CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2022

NHỮNG TỪ NGỮ LÝ THÚ BẤT NGỜ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 



Tạp Ghi và Phiếm Luận : 

                          NHỮNG TỪ NGỮ LÝ THÚ BẤT NGỜ (9)  
                                                                                                    PHỤ NỮ   婦女        
                                     
        Chữ NỮ 女 theo "CHỮ NHO...DỄ HỌC" là một trong 214 bộ của hệ thống chữ Nho, được hình thành theo lối Tượng Hình 象形 trong Lục Thư 六書 là sáu cách hình thành chữ viết, có diễn tiến như sau :

         Giáp Cốt Văn   Kim Văn     Đại Triện       Tiểu Triện       Lệ Thư



                     
Ta thấy : 
          Giáp Cốt Văn 甲骨文 (là văn tự khắc trên xương trên sừng và trên mai rùa...) và Kim Văn 金文 (là văn tự được khắc trên kim loại, còn gọi là Chung Đỉnh Văn 鍾鼎文) là hình tượng ẻo lả của một cô gái đang qùy gối hai tay vòng về phía trước như đang hầu hạ hay phục thị cho ai vậy; Điều nầy cho ta xác định lại thời gian hình thành chữ viết là sau thời kỳ của Chế Độ Mẫu Hệ. Đến Đại Triện 大篆 và Tiểu Triện 小篆 thì các nét được lược giản và kéo thẳng ra thành chữ viết, và đến Lệ Thư đời Tần (221-206 trước Công Nguyên) thì nét chữ đã thành hình giống như là chữ viết hiện nay. NỮ 女 là Phái Nữ, là Con Gái; trái ngược với NAM 男 là Phái Nam, là Con Trai.
      Ban đầu, NỮ chỉ có nghĩa là con gái, sau dùng rộng ra mới chỉ chung cho phái nữ; và để phân biệt các cô gái đã lớn, đã kết hôn, ta còn có chữ PHỤ 婦 là Đàn Bà, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

           Giáp Cốt Văn    Kim Văn     Đại Triện     Tiểu Triện      Lệ Thư


                 Ta thấy :            
           Giáp Cốt Văn là hình tượng của cô gái bên phải, bên trái là hình tượng của một cây chổi được bó bằng các nhánh cây với cán cầm và đầu chổi xù ra được vẽ tượng trưng bằng ba nét chéo về phía trên; đến Đại Triện và Tiểu Triện thì vị trí của cây chổi được đổi từ trái sang phải cho chữ ghép được ăn khớp với nhau hơn, và đến Lệ Thư thì đã như là chữ viết của hiện nay. Chữ PHỤ 婦 được ghép theo cách thứ 3 của Lục Thư với nghĩa Hội Ý như sau :
      PHỤ 婦 do bộ NỮ 女 ở bên trái ghép với chữ TRỬU 帚 ở bên phải với nghĩa Hội Ý là : Khi cô con gái đã có trách nhiệm phải cầm cây chổi để quét dọn nhà cửa thì đã là chủ của một gia đình rồi, đã kết hôn rồi. Nên nghĩa đầu tiên của chữ PHỤ 婦 là VỢ, chỉ các cô gái đã có chồng; nghĩa rộng là dùng để chỉ các bà lớn tuổi; nên ta có từ PHỤ NHÂN 婦人 là Đàn Bà, và một từ ghép mà ta thường sử dụng hằng ngày là :
     PHỤ NỮ 婦女 để chỉ chung "Đàn bà Con gái" gồm tất cả phái nữ : Còn trẻ hay đã già; Kết hôn hay chưa kết hôn; Xấu hay đẹp gì... tất cả đều là PHỤ NỮ ! 

     Trong cuộc sống thường ngày ta có rất nhiều từ ghép với chữ NỮ và chữ PHỤ nầy, dưới đây chỉ là những từ tiêu biểu mà ta thường gặp phải và thường sử dụng :

