CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2019

TÁC GIẢ NGUYỄN KHÔI VỚI “BÀNG GIA VỌNG TỘC” - PHẠM CAO PHONG


Kết quả hình ảnh cho ảnh bàng gia vọng tộc

Ảnh Tác giả Nguyễn Khôi


TÁC GIẢ NGUYỄN KHÔI VỚI “BÀNG GIA VỌNG TỘC”

Chủ nhật - 15/12/2019 05:41

 

(NCTG) “Cuốn sách là niềm an ủi, động viên trong một xã hội ngày càng thiếu vắng tình người”.

Người Việt vốn kiệm lời khen. Bây giờ còn tệ hơn, “khen cho mày chết”, khen dìm hàng. Nhà văn lại càng kẹo, viết cho ai một dòng đã khó, viết một quyển sách về ai thì đếm trên đầu ngón tay. Đời vốn có câu: “Văn mình, vợ người”. Vì vậy, khi cầm tập ba “Bàng gia vọng tộc” trong chùm sách bốn tập gồm đến hơn 900 trang “Cổ Pháp cố sự” của nhà văn Nguyễn Khôi tôi thấy bất ngờ.

Hơn nữa “Bàng gia vọng tộc” lại dài hơi nhất, mất công cầy cuốc nhất, dẻo chân điền giã nhất để nhà văn cho ra mắt cuốn sách dầy hơn 360 trang in. Đây là tập ba của bộ sách mà ông tập trung viết những nhân vật, sự kiện liên quan đến vùng đất Bắc Ninh, cội rễ của ông.

Đối thoại với nhà văn, tôi nhìn vào mắt ông, trong lòng tự hỏi: điều gì đã hối thúc một ông quan trước kia của chế độ, chuyên tháp tùng các quan chức Quốc hội, Chính phủ, thậm chí cho cả phó thủ tướng, gà chữ, viết hộ diễn văn cho các cụ lớn, bây giờ về già lại tuột mất “lập trường chính trị”, bỏ được giọng văn “lưỡi gỗ” của các bài lên lớp, chưa nói đã hiểu, mà nói gì cũng không ai hiểu. Quá quắt hơn, lại đi viết về một văn sĩ như Bàng Bá Lân, Phó Chủ tịch Hội Văn bút Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ngày trước vẫn bị gọi là “Ngụy”, mà là “Ngụy gộc”.

Điều gì đã xảy ra vậy?

Ở miền Bắc thời trước - quen miệng gọi là Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa dù chẳng biết hình thù cái XHCN ấy tròn hay méo - vẫn tồn tại cho đến bây giờ những cấm kỵ, những giáo điều mà ai cũng biết, đó là tài năng, văn thơ của nhà văn, nhà thơ không đo bằng tác phẩm của họ được đón nhận ra sao trong công chúng. Một xã hội ngự trị lối tư duy sơ sài, duy lý, chỉ có “ta” và “địch”, anh không đồng ý với tôi nghĩa là anh chống tôi.

Cuộc kháng chiến chống Pháp khởi đầu bằng những ngày Hà Nội khói lửa chặn giặc của Trung Đoàn Thủ Đô:

Hà Nội cháy, khói lửa ngập trời.
Hà Nội hồng ầm ầm rung,
Hà Nội vùng đứng lên! Hà Nội vùng đứng lên! Sông Hồng reo Hà Nội vùng đứng lên!
Hà Nội đẹp sao! Ôi nước Hồ Gươm xanh thắm lòng.
Bóng Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng.
Hồng Hà tràn đầy, Hồng Hà cuốn ngàn nguồn sống tràn đầy dâng.
Hà Nội đẹp sao. Những cửa đầu ô.
Tíu tít gánh gồng đây Ô Chợ Dừa, kia Ô Cầu Dền làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm.
Sống vui phố hè. Bồi hồi chàng trai, những đôi mắt nào.
Quanh co chen quanh rộn ràng Đồng Xuân, xanh tươi bát ngát Tây Hồ.
Hàng Đào ríu rít Hàng Đường ,Hàng Bạc, Hàng Gai.
Ôi tha thiết lòng ta biết bao nhiêu! Mỗi tấc đất Hà Nội đượm thắm máu hồng tươi.
Một ngày thu non sông chiến khu về, đường vang tiếng hát cuốn lòng người…
(“Người Hà Nội”, Nguyễn Đình Thi)

Một nỗi nhớ Hà Nội của Quang Dũng mang theo cuộc trường chinh mà lời thơ đẹp, hùng tráng như cuộc chiến của cả dân tộc đồng lòng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
(“Tây Tiến”)

Sau này, càng ngày càng thưa vắng và gần như biến mất khỏi văn đàn những điều tuyệt vời ấy. Phải chăng những cố vấn Trung Quốc, những chỉnh huấn, chỉnh quân, cải cách ruộng đất đã làm những văn sĩ, nhà thơ ngỡ ngàng, thất vọng, vỡ mộng?

Rất nhiều trong số họ đã từ bỏ cuộc kháng chiến, trở về thành và sau đó vào Nam sau Hiệp định Geneve. Thi sĩ đồng quê Bàng Bá Lân là một người trong đó.

