CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

TÔI NGHE NHẠC LÀ ĐỂ ...? - TRẦN HỮU NGƯ

 


TÔI NGHE NHẠC LÀ ĐỂ….?

Câu hỏi này chỉ dành riêng cho tôi, vì tôi biết không có ai giống như tôi, và tôi xin trả lời ngay:
-Tôi nghe nhạc là để NGHE-KỶ-NIỆM
-Tôi nghe nhạc là để được KHÓC!
-Tôi nghe nhạc là để CHỮA BỊNH.
1-NGHE-KỶ-NIỆM
Tôi tự “kiểm thảo”, tôi là người rất khó tính khi nghe nhạc.
Thường thì một CD bán ra thị thường có 10 đến 12 bài hát. Nhưng chỉ có 1 cho đến 2 bài hát hay, may mắn lắm thì có được 3 bài, còn lại là những bài dở! Đang nghe một bài hay mà chuyển sang một bài dở thì… như đang ăn cơm ngon mà nhai đụng một hạt sạn!
Để tránh tình trạng “mất sướng” này, tôi bỏ rất nhiều thì giờ, công sức, để làm riêng cho mình những CD “Toàn những bài hát hay và đứng được với thời gian”:
-Tôi chọn những bài tôi thích trong hằng trăm dĩa nhạc mà tôi đã mua, nghe kỹ, rồi lấy bài ưng ý… để làm riêng cho mình một CD “toàn những bài mình thích”. Và tôi làm đã mày mò làm được 50 CD cho riêng mình (không đụng hàng). Và mỗi ngày tôi cố nghe chừng 10 ca khúc. Một bài hát mất chừng 5 phút, nghe 10 bài chỉ mất chưa đến 1giờ.
Khi nghe nhạc, tôi không làm gì cả, nằm trên chiếc võng đu đưa… vặn âm thanh vừa đủ nghe và… tập trung… nghe. (rất tiếc, tôi đã bỏ thuốc lá rồi, chớ nằm võng hút thuốc, phà khói bay nhẹ, hớp một ngụm bia, mà nghe nhạc thì… Oke Salem).
Hôm nay cuối tháng 3.2026, tôi chọn một CD có 16 bài của tôi chọn, nhìn list, thì đây là những bài ca kỷ niệm đi qua tôi trong thời Chiến tranh:
-Ai cho tôi tình yêu (Trúc Phương) Hoàng Oanh ca
-Bóng người cùng thôn (Xuân Tiên) Trúc Mai ca
-Con đường xưa em đi (Châu Kỳ-Hồ Đình Phương) Mỹ Thể ca
-Hồi tưởng (Dạ Ly Vũ) Trang Mỹ Dung ca
-Khúc ca ngày mùa (Lam Phương) Thanh Tuyền ca
-Tím cả rừng chiều (Thu Hồ) Phương Dung ca
….
Những giọng ca của một thời vàng son… cất lên… tôi nghe như lúc còn ở Bình Tuy-một tỉnh “không xa kinh kỳ sáng chói” (nhạc Phạm Duy), mỗi buổi trưa mở Radio nghe ca qua “Chương trình thương mại” trên đài Phát thanh Saigon.
Khi nghe lại những ca khúc nêu trên, lòng tôi như đang nghe những kỷ niệm của những ngày xưa ở Bình Tuy-Lagi tràn về. Ngày đó, là những dòng nhạc lòng, được đánh lên trong âm thanh buồn vui, và ngày nay nhạc lòng đã mất, chỉ còn lại là nhạc đời! Nghe một ca khúc cũ đối với tôi là giống như đang xem một thước phim chiếu chậm đầy màu sắc văn hóa.
2-NGHE ĐỂ ĐƯỢC… KHÓC!
Tôi nói điều này sẽ không ai tin:
-Khi nghe ca sĩ Phương Dung hát bài TÍM CÀ RỪNG CHIỀU của Thu Hồ, tôi xúc động vì nhớ rừng, đến nỗi hai hàng nước mắt tôi chảy ướt. Tôi là người đàn ông “mau nước mắt” từ khi còn trẻ. Tôi KHÔNG KHÓC VÌ TIẾNG HÁT, mà KHÓC VÌ BÀI HÁT!
“… Vi vu vi vu đưa lòng về từ biên khu
Non xanh bao la chập chùng khuất trong rừng thu
Dư âm đâu đây nghe buồn vọng lên ngát mi
Qua bao ngăn cách ôi buồn kẻ ở người đi
Rồi một đàn chim theo gió ngàn đưa lối
Mách bóng người đã về khi màu tím nhuộm thu…”
(Ca khúc TÍM CẢ RỪNG CHIỀU)
Người ta xem phim, kịch, tuồng tích, chỗ nào cảm động thì người ta khóc, đó là chuyện bình thường, còn tôi nghe nhạc mà… khóc, là điều bất thường?
Sau khi tôi khóc, tôi thấy trong mình khỏe ra, và hình như “…Khóc cho vơi đi những giọt sầu?…” (Bài không tên số 4 của Vũ Thành An)
Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, thấy thằng Tây đốt nhà, dân làng tôi tức quá, nhưng không biết phải làm gì, chỉ biết chửi thề: Merde Salaud. Vậy mà sau khi chửi, hết tức! Có người chỉ tôi liệu pháp chữa bịnh bằng cách chửi thề:
-Sáng sớm, ra đường mở hết thanh quản chửi thề một tiếng thật to, là khỏe hơn đi tập thể dục?
Hằng ngày, nếu bạn gặp một chuyện gì đó, tức đến nỗi không nói được, thì bạn vui lòng chửi thề một tiếng là hết tức ngay!
Phải công nhận rằng, ngày nay có những chuyện “tức không chịu được”, nên người ta phải chửi thề cho… đỡ tức, vì “làm được gì nó”.
3-NGHE ĐỂ CHỮA BỊNH
Tôi nghe nhạc để chữa bịnh.
Điều này đã được chứng minh cho riêng tôi, mà phải là những bài hát tôi thích.
Có lần, tôi nhập Viện. Bệnh viện này có gắn loa mở nhạc “êm dịu” cho bệnh nhân nghe. Tôi nghe và cảm thấy… bớt bịnh!
Nhưng dù mê nhạc, nhưng tôi luôn cảnh giác:
-Có không ít nhạc những năm gần đây, nghe rồi bịnh luôn!


