CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2020

Góc Đường Thi : DẠ TỌA - ĐỖ CHIÊU ĐỨC




 


Chieu Duc

18:44, Th 4, 21 thg 10 (13 giờ trước)



Góc Đường Thi : 

                                 DẠ TỌA


                                   Inline image


     A. DẠ TỌA của Lộ Tuần Mỹ 路洵美 :

 

         夜坐                       DẠ TỌA

      簾捲竹軒清,     Liêm quyển trúc hiên thanh,

      四鄰無語聲。     Tứ lân vô ngữ thanh (thinh).

      漏從吟裡轉,     Lậu tòng ngâm lý chuyển,

      月自坐來明。     Nguyệt tự tọa lai minh.

      草木露華濕,     Thảo mộc lộ hoa thấp,

      衣裳寒氣生。     Y thường hàn khí sinh.

      難逢知鑑者,     Nan phùng tri giám giả,

      空悅此時情。     Không duyệt thử thời tình !

               路洵美                            Lộ Tuần Mỹ


        Inline image


* Chú Thích :

      Lộ Tuần Mỹ 路洵美 người đất Quan Huyện tỉnh Sơn Đông, là thi nhân thời Sơ Đường, cháu ba đời của Tể Tướng Lộ Nham; ông cũng từng giữ chức Tể Tướng. Sau vì bệnh nên từ chức và mất ở quê nhà. Trong "Toàn Đường Thi Tập" duy nhất còn lưu lại chỉ có một bài thơ nầy mà thôi.

   - Thanh 清 : Có 3 chấm Thủy 氵bên trái nên nghĩa là Trong, ở đây chỉ "Thanh Vắng".

   - Thanh 聲 : Có chữ Nhĩ 耳 là Tai bên dưới, nên có nghĩa là "Âm Thanh". Còn được đọc là THINH, như trong Ca dao Nam bộ : " Văn kỳ THINH bất kiến kỳ hình, Bấy lâu nay cách mặt nhưng tình chửa cam !".

   - Tứ Lân 四鄰 : là Nhà lối xóm ở bốn bên.

   - Lậu 漏 : là Rỉ, là nhỏ giọt, ở đây chỉ tiếng nước nhỏ giọt của đồng hồ ngày xưa dùng để tính thời gian. Ta hay nghe câu : "Đêm khuya khắc LẬU canh tàn".

   - Tri Giám 知鑑 : GIÁM là Gương soi bằng kim loại ngày xưa; nên TRI GIÁM là hiểu biết tường tận như soi gương vậy. Trong bài thơ TRI GIÁM GIẢ là Người hiểu thấu chia xẻ được với ta.  

   - Không Duyệt 空悅 : Niềm vui khơi khơi, không người để chia xẻ.


* Nghĩa Bài Thơ :

                              Ngồi Trong Đêm

        Cuốn rèm lên nhìn ra cái mái hiên bằng tre vắng vẻ thanh tịnh, Lối xóm bốn bề đều im phăng phắc không một tiếng động. Duy chỉ tiếng nước đồng hồ nhỏ giọt như tiếng ngâm nga đưa đến, và ánh trăng cũng như sáng hơn ra từ khi ta ngồi đây. Cây cỏ đã thấm ướt sương đêm và áo quần của ta cũng nhuốm hơi lạnh lẽo. Khó mà gặp được người nào đó cùng chia xẻ với ta, nên ta chỉ vui có một mình trong tình huống nên thơ của đêm thanh vắng nầy mà thôi !


* Diện Nôm :

                          DẠ TỌA 

                Cuốn rèm hiên trúc vắng tanh, 

                Bốn bề lối xóm lặng thinh tiếng người.

                Đồng hồ nhỏ giọt ru hời,

                Vầng trăng vằng vặc như ngồi quanh ta.

                Cỏ cây sương ướt la đà,

                Áo quần thấm lạnh đâu là tri âm.

                Biết ai thấu tỏ nỗi lòng,

                Trong đêm thanh vắng tuyệt không người cùng !

                                                   Đỗ Chiêu Đức

 

B. DẠ TỌA của Đường Ngạn Khiêm 唐彥謙 :


           夜坐                    DẠ TỌA

       愁鬢丁年白,    Sầu mấn đinh niên bạch,

       寒燈丙夜青。    Hàn đăng bính dạ thanh.

       不眠驚戍鼓,    Bất miên kinh thú cổ,

       久客厭郵鈴。    Cửu khách yếm bưu linh.

       洶洶城噴海,    Hung hung thành phún hải,

       疏疏屋漏星。    Sơ sơ ốc lậu tinh.

       十年窮父子,    Thập niên cùng phụ tử,

       相守慰飄零。    Tương thủ ủy phiêu linh.

            唐彥謙                   Đường Ngạn Khiêm


    Inline image  Inline image


* Chú Thích :

        - ĐƯỜNG NGẠN KHIÊM 唐彥謙(?~893) tự là Mậu Nghiệp, hiệu là Lộc Môn Tiên Sinh, người đất Tinh Châu, Tấn Dương (thuộc tỉnh Sơn Tây Thái Nguyên ngày nay). Ông đậu tiến sĩ năm Đường Hàm Thông thứ hai (861). Sau binh biến của năm Càn Phù, ông lánh nạn vào đất Hán Nam theo Vương Trọng Vinh làm Tòng sự, rồi làm Phó Tiết Độ Sứ, Thứ Sử hai châu Tấn, Giáng. Sau Vương mất, ông theo Dương Thủ Lượng giữ chức Phán Quan, rồi thăng dần lên thành Hưng Nguyên Tiết Độ Sứ. Về già ẩn cư ở Lộc Môn Sơn, chuyên trứ tác và làm thơ. Năm Phước Cảnh thứ 2 Đường Chiêu Tông, ông mất ở Hán Trung. 

    - Đinh Niên 丁年 : là tuổi trở thành tráng đinh, phải đi lính. Tùy theo triều đại quy định, ĐINH NIÊN có thể là từ tuổi 16, 17, 18, 19 hay 20.

    - Bính Dạ 丙夜 : là Nửa đêm, giờ Tý canh ba.

    - Thú Cổ 戍鼓 : là Tiếng trống của người lính thú đánh cầm canh.

    - Bưu Linh 郵鈴 : là Tiếng lục lạc của người phát thư báo hiệu có thư gởi đến.

    - Hung Hung 洶洶 : là Cuồn cuộn, sầm sập.

    - Sơ Sơ 疏疏 : là Thưa thớt, lẻ loi.

    - Ủy 慰 : là An ủi, là Nói lời thông cảm động viên, như ỦY LẠO...


* Nghĩa bài Thơ :

                            Ngồi Trong Đêm

       Vì lo buồn nên mới tuổi thành niên mà tóc mai đã ngã bạc, ngọn đèn lạnh vào lúc nửa đêm như xanh hơn lên. Không ngủ được vì giật mình bởi tiếng trống điểm canh của những người lính thú, ở nơi đất khách lâu ngày nên cũng đã chán nghe tiếng rung chuông của người phát thư khi đi đến (Vì mình có nhận được thư bao giờ đâu!). Tiếng sóng biển vẫn vổ ầm ì ở phía ngoại thành, và vì mái nhà dột nên trông lên thấy thấp thoáng những ánh sao trời. Cha con cùng nghèo khổ suốt mười năm nay, sống nương tựa và an ủi nhau trong cảnh lang thang trôi nổi ! 


*Diễn Nôm :

                         DẠ TỌA 

                 Tóc mai bạc trắng tuổi xanh,

                 Nửa khuya đèn lạnh đêm thanh mơ màng.

                 Giật mình trống điểm canh tàn,

                 Buồn nghe tiếng lạc đưa sang thư người.

                 Ngoại thành sóng vổ biển khơi,

                 Nhà tranh mái dột sao trời lưa thưa.

                 Mười năm phụ tử muối dưa,

                 Có nhau hôm sớm nắng mưa phiêu bồng !

                                                   Đỗ Chiêu Đức


C. DẠ TỌA của Trương Lỗi 張耒 (Tống) :


          夜坐                          DẠ TỌA

    庭戶無人秋月明,    Đình hộ vô nhân thu nguyệt minh,

    夜霜欲落氣先清。    Dạ sương dục lạc khí tiên thanh.

    梧桐真不甘衰謝,    Ngô đồng chơn bất cam suy tạ,

    數葉迎風尚有聲。    Sổ diệp nghinh phong thượng hữu thanh.

                    張耒                                                   Trương Lỗi


       Inline image  Inline image


* Chú Thích : 

         TRƯƠNG LỖI 張耒 là thi nhân và nhà văn học dưới thời Bắc Tống. Lúc nhỏ du học ở đất Trần, theo học với Tô Thức (Tô Đông Pha), rất được học quan là Tô Triệt (em của Tô Đông Pha) xem trọng. Ông nổi tiếng là một trong Tô môn Tứ Đại Học Sĩ (Bốn Học Sĩ giỏi nhất trong nhà họ Tô). Thơ ông làm có phong vị của Bạch Cư Dị và Trương Tịch của đời Đường. Ông cũng để lại rất nhiều thi và từ trong "Toàn Tống Thi" và "Toàn Tống Từ". 

    - Đình Hộ 庭戶 : Sân trong nhà, khoảng giữa cửa cái và phòng khách ngày xưa.

    - Khí Tiên Thanh 氣先清 : Khí hậu mát mẻ trước khi (sương xuống).

    - Bất Cam 不甘 : là Không cam lòng; không cam tâm.

    - Sổ 數 : Tính từ chỉ Vài, Một vài; Khi là Động từ thì SỔ có nghĩa là Đếm; khi là Danh từ thì đọc là SỐ (dấu sắc), có nghĩa là Con số. 


* Nghĩa Bài Thơ :

                                      Ngồi Trong Đêm

        Sân trong nhà vắng vẻ chẳng có người nào, chỉ có vầng trăng thu trong sáng. Khi sương đêm sắp rơi thì khí hậu cũng trở nên mát mẻ trước. Cây ngô đồng trong sân như không cam tâm phải héo úa tàn tạ trong mùa thu, nên vài chiếc lá còn lại trên cây cũng đang cố đón gió thu hiu hắt mà xạc xào !


        Cái cố gắng vươn lên của tuổi già, không chịu khuất phục trước thời gian, được tác giả thể hiện qua hình ảnh cây và lá ngô đồng, trước khi héo úa cũng ráng vươn lên mà xạc xào trước gió thu hiu hắt.      


* Diễn Nôm :

                            DẠ TỌA 

                Vắng vẻ sân nhà thu sáng trăng,

                Khí trời trở mát trước sương giăng.

                Ngô đồng chẳng chịu thu tàn úa,

                Đón gió xạc xào dưới ánh trăng.  

      Lục Bát :

                Sân nhà vắng, sáng trăng thu,

                Khí trời mát trước sương mù tỏa giăng.

