CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020

Tạp Ghi và Phiếm Luận : Chữ LÒNG trong Truyện KIỀU (2) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

Chieu Duc

16:19, Th 3, 10 thg 11 (1 ngày trước)


Tạp Ghi và Phiếm Luận : 


                               Chữ LÒNG trong Truyện KIỀU  (2)


                              


                                         Này con thuộc lấy NẰM LÒNG,(51)

                                    Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề.         

         

        Thuộc NẰM LÒNG, làm cho ta nhớ đến những bài HỌC THUỘC LÒNG hồi nhỏ, mà mãi cho đến hiện nay đã bảy tám chục tuổi rồi ta vẫn còn nhớ rõ như in. Nên THUỘC NẰM LÒNG là ghi vào lòng, tạc vào dạ như thành ngữ "GHI LÒNG TẠC DẠ" xuất phát từ câu chữ Nho là "MINH TÂM KHẮC CỐT 銘心刻骨". MINH TÂM là "Tạc vào tim", KHẮC CỐT là "Chạm vào xương" mà cụ Nguyễn Du dịch là CHẠM XƯƠNG CHÉP DẠ để chỉ việc Thúy Kiều ghi lòng tạc dạ cái ơn của Từ Hải đã giúp nàng báo ân báo oán :


                                  CHẠM XƯƠNG CHÉP DẠ xiết chi,

                                 Dễ đem gan óc đền nghì trời mây !


       Còn ở đây Tú Bà muốn Thúy Kiều phải ghi vào lòng, tạc vào dạ những kỹ xảo mánh khóe của một kỹ nữ, mà "Những nghe nói, đã thẹn thùng" làm cho cô phải ngỡ ngàng chua xót :


                               Nghĩ mình cửa các, buồng khuê,

                       VỠ LÒNG, học lấy những nghề nghiệp hay.(52) 

                                 Khéo là mặt dạn, mày dày,

                           Kiếp người đã đến thế này thì thôi!


                        Inline image


       VỠ LÒNG là bài học đầu tiên của chữ nghĩa hay của một ngành nghề nào đó, mà chữ Nho gọi là KHAI TÂM 開心. Nên "Nằm Lòng" hay "Vỡ Lòng" gì đều chỉ "Lòng Dạ", còn NỖI LÒNG là chỉ cái tình cảm vướng vít ở trong lòng như khi ở lầu xanh phải chịu cảnh "Dập dìu lá gió, cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh" và "Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Một mình, mình lại thương mình xót xa", nên chi :


                              NỖI LÒNG đòi đoạn xa gần,(53)

                         Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau !


      Cho đến khi gặp chàng "Thúc Sinh quen thói bốc rời, Trăm nghìn đổ một trận cười như không" ăn chơi bạt mạng, nên chết mê chết mệt khi gặp Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, lại được dịp :


                               Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,

                          Đêm xuân ai dễ CẦM LÒNG được chăng ?(54)

                                    Lạ gì thanh khí lẽ hằng,

                             Một dây một buộc ai giằng cho ra.


      Thúy Kiều lại giở ngón "Vành ngoài bảy chữ..." ra để Thúc Sinh càng mê đắm. Nhân khi "Buồng the phải buổi thong dong, Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa", bày tấm thân "... trong ngọc trắng ngà" ra để cho Thúc Sinh làm thơ, và từ chối không họa vận :


                             Nàng rằng: Vâng biết LÒNG chàng,(55)

                           Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu.

                                   Hay hèn lẽ cũng nối điêu,

                          Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.

        ... vì :

                            LÒNG còn gửi áng mây Vàng.(56)

                         Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay. 


                    Inline image

      

        MÂY VÀNG ở đây ý nói nhớ nhà, nhớ cha mẹ, theo như câu nói trong Tống Thư-Phù Thoại Chí Thượng 《宋书.符瑞志上》:" Đế Nghiêu chi mẫu viết Khánh Đô, sinh vu Đẩu duy chi dã, thường hữu hoàng vân phúc hộ kỳ thượng 帝尧之母曰庆都,生于斗维之野,常有黄云覆护其上。Có nghĩa : "Bà mẹ của ông Đế Nghiêu là Khánh Đô, được sinh ra ở ngoại ô của đất Đẩu Duy, thường hay có đám mây vàng che phủ ở bên trên". Cho nên mượn tích MÂY VÀNG để chỉ nơi cha mẹ ở. Thúy Kiều nói với Thúc Sinh là "Lòng còn gởi áng MÂY VÀNG" là ý muốn nói "Mình còn đang nhớ tới cha mẹ ở nhà". Rõ khéo làm dáng theo kiểu cách của một cô kỹ nữ : Cởi hết quần áo rồi tắm ở trong màn cho Thúc Sinh xem, để Thúc làm thơ ca ngợi, rồi lại bảo rằng "Tôi nhớ cha mẹ tôi quá nên không thể họa vần được"(!?)


     Khi biết là Thúc Sinh thật lòng có ý muốn chuộc mình ra khỏi lầu xanh, Thúy Kiều cũng đã rất cảm kích :


                              Nàng rằng: Muôn đội ơn LÒNG.(57)

                              Chút e bên thú bên tòng dễ đâu.


     THÚ 娶 là Cưới, nên BÊN THÚ là bên cưới, chỉ Thúc Sinh; còn TÒNG 從 là Theo chồng, nên BÊN TÒNG là bên theo chồng, chỉ Thúy Kiều. Thúy Kiều cũng biết thân biết phận mình là kỹ nữ, Thúc Sinh có thể chỉ "Yêu hoa yêu được một màu điểm trang" nên sợ đến lúc :

 

                                   Rồi ra lạt phấn phai hương,

                       LÒNG kia giữ được thường thường mãi chăng ?(58)


     Vả lại Thúy Kiều cũng biết là Thúc Sinh đã có vợ ở nhà rồi, cưới thêm mình làm thiếp chỉnh e làm hại đến tình cảm vợ chồng của Thúc Sinh và Hoạn Thư :


                                  Bấy lâu khăng khít dải đồng,

                       Thêm người người cũng thêm LÒNG riêng tây.(59)


     Hơn nữa Thúc Sinh lại còn có cha là Thúc Ông nữa, không biết là ông có chấp nhận cho Thúc Sinh chuộc mình từ lầu xanh ra hay không ? :


                                  Ở trên còn có nhà thông,

                      Lượng trên trông xuống biết LÒNG có thương ?(60)

                                 Sá chi liễu ngõ hoa tường?

                          Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh.


                          Inline image


     Nhưng rồi cô Kiều lại nói xuôi theo lòng mong muốn của chàng Thúc để cho chàng yên lòng :"Thương sao cho trọn thì thương. Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng", làm cho chàng Thúc nổi máu "anh hùng cứu mỹ nhân" vỗ ngực :


                               Sinh rằng: Hay nói dè chừng!

                     LÒNG đây lÒNG đấy chưa từng hay sao ?(61)

                               Đường xa chớ ngại Ngô Lào,

                          Trăm điều hãy cứ trông vào một ta!

     

       Nói thì "anh hùng" là thế, nhưng khi Thúc Ông về đến nơi với :


                                Phong lôi nổi trận bời bời,

                         NẶNG LÒNG e ấp tính bài phân chia.(62)


   ... và đưa ra phán quyết "Quyết ngay biện bạch một bề, Dạy cho má phấn lại về lầu xanh" làm cho chàng Thúc phải xuống nước nài nỉ van xin không được rồi hăm he đòi tự vẫn "Lượng trên quyết chẳng thương tình, Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi", đến nỗi Thúc Ông "Sốt gan ông mới cáo quì cửa công" và Quan Phủ đã bắt Thúy kiều và Thúc Sinh đến để tra hỏi, rồi đưa ra hai điều kiện "Một là cứ phép gia hình, Một là lại cứ lầu xanh phó về". Thúy Kiều đã rất cứng rắn và quyết định chịu gia hình chớ không chịu về lại lầu xanh, bị đánh đến đỗi "Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày". Làm cho Thúc Sinh đứng xa xa mà nhìn, đau lòng mà chẳng biết phải làm sao :


                                Nghĩ tình chàng Thúc mà thương,

                           Nẻo xa trông thấy LÒNG càng xót xa.(63)


  ... chàng khóc và tự trách mình :


                              CẠN LÒNG chẳng biết nghĩ sâu.(64)

                               Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai.


