THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 59 :
LAN, LANG
Inline image
Lan mấy đóa lạc loài sơn dã,
Uổng mùi hương vương giả lắm thay !
Đó là hai câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc, mà Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mượn ý câu nói của Đức Khổng Phu Tử khen ngợi hoa lan là : "Lan sanh ư u cốc, vi vương già chi hương 蘭生於幽谷為王者之香". Có nghĩa : "Hoa lan tuy sanh trưởng trong hốc núi thâm u, nhưng lại có cái mùi thơm cao qúy của bậc vương giả".
Inline image
Theo sách Khổng Tử Gia Ngữ 孔子家語 có câu :" Dữ thiện nhân cư, như nhập chi lan chi thất, cữu nhi bất văn kỳ hương, tức dữ chi hóa hĩ 與善人居,如入芝蘭之室,久而不聞其香,即與之化矣". Có nghĩa : "Ở chung với người hiền, như vào trong căn phòng có trồng hoa chi lan vậy, lâu dần không còn thấy mùi thơm nữa, vì ta đã hòa vào mùi thơm đó rồi." Từ câu nói nầy của Khổng Tử nên trong tiếng Việt ta mới có câu "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", còn trong văn học cổ thì có từ CHI LAN để chỉ người tốt hoặc bạn tốt, như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái có câu :
Thức nồng nhuộm vẻ CHI LAN,
Thông minh học vấn kiêm toàn cả hai.
CHI LAN còn dùng để chỉ con hiền cháu qúy. Theo như Tấn Thư - Tạ An Truyện 晋書·謝安傳 Có câu : Tỉ như CHI LAN ngọc thụ, dục sử kỳ sinh vu đình giai nhĩ 譬如芝蘭玉樹,欲使其生于庭階耳。Có nghĩa : Tỉ như cỏ Chi cỏ Lan và cây ngọc qúy gía được trồng trong sân trước thềm nhà vậy". Trong truyện Nôm Lâm Tuyền Kỳ Ngộ tả lại mối tình giữa Bạch Viên và Tôn Các có câu :
Tuổi già thỏa thuở lòng mong mõi,
Lần ước CHI LAN dõi phúc trời.
Còn trong truyện thơ Nôm khuyết danh Nữ Tú Tài thì đão ngược lại gọi là LAN CHI để chỉ người bạn tốt :
Rõ ràng còn có giấu gì,
Anh em là nghĩa LAN CHI bạn vàng
Inline image
Bạn Vàng là KIM LAN. Theo Hệ Từ thượng của kinh Chu Dịch có câu :"Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn KIM; Đồng tâm chi ngôn, kỳ khứu như LAN 二人同心,其利斷金;同心之言,其臭如蘭。Có nghĩa : Hai người cùng đồng lòng thì cái lợi (sự bén nhọn) có thể làm đứt KIM loại; Những lời nói đồng lòng thì có mùi thơm như hoa Lan. Nên … Kết nghĩa KIM LAN 結義金蘭 là hai người bạn thề cùng đồng tâm hiệp lực, sống chết có nhau như anh em ruột thịt. Ta có thành ngữ KIM LAN Chi Giao 金蘭之交 để nói về tình nghĩa bạn bè thân thiết bền vững, ý hợp tâm đầu, như trong truyện Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng :
Ta thì trọn vẹn trước sau;
Đã KIM LAN lại trần châu càng bền.
Cũng trong truyện thơ trên, tình bạn cao qúy còn được gọi là LAN BẰNG :
LAN BẰNG có nghĩa còn khơi diễn,
Vùng vẫy xin cho phỉ chí kình.
Inline image
Công Nguyên năm 353, nhằm năm Vĩnh Hòa thứ 9 đời Đông Tấn, ngày mùng 3 tháng 3 Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi, Tạ An... gồm hơn 40 người bạn họp mặt ở LAN ĐÌNH thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang. Trong lúc rượu ngà ngà say nhà thư pháp nổi tiếng đời Đông Tấn là Vương Hi Chi đã làm và viết nên bài tự Lan Đình bất hủ của đất Cối Kê. Bài văn vừa nổi tiếng về văn hay vừa nổi tiếng về thư pháp, như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của nhà vua Lê Thánh Tông của ta có câu :
Ngày này phong cảnh hèn tri kỷ,
Lọ thốt LAN ĐÌNH lại thẩm sơ.
Còn trong Truyện Kiều, khi bắt Thúy Kiều đi tu và phải chép kinh ở Quan Âm Các, lúc Hoạn Thư đến xem kinh, đã...
Khen rằng :" Bút pháp đã tinh,
So vào với Thiếp LAN ĐÌNH nào thua !
Inline image
Còn để tôn xưng con cháu người khác, gọi một cách lịch sự là QUẾ TỬ LAN TÔN 桂子蘭孫 như trong Tử Tiêu Ký của Thang Hiển Tổ đời Minh : Tác phu thê thiên trường địa viễn, hoàn nguyện thủ quế tử lan tôn mãn ngọc điền 作夫妻天長地遠,還願取桂子蘭孫滿玉田. Có nghĩa : Làm vợ chồng với nhau là trời dài đất xa (là chuyện lâu dài), chỉ ước có được con như quế cháu như lan trong ruộng ngọc nhà (con hiền cháu thảo trong dòng họ nhà ta). Sau dùng rộng ra để chỉ chung : Con hiền cháu thảo, con đẹp cháu xinh, con qúy cháu ngoan... Như trong truyện Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng có câu :
Đôi sinh QUẾ TỬ LAN TÔN,
Một mai phục dưỡng gia môn đời đời.
Sau Quế Tử Lan Tôn, ta còn có QUẾ TRẠO LAN TƯƠNG 桂棹蘭漿, có nghĩa là : Cây chèo bằng gỗ quế và cây dầm bằng gỗ lan. Có xuất xứ từ bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Đông Pha đời Tống, trong đó có câu hát ..." Quế trạo hề lan tương, kích không minh hề tố lưu quang. Diễu diễu hề dư hoài, vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương 桂棹兮兰桨,击空明兮溯流光。渺渺兮予怀,望美人兮天一方 mà cụ Phan Kế Bính đã dịch rất hay là :
Thung thăng thuyền quế chèo lan,
Theo vừng trăng tỏ vượt làn nước trong.
Nhớ ai cánh cánh bên lòng,
Nhớ người quân tử ngóng trông bên trời.
Trong Mai Đình Mộng Ký của Nguyễn Huy Hổ đời Nguyễn thì có câu :
Này này QUẾ TRẠO LAN TƯƠNG,
Ví đua Xích Bích chi nhường Đông Pha.
Inline imageInline image
Trong bài hát nói Vịnh Tiền Xích Bích Phú của cụ Nguyễn Công Trứ cũng có trích bài hát trong bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Đông Pha như sau :
...Ông Tô tử qua chơi Xích Bích,
Một con thuyền với một túi thơ.
Gió hiu hiu mặt nước như tờ,
Trăng chếch chếch đầu non mới ló.
Thuyền một lá xông ngang gành bạch lộ,
Buông chèo hoa len lỏi chốn sơn cương.
Ca rằng:
Quế trạo hề lan tương, 桂棹兮蘭槳,
Kích không minh hề tố lưu quang. 擊空明兮溯流光.
