CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

CHÙM THƠ NGUYỄN KHÔI








THƠ VỀ Ô SIN

(Tưởng nhớ anh Lê Bầu)

Thua "mợ chủ" cái danh "Bà Chủ"
là Ô sin thống lĩnh một tòa
- trọng trách là chăm nom "2 cụ"
lo nấu ăn, đi chợ, lau nhà...
                   
Thua "mợ chủ" phấn son / đài các
Hơn (là) "gái quê" xuân sắc mặn mà (1)
Khiến "cậu chủ" mắt la / mày lét
thèm trộm ôm một cái bõ mà...
                   
Ừ, ở quê còn chồng/ con nhỏ
còn mẹ già/ cha yếu chờ trông 
-Thôi, thì  đành chịu "xa", chịu "nhớ"
làm "Chuột sa chĩnh gạo" kiếm ăn...
                    
-Ừ "đi chợ" khéo mà bớt xén
Này dầu thơm / sữa tắm...cứ mần
Nịnh "2 cụ" , có phần tiền thưởng
"Cậu chủ" mê "boa" sộp mỗi lần...
                    
Ừ "Ô sin" nghe tên... hơi ớn
làm Tướng kia: chữ NHẪN còn đeo ?
Tất cả là "kiếm ăn" và "sướng"
Nghề Ô sin - lối thoát đói / nghèo.

                         Hà Nội 7-2-2017
                        NGUYỄN KHÔI

(1) Xem "Gái quê" của Hàn MạcTử
và thơ Tố Hữu "Nàng gửi con về thôn xóm cũ..."
         
THƠ VỀ "LŨ CHÈ CHAI/ ĐỒNG NÁT"

"kẻ ăn mày chờ xin bố thí
 Trước uy nghi Tu viện Chúa Trời"
      Thơ M. Lermontov (1814-1841)
                    
"Lũ đồng nát..." chờ xin "đồ thải"
Trước cao tầng, biệt thự/ nhà hàng
Mong kiếm chút "tiền" về trang trải
cho chồng con/ bố mẹ ở Làng.
                    
Chúng mong được Tivi (bầu) cũ,
Bộ Xa Lông đệm rách/ ghế sờn
Cái quạt bàn chạy  kêu cọc cạch
Váy/ áo lông lạc mốt còn bền...
                     
Chúng túm năm, tụm ba ngoài cửa
Cũng Iphone/ Ipad (cũ) chơi game
Chuyện "vỉa hè" xem chừng rôm rả
chờ Ô sin nhà nó  tay trong...
                     
Mình cũng đã có thời như thế
Sau 75 vào "nhận họ/ hàng" (1)
- Khung xe đạp/ Búp bê Nhật Mỹ...
về Hà Thành con cháu sướng rơn...

Hà Nội , sau rằm tháng giêng Đinh Dậu -2017
                      NGUYỄN KHÔI
......

(1) Sau 30/4/1975 nam- bắc thông thương :
dân Nam nhận Họ/ dân Bắc nhận Hàng...

Nguồn : từ email của tác giả Nguyễn Khôi gửi lamngoc.
NM xin lỗi nhà thơ Nguyễn Khôi đã không kịp lên bài và cảm ơn anh thường xuyên chia xẻ những bài viết hay.

NGƯỜI DƯNG NHƯNG ĐÂU PHẢI NGƯỜI XA LẠ - NGUYỄN BÀNG





Ảnh tác giả Nguyễn Bàng do ĐXX gửi


NGƯỜI DƯNG NHƯNG

ĐÂU PHẢI LÀ NGƯỜI XA LẠ!
*



NGƯỜI DƯNG

Đã mòn con mắt lá răm
Lời yêu còn ở ngã năm chửa về
Sập sùi sũng ướt triền đê
Khạo khờ mãi nhuộm câu thề người dưng

Hội làng thì đã lưng chừng
Người dưng ơi hỡi...
Người dưng
Chả về.
*.
Hà Nội, ngày 09 tháng 02.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


