIA

Chào tạm biệt New-York

Chia tay Ma-hat-tan

Tàu chờ ta phía trước

Dưới hầm ga trung tâm.*

Về Penn-syl-va-nia

Em có chờ nơi đó

Cuộc hành trình chia xa

Chưa bao giờ hẹn ước.

Đường ray dài vô định

Đưa ta về những đâu

Xuôi nam hay ngược bắc

Bỏ lại ta ga nào?

Thời gian không định hướng

Chòm sao lạc cung đường

Dòng sông trôi thầm lặng

Đêm núi đồi mờ sương.

Tàu ghé rồi lại đi

Sân ga buồn lăn lắc

Hội ngộ và chia ly

Tiếng cười cùng nước mắt.

Chẳng có vé khứ hồi

Trả ta về ký ức

Thôi thì mặc đời trôi

Trên cung đường nước Mỹ.


*Pennsylvania-Sài Gòn, 24/6/2023

NGUYỄN AN BÌNH

______________

* Ga trung tâm: Ga Grand Central, bang New York, một trong những nhà ga đẹp và nổi tiếng

nhất nước Mỹ


Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2023

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 98 : TAY, TĂM, TẤC, TÂM, TẤM. - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 




THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 98 : 


                   TAY, TĂM, TẤC, TÂM, TẤM



                                螳臂擋車 Đường Tý Đáng Xa

         ĐƯỜNG TÝ ĐÁNG XA 螳臂擋車 : ĐƯỜNG là Đường Lang 螳螂 là con Bọ Ngựa (dân Lục Tỉnh gọi là con Bù Cào Trời); TÝ 臂 là Cánh tay; ĐÁNG 擋 là Chống , chỏi; XA 車 là xe. Nên thành ngữ  ĐƯỜNG TÝ ĐÁNG XA là : Con bọ ngựa đưa hai cái càng lên như hai cánh tay để chỏi lại xe  (không cho xe tiến tới); Ta thường nói là "Châu chấu đá xe" đó ! Trong ca dao tục ngữ của ta cũng có câu :

                                  Nực cười châu chấu đá xe, 
                          Tưởng đâu chấu ngã, ai dè xe nghiêng.

       Câu ca dao tục ngữ trên cũng chỉ nhằm khuyên ta chớ qúa kiêu ngạo mà khinh thường những lực lượng nhỏ bé, biết đâu sau lưng con châu chấu còn có một cục đá làm cho bánh xe phải nghiêng lệch đi ! Chứ hai cái càng so với thân mình thì thật to của con bọ ngựa cũng không làm sao chống chỏi nổi cái bánh xe đang lăn tới !
       Trong văn học cổ của ta gọi Đường Tý 螳臂, cái tay của con bọ ngựa là là TAY ĐƯỜNG, như trong truyện thơ Nôm "Tây Sương Ký" có câu :

                                TAY ĐƯỜNG chưa dễ đọ xe,
                          Quyết lòng tị địch, chấp mê được nào !




       TAY KHƯƠNG chữ Nho là KHƯƠNG THỦ 姜手. Theo sách Phong Thủy Mệnh Lý 風水命理 có câu : “Thủ như can khương, gia đạo tất xương 手如干姜,家道必昌”. Có nghĩa : Tay như nhánh gừng khô, thì gia đạo sẽ khá giả. Người đàn bà mà có TAY KHƯƠNG thì sẽ giỏi về việc tề gia nội trợ. Như trong truyện thơ Nôm "Quan Âm Thị Kính" có câu :

                      Ở trên hiếu thuận song đường,
                 Lòng qùy dám trễ, TAY KHƯƠNG nào rời !

       TAY NGUYỆT LÃO, chữ TAY làm Lượng từ để chỉ "Ông" Nguyệt Lão ở đây có vẻ lẫy hờn khinh mạn, chỉ có nàng Cung nữ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mới có cái khẩu khí trịch thượng nầy mà thôi :

                    TAY NGUYỆT LÃO chẳng se thì chớ,
                    Se thế nầy có dở dang không ?!
       ... và :
                    TAY NGUYỆT LÃO khờ sao có một,
                    Bỗng tơ tình vướng gót cung phi.
                    Cái đêm hôm ấy đêm gì,
                    Bóng gương lồng bóng đồ my trập trùng.




