CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

NỖI NIỀM CÔ PHỤ - LA THUỴ & THI HỮU

HỌA THƠ LA THỤY




NỖI NIỀM CÔ PHỤ
  (Tặng chị Minh Trinh)

Dõi bóng lang quân đã biệt ngàn
Ôm niềm nhung nhớ héo dung nhan
  Chàng nơi âm cảnh mờ sương khói
Thiếp chốn phù sinh vịn xóm làng
Tứ đức sắt son cam khổ nhọc
Tam tòng chung thủy chịu tân toan
Chiều xuân đếm tuổi soi màu tóc

 Hoài vọng tri âm dạo khúc đàn

               LA THỤY

               
            



CÁC BÀI HỌA


CÔ PHỤ

Trống trải hoàng hôn lạnh gió ngàn
Một mình năm tháng mấy lo toan
Người đi chẳng hiểu câu tha thiết
Kẻ ở hoài trông  giấc lỡ làng
Tình bạc quên đành ân nghĩa thắm
Thủy chung nhớ mãi sắc hương tàn
Nỗi niềm đơn lẽ  sầu hiu hắt
Chẳng trọn tình yêu lỗi nhịp đàn

        NHÃ MY



NỖI LÒNG QUẢ PHỤ

Anh đi khuất núi nẻo mây ngàn
Vò võ thân em úa sắc nhan
Cách biệt ngưòi dời về cõi phật
Cam tâm thiếp chịu dựa dân làng
Hồng nhan bạc mệnh nhiều cơ trải
Phận mỏng cánh chuồn lắm nỗi toan
Tuế nguyệt dần phai sương điểm tóc
Giữ trau tiết hạnh trọn cung đàn.

           HẢI ĐĂNG


NỖI NIỀM

Gió bụi thu phai tiễn dặm ngàn
Gương sầu đối bóng rũ hồng nhan
Năm canh trăng khuyết miền cô tịch
Sáu khắc đời chao phận lỡ làng
     Lẻ thiếp mơ tròn câu hạnh ngộ
     Thương chàng vẹn giữ nghĩa lo toan
     Xuân sơn soi nước màu thu thủy
     Sóng vọng ba đào gió lạnh đàn!...

          QUỲNH LÝ ĐỨC


 

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

ĐỐI NGẨU TRONG THƠ ĐƯỜNG


ĐỐI NGẪU TRONG THƠ ĐƯỜNG - Nguyễn Văn Thụ - Ngọc Tình sưu tầm và gởi đăng

 Nguồn : TẠP CHÍ VĂN NGHỆ QUẢNG TRỊ

ĐỐI NGẪU - LÀ MỘT VẺ ĐẸP ĐẶC SẮC, LÀ MỘT TRONG NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT.

*

Tôi được biết, người sáng tác thơ luật Đường khi bắt gặp một cảnh huống thơ, hồn thơ đang dào dạt, bao nhiêu ý tứ cứ trào ra, vội phô diễn nó lên giấy mực. Chưa xong. Người sáng tác thơ còn phải cô đúc, dồn nén, sao cho số câu, số chữ phải đúng theo luật; số chữ trong bài có thanh trắc phải xấp xỉ số thanh bằng. Nếu ta gọi chữ có thanh bằng là số (+), chữ có thanh trắc là số (-), thì luật âm dương này thăng giáng bù trừ sát sao đến từngliên thơ, đến cả bài thơ. Đó chính là điều hé mở khái niệm về sự cân bằng, có ý nghĩa triết học cổ phương Đông nằm trong hình thức thơ Đường luật.

*

- Ý nghĩa triết học nêu trên còn thể hiện rõ ở phép đối ngẫu.
Trong một liên thơ (hai câu) được gọi là có đối, thì câu trước, nó như tung, câu sau nó như hứng, nó nương vào nhau làm cho ý thơ thêm mạch lạc.