LỜI BÌNH:
Trong không khí của một quần thể con người hỗn loạn, hoang mang, hung bạo đang tràn ngập trong mùa lễ hội ở nhiều nơi trên miền Bắc, mà người ta đi dự lễ hội, đi đến các chùa chiền, đền thờ để vụ lợi với hy vọng đến đấy sẽ được buôn may, bán đắt, sẽ được thăng quan tiến chức, trở nên giàu có..., bỗng nghe trong gió từ đâu đưa lại một hơi thở dài buồn trách:       
Hội làng thì đã lưng chừng
Người dưng ơi hỡi...
Người dưng
Chả về
Phải là hội làng với đúng nghĩa là sinh hoạt văn hoá dân gian của cư dân địa phương ở một quy mô nhỏ vào tháng Giêng đến hội, người dân nô nức tham dự nhưng rất đẹp chữ lễ chứ không phải là lễ hội với những cảnh chen lấn, giành giật, giẫm đạp lên nhau có cả máu người và máu các con vật như trâu bị treo cổ cho đến chết, lợn bị chém giữa sân đình…, ta mới có thể nghe được hơi thở nhẹ buồn trách đó. 
Ấy là hơi thở nhẹ của một cô gái quê trong bài thơ NGƯỜI DƯNG của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến. Và nghe xong tiếng thở ấy, ta như nhìn thấy cô gái đang trong đám hội nhưng không đứng trong đám đông dân làng mà đứng lẻ ra mé ngoài, ngóng mắt về phía đường xa mong đợi và mong đợi đến độ:
Đã mòn con mắt lá răm 
Một cô gái quê xinh đẹp đúng như ca dao từng ca tụng: “Đàn bà con mắt lá răm/ Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền” mà thời nay dẫu có đốt cả trăm bó đuốc soi vào cả ngàn tiệm spa làm đẹp cho phụ nữ cũng không dễ gì tìm được một người.
Đôi mắt đẹp quý hiếm ấy “đã mòn” vì sao? Chỉ là vì:  
Lời yêu còn ở ngã năm chửa về
Thật tội nghiệp! Bởi lẽ, thói thường, khi gặp ngã ba đường người ta đã phải phân vân tìm cách nên lựa chọn ngả nào? Vậy mà lời yêu con mắt lá răm ngóng đợi lại đang ở ngã năm, chỗ con đường đi ra năm ngả; có thể ngã năm ấy không còn xa hội làng lắm nhưng biết đi ngả nào cho đúng hướng đây? Chính vì thế, đâu chỉ mình cái lời yêu đó phải phân vân tìm lối mà cả cô gái quê cũng đang bồn chồn lo lắng, liệu lời yêu có chọn đúng ngã rẽ để về hay sẽ đi lạc lối để uổng phí một hội làng, phí hoài một ngày xuân tươi đẹp. Vì thế con mắt lá răm không chỉ đã mòn vì mong đợi mà còn:
Sập sùi sũng ướt triền đê
Người đời thường dùng từ hạt lệ để nói về nước mắt. Thiên tài Nguyễn Du trong Truyện Kiều thì tài hoa phong phú hơn nhiều: hạt châu, giọt ngọc, giọt tương, giọt riêng, mạch tương.
Và để diễn tả mức độ khóc, người đời thường ví von khóc như mưa: 
Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa
Hay ví cụ thể hơn “như mưa tháng mười”:
Anh về em chẳng dám đưa,
Hai hàng nước mắt như mưa tháng mười.
Cũng có khi nói “khóc đỏ lòm con ngươi”:
Phù sa nước đục khó dòm,
Nhớ anh em khóc đỏ lòm con ngươi
Làn thu thủy của nàng Kiều “nghiêng nước nghiêng thành” đã đẹp lại đẹp hơn lên khi khóc bởi những từ ngữ như đầm đầm châu sa, châu sa vắn dài, giọt ngọc như chan:
Lòng đâu sẵn nỗi thương tâm
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa./
Lại cùng ủ dột nét hoa
Sầu tuôn dứt nối châu sa vắn dài".
Nàng càng giọt ngọc như chan, 
Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây"/.
Trong NGƯỜI DƯNG của Đặng Xuân Xuyến thì nước mắt của con mắt lá răm được diễn tả mộc mạc như ta đã thấy:
Sập sùi sũng ướt triền đê