                Ngô đồng như chẳng cam tâm,

                Xạc xào mấy lá thì thầm gió thu !

                                         Đỗ Chiêu Đức


D. DẠ TỌA của Lục Du  陸游 (Tống) :


        夜坐              DẠ TỌA

     懷抱何蕭爽,     Hoài bão hà tiêu sảng,

     涼風掃鬱蒸。     Lương phong tảo uất chưng.

     寒蛩喧敗草,     Hàn cùng huyên bại thảo,

     飢鼠囓枯藤。     Cơ thử giảo khô đằng.

     蝶入誰家夢,     Điệp nhập thùy gia mộng,

     花殘半夜燈。     Hoa tàn bán dạ đăng.

     無人論道德,     Vô nhân luận đạo đức,

     長嘯愧孫登。     Trường khiếu quỹ Tôn Đăng

            陸游                         Lục Du

        Inline image Inline image

* Chú Thích :

    - LỤC DU 陸游 (1125—1210)tự là Vụ Quan 務觀, hiệu là Phóng Ông 放翁. Ông là thi từ nhân đời Nam Tống. Người đất Sơn Âm Việt Châu (huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang ngày nay). Đời Tống Cao Tông ứng Lễ Bộ Thí, bị Tần Cối chặn lai. Đến đời Hiếu Tông ban hàm tiến sĩ xuất thân. Trung niên vào đất Thục, đầu quân vào quân đôi, làm đế chức Bảo Chương Các Đãi Chế. Già về sống ở quê nhà, sáng tác thi ca đến nay còn truyền tụng hơn chín ngàn bài, nội dung gồm đủ dề tài vô cùng phong phú.

    - Hoài Bão 懷抱 : HOÀI là Cái Lòng, BÃO là Vòng tay, là Ôm ấp; Nên HOÀI BẢO là Trong lòng vòng tay; nghĩa bóng là "Cái gì đó mà ta ấp ũ ở trong lòng". Trong thơ là nghĩa đen, chỉ Trong vòng tay, là "Ở trong lòng" mà thôi. 

    - Tiêu Sảng 蕭爽 : Vắng vẻ sảng khoái dễ chịu.

    - Uất Chưng 鬱蒸 : là Hơi nóng nung nấu khó chịu.

    - Hàn Cùng 寒蛩 : Những con dế bị lạnh.

    - Bại Thảo 敗草 : Cỏ đã úa tạn Có héo.

    - Cơ Thử 飢鼠 : Những con chuột bị đói lạnh.

    - Khô Đằng 枯藤 : Những sợi dây mây khô.

    - Tôn Đăng 孫登 : Ẩn sĩ thời Tam Quốc, tự là Công Hòa, Đạo giáo tôn xưng là Tô Môn Tôn Chân Nhân. Ông ẩn cư ở Bắc Sơn Hà Nam, chuyên nghiên cứu thuyết Lão Trang và Kinh Dịch. Sau khi đắc đạo thì thuyên cư ở Tô Môn Sơn, ông biết được qúa khứ vị lai, từng khuyên răn Nguyễn Tịch và Kê Khang trong Trúc Lâm Thất Hiền quy ẩn để tránh xa cái tác hại của thế tục. Kê Khang không nghe nên cuối cùng phải chịu họa sát thân vào mình.


* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Ngồi Trong Đêm

       Sao mà lại cảm thấy trong lòng sảng khoái dễ chịu thế nầy, gió thu mát mẻ đã quét tan hết những nóng nực nung nấu bấy lâu. Những con dế lạnh lẽo còn đang kêu vang trong những vùng cỏ úa, và những con chuột đói đang cắn phá những dây mây khô. Những con bướm đêm lảng vảng như đang bay vào giấc mộng của ai kia, và những bông hoa tàn úa như những ngọn đèn nửa đêm đang tàn lụn. Không có người để cùng bàn luận về chuyện đạo đức ở trên đời, ta muốn hú dài một tiếng nhưng còn thẹn với ẩn sĩ Tôn Đăng nên lại thôi.


* Diễn Nôm :

                               DẠ TỌA


                   Inline image


                   Trong lòng sảng khoái làm sao,

                   Gió thu quét sạch biết bao hầm hì.

                   Dế mèn cỏ lạnh rỉ ri,

                   Những con chuột đói cắn ghì mây đay.

                   Chập chờn bướm nhập mộng ai,

                   Hoa tàn như ngọn đèn phai canh tàn.

                   Không người đạo đức luận bàn,

                   Hú dài một tiếng thẹn chàng Tôn Đăng !


                                                  杜紹德

                                                   ĐỖ CHIÊU ĐỨC


HỊCH CỨU TẾ LƯƠNG DÂN BỊ LŨ LỤT MIỀN TRUNG (ở NGHỆ AN, HÀ TĨNH, …) tháng 10 năm 2010. - VĨNH BA



Tháng 10 ,năm 2020 trận lũ lụt lớn đã tàn phá các tỉnh miền Trung VN ,người dân gặp rất nhiều tai ương khổ nạn , nguời chết , nhà cửa , cuả cải , gia cầm ...bị cuốn trôi.
Được sự  đồng ý cuả tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba , chúng tôi xin đăng lại bài hịch Cứu Tế Lương Dân bị lũ lụt miền Trung tháng 10 năm 2010.






 HỊCH CỨU TẾ LƯƠNG DÂN BỊ LŨ LỤT MIỀN TRUNG (ở NGHỆ AN, HÀ TĨNH, …) tháng 10 năm 2010.   
                                                                                                       

Hỡi ôi!

Nước cuốn sóng lùa,

Người trôi của mất.

Mấy chục năm vun bồi cơ cực, sống nghèo sống khổ, sống thì đành sống vãi mồ hôi,

Hai trận lũ trôi cuốn (1) kinh hoàng, chết trẻ chết già, chết mà cũng chết không nhắm mắt.

Nọ nọ bao oan linh đã khuất, vật vờ phách lạc hồn phiêu,

Kìa kìa ngàn nhân khẩu đang còn, xơ xác nhà xiêu vách nát.

Tai mới nghe tin,

Lòng đà quặn thắt.

Nhớ mới đây,

Nhất mực hiền lương,

Vô cùng chất phác.

Trai nơi cõi ven rừng sát  núi, cuốc với cào hăng hái rẫy nương, 

Gái ở chốn cạnh suối men khe, khoai cùng sắn um tùm vườn tược.

Nhà đâu được gác cao cửa rộng, che nắng mưa thế đã là may,

Ăn thì toàn cơm lạt rau xanh, đầy ruột bụng rằng thôi cũng được.

Đất chạnh xót, trái hoa đơm nẩy, vầy anh em dựng nghiệp phong nhiêu

Trời cũng thương, ngày tháng yên lành, nuôi con cái mơ đời tươi tốt.

Từ Hưng Nguyên qua Vụ Bản (2), ngàn cây xanh bóng lá sây cành,

Mãi Can Lộc tận Hương Khê (3), vạn đồng vàng lúa thân trĩu hạt

Những mong tới thuở lên hương,

Đâu nghĩ có ngày mất tuốt.

Nào hay,

Trời không báo, không trình,

Đất chẳng thưa, chẳng thốt.

Mưa xối xả kinh thiên động địa, tối mày tắt mặt, phút giây vần vũ gió gào,

Lũ hung hăng phạt mộc băng sơn, trôi gốc trốc cây, thoáng chốc mênh mông khí buốt.

Tràn Hố Hô, xả Kẻ Gỗ (4) biết mấy ngàn khối nước, ôi thôi rồi, bao xã suýt tan hoanh,

Sạt Tả Lam, lở Khe Mơ (5) chừng gần chục mét đê, còn chi nữa, dăm vùng đà trợt hớt.

Nhà ngột thở, lụt lên sát mái, trẻ phá rui tay vẫy gọi trời,

Xóm im hơi, làng hoá thành đồng, dân chạy lũ bùn hoen thấu trôốc (6)

Ơi ới tiếng người kêu cứu, đò chèo tứ phía, chuyền chở nhau phong vũ đâu nàn,

U hu giọng khóc than van, réo tự muôn nơi, an ủi chắc phước phần không tốt.

Đồ đạc, heo gà bỏ tất, trôi đâu mặc chúng, nghiến răng đành bỏ của bòn chài,

Lúa khoai, sắn đậu nhìn chi, chìm xuống kệ bây, vươn cổ gắng tìm đường thoát vượt.

Đau đớn bấy những người nơi rốn lũ, hụp chìm chiếc lá giữa dòng xoay,

Xót xa sao bao kẻ giữa đỉnh triều, chao đảo mảy lông đầu con trốt.

Mấy lão ông, lão bà run rẩy, bó gối qua giờ lại phút, khoắc khoải trông một gói mì cua,

Bọn trẻ con, trẻ nít leo nheo, rỗng bụng từ sáng tới chiều, héo hắt chờ vài mo cơm vắt.

Quan đạo ngập, xe liều mò sông thẳm, tiêu vong cả chục trẻ già,

Thiết lộ trôi, rây tụt xuống ruộng sâu, cong quẹo bao chùm thép sắt.

Thảm thương thay!

Một đời chắt chiu,

Mấy giây trôi tuột.

Tàu ca nô mất ba giờ hạ thuỷ, mà cứu người như cứu hoả, bao anh phòng hộ mỏn hơi

Máy trực thăng chỉ hai chiếc đằng không, sao tìm nạn tựa tìm chim, các chú phi công sốt ruột. 

Người theo nước phăng phăng chìm lỉm, xác tấp hẻm xa,

Kẻ sẩy chân vút vút băng đi, thân giam hóc tối.

Lũ đã rút bơ vơ con khóc mẹ, số không may trôi dạt trăm sông

Lụt qua rồi thảm thiết vợ chôn chồng, phận đen đủi sớm tìm chín suối.

Hơn năm chục mạng dâng Hà Bá (1), đau là đau, ruột đứt từng cơn,

Gần ba ngàn tỉ tặng Thuỷ cung (1), đắng ơi đắng, lòng chùng bao đợt.

Kiếp nghèo khổ, cửa nhà thêm đơn chiếc, rứa mần răng chèo chống đường đời,

Phận khốn cùng, thân thích lại hắt hiu, chừ biết mô xở xoay cuộc mới. 

Hỡi ơi!

Thủy điện chen thủy lợi, qui hoạch rối bời,

Lâm khấu phá lâm viên, tung hoành ngang dọc.

Căm mà giận bọn phá rừng xả lũ, mưu ma chước quỷ, chui lọt qua lưới luật rào lề,

Nghĩ thêm thương dân mái lá tường phên, chân yếu tay mềm, chọi chi nổi tai trời ách nước.

Thiên tai đà quá quắt, ai nỡ cộng nhân tai,

Sơn tặc đã hung tàn, đành sao thêm thuỷ tặc.

Anh chị ơi!

Cay đắng kiếp người còn,

Xót xa phần kẻ mất.  