    - NỮ NHI 女兒 hay NỮ TỬ 女子 là Con GÁI nói chung, để phân biệt với NAM NHI 男兒 hay NAM TỬ 男子 là Con TRAI.
    - NỮ LƯU 女流 : là từ chỉ chung Giới Nữ, Phái nữ. Ta thường gọi là Giới Nữ Lưu.
    - NỮ LANG 女郎 : Từ chỉ các cô gái trẻ, tương đương như từ THIẾU NỮ 少女. Đây là từ xuất phát từ tư tưởng "Trọng nam khinh nữ"; vì LANG là Chàng, gọi Nữ Lang để tôn vinh cô gái được xem ngang hàng như một chàng trai. Tương tư, ta còn có từ :
    - NỮ SĨ 女士 : là người con gái có tài giỏi về bộ môn nào đó được đánh giá ngang hàng với nam nhân như : Nữ Thi sĩ, Nữ Văn Sĩ, Nữ Họa Sĩ...
    - NỮ CÔNG TỬ 女公子 : Từ dùng để gọi "Con gái của người khác" một cách tôn vinh và lịch sự. Như thấy ba bốn cô gái trong nhà bạn, ta muốn biết "Đứa nào là con gái của bạn", thì sẽ hỏi một cách trịnh trọng rằng :"Xin cho biết vị nào là NỮ CÔNG TỬ ?". Tương tư...
    - NỮ ANH HÙNG 女英雄 : ANH 英 với bộ Thảo 艹 ở phía trên tượng trưng cho hình cây cỏ mới mọc vươn lên một cách mạnh mẽ, nên ANH có nghĩa là phần tinh hoa, phần tốt nhất của sự vật; là HOA của cây cỏ, là thành phần vượt trội hơn cả; HÙNG 雄 là Giống đực, là con trống, là Đàn ông con trai. Nên ANH HÙNG 英雄 là người đàn ông vượt trội hơn các người đàn ông khác về phẩm chất cũng như về thể lực, tài năng. Tương tự, ta có THƯ 雌 là Giống cái, là con mái, là Đàn bà con gái. Nên ANH THƯ 英雌 cũng có nghĩa là người phụ nữ vượt trôi hơn các phụ nữ khác, là người phụ nữ phi thường có tài giỏi; Nhưng trong xã hội phong kiến "trọng Nam khinh nữ" giới nữ thích được goi là NỮ ANH HÙNG hơn là ANH THƯ, vì lòng tự ái muốn nâng địa vị xã hội của mình lên ngang hàng với giới mày râu tu mi nam tử ! Trong lịch sử nhân loại từ Âu sang Á xưa nay cũng có rất nhiều NỮ TƯỚNG, NỮ VƯƠNG, NỮ HOÀNG... và nhan nhản trong thế giới ngày nay cũng đã có rất nhiều NỮ CHÍNH TRỊ GIA, NỮ DÂN BIỂU, NỮ THỦ TƯỚNG, NỮ TỔNG THỐNG... Nhưng dù cho có là nguyên thủ quốc gia, trong gia đình các bà vẫn phải chú trọng đến...
    - NỮ CÔNG 女功 : Đứng đầu trong bốn tiêu chuẩn để đánh giá về người Phụ Nữ ngày xưa là CÔNG DUNG NGÔN HẠNH 功容言行. Nữ Công còn được gọi là Nữ Hồng 女红; chỉ các việc làm khéo tay để tô điểm thêm cho cuộc sống trong gia đình của phụ nữ, như : Dệt vải, Thêu thùa , may vá, nấu nướng... Ta gọi chung là NỮ CÔNG GIA CHÁNH 女功家政.




     Sau cùng, xin được đề cập đến một từ NỮ đứng đầu, nhưng lại là một nam nhi, đó chính là...
    - NỮ TẾ 女婿 : là Chồng của con gái, là chàng Rể. Nhắc đến Nữ Tế lại nhớ đến câu đối của cụ Phan Bội Châu làm năm 1900 cho một người có cha vợ vừa mất đến xin cụ làm cho đôi câu đối để điếu tang. Cụ đã căn cứ vào câu "Nhất nam viết hữu, Thập nữ viết vô  一男曰有,十女曰無" (Có một đứa con trai thì bảo là có một con, còn có mười đứa con gái thì bảo là không có đứa con nào cả !) và câu "Tế vân bán tử 婿云半子" (Chàng rể thì được kể là nửa đứa con) mà làm đôi câu đối rất hay như sau :
                         
                     女 則 曰 無, 天 理 豈 應 無 痛 惜;
             Nữ tắc viết vô, thiên lý khởi ưng vô thống tích;
                     婿 雖 云 半, 人 情 誰 可 半 哀 思 ?
             Tế tuy vân bán, nhân tình thùy khả bán ai tư ?
Có nghĩa :
             Con gái thì bảo là không, lẽ trời sao nở không thương tiếc;
             Chàng rể tuy cho là nửa, tình người ai lại nửa buồn thương ?

       Câu đối hay ở chỗ đã dùng chính "giáo điều" của Nho Giáo rồi căn cứ vào đời sống thưc tế và tình cảm vốn có của con người để phản bác lại một cách rất nhân bản, rất tài tình ! Cha xem con gái như không có, nhưng theo lý trời khi cha chết con gái đâu thể không thương tiếc được sao; Chàng rể tuy ví như chỉ có nửa đứa con, nhưng tình cảm con người, ai mà có thể chỉ buồn thương có phân nửa cho được ?!
       
      Ngoài ra, chữ NỮ còn được ghép với một Hình Dung từ đứng trước để chỉ tính cách, phẩm hạnh hay bản chất của chữ NỮ đứng sau như :
    
    - TÀI NỮ 才女 : là Người con gái tài hoa.
    - CA NỮ 歌女 : là Người con gái sống bằng nghề ca hát; bây giờ là Nữ Ca Sĩ.
    - KỸ NỮ 妓女 : là những cô gái lầu xanh trẻ đẹp giỏi ca múa ngày xưa; Ngày nay từ Kỹ Nữ dùng để chỉ các cô gái điếm.
    - THƯƠNG NỮ 商女 : là người con gái buôn hương bán phấn; nên THƯƠNG NỮ đồng nghĩa với CA NỮ và KỸ NỮ của ngày xưa. Ta hãy đọc lại bài thất ngôn tứ tuyệt Bạc Tần Hoài 泊秦淮 (Ghé bến Tần Hoài) của Đỗ Mục đời Đường sẽ rõ :

              煙籠寒水月籠沙,   Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,
              夜泊秦淮近酒家。   Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
              商女不知亡國恨,   THƯƠNG NỮ bất tri vong quốc hận,
              隔江猶唱後庭花。   Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa.
Có nghĩa :
                 Khói mờ nước lạnh cát trăng nhòa,
                 Đêm ghé Tần Hoài cạnh tửu gia.
                 THƯƠNG NỮ biết đâu hờn mất nước,
                 Cách sông còn hát Hậu Đình Hoa ! 