Vậy hèn chi, người ngàn xưa đã chả đưa đối ngẫu vào thể thơ này như một điều bắt buộc.
Từ đầu thế kỷ trước, đối mặt với sự thắng thế của phong trào thơ mới, Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ thành danh, không nỡ bỏ hẳn thơ Luật Đường, ông đã sáng tác nhiều bài thơ không đối, chỉ giữ lại có luật hạn câu, hạn chữ, hạn vận, hạn bằng trắc. Vũ Hoàng Chương xem những bài thơ đó chỉ là một thực nghiệm. Sau đó, song song với việc sáng tác thơ mới, ông còn sáng tác nhiều bài thơ luật nghiêm chỉnh khác (như bài đa thủ “Giấc mơ tái tạo”).

Chúng ta nay một khi đã gửi hồn cho thể thơ luật Đường thì đừng có bao giờ bực bội giữa khi đang có hồn thơ lai láng, lại bị nghẽn bởi hai cặp đối ở hai câu thực, luận và nóng vội cho rằng: làm gì mà phải đối chặt chẽ vậy.

- Đối ngẫu trong thơ đường luật bát cú, thất ngôn, ngũ ngôn nói tổng quát là có 2 phép: Phép chỉnh đối và phép khoan đối.

Dưới đây chúng tôi xin được trao đổi về 2 phép đối này. Các ví dụ được nêu ra để phân tích, chúng tôi lấy từ một số bài thơ đã in trong “Thơ Đường quê lụa” tập 5, NXB Văn hóa Dân tộc, 2008.
*
PHÉP CHỈNH ĐỐI

Nguyễn Thu Hà, người trẻ tuổi nhất của CLB, trong bài “Duyên quê”, cặp thực, đối như sau:

Anh nắm bàn tay thon ấm áp,
Em cười đôi mắt sáng long lanh.

Thật là chỉnh, thật là chính danh: anh với em, bàn tay với đôi mắt (Danh từ đối với Danh từ), Thon với sáng (Tính từ đối với nhau), ấm áp với long lanh (Trạng từ láy đối nhau). Hai câu thơ tình đằm thắm đến thế mà lại không thấy lả lơi. Thu Hà đã huy động phép đối rất nghiêm để đạt hiệu quả.
*
Hạnh Anh (Đỗ Biện), trong bài “Đêm thu” câu 5,6 đối như sau:

Hoa cúc bâng khuâng ly rượu ngát
Hoa nhài thao thức chút hương phôi.
Cặp đối chính danh này rất nghiêm về thể thức, nhưng lại rất hào hoa.

Cụ Tạ Đăng Viên, ngoại 80, có bài “Tự thọ” rất hóm hỉnh, cụ có cặp luận:

Kính mắt gà đeo tròng chấp chới
Gậy càng cua chống bước lon ton.

Bằng hai câu đối chặt chẽ, như vẽ nên, như trông thấy một cụ đại thọ nhanh nhảu hồn nhiên trước mắt ta.

PHÉP KHOAN ĐỐI

Để cho một chùm thơ, một tập thơ không bị đơn điệu về hình thức đối ngẫu, người xưa đã đưa ra nhiều phép đối ngẫu linh hoạt hơn.

Phép lưu thủy đối:

Ví dụ:
Còn chăng lời hẹn bên trang sách,
Hay đã tàn theo ánh lửa đèn.
Theo quy tắc chiếu chữ thì hai câu này là bất đối. Nhưng lại xét: Hai câu thơ có cấu trúc ngữ pháp giống nhau; mạch ý câu trên trôi chảy như nước, được tràn sang câu dưới làm lọn nghĩa cho câu trên. Đó là phép Lưu thủy đối.
Phép tá tự đối:

Ví dụ:

Nghèo sạch, thanh danh nên gắng giữ
Giầu sang, khó tính chớ nên chơi.

Theo quy tắc chiếu chữ thì hai câu này là bất đối. Nhưng lại xét: Hai câu thơ có cấu trúc ngữ pháp giống nhau; mạch ý câu trên trôi chảy như nước, được tràn sang câu dưới làm lọn nghĩa cho câu trên. Đó là phép Lưu thủy đối.
Tất cả các liên thơ mà câu trên bắt đầu bằng mấy chữ tương tự như: còn chăng…, đã sinh…, bỗng dưng…, ứng với đầu câu dưới là các chữ tương tự như: hay đã…, phải có…, để mà…, v.v. thì liên thơ đó đã theo phép đối nói trên.