Nhà thơ Bàng Bá Lân (1912-1988) - Ảnh tư liệu Nhà thơ Bàng Bá Lân (1912-1988) - Ảnh tư liệu


Nhận định về nhà thơ, nhà văn Hồ Nam đã viết: “Muốn đi tìm những âm hưởng của đồng quê Việt Nam thì không gì hơn là đọc thơ Bàng Bá Lân, thi ca của lũy tre xanh, của đồng lúa vàng, của xã hội làng xóm, của thành trì dân tộc.

Thơ Bàng Bá Lân nhiều khi có những vần hiu hắt buồn mà đẹp đến độ toàn bích…

Chỉ vài nét nhỏ, chỉ thế thôi, Bàng Bá Lân đã nói lên tất cả sự hoạt động của buổi sáng mùa gặt ở đồng quê, bằng những vần thơ đáng yêu lạ lùng, đáng yêu một cách không làm sao phân tích nổi”.

Nhận định của Hồ Nam những dòng tiếp theo càng làm chúng ta suy nghĩ hơn nữa: “Trong cuộc chiến đấu cho tình người, trong cuộc đấu tranh nối tiếp truyền thống của dân tộc, Bàng Bá Lân đã cất tiếng ngâm những vần thơ đượm tình đất nước, thắm ý quê hương và rạo rực nhân tính”.

Một thi nhân viết những dòng này có thể là một tên ác ôn?

Lửa hè đốt bụi tre vàng,
Trưa hè ru ngủ xóm làng say sưa.
Khóm chuối lá bơ phờ nghĩ ngợi
Rặng cau gầy nghển với trời cao
Trong nhà, ngoài ngõ quạnh hiu,
Đầu thềm con Vện thiu thiu giấc nằm.
Trong nhà lá tối tăm lặng lẽ,
Tiếng ngáy đều nhè nhẹ bay ra
Võng dây chậm chạp khẽ đưa
Ru hai bà cháu say sưa mộng dài...
Cháu bỗng cựa, rẫy hoài khóc đói,
Tỉnh giấc mơ, bà vội hát lên:
“Ạ ơi...” mấy tiếng. Rồi im.
Nhện tường ôm trứng nằm yên mơ màng.
Ruồi bay thong thả nhẹ nhàng
Muỗi vo ve khóc bên màn thiết tha
Hơi thở nóng luồn qua khe liếp
Làm rùng mình mấy chiếc diềm sô.
Bụi nằm lâu chán xà nhà
Nhẹ nhàng rơi phủ bàn thờ buồn thiu...
(“Tịch mịch”)

Tôi không tin, hồn thơ của ông tinh tế và chân tình quá, thơ của người không làm ác được.

Theo các nguồn tư liệu, trước Cách mạng tháng Tám, Bàng Bá Lân đã có những tác phẩm: “Tiếng thông reo” (1934), “Xưa” (hợp tác với nữ sĩ Anh Thơ, 1941), “Tiếng sáo diều” (1939 - 1945).

Vào Sài Gòn, ông dạy học và cộng tác với nhiều nhật báo, tuần san, bán nguyệt san và xuất bản thêm: “Để hiểu thơ” (1956, “Thơ Bàng Bá Lân” (1957), “Tiếng võng đưa” (1957).

Năm 1969, Bàng Bá Lân xuất bản các tập truyện: “Người vợ câm”, “Vực xoáy”, “Gàn bát sách” (phiếm luận) và tập thơ “Vào thu”. Ông cũng cho in hai quyển sách “Kỷ niệm văn, thi sĩ hiện đại” cùng một số sách Giáo khoa Việt văn cho nhiều cấp lớp. Ông còn đứng làm chủ bút tập san “Bông Lúa” vào thập niên 1950 ở Sài Gòn.

Từ 1977 đến 1984, Bàng Bá Lân viết thêm “Kỷ niệm văn, thi sĩ hiện đại” quyển 3, hồi ký “Trọn đời cho thơ” (bản thảo đã thất lạc). Ngoài ra, ông còn viết truyện ký danh nhân “Anh em Lumière, ông tổ nhiếp ảnh”, viết sách bình khảo, dịch truyện, dịch thơ, v.v…

Chúng ta cảm động về một tình yêu nhẹ nhẹ, bồi hồi:

Buổi một nàng qua dưới mái hiên
Đường mưa in một gót chân tiên
Ta nhìn theo bước đi ren rén
Bỗng cả lòng yêu náo nức liền...

Từ ấy trên đường loang loáng mưa
Tìm hoài đâu thấy gót chân xưa!
Đường mưa bao gót chân mưa bước,
Gợi mãi tình yêu buổi dại khờ!
(“Tình trong mưa”)

Những bài thơ ấy của Bàng Bá Lân đã không được nhắc tới ở miền Bắc. Những ca sĩ dám hát những bài của Đoàn Chuẩn, Phạm Duy, Trúc Phương, Trần Thiện Thanh… có thể bị tù đầy.

Tư duy “địch”, “ta” vẫn tồn tại và ngự trị ngay đến bây giờ.