  ... khóc than đến nỗi :

                             Phủ đường nghe thoảng vào tai,

                       ĐỘNG LÒNG lại gạn đến lời riêng tây.(65)


       Thúc Sinh được dịp kể lể "Khi xưa nàng đã biết thân có rày. Tại tôi hứng lấy một tay, Để nàng cho đến nỗi này vì tôi", Thúc lại đề cao Thúy Kiều "Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên", nên sau khi thử tài thơ của Thúy Kiều, quan phủ đã đứng ra kết hợp cho hai người và khuyên Thúc Ông là "Dâu con trong đạo gia đình, Thôi thì dẹp nỗi bất bình cho xong". Thúy Kiều và Thúc Sinh lại được sum vầy đoàn tụ "Huệ lan sực nức một nhà, Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa". Thúy Kiều lại khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả là Hoạn Thư để khỏi phải mang tiếng là "Mặn tình cát lũy nhạt tình tào khang", nên "Xin chàng kíp liệu lại nhà" thú thật với Hoạn Thư để "Trước người đẹp ý sau ta biết tình", nên : 


                               Nghe lời khuyên nhủ thong dong,

                        ĐÀNH LÒNG sinh mới quyết lòng hồi trang.(66) 


                              Inline image


      ĐÀNH LÒNG là bằng lòng, là chịu nghe theo; còn ĐỘNG LÒNG là Xúc động trong lòng (như "ĐỘNG LÒNG lại gạn đến lời riêng tây"(65); còn CẠN LÒNG là chỉ lòng nông cạn, hời hợt (như "CẠN LÒNG chẳng biết nghĩ sâu"(64), và NẶNG LÒNG là Đặt nặng, là xem trọng vấn đề gì đó (như "NẶNG LÒNG e ấp tính bài phân chia"(62); Sau đây, ta lại có từ KHÓ LÒNG là Làm khó cho lòng mình, tức là làm những chuyện mà trong lòng phải lo lắng mãi mãi, như Cô Kiều đã khuyên chàng Thúc về tới nhà cứ nói thẳng, nói thật với vợ, chớ đừng khiếm cách dấu quanh :


                                      Dễ lòa yếm thắm trôn kim,

                              Làm chi bưng mắt bắt chim KHÓ LÒNG !(67)

                                      Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,

                              Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.


      Về phần Hoạn Thư ở nhà đã "Từ nghe vườn mới thêm hoa, Miệng người đã lắm tin nhà thì không", nên :


                                    Lửa tâm càng dập càng nồng,

                           Trách người đen bạc ra LÒNG trăng hoa.(68)


      Nên Hoạn Thư rắp tâm "Làm cho nhìn chẳng được nhau, Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên! Làm cho trông thấy nhãn tiền, Cho người thăm ván bán thuyền biết tay", nên chi :


                                  Nỗi LÒNG kín chẳng ai hay,(69)

                              Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.


                                 Inline image


      Nhưng "Tuần sau bỗng thấy hai người, Mách tin ý cũng liệu bài tâng công" đến mét với Hoạn Thư là Thúc Sinh có vợ bé bên ngoài, không ngờ :


                                  Tiểu thư nổi giận đùng đùng:

                           Gớm tay thêu dệt ra LÒNG trêu ngươi!(70)


      Bèn "Vội vàng xuống lệnh ra uy, Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng", thế nên "Trong ngoài kín mít như bưng. Nào ai còn dám nói năng một lời!", và Hoạn Thư thì cứ "phớt tỉnh Ăng-Lê" : "Buồng đào khuya sớm thảnh thơi, Ra vào một mực nói cười như không" :


                             Đêm ngày LÒNG những dặn LÒNG,(71)         

                             Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên.


      Thúc Sinh về đến nhà, Hoạn Thư tiếp đãi thật chu đáo nhiệt tình :


                               Tẩy trần vui chén thong dong,

                          Nỗi LÒNG ai ở trong LÒNG mà ra.(72)

   

      "Chàng về xem ý tứ nhà, Sự mình cũng rắp lân la tỏ bày", nhưng "Mấy phen cười nói tỉnh say, Tóc tơ chẳng động mảy may sự tình". Hoạn Thư phớt lờ xem Thúc Sinh có thú thật không, còn Thúc Sinh thấy êm re không có động tĩnh gì cả thì lại "trổ mòi" khôn vặt :"Nghĩ đà bưng kín miệng bình, Nào ai có khảo mà mình đã xưng?". Nên đến năm sau, Hoạn Thư lại khuyên chàng về thăm Thúc Ông "Cách năm mây bạc xa xa, Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn". Thúc Sinh mừng quýnh "Được lời như cởi tấc son, Vó câu dung ruổi nước non quê người". Chàng Thúc vừa đi khỏi thì "Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh" về nhà để "mét má" : "Thưa nhà huyên hết mọi tình, Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen."      

       

       Riêng phần Thúy Kiều, từ khi khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả thì cũng lo cho số kiếp lẻ mọn của mình "Sắn bìm chút phận cỏn con, Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?" nên mới :


                                  Nén hương đến trước Phật đài,

                            Nỗi LÒNG khấn chửa cạn lời vân vân.(73)


                          Inline image


  ... thì "Dưới hoa dậy lũ ác nhân, Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra", Khuyển Ưng của Hoạn Thư sai đến bắt Thúy Kiều về Vô Tích. Hoạn Bà đánh cho một trận rồi "Buồng the dạy ép vào phiên thị tì". May mà nhờ mụ quản gia thương tình "Khi chè chén khi thuốc thang, Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh" và nhắc nhở :".Ở đây tai vách mạch rừng, Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi" vì "Kẻo khi sấm sét bất kỳ, Con ong cái kiến kêu gì được oan?", nên :  


                                   Nàng càng giọt ngọc như chan,

                        Nỗi LÒNG luống những bàng hoàng niềm tây.(74)


      Đến khi Hoạn Bà giao nàng về cho Hoạn Thư với lý do "Tiểu thư dưới trướng thiếu người, Cho về bên ấy theo đòi lầu trang". Nàng vẫn chịu an phận khép mình "Sớm khuya khăn mặt lược đầu, Phận con hầu giữ con hầu dám sai". Nghe nói nàng đàn giỏi, Hoạn Thư cũng đã "Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày" :


                               Lĩnh lời nàng mới lựa dây,

                      Nỉ non thánh thót dễ say LÒNG người.(75)

                              Tiểu thư chừng cũng thương tài,

                       Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.