Câu trên, “thanh danh” là danh từ, câu dưới “khó tính” là tính từ, xét thế thì quả là bất đối. Nhưng nếu theo tiếng (không theo nghĩa thật), thì chữ “khó”, chữ “thanh” lại là tính từ; Chữ “danh” và chữ “tính” lại là danh từ. Xét theo cách này thì chúng lại đối chặt chẽ với nhau. Phép đối này người ta lợi dụng sự đồng âm dị nghĩa để Tá tự đối (như: hai mái trống tung đành chịu dột/ tám giờ chuông điểm phải nằm co – của Tú xương).
*
Phép số tự đối gắn với Tá tự đối:

Ví dụ: 

Học bẩy nghề còn lo thất nghiệp
Làm ba vụ vẫn đói tư mùa.
Hơi tiếc, ở câu dưới viết: ba vụ đối với tư mùa, tuy là đúng có nội đối ở trong câu, nhưng không hay bằng câu trên: bẩy cái nghề và thất (mất) cái nghiệp. Câu dưới, nếu không vì luật bằng trắc, mà viết là: “Làm tư vụ vẫn đói tứ mùa”, thì câu đối này được xếp vào hạng tuyệt diệu. Phép dối này được xem như là phép số tự đối có kèm theo lối chơi chữ (có thể liên hệ đến: nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc - của bà Huyện Thanh Quan).
Phép cú trung đối:

Ví dụ:

Màn trời chiếu đất con người khổ
Nước vật thuyền xơ cá biển nghèo
Nếu câu trên, câu dưới cứ chiếu từng chữ lên nhau, thì hai câu này cũng bất đối. Nhưng xét nội bộ từng câu, thì lại thấy: màn trời đối với chiếu đất; nước vật đối với thuyền xơ; đuôi câu trên (con người khổ) đối rất chặt với đuôi câu dưới (cá biển nghèo). Lấy câu có nội đối để đối nhau thì lại rất cân bằng. Đây là cú trung đối.
    Tuy nhiên còn một số phép đối khác chúng ta ít vận dụng, xin được dẫn ra đây để cùng tham khảo.
a) Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ?
Xương gà da cóc, có đau không?
(Nguyễn Khuyến)
*b) Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
(Hồ Xuân Hương)
c) Công đức tu hành, sư có lọng
Xu hào rủng rỉnh, mán ngồi xe.
(Tú Xương)
Chúng ta để ý: Cụ Nguyễn Khuyến cũng như nữ sỹ Xuân Hương đã tổ chức từ ngữ ở từng câu, để câu nào cũng có tiểu đối, nhưng ta không xếp hai liên đối a,b nêu trên vào phép Cú trung đối, vì ngoài phần có tiểu đối, trong từng câu còn có phần bất đối. Do đó hai liên thơ a, b trên chúng ta quy vào phép Tựu cú đối.
    Trong câu của Tú Xương, ông Tú đã đem cả hai cụm từ như hai thành ngữ để chọi nhau: công đức tu hành chọi với xu hào rủng rỉnh. Mặt khác đuôi của từng câu lại đối rất chặt với nhau: sư có lọng đối với mán ngồi xe. Phân tích đặc điểm này để kết luận: đây cũng là phép Tựu cú đối như a và b. Cú trung đối và Tựu cú đối, có dạng thức ngữ pháp của câu văn na ná như nhau, nên còn có tên chung là Đương đối.

Phép giao cổ đối:

Cụ Trần Tuấn Ngọc, trong bài “Tự nhủ”, (Bạn và thơ là xuân – NXBVHDT, Hà Nội 2004), có câu luận:

Chân bước vững, đường chiều khấp khểnh
Rừng cây rậm rạp, trúc vươn cao.
Đây chính là phép Giao cổ đối: chân bước vững đối chéo xuống với trúc vươn cao, và rừng cây rậm rạp đối chéo lên với đường chiều khấp khểnh.