TRẦN HỮU NGƯ
(Boléro Xóm Gà Giađịnh, 31.3.2026)

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

TRUYỀN THUYẾT VỀ HOÀNG SÀO TRONG NHÂN GIAN - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 

               Hoàng Sào trong Dân gian và trong Hát bộ


Truyền Thuyết về 
                        HOÀNG SÀO trong Dân Gian

                                                     
     Theo chính sử thì "Hoàng Sào Khởi Nghĩa 黄巢起義" là chỉ cuộc nổi dậy của nông dân vào năm Càn Phù thứ 2 đời vua Đường Hi Tông (875) cho đến năm Trung Hòa thứ 4 (884) do Hoàng Sào lãnh đạo. Nói chung là do vào thời buổi tàn Đường, vùng đất Quan Đông phát sinh hạn hán mất mùa; Quan phủ lại bức bách nông dân phải đóng đủ thuế, đưa đến việc hảo hán buôn muối đất Sơn Đông là Vương Tiên Chi 王仙芝 lãnh đạo nông dân nổi loạn. Tiếp theo đó là cũng là đồng hương buôn muối đất Sơn Đông là Hoàng Sào nổi lên hưởng ứng. Hai thế lực nổi lên với khí thế rất mạnh, đánh chiếm nhiều châu quận của nhà Đường. Triều đình thấy nguy bèn đưa ra kế sách chiêu an Vương Tiên Chi. Vương lay động muốn về với triều đình, Hoàng Sào nổi giận trở mặt với Vương, rồi đem quân nam hạ về vùng Quảng Đông; trong khi Vương còn dụ dự chưa quyết thì bị quân triều đình đánh úp và chết trận. Tất cả nghĩa quân đều về theo với Hoàng Sào. Với khí thế đang lên Hoàng Sào lần lượt công phá Trường An, Lạc Dương, rồi lên ngôi Hoàng Đế xưng hiệu là Đại Tề. Nhưng làm vua chưa được bao lâu thì bị các Phiên Trấn và các Tiết Độ Sứ cần vương đánh đuổi phải chạy về vùng Hà Nam tác chiến. Trong lúc đó, hai viên đại tướng tín cẩn là Chu Ôn và Thượng Nhượng trước sau đều về quy phục triều đình, lại bị thua trận ở Trần Châu, đến bước đường cùng phải tự vẫn ở Lang Hổ Cốc chấm dứt cuộc nổi dậy mười năm của Hoàng Sào. Đây được xem là cuộc nổi dậy dài hơi nhất, ảnh hưởng rộng nhất, sâu xa nhất của nông dân; Vì sau đó nhà Đường rơi vào thế suy yếu nghiêm trọng rồi sụp đổ luôn chỉ trong khoảng 23 năm sau đó (năm 907).  

                                    Tàn Đường Ngũ Đại Sử Diễn Nghĩa

       Theo "Tàn Đường Ngũ Đại Sử Diễn Nghĩa 殘唐五代史演義" của Vô danh thị; một nguồn tin khác là của La Quán Trung tác giả của "Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa 三國誌演義" thì câu truyện của Hoàng Sào được kể một cách thần thoại và ly kỳ như sau đây :
       Ở thôn Xích Tường, huyện Oan Cú đất Tào Châu, có một người họ Hoàng 黄 tên là Tôn Đản 宗旦. Vợ là Điền Thị 田氏, gia đình mấy đời đều sống nhờ nghề buôn bán muối. Một hôm, trên đường về nhà, khi đi ngang qua một khu rừng Điền thị thấy có một đứa nhỏ mặc áo vàng ngồi dưới đất. Gặp bà bèn kêu MẸ một tiếng rồi hóa ra một luồn khí vàng bay thẳng vào bụng bà. Bà có mang đế 25 tháng mới sanh ra một đứa nhỏ mình dài hai thước (khoảng hơn 5 tất Tây), hình thù quái dị xấu xa : Chân mày hình chữ nhất, răng mọc hai hàm, mũi có ba lổ, cánh tay trái có một lằn thịt nổi lên như con rắn; cánh tay phải có một khối thịt như trái châu; sau lưng có hình Bát quái, trước ngực có hình Thất tinh. Tướng mạo trông như một ác qủy. Đây là điềm báo trước Hoàng Sào là Nhân Đồ 人屠 (Đồ tễ của con người) sẽ tàn sát "Tám trăm vạn (8 triệu) người" sau nầy.
       Hoàng Tôn Đản thấy thế, cho là điềm bất tường, bèn đem bỏ đứa bé xuống phía sau lạch khe nước cho trôi đi. Nào ngờ Thổ địa trông thấy bèn đem đứa bé bỏ vào trong tổ qụa trong rừng cây. Bảy ngày sau khi đi ngang qua khu rừng trên, nghe có tiếng trẻ nít khóc ở trên cây, trèo lên xem, thì ra là đứa con mà mình đã đem bỏ ở sau khe nước. Ông rất ngạc nhiên, cho là điềm lạ, bèn bế về nuôi và đặt tên là SÀO 巢 (Cái ổ) vì ẳm từ trong Ổ qụa về. Hoàng Sào 黃巢 càng lớn càng thông minh, tinh thông võ nghệ, bát lãm quần thư, văn võ song toàn.
       Năm Càn Phù thứ hai, thiên hạ hạn hán lớn. Hoàng Sào lai kinh ứng thí, đến Trường An để tham gia võ cử, không ngờ lại đậu ngay Võ Trạng nguyên. Khi vào yết kiến đương kim hoàng thượng là Đường Hi Tông, lúc bấy giờ nhà vua chỉ là đứa bé 14, 15 tuổi, trông thấy hình thù quái dị của Hoàng Sào thì giật mình kinh hãi, hèn lâu mới lấy lại bình tĩnh, rồi khoát tay đuổi Hoàng Sào ra ngoài, không phong quan chức gì cả !
       Đương giá Quan nói với Hoàng Sào rằng :"Nhà ngươi tướng mạo quá xấu xa, triều đình không thể cho làm quan được". Ra khỏi triều Hoàng Sào than rằng :"Rõ ràng là nói tuyển nhân tài, chớ có nói tuyển tướng mạo đâu mà chê xấu đẹp". Muốn đi về nhà, lại thẹn phải đối diện với cha mẹ người thân. Đang lang thang trên đường thì thấy một con gà trống nhìn mình mà gáy. Hoàng Sào nói thầm trong bụng rằng :"Hôn quân không biết người hiền tài, mà gà lại nhận biết". Bèn nói với con gà rằng :"Nếu ta chia được nửa phần thiên hạ, thì ngươi hãy gáy một tiếng nữa xem sao ?!" Con gà bèn hướng về Hoàng Sào mà gáy to thêm một tiếng nữa. Sào cả mừng, vào quán rượu uống rượu, rồi mượn bút mực đề bài thơ rằng :

                 雄雞有五德,  Hùng kê hữu ngũ đức,
                 今朝見我鳴,  Kim triêu kiến ngã minh.
                 頂上紅冠正,  Đỉnh thượng hồng quan chính,
                 身披紫錦文,  Thân phi tử cẩm văn,
                 心中常懷義,  Tâm trung thường hoài nghĩa,
                 大叫两三聲,  Đại khiếu tam lưỡng thinh,
                 喚出扶桑日,  Huán xuất phù tang nhật,
                 重教天下明。  Trùng giáo thiên hạ minh.

       Đọc câu đầu của bài thơ nầy, làm cho ta nhớ lại bài học Cổ văn "Lục Súc Tranh Công" của lớp Đệ Thất năm xưa, bài nói về con gà có câu :
                 ... Này này! gà Ngũ Đức thẳm sâu:
                   Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.


           
      Nghĩa bài thơ trên :
                     Gà trống có năm đức,
                     Sáng nay gặp ta gáy.
                     Mào đỏ đứng thẳng ngay,
                     Thân gấm hoa văn tại.
                     Trong lòng luôn giữ nghĩa,
                     Gáy to hai ba cái,
                     Gọi nắng khỏi dâu tằm,
                     Thiên hạ mong nắng mãi.