       TĂM CÁ BÓNG CHIM hay BÓNG CHIM TĂM CÁ là Bóng dáng của con chim và tăm hơi của con cá, cả hai thứ đều khó thể cầu mà có được, nên để diễn tả cái gì đó cách xa biền biệt không có âm hao tin tức gì cả ! CHIM ở đây là chim Hồng Nhạn 鴻雁, loài chim chuyên dùng để đưa thư; còn CÁ là cá Lý Ngư 鯉魚, theo sách Hán Thư, truyện Tô Võ 漢書。蘇武傳 : Có ghi chép chuyện buộc thư vào chân chim nhạn để truyền tin; Hán. Thái Ung 汉·蔡邕: Trong bài thơ "Ẩm Mã Trường Thành Quật hành 飲馬長城窟行" có câu : Khách tòng viễn phương lai, Di ngã song lý ngư, Hô nhi phanh lý ngư, Trung hữu xích tố thư 客從遠方來,遺我雙鯉魚。呼兒烹鯉魚,中有尺素書。 Có nghĩa : Khách từ phương xa đến, để lại cho ta hai con cá chép, gọi trẻ nấu cá chép, trong bụng cá chép có tờ thư. Người đời sau ghép hai truyện trên vào với nhau thành CHIM CÁ để chỉ thư từ tin tức, nói cho êm tai thành thành ngữ bốn chữ là BÓNG CHIM TĂM CÁ, như trong Truyện Kiều tả lúc Kim Trọng đã thi đậu làm quan rồi muốn đi tìm Thúy Kiều, nhưng ...

                           Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
                     BÓNG CHIM TĂM CÁ biết đâu mà tìm !?

      Còn trong Hoa Tiên Truyện của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện thì đão ngược lại là TĂM CÁ BÓNG CHIM như sau :

                         Lầu canh văng vẳng điêu chìm,
                   Tuyệt mù TĂM CÁ BÓNG CHIM mấy trùng.

               

           
        TẤC CỎ là THỐN THẢO 寸草, lấy ý trong bài thơ Du Tử Ngâm 遊子吟 của Mạnh Giao 孟郊 đời Đường là :

             慈母手中线    Từ mẫu thủ trung tuyến              
             遊子身上衣    Du tử thân thượng y                             
             临行密密缝    Lâm hành mật mật phùng                       
             意恐遲遲歸    Ý khủng trì trì quy             
             誰言寸草心    Thùy ngôn THỐN THẢO tâm                
             報得三春暉    Báo đắc tam xuân huy   
Có nghĩa :
                Kim chỉ trên tay từ mẫu,
                Khâu nên áo lãng du nhân.
                Khi đi chắc chiu từng mũi,
                Sợ ngày về lắm lần khần.
                Ai bảo nỗi lòng TẤC CỎ,
                Báo đền được nắng ba xuân ?!
             
      Khi diễn tả cô Kiều cân nhắc giữa tình và hiếu, rồi quyết định bán mình chuộc tội cho cha. Hành động bán mình là việc làm cao cả, vĩ đại, nhưng đối với công lao trời biển, sanh thành dưỡng dục của cha mẹ thì Nguyễn Du vẫn cho là chưa đủ, cho nên ông đã dùng chữ "Liều" một cách rất tài tình như sau :

                      Hạt mưa xá nghĩ phận hèn,
               LIỀU đem TẤC CỎ quyết đền BA XUÂN !



      TÂM HỎA 心火 là Lửa ở trong tim, ở trong lòng. Theo Phật giáo, cơ thể con người là do Tứ Đại : Phong Thủy Hỏa Thổ 風水火土, tức là Đất Nước Gió Lửa kết hợp lại mà thành, nên bản thân con người đã có một phần tư là lửa ở trong đó rồi, ngọn lửa đó cứ âm ỉ mãi trong ngũ tạng lục phủ tạo nên sự ham muốn mãnh liệt mà ta gọi là Lửa Dục Vọng. Trong văn chương Phật giáo thì gọi nhẹ nhàng hơn : Lửa Lòng. Như cụ Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi tu ở Quan Âm Các :

                          Cho hay giọt nước cành dương  
                     Lửa Lòng tưới tắt mọi đường trần duyên …

   ... và như lời của Thúy Kiều đã phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người về nhà đoàn tụ :

                             Sự đời đã tắt Lửa Lòng,
                     Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?!

      Trong Cung Oán Ngâm Khúc Nguyễn Gia Thiều cũng đã gọi ngọn lửa âm ỉ đốt trong lòng người cung nữ là TÂM HỎA với các câu :

                        Ngọn TÂM HỎA đốt dàu nét liễu, 
                        Giọt hồng băng thấm ráo làn son. 
                        Lại buồn đến cảnh con con, 
                        Trà chuyên nước nhất, hương đùn khói đôi !

       Còn trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng mượn chữ TÂM HỎA nói thành “LỬA TÂM” để tả ngọn lửa ghen tuông trong lòng của Hoạn Thư là:

                         LỬA TÂM càng dập càng nồng,
                    Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa.
                         Ví bằng thú thật cùng ta,
                    Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên !



     TẤM SON là Tấm lòng Son Sắc, lấy ý ở từ ĐAN TÂM 丹心 là tấm lòng đỏ như son, không bao giờ phai nhạt; cũng chỉ lòng trung thành không bao giờ thay đổi. Cụ Nguyễn Du đã mượn ý nầy để tả tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích cho biết là mình vẫn luôn luôn giữ tấm lòng son sắc đối với Kim Trọng :

                       Bên trời góc bể bơ vơ,
               TẤM SON gột rửa bao giờ cho phai.

      Còn trong truyện thơ Lục Vân Tiên của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu, khi tả nỗi lòng của Kiều Nguyệt Nga đối với Lục Vân Tiên thì lại dùng từ LÒNG SON như sau :

                     Vái trời cho đặng vuông tròn,
              Trăm năm cho trọn LÒNG SON với chàng.

      Còn về Bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương khi tả Bánh Trôi Nước đã có các câu như sau : 

                       Thân em thì trắng phận em tròn,
                       Bảy nổi ba chìm với nước non.
                       Lớn bé mặc dầu tay kẻ nặn,
                       Mà em vẫn giữ TẤM LÒNG SON !



     Hẹn bài viết tới 

                           
                                                           
                                           杜紹德
                                      ĐỖ CHIÊU ĐỨC    

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2023

TRƯỚC KHI VỀ SÀI GÒN - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 



TRƯỚC KHI VỀ SÀI GÒN

Mai ta về có nhớ nắng Cali
Phố Sun flower một ngày đầy gió
Beach Huntington xanh màu biển nhớ
Hương cỏ hoa ngan ngát suốt mùa xuân.

Xuôi ngược chuyến phà trên sóng Hudson
Chào tạm biệt từng cánh chim mòng biển
Cô gái Mỹ ơi chút tình có quyện
Trên lọn tóc vàng màu mắt xanh lơ.

Mai ta về đèn Walnust bơ vơ
Vàng theo dấu lãng du chầm chậm bước
Mai hun hút cuộc hành trình phía trước
Đêm tháng năm còn ẩm ướt sương mù.

Không thấy lá phong đổi mùa lúc sang thu
Khi ta dừng lại bên dòng Potomac
Chợt ngỡ ngàng trước khi lên cao tốc
Cây táo bên đường vừa kịp trổ bông.

Mai ta về thấm mưa đêm Boston
Trăng dõi theo từng nẻo đường nước Mỹ
Gió nói gì trên hàng dây thép gỉ
Khi qua núi đồi exit loanh quanh.

Đâu thấy bóng người như thuở tóc còn xanh
Chiếc Phu la trắng chiều bay trong gió lạnh
Nước Mỹ mênh mông sao lòng ta cô quạnh
Người có theo về chia sẻ một bờ trăng.


23/6/2023
NGUYỄN AN BÌNH


Thứ Sáu, 23 tháng 6, 2023

TẠP GHI & PHIẾM LUẬN. : CHỮ TRUNG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 



TẠP GHI & PHIẾM LUẬN:

 Chữ TRUNG



       TRUNG 中 là Ở GIỮA, Ở BÊN TRONG. Như Trung Tâm 中心 là ở ngay chính giữa và Tâm Trung 心中 là ở ngay trong lòng. TRUNG là chữ viết được hình thành theo phép Chỉ Sự với diễn tiến của chữ viết như sau :

                     Giáp Cốt Văn  Kim Văn     Đại triện    Tiểu Triện     Lệ Thư




Ta thấy :
             Giáp Cốt Văn và Kim Văn là một hình chữ nhật và một hình tròn được sổ một gạch đứng chia đôi để chỉ vị trí ở giữa; nên TRUNG 中 có nghĩa gốc là ở ngay chính giữa do cách Chỉ Sự nầy.  Đến Đại Triện thêm 2 vạch trên tiêu biểu cho phần thượng và 2 vạch dưới tiêu biểu cho phần hạ  để càng làm nổi bật phần TRUNG là ở giữa hơn. Nhưng đến Tiểu Triện thì lại được lượt bỏ đi cho khỏi rườm rà và kịp đến phần Lệ Thư thì diễn tiến đã giống như chữ viết hiện nay : TRUNG 中 là GIỮA. Cho nên...
      TRUNG 中 là điểm HÒA của bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, là TRUNG ƯƠNG 中央, là TRUNG TÂM 中心, là Điểm chia đều của Trên Dưới, Phải Trái và Bốn Phương. 