Ở đây, tôi chỉ muốn lướt qua một thí dụ nhỏ, chỉ để làm nền. Một mớ hỗn độn, nhưng đủ vô lại và chẳng chút nào quyến rũ. Đó là cuốn “Biên bản chiến tranh 1, 2, 3, 4.75” của Trần Mai Hạnh.

Có nên chăng, những dòng này phải viết ra như vậy. Tư liệu từ đâu, ai kể, ai biết?

Hãy nghe Trần Mai Hạnh viết những dòng về cuộc họp Hội đồng An ninh Quốc gia phía VNCH, thời điểm sau khi vừa mất Quân khu 1, Quân khu 2, mô tả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh được lồng cho cảnh, tướng này ngủ gật, kẻ say rượu, người thả hồn vãng lai giữa cảnh nước mất, nhà tan.

“Thiệu gằn giọng, đấm tay xuống bàn làm Nguyễn Văn Toàn choàng dậy. Cặp mắt nung núc thịt trên khuôn mặt giống lính Đại Hàn của Toàn đỏ ngầu. Toàn là tên tướng bẩn và đểu giả nhất quân đội Sài Gòn. Toàn không cầm gậy chỉ huy của tướng, mà cầm ba toong, những lúc nổi điên, y quật cả lính và sĩ quan cấp tá dưới quyền. Toàn nổi tiếng là kẻ háo sắc. Vợ sĩ quan thuộc cấp và vợ lính trông ngon mắt là Toàn tìm cách xài bằng được...

Thiệu dứ dứ chiếc tẩu về phía Toàn:

- Với lực lượng hiện có trong tay, anh giữ được những đâu? (cho Tổng thống Thiệu nói giọng Bắc, chắc tác giả quên?).

Toàn vớ chiếc mũ nồi đen - mũ của lính xe tăng mà lúc ngủ gật đã để rơi xuống bàn, chụp lên đầu…”.

Tả Đặng Văn Quang: “Dưới ánh điện, tấm thân phì nộn của Quang trông kịch cỡm, tức cười. Cả Sài Gòn biết Quang, Thiệu là kẻ đồng lõa tội ác: cả hai cùng đi lính khố đỏ, cùng được quan tây cho đi học lớp võ bị ở Huế…

Quang thường ngậm xì gà Côrônat, ba hoa với tay chân “các tướng Lắm, Thi, Đính, Du bắt đi học Pholovân uôt, chớ tao đây, tao cóc cần đi học, cứ giết nhiều cộng sản là tao được thăng tướng. Bọn cộng sản khố rách áo ôm, một đồng đô la không dính túi, sức mấy mà chống lại thế giới tự do, chống lại Hoa Kỳ, Nhật Bản. Hố! Hố! Hố”. (Tôi giữ nguyên phiên âm Trần Mai Hạnh viết).

Trần Mai Hạnh về già, được ngồi “luyện chưởng” 2 năm sau song sắt, với cái án 9 năm tù do đưa cả chân lẫn đầu vào vụ Năm Cam, bị cách tuột chức vụ Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, âu cũng có thời để ngẫm. Song không phải càng già càng khôn. Vào chốn lao lý, chắc thấm cái máu anh chị làng đao búa mà luyện ra giọng văn? Hay dối trá mãi thành quen, tự chui vào mó bòng bong của chính mình, rồi không chui ra nổi?

Song điều đáng nói, quyển sách lại được Giải thưởng Văn học về văn xuôi, tiểu thuyết năm 2014. Sự vô lại, trâng tráo ấy chường ra, như nói hộ thay các nhà văn Việt Nam?

Lẽ ra không cần dông dài, nhưng vẽ vẻ đẹp của một bông sen, đôi khi phải nói chấm phá một chút về không gian sinh tồn, chốn bùn lầy, nước đọng.

Một thoáng so sánh chợt đến trong đầu tôi về những cây bút thiếu chữ nhân, què quặt trong tâm hồn, khá đúng với những dòng này của Tô Thùy Yên: “Tôi rời ghế, bước vòng ra phía sau chiếc xe G.M.C dùng làm hậu trường. Bài hát chấm dứt. “Ðể đáp lại tấm thịnh tình của quý vị...”. Một bài hát nữa trổi lên. “Let’s twist again”. Tôi nhìn trong khung trống cánh gà thấy nàng hò hét, nhún nhẩy quay cuồng, hạ thổ, vặn vẹo cần máy vi âm. Thiệt là thảm thương. Càng thảm thương hơn là nàng lại biểu diễn hết sức hăng say, quá mức lương tâm nghề nghiệp. Tôi không thể không nhớ tới một đứa bé gái chừng chín mười tuổi, con của một người mù đánh đàn ăn xin. Ðứa bé gái đó ốm yếu, dơ dáy, quần áo rách rưới, bôi hai cục son đỏ lòm nơi má như trái cà chua, người cha hom hem với mái tóc khô cháy, để dài tận ót, đánh đàn - một cây tây ban cầm sai tiếng và tróc lở - đứa bé gái tuýt lăn ra trên vỉa hè thành phố, nó cũng ưỡn ngực, ngoáy mông, làm đủ mọi thứ. Không hiểu ai dạy nó như vậy. Cha nó mù làm gì biết mà dạy nó”. (“Nơi chốn đi qua”).