Một hình ảnh rất sáng tạo của nhà thơ hiện đại nhưng vẫn giữ được chất quê mùa bình dị rất gần gũi với người dân đồng ruộng mà không kém phần sâu sắc.
Triền đê là dải đất thoai thoải của con đê ở hai bên bờ sông. Khi mưa, nước thường từ trên trời rơi xuống mặt đê rồi trôi theo triền đê xuống tràn vào bờ bãi hay chảy hòa vào nước dòng sông cùng tuôn ra biển cả. Triền đê đâu phải là chỗ trũng để nước mưa dễ bề đọng lại. Vậy mà nước mắt của cô gái ướt sũng triền đê chứng tỏ triền đê đã bị thấm nhiều quá, lâu quá bởi những dòng lệ của con mắt lá răm.
Vậy vì sao con mắt lá răm, con mắt biết nói, biết cười mà ai trót nhìn vào sẽ đắm say, quyến luyến chẳng muốn rờì ấy đã mòn vì ngóng đợi lại khóc đến ướt sũng cả triền đê? Đây là câu thơ cắt nghĩa nguyên do nông nỗi ấy:    
Khạo khờ mãi nhuộm câu thề người dưng
Chỉ là một câu thề của một người dưng nhưng cô gái đã khạo khờ nhuộm nó vào lòng và thời gian đã trôi qua nhưng không hề phai nhạt.
Người dưng hay người dưng nước lã, chỉ người không có máu mủ ruột rà thân tộc nội ngoại gì với mình mà nó tự nhiên như nước mưa, nước giếng. Nhưng sao cái người dưng kia lại nhuộm được câu thề trong lòng cô gái? Chỉ có thể nói đó là một người dưng quá đặc biệt, nếu không nói là người đã biết nhau từ kiếp trước thì ít nhất cũng là người đã biết nhau từ hội làng năm cũ. Cái người dưng quá đặc biệt ấy đã lọt vào “con mắt lá răm”, đã cho cô gái lời yêu, mách bảo trái tim cô gái một điều gì đó rất linh diệu khiến nỗi lòng cô hằng nhớ và đời sống tâm hồn tình cảm của cô đã bị xao động:   
Cơm ăn nửa chén lưng lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này?
Và vì thế, hội làng năm nay, cô mới phải hoài công ngóng đợi lời yêu và cái người dưng kia.
Qúy con mắt lá răm đáng trăm quan tiền của cô gái quê trong thơ Đặng xuân Xuyến, tôi bỗng nhớ tới cô gái trong khung cửi nổi tiếng từ hơn 80 năm trước trong thơ Nguyễn Bính. Cũng hội chèo làng Đặng ở thôn Đoài. Một cô gái nông thôn trẻ trung xinh đẹp đội mưa bụi đi hội nhưng không phải để xem mà chính là để tìm gặp người yêu: 
Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm 
Em mải tìm anh chả thiết xem …
Và cũng thật tội nghiệp cho cô, tìm anh suốt một đêm thâu để rồi: 
Chờ mãi anh sang anh chả sang 
Thế mà hôm nọ hát bên làng 
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn 
Ðể cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
Thương con mắt lá răm đã khóc ướt sũng triền đê, tôi lại nhớ đến người thiếu phụ mòn mỏi chờ bóng tình quân bài thơ Mòn Mỏi của Thanh Tịnh ngang thời Nguyễn Bính. Bài thơ được phóng tác theo truyện "Barbe bleue" của nhà văn Pháp Charles Perrault chìm ngập nỗi buồn. Người thiếu phụ xinh đẹp ngồi bên trong bức rèm, dệt vải. Còn em gái nàng thì ngồi ở gian ngoài, ngóng ra ngoài đường, chờ đợi. Ngôi nhà bé nhỏ nằm dưới thung lũng cũng cô đơn lặng lẽ như hai chị em họ. Sau bao lần tưởng như trông thấy tình quân với con ngựa hồng đang đến gần cùng với tiếng gọi của chàng trong tiếng ngựa hí, tiếng nhạc ngựa vang reo, người thiếu phụ nhờ em gái nhẹ cuốn bức rèm tơ lên xem có phải đúng thế không để rồi chỉ nhận được những câu trả lời cuả em gái: khi thì "Chị ơi em thấy một cây liễu buồn", khi thì: “Bên rừng ngọn gió rung cây”, khi  thì “Sóng chiều đùa chiếc thuyền nan” và "Chị ơi con nhạn lạc bầy kêu sương" hay "Chị ơi con sáo gọi ngàn bên sông".