      Ngày xưa khi khoa học Địa Lý chưa được phát triển, thì dân tộc Hán cho mảnh đất của mình ở là bình nguyên trung tâm, nên mới gọi là Đất TRUNG NGUYÊN 中原, và so với bốn phương những bộ tộc khác chưa được khai hóa thì Hán Tộc là bộ tộc tinh hoa nhất, nên mới gọi là đất TRUNG HOA 中華. Qua biết bao thăng trầm lịch sử xuyên suốt hơn năm ngàn năm, mãi đến Cách Mạng Tân Hợi của Tôn Dật Tiên tiên sinh 孫中山先生 thành công, tên nước mới được đặt là TRUNG HOA DÂN QUỐC 中華民國.
      Như trên đã nói TRUNG là ở bên trong, như TÂM TRUNG 心中 là Ở Trong lòng; PHÒNG TRUNG 房中 là Ở Trong Phòng, XA TRUNG 車中 là Ở Trong Xe...Cả nghĩa bóng "TRONG ÂM THẦM" gọi là ÁM TRUNG 暗中 là Len Lén. GIA TRUNG 家中 là Trong Nhà, mà cũng có nghĩa là Trong Gia Đình nữa.
      TRUNG còn chỉ việc gì đó bị bỏ dở nữa chừng, như TRUNG ĐOẠN 中斷, TRUNG CHỈ 中止 là Đình chỉ giữa chừng ,là Ngưng ngang.
      TRUNG còn chỉ việc gì đó đang được tiến hành, như DƯỢC TẠI NGHIÊN CỨU TRUNG 藥在研究中 là "Thuốc còn đang nghiên cứu"; TẠI ĐIỀU TRA TRUNG 在調查中 là Còn đang điều tra...
      TRUNG là thành phần không trên cũng không dưới; Không phải cũng không trái, Không giỏi cũng không dở, không đẹp cũng không xấu... Ta có từ tiêu biểu là :
      TRUNG BÌNH 中平 : BÌNH là Bằng, nên Trung Bình là Mức bằng của phần giữa, không hơn không kém, không tốt không xấu, không cao không thấp...
      TRUNG còn có nghĩa là môi giới, như TRUNG GIAN NHÂN 中間人 là Người Trung Gian, Người  đứng giữa, là Người môi giới.
      TRUNG là một nửa, như TRUNG ĐỒ 中途 là Nửa Đường. TRUNG DẠ 中夜 là Nửa Đêm. 
      TRUNG là ở bên dưới, như ÂM PHỦ TRUNG 陰府中 là Ở dưới Âm Phủ; THỦY TRUNG 水中 là Ở dưới nước; ĐỊA TRUNG 地中 là Ở dưới đất, mà cũng có nghĩa là ở trong đất nữa; Ta có từ ĐỊA TRUNG HẢI 地中海 là Cái biển ở trong đất liền. 



      TRUNG là ở trên, như KHÔNG TRUNG 空中 là Trên Không, Trên Trời; SƠN TRUNG 山中 là Trong núi, Trên Núi. Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

                山中也有千年樹, Sơn trung dã hữu thiên niên thọ, 
                世上難逢百歲人。 Thế thượng nan phùng bá tuế nhân.  
Có nghĩa :
             Trên núi còn có cây sống đến cả ngàn năm, chớ...
             Trên đời nầy rất khó mà gặp được người sống đến một trăm tuổi.

     Câu nói nầy bị "phá sản" hoàn toàn trong xã hội ngày nay ! Nạn phá rừng tràn lan, muốn kiếm cây sống đến một trăm năm còn khó, nói gì đến ngàn năm. Còn con người , thì ôi thôi, Y học, khoa học tiến bộ, nhan nhản khắp mọi nơi trên trái đất ở đâu cũng có người sống trên một trăm tuổi cả !

      TRUNG còn là những gì thuộc về TRUNG QUỐC 中國, như TRUNG VĂN 中文 là Tiếng Trung Quốc; TRUNG DƯỢC 中藥 là Thuốc Bắc, Thuốc Trung Quốc; TRUNG CỘNG 中共 là Cộng Sản Trung Quốc... 
      TRUNG LẬP 中立  là Đứng giữa, chỉ những nước theo Chủ nghĩa Trung Lập hay Chính Sách Trung Lập là một vị thế chính sách ngoại giao khi một quốc gia có ý định giữ vai trò trung lập trong các cuộc chiến tranh trong tương lai... Tiêu biểu như Áo, Thụy Điển và Phần Lan của Châu Âu trong thời gian qua.

       TRUNG còn có nghĩa là Trong Lúc... Như DU LỊCH TRUNG 遊歷中 là "Trong lúc đi du lịch"; ẨM TỬU TRUNG 飲酒中 là "Trong lúc đang uống rượu, đang nhậu". Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

                酒中不語真君子,  TỬU TRUNG bất ngữ chơn quân tử,
                財上分明大丈夫.   Tài thượng phân minh đại trượng phu.
Có nghĩa :
             - Nhậu chẳng nói năng, quân tử thật !
             - Tiền tài rõ rệt đấng trượng phu.               