“Bàng gia vọng tộc” bắt đầu bằng cảm hứng từ những vần thơ, về văn tài của một thi sĩ lẽ ra phải được biết đến trên văn đàn, gợi lại ký ức nắng buồn hơn mưa.

Con người có những câu thơ, chỉ một câu thế thôi là đủ hơn nghìn trang sách, lại bị lãng quên cố ý, để câu thơ có tên có tuổi bị gán cho bước từ ca dao tục ngữ?

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?

Thơ Bàng Bá Lân đẹp, trầm buồn, tinh tế.

Thời gian dừng bước trên đồng vắng
Lá ngập ngừng sa nhẹ lướt ao.
(“Trưa hè”)

Không lạ khi biết Bàng Bá Lân là một nhiếp ảnh gia có hạng. Những người say mê nhiếp ảnh thường có sự nhạy cảm, trực giác phong phú và khả năng đọc hình ảnh rồi lấy ánh sáng vẽ lại cảm xúc của mình. Thời nhiếp ảnh còn manh nha ở Việt Nam, thậm chí ở cả Châu Âu, ông đã giải nhì cuộc thi của Phủ Thống xứ Bắc Kỳ với bức “Phó cả thợ mộc”, giải 7 với bức “Bát cơm” năm 1938. Năm 1939, ông lại làm thủ đô Pháp ngỡ ngàng với huy chương của Tạp chí “Revue Francaise de Photographie et de Cinématographie”.

Thơ của ông kết từ mầu sắc thu về từ ống kính máy ảnh:

Núi thẳm mầu lơ, mây trắng phau
Mây trùm đỉnh núi, nước sông sâu
Nước trong xanh nhạt in đôi bóng
Một cặp thuyền nan lặng thả câu.
(“Chiều thu”)

Trời cao, mây bạc, trăng tròn
Đê than hiu quạnh, tre buồn nỉ non
Diều ai gọi gió véo von
Cành xoan đùa ánh trăng xuông dịu dàng..
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
(“Trăng quê”)

Cảnh đã xưa rồi, tình chửa xưa,
Nâng niu chuốt lại chút danh thừa.
Bao giờ đến hội tao phùng nhỉ?
Xem nước hồ soi bóng liễu mơ.

Liễu có gầy chăng? Tóc có thưa?
Chao ôi! Lòng nặng mãi thương hờ!
Kiểu nhà xưa đã thay hình mới,
Hay vẫn còn nguyên dáng cũ xưa?

Nghiên đá đền Sơn có sẫm rêu?
Kình thiên bút nọ đã lên meo?
Muốn về nâng bút dầm nghiên đá
Pha nước hồ Gươm viết thật nhiều.

Giấy lụa: Trời xanh trải phẳng ra,
Bao nhiêu tứ đẹp đợi chờ ta.
Phen này thơ múa trên Hà Nội.
Vang rộn kinh kỳ khúc lạc ca.
(“Mơ về Hà Nội”)

Tôi đã dừng lại những vần thơ của ông, tư lự nghĩ rằng không biết thơ Nguyễn Bính và thơ Bàng Bá Lân, thơ ai cảm động hơn:

Đường đi ra tỉnh xa xôi
Ai ra mà gửi mấy lời thơ quê
Chuồng sau xao xác gà về
Mưa còn sùi sụt bên hè chưa thôi
Ai lau ráo lệ cho trời
Ai lau ráo lệ cho người… tương tư!

Bài thơ này sẽ quá tiếc nếu mất đi trong văn học:

Mặt trời đỏ thẫm sau tre,
Tiếng trâu nghé ọ trên đê gọi đàn.
Buồn thiu trong mảnh ao làng,
Bè rau rút ngủ lá vàng héo hon.

Ngừng viết, nhìn lên: Mắt rạng ngời
Lắng nghe nhè nhẹ bước chân ai.
Đôi tà áo lụa bay trong nắng
Tha thướt mình tơ lướt cửa ngoài.

Em đẹp làm sao! Vóc dáng thon,
Đôi vai thuôn mịn, cánh tay tròn.
Lưng mềm não nuột đường tơ óng,
Uyển chuyển ngồi, đi, dáng trẻ son.

Ai dệt nên tơ lụa nõn nà,
Nhẹ nhàng, êm dịu, mát như da.
Ai khâu chiếc áo vừa xinh quá
Phô hết đường cong vóc ngọc ngà.

Ta nhớ chiều kia dưới nắng trăng
Cúi dâng tà áo nhẹ tay cầm
Mơ màng ngỡ nắm tơ trăng biếc,
Áo lụa ngời trăng đẹp mỹ nhân.

Áo lụa còn đây, người ở đâu?
Buồn thương vuốt lại nếp tơ nhầu.
Chút thừa hương phấn còn lưu luyến,
Gợi mãi tình xưa để nhớ nhau!