            


   - TỐ NỮ 素女 : Chữ TỐ 素 gồm có 2 bộ ghép lại mà thành; phần trên bộ Sanh 生 là Sống, phần dưới bộ Mịch 糸 là sợi tơ; Nên TỐ 素 có nghĩa là "Sợi tơ sống", Sợi tơ còn chưa được nhuộm màu nên trắng nõn. Vì thế, TỐ có nghĩa là Màu trắng, là nguyên chất, là Thuần khiết... Ta có các từ như : TỐ THỦ 素手 là bàn tay trắng nõn, TỐ TÂM 素心 là một tấm lòng trong trắng, NGUYÊN TỐ 原素 là chất thuần khiết không có pha lộn tạp chất, TỐ THỰC 素食 là Ăn chay... và TỐ NỮ là cô gái còn trong trắng cả thể xác lẫn tâm hồn; khác với...
  - TRINH NỮ 貞女 : là cô gái còn trinh trắng về thể xác; xem trọng về thể chất hơn tinh thần, như Thúy Kiều đã phân bua với Kim Trọng :

                       Chữ TRINH còn một chút này, 
                    Chẳng cầm cho vững lại vầy cho tan !

  - THỤC NỮ 淑女 : Chữ THỤC 淑 có 3 chấm Thủy 氵bên trái làm Ý, chữ Thúc 叔 bên phải làm Âm; nên THỤC có nghĩa là làn nước trong veo hiền hòa. THỤC NỮ là cô gái trong trắng hiền hòa lương thiện (đẹp hay không "tùy người đối diện"). Trong Kinh Thi hay nhắc đến câu : Yểu điệu THỤC NỮ để chỉ người con gái vừa hiền lành nết na, đẹp người đẹp nết như các câu trong Thiên "Chu Nam. Quan Thư 周南. 關雎 " sau đây :
   Bài 1 :
          參差荇菜,左右流之。Sâm si hạnh thái, Tả hữu lưu chi.
          窈窕淑女,寤寐求之。Yểu điệu THỤC NỮ, Ngụ mị cầu chi.
          求之不得,寤寐思服。Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục.
          悠哉悠哉,輾轉反側。Du tai du tai, Triển chuyển phản trắc.                            
Có nghĩa :
          So le rau Hạnh, phải trái xuôi dòng.
          Yểu điệu thục nữ, đêm nhớ ngày mong.
          Cầu mà chẳng được, thức ngủ nhớ mong.
          Dài thay dài thay, trăn trở mấy vòng ! 

          

  
Lục bát :
                    Kìa xem rau hạnh so le,
              Theo nước trong xè phải trái chảy đi.
                    Cô em yểu điệu nhu mì,
              Ngày mong đêm nhớ kể gì thời gian.
                    Cầu mà chưa được chẳng an,
              Thức ngủ mơ màng đêm nhớ ngày mong.
                    Dài ghê đêm tối mông lung,
              Nằm mãi trong mùng trăn trở trở trăn !
   Bài 2.
                    參差荇菜,     Sâm si hạnh thái,
                    左右芼之。     Tả hữu mạo chi.
                    窈窕淑女,     Yểu điệu thục nữ,
                    鐘鼓樂之。     Chung cổ lạc chi ! 
      Lục bát :
                        So le rau hạnh trong ao,
                     Hai tay bẻ lấy ấp vào lòng ta.
                       Yêu kiều thục nữ như hoa,
                  Trống chuông lễ nhạc giao hòa sánh đôi. 

      Ngoài từ THỤC NỮ để chỉ các cô gái nết na đẹp đẽ ra, ta còn có các từ như : Mỹ Nữ, Lệ Nữ, Kiều Nữ, Diễm Nữ...mỗi người một vẻ đều là các cô gái đẹp cả !
    - LIỆT NỮ 烈女 : là người con gái mạnh mẽ, cứng cỏi, có thể hy sinh vì tiết nghĩa mà không chịu nhục.
    - NGHĨA NỮ 義女 : là Con gái kết nghĩa mà có, là Con Gái Nuôi.
    - XUÂN NỮ 春女 : là các cô gái đang xuân; trong một ngữ cảnh nào đó XUÂN NỮ còn là những cô gái hoài xuân, những cô gái đang tìm kiếm tình yêu, đang khao khát yêu đương... và còn...
 ... rất nhiều rất nhiều từ...NỮ nữa mà phạm vi bài viết không thể đề cập hết được. Bây giờ thì ta trở lại với từ PHỤ nhé !