       Thường thì rượu vào lời ra, dân nhậu rất hào phóng cứ uống vào là phóng miệng nói tràn; Những thứ bình thường không dám nói, không dám hứa, hễ có rượu vô thì bất chấp tất cả, nên có lắm chuyện tốt nhờ có rượu mà thực hiện được, nhưng thường thì chỉ do rượu nói chớ sức người làm không nổi. Nên, những người quân tử chân chính khi uống rượu không dám nói nhiều. Còn kẻ đại trượng phu thì quang minh chính đại, nhất là về mặt tiền bạc, dù cho một cắc một xu cũng phải phân minh rõ rệt đàng hoàng !


              

      Điểm qua một số từ ngữ có chữ TRUNG từ xưa đến nay. Ta có :

       - TRUNG DUNG 中庸 là một trong TỨ THƯ 四書. Ba quyển còn lại là ĐẠI HỌC 大學, LUẬN NGỮ 論語, MẠNH TỬ 孟子. TRUNG DUNG do Tử Tư 子思 là học trò của Tăng Tử (cháu nội của Khổng Tử) dựa trên cơ sở của Kinh Lễ soạn ra. Mục đích là giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử...
      - TRUNG ĐẠI PHU 中大夫 : Chức quan có từ thời Chiến Quốc, Tần Hán... ở giữa Thượng Đại Phu và Hạ Đại Phu.
      - TRUNG TƯỚNG 中將 : Chức quan trong quân đội hiện nay, dưới Thống Tướng Đại Tướng (Thượng Tướng) và trên Thiếu Tướng Chuẩn Tướng.
      - TRUNG TÁ 中校 : Sĩ quan cao cấp, dưới Đại Tá và trên Thiếu Tá.
      - TRUNG ÚY 中尉 : Sĩ quan dưới Đại Úy (Thượng Úy) và trên Thiếu Úy Chuẩn Úy.
      - TRUNG SĨ 中士 : Hạ sĩ quan dưới Thượng Sĩ và trên Hạ Sĩ.
      - TRUNG CẤP 中級 : Ở giữa Cao Cấp và Sơ Cấp.
      - TRUNG HỌC 中學 : Là Cấp học ở giữa Đại Học và Tiểu Học.
      - TRUNG VỆ 中衛 : Là Cầu thủ bảo vệ giữa sân trước Hậu Vệ và sau Tiền Vệ trong môn Túc cầu (Bóng đá).
      - TRUNG TUYẾN 中線 : Là Đường thẳng được kẻ để chia đôi trong Hình học.
      - TRUNG ĐÔNG 中東 : Tiếng Anh là Middle East, chữ Ả Rập là الشرق الأوسط, chữ Hebrew là המזרח התיכון, chữ Ba Tư là خاورمیانه. TRUNG ĐÔNG là phần lãnh thổ chỉ bộ phận khu vực trung tâm của 3 Châu Lục : Á, Âu và Phi; từ phía đông và phía nam Địa Trung Hải đến sát ven bờ vịnh Ba Tư, bao gồm phần lớn Tây Á (trừ khu vực Ngoại Kavkaz) và Ai Cập thuộc châu Phi. Gồm 17 nước, có diện tích khoảng 7,2 triệu kilômét vuông, dân số khoảng 371 triệu. 




      
      - TRUNG QUÂN 中軍 là nơi Chủ Soái, và các tướng quân trong quân đội họp hành làm việc, bàn kế hoạch quân cơ. Như trong Truyện Kiều, khi Hồ Tôn Hiến đưa thư chiêu dụ Từ Hải đầu hàng, cụ Nguyễn Du đã viết :

                    Tin đưa vào giữa TRUNG QUÂN,
                 Từ Công riêng hãy mười phân hồ đồ.

     - QUÂN TRUNG 軍中 là ở trong quân đội, chỉ chung lực lượng trong quân đội, như khi Từ Hải cho giàn giá quân đội lập công đường cho Thúy Kiều báo ân báo oán thì cụ Nguyễn Du cũng đã viết những câu để phô trương lực lượng quân đội như sau :

                  QUÂN TRUNG gươm lớn giáo dài,
                Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi .
                     Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
                Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.





      Nếu theo phép Hội Ý trong "CHỮ NHO... DỄ HỌC", ta thêm bộ TÂM 心 vào bên dưới của chữ TRUNG 中 là ta sẽ có một chữ TRUNG 忠 mới, theo diễn tiến chữ viết như sau :

               Giáp Cốt Văn       Đại Triện       Tiểu Triện         Lệ Thư         Khải Thư



Ta thấy :
       Chữ TRUNG 中 là ở giữa, ở trong, thêm bộ TÂM 心 là Lòng vào bên dưới; kể về Âm thì là Hài Thanh, vì vẫn đọc là TRUNG; kể theo nghĩa thì là Hội Ý, vì TRUNG 忠 nầy có bộ TÂM 心 nên có nghĩa là Hết lòng, là TRUNG THÀNH 忠誠, là làm hết bổn phận mà không có gì làm lay chuyển được.
       Ta có các từ TRUNG thường gặp như :
           - TRUNG TÂM 忠心 là Lòng trung thành.
           - TRUNG THỰC 忠實 là Trung hậu thật thà.
           - TRUNG HẬU 忠厚 là Trung thành khoan hậu.
           - TRUNG NGHĨA 忠義 là lòng Trung can nghĩa đãm.
           - TRUNG TRINH 忠貞 là tấm lòng Trung trinh tiết liệt.
      