Tìm mãi trong tơ vóc dáng thon
Đôi tay thuôn mịn, cánh tay tròn
Lưng mềm não nuột đường tơ óng...
Ngắn ngủi duyên hờ... vạt áo con!
(“Áo lụa”)
Thủ bút của nhà thơ Bàng Bá Lân Thủ bút của nhà thơ Bàng Bá Lân


Cuốn sách của Nguyễn Khôi làm đầy đủ như một công trình khảo cứu. Ông tìm những nhận định của các nhà phê bình, các bạn thơ, những trang báo cũ viết về nhà thơ tập hợp lại để nếu cần một chân dung văn học đa chiều về một con người Bàng Bá Lân, thì là đây.

Hơn nữa ông làm công việc như một người cùng dòng máu với nhà thơ. Ông dành những trang sau viết về Bàng Sĩ Nguyên, Bàng Ái Thơ.

Nhà văn Nguyễn Khôi dũng cảm nhận xét: “Thơ Bàng Sĩ Nguyên còn ở tầm thấp, thua xa Quang Dũng, Trần Mai Ninh. Chưa có bài thơ kháng chiến nào đạt tầm cỡ để nhớ. Phải đến “Vợ chồng đi Xuân” - Việt Bắc, 1956. Đó là lối đi của Tô Hoài (văn), Cẩm Giang (thơ). Tuy không đặc sắc, vượt trội. Nhưng phải nói là hay và đẹp vào thời điểm lúc ấy”.

Tôi sẽ không đi sâu vào thơ ông mà muốn đến gần, chạm vào thơ của Bàng Ái Thơ. Chị là thi nhân đích thực và là họa sĩ.

Thơ của Bàng Ái Thơ có chiều sâu tinh tế và đau thắt, khó nhà thơ nào có rung động triết học, giầu hình ảnh và rỉ máu, đẹp mà quặn lòng như thế:

Anh nói bằng ngôn ngữ nào?
Chuyện là như thế?
Một phần anh cất giữ
Một phần dành để cho em
Em không muốn chơi vơi
Một mình em
Với con thuyền độc mộc
Ngôn ngữ nào của anh
Để thuyền em vào bến
Anh xuống thuyền
Hay em bước lên
Anh nói bằng ngôn ngữ nào?
Em lặng lẽ chia tay
Với phần nửa tình anh để lại
Chia tay - không có nghĩa là mãi mãi
Ngôn ngữ nào để níu lại tình em
Một nửa ngôn ngữ
Một nửa anh về
Tình em buồn hoang dại
Em khóc phần không thuộc về em.
(“Ngôn ngữ chia đôi”)

Người con gái khóc “phần không thuộc về em” mà lại chính là khóc cho cơ thể, hồn xác chính mình. Phần hồn và xác ấy đã chót nhập vào người tình, một nửa không tách rời, song đau đớn vì có một hội nhập hoàn hảo, không tồn tại cuộc hóa thân trọn vẹn, vẫn có vết hằn, gợn, đau.

Người bạn tình có trao gửi phần đời đã dứt áo ra đi, như dấu hiệu cảnh báo ngay ngày đầu tiên đã có không lành, chàng trai đắn đo xuống thuyền đón người tình hay đợi cô bước lên.

Khác nào:

Người đi, một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ.
(“Những giọt lệ”, Hàn Mặc Tử)

mà câu chữ còn tài hoa hơn, lung linh hơn.

Chị có những câu thơ:

Những chiếc lá vàng thoi thóp
Góc tường ứa đầy bóng đêm
… Nghe con chim góa bụa
Về đậu trên cành mồ côi.

Hay:

Mưa gió mòn tường phơi gạch đỏ
Đường mòn bước lệch chân thấp cao.

Nữ thi sĩ đã tạo được hồn phách riêng mà nỗi đau cuộc đời qua văn tài của chị được vẽ bằng những vết quét xước rất mạnh, rất sâu, đơn giản như ký họa nhưng đủ gợi cả ba chiều thoi thóp, chân thấp chân cao, góa bụa của một xã hội mất hướng.

“Bàng gia vọng tộc” đi tìm nguồn gốc của họ Bàng và những xuất xứ chìm nổi từ đời Lý dẫn đến việc thay họ đổi tên.

Những chính biến lịch sử, những cuộc tàn sát đã làm cái nôi Kinh Bắc của nhà văn tan hoang. Song những con người dù tha hương, tản mát khắp bốn bể, chân trời không còn được mang dòng họ Lý vẫn giữ được cốt cách, tài hoa qua thiên kỷ.

Bạn đọc chắc sẽ tìm thấy những thú vị về những hình ảnh, những câu chuyện lịch sử trong cuốn sách. Ở đây, tôi chỉ lướt qua ba cá nhân nổi trội nhất trong làng thơ Việt trong gia đình thi sĩ Bàng Bá Lân.

Cuốn sách là niềm an ủi, động viên trong một xã hội ngày càng thiếu vắng tình người.