Nàng cũng phải đành :

                              Cửa người đày đọa chút thân,

                        Sớm ngơ ngẩn bóng đêm năn nỉ LÒNG.(76)


     "Nước trôi hoa rụng đã yên, Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian", Thúy Kiều không biết tại sao người ta lại bắt mình làm con hầu ở đây, mãi đến khi Thúc Sinh về thăm nhà thì mới vỡ lẽ ra Hoạn Thư là vợ cả của Thúc Sinh và mới sợ cho cái kế sách ghen tuông của tiểu thư họ Hoạn :"Rõ ràng thật lứa đôi ta, Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi". Riêng chàng Thúc cũng "...phách lạc hồn siêu" và lại "Sợ quen dám hở ra lời, Không ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa". Hoạn Thư gỉa như không biết ngạc nhiên hỏi rằng : Vợ chồng lâu ngày gặp mặt sao chàng lại khóc ? :


                                   Sinh rằng hiếu phục vừa xong,

                          Suy LÒNG TRẮC DĨ đau LÒNG CHUNG THIÊN.(77)

       

                           Inline image


        TRẮC DĨ 陟屺 là nói gọn lại hai câu thơ của chương Ngụy Phong  魏風, Trắc Hỗ 陟岵 trong Kinh Thi 詩經 là :"Trắc bỉ Dĩ hề, Chiêm vọng mẫu hề 陟彼屺兮,瞻望母兮". Có nghĩa : Trèo lên trên núi Dĩ để mong ngóng bóng của mẹ. Nên LÒNG TRẮC DĨ là Lòng tưởng nhớ đến me. Còn CHUNG THIÊN 終天 thì CHUNG là hết, THIÊN là Trời; CHUNG THIÊN là hết tuổi của trời cho, nên Chung Thiên có nghĩa là suốt đời.

       Câu "Suy LÒNG TRẮC DĨ, đau LÒNG CHUNG THIÊN": Ý của Thúc Sinh muốn nói là Nhớ đến mẹ đã chết nên đau buồn suốt đời, cho nên muốn khóc thì khóc (chớ không phải khóc vì thấy Thúy Kiều bị bắt làm Hoa Nô). Hoạn Thư đã khen :"Khen rằng: Hiếu tử đã nên! Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu", rồi bắt Thúy Kiều đứng hầu rượu cho hai người, lại bắt Thúy Kiều phải đàn cho vợ chồng cùng nghe, Thúy Kiều mới "Vâng lời ra trước bình the vặn đàn" :


                                  Bốn dây như khóc như than,

                          Khiến người trên tiệc cũng tan nát LÒNG.(78)

                                 Cũng chung một tiếng tơ đồng,

                        Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.   


                                 Inline image 


      Hành hạ được Thúc Sinh và Thúy Kiều, Hoạn Thư cũng cảm thấy :


                               LÒNG riêng khấp khởi mừng thầm:(79)

                               Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay. 


      Về phần chàng Thúc thì :


                                    Sinh thì gan héo ruột đầy,

                         Nỗi lÒNG càng nghĩ càng cay đắng LÒNG.(80)


      Riêng phần Thúy Kiều thì "Một mình âm ỉ canh chầy, Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh". Hoạn Thư còn bắt Thúc Sinh phải tra hỏi Thúy Kiều xem tại sao lại buồn, Thúy Kiều phải "Thân cung nàng mới thảo qua một tờ" để Thúc Sinh "Diện tiền trình với Tiểu thơ". Sau khi xem xong tờ "thân cung" của Kiều, Hoạn Thư cũng bảo "Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương" và phán :


                                  Tiểu thư rằng: ý trong tờ,

                         Rắp đem mệnh bạc nương nhờ cửa Không.

                               Thôi thì thôi cũng chiều LÒNG,(81)

                          Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra.


     "Sẵn Quan Âm Các vườn ta, Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa. Có cổ thụ, có sơn hồ, Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh". Thế là Thúy Kiều lại "Áo xanh đổi lấy cà sa, Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền". Ở Quan Âm Các Thúy Kiều cũng "Phật tiền thảm lấp sầu vùi, Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương" :


                               Cho hay giọt nước cành dương,

                      LỬA lÒNG tưới tắt mọi đường trần duyên.(82)


                          Inline image


      Lửa Lòng chữ Nho là TÂM HỎA, là ngọn lửa dục vọng cứ âm ỉ đốt mãi trong lòng người ta để thôi thúc sự ham muốn... đủ thứ một cách mãnh liệt, mà trong Cung Oán Ngâm Khúc Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết là : "Ngọn TÂM HỎA đốt dàu nét liễu, Giọt hồng băng thấm ráo làn son". Ta gặp lại từ LỬA LÒNG ở đoạn cuối Truyện Kiều, lúc Thúy Kiều phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người về nhà đoàn tụ :


                                 Sự đời đã tắt LỬA LÒNG,(83)

                           Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?! 


      Khi Thúc Sinh đến Quan Âm Các tìm Thúy Kiều lại giở giọng "chung tình dõm" bảo là cũng muốn sống chết với Thúy Kiều "Quản chi lên thác xuống ghềnh, Cũng toan sống thác với tình cho xong", nhưng vì chưa có con nối dõi nên đành phải :


                               Tông đường chút chửa CAM LÒNG,(84)

                               Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai.


      Không làm gì được trước cô vợ qúa quắc, Thúc Sinh đành phải khuyên Kiều bỏ trốn "Liệu mà xa chạy cao bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi!". Chàng đã nhận xét :


                              Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu,

                     LÒNG NGƯỜI nham hiểm biết đâu mà lường.(85)


      "Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường" là nói theo câu chữ Nho "Thâm uyên chung hữu đễ, Nhân tâm bất khả trắc 深淵終有底, 人心不可測" Có nghĩa : Vực sâu còn có đáy, chớ lòng người thì không thể đo lường được".


      "Cất mình qua ngọn tường hoa, Lần đường theo bóng trăng tà về tây", trốn khỏi Quan Âm Các trong cảnh "Mịt mù dặm cát đồi cây, Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương", may mà gặp được Chiêu Ẩn Am và lại gặp được sư Giác Duyên :


                                  Thấy màu ăn mặc nâu sồng,

                     Giác Duyên sư trưởng LÀNH LÒNG liền thương.(86)


      Cũng may mà Thúy Kiều đã :


                                Kệ kinh câu cũ THUỘC LÒNG,(87)

                          Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.


                       Inline image


      Khi biết Thúy Kiều từ Quan Âm Các của nhà Hoạn Thư trốn ra, Giác Duyên đã :


                             Rỉ tai nàng, mới GIẢI LÒNG:(88)

                            Ở đây cửa Phật là không hẹp gì;

                                 E chăng những sự bất kỳ,

                         Để nàng cho đến thế thì cũng thương!


      Cho nên Giác Duyên mới gởi nàng cho một nữ thí chủ là Bạc Bà, nào ngờ "Bạc bà học với Tú bà đồng môn!", cho nên "Thấy nàng mặt phấn môi son, Mừng thầm được mối bán buôn có lời", bèn ra sức ép nàng phải lấy cháu của bà ta là Bạc Hạnh để cùng về sống ở đất Châu Thai :


                                 Bấy giờ ai lại biết ai,

                     Dầu lÒNG BỂ rộng sông dài thênh thênh.(89)

                           Nàng như quyết chẳng thuận tình,

                          Trái lời nẻo trước lụy mình đến sau !


      Trước lời hăm dọa đó Thúy Kiều đành phải nghe theo mà thôi, nhưng nàng vẫn còn ái ngại :


                              Cùng đường dù tính chữ tòng,

                      Biết người, biết mặt, biết LÒNG làm sao?(90)

                                Nữa khi muôn một thế nào,

                         Bán hùm, buôn sói, chắc vào lưng đâu?


      Câu "Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao ?" là diễn Nôm vế hai của câu ngạn ngữ "Họa hổ họa bì nan họa cốt, Tri nhân tri diện bất tri tâm 畫虎畫皮難畫骨 知人知面不知心." Có nghĩa : Vẽ cọp vẽ da khó vẽ xương ở bên trong, biết người biết mặt chẳng biết lòng dạ như thế nào !


      Khi biết Thúy Kiều đã ưng chịu, thì chàng Bạc Hạnh bèn "Một nhà dọn dẹp linh đình, Quét sân, đặt tráp, rửa bình, thắp nhang" và rất hoa loa hời hợt "Bạc Sinh quì xuống vội vàng, Quá lời nguyện hết Thành hoàng Thổ công" : 


                             Trước sân LÒNG đã giãi LÒNG,(91)

                            Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên. 