       Phép tu thân của kẻ sĩ ngày xưa ngoài TRUNG 忠 ra còn phải có HIẾU 孝 nữa. Đó là hai thứ đức hạnh không thể thiếu của các Nho sinh sĩ tử ngày xưa, như cụ Nguyễn Công Trứ đã nói trong bài "Chức Phận Kẻ Trượng Phu" là :

                Có TRUNG HIẾU mới đứng trong trời đất,
                Không công danh thà nát với cỏ cây !
       
      Không phải riêng gì Nguyễn Công Trứ, nàng Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du khi muốn khuyên Từ Hải quy thuận triều đình cũng đã suy luận rằng :

                      Trên vì nước, dưới vì nhà,
                Một là đắc HIẾU, hai là đắc TRUNG !

 ... có ngờ đâu rằng bị Hồ Tôn Hiến gạt cho một cú thê thảm, làm cho Từ Hải phải chết trận và bản thân Thúy Kiều cũng bị Hồ ép gã cho Thổ quan để đến nỗi phải nhảy xuống sông Tiền Đường mà tự trầm...




      Chữ TRUNG ngày xưa là TRUNG QUÂN ÁI QUỐC 忠君愛國, có nghĩa : Yêu nước là phải TRUNG với vua và phải hết lòng vì nước. Như thành ngữ TẬN TRUNG BÁO QUỐC 盡忠報國 là "Phải hết lòng hết dạ báo đáp cho nước nhà, cho Tổ quốc. Theo Tống sử...

       NHẠC PHI 岳飛(1103-1141)tự là Bằng Cử 鵬舉, người ở đất Thang Âm Tương Châu (thuộc tỉnh Hà Nam hiện nay) là một anh hùng dân tộc đời Tống. Lúc 19 tuổi đã đầu quân kháng Liêu, nhưng vì cha mất nên phải về quê thủ tang. Năm 1126, quân Kim lại xâm lấn trung nguyên, ông lại một lần nữa đầu quân gia nhập quân đội để kháng Kim. Tương truyền là trước khi lên đường, bà mẹ là Dao Thị 姚氏 đã dùng kim may xâm lên trên mình ông 4 chữ "TẬN TRUNG BÁO QUỐC 盡忠報國", ý bà mẹ là muốn cho ông luôn luôn phải hết lòng vì nước, thậm chí phải hy sinh thân mình mà không được phản bội lại quốc gia dân tộc. Qủa nhiên ông đã trở thành một danh tướng của thời Nam Tống. Ông lại là một Tướng quân văn võ song toàn, nổi tiếng với bài từ "Mãn Giang Hồng 滿江紅" nêu lên sự trung thành và lòng dũng cảm, ý chí và tinh thần đấu tranh bất khất của người chiến sĩ quyết lòng bảo vệ giang san Tổ quốc. Năm 1133 Nhạc Phi liên tiếp lập được nhiều chiến công hiển hách, vua Tống Cao Tông đã tự tay viết bốn chữ "TINH TRUNG NHẠC PHI 精忠岳飛" và Hoàng hậu lại thêu 4 chữ đó lên trên cờ để ban thưởng cho ông, vì thế mà người đời sau xem trọng lời nói của vua ban mới kháo nhau là bà mẹ của ông đã xâm bốn chữ "TINH TRUNG BÁO QUỐC 精忠報國" lên lưng của ông. Nhưng theo Tống sử, Hà Chú Truyện《宋史·何鑄傳》thì trên lưng  của Nhạc Phi đã lờ mờ có sẵn bốn chữ TẬN TRUNG BÁO QUỐC 盡忠報國 rồi, trước đêm lên đường nhập ngũ, bà mẹ mới dùng kim thêu dưới ánh đèn dầu xâm lại cho rõ 4 chữ trên như một lời nhắn nhủ nhắc nhở con luôn luôn phải Tận Trung để Báo Quốc mà thôi. Cũng có thuyết cho rằng : Bốn chữ đó là do Nhạc Phi lệnh cho bộ tướng của mình là Trương Hiến 張憲 xâm lên lưng cho mình. Nhưng...
       TẬN TRUNG 盡忠 hay TINH TRUNG 精忠 gì đều có nghĩa là hết lòng hết dạ, một mực trung thành với non sông đất nước cả. Nhưng theo "Tập Quán Ngôn Ngữ" khi muốn nói là "Tôi sẽ hết lòng trung thành với nước nhà" thì sẽ nói là : Tôi sẽ TẬN TRUNG 盡忠 để BÁO QUỐC; còn TINH TRUNG 精忠 BÁO QUỐC là chỉ để cho người khác khen mình là "Hết Lòng Vì Nước" mà thôi ! 