PHẠM CAO PHONG, từ Paris




Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2019

NÓ VÀ TÔI - TRUYỆN NGẰN THỦY ĐIỀN


Tran Van Mau
10:15, 14 thg 12, 2019 (21 giờ trước)
tới tôi

Chào chị
Xin gởi chị bài truyện ngắn nhé
Thủy Điền







NÓ VÀ TÔI


   Trời mùa hạ, tháng bảy, nắng gắt, oi bức, cái nắng lạ lùng hơn cái nắng của nhiểu năm trước, kéo dài gần bốn tuần nay mà không dứt. Tôi lã người nằm dài trên chiếc băng đá, còn nó nằm la liệt bên chân với những hơi thở mệt nhọc như người sắp chết. Tôi muốn tâm sự cùng nó, nhưng nói chẳng ra lời. Riêng nó cũng chẳng muốn nghe và dẫu có nghe thì cũng hiểu được gì đâu nên cả hai cùng ₫ành số phận nằm đợi chờ cho đến khi trời sắp ngã hoàng hôn.


   Nhớ lại năm mới vừa sang Đức, thuở ấy tôi vừa tròn hai mươi hai tuổi, bước đầu chính phủ Đức nuôi ăn, cho đi học tiếng Đức cơ bản một năm để làm hành trang hội nhập vào cuộc sống mới như: Đi học tiếp hay đến những công xưỡng làm việc. Khi học tiếng Đức xong, nằm nhà chờ đợi những luồng khí mới, rảnh rổi tôi lái chiếc đạp ngang qua những Trang trại và những cánh đồng thôn dã để xem cảnh sinh hoạt  của những người nông dân Đức và nông dân ta giống và khác nhau như thế nào. Trên đoạn đường hưởng ngoại tình cờ tôi gặp anh nông dân cày ruộng đang nghỉ giải lao. Tôi mon men đến làm quen và hỏi han đôi điều. Anh ta vui vẻ mời tôi về Trang trại và chỉ dẫn các thứ. Chân ướt, chân ráo nhìn thấy đại khái cung cách làm việc và tổ chức của họ, làm cho tôi mê hoặc hồi nào không hay. Bởi tôi là người xuất thân từ mái trường Nông nghiệp dù ít, dù nhiều những công việc nầy tôi đã từng học và trải qua.


   Hai tuần sau, đúng hẹn, tôi trở lại thăm người bạn vừa mới quen lần nữa. Lần nầy anh ta và cả gia đình tỏ ra rất thân thiện hơn lần trước. Tôi nghĩ, có lẽ họ lần đầu tiên mới quen được một người bạn Châu á. Thú thật hồi ấy người Đức quí anh em chúng tôi lắm vì số lượng người tị nạn quá ít ỏi, khoảng chừng hai chục ngàn người chia rải rác trên toàn nước Đức. Còn so với bây giờ thì chẳng có ai quí mình nữa cả, bởi hiện tại người ngoại quốc sống tràn đầy đi đâu cũng thấy cả. Thậm chí có nhiều tỉnh, thành người ngoại quốc nhiều hơn người Đức, điển hình như khu phố tôi đang sống hiện nay. Sau khi trò chuyện, thăm hỏi, uống ly nước táo xong. Bố anh ta hỏi tôi ? Anh có thích làm việc ở đây với chúng tôi không, hiện tại chúng tôi cũng đang cần một người giúp việc. Chưa biết mình phải làm gì ở đây và lương lẹo bao nhiêu tôi chẳng chần chừ và trả lời ngay dạ, thích lắm chứ. Thế thì giữa tôi và ông đã có một hợp đồng miệng và chỉ còn chờ tôi sắp xếp công việc nhà và hẹn ngày đến làm việc nữa thôi.


   Trên đường về vừa lái chiếc xe đạp, gữa trời gió mát lòng tôi hớn hở như  mình đang trúng số. Nhưng chợt nghĩ lại sao mình quá vội vàng. Sao không mở miệng hỏi tường tận hết vấn đề như : Làm gì và lương bổng ra sao. Nếu mai nầy công việc không phù hợp, tiền nông ít ỏi rồi bỏ việc nghỉ ngang, phật lòng cả đôi bên thì chết mất. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng, tôi tự đoán hai cha con ông ta chắc là người không đến nổi. Thật may, làm việc vừa tròn một tháng tôi nhận được số tiền lương tương ứng với sức lao động của mình. Và, từ đó mọi việc như suông sẻ và tôi chính thức là một Công nhân của trang trại nầy cho đến mười tám năm sau.


   Ngày qua ngày làm việc với khả năng và lòng chân thành, gia đình ông xem tôi như con cháu trong nhà. Họ không còn phân biệt giữ chủ và tớ nữa, cứ mỗi sáng sớm đúng giờ là mạnh ai nấy vào công việc của mình cho đến khi tan sở. Thời gian quen biết cũng như  làm viêc chung được năm năm thì ông bắt đầu ngã bệnh nặng, nên ông không còn làm việc được nữa, mọi chuyện lớn nhỏ kể từ đó chỉ còn có tôi và người con trai duy nhất của ông lo liệu mả thôi.