Người như rứa cũng xong một kiếp, chi sá kể bao dài,

Phận thế ni chưa hết nợ đời, đành gượng len tới trước.

Vui ai đấy chốn xa xin ngừng nghỉ, sớm về đây tỏ chút ngậm ngùi,

Sướng người nào góc ấm hãy phân phôi, mau tới đó bày niềm lân tuất.

Tiễn kẻ đi cho yên mồ đẹp mả, chuyện dĩ nhiên rồi,

Giúp kẻ ở nay dựng cửa sửa nhà, việc cần thiết nhất.

Manh áo, tấm chăn gom góp, sắt son tình nghĩa đồng bào,

Đồng tiền, lon gạo chung chia, san sẻ vận đời đắc thất.

Lá lành đùm lá rách, được càng nhiều càng tốt càng hay,

Trâu béo kéo trâu gầy, nâng một chút một người một thức.

Mong thay,

Cả nước chung tay,

Mọi người ra sức.


Huế, 31.10.2010

NP VĨNH BA


Chú thích:

1. Ngày 06 - 08 và 16 - 18 tháng 10 năm 2010 đã xảy ra 02 trận lũ lớn ở cả 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Người chết hơn 50 và thiệt hại khoảng 3000 tỉ đồng.

2. Tên 2 huyện miền núi ở Nghệ An.

3. Tên 2 huyện miền núi ở Hà Tĩnh.

4. Hố Hô, Kẻ Gỗ là 02 hồ thủy lợi ở Hà Tĩnh.

5. Tả Lam, Khe Mơ là 02 đập thủy lợi ở Nghệ An.

5. Trôốc: cái đầu


Thứ Tư, 21 tháng 10, 2020

ĐÊM TRĂNG ĐỌC THƠ ĐƯỜNG, TIẾNG ĐÀN ĐÁ TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ - NGUYỄN AN BÌNH

 TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU HAI TÁC PHẨM CUẢ TÁC GIẢ NGUYỄN AN BÌNH.


ĐÊM TRĂNG ĐỌC THƠ ĐƯỜNG

 (ĐƯỜNG THI NGẪU DỊCH) 

TẬP 1

Tác giả: NGUYỄN AN BÌNH

 

Tác phẩm gồm 101 bài thơ của các thi nhân đời Đường được Nguyễn An Bình ngẫu dịch theo phong cách riêng của mình

. Sách dày 216 trang do NXB Hội Nhà Văn cấp phép sẽ phát hành trong quý IV-2020 giá 120.000 đồng.












                             TIẾNG ĐÀN ĐÁ TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ



Tập truyện ngắn gồm 15 truyện ngắn được tác giả viết trong nhiều năm, có lời giới thiệu và cảm nhận của nhà văn HOÀI HƯƠNG và nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN.
Sách dày 272 trang, giá 130.000 đồng do NXB Thanh Niên cầp giấy phép năm 2020
*Các bạn yêu văn hay muốn ủng hộ xin mail cho tác giả:
luongmanh2106@gmail.com hay số điện thoại: 0909697644




Lời giới thiệu:

