CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

THƯƠNG TIẾC - THƠ CHU VƯƠNG MIỆN

 


         



THUƠNG TIẾC

Thơ Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

-


Nhà văn Trần Đĩnh qua đời ngừơi ngày 12 tháng 5 thọ 93 tuổi

Nhạc sĩ Cung Tiến 1938- 2022 thọ 84 tuổi

Nhà thơ & văn Hoài Ziang Duy 1948 – 2022 thọ 74 tuổi

*

Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt

Với bao tiếng tơ xót thương đời

“ Tiếng ĐànTôi  - Nhạc của Phạm Duy “

*

1 năm làm thơ o nhiều

Chỉ dăm 3 bài 

Đa số là cầu chúc và thương tiếc

Cho các nhà văn nhà thơ và nhà soạn nhạc ……

Tư giã cõi tạm cõi trần 

Để về cõi vĩnh hằng 

Vô thủy vô chung

Mấy năm gần đây

Quý vị huynh trưởng “ niên trưởng “ 

Rủ nhau cùng đi quá nhiều

Thương tiếc thì cũng chỉ để nơi lòng 

Làm thơ đôi dòng 

“tiễn biệt “

Vẫn biết rằng trong cõi đời ô trọc “ đầu “

Có sống và có thác

Trong vòng “ sinh lão bệnh tử “

Nhân sinh chả có một ai khỏi thoát

Các huynh viết văn làm thơ soạn nhạc

Cống hiến dâng đời

Cũng hoài mong có chút gì còn lại 

“ bất diệt “

Ngừơi già thương tiếc ngừơi già

Kẻ tài hoa thương tiếc kẻ tài hoa

Thế gian hạn hẹp

Bụi cát mù sa

Y như lầu Hoàng Hạc

Chim ngừng cánh một chập một thời gian 

Rồi cất cánh bay luôn o trở ại 

“ Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản  “

Ôi những “ tài nhân & nghệ nhân “ của đất trời ?

Đến nơi đây 1 lúc 

Hoặc vài mươi năm

Hay 1 kiếp làm ngừơi 

Rồi cũng theo chim Hoàng Hạc bay vút trời xanh

Than ôi


CHU VƯƠNG MIỆN


Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022

HỒI KÝ CỦA NHÀ THƠ HỮU LOAN

 

         



  HỒI KÝ CỦA NGUYỄN HỮU LOAN


Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người.

Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.

Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai.

Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn.

Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học.

[… Hữu Loan dạy học ở Thanh Hoá một thời gian rồi lấy vợ và nhập ngũ. Vì nội dung câu chuyện rất dài nên cắt bớt.]

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!

Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết.

Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.

Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

“Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội…

Những em nàng có em chưa biết nói.

Khi tóc nàng đang xanh…

” Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa…

Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím.

Cho nên tôi viết mới nổi những câu :

“Chiều hành quân, qua những đồi sim…

Những đồi sim, những đồi hoa sim..

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết..

Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…

Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…

Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”.

Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi.

Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn.

Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay.

Thơ hay thì sống mãi.

Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì!

Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình.

Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….

Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.

Tôi phản động ở chỗ nào?

Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày.

Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin.

Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán.

Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.

Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi!

Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.

Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ.

Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn.

Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng.

Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước.

Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ.

Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố.

Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên.

Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết.

Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công.

Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta.

Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc.

Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.

Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao.

Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….

Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió.

Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng.

Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa.

Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

©Hữu Loan

=====

Nhà thơ Nguyễn Hữu Loan cả đời, sống vất vả ở miền Bắc, bài thơ Màu tím hoa sim của ông bị cấm lưu hành.

Sau 1975, vào miền Nam ông mới biết, thơ của ông được tự do lưu hành, lại còn được ít nhất 2 nhạc sĩ phổ nhạc Phạm Duy, Dzũng Chinh và được các ca sĩ ghi âm vào băng, đĩa hát trên truyền thanh, truyền hình.