       Ngoài PHỤ NỮ 婦女 và PHỤ NHÂN 婦人 để chỉ đàn bà con gái ra, PHỤ còn có nghĩa là VỢ trong các từ như :
       - PHU PHỤ 夫婦 : là Chồng vợ, là Vợ chồng. Nhớ hồi còn nhỏ ở trong vườn hay nghe má tôi hát ru em bằng câu :
                                Sông dài cá lội biệt tăm,
                   Phải duyên PHU PHỤ ngàn năm em cũng chờ.
                               Lòng dạ anh có nghi ngờ,
                       Mực đen giấy trắng làm tờ cam đoan.
                             Thùng thùng trống đổ vừa tan,
                          Vắng anh một bửa ruột gan rả rời !

           

    - PHỤ ĐẠO 婦道 : là cái đạo làm vợ, tức là cái bổn phận và cái trách nhiệm phải chu toàn của một người làm vợ.
    - HIỀN PHỤ 賢婦 : là Vợ hiền, vợ giỏi giang. Trái với...
    - ÁC PHỤ 惡婦 : là Vợ dữ, vợ hung ác, Đàn bà hung dữ.
    - DÂM PHỤ 淫婦 : là Vợ dâm, là Đàn bà dâm dật, dâm đãng. Có chồng mà còn lăng nhăng, có vợ mà còn dụ dỗ vợ người khác thì gọi GIAN PHU DÂM PHỤ 奸夫淫婦.
    - PHU XƯỚNG PHỤ TÙY 夫唱婦隨 : là Chồng hát thì vợ họa theo; chỉ cảnh vợ chồng thương yêu hòa thuận hạnh phúc cùng nhau.

      Ngoài ra ta còn gặp các từ có liên quan đến đàn bà phụ nữ như :
    - THIẾU PHỤ 少婦 : Đàn bà trẻ, có chồng nhưng còn son sắt.
    - LÃO PHỤ 老婦 : là người đàn bà già, còn gọi là LÃO PHỤ NHÂN 老婦人.
    - QUẢ PHỤ 寡婦 hay SƯƠNG PHỤ 孀婦 : Đàn bà goá, đàn bà chồng chết hay ở vậy có một mình. Trong bài "Tiền Xích Bích Phú" của Tô Đông Pha còn gọi là LY PHỤ 嫠婦 khi tả tiếng tiêu thổi lên trong đêm trăng trên dòng sông Xích Bích :

                    舞幽壑之潛蛟,  Vũ u hác chi tiềm giao,
                    泣孤舟之嫠婦。  Khấp cô chu chi LY PHỤ !
Có nghĩa :
         Như... Con giao long quẫy múa dưới vực sâu, và...
                   Tỉ tê như tiếng người LY PHỤ khóc chồng trên chiếc thuyền côi đơn lẻ...




                   Khác với...
    - CÔ PHỤ 孤婦 : là người đàn bà cô độc có một mình, như câu :

             Người CÔ PHỤ trông chồng nơi biên ải;
             Người chinh nhân chích bóng nhớ vợ hiền cô lẽ ở quê xa !...

    - MỆNH PHỤ 命婦 : là người đàn bà có tước hiệu và bổng lộc được vua sắc phong đàng hoàng, nên sau từ Mệnh Phụ còn có hai chữ Phu Nhân nữa, thành : MỆNH PHỤ PHU NHÂN 命婦夫人. Ngày nay nhóm từ MỆNH PHỤ PHU NHÂN thường dùng để chỉ các bà vợ của các quan chức từ cấp Quận trưởng, Tỉnh trưởng trở lên cho đến hàng Thứ trưởng, Bộ trưởng...
    - TỨC PHỤ 媳婦 : là Con dâu, là vợ của con trai.
    - ĐỆ PHỤ 弟婦 : là em dâu, là vợ của em trai.
    - TRINH PHỤ 貞婦 : là đàn bà trung trinh tiết liệt. Còn...
    - TIẾT PHỤ 節婦 : là đàn bà giữ gìn danh tiết và xem trọng tiết tháo của phụ nữ, như chồng chết thì sẽ ở vậy thờ chồng, không bước thêm bước nào nữa cả, hay như đã có chồng thì sẽ một lòng một dạ theo chồng mà sẽ không còn dan díu với ai khác nữa, cho dù đó là người yêu cũ. Mời đọc bài thơ "Tiết Phụ Ngâm 節婦吟" nổi tiếng của Trương Tịch 張籍 sau đây :

                君知妾有夫,        Quân tri thiếp hữu phu,
                贈妾雙明珠。        Tặng thiếp song minh châu.
                感君纏綿意,        Cảm quân triền miên ý,
                繫在紅羅襦。        Hệ tại hồng la nhu

                妾家高樓連苑起,    Thiếp gia cao lầu liên uyển khởi,
                良人執戟明光裡。    Lương nhân chấp kích minh quang lý.
                知君用心如日月,    Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,
                事夫誓擬同生死。    Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử.
                還君明珠雙淚垂,    Hoàn quân minh châu song lệ thùy,
                恨不相逢未嫁時!    Hận bất tương phùng vị giá thì.