1/ NHƯ NHỮNG KHÚC TÌNH CA GAM THỨ DỊU DÀNG
   * Nhà văn HOÀI HƯƠNG
 
Có thể chính từ việc cùng quê miền Tây Đô Cần Thơ “gạo trắng nước trong” mà tôi có duyên gặp và làm quen với nhà thơ Nguyễn An Bình. Rồi cũng từ sự tò mò về một người thơ miền Tây Nam bộ, tôi đọc tiểu sử văn học của ông mà ngưỡng mộ, hơn nửa thế kỷ với bề dày và độ chín trong văn đàn đã lan rộng trong nước và hải ngoại, hiện tại là 17 tập thơ - văn – ca khúc phổ thơ  đã được xuất bản, từng có rất nhiều tác phẩm thơ được chọn đăng trên các tạp chí Văn, Văn học, Tuổi Ngọc… trước năm 1975, và nhiều trang văn học của truyền thông Việt Nam sau năm 1975…
Đến khi tôi được ông tặng cho 5 cuốn ca khúc phổ thơ của ông với gần 500 bài: “Tình thơm màu giấy mới”, “Qua miền đất nhớ”, “Về phương Nam tìm một cánh cò”, “Lời hẹn cỏ may”, “Dấu chim bay”, và khi tôi viết những dòng này, về cuốn sách mới nhất của ông trong năm 2020, tập truyện ngắn “Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà”, còn biết thêm số ca khúc phổ thơ ông đã lên con số gần 700 bài, thì trong tôi không chỉ là ngưỡng mộ mà sự khâm phục  sức lao động nghệ thuật của một người thơ tài hoa… Vâng! Cho phép tôi được gọi ông là “ngừoi thơ”.
Đọc thơ ông, luôn cảm giác trong thơ có nhạc, với những ngôn từ ngọt ngào thấm đẫm tình quê hương đất nước, có lẽ thế mà các nhạc sĩ đã đồng điệu mà phổ nhạc vào lời thơ, làm nên những ca khúc mượt mà, tha thiết, mang đậm hồn Việt. Và khi ông gửi tôi tập bản thảo “Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà”, tôi đã mang tâm cảm thơ, đọc 15 câu chuyện ngắn của ông: Chuyện tình trên Phá Tam Giang, Chuột và người, Nguồn cội, Bến sông quê, Tình yêu màu hoa anh đào, Xóm trọ, Sông Ba mùa lũ, Trên đồi sương, Mùa chim dồng dộc, Sông ngoài kia vẫn chảy, Chuyện của hai người, Bên dòng Potomac, Tấm thẻ bài, Còn xanh bóng núi, Tiêng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà, như đọc những câu chuyện thơ đầy nhạc cảm, những khúc tình ca gam thứ dịu dàng man mác, dù trong các câu chuyện đó, có vui có buồn, có vơi đầy tình người, có đắng đót xót xa, có thênh thang nỗi nhớ, có diệu vợi tình quê, có thao thiết yêu thương, có chênh chao xứ người, có mộng mơ lãng đãng, có liêu trai sương khói, có mơ hồ vênh vao kiếp người…
Vượt qua cảm xúc những câu chuyện đời, chuỵện tình làm ám ảnh khôn nguôi về kiếp người, sao có phận khổ đến tận cam lai, hay long đong lận đận liên miên đến thế, hoặc về số phận những cuộc tình có khổ trước vui sau, sướng đó lại khổ ngay đó, hợp tan như mây khói gió đùa, phải vượt ngàn trùng xa cách đầy trắc trở rồi mới lại trùng phùng hạnh phúc…Đọc tập truyện “Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà”lại là khám phá thú vị bao nét văn hóa tinh tế, cung cấp thêm chút ít kiến thức về các miền đất Việt hay ở những phương trời xứ bạn.
Đọc Chuyện tình trên Phá Tam Giang, có thêm hiểu biết thế nào là “thả lừ”, “mò trìa” để bắt tôm cua cá, “nò sáo” nuôi trồng thủy hải sản… Hay trong Bến sông quê, có thể biết thêm ít bài bản Đờn ca tài tử Nam bộ với các bản cổ như: “khốc hoàng thiên”, “trăng thu dạkhúc”, “tam xuân”, “phụng hoàng”, “kim tiền bản”, “vọng kim lang”, “văn thiên tường”, “phi vân điệp khúc”..., các điệu lý:“lý giao duyên”, “lý con sáo”, “lý cái mơn”…
Đọc Sông Ba mùa lũ, là có thể hình dung con sông“bắt nguồn từngọn núi Ngọc Rô tuốt trên vùng đất đỏ ba-zan Tây Nguyên, chảy qua mấy tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Gia Lai rồi xuôi vềPhú Yên theo cửa Đà Diễn ra biển khơi. Hàng nghìn năm nay đã chuyên chởbiết bao phù sa màu mỡ tưới cho cánhđồng lúa Phú Yên đểnó trởthành vựa lúa lớn nhất miền Trung nầy…”.
Và một cảnh tượng tuyệt mỹ trong khu rừng rậm nhiệt đới  có thể làm ngây ngất bạn đọc dù chỉ là ngôn từ: “Một đàn bướm đủ màu sắc, anh nhận ra có nhiều loài bướm đẹp đặc trưng của Sơn Trà như bướm phượng đuôi kiếm, bướm phượng đốm vàng, bướm phượng đen đuôi vàng... bay hàng đàn theo bước chân anh như tiễn anh xuống núi giống như ngày xưa các nàng tiên nữ tiễn đưa Lưu Thần và Nguyễn Triệu về trần gian vậy…”- Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà
Trong câu chuyện Sông ngoài kia vẫn chảy, ngoài việc cung cấp cho bạn đọc “quy trình” làm chiếc ghe xuồng: “Làm ghe xuồng- Để hoàn thành một chiếc xuồng đạt yêu cầu, phải qua nhiều công đoạn vất vả từ việc cưa ván, bỏ mực, rọc dọn, vô vỏ, ráp cong, dằn... trong các khâu đó khâu ráp cong là khâu quan trọng nhất quyết dịnh đến chất lượng của sản phẩm”..., thì cách tả dọc ngang đời thương hồở miền Tây Nam bộ, qua câu văn mà thấy cả miền sông nước với những cái tên đầy ấn tượng, hình dung ra một miền nước châu thổ sông Mekong thi vị và kỳ bí để khám phá trong một chuyến du lịch nào đó trong tương lai: “Ráng chiều, Ngàn lại lang thang trên sông nước cùng chiếc ghe hàng bông của dì Tư, khi thì qua Cái Sâu, Mái Dầm, Phú Hữu khi thì ngược lên Vàm Xáng, Phong Điền, Cầu Nhiếm, Ba Xe, có lúc lại trẩy lên Ô Môn, Thới Lai CờĐỏ, nơi nào có khách thì thuyền cứ đi, nơi nào có bến thì thuyền neo đậu lại..”
Đặc biệt là trong câu chuyện Tình yêu màu hoa anh đào, thật thú vị khi tác giả cung cấp cho bạn đọc ít kiến thức về hoa anh đào ở Nhật mà không phải ai cũng có thể nhận biết, nếu như không phải một người có sự quan sát tỉ mỉ và tìm hiều cặn kẽ: “ỞNhật có mấy trăm loài hoa anh đào khác nhau như Nhiễm Tĩnh Cát Dã Anh(Somei Yoshino Zakura) hoa có màu hồng nhạt hay trắng. Vẻngoài của chúng đặc biệt đẹp nhờvào lá cây không trồi ra cho tới mùa cao điểm hoa nở. Hoa có sắc hồng chuyển dần sang trắng, các biểu tượng hoa sakura đều bắt đầu từloài nầy. Còn có Sơn Anh(Yama Zakura) cũng màu hồng nhạt, hoa năm cánh nhưng nhỏhơn, Chi Thùy Anh(Shidare Zakura), hoa màu hồng có những nhánh rũ xuống, rồi Hàn Anh(Kanzakura) là loại hoa anh đào nởsớm, Hà Tân Anh(Kawazu Zakura). Hàn Phi Anh hoa có màu đỏđậm giống như cái chuông… Hàn Phi Anh có thể rộ nở từ tháng 1…, có loai nở rất muộn như Nhất Diệp Anh(Ichiyou Zakura) nở vào cuối tháng tư một bông có khoảng 20 cánh, rồi Uất Kim(Ukon) hoa có màu vàng nhạt, Anh Đào Hoa Cúc(Kikuzakura) có khoảng 100 cánh trong một bông, đặc biệt là Anh Đào Mùa Thu(Jugatsuzakura) thời gian nởtừtháng mười đến tháng một và mùa xuân, là một trong những loài hoa nở vào mùa thu và mùa đông…”
Khi nói về một con sông ở Thủ đô nước Mỹ, tác giả tả ngọn nguồn sông, để qua đó cho bạn đọc có thể hình dung dòng chảy như đang được “xem” thực địa: “…sông Potomac bốn mùa trong xanh hiềnhòa, nó là một trong những con sông dài nhất nước Mỹ, Potomac khởi nguồn từtiểu bang West Virginia và lần lượt chảy qua các tiểu bang Maryland, Virginia và Washington DC. Đoạn sông chảy qua Virginia là dài nhất, bởi khi vào tới tiểu bang Virginia dòng sông uốn khúc nhiều lần khi nối với các phụlưu nhỏvà mỗi lần tiếp nhận thêm một phụlưu, dòng sông lớn hơn cho tới khi chạm mặt với thủđô Washington DC thì dòng Potomac đã trởthành mênh mông khi xuôi vềphía nam đổvàovịnh Chesapeakerồi hòavào Đại Tây Dương…- Bên dòng Potomac
15 câu chuyện trong“Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà”của người thơ Nguyễn An Bình có thể nói là 15 cung bậc của tình yêu, mà ở đó, chữ “tình” giống như chủ thể để biến tấu những gam màu sắc cuộc đời hoặc đắng ngọt, day dứt, chung chiêng đến thương những mảnh đời bất hạnh, hoặc hạnh phúc được sẻ chia, hạnh phúc khi đoàn tụ, hạnh phúc tìm được nhau để có nhau, hạnh phúc khi biết về nguồn cội…
Những câu chuyện tình yêu trai gái tình tiết không tạo sốc, không có những tình huống gay cấn, nhưng luôn làm xốn xang trái tim bạn đọc bởi cái thương khó, chông chênh. Không thể không thương cặp đôi trai gái người mất mẹ kẻ mồ côi cha, cùng có hiếu với người còn lại, cùng chịu thương chịu khó, cùng sớt chia cho nhau vui buồn, tựa vào nhau, để rồi gắn bó với nhau ăn đời ở kiếp hạnh phúc như trong Chuyện tình trên Phá Tam Giang.Cũng như cảm thông và cầu mong cho nhân vật Ngàn trong Sông ngoài kia vẫn chảy tìm được niềm vui với mối tình thanh mai trúc mã, đi theo tiếng gọi trái tim, vừa là trả ân tìnhcho những người đã cưu mang cuộc đời, vừa là theo tiếng gọi của dòng sông, của kiếp thương hồ gắn bó từ trong máu thịt…Và có chút ngậm ngùi đồng thuận với tác giả về một tình yêu bị phản bội, bị xem thường như trò lừa dối để mang lợi cho mình trong câu chuyện tình buồn Chuyện hai người.
Trong tập truyện ngắn này có hai câu chuyện tình dễ thương vừa mộng vừa thực, vừa lãng mạn vừa sương khói liêu trai, đều cùng đề cập đến cái đẹp, một cái đẹp nghệ thuật do con người tạo tác, một vẻ đẹp của thiên nhiên của môi trường, đều có một chàng trai đi tìm một người con gái… Trên đồi sương, như câu chuyện “châu về hợp phố”, một bản tình ca ngọt ngào với giai điệu ban đầu có chút trắc trở, để rồi cái kết đẹp như thơ, chàng họa sĩ đã gặp lại người con gái – nguyên mẫu trong bức tranh của mình trong một hoàn cảnh khá cảm thương- nàng bị tai nạn và mất trí nhớ, và rồi tình yêu chân thành từ trái tim cộng vẻ đẹp bất tử của nghệ thuật đã làm nên điều kỳ diệu. Còn câu chuyện thứ hai, cũng là câu chuyện kết của tập truyện Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà, một câu chuyện tình liêu trai kỳ ảo giữa một nghệ sĩ nhiếp ảnh, không phải với hồ tinh mà với một linh trưởng của rừng Sơn Trà, vọoc Chà vá chân nâu đầy mê hoặc trong vẻ đẹp hoang dã cũng như chất kỳ ảo của tiếng đàn đá- âm thanh của đại ngàn. Một câu chuyện mà qua đó còn chứa nhiều thông điệp về bảo vệ giữ gìn môi trường thiên nhiên, đừng vì lợi nhuận đồng tiền mà phá hủy vẻ đẹp và những bảo vật thiên nhiên ban tặng cho con người.
Và tiếp nối theo mạch bảo vệ thiên nhiên, câu chuyện Sông Ba mùa lũ là một gam buồn cảnh báo những hiểm họa khôn lường do con người nắn sóng đổi dòng những con sông Trời cho,  để khi thì đồng khô ruộng hạn nứt nẻ, khi thì ngập úng lũ lụt mênh mang..
Có một câu chuyện trong tập truyện này khá sốc, nó gần như mang màu sắc lạ, và thật sự đọc xong vẫn ám ảnh đền rùng mình nổi gai người. Câu chuyện Chuột và người, miêu tả cảnh bắt chuột cống hàng đêm của một tay “săn chuột” bán cho các nhà hàng đặc sản có thể thu nhập tiền triệu mỗi đêm. Một con người tử tế đàng hoàng, rồi sa cơ, rồi biến mình thành một loài “chuột” làm cái nghề kinh khủng…. Một câu chuyện không chỉ buồn mà còn chuyển khá nhiều những nghĩ suy về cuộc sống, con người, trách nhiệm, sự dối gian, thú ăn chơi bất chấp…
Quê hương trong thơ của  người thơ Nguyễn An Bình như một chủ thể thống nhất trong các tác phẩm thơ của ông, thì ở trong tập truyện ngắn này, ông cũng không bỏ qua “sở trường” của mình để viết hai câu chuyện đầy xúc động: Nguồn cội- nói về những em bé trong chiến dịch “Operation Babylift” của Mỹ di tản trẻ mồ côi ra nước ngoài trước ngày 30/4/1975, tìm về nguồn cội quê hương của mình; Truyện thứ hai là Mùa chim dồng dộc- Một câu chuyện tình yêu được viết qua những ký ức hoài niệm đẹp về loài chim dồng dộc ở quê nhà, loài chim cần cù chịu khó làm tổ đẻ trứng nuôi con mỗi mùa, để rồi sau đó lại cặp kè nhau tung cánh bay đi về một miền xa tiếp tục sinh sống và trưởng thành…
Tình người trong tập truyện “Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà” là những câu chuyện cảm động và có thể nói gây xúc động tận tam can bạn đọc. Một Xóm trọ toàn những dân nghèo thênh nghèo thang ở tứ xứ tụ lại, làm nghề cũng đa nghệ, tính cách thành phần tuổi tác cũng đầy phức tạp, nhưng được cô chủ trọ có tình, không quá ngặt nghèo lấy tiền trọ, cảm thông với sự khó của mọi người mà tò ra hào phóng, kháong đạt, lại luôn tìm cách động viên để người ở trọ có thêm động lực mà sống trong lạc quan.Còn xanh bóng núi, câu chuyện buồn the thắt của người đàn ông cựu chiến binh chiến trường K, bị vợ ruồng rẫy, rồi con chết vì bệnh, bên cạnh đó là câuu chuyện một cô sinh viên bị lừa rồi mang bầu, sinh con và bỏ con… Người đàn ông sau đó dang tay mở trái tim dốc công nhận nuôi bầy trẻ bị mẹ bỏ hay mồ côi như niềm vui cuộc đời. Cô gái sau khi tốt nghiệp có công ăn việc làm đàng hoàng, chuộc lỗi xưa bằng cách luôn góp tiền bạc giúp dỡ người đàn ông nuôi bầy trẻ, rồi biết  con mình trong số trẻ nít đó… Và cái kết có hậu cho những người hảo tâm nhân hậu, họ đã cùng nắm tay chăm sóc bầy trẻ.
“Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà” có ba câu chuyện về người Việt xa xứ: Tình yêu màu hoa anh đào; Bên dòng Potomac, Tấm thẻ bài. Cảm giác như gam màu lạnh trong chuyện với những số phận xa xứ nhiều tâm sự, ngồn ngang những mảnh đời, vất vả trong mưu sinh…, nhưng câu chuyện lại thật ấm áp. Ấm từ màu hồng hoa anh đào Nhật Bản để sưởi những trái tim lao động Việt, ấm từ ngọn gió trên dòng Potomac vô tình hay hữu ý đã gắn kết hai con người tưởng như đã không còn có thể gặp lại nhau, ấm từ giai điệu ca khúc Somewhere my love trong phim Docter Zhivago để gắn với cuộc tình với cô gái tên Hà…
 
Tập truyện ngắn “Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà”của nhà thơ Nguyền An Bình khá chân phương trong ngôn ngữ, nhiều phương ngôn mang phong cách Nam bộ, giống như một cách kể rỉ ra câu chuyện, không ồn ào, không náo nhiệt, như nhữngkhúc tình ca gam thứ giai điệu dịu dàng len lỏi, thấm dần vào tâm hồn bạn đọc, gây cảm xúc nhớ nhớ thương thương, chút hoài cảm mơ màng… Đặc biệt, có lẽ là người thơ viết văn, nên trong nhiều đoạn truyện chất thơ rất nhiều.
Một tập truyện đọc để cảm để rồi khó quên.
Tôi nhớ nhà thơ Nguyễn An Bình đã từng nói: Làm thơ viết văn là một cái nghiệp mà tôi tự tìm đến một cách hân hoan và tự nguyện, mãi mãi đi trên con đường đó dù biết nhiều gập ghềnh chông gai lẫn những cạm bẩy nhưng con đường đó lại chứa đầy hạnh phúc và niềm hoan lạc không bến bờ.
Chúc Phúc con đường văn nghiệp của anh sẽ được nhiều hoan lạc./.
 
Tp. Hồ Chí Minh 6.6.2020

2/ NGUYỄN AN BÌNH và TIẾNG ĐÀN TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ

     *  TRƯƠNG VĂN DÂN

Trong khoảng thời gian chừng 5,7 năm trở lại đây, người có thơ được phổ nhạc nhiều nhất ở Việt Nam có lẽ là nhà thơ Nguyễn An Bình. Điều này khẳng định thơ của anh tạo được cảm xúc trong lòng các nhạc sĩ và được nhiều nhạc sĩ yêu quý: Nguyễn An Bình đã có hơn 700  bài thơ phổ nhạc, một con số kỷ lục! 