Nhưng khi bất chợt nghe em gái nói như reo lên: 
Ô kìa! Bên cõi trời đông
Ngựa ai còn ruổi dặm hồng xa xa
Thì nàng thiếu phụ bỗng lo lắng bảo em gái:
Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống,
Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm.
Và rồi kết cục:
Ngựa hồng đã đến bên hiên
Chị ơi, trên ngựa chiếc yên vắng người 
Sự bất ngờ của hình ảnh chiếc yên ngựa vắng người đã khiến bao người yêu thơ muốn vỡ tim vì buồn thảm 
Tôi vô cùng yêu thích hai bài thơ diễm tình: MƯA XUÂN của Nguyễn Bính và MÒN MỎI của Thanh Tịnh, rất quý mến tấm tình của cô gái trong khung cửi tìm người yêu, rất cảm thương người thiếu phụ xinh đẹp đã mòn mỏi mong đợi tình quân từng giây từng phút để rồi tan nát cõi lòng trong tuyệt vọng. Nhưng tôi không muốn cô gái có con mắt lá răm trong thơ Đặng Xuân Xuyến phải cam phận như hai số phận ấy. Theo kinh nghiệm người đời: Người có đôi mắt lá răm thường sắc sảo đa tình và rất thủy chung nhưng cũng luôn nhuốm chút u buồn, sâu lắng. Nhưng tôi không muốn con mắt lá răm ấy trong thơ Đặng Xuân Xuyến sẽ phải buồn tủi tê tái như cô gái trong khung cửi  “Để cả mùa Xuân cũng nhỡ nhàng”, lại càng không muốn con mắt lá răm ấy phải vận vào người nỗi mòn mỏi tuyệt vọng như người thiếu phụ trong thơ Thanh Tịnh.
Bài thơ NGƯỜI DƯNG của Đặng Xuân Xuyến rất ngắn, hai khổ nhưng cả thảy chỉ có 6 câu mà trong đó có tới 5 câu thơ buồn. Chỉ còn lại một câu:
Hội làng thì đã lưng chừng 
Câu thơ tả thời gian, nhưng cũng diễn tả tâm trạng “sốt ruột”, đã xuất hiện sự “buồn nản” trong chờ đợi “người dưng” của “con mắt lá dăm”. Tuy không buồn như 5 câu thơ kia, nhưng câu thơ cũng gieo vào lòng người tâm trạng se buồn.
Hội làng thì đã lưng chừng, là khoảng thời gian đã đi qua những màn diễn chính của lễ hội và đang nhích dần về nửa sau, về những màn cuối, để khép lại hội làng, nghĩa là vẫn còn thì giờ để ngóng đợi “người dưng” nhưng hy vọng đã không còn nhiều, ngày một thu hẹp, rút ngắn.
Bài thơ khép lại với tiếng thở dài, tê tái:
Người dưng ơi hỡi...
Người dưng
Chả về.
Tôi không muốn cô gái có con mắt lá răm trong thơ Đặng Xuân Xuyến phải cam phận như vậy. Vì thế, nghĩ cho cô gái, tôi nghe như trong gió từ hội làng tiếng ai đó đang hát:
Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi, 
Anh ơi, em vẫn đợi…
Cô gái con mắt lá răm ơi, cô có nghe thấy tiếng hát đó không? 
Nếu nghe được thì xin cô hãy cùng tôi tin rằng, sau tiếng hát ấy, lời yêu của cô ở ngã năm sẽ tìm ra lối rẽ đúng và kịp về với cô, người dưng chưa về sẽ kịp đến bên cô. Hãy vững tin đi, “con mắt lá răm” xinh đẹp đa tình nhưng chung thủy nhé! Bởi gọi cái người gọi là người dưng đó đâu phải là người xa lạ, nếu không nói là đã gặp nhau trong tiền kiếp thì cũng đã biết mặt nhau, đã nghe lời yêu của nhau, đã nhận câu thề với nhau và đã nhuộm câu thề đó trong trái tim từ buổi còn khạo khờ. Nhất định người dưng ấy sẽ về hội làng để “lên ngôi” thành người nghĩa, người tình của cô và sẽ cùng cô “đơm hoa kết trái” thành hạnh phúc lứa đôi!