Phép bất đối chi đối:

Trong buổi lễ tế “Trận vong tướng sỹ” thế kỷ 19, quan tổng trấn Nguyễn Văn Thành có sai trưng câu đối chữ Hán (nay dịch nghĩa) như sau:

Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Câu trên lấy từ thơ Thôi Hiệu, bài Hoàng Hạc Lâu. Câu dưới lấy từ thơ Vương Hàn, bài Lương Châu Từ.
Cái hay của đôi câu đối này là: Ghép hai câu thơ khác nhau của hai tác giả mà câu đối vẫn hiệp chung một tình ý. Câu 1 có đại ý là cảm thán tình cảnh, câu hai có đại ý là an ủi vong linh. Thật là quá hợp với nội dung Tế Trận Vong Tướng Sỹ. Đây là phép bất đối chi đối, lấy cái không đối để đối, không lệ thuộc vào mặt chữ mà chỉ chú trọng đến ý. Ý phải đối nhau, cấu trúc ngữ pháp phải song song đồng dạng với nhau.

Những bậc cao niên khuyên rằng, nếu một khi ta chưa thật thạo về các phép đối, thì chỉ nên sử dụng các phép chỉnh đối, lưu thủy đối, cú trung đối. Còn các phép đối khác, chúng ta hãy chỉ làm quen, giúp chúng ta nhận biết được các dạng thức đối khác nhau.

Vẫn phải thưa thêm: các phép đối thơ, dù ở dạng thức nào đều phải hội đủ 3 đặc điểm:
-    Đối ý. Ý câu trên và câu dưới, hoặc chống nhau, hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau.
-    Đối thanh âm. Chí ít là các chữ nằm ở vị trí 2, 4, 6, 7 (Thơ thất ngôn) và 2, 4, 5 ( Thơ ngũ ngôn) nhất thiết phải tuân theo luật bằng trắc.
-      Đối từ loại, danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ. Phải nắm được các phép biến đổi từ loại ở các ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên, cũng có phép đối không yêu cầu đối từ loại như theo phép chiếu chữ, mà ở đó lại có sự xoay chiều để đối chéo cho nhau.

Viết bài này tôi chỉ nhằm mục đích trao đổi thêm về vấn đề đối ngẫu trong thơ Đường luật. Trong một bài thơ, những cặp đối ở các câu thực, luận chính là vẻ đẹp đặc sắc, và là một trong những điều kiện cần và đủ để nhận ra đó là một bài thơ Luật đường. Đọc thơ Đường luật mà không có đối thì chẳng khác gì “Ăn bánh nướng trung thu mà không có nhân thập cẩm” thật là nhạt nhẽo và vô vị.
Trong bài này, việc đặt vấn đề của tôi là chắc chắn đúng nhưng việc lấy ví dụ để phân tích thì có thể có chỗ còn nông cạn, thậm trí có chỗ còn thiếu sót. Để góp một chút lửa thắp sáng cho thơ Đường đất Việt, rất mong bạn đọc rộng lượng và cùng đồng hành.



                        
NGUYỄN VĂN THỤ
Chủ nhiệm CLB thơ đường Hà Nội








Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

HƯ KHÔNG 2

THƠ NỐI KẾT HUY THANH  - NHÃ MY









HƯ KHÔNG(2)

Cuộc đời là kiếp phù du (HT)
Tình yêu bỗng hóa sương mù gió bay
-Một hôm trở giấc viễn hoài
Còn nghe đồng vọng đôi tay ngàn trùng
Nghe từ chốn ấy hư không
Một con chim vạc bảo bùng lẻ loi
Mây buông chiều tím ngừng trôi (NM)
Hạt sương nước mắt khóc đời long lanh
Biết rằng tình đã mong manh
Mà sao xa cách không đành lòng nhau
Mưa ngâu trời đổ giọt sầu
Ai qua mùa nhớ lỡ màu tóc xanh
Em về tình đã rêu phong (HT )
Trùng dương thăm thẳm nỗi lòng xa khơi
Gió giông bảo táp tơi bời
Tình theo con sóng chơi vơi tấc lòng
Trăm năm rồi cũng hư không (NM )
Sương tan, hoa rụng, sóng lòng hoang vu