Diểu diểu hề dư hoài, 渺渺兮予懷,
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương. 望美人兮天一方.
Người ỷ ca réo rắt khúc cung thương,
Tiếng tiêu lẫn tiếng ca vang đáy nước....
Còn LAN THẤT 蘭室 là Chi Lan Chi Thất 芝蘭之室,như phần trên đã nói đến, có nghĩa là "Căn phòng hay căn nhà thơm mùi hoa chi lan"dùng để chỉ gia đình lễ nghi, có đạo đức tốt. Cũng trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :
Dứt lời Lưu mới thưa rằng,
Từ vào LAN THẤT xem bằng long môn.
Lan Thất còn được dịch là NHÀ LAN để chỉ chỗ ở thơm tho của qúi bà qúy cô ngày xưa, như trong Truyện Kiều, khi cả nhà Vương Viên Ngoại đi mừng sinh nhật ngoại gia, chỉ để có một mình Thuý Kiều ở lại trông nhà, nên nàng mới thừa cơ :
NHÀ LAN thanh vắng một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay ...
Inline image
Còn trong truyện Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng thì gọi KIM LAN là LAN VÀNG :
Nhẽ đâu trong nghĩa LAN VÀNG,
Trót đà gả bán hợp hoan giao thề.
Về chữ LANG (có G), Lang 郎 là Chàng, từ dùng để gọi những nam thanh niên còn trẻ nghe cho lịch sự, tương đương với từ NƯƠNG 娘 là Nàng của phái nữ. LANG 郎 còn là từ để gọi người yêu, người tình, người hôn phối... một cách âu yếm thân mật, như Tình Lang 情郎 (người tình), Phu Lang 夫郎 (chồng), Lang Quân 郎君 (chồng)... Như Thúy Kiều đã gọi Kim Trọng là Kim Lang 金郎 là Chàng Kim. Khi đã nhờ Thúy Vân thay mình để trả nghĩa cho Kim Trọng xong rồi thì Thúy Kiều đã kêu lên :
Ôi KIM LANG, hỡi KIM LANG,
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !
Cũng đồng thời là LANG, là CHÀNG, nhưng KIM LANG thì gọi một cách trìu mến thiết tha như đã nêu trên. Chỉ tội nghiệp cho CHÀNG THÚC SINH, khi được gọi là THÚC LANG thì mặt mày xanh lè tái nhợt như khi Thúy Kiều báo ân báo oán :
Cho gươm mời đến THÚC LANG,
Mặt như chàm đổ người dường giẻ run.
Inline image
... và khi đã báo ân xong rồi, nàng còn bồi thêm một câu hăm dọa nữa :
Vợ CHÀNG quỷ quái tinh ma,
Phen nầy kẻ cắp bà già gặp nhau.
Tội nghiệp cho Chàng Thúc, khi đã lui ra rồi mà lòng vẫn còn nơm nớp thấp thỏm :
Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,
Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai !
Cuối cùng ta có CHU LANG 周郎 tức CHU DU 周瑜, còn gọi là CHU CÔNG CẨN 周公瑾, là người văn võ song toàn; 28 tuổi đã làm Đô Đốc của Đông Ngô. Nổi tiếng với trận chiến Xích Bích, lấy ít thắng nhiều đánh tan 83 vạn quân Tào Tháo, hình thành cuộc diện Tam Quốc lúc bấy giờ. Ngoài tài cầm binh và thao lược, Chu Du còn là một nghệ sĩ tài hoa lỗi lạc, giỏi cả cầm kỳ thi họa, nhất là về đàn tranh. Thường có câu : " Khúc hữu ngộ, Chu lang cố 曲有誤,周郎顧". Có nghĩa : Nếu khúc đàn có sai sót, thì chàng Chu sẽ chiếu cố, chỉ điểm cho ngay ! Xin được nhắc lại bài Ngũ ngôn Tứ tuyệt THÍNH TRANH 聽箏 nổi tiếng của Lý Đoan 李端 đời Đường sau đây :
鳴箏金粟柱 , Minh tranh kim túc trụ,
素手玉房前. Tố thủ ngọc phòng tiền.
欲得周郎顧 , Dục đắc Chu Lang cố,
時時誤拂絃 .. Thời thời ngộ phất huyền.
Diễn nôm :
Thánh thót đùa phím ngọc
Tay ngà nắn cung mơ
Muốn chàng Chu chiếu cố
Thường để lạc phím tơ
Lục bát :
Trục vàng phím ngọc vấn vương
Tay ngà nắn nót cung thương mơ màng
Muốn chàng chiếu cố ngó ngàng
Nàng thường để lạc phím đàn cung tơ !
Inline image
Thường thì đàn, ai cũng muốn đàn cho hay. Nhưng ở đây thì ngược lại, nàng cố ý đàn dở, đàn sai để được chàng dòm ngó đến. Cái hay của bài thơ là ở chỗ nầy, nêu bật được cái tâm lý rất thực tế, rất nhân bản của phái nữ khi muốn được người mình yêu mến để ý đến. Nàng đã không màng đến thể diện, tự ái nữa, không cần phải đàn hay để được khen, mà chỉ muốn đàn sai để được chàng đến chiếu cố, thân cận và chỉ điểm cho. Nhõng nhẽo dễ yêu đến thế là cùng ! Lý Đoan đã rất tâm lý khi làm bài thơ nầy. Trong bài hát nói HỎI GIÓ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, phần hai câu thơ chữ Hán là :
Thử thị Đà Giang, phi Xích Bích, 此是沱江非赤壁,
Dã vô Gia Cát dữ CHU LANG. 也無諸葛與周郎。
Có nghĩa :
Đây vốn Đà Giang không Xích Bích,
Cũng không Gia Cát chẳng CHU LANG.
Ngoài ra trong văn học dân gian cũng như văn học cổ cũng thường nhắc đến NGƯU LANG CHỨC NỮ, tức Ả CHỨC CHÀNG NGƯU, mời xem lại Thành ngữ Điển tích 39 : CHÀNG, sẽ rõ.
Xin được kết thúc bài LAN, LANG ở đây.
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020
THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 59 :
LAN, LANG
Inline image
Lan mấy đóa lạc loài sơn dã,
Uổng mùi hương vương giả lắm thay !
Đó là hai câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc, mà Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mượn ý câu nói của Đức Khổng Phu Tử khen ngợi hoa lan là : "Lan sanh ư u cốc, vi vương già chi hương 蘭生於幽谷為王者之香". Có nghĩa : "Hoa lan tuy sanh trưởng trong hốc núi thâm u, nhưng lại có cái mùi thơm cao qúy của bậc vương giả".
Inline image
Theo sách Khổng Tử Gia Ngữ 孔子家語 có câu :" Dữ thiện nhân cư, như nhập chi lan chi thất, cữu nhi bất văn kỳ hương, tức dữ chi hóa hĩ 與善人居,如入芝蘭之室,久而不聞其香,即與之化矣". Có nghĩa : "Ở chung với người hiền, như vào trong căn phòng có trồng hoa chi lan vậy, lâu dần không còn thấy mùi thơm nữa, vì ta đã hòa vào mùi thơm đó rồi." Từ câu nói nầy của Khổng Tử nên trong tiếng Việt ta mới có câu "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", còn trong văn học cổ thì có từ CHI LAN để chỉ người tốt hoặc bạn tốt, như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái có câu :
Thức nồng nhuộm vẻ CHI LAN,
Thông minh học vấn kiêm toàn cả hai.