                    Inline image


     "Thành thân mới rước xuống thuyền, Thuận buồm một lá xuôi miền Châu Thai" và ở nơi đây, một lần nữa Thúy Kiều bị Bạc Hạnh bán vào lầu xanh. Khi "Đưa nàng vào lạy gia đường, Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!" cho nên "Thoắt trông nàng đã hay tình, Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao", khiến cho nàng không nén nổi phải văng tục "Chém cha cái số hoa đào, Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!" Cũng may là sau đó lại gặp được người hùng Từ Hải với "Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao" từ biên đình sang :


                              Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,

                        Tấm LÒNG nhi nữ cùng xiêu anh hùng.(92)


      Sau khi đã chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh để "Trai anh hùng, gái thuyền quyên, Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng" rồi, thì khi :


                             Nửa năm hương lửa đương nồng,

                     Trượng phu thoắt đã ĐỘNG LÒNG bốn phương.(93)


      "Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm, yên ngựa lên đàng thẳng dong" Thúy Kiều cũng đã xin với Từ Hải :


                             Nàng rằng: Phận gái chữ tòng,

                        Chàng đi thiếp cũng một LÒNG xin đi!(94)


                       Inline image


      Từ Hải đã âu yếm mắng yêu :"Từ rằng: Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?" và yên ủi khuyên nhủ Kiều :


                             Đành LÒNG chờ đó ít lâu,(95)

                         Chầy chăng là một năm sau vội gì?


      Ở lại có một mình, Thúy Kiều đã nhớ về gia đình cha mẹ :


                             Xót thay Huyên cỗi Xuân già,

                      Tấm LÒNG thương nhớ, biết là có nguôi.(96)


      HUYÊN 萱 là một loài thảo mộc được trồng trong nhà như cây Trường sinh, lá thon dài, nở hoa màu vàng và cho hương thơm dìu dịu, ăn được, ta thường gọi là Hoa KIM CHÂM, dùng để chỉ sự dịu dàng của người mẹ. Còn XUÂN 椿 thì theo sách Trang Tử, chương Tiêu Dao Du, là loại cây cao bóng cả, tàng lá sum xuê, có tám trăm năm là mùa xuân, tám trăm năm là mùa thu, nên được dùng để ví với người cha là cột trụ chống đỡ và che chở cho gia đình. Nên XUÂN HUYÊN là từ dùng để gọi chung CHA MẸ. Câu "Xót thay HUYÊN cỗi XUÂN già" là để chỉ cha mẹ đã già yếu. 


      Lại nhớ đến người yêu đầu tiên, chàng Kim Trọng của ngày xưa cũ :


                                Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

                          Dẫu lìa ngó ý còn vương TƠ LÒNG!(97,27)


      Rồi lại nhớ đến quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn :


                              TẤC LÒNG cố quốc tha hương,(98)

                           Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.


      Khi đã có trong tay "...mười vạn tinh binh", Từ Hải đã phái "Hai bên mười vị tướng quân, Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu. Cung nga, thể nữ nối sau, Rằng: Vâng lệnh chỉ rước chầu vu qui" và "Sẵn sàng phượng liễn loan nghi, Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng", chưa hết, khi đến nơi thì còn "Kéo cờ lũy, phát súng thành, Từ Công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài" và Từ Hải đã cả cười nói với Thúy Kiều rằng : 


                                 Anh hùng mới biết anh hùng,

                          Rày xem phỏng đã CAM LÒNG ấy chưa?(99)


      Thúy Kiều cũng đã cười đáp lại rằng :


                                 Đến bây giờ mới thấy đây,

                        Mà LÒNG đã chắc những ngày một hai !(100)


                            Inline image


       Đâu phải "Đến bây giờ mới thấy đây", mà lòng thiếp đã chắc chắn là chàng sẽ thành danh trong ngày một ngày hai mà thôi ! Quả là một lời nói nịnh êm tai và dễ thương biết chừng nào !


       Mời đọc tiếp phần (3).


                                                                         杜紹德

                                                                           ĐỖ CHIÊU ĐỨC

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “XÓM CÔ HỒN” KHA TIỆM LY - CHÂU THẠCH

 

van tran

Tệp đính kèm

04:40, Th 3, 10 thg 11 (1 ngày trước)

tới







ĐỌC TẬP TRUYỆN NGẮN “XÓM CÔ HỒN” KHA TIỆM LY  

 

Phi lộ: Nhân dịp nhà văn Kha Tiệm Ly vừa tái bản tập truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” lần thứ ba, tôi xin đăng bài cảm nhận của mình về tập truyện ngắn nầy. Đây là một tập truyện có giá trị cao, không thể không có trên tủ sách gia đình. Quý vị nào cần mua xin liên hê với nhà văn trên trang facebook khatiemly Hao han. Kính mời. 


Bài Bình: Châu Thạch  


    Đến tuổi thất thập cổ lai hy; nhà văn, nhà thơ Kha Tiệm ly mới xuất bản được tác phẩm của mình, khi mà tên tuổi ông trong và ngoài nước không mấy ai không biết và không yêu mến. Điều đó chứng tỏ Kha Tiệm Ly đã cày trên thửa ruộng văn chương của mình, thu hoạch hoa màu thật tốt tươi nhưng thời nay, thứ sản phẩm trí tuệ tốt tươi ấy đem tặng không cho đời thì dễ nhưng bán cho đời thật khó.  


     Cũng may tập truyện ngắn Xóm Cô Hồn in 1000 quyển đã được mua sạch khi mới đem về, chứng tỏ uy tín Kha Tiệm Ly khiến cho nhiều người háo hức đón chào. Đến nay ông đã xuất bản lần thứ ba nhưng sách vẫn bán chay. Thành thật chúc mừng ông. 


     Xóm Cô Hồn gồm có 19 truyện ngắn, trong đó có 9 truyện truyền kỳ, còn lại dành cho nhiều thể loại khác.    


     Trước hết người viết xin đề cập đến truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly vì ở tập sách nầy truyện truyền kỳ chiếm một số trang rất lớn.   


     Truyền kỳ là gì? Tìm câu trả lời hay nhất trên Google như sau: “Truyền Kỳ Mạn Lục (nghĩa là Sao chép tản mạn những truyện lạ) là một tập truyện của nhà văn Nguyễn Dữ, được in trong khoảng năm 1768. Dù là sao chép tản mạn những truyện lạ nhưng Truyền Kỳ Mạn Lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam Chích Quái, Thiên Nam Vân Lục... mà là một sáng tác văn học. Lấy bối cảnh chủ yếu là một phần hiện thực thế kỷ XVI, các truyện hầu hết ở thời Lý, Trần, Hồ, Lê sơ và đều có yếu tố hoang đường, nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó chính là hiện thực xã hội phong kiến đương thời với đầy rẫy những tệ trạng mà tác giả muốn vạch trần, phê phán.  

 


      Truyền Kỳ Mạn Lục phản ánh số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, những bi kịch tình yêu mà bất hạnh thường rơi vào người phụ nữ (như người thiếu phụ Nam Xương), thể hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hoá nước Việt (như chuyện chức phán sự đền Tản Viên), đề cao đạo đức nhân hậu, thuỷ chung, đồng thời khẳng định quan niệm sống "lánh đục về trong" của tầng lớp trí thức ẩn dật đương thời.    


   

     Truyền Kỳ Mạn Lục là đỉnh cao đánh dấu bước trưởng thành của thể loại truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, từng được Vũ Khâm Lân (thế kỷ 17) khen tặng là "thiên cổ kỳ bút". Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài và được đánh giá cao trong số các tác phẩm truyền kỳ ở các nước đồng văn.”   