Lý giải về điều đó, nhà văn Nguyên Cẩn cho rằng “Thơ Nguyễn An Bình giàu nhạc tính, những bài thơ của anh, vần điệu du dương, dễ gợi ý hay nhạc hứng trong lòng các nhạc sĩ, từ thơ bốn chữ , năm chữ , sáu chữ … 

Em tươi non như ngàn  lá, 

 Môi hồng thơm cánh lưu ly.

Về ngang nhà thờ  ngày nọ, 

 Chuông mơ còn dấu  tình si. ( Mùa thu xuống phố ) 

 Chúng ta đọc tiếp 

Về đâu sông ơi, 

Sao đi mải miết . 

 Đưa người xa người 

 Tháng năm biền biệt. (Về đâu sông ơi ) 

…đến thơ tám chữ 

Nghe ai hát bản tình ca say đắm, 

 Khúc boléro chiều mượn chút men cay. 

Tôi và em tình một thời lận đận,  

Lan huệ thương hoài một sợi tóc mai” ( Khúc tình sầu boléro) 

Nhà văn Nguyên Cẩn còn gọi Nguyễn An Bình là nhà thơ của tình yêu vì “Tình yêu luôn tồn tại trong mọi bài thơ, luôn trẻ trung, luôn thao thức dù ở tuổi nào…Ta ngờ như tác giả vẫn nuôi dưỡng tình yêu trong tâm hồn mình… Những cảm xúc không trôi đi mà đọng lại, thời gian và không  gian đặc quánh tình yêu từ khi yêu 16 đến hơn 60 không có tuổi, mà chỉ có những rung động bao giờ cũng bồi hồi .”
 

Như thế thì tâm hồn Nguyễn An Bình là của chất thơ và vần điệu nên khi nhận được tập truyện Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà… tôi vừa ngạc nhiên vừa thú vị. Tất nhiên nhiều nhà thơ chuyển sang viết văn xuôi gần đây không ít, những lúc ấy tôi chợt nhớ đến một giai thoại mà Nguyễn Tuân đã kể: “Khi viết văn bí chữ, nhà văn Nguyên Hồng lấy xe đạp phóng đi một chập và vừa đạp ông vừa làm thơ vì “viết truyện đầu dễ bốc khói, thỉnh thoảng làm ít câu thơ cho người nó dịu đi” và thế là “khi xây dựng nhân vật, lúc cao hứng, ông dẹp truyện qua một bên và sang sảng ngâm thơ của mình.” 

Tôi chợt liên tưởng vậy thôi chứ trường hợp của Nguyễn An Bình thì ngược lại, là nhà thơ viết văn và với tính cách điềm đạm, anh không có máu lãng tử như nhà văn Nguyên Hồng và cũng không mấy khi anh đưa thơ vào văn xuôi như nhà văn Kiệt Tấn.

Trong những năm gần đây Nguyễn An Bình in khá nhiều sách, cả thơ lẫn văn, thì hiểu là anh hết mực yêu văn chương, vì cái nghề văn không hề nhàn hạ thảnh thơi mà phải lao động cật lực, đêm ngày cày trên cánh đồng chữ, cẩn trọng trong từng dấu phẩy, chưa kể sự miệt mài quan sát, tìm tòi và suy nghĩ mới có thể kết hợp nhiều yếu tố trong nghệ thuật. 

    Vì làm gì có con đường tắt nào cho văn chương!

    Nhìn chung thì tập truyện Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà của Nguyễn An Bình có 15 truyện ngắn, có vài truyện khá dài (như Xóm Trọ hơn 7000 chữ, Bên dòng Potomac 5000 chữ, Còn xanh bóng núi 4300 chữ… ) nhưng phần lớn các truyện đều hiền lành và dung dị như chính con người anh. Cách viết của Nguyễn An Bình là pha trộn giữa truyện ngắn với bút ký, mỗi nét trong bức tranh đời người được anh kể lại bằng chất thơ của câu chữ nên ta thấy cuộc sống vùng sông nước phần êm dịu và nhẹ nhàng. Các chất liệu sống đều được anh sử dụng với một văn phong trong sáng, dễ hiểu, đọc lúc nào cũng thấy được tâm tình của tác giả.

Trong Chuyện tình trên phá Tam Giang ( 4920 chữ)  kể về tình yêu cổ điển và có hậu của hai ngư dân nghèo. Mối tình của họ tuy chưa hẳn là trắc trở nhưng vẫn còn những toan tính thiệt hơn của người cha cô gái, rồi chỉ sau khi ông bị tai nạn từ cuộc trộm cá bất thành… mà tình  duyên của họ được vuông tròn. 

Chuột và người  (4800 chữ)  là một câu chuyện rất đời thường: Do tình cờ mà lão thợ hồ thất nghiệp trở thành kẻ bắt chuột lành nghề và kể từ đó thì vợ lão không cằn nhằn mà trở thành người cộng sự đắc lực, giúp chồng mọi việc. Nhưng đứa con trai thấy công việc này vừa hôi hám vừa thất đức, can không được, bỏ nhà ra đi. 

Một buổi chiều lão Thìn đang khề khà bên ly rượu đế với các món thịt chuột thì bụng đau oằn oại, mắt trợn trừng, miệng ọc máu, vợ nghe kêu chạy vào thì lão đã ra đi. Trong đám tang, mặt hàng xóm đều có vẻ buồn nhưng bụng mừng thầm vì thoát được cái mùi hôi thối từ ngôi nhà lão. Chỉ có ông y tá già mới biết được nguyên nhân cái chết: Mấy tháng trước ông đã thấy triệu chứng bất thường, da và tròng mắt lão Thìn ngã màu vàng nghệ, bụng trương lên… 

Nguồn cội ( 3200 chữ)  Kể về chuyện một thanh niên bị đưa qua Mỹ, trong chiến dịch babylift, muốn tìm lại cội nguồn. Do tình cờ anh biết được tên người sĩ quan trước đây đã cứu giúp mình. Anh hỏi xin địa chỉ, về Việt Nam tìm, và được ông cho biết là trên đường chạy loạn thấy bé bị thương và thất lạc người thân nên ông phải gửi vào viện mồ côi. Chuyện cảm động nhưng các tình tiết hơi bị guợng ép.

Bến sông quê (2300 chữ)  Chuyện nói về tiếng đàn buồn và xót xa của người đàn ông bị vợ bỏ: Bị mù từ năm 7 tuổi, anh mê nhạc, học và đàn vọng cổ rất hay. Do tình cờ cứu 2 mẹ con bị ghe lật nên được bà mẹ gả con. Sau 8 năm chung sống, người vợ không chịu nổi kham khổ với người chồng tật nguyền, đã bỏ đi. 

  Tình tiết đơn giản nhưng truyện có nhiều đoạn tả cảnh hay và một đoạn kết có hậu: “Năm Can ngước mặt nhìn ra bến sông. Anh biết con nước giờ nầy đã đứng lớn và sắp chuẩn bị cho đợt nước ròng. Một tiếng chim vịt kêu nhưng lần nầy anh không còn cảm thấy buồn tẻ lẻ loi nữa, hình như nó đã tìm được bạn tình”

  Tấm thẻ bài. (3200 chữ) Là câu chuyện về một tình yêu bị chia cắt vì chiến tranh: Một người lính bên thua trận phải ra trình diện để học tập chính sách trong vài ngày, nhưng bị giữ gần 6 năm! Khi ra trại, thì người yêu đã vượt biên cùng gia đình. Anh xin đi Mỹ theo diện HO, nhưng hồ sơ bị thiếu. Thất vọng và giận dữ, anh bỏ lại thẻ bài ở phòng phỏng vấn. Rồi sau 2, 3 lần vượt biên, anh cũng qua được Mỹ. 

Đến nơi anh quyết tìm người yêu nhưng vô vọng. Một hôm anh nhận được thẻ bài, do người con của người phỏng vấn ngày xưa gửi đến: Ông ân hận, vì bị vướng nguyên tắc, không giúp được anh, nên nhờ con trai tìm anh để trả lại thẻ bài. Câu chuyện tình người, cảm động. 

Nhưng có thẻ bài mà người yêu còn sống hay đã chết? Anh ném thẻ bài xuống biển.

 Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà  (3900 chữ)  

Phạm Đạt rất yêu quí đàn voọc chà vá chân nâu sống trên đỉnh Sơn Trà. Trong  một chiều lên núi để chụp cảnh hoàng hôn thì bất chợt mưa gió đầy trời. “Mây đen đã bắt đầu quần tụ kéo tới xám xịt mỗi lúc một dầy thêm trên bầu trời, gió từ phía biển u u thổi càng lúc càng mạnh vào vách núi, anh nghĩ chắc có khi mình không kịp xuống triền núi về phía cây đa ngàn tuổi..” 

Trong lúc tiến thoái lưỡng nan, Đạt nghe có tiếng đàn và trong màn mưa anh còn thấy có ánh lửa chập chờn, anh lần đến ngôi nhà nhỏ và  gặp một người con gái. Khi gõ cửa và bước vào trong, ánh lửa bập bùng làm anh ấm áp. Sau một lát chuyện trò, cô gái đánh đàn, âm thanh của núi rừng từ chiếc đàn đá tạo thành một bản trường ca bất tận. Anh xúc động cúi xuống hôn lên tóc, lên môi và 2 người có 1 đêm ân ái, nhưng khi thức giấc, anh không nhìn thấy nàng đâu. 

Nhờ bức thư anh mới hiểu cô gái chính là 1 con voọc chà vá bị sụp bẩy mà anh đã giải cứu nhiều năm trước. Hoang đường như chuyện Liêu trai!

 Nhiều lần quay lại “Hai mươi năm trôi qua tôi mong gặp lại nàng nhưng nàng và đồng loại nàng đã thật sự bỏ chốn cũ rời đi tìm chốn an bình trước cơn lốc hủy diệt tàn bạo của loài người”

Tưởng như chuyện thần tiên, nhưng đoạn kết là lời tố cáo bọn người đang âm mưu chiếm Sơn Trà làm của riêng, băm nát thiên nhiên.

Khác với các truyện ngắn trước, truyện có ý thức bảo vệ môi trường và gìn giữ thiên nhiên. Đoạn kết làm người đọc ấm lòng: “việc bảo vệ ngọn núi thiêng, bảo vệ màu xanh muôn đời của Sơn Trà đã có kết quả bước đầu thắng lợi, tất cả các dự án xẻ thịt Sơn Trà đều buộc phải dừng lại.”

  Qua thơ hay văn người đọc dễ nhận ra là Nguyễn An Bình một nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, cảm giác như anh vừa sống vừa lắng nghe, ghi nhận những gì xảy ra xung quanh bên ngoài và cảm xúc bên trong lòng mình để suy nghĩ và sáng tác. 