CHI LAN còn dùng để chỉ con hiền cháu qúy. Theo như Tấn Thư - Tạ An Truyện 晋書·謝安傳 Có câu : Tỉ như CHI LAN ngọc thụ, dục sử kỳ sinh vu đình giai nhĩ 譬如芝蘭玉樹,欲使其生于庭階耳。Có nghĩa : Tỉ như cỏ Chi cỏ Lan và cây ngọc qúy gía được trồng trong sân trước thềm nhà vậy". Trong truyện Nôm Lâm Tuyền Kỳ Ngộ tả lại mối tình giữa Bạch Viên và Tôn Các có câu :
Tuổi già thỏa thuở lòng mong mõi,
Lần ước CHI LAN dõi phúc trời.
Còn trong truyện thơ Nôm khuyết danh Nữ Tú Tài thì đão ngược lại gọi là LAN CHI để chỉ người bạn tốt :
Rõ ràng còn có giấu gì,
Anh em là nghĩa LAN CHI bạn vàng
Inline image
Bạn Vàng là KIM LAN. Theo Hệ Từ thượng của kinh Chu Dịch có câu :"Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn KIM; Đồng tâm chi ngôn, kỳ khứu như LAN 二人同心,其利斷金;同心之言,其臭如蘭。Có nghĩa : Hai người cùng đồng lòng thì cái lợi (sự bén nhọn) có thể làm đứt KIM loại; Những lời nói đồng lòng thì có mùi thơm như hoa Lan. Nên … Kết nghĩa KIM LAN 結義金蘭 là hai người bạn thề cùng đồng tâm hiệp lực, sống chết có nhau như anh em ruột thịt. Ta có thành ngữ KIM LAN Chi Giao 金蘭之交 để nói về tình nghĩa bạn bè thân thiết bền vững, ý hợp tâm đầu, như trong truyện Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng :
Ta thì trọn vẹn trước sau;
Đã KIM LAN lại trần châu càng bền.
Cũng trong truyện thơ trên, tình bạn cao qúy còn được gọi là LAN BẰNG :
LAN BẰNG có nghĩa còn khơi diễn,
Vùng vẫy xin cho phỉ chí kình.
Inline image
Công Nguyên năm 353, nhằm năm Vĩnh Hòa thứ 9 đời Đông Tấn, ngày mùng 3 tháng 3 Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi, Tạ An... gồm hơn 40 người bạn họp mặt ở LAN ĐÌNH thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang. Trong lúc rượu ngà ngà say nhà thư pháp nổi tiếng đời Đông Tấn là Vương Hi Chi đã làm và viết nên bài tự Lan Đình bất hủ của đất Cối Kê. Bài văn vừa nổi tiếng về văn hay vừa nổi tiếng về thư pháp, như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của nhà vua Lê Thánh Tông của ta có câu :
Ngày này phong cảnh hèn tri kỷ,
Lọ thốt LAN ĐÌNH lại thẩm sơ.
Còn trong Truyện Kiều, khi bắt Thúy Kiều đi tu và phải chép kinh ở Quan Âm Các, lúc Hoạn Thư đến xem kinh, đã...
Khen rằng :" Bút pháp đã tinh,
So vào với Thiếp LAN ĐÌNH nào thua !
Inline image
Còn để tôn xưng con cháu người khác, gọi một cách lịch sự là QUẾ TỬ LAN TÔN 桂子蘭孫 như trong Tử Tiêu Ký của Thang Hiển Tổ đời Minh : Tác phu thê thiên trường địa viễn, hoàn nguyện thủ quế tử lan tôn mãn ngọc điền 作夫妻天長地遠,還願取桂子蘭孫滿玉田. Có nghĩa : Làm vợ chồng với nhau là trời dài đất xa (là chuyện lâu dài), chỉ ước có được con như quế cháu như lan trong ruộng ngọc nhà (con hiền cháu thảo trong dòng họ nhà ta). Sau dùng rộng ra để chỉ chung : Con hiền cháu thảo, con đẹp cháu xinh, con qúy cháu ngoan... Như trong truyện Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng có câu :
Đôi sinh QUẾ TỬ LAN TÔN,
Một mai phục dưỡng gia môn đời đời.
Sau Quế Tử Lan Tôn, ta còn có QUẾ TRẠO LAN TƯƠNG 桂棹蘭漿, có nghĩa là : Cây chèo bằng gỗ quế và cây dầm bằng gỗ lan. Có xuất xứ từ bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Đông Pha đời Tống, trong đó có câu hát ..." Quế trạo hề lan tương, kích không minh hề tố lưu quang. Diễu diễu hề dư hoài, vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương 桂棹兮兰桨,击空明兮溯流光。渺渺兮予怀,望美人兮天一方 mà cụ Phan Kế Bính đã dịch rất hay là :
Thung thăng thuyền quế chèo lan,
Theo vừng trăng tỏ vượt làn nước trong.
Nhớ ai cánh cánh bên lòng,
Nhớ người quân tử ngóng trông bên trời.
Trong Mai Đình Mộng Ký của Nguyễn Huy Hổ đời Nguyễn thì có câu :
Này này QUẾ TRẠO LAN TƯƠNG,
Ví đua Xích Bích chi nhường Đông Pha.
Inline imageInline image
Trong bài hát nói Vịnh Tiền Xích Bích Phú của cụ Nguyễn Công Trứ cũng có trích bài hát trong bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Đông Pha như sau :
...Ông Tô tử qua chơi Xích Bích,
Một con thuyền với một túi thơ.
Gió hiu hiu mặt nước như tờ,
Trăng chếch chếch đầu non mới ló.
Thuyền một lá xông ngang gành bạch lộ,
Buông chèo hoa len lỏi chốn sơn cương.
Ca rằng:
Quế trạo hề lan tương, 桂棹兮蘭槳,
Kích không minh hề tố lưu quang. 擊空明兮溯流光.
Diểu diểu hề dư hoài, 渺渺兮予懷,
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương. 望美人兮天一方.
Người ỷ ca réo rắt khúc cung thương,
Tiếng tiêu lẫn tiếng ca vang đáy nước....
Còn LAN THẤT 蘭室 là Chi Lan Chi Thất 芝蘭之室,như phần trên đã nói đến, có nghĩa là "Căn phòng hay căn nhà thơm mùi hoa chi lan"dùng để chỉ gia đình lễ nghi, có đạo đức tốt. Cũng trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :
Dứt lời Lưu mới thưa rằng,
Từ vào LAN THẤT xem bằng long môn.
Lan Thất còn được dịch là NHÀ LAN để chỉ chỗ ở thơm tho của qúi bà qúy cô ngày xưa, như trong Truyện Kiều, khi cả nhà Vương Viên Ngoại đi mừng sinh nhật ngoại gia, chỉ để có một mình Thuý Kiều ở lại trông nhà, nên nàng mới thừa cơ :
NHÀ LAN thanh vắng một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay ...
Inline image
Còn trong truyện Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng thì gọi KIM LAN là LAN VÀNG :
Nhẽ đâu trong nghĩa LAN VÀNG,
Trót đà gả bán hợp hoan giao thề.