      Phía dưới bài thơ trên là bốn câu tứ tuyệt phản động như sau đây :                 
                
               浩氣腾腾贯斗牛,   Hạo khí đằng đằng quán Đẩu Ngưu,
               班超投筆去封侯,   Ban Siêu đầu bút khứ phong hầu.
           馬前但得三千卒,   Mã tiền đản đắc tam thiên tốt,
               敢奪唐朝四百州。   Cảm đoạt Đường triều tứ bách châu !
      Có nghĩa :                     
         - Cái hạo khí ngùn ngụt bốc lên che lắp cả sao Đẩu sao Ngưu.
         - Chàng Ban Siêu đã quăng bỏ ngọn bút để đi tìm kế phong hầu.
         - Trước ngựa nếu ta có được ba ngàn sĩ tốt,
         - Sẽ dám đánh và đoạt lấy bốn trăm châu quận của nhà Đường.            

      Diễn Nôm :
                  Hào khí ngút lên sao Đẩu, Ngưu,
                  Ban Siêu quẳng bút được phong hầu.
                  Trước ngựa ta có ba ngàn lính,
                  Đánh chiếm nhà Đường bốn trăm châu.



      Thơ phản nghịch của Hoàng Sào rất nhanh được trình báo lên với vua Đường. Đường Hi Tông cho họa hình của Hoàng Sào dán khắp nơi để truy nả. Hoàng Sào phải trốn vào trong rừng núi tìm đường hẻo lánh mà đi. 
      Nói về Tàng Mai Tự ở ngoại thành Trường An. Trụ trì là Pháp Minh hòa thượng luôn cảm thấy các cây đèn lưu ly trong Phật điện thường bị lu mờ vì thiếu dầu, mặc dù hằng đêm ông đều nhắc nhở các tăng nhân phụ trách châm đầy dầu cho các đèn. Một đêm ông cố ý rình xem, thấy đến lúc giữa đêm thì có hai con qủy ở cỏi âm đến để lấy trộm dầu. Ông rình nghe hai con qủy nói chuyện với nhau mới biết là : Dưới âm phủ Diêm Vương đang huy động nhân lực Tam Ty để lập một số lớn sổ sinh tử luân hồi, vì sắp tới sẽ có một người do Quỹ Vương  đầu thai tên là Hoàng Sào sẽ dấy động can qua và sẽ chém một hòa thượng tên Pháp Minh của chùa nầy để khởi nghĩa; Sau đó sẽ giết người lên đến hơn 800 vạn, máu chảy ba ngàn dặm; Nên mới lệnh cho các tiểu qủy đến các chùa để lấy dầu về chi dụng.  Pháp Minh hòa thượng nghe nói kinh hồn, ngày đêm ăn ngủ không yên, cho tiểu hòa thượng ra đứng ở Sơn môn để đón Hoàng Sào.
      Hoàng Sào được nhà sư trụ trì Pháp Minh tiếp đãi như một thượng khách, nên Sào hứa sẽ không giết nhà sư và cũng sẽ không giết bất cứ nhà sư nào ở trong chùa cả. Một đêm đang dạo ở vườn hoa trong chùa Hoàng Sào được một tiên cô hiện ra tặng cho một bảo kiếm, nói rằng "Bảo kiếm nầy sẽ giết người 800 vạn và máu chảy 3000 dặm". Sào nói với hòa thượng Pháp Minh và các tăng nhân trong chùa hãy tìm nơi lánh thân vì vào giờ Ngọ ngày rằm tháng năm nầy mình sẽ thử kiếm. Có tật giật mình, trụ trì Pháp Minh tìm hết các nơi kín đáo trong chùa để ẩn thân nhưng vẫn không yên tâm, cuối cùng ông quyết định chui vào trong bọng của một cây cổ thụ trong chùa để trốn cho kín. Nào ngờ hôm đó Hoàng Sào cũng đi vòng khắp nơi trong chùa để tìm vật gì đó để thử kiếm tiên, nhưng đều không vừa ý, khi đi đến cây cổ thụ thì Hoàng Sào mới có ý định thử xem kiếm tiên có sắt bén đến chặt gãy được cây cổ thụ hay không, bèn hươu kiếm lên chém một nhát vào thân cây. Rào một tiếng thân cây đã bị gãy đôi và máu cũng phún ra xối xả, Hoàng Sào giật mình nhìn lại thì thấy đầu của hoà thượng Pháp Minh rơi ra từ trong bọng cây. Thế mới biết "số trời khó tránh" ! Sau phần nầy, tác giả đã cho hai câu thơ nhận xét là :
                 非是法明藏不密,  Phi thị Pháp Minh tàng bất mật,
                 奈緣天數莫能饒.   Nại duyên thiên số mạc năng nhiêu.

            

       Có nghĩa :
                    Chẳng tại Pháp Minh không trốn kín,
                    Số trời nên khó tránh tai ương.

      Từ Tàng Mai Tự đi ra, Hoàng Sào chiêu mộ được một nhóm nông dân nghèo khổ, rồi cùng kéo lên Thái Hành Sơn tụ nghĩa. Thế lực ngày càng to lớn, đánh chiếm các châu quận của nhà Đường. Năm sau lại thu phục các tướng Chu Ôn, Thượng Nhượng, Liễu Ngạn Chương, Cát Tùng Châu, Đặng Thiên Vương, Mạnh Tuyệt Hải... Bản thân Hoàng Sào tự xưng là “Xung Thiên Đại Tướng Quân 冲天大將軍" Chẳng bao lâu sau công phá Lạc Dương, đánh thẳng vào Trường An, lên ngôi xưng đế, quốc hiệu Đại Tề. Chưa được một năm, vì thuộc hạ của Hoàng Sào đa số là quân ô hợp, hoành hành ngang ngược đã quen, nên cướp bóc và giết người đầy cả đường phố Trường An, nhất là các tông thất thân thuộc của vua Đường và các quan từ Tam phẩm trở lên đều bị cướp của và giết sạch, đúng như câu :"Nội khố thiêu vi cẩm tú hôi, Thiên giai đạp tận công khanh cốt 内庫燒為錦繡灰,天街踏盡公卿骨" Có nghĩa : Trong khố đốt thành tro cẩm tú, Ngoài đường đạp xương cốt công khanh. Lại tịch thu tất cả tài sản của các nhà giàu trong kinh thành. 
      Tháng giêng năm Trung Hòa nguyên niên (881). Quân nhà Đường phản công, đánh bật quân Hoàng Sào ra khỏi kinh thành, nhưng vì quân số qúa ít không thủ nổi thành, nên lại bị quân của Hoàng Sào phản kích, đánh chiếm thành Trường An lần hai. Dân trong thành lại ngỡ là quân triều đình đã trở về, đều đổ ra đường hoan hô đón tiếp. Hoàng Sào thấy thế cả giận, ra lệnh giết trên 8 vạn (Tám chục ngàn) bá tánh của Trường An, người đời gọi là "Tẩy Thành 洗城". TẨY 洗 ở đây không có nghĩa là RỬA SẠCH mà có nghĩa là GIẾT SẠCH đó.