     Vậy thể loại truyện kỳ có ở nước ta từ 400 năm trước. Nay giữa thế kỷ 21 nầy nhà văn Kha Tiệm Ly lại quay về với nhưng câu chuyện cổ xưa, với lối hành văn cổ xưa, chắc là ông muốn tải cái đạo lý của thời xưa cho người đời nay suy nghiệm.  


      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly đọc hấp dẫn không thua gì Liêu Trai Chí Dị. Trước hết nó đưa ta đến những cảnh vật nên thơ có con người và những mối tình thú vị, với mỹ nhân và thánh thần bí hiểm . Sau nữa truyện truyền kỳ như con thuyền tải đạo lý, đánh động lòng ta suy nghĩ về lẽ phải, công bằng xã hội, nhân cách con người và quyền sống tự do, hạnh phúc.   


      Ta không thể không thoả lòng với con “Chồn Cái Có Nghĩa” tuy ân ái với chàng thư sinh nhưng giúp cho tình chồng vợ của chàng không lỗi đạo.   


      Ta không thể không mông lung suy nghĩ cái cao siêu trong “Chuyện Hai Con Rồng” nói về một bậc nhân tài vẽ muôn chim, muôn thú, muôn hoa y như là thật, nhưng khi vẽ cặp phi long treo tại ngai vàng thì chỉ quệt hai đường mực xạ khiến phải bị rơi đầu! Sau đó chỉ một tên lính hầu tầm thường nói nhỏ vào tai đã khiến nhà vua tỉnh ngộ nhận ra cái thâm thuý của cặp tranh kia để trở thành một đấng minh quân.   


      Ta thật cảm phục câu chuyện “Liệt Nữ anh Hùng” người vợ thủ tiết chết theo chồng.  


       Câu chuyện linh hồn một cân quắc anh thư “ Liên Hà Tiểu Thư” chết vì cả nhà bị lũ gian thần hảm hại, đã hiện thân vầy duyên cùng một ẩn sĩ có ngọn bút như thần viết “Biên Cương Nộ khí Phú”, một bài phú hào hùng, tràn lòng yêu nước, yêu quê hương.    


       Ta thú vị với “Truyền Thuyết Hoa Đà”, một danh y cương trực khẳng khái, đã chữa lành cho hoàng hậu phát bệnh do “thiếu nặng đức nhân, thich nghe lời xu nịnh, chẳng phân biệt phải trái, hay dùng lời cao ngạo” và đã đánh lừa được ước muốn của một hôn quân sinh hoang tưởng mơ chuyện cỡi rồng.    


     Ta cảm kích câu chuyện “Thuỷ Chung Với Vợ” kể chuyện người chồng không đành giết vợ mình khi biết nàng là loài hồ ly bước ra từ chính bức tranh chàng hoạ.    


     Rồi câu chuyện “Khí Phách Giang Hồ” xảy ra trong thời chống Pháp thuộc vùng Gia Định Nam Kỳ, giữa môn phái võ thuật yêu nước đấu tranh cùng môn phái theo gót ngoại bang. Câu chuyện đề cao tinh thần yêu nước, nghĩa khí giang hồ, tình yêu cao thương của anh hùng hảo hán thời bấy giờ.    


     “Ăn Tết Với Ma”, “ Ngọc Lựu Mỹ Nhân” là nhưng câu chuyện xảy ra ở thời mạt Minh bên Tàu hay thời Lê Trung Hưng đất Việt, đều là những câu chuyện huyễn hoặc trong thời suy thoái quốc gia, trên thì tranh giành quyền lực, thu gom của cải, dưới thì sách nhiễu dân chúng, tuỳ tiện cướp của cướp nhà, bá tánh phải chịu muôn vàn lầm than khốn khổ, nước mắt chảy thành sông, thành suối, từ đó những hồn ma bóng quế nữ nhi chịu oan ức không siêu thoát mà trở lại với đời, kết nghĩa với hiền tài bất đắc chí ở trần gian.    


     

      Truyện truyền kỳ của Kha Tiệm Ly lấy tấm gương xưa mà soi vào hiện thực, khéo léo mà sâu xa, nhẹ nhàng mà thâm thuý, cuốn hút người đọc thích thú theo sự việc ly kỳ để rồi khi bình tâm lại, nghe tiếng lẽ phải cáo trách, nghe lương tâm thời đại nhói đau trong lòng.   


     Mười truyện ngắn còn lại, Kha Tiệm Ly viết về kỷ niệm đời mình, về những mẫu người đặc biệt, về nếp sống của tầng lớp cùng đinh xã hội. Nói chung mỗi câu chuyện đều làm cho ta suy nghiệm về một triêt lý sống ở đời.  


      Với truyện ngắn “Gánh Hát Về Làng” ta quay lại thời tuổi thơ của tác giả ở một miền quê Nam Bộ. Thời đó gánh hát bội về làng và gánh hát bội ra đi để lại trong lòng trẻ thơ biết bao nhiêu là kỷ niệm êm đềm.  


      Với truyện ngắn “ Nhật Ký Của Ba” làm ta rơi nước mắt vì người cha bán một phần thân thể cho con ăn học. Truyện ngắn “Xóm Cùi” viết về một người đàn bà xấu xí tật nguyền bị hất hủi cho đến phút cuối cuộc đời. Truyện ngắn “Người Bạn Lạ Đời” kể chuyện một người đi tu có tính toán nhưng đem đến cho ta nhiều phân vân về cái thật cái giả ở đời. Truyện ngắn “Đạo Đời Hai Ngã” là nỗi đau của mối tình phân rẽ, gặp nhau lại thì đạo, đời hai ngã lại làm cho phân cách nhau hơn.  



      Những truyện ngắn như “Đậu Cô Lang”, “Muộn Màng”, “Thế Võ cuối cùng”, “Xông Đất”… đều cuốn hút người đọc vào tinh tiết lý thú trong hư cấu nhân vật nổi bật và bố cục mạch lạc ngắn gọn làm cho ta say sưa câu chuyện . Đặc biệt “Xóm Cô Hồn” có lẽ là câu chuyện tâm đắc của tác giả nhất nên ông đã lấy nó làm đầu đề cho cả tập truyện ngắn của mình. “Xóm Cô Hồn” nhưng lại có hồn vì nơi đó chứa những mảnh đời bất hạnh, những thành phần lao động từ tứ xứ kéo về. Đời sống họ phi pháp, nếp sống họ xô bồ vì xã hội đẩy họ vào chỗ cùng đinh nhưng tình bạn của họ, sự chơn chất của tâm hồn, sự đùm bọc che chở nhau phát xuất từ vẻ đẹp, từ sự cao thượng một cách rất tự nhiên có trong lòng họ.  


     Đọc truyện ngắn “Xóm Cô Hồn” ta tìm thấy ở đó tính nhân văn trong lớp người bần cùng của xã hội, ta tìm thấy ở đó tính Người viết hoa, nhân phẩm của họ được đề cao trong tính cách, trong cách xử sự theo lối bình dân của họ, một lớp người khốn khổ. Lời văn trong những câu chuyện nầy vô cùng xúc tích, giống như một hiền nhân điềm đạm kể chuyện đời, rót vào tai người nghe những điều ý vị trong những nghịch lý của nhân quần xã hội.   


     Nói chung, tập truyện “Xóm Cô Hồn” của Kha Tiệm Ly là một tác phẩm đáng trân trọng, phù hợp với mọi người, mọi tuổi đời dầu già hay trẻ, vì trong đó chứa đựng huyền thoại để con người được tưởng tượng khi xem, vì nó chứa đựng nhiều câu chuyện hấp dẫn về người, về thần , về ma một thuở xa xưa, vì nó dựng lại cuộc sống của con người hiện thực trong con mắt sâu sắc của văn nhân. Tất cả những thứ ấy như những bó hoa chở trên con thuyền đạo lý, để người đọc nhìn thấy cốt truyện như vẻ đẹp của hoa và ẩn dụ của truyện như hương thơm ngào ngạt toả ra, đọng lại lâu dài trong thiện tâm của ta./.    