Chơi vơi mấy tuổi sương mù(HT)
Lời tri âm giữa thiên thu khói mờ
Trùng dương chặn mối giây tơ
Biết ai còn có đợi chờ ai kia ?
Khuất người biền biệt sơn khê
Rêu phong hồn đá nảo nề riêng ta
Lá rơi mấy chiếc giang hà
Hồn ta mông quạnh bao la nổi sầu.


HUY THANH & NHÃ MY
Tặng NM SL


Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

NHỚ HẠ







NHỮNG BÀI THƠ CHỦ ĐỀ MÙA HÈ CỦA NHÃ MY


NHỚ HẠ
Tôi về qua cỗng trường xưa
Hàng hoa phượng đỏ đong đưa nắng hè
Rộn ràng trổi khúc nhạc ve
Sân trường vắng bóng bạn bè vui chơi
Trắng tinh áo mỏng tóc thề
Ai che nón lá lối về giữa trưa
Đâu rồi em của ngày xưa
Để tôi đứng ngắm cho vừa nhớ thương



MÙA HẠ
Mùa hạ về nghe tiếng ve kêu
Ngôi trường chìm trong phượng đỏ
Ôm sách vỡ em ngồi lặng lẽ
Bâng khuâng sân vắng một mình
Nắng chan hòa trên những lối đi
Gió bay bay tà áo trắng
Còn đâu nữa tháng ngày trông ngóng
Chia tay lưu bút ngập ngừng
Màu mực tím trên trang giấy lụa
Giấu tình thơ đẹp vô ngần
Em đứng đó dịu dàng trong sáng
Ai về dệt mộng tương tư
Bên nhau không nói một lời nào
Chỉ nghe cay cay khóe mắt
Ba tháng xa mà nghe đơn côi
Biết người về rồi có nhớ...


NHỚ
(bài cũ đăng ngày 15/6/2011)
Nắng vàng
Phượng đỏ ngoài song
Tiếng ve như thể tiếng lòng chia xa
Xếp trang lưu bút ngày qua
Thơm mùi mực mới ngọc ngà thơ ngây
Trường xưa lớp cũ còn đây
Mà sao nhớ quá
Bạn thầy nơi nao?
Chín mươi ngày có là bao
Mà sao cứ nhớ
Nhớ nhau
Và buồn...

(1972)


Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

MÙA HẠ

NHỮNG BÀI THƠ CHỦ ĐỀ MÙA HẠ CỦA GIANG ĐÀ







HẠ CHỚM
    

Hạ chớm đàn ai rắc tiếng tơ
Thức hồn thi sĩ nhả dòng thơ
Nhìn hàng phượng vĩ lòng vương vấn
Nghe tiếng ve sầu dạ ngẩn ngơ
Ngồi nhặt dấu hoa xây tháp nhớ
Đi tìm hương phấn dệt đường mơ
Nổi thương gom góp đong ngày tháng
Mây trắng chờ ai cũng lửng lờ


 HẠ  VỀ 


1-Hạ về lần nót đếm thời gian
Mái tóc ngày xanh ,nữa chớm vàng
Muốn hỏi nhớ ai ve mãi khóc
Haycòn thương bạn phượng nghiêng tàn
Đêm thâu giận nắng ,trăng quên ngũ
Trưa hạ chờ mây, gió hợp tan
Sao nghe lưu luyến mùa hè cũ
Chờn vờn gõ nhịp đón mùa sang


2-Yên Đổ xưa kia cũng viết hè
Chắc người cảm nhận được loài ve
Quốc kêu gợi nhớ cung đàn cũ
Phượng  rũ báo tin lưu bút hè
Tâm sự chia xa chừng luyến nhớ
Nổi niềm đưa tiển hỏi còn nghe
Người ơi cách biệt bao lần hạ
Thương bạn đôi câu nắn nót ghè.....