         VĨ THANH:
Khép lại bài thơ Người Dưng, không hiểu sao tôi lại có cảm giác, hơi thở dài của cô gái mắt lá răm cũng chính là hơi thở dài của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến. Hình như nhà thơ cũng đang trong Hội làng và cũng đang để trái tim se buồn, bâng khuâng ngóng đợi một lời yêu của một người dưng nhưng cũng không phải là một người xa lạ mà là một người đặc biệt như đã cùng nhà thơ biết nhau trong tiền kiếp. Nếu đúng vậy, tôi chúc nhà thơ sẽ mau chóng đón nhận lời yêu ấy, có thể không phải là đang ở ngã năm mà ở một ngã bẩy sẽ về.
*
Sài Gòn, ngày 08/02/2017
NGUYỄN BÀNG
Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn
Email: bnguyen37@gmail.com


Nguồn : từ email của tác giả Đặng Xuân Xuyến gửi nhamyngocsuong.
NM cảm ơn hai tác giả Đặng Xuân Xuyến và Nguyễn Bàng đã chia xẻ một bài viết hay.

.

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

B'LAO EM VÀ TÔI - THƠ HOÀNG YÊN LYNH



Kết quả hình ảnh cho ảnh nương chè


B'LAO  EM  VÀ  TÔI

                          

Nắng B'Lao không đủ ấm chiều sương núi
Em về đâu trong bát ngát nương chè
Dáng nghiêng chiều em hồn nhiên lặng lẽ
Tôi ngẫn ngơ nhìn
Em lẫn trong chiều
Trong sương khói mênh mông...

Ở với rừng nhớ đồng bằng gió lộng
Nhớ bến đò con sông nhỏ uốn quanh.
Lâu lắm rồi biền biệt chốn sơn khê
Một ánh mắt cũng gợi sầu nhân thế.

Tôi lưu lạc mất dấu về quê cũ
Nặng gánh đời em phiêu bạt tha phương .
Em về đâu...
Tôi về đâu...
Đời gian nan biền biệt chốn quê người .
Tôi đã già tóc úa nắng chiều rơi
Em tuổi trẻ đa đoan đời mưa nắng...

Đất cao nguyên gió rừng và sương núi
Người cao nguyên  hồn lộng gió bốn phương
Trăng cao nguyên ấm tình người lưu xứ
Bát ngát nương chè
Xanh thắm màu xanh...

"Tôi đi mãi mãi vào sơn cước
Em vuốt tua rèm cửa vọng lâu ... "  *
Bao năm rồi đau đáu một niềm đau
Đời dâu bể tôi làm người  xa xứ
Bất chợt chiều nay em mang cả đồng bằng
Bất chợt có em giữa trời quan tái .
Em dịu dàng...
Và tôi lại là tôi.

Cảm ơn em một lần gặp gỡ
Đưa tôi về chốn cũ ngàn xưa
Chút  ân tình thấm đẫm lại trang thơ
Chiều thương nhớ giữa một trời thương nhớ.

Em đi rồi khuất dần theo dáng nhỏ
Chiều B'Lao sương núi kết thành thơ.


HOÀNG YÊN LINH
* Thơ Nguyễn Bính

Nguồn ; từ email của tác giả Hoàng Yên Lynh gửi nhamyngocsuog.
NM cảm ơn nhà thơ Hoàng Yên Lynh đã chia xẻ một bài thơ hay.

ĐÊM NAY TA GỐI TAY VÀO MỘNG -THƠ HOÀNG YÊN LYNH






ĐÊM NAY 

            TA GỐI TAY VÀO MỘNG
                            

Không rượu làm sao nói chuyện đời
Không tình đời lại bạc như vôi
Này em xiêm áo tô son phấn
Để lại bên đời ta chút duyên.

Ta uống đời ta những muộn phiền
Con thuyền không bến mãi lênh đênh
Ồ chẳng Trương Chi không Phạm Thái
Ta mãi lang thang với bụi trần.

Ta uống mà say với núi rừng
Say tình say bạn cố nhân say
Tóc em buông xõa chiều quan tái
Trông mắt ai cười mắt ta cay.

Quán buồn chỉ có mình ta uống
Uống cả ân tình cả dối gian
Em mang xiêm áo khoe ngày hội
Ta lại bên rừng gió  trăng thôi.

      Đateh đầu năm Đinh Dậu.
            HOÀNG YÊN LYNH.


Nguồn : từ email của tác giả Hoàng Yên Lynh gửi nhamyngocsuong.
NM cảm ơn nhà thơ Hoàng Yên Lynh thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

CHỢ HOA NGÀY 30 TẾT (2017)

Ngày 30 tết  các chợ hoa ở SaiGon, hoa  vẫn còn  đầy ấp , cả một rừng hoa tươi đẹp đủ cả sắc màu .Thương cho các chủ vườn quá !







Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ HAY - NGUYỄN KHÔI






ĐÔI ĐIỀU VỀ "THƠ HAY"


(Viết để chia sẻ tấm lòng cùng bạn thơ Châu Thạch, Nguyễn Bàng, Phạm Đức Nhì.)
                                   