Về chữ LANG (có G), Lang 郎 là Chàng, từ dùng để gọi những nam thanh niên còn trẻ nghe cho lịch sự, tương đương với từ NƯƠNG 娘 là Nàng của phái nữ. LANG 郎 còn là từ để gọi người yêu, người tình, người hôn phối... một cách âu yếm thân mật, như Tình Lang 情郎 (người tình), Phu Lang 夫郎 (chồng), Lang Quân 郎君 (chồng)... Như Thúy Kiều đã gọi Kim Trọng là Kim Lang 金郎 là Chàng Kim. Khi đã nhờ Thúy Vân thay mình để trả nghĩa cho Kim Trọng xong rồi thì Thúy Kiều đã kêu lên :
Ôi KIM LANG, hỡi KIM LANG,
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !
Cũng đồng thời là LANG, là CHÀNG, nhưng KIM LANG thì gọi một cách trìu mến thiết tha như đã nêu trên. Chỉ tội nghiệp cho CHÀNG THÚC SINH, khi được gọi là THÚC LANG thì mặt mày xanh lè tái nhợt như khi Thúy Kiều báo ân báo oán :
Cho gươm mời đến THÚC LANG,
Mặt như chàm đổ người dường giẻ run.
Inline image
... và khi đã báo ân xong rồi, nàng còn bồi thêm một câu hăm dọa nữa :
Vợ CHÀNG quỷ quái tinh ma,
Phen nầy kẻ cắp bà già gặp nhau.
Tội nghiệp cho Chàng Thúc, khi đã lui ra rồi mà lòng vẫn còn nơm nớp thấp thỏm :
Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,
Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai !
Cuối cùng ta có CHU LANG 周郎 tức CHU DU 周瑜, còn gọi là CHU CÔNG CẨN 周公瑾, là người văn võ song toàn; 28 tuổi đã làm Đô Đốc của Đông Ngô. Nổi tiếng với trận chiến Xích Bích, lấy ít thắng nhiều đánh tan 83 vạn quân Tào Tháo, hình thành cuộc diện Tam Quốc lúc bấy giờ. Ngoài tài cầm binh và thao lược, Chu Du còn là một nghệ sĩ tài hoa lỗi lạc, giỏi cả cầm kỳ thi họa, nhất là về đàn tranh. Thường có câu : " Khúc hữu ngộ, Chu lang cố 曲有誤,周郎顧". Có nghĩa : Nếu khúc đàn có sai sót, thì chàng Chu sẽ chiếu cố, chỉ điểm cho ngay ! Xin được nhắc lại bài Ngũ ngôn Tứ tuyệt THÍNH TRANH 聽箏 nổi tiếng của Lý Đoan 李端 đời Đường sau đây :
鳴箏金粟柱 , Minh tranh kim túc trụ,
素手玉房前. Tố thủ ngọc phòng tiền.
欲得周郎顧 , Dục đắc Chu Lang cố,
時時誤拂絃 .. Thời thời ngộ phất huyền.
Diễn nôm :
Thánh thót đùa phím ngọc
Tay ngà nắn cung mơ
Muốn chàng Chu chiếu cố
Thường để lạc phím tơ
Lục bát :
Trục vàng phím ngọc vấn vương
Tay ngà nắn nót cung thương mơ màng
Muốn chàng chiếu cố ngó ngàng
Nàng thường để lạc phím đàn cung tơ !
Inline image
Thường thì đàn, ai cũng muốn đàn cho hay. Nhưng ở đây thì ngược lại, nàng cố ý đàn dở, đàn sai để được chàng dòm ngó đến. Cái hay của bài thơ là ở chỗ nầy, nêu bật được cái tâm lý rất thực tế, rất nhân bản của phái nữ khi muốn được người mình yêu mến để ý đến. Nàng đã không màng đến thể diện, tự ái nữa, không cần phải đàn hay để được khen, mà chỉ muốn đàn sai để được chàng đến chiếu cố, thân cận và chỉ điểm cho. Nhõng nhẽo dễ yêu đến thế là cùng ! Lý Đoan đã rất tâm lý khi làm bài thơ nầy. Trong bài hát nói HỎI GIÓ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, phần hai câu thơ chữ Hán là :
Thử thị Đà Giang, phi Xích Bích, 此是沱江非赤壁,
Dã vô Gia Cát dữ CHU LANG. 也無諸葛與周郎。
Có nghĩa :
Đây vốn Đà Giang không Xích Bích,
Cũng không Gia Cát chẳng CHU LANG.
Ngoài ra trong văn học dân gian cũng như văn học cổ cũng thường nhắc đến NGƯU LANG CHỨC NỮ, tức Ả CHỨC CHÀNG NGƯU, mời xem lại Thành ngữ Điển tích 39 : CHÀNG, sẽ rõ.
Xin được kết thúc bài LAN, LANG ở đây.
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
LAN, LANG
Inline image
Lan mấy đóa lạc loài sơn dã,
Uổng mùi hương vương giả lắm thay !
Đó là hai câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc, mà Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mượn ý câu nói của Đức Khổng Phu Tử khen ngợi hoa lan là : "Lan sanh ư u cốc, vi vương già chi hương 蘭生於幽谷為王者之香". Có nghĩa : "Hoa lan tuy sanh trưởng trong hốc núi thâm u, nhưng lại có cái mùi thơm cao qúy của bậc vương giả".
Inline image
Theo sách Khổng Tử Gia Ngữ 孔子家語 có câu :" Dữ thiện nhân cư, như nhập chi lan chi thất, cữu nhi bất văn kỳ hương, tức dữ chi hóa hĩ 與善人居,如入芝蘭之室,久而不聞其香,即與之化矣". Có nghĩa : "Ở chung với người hiền, như vào trong căn phòng có trồng hoa chi lan vậy, lâu dần không còn thấy mùi thơm nữa, vì ta đã hòa vào mùi thơm đó rồi." Từ câu nói nầy của Khổng Tử nên trong tiếng Việt ta mới có câu "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", còn trong văn học cổ thì có từ CHI LAN để chỉ người tốt hoặc bạn tốt, như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái có câu :
Thức nồng nhuộm vẻ CHI LAN,
Thông minh học vấn kiêm toàn cả hai.
CHI LAN còn dùng để chỉ con hiền cháu qúy. Theo như Tấn Thư - Tạ An Truyện 晋書·謝安傳 Có câu : Tỉ như CHI LAN ngọc thụ, dục sử kỳ sinh vu đình giai nhĩ 譬如芝蘭玉樹,欲使其生于庭階耳。Có nghĩa : Tỉ như cỏ Chi cỏ Lan và cây ngọc qúy gía được trồng trong sân trước thềm nhà vậy". Trong truyện Nôm Lâm Tuyền Kỳ Ngộ tả lại mối tình giữa Bạch Viên và Tôn Các có câu :
Tuổi già thỏa thuở lòng mong mõi,
Lần ước CHI LAN dõi phúc trời.