Là người điềm đạm, Nguyễn An Bình không dùng chữ to tát, cường điệu, anh viết truyện bình dị như tính cách của mình. Cái tên An Bình như vận vào những chuyện kể nhẹ nhàng, hiền hoà của anh. Ít khi thấy truyện ngắn có những xung đột dữ dội hay nhiều kịch tính. 

 Là nhà thơ viết truyện nên trong văn xuôi của Nguyễn An Bình không thể thiếu những hình ảnh, âm thanh và nhạc điệu. Xin được trích ra đây những đoạn văn tả cảnh rất có hồn:

- “ Con nước bắt đầu lớn, nước từ sông cái chảy vào kênh Cái Sâu lờ đờ bình lặng, từng vạt lục bình trôi dạt vào kênh điểm xuyến mấy chùm bông tim tím làm cảnh vật bớt buồn tẻ, đơn điệu. Lâu lâu một vài trái bần già rụng xuống dòng kênh nghe lỏm bỏm, trong không gian trầm lắng đó người ta lại nghe tiếng đờn vọng cổ cất lên từ trước nhà Năm Can, tiếng đờn như ai oán, nhớ thương chất chứa bao niềm tâm sự.” (tn Bến sông quê)

- “Nếu ai đã từng đi núi gặp phải cơn mưa rừng mới thấy hết cái dữ dội hung dữ của nó. Nó đến rất nhanh không kịp trở tay, có thể ào ạt chớp nhoáng rồi nhanh chóng đi qua như người khách lạ, có lúc lại dai dẳng nhiều ngày như một kẻ thù truyền kiếp đeo bám không rời. Tiếng mưa rào rạt đập vào các thân cây cành lá nghiêng ngả tạo nên những cơn dư chấn domino khiến người lạc trong núi phải khiếp vía. Trên độ cao hơn ngàn mét thần gió mặc sức hoành hành, những đám mây xám từ biển cứ ồ ạt kéo về, nước từ trên đỉnh núi theo các khe suối nhỏ ào ạt trôi băng băng xuống triền dốc như một cơn lũ dữ.”(tn Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà )

Trong truyện ngắn hiện đại, ít thấy ai tả cảnh. Mà tả cảnh hay thì càng hiếm. Con người đang gục đầu trên máy tính, ngập trong hàng đống giấy tờ, số liệu… mấy ai còn có thời gian nhìn ngắm thiên nhiên!  

Bài viết này không có tham vọng phê bình mà chỉ là những cảm nhận cá nhân khi đọc tập truyện ngắn Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà để chia sẻ cùng tác giả Nguyễn An Bình nên chắc sẽ có bạn đọc nhìn qua một tâm cảm hay một góc nhìn khác. Để dẫn chứng tôi trích ra vài đoạn, phần còn lại xin dành cho độc giả đọc và khám phá.

TRƯƠNG VĂN DÂN

                                    Milano 20/8/2020


 

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2020

CHÙM THƠ CÁO TRẠNG PHÁ RỪNG SỐ MỘT - THƠ CHÂU THẠCH


van tran

Tệp đính kèm

22:32, Th 2, 19 thg 10 (1 ngày trước)

tới







CHÙM THƠ CÁO TRẠNG PHÁ RỪNG SỐ MỘT 

                

TỜ CÁO TRẠNG 

       

Tôi đi trên ghềnh cao 

Nhìn những con suối chết 

Dòng nước đọng thành máu rừng đỏ quệt 

Như đại ngàn ai đâm thủng con tim. 


Tôi đi trên ghềnh cao 

Nhìn những dòng suối chết 

Rừng bên suối hoang tàn thoi thóp mệt 

Lá phổi rừng đông đặc một mùi tro. 


Và tôi nghĩ đến những thành phố khói 

Những đồng bằng sa mạc hóa khô màu 

Đến những mùa nước lũ cuốn về mau 

Đến khí hậu đổi thay lượng oxy không điều   hòa chu chuyển. 



Rừng yêu tôi khi đời tôi bạo biến 

Đeo ba lô lên núi sống cùng rừng 

Khi tôi buồn rừng có đóa hoa tươi 

Khi tôi nhớ con chim rừng hót tặng. 


Và tôi khóc thì rừng yên lặng 

Để hồn tôi định lại những niềm vui 

Để hồn tôi quên hết những ngậm ngùi 

Khi ngắm cảnh, nghe tiếng rừng tịnh quá. 


Nay trở lại nhìn rừng không còn lá 

Suối ở đâu, con chim hót ở đâu? 

Rừng tôi yêu đã thay sắc đổi màu 

Cô gái đẹp nay trở thành bà lão. 


Núi ngồi xỏm tấm thân tàn ảo não 

Rừng thành than lổn ngổn những xương cây 

Tôi đau thương mà viết bài thơ nầy. 

Tờ cáo trạng tội con người trên đất ./. 

               

 

NGHĨA ĐỊA XANH 


Nghĩa địa xanh chôn những mồ xác lá 

Trên nấm mồ cây chết đứng chơ vơ 

Những cành khô chới với nhánh tay hờ 

Như níu kéo phao mây trời cứu hộ. 


Mây ngạo nghễ cứ trôi qua bán bổ 

Con sói già không có chốn nương thân 

Con chim non chết trong tổ mộ phần 

Vì mẹ nó không bao giờ quay lại. 


Nhớ thuở ấy núi xanh dường thảm trải 

Rừng nối rừng qua những đỉnh cheo leo 

Cây tiếp cây xuống dốc lại lên đèo 

Cảnh xen cảnh vườn địa đàng muôn thú. 


Những sinh vật chọn ngôi nhà xanh trú 

Sống phong lưu tự tại giữa rừng hoang 

Đêm bên sông uống từng ngụm trăng vàng 

Ngày ăn trái ngàn thơm trời chẳng cấm. 


Thời hoàng kim của hoa rừng sắc thắm 

Những rừng hương cứ thả gió thơm bay 

Bướm và ong nhộn nhịp đến từng bầy 

Chúng vận chuyển đem cho đời lắm mật. 


Nay núi chỉ còn trơ da mặt đất 

Hồn ma thiêng núp bóng ở trong mưa 

Biến thành bao cơn lũ quét không chừa 

Từng gốc rạ, cọng rơm, mái nhà ra biển ./. 


                        CHÂU THẠCH 


 


XUỐNG ĐÒ NGƯỜI DƯNG , THƠ NHÃ MY, NHẠC PHAN NI TẤN










XUỐNG ĐÒ NGƯỜI DƯNG
NHẠC PHAN NI TẤN
THƠ NHÃ MY
HÒA ÂM TRẦN NHÀN
CA SĨ QUỐC DUY
VIDEO CLIP NGOAN LÃO

NM chân thành cảm ơn nhạc sĩ Phan Ni Tấn đã phổ thơ NM thành khúc dân ca cải biên đậm đà chất Nam bộ  thật hay.
Đồng cảm ơn Quốc Duy và Trần Nhàn đã chuyển tải cảm xúc vào lời ca , tiếng nhạc để tác phẩm được bay xa.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

EM HỎI GIÙM TÔI - THƠ NGUYÊN AN BÌNH






EM HỎI GIÙM TÔI


Em hỏi giùm tôi cơn mưa tháng mười từ đâu tới

Khắc khoải vô chừng những hạt lệ đêm nay

Mắt dõi theo ai buồn giăng hơn màu khói

Ngỡ cõi trăm năm chỉ một giấc mơ dài.


Em hỏi giùm tôi sầu nào dài hơn thế kỷ

Để cánh buồm nâu tơi tả trước sóng bạc đầu

Mây xám buông chiều hằn sâu lên dáng núi

Có một cuộc tình sao trải mấy biển dâu.


Em hỏi giùm tôi mùa thiên di bao giờ đến

Sao cánh chim bay vẫn biền biệt muôn trùng

Gió phương nào dẫu che cũng đầy bão tố

Lòng người thành bóng tối khuyết liềm trăng.


Em hỏi giùm tôi trái thời gian khi nào chin đỏ

Xin dành cho tôi một ga nhỏ lúc quay về

Ngủ dưới mưa phùn thơm tho mùi cỏ ướt

Có tiếng côn trùng giục giã những đêm khuya.


Em hỏi giùm tôi con đường xưa thuở ấy

Người đi xa có nhớ sương trắng quê nhà

Mùi khói bếp bao năm thơm hoài rơm rạ

Biết ai còn thương màu áo lụa hoàng hoa?


NGUYỄN AN BÌNH



Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2020

Giai Thoại Văn Chương : SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT (4): LẠC TÂN VƯƠNG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 Chieu Duc

06:30, Th 7, 17 thg 10 (1 ngày trước)



Giai Thoại Văn Chương :

  

                                      SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT  (4)

                                        

                              Người thứ tư trong Sơ Đường Tứ Kiệt : LẠC TÂN VƯƠNG

        

         LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王 (626?-687?) tự là Quan Quang 觀光. Tên và Tự của ông đều xuất phát từ quẻ Khôn 坤 (lục tứ) của Kinh DỊCH là : QUAN quốc chi QUANG, lợi dụng TÂN chi VƯƠNG 觀國之光,利用賓於王. Có nghĩa : Quan sát dân tình trong nước thì biết được đức hạnh của nhà vua, và để quyết định xem có đến để phò trợ nhà vua đó hay không. Ông tên "TÂN VƯƠNG" nên mới lấy tự "QUAN QUANG" là vì thế. Lạc Tân Vương người đất Nghĩa Ô Vụ Châu (thuộc huyện Nghĩa Ô tỉnh Chiết Giang ngày nay). Từ nhỏ đã nổi tiếng là thần đồng, bảy tuổi làm bài "Vịnh Nga 咏鹅" còn truyền tụng đến hiện nay. Ông xuất thân từ gia đình hàn vi, nhưng tuổi trẻ tài cao. Trong năm Vĩnh Huy (650) ông đã là Chủ Bộ về Văn học và võ công của Đạo Vương Lý Nguyên Khánh, sau chuyển về làm Chủ Bộ của đất Trường An. Năm Phụng nghi thứ 3 (678) đãm nhiệm chức Thị Ngự Sử, vì can vua động chạm đến Võ hậu nên bị hạ ngục; gặp đại xá nên được tha. Năm Điều lộ thứ 2 (680) nhậm chức Lâm hải Huyện Thừa, đến năm Quang Trạch nguyên niên (684) theo Anh Quốc Công Từ Kính Nghiệp dấy binh thảo phạt Võ Tắc Thiên, soạn bài hịch nổi tiếng cổ kim "Vị Từ Kính Nghiệp Thảo Võ Anh Hịch 為徐敬業討武曌檄". Sau khi Từ Kính Nghiệp bại binh, có tin đồn cho là ông đã bị giết trong loạn quân, nhưng sau nầy có người còn gặp ông đã xuất gia làm hòa thượng ở trong núi.