   Mùa hè năm  2015 trong lúc tôi đang nghỉ phép thường niên hai tuần. Bỗng dưng một sáng sớm có người mang thư đến nhà tôi. Bốc ra thì tin báo ông đã qua đời. Gia đình ông mời tôi đến nhà nghĩa trang của tỉnh như bao người khác để tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nghe tin thì lòng thấy bùi ngùi, nhưng sự việc nầy tôi chẳng có gì ngạc nhiên bởi hàng ngày tôi ̣đã kề cận bên ông và biết trước mọi tình hống sẽ xãy ra. Thông thường thì họ điện thoại báo tin cho tôi, nhưng vì thấy tôi đang nghỉ phép nên họ tế nhị bằng cách là gởi thư. Như mọi người cũng nên hiểu ở xứ tây hơi khác ở xứ ta ở chỗ là khi một gia đình có người qua đời ngoài thân tộc họ quí ai thì họ mới mời đến để chia buồn chớ không như xứ ta hởi nghe người quen chểt là tự đến để an ủi hay phụ giúp một đám tang cho hoàn chĩnh. Đó là nền văn hoá riêng biệt của mỗi dân tộc.


   Đúng đến ngày chôn cất ông tất cả những thành viên trong gia đình và những người thân thiết đều tập trung nơi nghĩa trang để đưa tiễn ông. Thủ tục rất dài dòng từ sáng sớm cho gần đến bốn giờ chiều mới xong. Trong lúc tang gia bối rội ngoài nghĩa trang, thì nơi trang trại kẻ xắu đã lợi dụng cơ hội vào nhà thâu tóm hết tất cả những đồ vật qúi báu. Bởi, khi đi khỏi, trang trại bỏ trống không một ai canh giữ, cứ ngỡ như xưa nay  xứ nầy chẳng một ai phá phách  hay cắp trộm của ai.


   Sau khi chôn cất ông xong, trở về nhà thì thằng Bern con trai của ông đã phát hiện cánh cửa cái bị khui vỡ và đồ đạc bị mất tất cả. Cơ quan Cảnh sát đến lập biên bản và tiến hành điều tra. Chờ đúng ba tháng sau mọi việc điều tra chẳng có kết quả gì và cuối cùng thì cơ quan Bảo hiểm phải nhẩy vào đền bù cho gia đình ông một cách trọn vẹn.


   Để tránh tình trạng dẩm lên vết cũ, lần nầy hắn tổ chức một lễ lớn mừng thọ cho mẹ hắn vừa tròn tám mươi tuổi tại một nhà hàng lớn ngoài thành phố. Hắn mời cả thảy một trăm hai chục người, trong số những người nầy chỉ thiếu một mình tôi. Thoạt đầu nghe hắn kể danh sách những người được mời tôi cũng hơi buồn. Chẳng lẽ mình không mua tặng nổi bà cụ một bó hoa hay sao. Nhưng không sao, mời thì mình đi, không mời thì thôi. Ai dè ! Ngày hôm sau hắn phân công cho tôi làm anh gác gia trọn ngày ấy. Tôi cười, và nhận lời. Kệ, miển sao cho bà cụ vui là được rồi. Hắn bảo tôi ngày Chúa nhật phải có mặt tại trang trại đúng chín giờ sáng. Đúng hẹn tôi có mặt tại trang trại trước mười phút. Trước khi đến trang trại tôi nghĩ hắn đã lo liệu phần ăn ngày ấy cho tôi, nên từ nhà tôi chẳng mang thứ gì theo để ăn trong ngày và con chó cũng thế. Thường thì khi đi đâu hắn hay để một thau xương và mấy ổ bánh mì cũ, nhưng hôm nay không biết sao hắn cũng quên luôn.


   Tôi cả một ngày làm quản gia, con chó một ngày canh chừng cửa chẳng có một miếng gì vào bụng, hai thằng nằm co ro bên ghế đá mà đau xót cả lòng.


Ngoài kia thiên hạ no say
Chốn đây tôi- nó trò thầy đói ngoe
Lần sau quí cụ phải dè......
Thau xương, tổ bánh, chén chè dành riêng
Không may nhiều nỗi ưu phiền
Của còn, người- thú qui tiên về trởi.



THUỶ  ĐIỀN
23-07-2019

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2019

VÌ SAO TÔI YÊU ANH - THƠ LỆ HOA TRẦN


Tran Van Mau
00:00 (7 giờ trước)
tới tôi

Chào chị Nhã My
Em gởi tặng trang nhà bài thơ mới nhé
Lệ Hoa Trần









VÌ SAO TÔI YÊU ANH


Trong ánh mắt một lần ta gặp gỡ
Đã vô tình tỏa sáng trái tim tôi
Phút đầu tiên tôi bỗng chợt bồi hồi
Đêm thao thức trở trăn rồi trăn trở


Lời anh nói bên tai tôi ngày đó
Nghe u buồn dịu ngọt biết bao nhiêu
Càng gần anh tôi càng thấy thương nhiều
Lòng chân thật đã từ từ hiện hữu


Trong khoảnh khắc lòng tôi luôn tự nhũ
Có vội vàng trước hai chữ đúng, sai
Thời gian trôi như nước chảy sông dài
Anh vẫn mãi như ngày đầu đến hẹn


Rồi từ đó tôi không còn bẽn lẽn
Trao ân tình trao cả những niềm tin.