Còn trong truyện thơ Nôm khuyết danh Nữ Tú Tài thì đão ngược lại gọi là LAN CHI để chỉ người bạn tốt :
Rõ ràng còn có giấu gì,
Anh em là nghĩa LAN CHI bạn vàng
Inline image
Bạn Vàng là KIM LAN. Theo Hệ Từ thượng của kinh Chu Dịch có câu :"Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn KIM; Đồng tâm chi ngôn, kỳ khứu như LAN 二人同心,其利斷金;同心之言,其臭如蘭。Có nghĩa : Hai người cùng đồng lòng thì cái lợi (sự bén nhọn) có thể làm đứt KIM loại; Những lời nói đồng lòng thì có mùi thơm như hoa Lan. Nên … Kết nghĩa KIM LAN 結義金蘭 là hai người bạn thề cùng đồng tâm hiệp lực, sống chết có nhau như anh em ruột thịt. Ta có thành ngữ KIM LAN Chi Giao 金蘭之交 để nói về tình nghĩa bạn bè thân thiết bền vững, ý hợp tâm đầu, như trong truyện Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng :
Ta thì trọn vẹn trước sau;
Đã KIM LAN lại trần châu càng bền.
Cũng trong truyện thơ trên, tình bạn cao qúy còn được gọi là LAN BẰNG :
LAN BẰNG có nghĩa còn khơi diễn,
Vùng vẫy xin cho phỉ chí kình.
Inline image
Công Nguyên năm 353, nhằm năm Vĩnh Hòa thứ 9 đời Đông Tấn, ngày mùng 3 tháng 3 Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi, Tạ An... gồm hơn 40 người bạn họp mặt ở LAN ĐÌNH thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang. Trong lúc rượu ngà ngà say nhà thư pháp nổi tiếng đời Đông Tấn là Vương Hi Chi đã làm và viết nên bài tự Lan Đình bất hủ của đất Cối Kê. Bài văn vừa nổi tiếng về văn hay vừa nổi tiếng về thư pháp, như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của nhà vua Lê Thánh Tông của ta có câu :
Ngày này phong cảnh hèn tri kỷ,
Lọ thốt LAN ĐÌNH lại thẩm sơ.
Còn trong Truyện Kiều, khi bắt Thúy Kiều đi tu và phải chép kinh ở Quan Âm Các, lúc Hoạn Thư đến xem kinh, đã...
Khen rằng :" Bút pháp đã tinh,
So vào với Thiếp LAN ĐÌNH nào thua !
Inline image
Còn để tôn xưng con cháu người khác, gọi một cách lịch sự là QUẾ TỬ LAN TÔN 桂子蘭孫 như trong Tử Tiêu Ký của Thang Hiển Tổ đời Minh : Tác phu thê thiên trường địa viễn, hoàn nguyện thủ quế tử lan tôn mãn ngọc điền 作夫妻天長地遠,還願取桂子蘭孫滿玉田. Có nghĩa : Làm vợ chồng với nhau là trời dài đất xa (là chuyện lâu dài), chỉ ước có được con như quế cháu như lan trong ruộng ngọc nhà (con hiền cháu thảo trong dòng họ nhà ta). Sau dùng rộng ra để chỉ chung : Con hiền cháu thảo, con đẹp cháu xinh, con qúy cháu ngoan... Như trong truyện Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng có câu :
Đôi sinh QUẾ TỬ LAN TÔN,
Một mai phục dưỡng gia môn đời đời.
Sau Quế Tử Lan Tôn, ta còn có QUẾ TRẠO LAN TƯƠNG 桂棹蘭漿, có nghĩa là : Cây chèo bằng gỗ quế và cây dầm bằng gỗ lan. Có xuất xứ từ bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Đông Pha đời Tống, trong đó có câu hát ..." Quế trạo hề lan tương, kích không minh hề tố lưu quang. Diễu diễu hề dư hoài, vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương 桂棹兮兰桨,击空明兮溯流光。渺渺兮予怀,望美人兮天一方 mà cụ Phan Kế Bính đã dịch rất hay là :
Thung thăng thuyền quế chèo lan,
Theo vừng trăng tỏ vượt làn nước trong.
Nhớ ai cánh cánh bên lòng,
Nhớ người quân tử ngóng trông bên trời.
Trong Mai Đình Mộng Ký của Nguyễn Huy Hổ đời Nguyễn thì có câu :
Này này QUẾ TRẠO LAN TƯƠNG,
Ví đua Xích Bích chi nhường Đông Pha.
Inline imageInline image
Trong bài hát nói Vịnh Tiền Xích Bích Phú của cụ Nguyễn Công Trứ cũng có trích bài hát trong bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Đông Pha như sau :
...Ông Tô tử qua chơi Xích Bích,
Một con thuyền với một túi thơ.
Gió hiu hiu mặt nước như tờ,
Trăng chếch chếch đầu non mới ló.
Thuyền một lá xông ngang gành bạch lộ,
Buông chèo hoa len lỏi chốn sơn cương.
Ca rằng:
Quế trạo hề lan tương, 桂棹兮蘭槳,
Kích không minh hề tố lưu quang. 擊空明兮溯流光.
Diểu diểu hề dư hoài, 渺渺兮予懷,
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương. 望美人兮天一方.
Người ỷ ca réo rắt khúc cung thương,
Tiếng tiêu lẫn tiếng ca vang đáy nước....
Còn LAN THẤT 蘭室 là Chi Lan Chi Thất 芝蘭之室,như phần trên đã nói đến, có nghĩa là "Căn phòng hay căn nhà thơm mùi hoa chi lan"dùng để chỉ gia đình lễ nghi, có đạo đức tốt. Cũng trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :
Dứt lời Lưu mới thưa rằng,
Từ vào LAN THẤT xem bằng long môn.
Lan Thất còn được dịch là NHÀ LAN để chỉ chỗ ở thơm tho của qúi bà qúy cô ngày xưa, như trong Truyện Kiều, khi cả nhà Vương Viên Ngoại đi mừng sinh nhật ngoại gia, chỉ để có một mình Thuý Kiều ở lại trông nhà, nên nàng mới thừa cơ :
NHÀ LAN thanh vắng một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay ...
Inline image
Còn trong truyện Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng thì gọi KIM LAN là LAN VÀNG :
Nhẽ đâu trong nghĩa LAN VÀNG,
Trót đà gả bán hợp hoan giao thề.
Về chữ LANG (có G), Lang 郎 là Chàng, từ dùng để gọi những nam thanh niên còn trẻ nghe cho lịch sự, tương đương với từ NƯƠNG 娘 là Nàng của phái nữ. LANG 郎 còn là từ để gọi người yêu, người tình, người hôn phối... một cách âu yếm thân mật, như Tình Lang 情郎 (người tình), Phu Lang 夫郎 (chồng), Lang Quân 郎君 (chồng)... Như Thúy Kiều đã gọi Kim Trọng là Kim Lang 金郎 là Chàng Kim. Khi đã nhờ Thúy Vân thay mình để trả nghĩa cho Kim Trọng xong rồi thì Thúy Kiều đã kêu lên :
Ôi KIM LANG, hỡi KIM LANG,
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !
Cũng đồng thời là LANG, là CHÀNG, nhưng KIM LANG thì gọi một cách trìu mến thiết tha như đã nêu trên. Chỉ tội nghiệp cho CHÀNG THÚC SINH, khi được gọi là THÚC LANG thì mặt mày xanh lè tái nhợt như khi Thúy Kiều báo ân báo oán :
Cho gươm mời đến THÚC LANG,
Mặt như chàm đổ người dường giẻ run.