   Xưa nay trong các cuộc Thảo luận / tranh luận về Thơ... đều nhằm mục đích tìm (phát hiện) ra "Thơ hay" và loại bỏ "Thơ dở".

   Vậy Thơ chỉ có 1 tiêu chuẩn 1 chữ là chữ là HAY hoặc DỞ mà thôi.

  Thơ là tuyệt đỉnh của văn chương vì Thơ ít chữ nhưng nói được nhiều hơn văn xuôi. Thông qua tư duy, người ta đạt đến Nghệ thuật và khoa học; nhưng với Thi ca thì không như vậy, bởi vì Thơ là ngẫu hứng (là tài hoa mà Thi nhất phát tiết ra).

  Một tác phẩm Thi ca càng độc nhất vô nhị và khó nắm bắt đối với trí tuệ bao nhiêu thì lại càng hay đến bấy nhiêu. Ở Đức, Thơ là chốn ẩn mình của những Tác giả có tài và bất tài, song đều chung nhau ở một điểm là ít dính dáng đến trí tuệ (nói theo Thi hào Goethe). Còn theo Heine thì "Thơ ca là căn bệnh lạ kỳ, căn bệnh đẹp nhất của nhân loại"; chả thế mà Chế Lan Viên cũng nói "Thi sĩ không phải là người (bình thường), nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ"; còn nói văn vẻ như Tchékov (Nga) thì "các thiên tài của tất cả các thời đại và các nước nói bằng các thứ tiếng khác nhau, nhưng trong các thứ tiếng ấy có cùng một ngọn lửa cháy".

  Đổng Trọng Thư (đời Hán): "Thơ ca không thể giải thích được". Vương Sĩ Trinh (đời Minh): "Thơ khó ở chỗ nếu không giải thích được thì thơ vô vị, mà giải thích được thì hết thi vị."

   Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa " thơ hay là thơ gồm 6 chữ : giản dị, ám ảnh, không quên". Trần Đăng Khoa kêu gọi : "mỗi người chỉ làm 1 bài thơ thật chất lượng, 1 bài thơ "để đời".

   Tóm lại: 1 bài "thơ hay" phải hội đủ 3 yếu tố: lời hay, ý đẹp, truyền cảm.

Nói một các khác là: Thơ hay phải là Ý mới / Tứ lạ / có Hồn. Khi Thi nhân  cảm hứng, ý thơ tuôn trào, hồn thơ lai láng, đó là giây phút xuất thần thường cho "thơ hay".

 Một câu thơ hay thường phải đạt 4 yếu tố: Ý mới, tứ lạ / hình tượng thơ sống động / Ngôn ngữ thơ tinh luyện, nhạc điệu truyền cảm /có tính đột ngột tạo được ấn tượng.

  Tiêu chí 1 bài thơ hay: Ý mới, tứ lạ: biểu hiện ý tưởng bao quát của bài thơ / Từ ngữ tinh tế, kiệm lời, có sáng tạo "từ" như "chữ mắt - nhãn tự làm tỏa sáng.../có giọng điệu riêng (thi cách)/ Hình ảnh sống động, tươi mới / nhạc điệu cuốn hút, âm vang.

  Hoài Thanh: "Thơ hay vẫn là sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Một bài thơ hay là cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn."

 Một vài câu thơ hay mà Nguyễn Khôi thích thú:
     * vài ba giọt rượu hoen tà áo
       Một chút trắng ngà vướng tóc râu
                  (Bàng Bá Lân)
     *Ai đem rắc bướm lên hoa
      rắc bèo xuống giếng, rắc ta vào nàng.
                   ( Nguyễn Bính)
      *Một mai rũ áo ra đi
       Chỉ là quay gót trở về cố hương
       Tạ ơn trăm nhớ ngàn thương
       Buông tay chỉ một vô thường thế thôi
                   (Dương Kiến)

  Trên đây là Nguyễn Khôi đã tổng hợp gói lại ý kiến của nhiều người để các bạn thơ tham khảo... và Nguyễn Khôi xin gút lại cuộc thảo luận / tranh luận bằng 2 câu thơ bỏ ngỏ Gửi nàng thơ Tuyên Quang là:
        Thôi, cứ để cho thời gian gió thổi
        Gieo vào lòng một chút sóng sông Lô...
                       
        Làng Mọc Quan Nhân, 15-2-2017.