       Về truyền thuyết cuộc nổi dậy của Hoàng Sào đã tàn sát trên 800 vạn (8 triệu) sinh linh. Trong qúa trình nổi dậy có lần nghĩa quân của Hoàng Sào bao vây đánh thành Trần Châu trong suốt một năm ròng. Người mệt ngựa mõi, lại nhằm lúc mất mùa, nên lương thực bị thiếu một cách trầm trọng. Để bổ sung lương thực cho hơn 20 vạn (Hai trăm ngàn) quân Hoàng Sào đã cho chế ra những chiếc cối đá lớn dùng để xay và giả thịt của người chết đầy đường do nạn đói kém để bổ sung lương thực cho nghĩa quân. Về sau kể cả quân địch quân ta và xúc vật đói chết đều được xay giả làm lương thực để làm tăng sức chiến đấu của nghĩa quân. Nên... hễ nơi nào quân của Hoàng Sào đi ngang qua là bá tánh chết sạch, đất hoang ngàn dặm, xương trắng đầy đồng. Sau quân càng ngày càng đông, nên Hoàng Sào cho lập hẵn một cái trại chuyên xay giả thịt người, gọi là "Đảo Ma Trại 捣磨寨" là "Trại Xay Giả" chuyên xay giả thịt người, và lại cho quân đi cướp lương thực của bá tánh. Từ Hà Nam, Hứa Châu, Nhữ Châu... đến Tào Châu Trịnh Châu, Từ Châu... Dân cbúng đều rất kinh hãi, hễ nghe đến "Nghĩa quân của Hoàng Sào" sắp đến là đều bỏ trốn vào rừng lên núi... Do chính sách thối nát của vua quan nhà Đường, quân của Hoàng Sào đã qua lại sông Trường Giang 4 lần, Hoàng Hà 2 lần, dọc ngang khắp bờ cõi mà không có lực lượng nào ngăn chặn nổi.
      Năm Trung Hòa thứ 3 (883) các trấn từ bốn phương tám hướng đều đem binh về vây khổn nghĩa binh Hoàng Sào, đánh nhau ba ngày ba đêm, nghĩa quân đại bại. Ngày 14 tháng 4, Lý Khắc Dụng và nghĩa tử là Lý Tồn Hiếu (có sức mạnh như là Lý Ngươn Bá buổi sơ Đường vậy) đánh bật nghĩa quân Hoàng Sào ra khỏi Trường An. Trước khi bỏ chạy Hoàng Sào còn ra lệnh cho quân sĩ đốt thành Trường An cho hả giận. Ngày 15 tháng 6 Tiên cô hiện ra thu lại kiếm báu. Hoàng Sào thua trận và tự vẫn chết ở Diệt Sào Sơn, Nha nhi cốc 滅巢山、鸦兒谷 (Chính sử ghi là Lang Hổ Cốc). Kết thúc đời của một kẻ háo sát giết người một cách điên cuồng trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.  Có thơ rằng :

                滅巢山上鸦兒谷,  Diệt Sào Sơn thượng Nha Nhi Cốc
                篡賊應知數已終,  Soán tặc ưng tri số dĩ chung.
                自刎難消天下怨,  Tự vẫn nan tiêu thiên hạ oán,
                至今啼鳥恨無窮。  Chí kim đề điểu hận vô cùng.
      Có nghĩa :
                     Trên Nha Nhi Cốc Diệt Sào Sơn,
                     Tên giặc soán ngôi số hết còn,
                     Tự vẫn vẫn không nguôi oán hận,
                     Đến nay chim hót tiếng còn hờn !


              
        Đó là kể theo sách "Tàn Đường Ngũ Đại Sử Diễn Nghĩa 殘唐五代史演義" Thường những truyện "diễn nghĩa" tác giả hay thêm thắc những chi tiết thần thoại hoang đường vừa để nhấn mạnh câu truyện đang kể, vừa để hấp dẫn người nghe hơn... Lâu dần những chi tiết thêm thắt hư cấu trở thành như là những truyện có thật. Ví dụ như Truyện ăn thịt người khi hạn hán mất mùa là truyện có thật khi qúa đói kém, nhưng chỉ là số ít thôi; Truyện chiến tranh giết chết nhiều người cũng là truyện có thật; Nhưng truyện lập nên một cái trại với mấy trăm cái cối chuyên xay giả thịt người để cung cấp thịt cho binh lính thì là truyện qúa đáng chỉ để nhấn mạnh việc Hoàng Sào và "nghĩa quân" của ông ta đã lạm sát rất nhiều bá tánh vô tội mà thôi. 

        Hẹn bài viết tới :   Các Nhân Vật và Sự Kiện hư cấu trong 
                                          TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA


                                  杜紹德
                              ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                                                                                               
         

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2026

EM Ở PHƯƠNG NAO ? THƠ TRẦN VĂN HẠNG



 EM Ở PHƯƠNG NAO ?

Em ơi! Em có hoài mong
Chốn xưa phượng có khoe bông thắm đường
Em còn có nhớ có thương
Một thời thơ mộng tình vương ngày nào !
Hạ hồng trăng sáng bờ ao
Đôi ta sánh bước cùng trao tiếng cười
Làn môi tựa đóa hồng tươi
Khuôn trăng e ấp thay lời trao thương
Từ ngày thôi học xa trường
Chiến tranh ly loạn tha phương đoạn trường
Lòng như một cuốn tơ vương
Dày vò tâm khảm yêu thương dấu ghìm
Nỗi niềm chất ngất con tim
Phòng không chiếc bóng cố tìm - người đâu ?
Ngày đêm lòng vẫn u sầu
Bâng khuâng tấc dạ tìm đâu bóng người ?