                                                   CHÂU THẠCH 


 

CON CHIM LẠ HÓT GIỮA BÌNH MINH CHÂ U THỔ - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 



CON CHIM LẠ HÓT GIỮA BÌNH MINH CHÂ U THỔ


Con chim lạ hót giữa bình minh châu thổ

Xin giữ giùm tôi chút nỗi nhớ đồng bằng

Hạt phù sa trầm mình mùa nước nổi

Đón em về bùn còn lấm bàn chân.


Điên điển em ơi vẫn vàng trong nắng

Chiếc xuồng con em chèo chống qua đồng 

Bông súng trắng cuộn tròn trong khoang nhớ

Khói cơm chiều còn cay mắt bên song.


Quê hương giờ là hình sương bóng khói

Mang theo mình hương vườn cũ ngày xưa

Nhớ cá về đồng một ngày trở gió

Một cánh cò chìm khuất giữa cơn mưa.


Người qua sông lặng theo dòng nước cuốn

Thấy trong sương màu lau trắng như mây

Chợt thấy tóc mình mỗi ngày rơi rụng

Bay theo chiều treo nỗi nhớ trên cây.


Con chim lạ nghiêng mình dừng tiếng hót

Chợt nhìn tôi người khách lạ phương nào

Đứng ngơ ngác giữa bình mình châu thổ

Nghe trong lòng đồng vọng giấc chiêm bao.

10/11/2020


NGUYỄN AN BÌNH



Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

CHÙM TỨ TUYỆT - THÁNG 11/2020 - THƠ NGUYỄN KHÔI

 Khôi Nguyễn

09:51 (8 giờ trước)

tới BAOTHANG_XUANXUYEN, NguyenBay, tongocthachhp, Phu, tôi, chuhongve48, da, Tran, Giống, Vy, TU, saimonchunhan






  CHÙM TỨ TUYỆT - THÁNG 11/2020

                       -------

*1- Trump trượt, Biden soán ngôi chủ tể

Nước Mỹ rối bời, Covid hoành hành

Putin ( ốm rồi) tin đồn sẽ "nghỉ" ?

Tập Cận Bình "nội bộ" lắm đành hanh ?

                         *

*2-Các tỉnh, thành tưng bừng Đại hội Đảng

Lũ lụt Miền Trung "họa" trút từ trời ?

Quốc Hội họp " nghị trường" phen dậy sóng

Chính Phủ hết mình... lãnh hệ quả một thời .

                          *

*3- 3 Thành phố vui đã thay Lãnh đạo

"Sâu chúa", Sâu con ngấp nghé vào "Lò"

Vui được mùa cả hai đầu Đất Nước

Covid bốn bề từ "ngoại" ...chớ thờ ơ ?

                           *

*4- Hà Nội nắng thu vàng óng ả

Đời rộn ràng mua sắm nhắn Tiki (1)

Trai gái gọi nhau phóng xe lên Mù Cang Chải

Ngắm mùa vàng, thả dù lượn vu vi...

                           *

*5- Ôi Thế giới đã một năm ngưng đọng

Phong tỏa " Cúm Tàu" tất cả ngừng bay ?

Mừng Việt Nam yên bình trong "ốc đảo"

Sa Đéc chăm hoa hừng đón Tết xuân  nay... (2)

---------------

(1) Ngồi nhà mua sắm trực tuyến qua Smarphone

(2) Làng hoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp


           Hà Nội 10-11-2020

            NGUYỄN KHÔI


Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2020

Bàn Về “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA” Bài 1- Thơ Vũ Hoàng Chương - CHÂU THẠCH

 

van tran

Tệp đính kèm

21:33, 6 thg 11, 2020 (2 ngày trước)

tới





                                                (Ảnh Vũ Hoàng Chương)



Bàn Về “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA” Bài 1- Thơ Vũ Hoàng Chương 



I - Sơ lược về nhà thơ Vũ Hoàng Chương: 


     Vũ Hoàng Chương(1916-1978) ở Nam Ðịnh, nguyên quán ông là làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.  


Thi phẩm của Vũ Hoàng Chương được nổi tiếng nhất là tập Thơ Say (xuất-bản năm 1940). Sau tháng Tám 1945, nhà thơ họ Vũ đã cho ra đời thêm mấy tập thơ nữa là: Mây (1943), Rừng Phong (1954); một tập kịch thơ Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp (1944).  


      Sau năm 1954, nhà thơ di cư vào Nam, ông tiếp tục sáng tác không ngừng cho đến khi ông mất. Các tác phẩm giai đoạn này là các tập thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Lửa Từ Bi (1963), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1970), Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1973)... Ông từng được vinh danh là "Thi bá" Việt Nam. 


     Sau 1975 bị bắt giam ở Chí Hòa, do bệnh nặng Ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.  



II – Sự Kiện của thơ: 


     Sự kiện của thơ do nhà thơi La Thuy, Quản nhiệm trang blogspot Phú Đoàn và La Thụy đăng trên báo của mình như sau: 


“Di cảo của Vũ Hoàng Chương (1975 – 1976), do Vũ Hoàng Chương trao cho Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời, đây là công bố đầu tiên di cảo này, gồm 14 bài, trong đó có 1 bài thơ Tết vịnh Tranh Gà Lợn, 12 bài cùng 1 nhan đề “Đọc lại người xưa”, còn 1 bài ông làm trong tù gồm 12 câu, phải làm 6 lần, mỗi lần bà Đinh Thục Oanh vợ ông vào thăm nuôi, ông chỉ viết 2 câu trên mảnh giấy gói đồ, 6 lần vào thăm nuôi ghép lại mới hoàn chỉnh bài thơ, tuy nhiên bài ấy do bà Đinh Thục Oanh giữ và nay đã thất lạc, Hoàng Hương Trang chỉ nhớ vỏn vẹn 1 câu: “Tối về Khánh Hội sáng vô Chí Hòa” để chỉ những cuộc thăm nuôi của bà Đinh Thục Oanh vào thăm ở Chí Hòa, lặn lội cuốc bộ về tới Khánh Hội ở đậu nhà bà Đinh Hùng thì trời đã chiều tối. Nhưng bài thơ này cũng là ngoài 12 bài liền mạch “Đọc lại người xưa”. 


Hoàng Hương Trang nay cũng ở gần cái tuổi 80 rồi, sợ không giữ được, nên xin công bố, in vào tuyển tập sau này để lưu giữ được lâu dài, làm tài liệu cho văn học sau này. 


     Năm 2012, La Thụy được chị Hoàng Hương Trang tặng TUYỂN TẬP THƠ VĂN XUÔI HOÀNG HƯƠNG TRANG, trong đó có in những bài thơ cuối cùng, là “di cảo do thi sĩ Vũ Hoàng Chương trao cho chị Hoàng Hương Trang giữ trước khi qua đời”. Những bài thơ này được in từ trang 398 đến trang 407 trong tuyển tập nêu trên. Xin giới thiệu cùng quý bạn đọc.” 



III- Nghiên cứu bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” Bài 1 


1.  Bài thơ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA (1) 


“Minh nhật dục từ nam phố đạo 

Hà nhân cách xướng bắc cung thanh” 


                       Cao Bá Quát 


Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von 

Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây 

Cánh chim lượn gió đong đầy 

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành 

Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương 

Ba hồi trống giục pháp trường 

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa 

Cơn buồn lọt gió mành thưa 

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba 

Nào ai đáng mặt danh ca 

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe. 