LỆ HOA TRẦN

15-12-2019




Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2019

NHỚ NGHÈO - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI









NHỚ NGHÈO

Nhánh củi đưa ngọn lửa nung
Cái ơ nồi đất thơm lừng cá kho
Chiếc đủa xoây trở trong ơ
Mùi thơm hành tỏi trộn vừa mùi quê
Có hương tóc mẹ gội tro
Sau lưng áo ướt …tuổi thơ quấn hồn
Cái thời mùi mẩn nghèo trơn
Chan canh một…lùa miếng cơm mặn mòi
Bên nây ngồi nhớ một thời
Buồn so đôi đủa…buồn ơi! Nhớ nghèo…!

HUỲNH TÂM HOÀI


Thứ Tư, 11 tháng 12, 2019

TÌNH CHIỀU BỆNH VIỆN! GIỜ ĐI VỀ ! - THƠ LÊ ĐĂNG MÀNH

*Thi huynh Lê Đăng Mành đang nằm viện nhưng có gửi mấy bài thơ cho blog cuả NM .
NM chúc anh mau lành bịnh để  sống vui  với gia đình  và  vui xướng họa  với bạn bè văn nghệ!
 ·






TÌNH CHIỀU BỆNH VIỆN!

Xa trông mây
ngẩn ngơ nhìn,
Gió trầm ngâm đứng
mạch tim rã rời.
Toa đời bụi cạp chơi vơi,
Chiều thoi thóp thở
cầm hơi...đợi người!

Thềm tim chưa héo - môi cười
Máu tê tái máu
da đồi mồi ăn.
Trăng nghiêng khều trộm
bâng khuâng,
Thơ trầy trật vận
gánh vần biệt tăm.

Chiều quất
nắng phóc lên ngàn,
Bệnh quất mình luỵ
Xó trần buồn thiu .
Quen ngồi lặt khói đìu hiu,
Viện cô tịch bệnh
tình chiêu dương tà!

LÊ ĐĂNG MÀNH



GIỜ ĐI VỀ !

Một góc giường - tay túm vành trăng gió
Lặng lẽ nằm - chẳng cầu nguyện mà chi
Cầm hơi thở vào ra không khởi niệm
Hoa nở rồi tàn… mặc cuộc đến đi…

Gọi tâm về khi đang còn hơi thở
Miên mật nuôi bằng hoa cỏ từ bi
Dẫu trăng tắt còn đây đài bát nhã
Đi, ở, đến…về - lấp lánh tuệ tri

Giờ hấp hối - như xưa Mẹ chuyển dạ
Tử sanh vô cùng hãy cứ rong chơi
Vũ trụ luân hồi có chi xa lạ
Một chốc im hơi như lá vàng rơi.

Phút chia lìa là khắc sắp đoàn tụ
Rời cõi tạm để về chốn quê xưa
Buông bỏ hết nuối gì mà do dự
Mặc ghét ganh đố kỵ với hơn thua

Kìa bình minh rực rỡ - chiều tàn tạ!
Chỉ Ánh tâm là ngọn đuốc nhiệm huyền
Hãy lặng yên bên vực không vọng động
Vầng trăng xưa bừng vỡ tỏa uyên nguyên

Lòng ung dung sẽ cặp bờ an lạc
Bè quay quắt thường ghé bến dật dờ
Hơi cuối cùng hãy tự mình hộ niệm
Bước ra về - đẹp! như gặp vần thơ


NHƯ THỊ KẺ VĂN


Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019

CHÙM THƠ HUỲNH TÂM HOÀI


Hoang Lam
10:23, Th 3, 3 thg 12 (6 ngày trước)
tới tôi








KHÔNG ĐỀ



Có một lúc…chiếc thuyền tôi chao đão
Em dịu dàng nâng dậy chiếc thuyền nghiêng
Cuối đời tuởng như không còn hạnh phúc
Bỗng một ngày sánh được mối lương duyên
Tình yêu em như ngàn cơn gió đẩy
Đưa đời anh qua những lúc ưu phiền
Dẫu chẳng được dài hơi trên trần thế
Còn bao nhiêu ta chia xớt hết nỗi niềm
Nầy em hởi người yêu dầu tuổi xế
Sao nồng nàn như tuổi mới biết yêu


NỐI TÌNH



Yêu anh em chẳng ngại ngần
Qua anh em vượt mấy tầng mây cao
Xá gì một miếng trầu cau
Trái tim em nở một câu sắt lòng
Đã yêu thì đến nhau mong
Một câu ước nguyện tình nồng có đôi
Cái thời tuổi trẻ qua rồi
Nối nhau kết nghĩa trao đời bên nhau
Thì xin nguyện lấy một câu
Từ nay mình sẽ yêu nhau trọn đời
Trăng còn treo sáng trên trời
Thì chung thệ ước…giữ lời thủy chung


KHÚC MÊ CUNG

 Em từ trang ảo bước ra
Hóa thân nằm tựa …như là chiêm bao
Chạm em vóc ngọc, dáng hoa
Tay anh run rẩy chạm da thịt người
Gió lên…ngoài cửa lá rơi
Anh ôm em giữa…khung đời gió mưa
Giờ hương nồng chạm, môi đưa
Em con sông nhỏ kịp khua nước về
Thuyền anh mấy nhịp chèo mê
Tình ơi… nguyệt khúc cận kề ái ân…

 HUỲNH TÂM HOÀI