TRẦN VĂN HẠNG

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

NHÀ CHIỀU NAY KHÔNG KHÓI - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



 NHÀ CHIỀU NAY KHÔNG KHÓI


Con về lại lối mòn xưa…

Nắng vàng nghiêng bóng… gió lùa quạnh hiu…

Ngõ chiều lá đổ tiêu điều…

Bước chân chợt chậm… nghe nhiều xót xa…

Nhà xưa cửa khép lối ra…

Mái tranh cúi xuống… chiều tà đơn côi…

Ngước lên mái lá nghiêng trời…

Khói xưa không thấy… lạnh rơi gió lùa…

Mẹ giờ bỏ nắng… bỏ mưa…

Bếp xưa lạnh ngắt… gió lùa tàn tro…

Con về đứng giữa chiều tà…

Nghe lòng héo hắt… chan hòa nỗi đau…

Con nhìn bếp vắng… chiều phai…

Không còn thấy khói… vờn bay mái nhà…

Chỉ còn nỗi nhớ… xót xa…

Nhà còn… mà mẹ đã xa mất rồi…

Bát cơm lạy mẹ… nghẹn lời…

Nhang tàn theo khói… một thời mẹ nung…

Giờ nhìn một khoảng… trời không…

Tiếng con gọi mẹ… lạnh lùng hư không…

Ngày đi mẹ đứng… mẹ trông…

Con buồn cúi mặt… lệ dâng tuôn trào…

Ngoảnh nhìn… bóng mẹ khuất sau…

Khói bay năm ấy… mang sầu theo con…

Mấy năm lưu lạc… mỏi mòn…

Ngày về chỉ thấy… hoàng hôn rụng chiều…

Gió lay loang tỏa… liêu xiêu…

Thổi qua tim lạnh… quạnh hiu nỗi đời…

Một đời mẹ gánh… nổi trôi…

Chịu bao cay đắng… dành đời cho con…

Con về… mẹ đã mỏi mòn…

Mẹ đi… để lại hoàng hôn lạnh chiều…

Chiều nay bếp vắng… đìu hiu…

Không còn khói ấm… những chiều năm xưa…

Chỉ còn nỗi nhớ… đong đưa…

Nhà còn… vách cũ… nắng lùa bóng nghiêng…

 Mẹ ơi……

mẹ đã xa miền……

Mẹ ơi…… con về rồi……

Sao bếp lạnh…… không khói……

Sao mái nhà…… thiếu mẹ……

Bỏ gian bếp lạnh……

nỗi niềm…… con đau……mẹ ơi……


HUỲNH TÂM HOÀI


Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

THÁNG BA MÙA XUÂN - THƠ PHẠM QUANG TRUNG


 


THÁNG BA MÙA XUÂN

mang nhành đào cuối cùng
ở mùa xuân tháng ba
có niềm vui rất nhẹ
nở đầy từng cánh hoa

mặc dù trời nhạt nắng
và dưng phố vắng người
tôi vẫn như trẻ nhỏ
vừa bắt được món quà

xe lăn qua xóm nhỏ
bụi đỏ bỏ đàng sau
mịt mù dòng quá khứ
trong vắt buổi tương lai

mùa xuân ơi tôi về
có muộn màng lắm không
xin một lời tạ lỗi
xin nụ hôn nồng nàn

sẽ vì đời tôi đến
sẽ vì em tôi về
đi và về có lẽ
là hai hướng đối song

cứ miệt mài mãi mãi
bằng trái tim yêu đời
chờ một khi ngồi lại
nắm tay nói dăm lời

mang cành đào cuối cùng
thắp lên ngọn tình xuân
em chờ tôi đầu ngõ
còn vui nào vui hơn


PHẠM QUANG TRUNG

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

ĐỜI CHỢ & CHỢ ĐỜI - TỪ KẾ TƯỜNG



 ĐỜI CHỢ & CHỢ ĐỜI

Bất cứ ở đâu, ngôi chợ vẫn là hình ảnh tượng trưng cho sinh hoạt đời sống của một địa phương, ngoài việc buôn bán, trao đổi trong chợ, quanh ngôi chợ còn là cảnh nhà phố, hàng quán, tiệm thuốc. Ấn tượng nhất vẫn là tiệm thuốc Bắc với những dãy hộc dài cả 3 mặt tường, chủ tiệm là người Tàu đứng trước bàn hốt thuốc, bắt mạch cho bệnh nhân. Mùi thuốc Bắc thơm hăng hắc từ trong tiệm tỏa ra tới ngoài đường.
Tôi ở làng Phú Vang, ngày nhỏ làng chỉ có trường tiểu học sơ cấp, học theo chương trình Pháp, lớp đếm ngược: lớp năm, lớp tư, lớp ba (tức lớp 1,2,3 bây giờ). Thầy giáo đều là nam, thầy giáo dạy lớp ba đồng thời là hiệu trưởng. Tôi học hết lớp ba, học cực giỏi, luôn đứng bảng danh dự, bảng danh dự có 3 hạng nhất, nhì ba…tôi ít khi nào rơi xuống hạng ba. Hết lớp ba thi sơ học, đậu lên lớp nhì phải xuống trường tiểu học xã Lộc Thuận học ké, lên lớp nhất, đậu tiểu học phải học lớp tiếp liên, gọi là lớp chuyển cấp để thi lên lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ).
Có lẽ Lộc Thuận là xã lớn nên có trường tiểu học tới lớp tiếp liên và có tới 2 cái chợ cũng khá lớn: chợ Lộc Thuận ngoài và chợ Lộc Thuận trong. Chợ ngoài vì ở gần sông, chợ trong vì ở gần lộ đá, con lộ lớn từ trung tâm thị trấn (hồi đó còn là huyện) chạy lên tỉnh Bến Tre (quẹo trái ở ngã tư huyên Châu Thành, quẹo phải ra phà Rạch Miễu xã Tân Thạch qua Mỹ Tho, Tiền Giang). Ngày nhỏ, 5-6 tuổi tôi thường được má tôi dẫn theo lúc bà đi chợ Lộc Thuận ngoài (vì chợ Phú Vang là chợ nhỏ, chợ chồm hổm chỉ bán vài thức lặt vặt). Ký ức của một đứa trẻ theo mẹ đi chợ xa, trên con đường đất viền hai vạt cỏ xanh, chạy giữa hai cánh đồng làng mênh mông vào mùa lúa cấy hay khi xong vụ gặt giáp tết thật đẹp. Tôi nhớ mãi.
Khi được học trường tiểu học Lộc Thuận tôi đã 9-10 tuổi, vì nhà xa nên mang theo cà men cơm để buổi trưa ở lại lớp ăn, chờ giờ học buổi chiều (hồi đó học ngày 2 buổi). Buổi trưa ăn cơm xong tại lớp, tôi và mấy mấy đứa bạn rủ nhau ra chợ Lộc Thuận ngoài chơi, buổi trưa chợ thưa người, nhà lồng chợ rộng thênh thang thoang thoảng mùi vải mới, mùi cây trái, mùi hành tỏi hăng hắc, mùi đường ngòn ngọt…cái mùi chợ trưa vắng người cứ đi mãi vào ký ức tôi tới tận bây giờ. Loanh quanh nhà lồng chợ tìm tổ chim sẻ chán, tôi và mấy đứa bạn đi dọc theo phố chợ nhặt những trái me tây chín khô đen, rụng lăn lốc trên vỉa hè dùng đá đập ra nhấm nháp lớp cơm mỏng bao quanh cái hột trái me tây có vị ngọt ngọt nồng, đắng đắng. Ăn nhiều quá có thể bị say, tê tê đầu lưỡi.
Thỉnh thoảng tôi mới có địp được vào chợ Lộc Thuận trong, tất nhiên cuốc bộ, đi thẳng từ nhà vào lộ đá tới chợ thì đường xa hơn là đi từ trường tôi học vào chợ. Nhưng đường nào cũng tới ngã ba Lộc Thuận và lộ đá, đây là khu vực thị tứ, sầm uất, phố sá buôn bán, tiệm cà phê, hũ tiếu, tiệm sửa xe, hớt tóc… chợ nằm sát lộ đá, đối diện ngã ba, nhà lồng chợ Lộc Thuận cũng lớn như nhà lồng chợ Lộc Thuận ngoài, thỉnh thoảng có gành hát cải lương về, hoặc đoàn mô tô bay ghé lại diễn, nhà lồng chợ được bao lại bằng vải bạt dày, xe lôi quảng cáo chạy khắp mấy làng Phú Vang, Lộc Thuận, Tân Định, Vang Quới… tiếng trống thùng thùng, thúc giục người làng đi xem hát.
Bây giờ về ở quê tôi vẫn hay đi chợ Lộc Thuận ngoài và chợ Lộc Thuận trong như đi tìm kỷ niệm xưa, lần theo dấu vết tuổi thơ trên đường đất lầy lội, bụi cát, gió lộng, tóc khét nắng… với nỗi ngậm ngùi sâu kín, nhớ lại trường học, những gương mặt thầy cô, những đứa bạn kẻ mất người còn nhưng không được gặp lại. Đặc biệt chợ Lộc Thuận trong có mấy quán cà phê cóc ven chợ, ngay ngã ba tôi rất thích ngồi ở đây để nhìn qua cửa chợ ngắm người mua, kẻ bán, quầy sạp, như một người đi tìm hình bóng xưa, gương mặt cũ. Có một lúc, chợ Lộc Thuận trong không biết nghĩ sao người ta đổi tên thành chợ Lộc Sơn, cái tên rất xa lạ, chẳng tạo xúc cảm gì, với tôi cái tên ấy lại càng vô cảm.
Nhưng may sao, gần đây chợ được xây mới, khang trang hơn, đổi lại tên cũ là chợ Lộc Thuận. Mỗi lần về quê, đi chợ, chỉ để uống cà phê, tôi thích ngồi cái quán cà phê cóc ven đường chợ, ngay ngã ba chợ để ngắm chợ, như ngắm bóng dáng tuổi thơ thôi đã gắn liền với mấy đời chợ sớm, chợ trưa và bồi hồi, xúc động như đã tìm được thứ hạnh phúc vàng đã đánh mất sau những năm tháng bụi mờ.
Nhưng cũng tiếc thay, chợ Lộc Thuận ngoài ngày xưa sầm uất bao nhiêu bây giờ trở nên đìu hiu vắng vẻ bấy nhiêu. Ngày xưa chợ Lộc Thuận ngoài có khu nhà lồng chợ rất rộng, chia ra nhiều khu vực, ngoài bác thịt cá, rau cải, củ quả còn bán vải, quanh chợ là nhà phố, buôn bán tạp hóa, tiệm chụp hình, tiệm nước…bây giờ đóng cửa, trông vẻ xác xơ. Nguyên nhân? Có lẽ do bây giờ người ta di chuyển, buôn bán hang bằng đường bộ với phương tiện xe buýt, xe đò ngược xuôi. Đường sông với phương tiện đò máy cũ kỹ chạy chậm rì rì không còn nữa.
Tuy vậy, chợ Lộc Thuận ngoài vẫn là hình ảnh đậm nét trong ký ức tuổi thơ của tôi. Ngôi chợ này không chỉ là nơi buôn bán tấp nập ban ngày mà ban đêm còn là nơi giải trí, thường có những gánh hát về đây biểu diễn. Ngày đó các gánh hát thường đi bằng ghe lớn, ghe đậu sát mé rạch. Đôi khi có cả đoàn Mô Tô Bay về dựng rạp biểu diễn. Ngày đó Mô Tô Bay gọi là xiếc, Xiếc Mô Tô Bay, rất hấp dẫn. Hấp dẫn không chỉ vì các cô gái trẻ đẹp, mặc bikini ngồi trên những chiếc mô tô bay vòng vòng mà còn bí ẩn ở chỗ không ai hiểu vì sao họ bay vòng vòng như vậy mà không bị té ngã.
Theo thời gian, xã hội phát triển, những ngôi chợ làng ngày xưa nếu không biến mất cũng đã thu hẹp phạm vi buôn bán, sinh hoạt nhường chỗ cho siêu thị, hoặc hệ thống của Bách hóa xanh rộng khắp tới các vùng quê gần, quê xa. Nơi tôi ở bây giờ cũng thế. Có lẽ một khoảng thời gian không xa, những ngôi chợ làng rồi cũng sẽ biến mất, đến một lúc nào đó hình ảnh chợ quê chỉ còn trong ký ức xa xăm.