                Vũ Hoàng Chương 


      Bài thơ nầy Vũ Hoàng Chương viết về Cao bá Quát: 


       Cao Bá Quát ( 1809 – 1855), biểu tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, lại có hiệu Cúc Đường, là quân sư trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương chống lại triều Nguyễn, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam. 


Ông là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cuối đời Cao Bá Quát làm thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn chống triều Nguyễn. Khởi nghĩa thất bại, cái chết của ông có nhiều giả thuyết, giả thuyết Cao Bá Quát bị chém được kể lại thành giai thoại văn chương. 


      Trước khi nhập đề “Đọc Lại Người Xưa” (1), nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để dẩn nhập cho bài thơ của mình. Nguồn gốc của hai câu thơ nầy được nhà thơ La Thụy giản giãi như sau: 



 “Minh nhật dục từ nam phố đạo, 

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh. 


(Cao Bá Quát) 



     Hai câu thơ đó có nghĩa là: 


Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố, 

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay.” 


     “Bài thơ này nằm trong quyển “Cao Chu Thần thi tập' của Trung Tâm Học Liệu xuất bản năm 1971 



ĐỀ ĐÀO NƯƠNG XÁ 


Cổ nhân bất thức kim nhân hận, 

Tài đáo thương ly thuyết tận tình. 

Minh nhật dục từ nam phố đạo, 

Hà nhân cánh xướng bắc cung thanh. 

Hàn y cô quán băng xương thiểu, 

Vụ hiệp thâm thôn trúc thụ bình. 

Túy sát Tầm Dương tiếu Tư Mã, 

Thanh sam hà sự lệ tung hoành 


                    Cao Bá Quát 


     Dịch nghĩa: 


     Người xưa không biết thấu nỗi lòng hận của người đời nay, 

Nên mới gặp một sự đau lòng biệt ly hơi hơi, cũng đã nói hết sầu tình. 

Ngày mai muốn xa cách đường Nam phố, 

Ai lại còn đàn hát giọng Bắc hôm nay. 

Sương giá không bao, quán trọ vẫn quạnh hiu lạnh lẽo, 

Cây cối đều bằng phẳng, vì mù trùm làng mạc thâm u. 

Nực cười cho bến Tầm Dương, chàng Tư Mã kia say, 

Việc gì mà đến nỗi lai láng dòng lệ, thấm tràn áo xanh. 


      Dịch thơ: 


     ĐỀ THƠ QUÁN ĐÀO NƯƠNG 


Người xưa không biết người nay hận, 

Vừa mới xa nhau đã hết tình. 

Mai sẽ từ biệt đường Nam phố, 

Mà ai lại ca giọng Bắc thanh? 

Lạnh lùng quán quạnh dầu sương ít, 

Bằng phẳng cây nhiều với vụ sanh. 

Cười ngất rượu say Tư Mã khách, 

Can gì lệ đẫm khắp bào xanh! 

     “Sa Minh Tạ Thúc Khải” 


    Đọc hai câu dẩn nhập vào bài thơ “Đọc Lại Người Xưa”(1) của Vũ Hoàng Chương, ta cũng có thể hiểu nhà thơ Vũ Hoàng Chương muốn dùng hai câu thơ của Cao Bá Quát để nói lên tâm sự u uẩn của người xưa mà cũng gởi vào đó tâm sự u uẩn của chính mình ngày nay. 


     Hai câu thơ dẩn nhập cho “Đọc Lại Người Xưa” là “Minh nhật dục từ nam phố đạo/Hà nhân cánh xướng bắc cung thành” dịch là “Mai sẽ từ biệt đường Nam phố/Mà ai lại ca giọng Bắc thanh?” cho ta đoán định được tâm sự lưu luyến khi phải từ bỏ một quá khứ, một quê hương để bước vào một cuộc sống mới, xa lìa nguồn vui thanh nhã đàn ca hát xướng, cũng như nỗi buồn khi phút cuối còn nghe giọng ca quen thuộc như một lời tiển đưa ai oán.  


     Thế rồi Vũ Hoàng Chương vào đề bài thơ bằng câu thơ: “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”. Đọc câu thơ nầy ta nhớ đến bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. Bà Huyện Thanh Quan cũng đi trên con đường Thanh Nghê tỉnh để vào kinh đô Huế, đên đèo Ngang, bà cảm tác bài “Qua Đèo Ngang” bày tỏ tấm lòng thương nhớ triều Lê.  


     Ở bài thơ nầy, Vũ Hoàng Chương cũng nhắc đến “Đường Thanh Nghệ tỉnh cho von”, nhưng trong một câu thơ sau nhà thơ lại nhắc đến cái chết bị chém đầu trên pháp trường cúa Cao Bá Quát:”Ba hồi trống giục pháp trường/Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa”. Điều đó chứng tỏ câu thơ “Đường Thanh Nghệ tỉnh chon von” Vũ Hoàng Chương muốn nói đên việc Cao Bá Quát qua Thanh Nghệ tỉnh hay qua đèo Ngang, trên con đường bị đưa vào kinh đô Huế để chém đầu,  


      Câu thơ thứ hai của “Đọc Lại Người Xưa”( 1), Vũ Hoàng Chương nhắc đến ca trù hay hát nói: “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây” 


     Hát nói vừa là một thể thơ, vừa là một trong 46 điệu thức của loại hình nghệ thuật dân gian ca trù. Nửa đầu hay tiền bán thế kỷ 19, hai nhà thơ cùng nổi danh với những bài Hát nói trong giáo phường cũng như trong lòng kẻ thưởng ngoạn, và thường được xếp bên nhau trong chương trình giáo khoa văn học VN là Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát.  


Qua những bài hát nói, Cao Bá Quát tỏ ra là một tài tử đa cùng, một nghệ sĩ tài hoa, một khách phong lưu ưa thú cầm kỳ thi tửu và thích hưởng nhàn và hưởng lạc. 


      “Nhịp ba chung bắc” là gì? Đó là một cách  hát trong nghệ thuật hát nói.  


     “Hát Cung bắc trước chậm sau mau, có ba chỗ thay đổi điệu. Thoạt đầu ngâm nga rồi vào phách, giọng hát chen cung nam lẫn cung bắc, sau chuyển sang cung pha nên gọi là nhịp ba cung bắc.”  

     Câu thơ “Nhịp ba cung bắc ai còn hát đây” Vũ Hoàng Chương muốn nói đến Cao Bá Quát, một “Tài tử đa cùng phú” đã bị dưa đi chém đầu rồi thì từ đây, điệu ca hay “nhịp ba cung bắc” không ai còn hát nữa, vì hát cho ai nghe, bởi khách tài hoa phong lưu bậc nhất không còn ở trên đời.  


     Tiếp tục bài thơ, câu thứ 3 và câu thứ 4 như sau: 


Cánh chim lượn gió đong đầy 

Khói hoàng đô thoắt liền mây Đế Thành 


     “Khói hoàng đô” thì dễ hiểu. Đó là khói ở kinh đô. Còn mây Đế Thành là gì?  


     Đế Thành là thành Hoàng Đế. Thành Hoàng Đế là kinh đô của triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam từ năm 1776 tới năm 1793 . Năm 1778, sau khi đánh bại chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn và cho xây dựng kinh đô tại vị trí cũ của thành Đồ Bàn vương quốc Chăm Pa, đây là nơi của Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc ở nên gọi là thành Hoàng Đế. 


     Hai câu trên nói đến sự suy tàn của triều đại Tây Sơn. “Khói hoàng đô” nói sự thịnh vượng của đế đô hoàng đế Nguyễn Nhạc. Đế đô đó tên là Thành Hoàng Đế. Sau khi Tây Sơn tbua cuộc, Thành Hoàng Đế bị san bằng, phút chốc đã hóa thành thành mây, gọi là “mây Đế Thành”. 