Inline image
... và khi đã báo ân xong rồi, nàng còn bồi thêm một câu hăm dọa nữa :
Vợ CHÀNG quỷ quái tinh ma,
Phen nầy kẻ cắp bà già gặp nhau.
Tội nghiệp cho Chàng Thúc, khi đã lui ra rồi mà lòng vẫn còn nơm nớp thấp thỏm :
Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,
Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai !
Cuối cùng ta có CHU LANG 周郎 tức CHU DU 周瑜, còn gọi là CHU CÔNG CẨN 周公瑾, là người văn võ song toàn; 28 tuổi đã làm Đô Đốc của Đông Ngô. Nổi tiếng với trận chiến Xích Bích, lấy ít thắng nhiều đánh tan 83 vạn quân Tào Tháo, hình thành cuộc diện Tam Quốc lúc bấy giờ. Ngoài tài cầm binh và thao lược, Chu Du còn là một nghệ sĩ tài hoa lỗi lạc, giỏi cả cầm kỳ thi họa, nhất là về đàn tranh. Thường có câu : " Khúc hữu ngộ, Chu lang cố 曲有誤,周郎顧". Có nghĩa : Nếu khúc đàn có sai sót, thì chàng Chu sẽ chiếu cố, chỉ điểm cho ngay ! Xin được nhắc lại bài Ngũ ngôn Tứ tuyệt THÍNH TRANH 聽箏 nổi tiếng của Lý Đoan 李端 đời Đường sau đây :
鳴箏金粟柱 , Minh tranh kim túc trụ,
素手玉房前. Tố thủ ngọc phòng tiền.
欲得周郎顧 , Dục đắc Chu Lang cố,
時時誤拂絃 .. Thời thời ngộ phất huyền.
Diễn nôm :
Thánh thót đùa phím ngọc
Tay ngà nắn cung mơ
Muốn chàng Chu chiếu cố
Thường để lạc phím tơ
Lục bát :
Trục vàng phím ngọc vấn vương
Tay ngà nắn nót cung thương mơ màng
Muốn chàng chiếu cố ngó ngàng
Nàng thường để lạc phím đàn cung tơ !
Inline image
Thường thì đàn, ai cũng muốn đàn cho hay. Nhưng ở đây thì ngược lại, nàng cố ý đàn dở, đàn sai để được chàng dòm ngó đến. Cái hay của bài thơ là ở chỗ nầy, nêu bật được cái tâm lý rất thực tế, rất nhân bản của phái nữ khi muốn được người mình yêu mến để ý đến. Nàng đã không màng đến thể diện, tự ái nữa, không cần phải đàn hay để được khen, mà chỉ muốn đàn sai để được chàng đến chiếu cố, thân cận và chỉ điểm cho. Nhõng nhẽo dễ yêu đến thế là cùng ! Lý Đoan đã rất tâm lý khi làm bài thơ nầy. Trong bài hát nói HỎI GIÓ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, phần hai câu thơ chữ Hán là :
Thử thị Đà Giang, phi Xích Bích, 此是沱江非赤壁,
Dã vô Gia Cát dữ CHU LANG. 也無諸葛與周郎。
Có nghĩa :
Đây vốn Đà Giang không Xích Bích,
Cũng không Gia Cát chẳng CHU LANG.
Ngoài ra trong văn học dân gian cũng như văn học cổ cũng thường nhắc đến NGƯU LANG CHỨC NỮ, tức Ả CHỨC CHÀNG NGƯU, mời xem lại Thành ngữ Điển tích 39 : CHÀNG, sẽ rõ.
Xin được kết thúc bài LAN, LANG ở đây.
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020
GỬI T/S KHÔI ĐÌNH BẢNG - THƠ CHU VƯƠNG MIỆN
Ảnh đình làng Đình Bảng
GỬI T/S KHÔI ĐÌNH BẢNG
quê vợ anh cũng là quê ngoại tôi
cách bến đò Dầng khoảng vài cây số
đi từ Thuỷ Nguyên Nuí Đèo qua Làng Sưa
rẽ về bên tay phải
đi thêm hai cây số nữa là lò gạch
rẽ phải đi khoảng 300 m nữa
là nhà ông ngoại tôi
mẹ tôi họ Đinh
làng Phục Lễ lớn quá chia làm hai
ngay hông chợ
phía đi về Trúc Động Gíáng Động
là Phả Lễ
đến bờ sông Lục đầu Giang
đọc bài thơ “Đói Sách” của anh
tưởng đói cơm đói cháo
thì thác ngay
còn đói sách thì chả chết thằng tây nào ?
chúng ta tự hào
là có tới 4000 năm vdăng ghoá
vừa sinh ra đã biết đứng biết đi
đã trở thành trai làng Phù Đổng
Sách in ra bán làm chó gì ?
học chữ Nho chữ Hán
thì làm hầu sáng cho Tàu
trước sau cũng bị Hán hoá
học tiếng Gauloa
thì làm bếp làm bồi
làm phu mỏ than
ngoài Cẩm Phả Hòn Gai
làm phu cạo mủ cao su
Thủ Dầu Một Dầu Tiếng
làm phu nhổ cỏ
đờn điền cà phê DakLak Daknông
học dăm ba chữ Anglo Saxon
phụ thêm hai tay huơ huơ nữa
học làm ngươi nô lệ
tưởng đói cái thứ gì ?
hoá ra đói sách
như Nguyễn Mạnh Tường
Trần Đức Thảo
bội thực chữ lăn quay ra
mà chết ?
sách bày biện trong tiệm
bày đầy vỉa hè
nhưng cần vài cuốn
Học Làm Người không có
CHU VƯƠNG MIỆN
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2020
Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường (3) : LÝ DÃ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Chieu Duc
07:00, Th 5, 4 thg 6 (1 ngày trước)
Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường (3) :
LÝ DÃ
Inline image
Nữ trung Thi Hào : LÝ DÃ
LÝ DÃ 李冶 (730-784), tự là Qúi Lan 季蘭 (Thái Bình Quảng Ký 太平廣記 ghi là TÚ LAN 秀蘭), người đất Ô Trình (thuộc Ngô Hưng tỉnh Chiết Giang hiện nay). Bà là nữ thi nhân nổi tiếng trên thi đàn đời Đường lúc bấy giờ. Bà từ nhỏ đã có tài thi thơ, lớn lên được cha đưa vào đạo quán xuất gia làm đạo cô, về già được triệu vào cung. Năm Công Nguyên 784, vì từng làm thơ ca ngợi loạn tướng Chu Thử, bị Đường Đức Tông hạ lệnh dùng gậy loạn đả đến chết. Bà lưu lại chỉ khoảng 15-16 bài thơ, nhưng đều là những tuyệt tác, được Lưu Trường Khanh 劉長卿 là thi sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ gọi là Nữ Trung Thi Hào 女中詩豪.
Theo "Đường Thi Kỷ Sự và Thái Bình Quảng Ký 唐詩纪事和太平廣記" ghi lại : LÝ DÃ dung mạo đẹp đẽ, thiên phú cực cao, từ rất nhỏ đã tỏ rõ thi tài. Năm 6 tuổi đã từng làm thơ vịnh hoa tường vi, trong đó có hai câu :
經時未架却, Kinh thời vị giá khước,
心绪乱縱横。 Tâm tự loạn tung hoành.