TỪ KẾ TƯỜNG

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

NGHỈ HƯU - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI



 NGHỈ HƯU 

Tài chánh hạnh thông nhẹ gánh rồi

Lương hưu đều đặn mặc đời trôi

Không phiền con cháu tâm thanh thản

Cứ hưởng an nhàn dạ thắm tươi

Sáng dạo vuờn hoa trà một chén

Chiều xem mây phủ rượu đôi môi

Tiền nong chẳng bận thân thư thái

Cuộc sống thong dong sướng quá trời...


HUỲNH TÂM HOÀI


Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

TỨ TUYỆT TUYỆT VỜI CỦA LOẠN TƯỚNG HOÀNG SÀO - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 


Giai Thoại Văn Chương :  

                    Tứ tuyệt tuyệt vời của loạn tướng HOÀNG SÀO

                    

       HOÀNG SÀO 黄巢(820—884)người đất Oan Cú thuộc Tào Châu (thuộc Tây Nam Hà Trạch tỉnh Sơn Đông hiện nay). Ông là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Nông Dân ở buổi tàn Đường; Xuất thân là gia đình buôn bán muối, thiện về nghề võ cởi ngựa bắn cung; Thuở nhỏ cũng đã tỏ ra có văn tài, 5 tuổi đã biết làm thơ, nhưng lớn lên lại thi hoài mà vẫn không đậu được Tiến sĩ. Trước cuộc khởi nghĩa của Vương Tiên Chi một năm, đất Quan Đông phát sinh đại hạn, quan lại ép dân phải đóng đủ thuế, còn phải phục tùng lao dịch. Trước cảnh sưu cao thuế nặng, ông cùng 7 anh em tập hợp những nông dân bị áp bức lại, phất cờ khởi nghĩa đứng lên chống lại nhà Đường từ năm 874 đến năm 884. Ngày 13 tháng Chạp năm 880 ông tiến quân đánh chiếm Trường An Lạc Dương, lên ngôi làm hoàng đế, xưng quốc hiệu là Đại Tề, đại xá thiên hạ. Năm Trung Hòa thứ tư (884) ngày 15 tháng 6, Hoàng Sào thua trận và chết ở Lang Hổ Cốc. Đến năm đầu Thiên Phục đời Đường Chiêu Tông, cháu của Hoàng Sào là Hoàng Hạo người tiếp tục lãnh đạo nông dân chiến đấu bị chết ở Hồ Nam mới chấm dứt cuộc nổi dậy của nông dân ở buổi Tàn Đường, và nhà Đường cũng vì thế mà suy yếu nghiêm trọng rồi sụp đổ luôn trong khoảng 23 năm sau đó (năm 907).

      Theo chính sử thì Hoàng Sào mặc dù xuất thân là con nhà bán muối, lại xấu trai, nhưng văn võ song toàn, có hoài bão và có chí lớn. Trước cảnh nhiễu nhương xuống cấp của xã hội, quan lại tham ô, nông dân đồ thán của buổi tàn Đường, Hoàng Sào muốn làm môt cuộc nổi dậy để thay đổi xã hội, thay đổi cuộc sống vô vị thường ngày qua bài thơ "Đề Cúc Hoa 題菊花" như sau :


                颯颯西風滿院栽,   Táp táp tây phong mãn viện tài,

                蕊寒香冷蝶難來。   Nhụy hàn hương lãnh điệp nan lai.