     Câu thứ 5 và thứ 6 của “Đọc Lại Người Xưa”(1) như sau: 


Rồng Lê phượng Nguyễn tung hoành  

Chẳng e lưu xú chẳng đành lưu phương 


    “Lưu xú” là lưu tiếng xấu (Lưu danh thiên cổ. lưu xú vạn niên). “Lưu phương” là lưu tiếng thơm cho đời sau . Hát nói của Nguyễn Công Trứ có câu “Làm cho bách tuế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng”. 


     Hai câu thơ 5 và 6 đề cập đến sĩ phu thời Cao Bá Quát. “Rồng Lê” là những sĩ phu thời vua Lê, “phượng Nguyễn” là sĩ phu thời các vua Nguyễn. Đấy là những người "Phú quý bất năng dâm/ Bần tiện bất năng di/ Uy vũ bất năng khuất" - hiểu đơn giản là miễn nhiễm trước những nguy cơ tấn công của tiền bạc, của đói nghèo và bạo lực. Thứ duy nhất mà họ theo đuổi, và tôn thờ đến khi nhắm mắt xuôi tay là lý tưởng phụng sự tổ quốc, phụng sự dân tộc mình. Cao Bá Quát là một trong những ngôi sao sáng của tầng lớp nầy nhưng sinh ra dưới ngôi sao xấu nên đường khoa cử, đường hoạn lộ đều gặp trắc trở, để cuối cùng bị họa diệt thân, họa tru di tam tộc.  


     Bốn câu thơ 7 và 8, 9 và 10, Vũ Hoàng Chương nhắc đến cái chết bị chém đầu của Cao bá Quát: 


Ba hồi trống giục pháp trường 

Máu tuôn phách dựng phố phường còn mưa 

Cơn buồn lọt gió mành thưa 

Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba 


Về cái chết của Cao Bá Quát có nhiều thuyết khác nhau. Sử nhà Nguyễn ghi chép về cái chết của Cao Bá Quát, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Mỹ Lương nổ ra bắt đầu ở Quốc Oai (Sơn Tây), rằng ông bị bắn chết ở trận tiền (1855). Truyền thuyết cho rằng Cao Bá Quát bị bắt, giải về Hà Nội rồi đưa vào giam ở Huế trước khi đem ra chém đầu, Trong thời gian bị giam trong ngục ông làm hai đôi câu đối nổi tiếng: 


Một chiếc cùm lim chân có đế, 

Ba vòng dây xích bước cỏn vương. 


và: 


Ba hồi trống giục, đù cha kiếp, 

Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời! 


     Trong bốn câu thơ trên, Vũ Hoàng Chương đã hư cấu cho trời đất cũng hát tiếng hát ca trù thảm thiết bằng nhưng cơn gió lọt vào mành thưa khi nhà thơ Cao Bá Quát bị chém trong một ngày mưa. Để rồi tiếp hai câu thơ chót, Vũ Hoàng Chương đã cho tiếng ca của trời đất đó thê thảm đến nỗi không một danh ca Bắc Hà nào có thể diễn đạt được hết nỗi bi thương kia: 


Nào ai đáng mặt danh ca 

Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe. 


     Quê hương của Cao Bá Quát là tỉnh Bắc Ninh, do đó ông chính là kẻ sĩ miền Bắc. Câu thơ “Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe” như một lời kêu than, một lời phân bua, một lời oán trách đến người kẻ sĩ Bắc Hà, mời họ nghe tiếng khóc của mưa gió cho cái chết của họ Cao còn ai oán, bi thương nhiều hơn tiếng ca trù của một danh ca Bắc Hà than vản.  


     Nhà thơ La Thụy cho biết, “ĐọcLại Người Xưa” bài 1 là một trong 12 bài thơ di cảo của Vũ Hoàng Chương sáng tác năm 1975-1976,  là thời kỳ nhà thơ lâm vòng lao lý, tù tôi. Mười hai bài thơ “Đọc Lại Người Xưa” nầy tác giả phải đưa vợ cất dấu rồi chuyền tay cho nhà thơ Hoàng Hương Trang giử hộ. Điều này cho ta có thể suy đoán, 12 bài thơ là nỗi lòng mà thi nhân ấp ủ vào đó. Vũ Hoàng Chương đã đọc lại 12 thi nhân xưa để sáng tác về họ, lấy cùng nhan đề “Đọc Lại Người Xưa” để lồng gởi vào đó niềm riêng mà nhà thơ không thể nói công khai ra được. 


    Châu Thạch tôi vì ái mộ Vũ Hoàng Chương, nên tra cứu để tìm hiểu nhà thơ trên mạng, biết được điều gì xin chép lại điều đó, nghĩ rằng nên truyền thông ra để thân hữu, bạn đọc có thể biết thêm về cuộc đời, sự nghiệp văn chương của một thi nhân nỗi danh một thời. Bài viết có nhiều tư liệu đã thành phổ biến tôi không đưa vào ngoắc kép, còn những tư liệu mới tôi đều đưa vào ngoặc kép hoặc nói xuất xứ rõ ràng. Mong được tha lỗi những sai trật hoặc nhận định khác ý của tôi, vì đây chỉ là bài viết của một người tay ngang múa rìu qua mắt thợ mà thôi ./. 


                                     CHÂU THẠCH 


 


ĐẾN MỘT MÙA XUÂ N - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ

 tong minh

Tệp đính kèm

07:44 (10 phút trước)

tới tôi, Kim, Dao


Xem lại bài thơ cũ, nay gởi Quí trang,

Trong lúc que hương miền Trung gặp cơn bão lũ.





ĐẾN MỘT MÙA XUÂ N 

 

Nghe xé lòng đau vết chém sâu
Từng cơn bão nỗi mắt tuôn sầu !
Mây điên cuồn gió hờn non lạnh,
Trời não nùng mưa trút giọt đau.
Khúc ruột ba miền thương tiếng quốc...
Khối tình bốn biển thấm dòng châu.
Tìm đâu với cả mùa xuân nhỉ ?
Đây, một mùa xuân vẫn nhiêm mầu !

 

             Tam Kỳ, q, Nam, 1999.

                    MẶC PHƯƠNG TỬ. 


Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2020

KHOẢNH THƯƠNG TÂM - THƠ TUỆ MINH

 


Thien Gia <thiengia50@yahoo.com>

17:19, Th 5, 5 thg 11 (14 giờ trước)



Kính mời chư vị nhín vài phút để chia sớt bớt nỗi đau thương này.







KHOẢNH THƯƠNG TÂM 


Ôi ! nhói buốt cả con tim chết lặng

Nhìn quanh ta đầy nỗi khổ còn vương

Thiên tai đoạt, hỡi ơi ! tầm tay ngắn

Cuốn mất rồi theo dòng nước vô thường


Nỗi đau nào hơn nỗi đau thế nữa !

Kiếp nhân sanh tựa nhát cắt đoạn trường

Đành nén tiếng thở dài trong thổn thức

Dậy dâng tràn xúc động với quê hương


“Bạn có biết ! đã bao lần hoa nở

Là bấy lần sắc thân toả tâm hương

Đôi tay đẹp ôm những gì vụn vỡ

Và truyền vào hơi thở ấm tình thương” *


Tâm tư ấy mãi về xa bất tận

Để đắp bồi một thế giới thanh lương

Lên hàn gắn từng vết thương rỉ máu

Là mây lành xoa dịu những tai ương


Và trong bạn, trong ta, trong tất cả

Sưởi tình người dậy sức sống yêu thương...


* trích “Đôi tay đẹp”


TUỆ MINH

November 5, 2020