3-Mưa ẩn phương nào nắng quậy tung
Mà nghe xuân-hạ maĩ nhằn nhùng
Một chòm mây bạc,bay lơi lả
Đôi hạt gió mùa,ghẹo lá rung
Đông lạnh mảnh trăng chong bóng lẽ
Hè oi chim quốc goị tình chung
Nồm lên dạo khúc vòng tay lớn
So laị cung tơ kẻo phím chùng!  !  !

           GIANG ĐÀ


               

Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013

LỤC BÁT BUỒN - THƠ NHÃ MY & THƠ HOẠ

THƠ NHÃ MY VÀ CÁC BẠN









TRĂNG CÔI

Xa nhau  đã mấy mùa đông
Em thay áo cưới qua sông cùng người
Đâu đây còn vọng tiếng cười
Nghe trong hiu hắt  một đời không nhau
Anh về hồn lạnh hoang sơ
Cút côi nỗi nhớ đứng chờ hiên mưa
Đâu rồi đôi mắt người xưa
Thềm hoang lỡ hẹn gió đùa trăng côi…

TRĂNG XƯA

Em về trời đổ cơn mưa
Áo xiêm hờ hửng ướt vừa nỗi đau
Buồn nào như đã xa nhau
Giọt rơi gợi nhớ xốn xao cõi lòng
Ngàn năm một cỏi tịch không
Trăng xưa tròn khuyết  chờ mong bao ngày
…

NHÃ MY





BÀI HỌA(
nguyên vần lục bát)


LẺ LOI

Mối tình cách trở bao đông
Người đi nào biết bên sông một người
Từ lâu đã tắt nụ cười
Xa trông vời vợi cả đời mất nhau
Nhớ hoài cái thuở ban sơ
Giờ còn chi nữa ai chờ dưới mưa
Riêng tôi giữ trọn tình xưa
Trăm năm đành phải gượng đùa bóng côi...

HIỀN MAI, ngày 27/4/2013

CÔ ĐƠN 

Đêm buồn ngồi đếm giọt mưa
Gió lùa song cửa thấm vừa đớn đau
Từ ngày đây đó phụ nhau
Mây trôi sương lạnh gió lao xao lòng
Tình yêu chết giữa hư không
Để ai mòn mỏi sầu mong tháng ngày...

HIỀN MAI,ngày 27/4/2013

BÀI HỌA CỦA HẢI ĐĂNG




TRĂNG MỜ

Đã từng trải những ngày đông
Cái cò lặn lội bên sông tìm người
Bao năm chẳng thấy cò cưòi
Ngưòi xây ảo mộng phương trời nào cơ
Tham vàng bỏ ngãi ban sơ
Để ai lạnh lẽo đợi chờ gió mưa
Tìm đâu tình cũ nghĩa xưa
Hoàng hôn tím lạnh,canh khuya trăng mờ…


TRĂNG KHUYA

Đêm hè nặng hạt mây mưa
Gió mưa rả rích rơi vừa lòng đau
Ngày nào ta ở bên nhau
Giờ đây tiếng lá lao xao tím lòng
Chập chờn giấc mộng hư không
Trăng khuya một bóng đợi mong tháng ngày.


                     HẢI ĐĂNG

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

NHÃ MY VỚI NỖI BUỒN VIỄN XỨ















NHÃ MY VỚI NỖI BUỒN VIỄN XỨ
***Bài viết của TT

Người đi xa tít phương trời lạ
Bỏ lại sau lưng những nỗi niềm
Tuyết phủ sương giăng đời viễn xứ
Có giật mình trăn trở lúc thâu đêm?

    Đó là bốn câu thơ mở đầu cho một bàì thơ mang tựa đề Buồn Viễn Xứ của NM Nó được mở đầu bằng một câu hỏi bởi vì NM đã ghi chú là cảm tác từ một bài thơ cùng tựa đề của một tác giả là bạn của NM từ trong nước .Và câu hỏi này đã được tiếp tục khi ghi laị thêm hình ảnh khác từ phương trời cũ đã xa.