       Bài thơ nầy đã được cụ Ngô Tất Tố diễn Nôm rất hay như sau :

                  Chàng hay em có chồng rồi,
                  Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành.
                  Vấn vương những mối cảm tình,
                  Em đeo trong áo lót mình màu sen.
                  Nhà em vườn ngự kề bên,
                  Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang.
                  Như gương, vâng biết lòng chàng,
                  Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa.
                  Trả ngọc chàng, lệ như mưa,
                  Hận không gặp gỡ khi chưa có chồng.
                                                        Ngô Tất Tố diễn Nôm
Song thất lục bát :




                            TIẾT PHỤ NGÂM

                  Chàng biết thiếp lấy chồng từ thuở...
                  Tặng minh châu để tỏ tấm tình... 
                  Lòng yêu quyến luyến rành rành,
                  Đeo vào yếm thắm cho đành lòng nhau !
                  
                  Nhà em sát cao cao ngự uyển...
                  Đền Minh Quang chồng tuyển trông coi .
                  Tình chàng nhựt nguyệt sáng soi,
                  Thờ chồng thiếp nguyện suốt đời có nhau !

                  Trả ngọc chàng lệ chảy mau...
                  Hận không gặp gỡ lúc màu còn son !!!
                                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm                   

        Hơn  một ngàn ba trăm năm trước, đời nhà Đường mà có được tư tưởng phóng khoáng, nhân bản và tình cảm chân thật của tình người, dám nói lên tiếng nói của con tim như nàng TIẾT PHỤ trên đây, thật qúy hóa lắm thay !...
 
        Những từ ngữ về Phụ Nữ còn rất nhiều rất nhiều, kể không xiết kể !...

        Hẹn bài viết tới !

                                                 杜紹德
                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC

    
   

ẨN HƯƠNG - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 




Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

BỐN MÙA HOA THƠ - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ

 


                  



BỐN MÙA HOA THƠ


Đâu riêng hoa nở sang Hè

Đỏ tươi sắc lựu gió nhè nhẹ đưa

Ai về theo bước chiều trưa

Có nghe tình tự bốn mùa hoa thơ?

Quê hương mình tự bao giờ

Cát hồng, bụi đỏ, dấu mờ mịt qua

Bóng hoàng hôn cũ chiều xa

Để bình minh đến mọi nhà,,, Bình minh!

Nước non nầy,

Nước non mình

Trái tim thơ vẫn tự tình ngàn năm

Ai đi từ buổi xa xăm

Ai về hội ngộ trăng Rằm quê hương

Ai còn đếm bước tha phương

Vẫn nghe thơm mãi bốn mùa Hoa Thơ,


Long Xuyên, 17/4/2022

MẶC PHƯƠNG TỬ

 

NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ (9) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 




GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG:

NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ  (9)

                                   Hàng Châu Nguyệt Hạ Lão Nhân Từ

 

                               Từ Miếu thờ Nguyệt Lão ở Hàng Châu  
                       
                
        Trong hồi 4 quyển 5 của kịch bản Tây Sương Ký 西廂記. Kịch tác gia Vương Thực Phủ 王實甫 đời nhà Nguyên đã cảm thán cho các mối chân tình của nam nữ yêu nhau lúc bấy giờ mà thốt nên câu :
                嘆人間真男女難為知己,Thán nhân gian chơn nam nữ  nan vi tri kỷ,
                願天下有情人終成眷屬.  Nguyện thiên hạ hữu tình nhân  chung thành quyến thuộc.
Có nghĩa :
              Than cho nam nữ chơn tình chốn nhân gian  khó trở thành tri kỷ;
              Nguyện cho những người hữu tình trong thiên hạ  được đoàn tụ một nhà.

        HỮU TÌNH NHÂN 有情人 là Những người có tình cảm với nhau, tức là "Những kẻ yêu nhau" đó ! Cũng như CHƠN NAM NỮ 真男女 là "Những kẻ yêu nhau thật lòng" chớ không phải chỉ "trai gái thật, trai gái giả" gì cả ! Truy nguyên...
     Kịch bản TÂY SƯƠNG KÝ 西廂記 của Vương Thực Phủ vốn có nguồn gốc từ HỘI CHÂN KÝ 會真記 còn gọi là OANH OANH TRUYỆN 鶯鶯傳, một trong các truyện của tiểu thuyết truyền kỳ đời nhà Đường, do thi nhân "Bạc tình nổi tiếng lầu xanh" là Nguyên Chẩn 元稹 biên soạn. Truyện kể...
     Trương sinh 張生 là chàng thư sinh nghèo tên Quân Thụy 君瑞, ở trọ trong chùa Phổ Cứu xứ Bồ Châu. Gặp cơn binh biến, Trương sinh đã ra tay giúp đỡ cho gia đình của một người dì có họ xa là Trịnh thị được thoát nạn. Trong bửa tiệc đền ơn, Trương sinh đã phải lòng cô em gái bạn dì (biểu muội) là Thôi Oanh Oanh 崔鶯鶯. Nhờ có thị nữ Hồng Nương 紅娘 đưa thư dẫn mối qua lại với nhau, rốt cuộc họ hẹn nhau dưới mái tây hiên (Tây sương) và thỏa tình cá nước. Thôi Oanh Oanh đã nhẹ dạ trao thân cho Trương Quân Thụy, để đến nỗi :