       Nhắc đến danh tướng Nhạc Phi, thì không thể không nhắc đến "VÕ MỤC DI THƯ 武穆遺書" còn có tên là "PHÁ KIM YẾU QUYẾT 破金要訣". Đây là quyển binh pháp kỳ thư do Nhạc Phi biên soạn, theo hư cấu trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, quyển sách nầy được vợ chồng Quách Tĩnh và Hoàng Dung dấu trong Đồ Long Đao và Ỷ Thiên Kiếm được các phe phái trong võ lâm tranh chấp trong "Ỷ Thiên Đồ Long Ký 倚天屠龍記" gây nên sóng gió một thời. Gần đây quyển "VÕ MỤC DI THƯ" được xuất bản bày bán khắp nơi, nhưng khó mà chứng thực được rằng quyển sách nầy do tự tay Nhạc Phi biên soạn, vì trong đó còn có phần nói về võ thuật chứ không chuyên về binh thư; Vả lại theo chính sử thì không có nhắc đến quyển sách nầy, cả về lịch sử của các loại sách binh thư cũng không có nhắc đến, nên quyển binh thư nầy chắc chỉ là sản phẩm do các con cháu của Nhạc Phi gom góp lại những kinh nghiệm điều binh khiển tướng của Nhạc Phi lúc đương thời, trong đó có cả pho NHẠC GIA QUYỀN 岳家拳 là Quyền pháp của nhà họ Nhạc và phần còn lại là...  hư cấu của Kim Dung mà thôi.



         Trong xã hội ngày nay, bản chất đạo đức con người cần nhất là TRUNG HẬU THẬT THÀ; là lòng ngay thẳng và thành thật, không dối trá, không gian xảo, có sao nói vậy. 
         TRUNG THỰC 忠實 còn có nghĩa là :"Hết lòng hết dạ lo cho công việc của mình mà không dám chểnh mảng đơn sai". Con người có TRUNG THỰC thì mới thể hiện được sự TRUNG THÀNH của mình đối với công việc hay đối với một đối tượng nào đó.

       TRUNG còn có nghĩa là Thẳng Thắn không khách sáo, như trong thành ngữ TRUNG NGÔN NGHỊCH NHĨ 忠 言 逆 耳 là "Lời nói thẳng nghe ngược tai". Ý là : Lời nói thẳng thắn trung thực nghe chỏi cái lổ tai, nghe không êm ái chút nào cả. Trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

                 忠言逆耳利于行,   TRUNG NGÔN NGHỊCH NHĨ lợi vu hành,  
                 良药苦口利于病.   Lương dược khổ khẩu lợi vu bệnh.
Có nghĩa :
         - Lời nói thắng thắn nghe rất chỏi tai nhưng có lợi lúc thi hành nó;
         - Thuốc hay thường rất đắng miệng nhưng lại có lợi cho bệnh tật.

      Câu nói nêu trên có 2 xuất xứ như sau:

      1. Từ chương "Lưu Hầu Thế Gia, trong sách Sử Ký 史记·留侯世家" như sau :  
    
      Năm 207 Trước Công Nguyên, Bái Công Lưu Bang dẫn mười vạn quân công phá Nghiêu Quan, đánh bại tướng Tần thủ Quan Trung ở Lam Điền, rồi dẫn nghĩa quân tiến thẳng vào thành Hàm Dương một cách thuận lợi và trước hơn các đạo quân khác. Bái Công bị thu hút ngay bởi sự hào hoa tráng lệ trong cung nhà Tần, nên định ở nán lại để sống xa hoa cho thỏa thích. Tướng Phàn Khoái mà cũng là anh em cột chèo với Lưu Bang khuyên ông ta không nghe. Trương Lương biết chuyện vào cung dùng lời lẽ cứng rắn phân tích lợi hại cho Lưu Bang biết :"...sở dĩ Tần bị bại là do chỉ biết ăn chơi sa đọa, do đó nghĩa quân của Chúa công mới đánh thắng để vào được nơi đây; nay Chúa công cũng muốn bị bại theo vua Tần hay sao mà lại muốn sống cuộc sống xa hoa hủ bại nầy? Lời của thần khuyên tuy khó nghe, nhưng "Trung ngôn nghịch nhĩ lợi vu hành", cũng như "Lương dược khổ khẩu lợi vu bệnh" vậy ! Mong Chúa công soi xét mà nên nghe lời khuyên của Phàn Khoái!". Bái Công thấy các tướng đều khuyên răn, nên đành phải lưu luyến bịn rịn mà kéo quân rời khỏi cung nhà Tần để trở về đóng nơi Bá Thượng và ra lệnh cho quân sĩ không được quấy nhiễu dân lành.
      2. Theo sách "Khổng Tử Gia Ngữ 孔子家語 do Vương Túc nước Ngụy thời Tam Quốc biên soạn, và quyển "Nho Gia Giả Ngôn 儒家者言" là quyển sách được bồi táng chôn theo Trung Sơn Hoài Vương Lưu Tu ở cuối đời Tây Hán. Hai quyển sách trên đều có ghi câu nói trên.