Có nhớ về nơi một thuở êm đềm
Nhớ khói chiều quê hương lúa chín
Nhớ người con gái vẫn chờ mong
(nhìn sang hàng xóm mùa hoa cưới
chẳng biết người xưa nay có hay)

   Rồi bài thơ được chuyển tiếp từ câu hỏi sang câu trả lời:

Tương tư vạt nắng ôm bờ ruộng
Khắc khoải ve than tiếng gọi hè
Nhà xưa dáng mẹ buồn cô lẽ
Mỏi mắt trông chờ bóng con xa

    Để  sau cùng được kết thúc bằng một tâm trạng vô cùng tha thiết:

Trăng lạc trời khuya sầu cổ độ
Mây đùn vạn nẻo cố hương xa
Đêm nay có kẻ buồn viễn xứ
Mỗi bước chân hoang mỗi nhớ nhà!

       Tôi đã thật sự xúc động khi đọc bốn câu thơ cuối cùng này. Tuy NM là nữ nhưng đã nói lên được tâm sự của một người nam và là tâm sự chung của những người xa xứ .Tôi như đã bắt gặp được chính tôi ,chàng thanh niên của ba mươi năm về trước khi có một buổi chiều nơi xứ lạ quê người nhìn'' Mây đùn viễn xứ''  mà nhớ về một chốn'' cố hương xa ''với'' bến đò xưa (cổ độ)'' với hình ảnh mẹ già chờ con ,hình ảnh người con gái chờ người yêu trong hy vọng (hay tuyệt vọng). Bài thơ ngắn nhưng gây một xúc động mãnh liệt và rất thực mà có lẽ trong tâm sự của
mỗi người ra đi ( dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào) thì tự tận nơi đáy tâm hồn vẫn tha thiết nhớ về quê hương ruột thịt đã xa  .
        Thơ NM không cầu kỳ trau chuốt mà là những tiếng lòng chân thật, bởi vì nó được phát xuất từ trái tim chân thành và ghi lại một cách tự nhiên qua tài vận dụng từ ngữ rất tài tình của tác giả. Có rất nhiều bài mang sắc thái vừa cổ vừa tân như bài này ,rất đơn giản mà sâu lắng,rất nhẹ nhàng mà mông lung, hoài cảm và trang trọng thiết tha…
Phảng phất trong rất nhiều bài, thơ NM đều không thoát ra ngoài cái đề tài buồn ,tuy không bi thảm hóa những tình tiết nhưng nỗi buồn như cứ nhẹ nhàng bao phủ tâm trạng người viết và người đọc ,NM không cố tình  mà vẫn lấy được nước mắt của những người cùng chung tâm trạng.
       Đó cũng là sự thành công của tác giả  khiến những bài thơ  của NM dễ đi vào lòng người và được nhiều người yêu thích.
       Xin chúc mừng em, một người tài tử đã đến với thi ca với một tấm lòng đam mê  và  tình cảm trong sáng chân thành.
                 Cali 20/3 /2013
                   TT( viết để cảm ơn NM khi đọc những bài thơ của NM trong Khung Kỷ Niệm)

***Nhã My chân thành cảm ơn tác giả TT và xin chia xẻ bài viết này với các bạn bè của blog NM như một sự đồng cảm quí báu ,một niềm hạnh phúc của NM khi những bài thơ của mình được đón nhận và chia xẻ. Bài được nhận qua email và theo yêu cầu đã không để tên đầy đủ của người viết (cũng là tác giả bài thơ Lời Cho Em đã đăng ngày 08/4/2013 trong blogspot của NM ) .Cảm ơn anh,một độc giả cũng là người anh ,người đồng hương, người bạn văn nghệ mà NM rất kính mến.
NM cũng cảm ơn bạn La Thụy đã chọn diễn ngâm bài thơ Buồn Viễn Xứ trong đêm ra mắt tập thơ KKN cùng tất cả các bạn bloggers khác đã viết còm đồng cảm khi bài thơ này được đăng trong blog yahoo360plus của NM.
Thân quý,
NM