                他年我若為青帝,   Tha niên ngã nhược vi Thanh Đế,

                報與桃花一處開。   Báo dữ đào hoa nhất xứ khai !

      Có nghĩa :

       - Gió tây thổi phần phật vào trong sân vườn trồng đầy hoa (cúc),

       - Nhụy hoa thì rét, mùi hương thì lạnh, làm cho bướm khó mà bay đến gần.

       - Năm nào đó nếu như ta được làm Thanh Đế là chúa mùa xuân, thì ta sẽ...

       - Báo cho hoa cúc biết rằng sẽ được nở cùng thời cùng lúc với hoa đào !


                    Phần phật gió tây nở khắp vườn,

                    Nhụy hàn hoa lạnh bướm chê hương.

                    Năm nao ta được như Thanh Đế,

                    Cùng với hoa đào nở bốn phương !


                     

       Hoàng Sào ví mình như là hoa cúc nở trái mùa hoa, khi trời thu gió vàng hiu hắt, mặc dù màu vàng có đẹp rực rỡ, nhưng mùi hương lại toả ra trong nhụy lạnh cũng không hấp dẫn được bướm ong bay đến. Rồi ước ao là trong một năm nào đó nếu mình có quyển lực như là Chúa xuân, thì sẽ cho hoa cúc nở cùng lúc với hoa đào trong mùa xuân để so sánh xem ai sẽ đẹp hơn ai, ai sẽ hấp dẫn ong bướm hơn ai !? Qủa là có ý nghĩ ngông nghênh và một khẩu khí lớn lối của "Tha niên ngã nhược vi Thanh Đế (Năm nao ta được như Thanh Đế) muốn làm Chúa xuân, muốn làm đấng Chí tôn để thay đổi thời cuộc và để tự tung tự tác cho thỏa chí bình sinh.

       Trước khi phất cờ khởi nghĩa, Hoàng Sào cũng đã từng mấy phen lai kinh ứng thí, nhưng đều thi rớt. Khoa trường thất ý lại thấy quan lại hủ bại, xã hội hắc ám, dân chúng lầm than làm cho ông càng bất mãn với sự thối nát của hoàng triều nhà Đường, nên mới mượn bài thơ vịnh hoa cúc mà bày tỏ cái hoài bão trong lòng của mình. Bài thất ngôn tứ tuyệt bất hủ《Bất Đệ Hậu Phú Cúc 不第后賦菊》có nghĩa : "Vịnh hoa Cúc sau khi thi rớt" như sau :


                待到秋來九月八,   Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát,

                我花開後百花殺。   Ngã hoa khai hậu bách hoa sát.

                沖天香陣透長安,   Xung thiên hương trận thấu Trường an,

                滿城盡帶黃金甲。   Mãn thành tận đới hoàng kim giáp.

     Có nghĩa :

      - Đợi đến ngày mồng 8 tháng 9 khi mùa thu đến, lúc bấy giờ...

      - Sau khi hoa của ta nở rộ thì trăm hoa khác đều tàn (chết) cả.

      - Mùi hương hoa (cúc) của ta sẽ vọt thẳng lên trời và thấu tận Tràng an. Và lúc đó thì...

      - Cả thành khắp nơi như đang khoác lên một bộ khôi giáp bằng vàng ròng vậy !


                    

      Bài thơ được gieo vần trắc, mà lại là các vần ÁT đầy sát khí ! Hoàng Sào không nói "Cửu nguyệt Cửu" mà lại hạ câu "Cửu nguyệt Bát". BÁT vừa ăn vận SÁT với câu dưới lại vừa chỉ ý nôn nao của Hoàng Sao muốn sớm ngày thực hiện hoài bão; Không kịp đợi thêm một ngày cho đến Mồng 9 tháng 9; Chỉ đến "Mồng 8" thôi, khi hoa cúc của ta nở rộ, thì tất cả các loài hoa khác sẽ tàn lụi và... chết hết ! Và không còn phải dấu diếm gì nữa... Hoàng Sào muốn là mùi hương hoa cúc của mình xông thẳng lên trời và thấu tận đến Tràng an, để thành Tràng an như được võ trang lên bằng những bộ áo giáp màu hoàng kim rực rỡ oai hùng "Mãn thành tận đới hoàng kim giáp. Ý của Hoàng Sào là cả thành Tràng an đều là màu vàng rực rỡ khi hoa cúc khắp nơi đều nở rộ trong ngày Tiết Trùng Cửu Mùng chín tháng chín Âm lịch trong khi các hoa khác đều tàn lụi và chết sạch ! 

      Không còn yếm thế như bài "Đề Cúc Hoa 題菊花" ở trên, ước ao cho hoa cúc được nở vào mùa xuân, mà tự hào rằng hoa cúc nở vào buổi tàn thu. Trong khi các loài hoa khác bị sương thu làm cho héo úa tàn tạ thì hoa cúc vẫn ngạo nghễ đón sương thu mà nở rực rỡ khắp nơi. Và trong công cuộc lãnh đạo nông dân đứng lên khởi nghĩa Hoàng Sào cũng đã thực hiện được ước mơ và hoài bão của mình. Đánh thẳng vào Tràng An và Lạc Dương rồi lên ngôi xưng hiệu là Đại Tề Hoàng Đế 大齊皇帝.


                               

                       

* Diễn Nôm : 

       Vì bài thơ gieo vần Trắc rất độc đáo, nên mạn phép giữ nguyên những từ đã rõ nghĩa để giữ nguyên được cái thanh điệu sắt máu trúc trắc của bài thơ : 

     

                     BẤT ĐỆ HẬU PHÚ CÚC


                 Đợi đến thu sang cửu nguyệt bát,

                 Hoa ta nở rộ trăm hoa sát.

                 Ngất trời hương tỏa thấu Trường An,

                 Cả thành đều khoát hoàng kim giáp !

       Lục bát :

                 Mồng tám tháng chín thu sang,

                 Hoa ta nở rộ hoa tàn trăm nơi.

                 Tràng An hương thấu đến trời,

                 Cả thành rực rỡ nơi nơi giáp vàng !


       

               

      Hoa Cúc từ đời Tấn đã nổi tiếng theo với tiếng tăm cao nhã thanh khiết của Đào Tiềm là Đào Uyên Minh với các câu như "Thái cúc đông ly hạ, Du nhiên kiến Nam sơn 採菊東籬下,悠然見南山"... Cúc còn được gọi là Hoàng Hoa, nên cúc tửu là Hoàng hoa tửu, một trong "Bốn mùa ăn chơi" của người xưa là "Thu ẩm Hoàng hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi 秋飲黃花酒,冬吟白雪詩" mà. Nhưng hoa Cúc đến dưới ngòi bút của Hoàng Sào thì trở nên bá đạo sắt máu với các câu như :"Ngã hoa khai hậu bách hoa SÁT", Hoàng Sào không nói "Bách hoa TÀN" mà nói "Bách hoa SÁT" là "trăm hoa bị Tàn Sát hết"chớ không phải là "Tàn lụi"; Và "Mãn thành tận đới hoàng kim GIÁP"; Ông không nói là "Hoàng kim y" mà lại nói là "Hoàng Kim Giáp" nghe có vẽ võ biền và mạnh bạo hơn với chiếc "áo Giáp màu vàng kim" của chiến binh. Qủa là một cái nhìn vừa nên thơ, vừa độc đáo, vừa sắt máu, vừa bá đạo của một kẻ kiêu hùng, muốn bức phá vòng cương tỏa bình thường để làm nên việc lớn !