       Ông cũng là một trong TỨ KIỆT của buổi SƠ ĐƯỜNG. Người đời xếp ông đứng chót trong Tứ Kiệt, nhưng tài hoa và danh tiếng của ông hơn hẵn Lư Chiếu Lân và Dương Quýnh và sánh ngang ngửa với người đứng đầu là Vương Bột. Tương truyền...

       

        Trong một lần cùng cha và một người khách, bạn của cha, đi ngoạn cảnh đồng quê, chú bé Lạc Tân Vương mới 7 tuổi đã làm công chuyện của một "tua-gai"(tour-guide) giới thiệu với khách phong cảnh của quê mình, khi đi đến một bờ hồ nước trong xanh biếc, gió mát thoảng đưa nên mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn, thấp thoáng một vài bông liễu trắng xóa bay phất phơ từ các nhành liễu buông rũ lã lướt bên bờ hồ, trên mặt hồ lại có vài con ngỗng trắng đang bơi lội nhởn nhơ, thỉnh thoảng vổ cánh quạt nước tứ tung và kêu lên "quàng quạt". Trước phong cảnh đẹp đẽ hữu tình nầy, khách mới cười hỏi Lạc Tân Vương rằng :"Nghe nói cháu làm thơ rất giỏi, giới thiệu cảnh đẹp đã hay rồi, vậy cháu thử làm một bài thơ tả cảnh trước mắt xem sao !". Lạc Tân Vương thưa rằng :"Cháu làm bài thơ Vịnh Ngỗng nhé !" Đoạn chú bé đứng trầm ngâm nhìn đàn ngỗng lội trên mặt hồ một lúc, rồi cất tiếng ngâm :


                   鵝,鵝,鵝,   Nga, nga, nga,

                   曲項向天歌。   Khúc hạng hướng thiên ca.

                   白毛浮綠水,   Bạch mao phù lục thủy,

                   紅掌撥清波。   Hồng chưởng bát thanh ba.

Có nghĩa :

                    Inline image


           Ngỗng, ngỗng, ngỗng. Cổ cong hướng lên trời mà kêu (ca). Bộ lông trắng nổi lên trên (phù) mặt nước xanh biếc (lục thủy). Bàn chân hồng đẩy (bát) làn nước gợn sóng trong veo. (THANH 清 nầy có ba chấm thủy, có nghĩa là TRONG)

      

       Có nghĩa:

                  Ngỗng , ngỗng, ngỗng,

                  Cổ cong hướng lên không,

                  Lông trắng trên nước biếc,

                  Chân hồng đẩy sóng trong ! 


       Ba tiếng NGỖNG, NGỖNG, NGỖNG vừa chỉ con Ngỗng, vừa như là tiếng kêu của các con ngỗng theo phát âm Quan Thoại : NGẠ, NGẠ, NGẠ ! Vừa tượng thanh vừa vui nhộn như tuổi trẻ của Lạc Tân Vương, vừa nói lên được tình cảm của chú bé dành cho con ngỗng vui mừng khi gặp mặt. Câu hai là hình ảnh tiêu biểu rất tượng hình của cái cần cổ dài và cong của ngỗng vươn lên trời cao khi cất tiếng kêu. Hai câu kết thì thật xuất sắc , nêu bật được đặc điểm của con ngỗng và bối cảnh xung quanh với một thủ thuật tuyệt vời : Lông trắng nổi lên trên mặt nước xanh và chân ngỗng màu hồng đẩy làn nước trong mà bơi tới !


                          Inline image


       Khách ngạc nhiên đến thích thú trước tài thơ mẫn tiệp của cậu bé Lạc Tân Vương mới vừa lên bảy tuổi. Ông ta đã nói với cha của Lạc Tân Vương rằng, thằng bé tương lai sẽ là người thành đạt lớn, và quả nhiên Lạc Tân Vương là một trong TỨ KIỆT của buổi sơ Đường, ngang danh với Vương Bột 王勃, Lư Chiếu Lân 盧照鄰 và Dương Quýnh 楊炯, rất giỏi về thơ ngũ ngôn, thất ngôn và nhất là tản văn... 

        

     Về bài thơ VỊNH NGỖNG thì...

     Theo "Giai thoại Văn Chương Việt Nam của Thái Bạch" và của trên mạng "Để Gió Cuốn Đi" có kể rằng : Năm 987, đời Tiền Lê ở nước ta. Vua Nhà Tống sai Lý Giác đi sứ nước Nam. Khi đến chùa Sách Giang, Vua Lê mời sư Pháp Thuận giả làm người lái đò ra đón. Lý Giác rất giỏi và rất thích nói chuyện văn thơ. Ngồi trong thuyền đò, ông thấy trên mặt sông có đôi ngỗng trắng đang bơi, liền buộc miệng đọc :


            Nga nga lưỡng nga nga,           鵝鵝兩鵝鵝,

            Ngưỡng diện hướng thiên nha.  仰面向天崖。

 Có nghĩa :

            Hai con ngỗng một đôi,

            Ngước mặt hướng chân trời.

     

    Sứ thần Lý Giác vừa đọc xong, thì người lái đò bèn đọc tiếp ngay là :


            Bạch mao phô lục thủy,     白毛舖綠水,

            Hồng trạo bãi thanh ba.    紅棹擺青波。

 Có nghĩa :

            Lông trắng phô nước biếc,

            Chèo hồng quẫy sóng xanh.


      Lý Giác rất kinh ngạc, vì không ngờ rằng người lái đò nước Nam lại giỏi văn thơ như thế. Có thể là trước đó cả sứ thần Lý Giác và nhà sư Pháp Thuận đều đã đọc qua bài thơ của chú bé Lạc Tân Vương, nên mới xúc cảnh sanh tình mà buộc miệng đọc ra những câu thơ trên chăng ?! Mặc dù có sửa đổi đôi chút, nhưng tựu trung vẫn từ bài Vịnh Ngỗng của Lạc Tân Vương mà ra cả !

       

        Khi đã trưởng thành, ngoài tài làm thơ viết văn ra, Lạc Tân Vương còn là một hiệp khách với lòng hiệp nghĩa cao độ, chuyên cứu khổn phò nguy, giúp người cô thế bị hiếp đáp, trừng trị tham quan ô lại, trừng trị kẻ bạc tình, thậm chí giết người để báo thù cho kẻ thế cô bị ức hiếp... như cụ Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều : "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha ?!". 

       

       Năm Hàm Hanh thứ 2 đời Đường Cao Tông (671), Lạc Tân Vương từ Tây Vực trở lại Trường An để tìm chút công danh, nhưng không thành, bèn theo Lương Tích Thọ đầu quân ở Dao Châu, tháng 6 từ Dao Châu chuyển sang đất Thục, ở Thành Đô theo lối sống buông thả phóng túng của hiệp khách giang hồ "Tầm thù nhập tửu tứ, Phỏng khách thướng cầm đài 尋姝入酒肆,訪客上琴台" Có nghĩa : Muốn tìm người đẹp thì vào quán rượu, muốn tìm khách tao nhả thì lên cầm đài. Ở đây Lạc Tân Vương kết giao với Lư Chiếu Lân đang là Đô Úy, hai bên cùng xướng họa thật tương đắc. Nhưng sau khi Lư Chiếu Lân dứt bỏ Quách Thị, rồi một đi không trở lại trong khi Quách thị đã mang thai, chờ đợi mõi mòn đằng đẵng suốt hai năm trường, con sanh ra lại chết. Quách thị vô cùng đau xót than thở với Lạc Tân Vương, Vương nổi lòng hào hiệp thay Quách Thị làm một bài thơ trường thiên thất ngôn ca hành "Diễm Tình Đại Quách Thị Đáp Lư Chiếu Lân 艷情代郭氏答盧照鄰". Có nghĩa : "Bài thơ diễm tình thay cho Quách Thị đáp lại Lư Chiếu Lân" để bày tỏ nỗi lòng thương nhớ và oán trách cho sự bạc tình của Lư Chiếu Lân, trong đó có những câu như : 


                  迢迢芊路望芝田,    Điều điều thiên lộ vọng chi điền,

                  眇眇函關限蜀川。  Miễu miễu Hàm Quan hạn Thục Xuyên.

                  歸雲已落涪江外,    Quy vân dĩ lạc Phù Giang ngoại,

                  還雁應過洛水瀍。  Hoàn nhạn ưng qua Lạc Thủy Triền...

    Có nghĩa :

                   Inline image


                  Diệu vợi đường dài ngóng ruộng dâu,

                  Xa xăm Hàm Cốc Thục Giang đầu.

                  Phù Giang mây đã trôi thăm thẳm,

                  Cánh nhạn sông Triền Lạc Thủy đâu ?!...

       

      Ở nơi đất Thục xa xôi ngóng về đất Trường An diệu vợi chỉ thấy toàn ruộng dâu đay che khuất cả tầm mắt bởi ải Hàm Cốc ngăn cách của xứ Thục Xuyên, nhìn lên trời thì chỉ thấy mây trôi thăm thẳm của con sông Phù uốn khúc, mõi mòn đợi cánh nhạn từ sông Triền xứ Lạc Dương của Trường An bay qua dòng Lạc Thủy để đem tin đến nơi nầy... Nhưng mãi mãi vẫn hoài công chờ đợi mà thôi, vì ở nơi kinh thành, chàng Lư Chiếu Lân bạc tình quên nghĩa đã đang vui với :


                 柳葉園花處處新,    Liễu diệp viên hoa xứ xứ tân,

                 洛陽桃李應芳春。   Lạc Dương đào lý ứng phương xuân.

                 妾向雙流窺石鏡,    Thiếp hướng song lưu khuy thạch kính,

                 君住三川守玉人。   Quân trú Tam xuyên thủ ngọc nhân !

    Có nghĩa :

                  Liễu hoa mới mẻ khắp nơi nơi,

                  Đào lý Lạc Dương đã đượm rồi.

                  Thiếp đối gương sầu dòng lệ chảy,

                  Chàng ôm người ngọc mặc tình chơi !...

   ... và...

                  悲鳴五里無人問,    Bi minh ngũ lý vô nhân vấn,

                  腸斷三聲誰為續?    Trường đoạn tam thanh thùy vị tục ?

                  思君欲上望夫台,    Tư quân dục thướng Vọng phu đài,

                  端居懶聽將雛曲。   Đoan cư lãn thính tương sồ khúc !

    Có nghĩa :

                      Inline image


                  Khóc than năm dặm chẳng ai hay,

                  Ruột đứt ba canh luống ngậm ngùi.

                  Trông ngóng nhớ thương chừng hóa đá,

                  Lại sầu con trẻ sớm qua đời !

                                                          ...v.v và v.v....

       Bài thơ được truyền ra khiến cho người người đều oán trách Lư Chiếu Lân là kẻ bạc tình.        