        Lời nói a dua xiểm nịnh nghe mới êm tai, chớ lời nói thẳng thừng thì luôn luôn nghe chỏi cái lổ tai lắm. TRUNG NGÔN thì tự nhiên sẽ NGHỊCH NHĨ mà ! Ông bà ta cũng chẳng đã thường  dạy  là :"Thuốc đắng thì dã tật, Lời thật thì mất lòng" hay sao !? Mong rằng tất cả con cháu luôn luôn phải nhớ rằng :

                       道吾好者是吾賊,      Đạo ngô hảo giả thị ngô tặc,
                       道吾惡者是吾師。    Đạo ngô ác giả thị ngô sư.
Có nghĩa :
          - Cái người luôn luôn nói ta tốt ta giỏi là giặc của ta (là người xấu đó !); còn...
          - Cái người luôn luôn nói ta xấu ta dở thì người đó chính là thầy của ta đó !

       Mong rằng tất cả đều phải nên châm chước cẩn trọng !



                                           杜紹德
                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC
     



TRI ÂM HÀNH - KHA TIỆM LY

                           

                              

                               





TRI ÂM HÀNH
(Riêng cho hảo hán Lê Mai Lĩnh)
 
Tâm giao đâu cần chung chén rượu,
Nhưng gian truân đo được sức anh tài.
Cơn giông tố làm chim bầy cánh rũ,
Nhưng đại bàng lại thỏa sức cao bay!
 
Vai miền Trung gánh hai miền Nam, Bắc
Năm năm gồng mình hứng chịu thiên tai
Nên huynh muốn Trường Sơn núi cao, cao thêm mãi,
Tôi muốn Cửu Long chín nhánh, nhánh thêm dài!
 
Huynh bao năm đã thành thân viễn xứ,
Nhưng tình núi sông há một sớm phôi phai.
Tôi vá víu từng câu thơ cơm áo.
Giữa quần sinh sao lại thấy lạc loài!
 
Huynh gởi lòng vào câu văn khí phách,
Tôi ném bút cùn vô những cơn say.
Thơ té giếng, gom đem đi bán mảo,
Tan chợ chiều, đổi được đồng một đồng hai!

*
Chiến chinh hề, thây phơi trăm họ
Chiến địa hề, thịt rữa xương phai,
Chiến binh hề, đâu hẹn ngày trở lại
Chiến mã hề, độc hí giữa đồi cây!
Chinh phụ hề, năm canh vò võ,
Nghiêng mặt sầu, lệ nhỏ bi ai!
Xương máu người gởi nơi rừng núi,
Để lại chi đây một tấm thẻ bài!
 
Mây viễn xứ xót thương người xa xứ,
Sương biên thùy, có lạnh buốt hai vai.
Năm tháng đại ngàn nghe gió hú,
Mỗi bận chướng về lại thiếu một nhành mai!
 
Muốn nghe Lý tướng quân sang sảng đọc thơ trên sông Như Nguyệt
Và dũng sĩ Lam Sơn tuốt gươm thề ở hội Lũng Nhai
Muốn nghe sóng Bạch Đằng thét gào dữ dội,
Nghe trận Ngọc Hồi quân giục trống inh tai!
Muốn nghe Ức Trai đọc Bình Ngô Đại Cáo,
Muốn thấy nghĩa binh mòn núi giáo gươm  mài.
Cho tổ quốc nghìn thu thêm vĩ đại,
Trước ngoại cường, lòng sắt há lung lay.
 
Huynh vẫn giữ lòng ngay như trúc,
Cổ lai hy không thẹn mặt râu mày.
Tôi một thuở cũng mọp mình trên lưng ngựa,
Hốt biến trở thành một gã say!
Quên hết nhục vinh, quên câu thành bại,
Đăng đắng cõi lòng nên rượu ngọt thành cay!
Vẫn quý nhau vì một lời nghĩa khí,
Dù kẻ đầu gành, kẻ vạn lý thiên nhai!

*
Đò định mệnh chực chờ bến nước,
Hào kiệt anh hùng rồi cũng hóa tro bay!
Tôi, chiếc bách chòng chành trên sóng nước,
Nên tương phùng đâu dám hẹn ngày mai!
 
                                           

                KHA TIỆM LY