                           Mây mưa đánh đổ đá vàng,
                  Qúa chìu nên đã chán chường yến anh.
khiến cho :
                         Mái Tây để lạnh hương nguyền,
                  Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng !
Nên khi...
     Khoa thi đến, Trương sinh lên đường lai kinh ứng thí, nhưng lại danh lạc Tôn Sơn, tên tuổi rớt khỏi bảng vàng. Buồn lòng, nên nấn ná ở kinh thành, lại đổ cho Oanh Oanh là điềm làm cho mình xui xẻo nên đi cưới vợ khác. Năm sau Oanh Oanh cũng xuất giá. Một lần đi ngang qua nhà của Oanh Oanh, Trương sinh lấy danh nghĩa là biểu huynh xin yết kiến, nhưng lại bị Oanh Oanh cự tuyệt. Còn trong kịch bản của Vương Thực Phủ đời Nguyên thì...

      Trương Quân Thụy là một thư sinh nghèo lạc phách ở trọ trong chùa Phổ Cứu để xôi kinh nấu sử, tình cờ gặp được Thôi phu nhân cùng con gái là Thôi Oanh Oanh đang phò linh cửu của chồng là Thôi Tướng quốc về quê đến ở trọ trong chùa. Tướng cướp Tôn Phi Hổ 孫飛虎 nghe đồn tiểu thơ Thôi Oanh Oanh rất đẹp nên đem binh vây chùa định bắt về làm áp trại phu nhân. Lão phu nhân mới tuyên bố rằng nếu ai cứu được gia đình bà và giải vây cho chùa thì sẽ gả tiểu thơ Oanh Oanh cho. Trương sinh bèn viết thư nhờ một chú tiểu trốn ra khỏi chùa mang đến cho bạn mình đang làm Thái Thú ở Bồ Châu là Bạch Mã Tướng quân họ Đỗ. Đỗ bèn phát binh giải vây cho chùa. Sau đó, lão phu nhân thấy Trương sinh qúa nghèo không môn đăng hộ đối với mình bèn hối hôn; nên trong bửa tiệc đền ơn đáp nghĩa chỉ cho Oanh Oanh nhận Trương Sinh làm nghĩa huynh mà thôi. Hai kẻ yêu nhau bị cấm ngăn qua lại, nhưng nhờ có thị nữ Hồng Nương thư đi tin lại nên cuối cùng hai người vẫn gặp nhau ở dưới mái Tây mà vui vầy cá nước, với lời thơ nên thơ và lãng mạn như sau :  
                               
              待月西廂下,    Đãi nguyệt Tây sương hạ,
              迎風户半開。    Nghinh phong hộ bán khai.
              拂牆花影動,    Phất tường hoa ảnh động,
              疑是玉人來。    Nghi thị ngọc nhân lai !
Có nghĩa :
              Đợi trăng dưới mái tây,
              Cửa hé gió hây hây.
              Bóng hoa bên tường động,
              Ngờ người ngọc tới đây !


        

        Chuyện đổ bể, phu nhân tra khảo Hồng Nương và bắt Thôi Oanh Oanh phải xuất giá lấy công tử Trịnh Hằng là con của một thế gia vọng tộc lúc bấy giờ. Nhưng qua sự đấu lý và trần tình của cả Hồng Nương, Trương sinh và Oanh Oanh; phu nhân đồng ý đợi Trương sinh lai kinh ứng thí, nếu kim bảng đề danh thì sẽ làm lễ "Đại Tiểu Đăng Khoa" cùng lúc. "Được lời như cởi tấc lòng" Trương sinh từ đó cố công dùi mài kinh sử, và trời đã không phụ người có lòng, khoa thi năm đó Trương Quân Thụy đậu ngay Trạng Nguyên cập đệ và đã rước cô dâu Thôi Oanh Oanh về cùng đoàn tụ một nhà, và cũng để cho Vương Thực Phủ kết thúc một câu chuyện tình có hậu với câu nói bất hủ để đời là "Hữu tình nhân chung thành quyến thuộc 有情人終成眷屬" Những kẻ yêu nhau thực sự thì rốt cuộc sẽ được sum họp một nhà mà thôi ! Cái kết có hậu vừa nói lên được cái tự do luyến ái của tình yêu nam nữ lúc bấy giờ  (Nhà Nguyên khoảng thế kỷ 13) vừa là sự bức phá khỏi cái rào cản cổ hủ của Nho phong với truyền thống "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó". Giờ thì Trương Sinh và Oanh Oanh đã toại nguyện :

                          Một nhà sum họp trúc mai,
                   Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông !

              

      Vì các tích trên, đưa đến đôi câu đối trước cổng Nguyệt Lão Từ 月老祠 (Từ miếu thờ Nguyệt Lão) ở bên bờ Tây Hồ của xứ Hàng Châu như sau :

           願天下有情人,都成了眷屬;Nguyện thiên hạ hữu tình nhân, đô thành liễu quyến thuộc;
           是前生註定事,莫錯過姻緣. Thị tiền sinh chú định sự, mạc thác quá nhân duyên.
Có nghĩa :
               Nguyện những kẻ yêu nhau trong thiên hạ, đều được nên gia thất;
               Là chuyện định sẵn của kiếp tiền sinh, đừng để lỡ nhân duyên.