                                   NGUYỄN KHÔI

Nguồn : từ email của tác giả Nguyễn Khôi gửi lamngoc.
NM cảm ơn anh Nguyễn Khôi đã chia xẻ một bài viết hay.



Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

KIM YÊU- TRUYỆN NGẮN CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN





Kết quả hình ảnh cho hình ảnh người phụ nữ đẹp



KIM YÊU

*
Bạn có đẹp trai? Chắc cũng chỉ như tôi là cùng. Thề có bàn phím tôi đang gõ, không ít người ngợi khen tôi đẹp trai, còn gọi tôi là Vinh hoàng tử nữa đấy. Thực ra, tôi cũng ý thức được mình đâu có đẹp, chỉ bình thường thôi, cỡ điểm 5 là cùng. Thế nhưng ở xóm, ở làng, ở xã mọi người cứ tấm tắc khen tôi đẹp, tôi tuyệt vời. Ban đầu tôi cũng đâu dại mà tin, cũng tức giận khi nghĩ tới đôi chân vòng kiềng, cái mũi hếch và đôi môi cong tớn của mình nhưng thằng Chủ cứ một hai bảo cả xã chẳng có ai chân thẳng như tôi, con Kim còn quả quyết mũi tôi thực ra đâu có hếch, môi tôi đâu có cong, nhìn còn đẹp là đằng khác… Nếu xã mình mà tổ chức thi nam thanh nữ tú, thế nào đằng ấy cũng đoạt giải nhất. Như thế không tin sao được. Tôi rộn ràng niềm tin mình đẹp trai nhất xã từ đó, từ hồi mới 13, 14 tuổi.
Thường lệ, tối nào tôi cũng rủ Kim ra đầu làng ngóng trăng. Tôi nghĩ, thế nào lớn lên tôi cũng cưới Kim làm vợ.
Một bận, anh họ tôi ở Hải Phòng về quê chơi. Tôi vốn không thích người thành thị, thấy bảo người thành thị sống không tình cảm như người thôn quê nên tôi cũng không thích anh cho lắm.
Tối đó, ăn cơm xong, thấy tôi loanh quanh ở nhà, anh hỏi không đi chơi với bạn gái à. Tôi ậm ừ cho qua chuyện. Anh bảo thế thì đi chơi với anh nhé. Ừ thì đi. Ở nhà cũng vậy. Hơn nữa anh ấy là anh con bác, lâu rồi mới về quê.
Đến nhà con Kim, thằng Chủ. Đứa nào cũng thẫn người ra nhìn anh ấy, nói chuyện cứ như ngậm hột thị. Bực nhất là con Kim, toàn nhìn trộm anh ấy. Ngồi nói chuyện, chẳng có gì cũng hay đỏ mặt, tay cứ vân vê vạt áo. Bố khỉ. Cứ như lần đầu gặp con trai không bằng. Lúc tiễn anh ấy ra ngõ mắt lại còn lúng liếng, dưới ánh trăng trông càng ghét.
Bá vai tôi, Hoạt - anh họ - hỏi: - Vinh thích Kim à? Tôi gắt: - Vớ vẩn. Mới tý tuổi đầu, yêu đương cái gì? Hoạt cười: - Mười tám tuổi sao còn gọi trẻ con. Yêu đi chứ. Đừng để phí tuổi xuân. Tôi ngẩn người: - Ừ nhỉ. Mình đâu còn trẻ con. Giờ chưa yêu? Có muộn lắm chăng?
Khuya đó, Hoạt kể những ba mối tình của Hoạt. Nghe hệt truyện đêm khuya đọc trên đài Hà Nội. Trai thành thị có khác. Đến nói chuyện cũng duyên, cũng hơn người khác. Tôi như uống từng lời Hoạt kể.
Thấy hay. Thấy lạ. Thấy thích.
Tôi bảo Hoạt truyền kinh nghiệm. Hoạt cười: - Thích rồi à? Tôi ngượng: - Ừ. Yêu cũng hay đấy chứ.
Đêm đó, Hoạt dạy tôi cách làm quen, tỏ tình. Tôi nhắm mắt. Mơ hôn Kim dưới ánh trăng sóng sánh.
Hoạt ở chơi vài ngày, rồi đi. Tôi bớt ác cảm với người thành thị.
*      *
*