Có nghĩa :
Đến kỳ chưa kịp làm giàn,
Hoa đà nở rộ tràn lan khắp cùng.
Inline image
Hai câu thơ vịnh hoa tường vi nở sớm rất hay, lại bị ông cha hiểu lệch đi vì ba chữ VỊ GIÁ KHƯỚC 未架却 (Chưa kịp làm giàn) là hài thanh của ba chữ VỊ GIÁ KHƯỚC 未嫁却 (Chưa xuất giá), chưa lấy chồng mà tâm đã loạn bùng bung lên rồi. Nên mặc dù mừng vì tài thơ mẫn tiệp của con trẻ, nhưng lại lo buồn vì sợ con gái khi lớn lên sẽ không giữ được sự đoan trang trong phụ đạo. Vì cứ mãi ưu tư vô cớ như thế nên khi Lý Qúi Lan mới có 11 tuổi, thì ông cha đã đưa cô bé vào Ngọc Chân Quán để xuất gia làm đạo cô.
Mặc dù lớn lên với chiếc áo của nữ đạo sĩ, Lý Qúi Lan vẫn cởi mở phóng khoáng như một nam nhân, chẳng những giỏi về thơ văn, nàng còn tinh thông cả âm luật và giỏi về đàn cầm. Nàng giao du với những danh sĩ đương thời như Chu Phóng, Lục Vũ, Lưu Trường Khanh, Diêm Bá Quân và nhất là với nhà sư trẻ trung đẹp trai Thích Kiểu Nhiên... cùng nhau giao tình xướng họa gạt bỏ hết tỵ hiềm nam nữ thường tình của thế nhân, tất cả đều xem nàng như là một nữ trung hào kiệt.
Inline image
Trước tiên nàng gặp được danh sĩ Chu Phóng. Tài tử giai nhân nhất kiến chung tình, lúc đôi lứa đang mặn nồng thì Chu Phóng lại nhận chiếu chỉ đi làm quan xứ khác. Thương nhớ dâng tràn khiến hồn thơ cũng lai láng, Lý Qúi Lan đã viết nên những câu thơ nổi tiếng trong bài "Tương Tư Oán 相思怨" như sau :
人道海水深, Nhân đạo hải thủy thâm,
不抵相思半。 Bất để tương tư bán.
海水尚有涯, Hải thủy thượng hữu nhai,
相思渺無畔。 Tương tư miễu vô bạn.
Có nghĩa :
Inline image
Người đời bảo nước biển sâu,
Tương tư thương nhớ còn sâu bội phần.
Mênh mông biển rộng vô ngần,
Tương tư còn rộng mênh mông hơn nhiều !
Nhưng từ xưa đến nay, đàn ông vốn dĩ bạc tình, Chu Phóng đã một đi không trở lại. Chính đang lúc Lý Qúi Lan đang đau khổ thất vọng ê chề, thì Lục Vũ xuất hiện như một cứu tinh cứu vớt trái tim đang tan vỡ của người đẹp. Vũ lại là ông thánh về bình phẩm trà đã đem lại nhiều điều mật ngọt cho nàng qua các lần thưởng thức trà bên câu thơ tiếng nhạc. Hai người luôn chung bóng chung đôi sớm tối có nhau, nhưng chàng Lục Vũ đẹp mã phong lưu quen thói kia, chỉ ấp yêu Qúy Lan chưa đầy hai tháng thì lại tìm đường quất ngựa truy phong, bỏ lại hồng phấn giai nhân trong mõi mòn trông đợi, đi tìm cũng không tìm gặp được như trong bài "Tầm Lục Vũ bất ngộ 尋陸羽不遇" (Tìm Lục Vũ không gặp) sau đây :
叩門無犬吠, Khấu môn vô khuyển phệ,
欲去問西家. Dục khứ vấn tây gia.
報道山中去, Báo đạo sơn trung khứ,
歸来每日斜. Quy lai mỗi nhựt tà !
Có nghĩa :
Inline image
Gỏ cửa không chó sủa người,
Láng giềng ướm hỏi người thời đi đâu ?
Đáp rằng vào tận núi sâu,
Chỉ về khi nắng xế đầu nghiêng tây !
Lục Vũ cũng bỏ nàng mà đi rồi !...
Nhưng lưới tình khó tránh, đạo cô trẻ đẹp tài hoa đã lại phải lòng một cao tăng cũng trẻ đẹp tài hoa như nàng, đó chính là Thích Kiểu Nhiên, cháu mười đời của danh sĩ Tạ Linh Vân, cũng là ông tổ khai sáng ra trà đạo Trung Hoa, rất giỏi về bình phẩm các loại trà, được người đời xưng tụng là Giang Đông Danh Tăng 江東名僧 (Nhà sư nổi tiếng của đất Giang Đông). Sau lần đầu hội ngộ thì Lý Qúi Lan như chạm phải tiếng sét ái tình và sau nhiều lần gợi ý không thành, nàng quyết định làm một bài thơ tỏ tình với nhà sư như sau :
尺素如殘雪, Xích tố như tàn tuyết,
結為雙鯉魚。 Kết vi song lý ngư.
欲知心裡事, Dục tri tâm lý sự,
看取腹中書。 Khán thủ phúc trung thư !
Có nghĩa :
Inline image
Trang thư như tuyết trắng ngần,
Kết đôi cá lý bâng khuâng gởi người.
Nếu như muốn tỏ lòng ai,
Xem trong bụng cá biết ngay lòng này !
Xích Tố là Thư tín ngày xưa như tàn tuyết, chỉ chữ hiện lên trên giấy như tuyết trắng, và thiếp đã xếp nó lại thành hình 2 con lý ngư để gởi đến chàng ( theo tích lý ngư đưa thư) Nếu chàng muốn biết mối tình ở trong lòng thiếp thì hãy móc bụng ra mà xem thư sẽ rõ. Lời thơ vừa tỏ tình vừa khiêu khích vừa bộc bạch hết nỗi lòng qua các từ "Tâm Lý Sự" là chuyện trong lòng và "Phúc Trung Thư" là Thư ở trong bụng. Sư Kiểu Nhiên đọc thư đã hiểu tình ý của người bạn thơ ca muốn nói gì rồi, nhưng nếu từ chối thẳng thừng thì lại e làm tổn thương đến tấm chân tình của nữ sĩ. Nhà sư cũng bèn từ chối bằng một bài thơ kéo léo sau đây :
天女來相試, Thiên nữ lai tương thí,
將花欲染衣。 Tương hoa dục nhiễm y.
禪心竟不起, Thiền tâm cánh bất khởi,
還捧舊花歸。 Hoàn phủng cựu hoa quy !
Có nghĩa :
Inline image
Tiên trời đến thử ta chăng,
Đem hoa đến nhuộm áo tăng bụi hồng.
Lòng thiền gởi hết am không,
Hoa xinh dâng lại tạ lòng người tiên !
Qủa là bậc cao tăng có khác ! Từ chối một cách hết sức khéo léo, không chạm tự ái và không làm bẻ mặt người đẹp. Nàng là tiên trên trời đến đây nói yêu ta, có phải là muốn thử đạo hạnh của ta chăng ? Chớ lòng thiền của ta thì đã gởi hết cho cửa không rồi, cho nên tình yêu như đóa hoa xinh của nàng ta xin được gởi lại cho nguyên chủ. Từ chối khéo léo tế nhị đến thế là cùng.