      Câu đối với những từ ngữ rất bình dân, rất nên thơ mà cũng rất thực tế, rất thiệt tình, với... 

         * Vế đầu lấy ý trong kịch bản Tây Sương Ký như đã nêu trên.
         * Vế sau lấy ý ở điển tích CHỈ HỒNG. Theo Tục U Quái Lục của Lý Phục Ngôn đời Đường 唐朝文学家李复言所著的"续玄怪录" : 
          Vào năm Đường Trinh Quan thứ hai (638), đất Đỗ Lăng có thư sinh Vi Cố 韋固, con nhà thế gia vọng tộc. Cha mẹ mất sơm, nên Cố đi du học bốn phương, vừa để học tập cầu tiến vừa để tìm kiếm hôn nhân. Một hôm, mới sáng sớm chàng đã đến trước Hưng Long Tự, thấy một ông lão đầu râu tóc bạc đang lật xem một quyển sách dưới trăng, lật đến đâu thì dùng chỉ đỏ buộc vào chân những hình nhân nam nữ trong đó. Vi Cố hỏi thì biết đó là "Quyển sách Hôn nhân", bèn hỏi về hôn nhân của mình. Ông lão bèn lật sổ nói cho chàng biết rằng : Vợ của chàng là cô bé mới có 3 tuổi con của một người đàn bà một mắt đang bán cải giữa chợ. Vi Cố nghe nói cả giận, thuê người giết cô bé. Mười bốn năm sau, khi Vi Cố đang làm Tham Quân ở Tương Châu. Thứ Sử Tương Châu rất mến mộ tài năng của Vi Cố, thấy chàng còn độc thân bèn gả cô con gái cho. Đêm tân hôn thấy cô dâu rất trẻ đẹp nhưng ở giữa hai mí mắt lại có một vết sẹo. Hỏi ra mới biết, lúc nhỏ khi bà vú bế đi ra chợ bán cải bị một tên côn đồ đâm cho một nhát rồi bỏ chạy, may là chỉ bị thương mà không chết, sau gặp chú là Thứ Sử nhận làm con nuôi cho đến hiện nay. Vi Cố nghe xong kinh hãi, biết rằng khi Nguyệt Lão đã se tơ rồi thì có chạy trời cũng không khỏi nắng. Cô bé năm xưa mình định giết chết chính là cô vợ xinh đẹp của mình hiện nay đó.Muốn biết thêm chi tiết  mời đọc trang web.sau đây sẽ rõ :

                                  Đỗ Chiêu Đức 3 - Chỉ Hồng




         Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều nàng cung nữ đã nghi ngờ oán trách :

                            Tay NGUYỆT LÃO chẳng xe thì chớ,
                            Xe thế nầy có dở dang không ?

         Nguyệt Lão là từ nói gọn lại của nhóm từ "NGUYỆT HẠ LÃO NHÂN月下老人" là "Ông gìa dưới trăng", vì chuyên xe tơ cho trai gái lấy nhau, nên còn được gọi là ÔNG TƠ, như khi Kim Trọng đến từ biệt Thúy Kiều để đi Liêu Dương hộ tang chú, thì Thúy Kiều cũng đã oán trách :

                                   ÔNG TƠ ghét bỏ chi nhau,
                           Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.

Hay khi bị Hồ Tôn Hiến ép gã cho thổ quan, Thúy Kiều lại một lần nữa lên tiếng oán trách :

                                    ÔNG TƠ sao khéo đa đoan,
                                 Xe tơ sao lại vơ quàng vơ xiên ?!
                     
         Khắp nơi trên đất nước Trung Hoa đều có miếu thờ Nguyệt Lão; nếu không thì cũng có cái kham thờ Nguyệt Lão trong khuôn viên của Chùa Thiên Hậu Thánh Mẫu, chùa Quan Thánh Đế Quân , chùa Bổn Đầu Công... Sau đây là câu đối rất độc đáo ở Nguyệt Lão Từ của thành phố Đài Nam của xứ Đài Loan như sau :

                      

            願天下有情人終成眷屬,Nguyện thiện hạ hữu tình nhân chung thành quyến thuộc;
            望世間眷屬全是有情人。Vọng thế gian quyến thuộc toàn thị hữu tình nhân.

     * Thành Quyến Thuộc 成眷屬 : là nên gia thất, là Thành chồng vợ với nhau. Nên ...
Câu đối trên có nghĩa :

          - Nguyện cho những kẻ yêu nhau trong thiên hạ đều được nên chồng nên vợ;
          - Mong cho những cặp chồng vợ trên thế gian nầy đều là những kẻ yêu nhau !
 
      Còn dưới đây là đôi câu đối nổi tiếng của bàn thờ Nguyệt Lão trong Bạch Vân Am của Tây Hồ ở đất Hàng Châu :

              求美玉無瑕,鴛鴦難結對,  Cầu mỹ ngọc vô hà, uyên ương nan kết đối;
              唯真誠有意,鸞鳳總成雙。  Duy chân thành hữu ý, loan phượng tổng thành song.