Kim đến lạ. Sau bận ấy năng ghé nhà tôi hơn. Vẫn bồ lô bồ la như trước. Chỉ khác, nhiều lúc cứ mơ mơ màng màng, lại hay hỏi dò về Hoạt khiến tôi tức chết. Chặp trước, Kim đâu có vậy!
Bữa đó, chưa phải trăng ngày rằm nhưng trăng sáng đẹp. Tôi rủ Kim đến nhà Chủ chơi. Thấy tôi có vẻ khác lạ, Kim hỏi: - Vinh hôm nay làm sao thế? Tôi ấp úng: - Đâu có gì. Kim véo tay tôi rõ đau, bảo: - Chối à? Chắc tơ tưởng tới cô nào hả? Chợt nhớ lời Hoạt: - Nếu thích ai thì phải thể hiện ngay cho đối phương biết. Chần chừ, sẽ bị kẻ khác nẫng mất. Tôi hít thật sâu, dứt khoát: - Kim à, còn nhớ truyện Matcơva tình yêu của tôi không? Kim tròn mắt: - Matcơva tình yêu nào? Tôi vội vã: - Tình cảm của Vinh giống chàng họa sỹ người Nhật với cô gái người Nga... Sờ trán tôi, Kim lẩm bẩm: - Vinh đâu có bị sốt. Nhớ lời dặn của Hoạt, tôi thiểu não: - Kim nhìn vào mắt Vinh đi. Chưa kịp thể hiện ánh mắt đắm đuối, dài dại như cách làm của Hoạt, tôi đã bị Kim tát cho nảy đom đóm mắt.
*      *
*
Bữa khác, vẫn chưa phải trăng ngày rằm. Nhưng trăng cũng đẹp tựa trăng bữa trước. Tôi lại rủ Kim ra đầu làng hóng trăng. Kim vẫn vậy. Vẫn cười. Vẫn nói. Nhưng sao mà buồn, mà ngơ ngác đến vậy, hở Kim? Cả tối, tôi nhìn trăng uể oải rắc sáng. Cả tối, tôi im lặng bên Kim.
*      *
*
Bận nữa, Hoạt lại về thăm quê. Lại rủ tôi lang thang ngõ xóm. Lại kể tiếp chuyện tình của Hoạt. Giọng vẫn hay, điệu vẫn đẹp, sao tôi thấy vô duyên, khó chịu. Chợt nhớ tới Kim, tôi bảo: - Kim thích Hoạt thì phải. Hình như Kim có chuyện, buồn, buồn lắm. Hoạt cau mày: - Dớ dẩn. Rồi vùng dậy đốt thuốc. Rồi ngồi nói những chuyện chẳng đâu vào đâu, nghe tào lao, lạ hoắc. Tôi quát: - Ngủ đi. Tôi không nghe. Tôi không hiểu. Tôi chỉ thấy thương Kim rõ khổ. Hoạt bối rối, thở dài: - Nhóc chỉ to thân xác.
Sớm sau, Hoạt vội về thành phố. Tôi nhớn nhác tìm Kim. Mãi tối khuya Kim ở đâu mới về. Vẫn là Kim ngồi đó, sao so gầy, thảm thương đến vậy.
Tôi lập cập hỏi chuyện. Tôi luýnh quýnh lo lắng. Vậy mà Kim cười buồn: Vinh đừng tốt với Kim như thế. Rồi ho khan. Rồi bảo tôi về. Ơ hay. Người ta lo mới vậy. Sao lại bảo về? Đã thế thì về. Khỏi phải lo. Khỏi phải rầu rĩ. Lủi thủi ra ngõ. Lầm lũi về nhà. Ngước nhìn trăng. Trăng cữ rằm mà sao héo úa.
*      *
*
Tối sau nữa, cỡ gần tuần trăng. Tôi nhận được lá thư của Kim. Thư không dài, chỉ ngắn gọn: - “Vinh ơi. Kim phải xa Vinh. Kim không xứng với tình yêu của chàng Hoàng Tử. Kim phải tìm kẻ quất ngựa truy phong. Hắn là ai? Thế nào? Kim không còn quan tâm! Nhưng con của Kim vẫn cần có bố.”
Nhìn bàn tay, tôi chợt nhớ, bận đó, đến hai ngày Hoạt về ngủ quá khuya.
Lại trăng.
Trăng qua rằm. Sáng vằng vặc.

*.
Làng Đá, tháng 05 năm 2002
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Nguồn : từ email của tác giả Đặng Xuân Xuyến gửi nhamyngocsuong.
NM cảm ơn Đặng Xuấn Xuyến đã chia xẻ một bài viết hay.