Trải qua bao lần thất vọng thất ý trong tình trường, và cũng trải qua biết bao là nhân tình thế thái, Lý Qúi Lan đã chịu đựng và thể nghiệm được triết lý của cuộc sống qua bài thơ BÁT CHÍ 八至 sau đây :
至近至遠東西, Chí cận chí viễn đông tây,
至深至淺清溪。 Chí thâm chí thiển thanh khê.
至高至明日月, Chí cao chí minh nhựt nguyệt,
至親至疏夫妻。 Chí thân chí sơ phu thê !
Có nghĩa :
Gần nhất xa nhất đông tây,
Cạn nhất sâu nhất nước đầy núi khe.
Sáng cao nhất nhựt nguyệt kia,
Vợ chồng thân nhất, chia lìa không quen !
Inline image
Rõ thật mĩa mai ! Đông và Tây nói gần thì thật gần có thể sát bên nhau như tay phải tay trái vậy, nhưng nếu nói xa thì cũng thật rất là xa, một người ở bên đông, một người ở bên tây, "Quân tại Tương Giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vĩ", Xa xôi cách trở biết bao. Như nước trong veo trong khe núi chảy ra, có thể nhìn thấy đá tận đáy khe, có thể rất sâu mà cũng có thể rất cạn. Trên đây là hai sự kiện "Có Thế".Còn hai sự việc "Hiển nhiên" là Mặt trăng mặt trời là cao nhất sáng nhất; còn Vợ Chồng là cặp đôi thân thiết nhau nhất, mà cũng xa lạ nhau nhất, như ông bà ta cũng đã nói "Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương !". Hai người xa lạ làm vợ chồng với nhau thì thân nhau nhứt trên đời; đến lúc li dị bỏ nhau, thì lại ghét hờn nhau thành người xa lạ cũng... nhất trên đời !
Inline image
LÝ DÃ : Lý Qúi Lan
LÝ DÃ, Lý Qúi Lan là nàng thơ đẹp nhất giỏi nhất của đời Đường, nàng đã từng được Đường Huyền Tông Lý Long Cơ nghe tiếng triệu vào cung hơn một tháng khi đã qua tuổi bất hoặc (40 tuổi). Sau lại được Đường Đức Tông triệu vào cung khi đã quá tuổi năm mươi. Lúc Chu Thử làm loạn, Đường Đức Tông phải lưu vong, Lý Dã kẹt lại trong cung, bắt buộc phải xướng họa với Chu Thử. Khi Đường Đức Tông bình định được phản loạn trở lại kinh thành, biết được việc nàng có qua lại với Chu Thử, bèn nổi giận hạ lệnh cho loạn côn đánh chết nàng. Thế là một đời hồng nhan bạc bạc mệnh, tài sắc có thừa phải nát ngọc tan vàng một cách thê thãm trong cung cấm. Đáng thương thay !
Xin được kết thúc bài viết về Nữ Trung Thi Hào LÝ DÃ ở đây. Hẹn bài viết tới : Nữ Trung Ca Linh LƯU THÁI XUÂN.
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Thứ Năm, 4 tháng 6, 2020
GẶP NHAU , GIANG ĐẦU - THƠ CHU VƯƠNG MIỆN
GẶP NHAU
Gặp nhau dang dở dở dang
Cùng chung một chuyến chiều tàn về không
Khi xưa em cũng có chồng
Mà nay phiêu bạt tang bồng chốn nao ?
Mùa xuân hoa mận hoa đào
Mùa thu hoa cúc rộn chào nơi nơi
Đời ơi đời đáng mớ đời
Bỏ em kẹt giữa chợ trời vắng teo?
Hoàng hôn quán xá tiêu điều
Kẻ buôn người bán xế chiều đường xa
Chuyện gần lan tới hôm qua
Chuyện nay toàn chuyện con gà lứa heo
Văn chương giá rẻ ngang bèo
12 bến nước chèo queo một mình
Dỡ dang ôi chuyện cũng đành
GIANG ĐẦU
Ngồi không ở bến nước Giang đầu
Con lạch dẫn vào vụng Tô Châu
Hàn San cổ tự Phong Kiều Trấn
Hàng phong thu nhuộm đỏ một màu
Một con thuyền nhỏ neo nơi bến
Lữa chài le lói giữa đêm thâu
Hồi chuông thong thả rơi từng tiếng
Sóng vỗ nghe buồn mé thuyền câu
Giấc mơ hồ điệp còn đâu đó
Sầu miên không rõ ở phương nào ?
CHU VƯƠNG MIỆN
Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020
ĐIỆU BUỒN PHƯƠNG NAM - NHẠC & LỜI VŨ ĐỨC SAO BIỂN
ĐIỆU BUỒN PHƯƠNG NAM
NHAC & LỜI VŨ ĐỨC SAO BIỂN
TRÌNH BÀY & VIDEOCLIP HUỲNH TÂM HOÀI
Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020
MƯA CẦN THƠ - THƠ NGUYÊN LẠC
MƯA CẦN THƠ
Phố người thảng thốt mưa rơi
Sầu luồn ngất ngất một thời xa xưa
Mưa tình góc khuất ru mơ
Nhung thơm tóc xoả nghiêng bờ vai tôi
Nồng nàn một nụ hôn môi
Ngọt ngào câu nói "anh ơi thương hoài "
Mưa ướt má mưa ướt môi
Cần Thơ một thuở có tôi yêu người
Con đường lấy phất mưa rơi
Tung tăng chân sáo em cười giò tươi
Mưa trong mắt.sầu trong tôi
Đón đưa trễ hẹn lệ đầy ngây thơ
Ly chè tạ lỗi ngầu xưa
Trường Đoàn Thị Điểm như vừa hòm qua
Em lên đại học Văn khoa
Cái Răng một thuở cúc hoa áo dài (*)
Đường về vàng cả chiều phai
Trong tôi rạng rỡ hình hài dấu yêu
Mưa thương nhớ biết bao nhiêu
Rộn ràng bến chợ Ninh Kiều lang thang
Tay trong tay. quán đèn vàng
Mắt trong mắt .nhạc " Em tan trường về"
" Em tan trường về , đường mưa nho nhỏ
Em đi dịu dàng , bờ vai em nhỏ
Chim non lề đường ,nằm im dấu mỏ
Ôm nghiêng tập vở ,tóc dài tà áo vờn bay"
" Em tan trường về , mua bay mờ mờ
Em tan trường về ,anh theo Ngọ về
Anh trao vội vàng , chùm hoa mới nở
Ép vào cuối vở muôn thuở còn thương" (**)
Mưa. lữ khách. nỗi nhớ quen
Làm sao quên được mà quên đây người ?
Những con mưa của một thời
Cần Thơ yêu dấu có người toi yêu !
Phố người một bóng hắt hiu
Mưa đêm lấy phất nghiêng xiêu ngăn đời
Ngoài trời .mưa mãi không thôi !
Trong tôi . mưa nhớ một thời có em
NGUYÊN LẠC
(*) Trường đại học Văn khoa trên đường về Cái Răng , Cần Thơ
(**) Lời nhạc Ngày Xưa Hoàng Thị - Phạm Duy
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)