      Nhưng sau khi thua trận, phải chạy trốn để ẩn danh làm hòa thượng, thì cái hào khí của kẻ kiêu hùng cũng tiêu tan và nguội lạnh trong ánh nắng chiều tà với những lời cảm khái xót xa... Ta hãy đọc bài Thất ngôn tứ tuyệt thứ ba "Tự Đề Tượng 自題像" của ông thì sẽ rõ :


                  記得當年草上飛,   Ký đắc đương niên thảo thượng phi,  

                  鐵衣着盡著僧衣。   Thiết y trước tận trước tăng y.

                  天津橋上無人識,   Thiên Tân kiều thượng vô nhân thức,

                  獨倚欄干看落暉。   Độc ỷ lan can khán lạc huy !


                 

      Có nghĩa :

       - Nhớ những năm xưa (cửi ngựa) lướt bay trên cây cỏ, giờ thì...

       - Áo giáp sắt mặc xong rồi phải đổi mặc cà sa của thầy tăng.

       - Đứng trên cầu Thiên Tân mà không có ai nhìn ra ta nữa cả...

       - Một mình tựa lan can cầu mà nhìn ánh nắng chiều rơi rụng !...


                    Nhớ thuở năm xưa lướt cỏ cây,

                    Cà sa thay giáp sắt rồi đây.

                    Thiên Tân cầu lớn không người biết,

                    Chiều xuống một mình ngắm bóng mây !...

          Lục bát :

                    Cỏ xưa ngựa lướt băng băng,

                    Nay thì giáp sắt thay bằng cà sa.

                    Thiên Tân cầu lắm người qua,

                    Một mình thơ thẩn ngắm chiều tà rơi !


      Có thuyết cho là khi bại binh thì Hoàng Sào tự vận để đứa cháu kêu bằng cậu là Lâm Ngôn;  Có thuyết cho là người cháu ruột kêu bằng chú là Hoàng Mẫn; đem đầu của mình nộp cho tướng nhà Đường để lãnh thưởng; Cũng có thuyết cho là ông qui ẩn và tu ở trong chùa như bài thơ nêu trên để càng thắm thía hơn với một đời kiêu hùng dũng mãnh rồi rốt cuộc cũng như ánh nắng chiều dần tắt dưới chân cầu, hào khí một đời cũng theo dòng nước cuốn trôi xuôi...


      Nên chỉ có "hai bài thơ tả hoa cúc" nêu trên là chắc chắn của Hoàng Sào làm vì có trong "Toàn Đường Thi Tập"; Còn bài số ba đang còn trong tra cứu tranh luận. Về bài "BẤT ĐỆ HẬU PHÚ CÚC 不第后賦菊" độc đáo cuả Hoàng Sào thì sau nầy được Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương 朱元璋 mượn ý mượn lời làm một bài "Vịnh Cúc Hoa 咏菊花" cũng tương tự như thế :


               百花發時我不發。   Bách hoa phát thì ngã bất phát,

               我若發時都駭殺。   Ngã nhược phát thì đô hãi sát.

               要與西風戰一場。   Yếu dữ Tây phong chiến nhất trường.

               遍身穿就黃金甲。   Biến thân xuyên tựu hoàng kim giáp.


              

          Chu Nguyên Chương là ông vua xấu trai nhất trong các hoàng đế Trung Hoa


     Có nghĩa :

      - Khi trăm hoa đua nở thì ta chẳng nở, và đến...

      - Khi ta nở thì các hoa khác đều kinh hãi mà chết hết.

      - Ta muốn cùng với gió Tây đánh nhau một trận, nên mới...

      - Khắp mình khoát lên chiếc áo giáp hoàng kim như thế nầy.


                  Khi trăm hoa phát ta chưa phát,

                  Ta phát trăm hoa đều chết ngạt.

                  Muốn thách gió tây chiến một phen,

                  Cả mình ta khoát hoàng kim giáp !


       Lời lẽ ý tứ đều mượn ở bài "BẤT ĐỆ HẬU PHÚ CÚC" của Hoàng Sào, nhưng không sắt máu và mạnh bạo bằng thơ của Hoàng Sào. Chỉ mượn hình tượng của hoa cúc màu vàng như là mặc áo giáp vàng để chống chọi lại với gió tây hiu hắt mà thôi, chớ không mạnh bạo hào hùng như thơ của Hoàng Sào "Mãn thành tận đới hoàng kim giáp 滿城盡帶黃金甲" cả thành đều rực rỡ như đều được khoát lên chiếc áo giáp màu hoàng kim vậy. Và cũng vì câu thơ vừa tượng hình vừa tượng ý một cách sống động nầy mà nhà đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu 張藝謀 của nền điện ảnh Bắc Kinh năm 2006 đã làm nên bộ phim có tựa đề là "Mãn thành tận đới hoàng kim giáp 滿城盡帶黃金甲". Bộ phim đã chiếm nhiều giải Điện Ảnh Quốc Tế về Âm thanh, Hình ảnh, cả giải Oscar về Trang phục... 


            

       Trên đây là Hoàng Sào trong chính sử, trong văn học. Mời đọc tiếp bài viết tới : Hoàng Sào trong truyền thuyết dân gian.


                                         杜紹德
                                      ĐỖ CHIÊU ĐỨC

           

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

DẠ KHÚC BUỒN,TỰ KHÚC THÁNG BA - THƠ NHẬT QUANG

 


DẠ KHÚC BUỒN


Đem hong suối tóc nhung mềm
Đã phai vạt nắng bên thềm quạnh hiu
Em đưa tay níu hương chiều
Nghe trong tiếc lỡ lời yêu bẽ bàng

Giọt buồn rơi đắng trái ngang
Gầy đêm huyễn mộng. ..trăng tàn buồn tênh
Đường tình gót trượt chông chênh
Gót hồng em bước nổi lênh mịt mờ

Chập chờn đêm khát cơn mơ...
Tìm nhau đã cạn lệ chờ trăm năm
Nghiêng soi bóng đổ trăng nằm
Giấu vào đêm những muộn mằn xót xa.



TỰ KHÚC THÁNG BA

Tháng Ba gió thầm thì ngoài hiên vắng
Nắng hong khô giọt nhớ ướt mềm
Chợt lá biếc chao nghiêng miền ký ức....
Cho lòng ai lặng lẽ khúc sầu miên

Tháng Ba đến như lời ước hẹn
Đánh thức tim buồn đã ngủ quên
Một chút yêu thương còn vương vấn
Khẽ rơi vào khoảng lặng rất bình yên

Tháng Ba nghe nỗi niềm câu tự khúc
Gửi gió mang đi những muộn phiền
Có người còn nhớ không lời cũ
Hay đã quên rồi kỷ niệm... dịu êm?

Tháng Ba ru miên man miền nhớ
Như một bài thơ chẳng gọi thành tên.


Jos NHẬT QUANG