       Cũng với tính khí hào hiệp đó được Lạc Tân Vương đem áp dụng vào quan trường, nên vào năm Phụng Nghi thứ ba (678) đời Đường Cao Tông, sau hơn mười năm bị chèn ép trong quan trường, khi vừa mới được thăng làm Thị Ngự Sử, Lạc Tân Vương đã dâng sớ luận bàn triều chính, động chạm đến các đồng liêu và nhất là động chạm đến Võ Hậu, nên bị vu cho tội tham ô rồi bị hạ ngục. Trong ngục ông đã làm bài thơ nổi tiếng dưới đây :


             在獄詠蟬         TẠI NGỤC VỊNH THIỀN


            西陸蟬聲唱,    Tây lục thiền thanh xướng,

            南冠客思深。    Nam quan khách tứ thâm.

            那堪玄鬢影,    Na kham huyền mấn ảnh,

            來對白頭吟。    Lai đối bạch đầu ngâm.

            露重飛難進,    Lộ trọng phi nan tấn,

            風多響易沉。    Phong đa hưởng dị trầm.

            無人信高潔,    Vô nhân tín cao khiết,

            誰爲表予心?    Thùy vị biểu dư tâm ?!


             Inline image

Nghĩa Bài Thơ :

                       Trong Ngục Vịnh Ve

       Trong mùa thu nhưng tiếng ve vẫn còn vang lanh lảnh, khiến cho người tù như ta càng nhớ nhung nghĩ ngợi sâu xa hơn. Làm sao kham được khi tóc hãy còn xanh (như hai cánh ve còn ngân vang) mà phải cam chịu ngâm khúc bạc đầu oan ức bất đắc dĩ nầy. Sương rơi nặng hạt làm cho ve khó mà bay tới, gió rít mạnh nên át cả tiếng ve ngâm. Không có ai tin loài ve thanh cao trong sạch (cũng như ta), nên ai, ai mới là người bộc bạch được nỗi lòng cao khiết của ta đây ?!


       Vịnh VE, nhưng lại mượn hình tượng trên cao và tiếng ve ngâm cao vút để gởi gắm và bày tỏ nỗi lòng trong trắng thanh cao đầy tính hiệp nghĩa của mình. Bị chèn ép trù dập để đưa vào tù trong khi hào khí vẫn tràn đầy mà phải ngâm câu bạch đầu ta thán. Không tiến bước được trên con đường chính nghĩa vì bị các thế lực khác trù dập, như con ve không thể bay cao bay xa được vì những hạt sương nặng trĩu của mùa thu; không nói lên tiếng nói trung thực vì bị quyền thế cấp trên chèn ép cũng như con ve không còn cất cao tiếng ngân được vì bị tiếng gió rít át đi. Ai còn trân trọng sự cao khiết của con ve cũng như ai còn có thể vì ta mà bày tỏ nỗi lòng thanh cao trong trắng của ta đây ?


Diễn Nôm :

                Inline image

       

                     Trời thu ve còn vang tiếng,

                     Người tù lòng nghĩ đâu đâu,

                     Sao khiến người còn xanh tóc,

                     Phải ngâm khúc hát bạc đầu.

                     Sương nặng cánh bay không nổi,

                     Gió vờn tiếng hát chìm sâu.

                     Không người tin lòng cao nhã,

                     Ai bày tỏ nỗi lòng sầu ?!


       Mùa thu năm sau (679), ông được xá tội. Mùa đông năm đó ông đi về đất Yên (thuộc tỉnh Hà Bắc hiện nay) làm Tham Quân trong một doanh trại, quyết lòng ra sức lập công báo quốc. Bài "Dịch Thủy Tống Biệt 易水送別" được làm trong khoảng thời gian nầy khi ông đưa bạn qua dòng sông Dịch.


                     此地別燕丹,    Thử địa biệt Yên Đan

                     壯士髮衝冠。    Tráng sĩ phát xung quan.

                     昔時人已沒,    Tích thời nhân dĩ một,

                     今日水猶寒。    Kim nhật thủy do hàn !


                      Inline image


       DỊCH THỦY 易水 : Còn gọi là Dịch Hà 易河, tên một con sông nằm ở phía tây của Dịch Huyện thuộc tỉnh Hà Bắc, chia làm Nam Dịch Thủy và Bắc Dịch Thủy, là ranh giới phía nam của nước Yên thời Chiến Quốc, nơi mà thái tử Đan tiễn biệt Kinh Kha qua sông để đi thích khách Tần Thủy Hoàng. Bài thơ có nghĩa :


      Ta đưa bạn ở nơi nầy, nơi mà Kinh Kha đã từng vẩy tay ly biệt với thái tử Đan của nước Yên. Người tráng sĩ ra đi (thích khách Tần Thủy Hoàng) bi hùng cảm khái đến nỗi tóc dựng đứng đội cả mão lên. Bây giờ, người xưa tuy đã mất rồi, nhưng dòng nước nơi đây vẫn còn toát hơi lạnh lẽo.


       Bài thơ vừa tả thực (tiễn bạn), vừa hoài cổ (nhớ lại chuyện xưa), vừa như Vịnh Sử (nhắc lại một thiên lịch sử bi tráng hào hùng của Kinh Kha khi qua sông Dịch) và hàm súc cảm khái một cách bi hùng với hình ảnh "Tích thời nhân dĩ một, Kim nhật thủy do hàn !". Cái lạnh của dòng sông Dịch như làm sống lại cảnh đưa tiễn ngày xưa, và cũng làm cho ta nhớ đến bài ca của Cao Tiệm Ly đã hát trên bờ sông khi đưa tiễn bạn :


                Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,       風蕭蕭兮易水寒,

                Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn !  壯士一去兮不復還.

Có nghĩa :

                Gió hắt hiu ôi, bờ sông Dịch lạnh,

                Tráng sĩ một đi rồi, không trở lại nữa đâu !


  ... và lại làm cho ta nhớ đến bài TỐNG BIỆT HÀNH của nhà thơ Thâm Tâm thời Tiền Chiến :


                  Đưa người ta không đưa qua sông

                  Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?

                  Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

                  Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?


    ... và trong bài VỌNG NHÂN HÀNH cũng của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình :


                  Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

                  Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”...


      Diễn Nôm :

                      Inline image


                     Nơi nầy giả biệt Yên Đan,

                     Anh hùng tóc dựng ngập tràn bi ca.

                     Người xưa tuy đã lìa xa,

                     Hôm nay dòng nước la đà lạnh căm !


      Năm Quang Trạch nguyên niên (684) Lạc Tân Vương theo Anh Quốc Công Từ Kính Nghiệp khởi binh chống lại Võ Tắc Thiên, ông đã viết bài  "Vị Từ Kính Nghiệp Thảo Võ Anh Hịch 為徐敬業討武曌檄" hiệu triệu mọi người cùng đứng lên chống lại họ Võ. Võ Tắc Thiên thấy bài hịch chỉ mĩm cười khi dễ. Kịp khi đọc đến câu "Nhất phôi chi thổ vị can, lục xích chi cô hà thác ? 一坯之土未乾,六尺之孤何託?" mới thất kinh xúc mồ hôi hạn mà hỏi rằng :"Ai viết bài hịch văn nầy?" Có người tâu là của Lạc Tân Vương viết. Võ Tắc Thiên mới quở rằng :"Đây là lỗi lầm của Thừa Tướng, nhân tài như thế nầy sao không biết trọng dụng, để đến đổi lưu lạc bên ngoài theo loạn quân mà chống lại ta thế nầy?". Thì ra câu nói đó đã đánh ngay vào điểm yếu tử huyệt của Võ Tắc Thiên:" Một núm đất vàng còn chưa khô là chỉ chồng bà ta là Đường Cao Tông chết chưa bao lâu, mồ còn chưa xanh cỏ, mà bà ta đã phế đứa con côi là Đường Trung Tông được chồng ký thác để soán ngôi mà tự xưng là Châu Thiên Tử." Cái bất nghĩa bất nhân đó đã được Lạc Tân Vương khai thác để kêu gọi mọi người cùng đứng lên chống lại họ Võ. Đây là bài hịch hay nhất của buổi Sơ Đường. Trong khí thế đang lên, Lạc Tân Vương làm luôn một bài thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt "Tại Quân Đăng Thành Lâu 在軍登城樓" đầy khí thế hào hùng như sau :


                      城上風威冷,    Thành thượng phong uy lãnh,

                      江中水氣寒。    Giang trung thủy khí hàn.

                      戎衣何日定,    Nhung y hà nhật định,

                      歌舞入長安.     Ca vũ nhập Trường An !

      Có nghĩa :

                      Inline image


                      Trên thành quân uy ớn lạnh,

                      Dưới sông sát khí căm căm.

                      Áo trận ngày nao bình định,

                      Múa ca vào chiếm kinh thành !             


       Nhưng tiếc thay, bài hịch tuy hay, tuy đanh thép; bài thơ tuy hào hùng khí thế, nhưng cuộc nổi dậy của Từ Kính Nghiệp lại thất bại. Lạc Tân Vương bặt vô âm tín từ đó. Có người đồn rằng ông đã chết trong cuộc chiến, lại có người cho rằng ông đã vào núi ẩn cư tu đạo, được tôn thành thần, hiệu là "Nam Thiên Lạc Ân Sư 南天駱恩師". Lại có người cho rằng ông đã thế phát quy y vào cửa Phật, nương nhờ bóng thiền môn, hiệu là "Phổ Tế Diệu Chương Thiền Sư 普濟妙章禪師", mỗi năm vào tiết Đoan Ngọ đều được cúng tế linh đình. 

      

   Ta thấy...

       Từ một chú bé bảy tuổi Vịnh Ngỗng thật dễ thương, Lạc Tân Vương lớn lên với hình tượng của một hiệp khách cứu khổn phò nguy "giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha ?!", rồi trở thành một quan viên chính trực, công chính liêm minh để đến nỗi bị trù dập bỏ tù, và cuối cùng không chiụ được sự tiếm quyền của Võ Tắc Thiên mà làm phản. Cuối đời lại mai danh ẩn dật, xuất gia thành một hòa thượng trông rất bặm trợn như các hình tượng được lưu truyền.


      Thế mới biết, cuộc sống nhân sinh đã hành hạ dằn vật con người như thế nào, cuộc đời chìm nổi đắng cay đã làm đổi thay thân xác từ một chú bé vô tư thông minh dễ thương thành một hoà thượng khắc khổ gầy gò dữ tợn. Mời xem các hình tượng lưu truyền về Lạc Tân Vương dưới đây sẽ rõ !



                 Inline image

                              Bảy tuổi "Vịnh Ngỗng"

                       

                Inline image

                                Hiệp khách Giang hồ


                Inline image

                                 Quan viên chính trực


                Inline image

                                  Hòa thượng về già



          Hẹn bài viết tới : Thi Phật VƯƠNG DUY.


                                               杜紹德

                                          ĐỖ CHIÊU ĐỨC