     * Mỹ Ngọc Vô Hà 美玉無瑕 : là Ngọc đẹp không chút tì vết, ý nói là "Thập toàn thập mỹ", đẹp không chỗ chê ! Nên câu đối có nghĩa :

           - Cầu cho thập mỹ thập toàn, Uyên ương khó bề sum họp;
           - Chỉ mong thành tâm thành ý, Loan phượng ắt sẽ nên duyên.

      Rất thực tế, rất khiêm nhượng, Nguyệt Lão cũng phải chấp nhận là chỉ cần "Thành tâm thành ý" thực dạ yêu nhau thì Loan Phượng mới nên duyên được; Chứ cứ muốn đòi hỏi đối phương phải là người "Thập toàn thập mỹ" thì Uyên Ương sẽ khó được sum họp một nhà.



      Sau đây cũng là một đôi câu đối bất hủ của Nguyệt Lão Từ :

            繫足無差,到來皆是多情種;Hệ túc vô sai, đáo lai giai thị đa tình chủng;
            同心有願,歸去遍開並蒂花. Đồng tâm hữu nguyện, quy khứ biến khai tịnh đế hoa.

     * Giai Thi 皆是 : Đều là; Đa Tình Chủng 多情種 : là Giống đa tình.
     * Biến Khai 遍開 : Nở khắp, nở hết. Tịnh Đế Hoa 並蒂花 : là Hoa liền cành.
Câu đối có nghĩa :
        - Buôc chân chẳng sai, đã đến đều là đa tình khách;
        - Chung lòng ước nguyện, khi về nở hết cặp hoa tim.

             



      Cuối cùng là đôi câu đối thờ Nguyệt Lão mà cũng là đôi câu đối Tân Hôn cho tất cả mọi người là :

                 百年恩愛雙心結;   Bách niên ân ái song tâm kết;
                 千里姻緣一綫牽.    Thiên lý nhân duyên nhất tuyến khiên.

         * Song Tâm Kết 雙心結 : là kết thành giải có hai trái tim, giải đồng tâm.
         * Nhất Tuyến Khiên 一綫牽 : là Chỉ do một sợi chỉ dẫn dắt, đó là sợi chỉ hồng của nguyệt Lão đó. Nên...
Câu đối có nghĩa :
                        - Trăm năm ân ái đồng tâm kết;
                        - Ngàm dặm nhân duyên sợi chỉ hồng !


        Một chuyện rất mỉa mai đến buồn cười là : Nguyệt Lão ở Trung Hoa là Ông Già Dưới Trăng lẻ loi đơn độc có một mình; Mặc dù chuyên làm chuyện xe tơ kết tóc cho người đời nên duyên chồng vợ với nhau, nhưng khi sang qua Việt Nam, có thể dân ta thấy tội nghiệp cho ông suốt đời chỉ mai mối cho người khác còn mình thì vẫn lẻ loi trơ trọi có một mình, và theo quan niệm của người Việt Nam ta, có “Ông” thì phải có “Bà”, nên mới “cưới” cho ông một "Bà Nguyệt" nữa, thành một cặp “Ông Tơ Bà Nguyệt”, và thành ngữ “Ông Tơ Bà Nguyệt” chỉ có trong ngôn ngữ và văn chương Việt Nam ta mà thôi, chớ ở bên Tàu thì “Ông Tơ” là Nguyệt Lão vẫn chỉ trơ trọi có một mình, không biết chuyện trai gái là gì cả, nên mới bị nàng Cung phi của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều bỡn cợt :

                               Tay NGUYỆT LÃO khờ sao có một
                               Bỗng tơ tình vướng gót cung phi.
                               Cái đêm hôm ấy đêm gì?    
                               Bóng gương lồng bóng đồ mi trập trùng !...


        Hẹn bài viết tới !
                                                                    杜紹德     
                                                                ĐỖ CHIÊU ĐỨC

     

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2022

CHẮP CÁNH CADAO - THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG

 


              




CHẮP CÁNH CA DAO

… Ai qua Cửa Tiểu
Ngược bến sông buồn
Hồn nhiên mộng giấc bình thường
Dừa cau tóc xõa đêm sương trắng bờ
Sông đầy sóng vỗ ngẩn ngơ
Dừng chân ngủ giữa đêm mơ thái bình
Dưới rặng bần xanh
Mộng lành chớm nở
Đâu thuở bình yên
Nghe rơi rơi tiếng độc huyền
Điệu thơ buồn Lục Vân Tiên chan hòa
Làn hơi vọng cổ đậm đà
Giăng giăng khói sóng đêm ta ngậm ngùi
Niềm khuya nhịp võng à ơi …
Tiếng thơm mùi sữa đọng lời mẹ ru
Thuyền về Cửa Tiểu
Chở bóng trăng thâu
Đây miền nước bạc sông sâu muôn đời
Tình quê tình nước khôn vơi
Quanh ta bát ngát khoảng trời quê hương


TRẦN NGỌC HƯỞNG

* Bài thơ được viết sau tết Mậu thân 1968 một ít.
Đăng trên Tia sáng và diễn ngâm trên Mây Tần nhà thơ Kiên Giang phụ trách.
Đăng trên Tuổi hoa sau đó

             (GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ TNH )