Nguồn : từ email của nhà thơ Nguyễn Khôi chuyển


ĐÀN GẢY TAI TRÂU - THƠ NHẤT HÙNG, NỰC CƯỜI THAY - THƠ HỒ NGUYỄN

 



HỌA: NỰC CƯỜI THAY!

Nhìn quanh thế s lm trò chơi,

Ngm nghĩ nc cười quá đó ơi!

Bèo sánh v sen nghe ln tiết,

Cám so vàng giá tưởng cao vi.

Hương thơm nghi ngút, chê "hôi thúi",

Li d tt mùi, nói "ngát hơi".

Cuc sng bùn ly nên cn trng,

Tai trâu đàn gy ung công đi.


HỒ NGUYỄN (02-6-2022)



Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2022

CHÚT NIỀM VUI NHỎ - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ

 

                          


CHÚT NIỀM VUI NHỎ

 

Những vạt nắng
Đường chiều nghiêng bóng đổ
Gió mong manh ru hạt bụi tình xa
Vàng võ ngàn mây
Chân trời mọng đỏ,
Cánh bướm chao viền sóng cỏ bờ hoa.
Từ những phía lầu cao
Trông cháy hừng hực lửa
Mảnh vỡ hồn đêm cười sặc men đời
Có kẻ vá hoài mối tình hôm bữa,
Vẫn chưa hay điếu thuốc tàn môi.
Có chiếc xe con bóng lộn
Dừng lại bên lề lộ vẻ kiêu sa.
Có kẻ qua đường
Ánh mắt sẩm màu sương gió
Nhìn đời đen đỏ,
Nét suy tư buổi chợ phù hoa.
Những túi nilon
Lon bia vứt bỏ
Trong tụng rác đời,
Chiều nay
Vẫn có kẻ đi tìm đến nó
Đổi chút niềm vui nhỏ trên tay.

MẶC PHƯƠNG TỬ

 

LONG AN, MỘT THOÁNG - THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG

 


ẢNH TƯỜNG LAM






LONG AN, MỘT THOÁNG

Tân An cửa ngỏ miền sông nước,
Vàm Cỏ Đông, Tây cuộn một dòng.
Ngọn rạch Châu Phê từ thuở đó,
Đến giờ con nước vẫn xanh trong.
Bà kể đời xưa đất Vũng Gù,
Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống Tầm Vu.
Bỏ đồng xu lẻ ra mua vợ
Để tiếng hào hoa hậu thế lưu.*
Ta về Bình Trị, nhà lưu niệm,
Tìm dấu người xưa Cụ Nguyễn Thông.
Đâu buổi nhà tan thời nước mất,
Thơ văn lấp lánh mảnh gương lòng.
“Cõi Nam yên giặc bao giờ nhỉ?
Đất khách mồ chôn biết thế nào.
Tưới chén rượu cay lên cỏ biếc,” **
Đọc dòng thơ Cụ, cứ nao nao
Xuồng máy đưa ta về Nhựt Tảo,
Thuở nào cháy đỏ mặt sông xanh.
Lửa hồng huyền thoại Anh Chài Lịch
Giặc nhổ sao hết cỏ xứ mình.
Tiện đường Thuận Mỹ, đây mời bạn,
Mảnh đất nơi sanh bác Sáu Lầu.
Dạ cổ hoài lang thành vọng cổ,
Quà quê sông nước đã từ lâu.
Tách dòng Vàm Cỏ sang Cần Đước,
Nâng nhánh nàng thơm lúa Chợ Đào.
Dáng nghệ nhân xưa đình Vạn Phước,
Ngón đờn tài tử … khúc ca dao.
Rồi về Cần Giuộc chùa Tôn Thạnh,
Ghé lại Trường Bình, Mỹ Lộc chơi.
Nghĩa sĩ bóng xưa còn phảng phất,
Đâu đây văng vẳng giọng thơ người..
Cụ Đồ buổi ấy làm văn tế,
Tiếng nấc chìm trong tiếng súng Tây.
Leo lét đèn khuya cơn bóng xế,
Sầu giăng mấy dặm mảnh trăng gầy.
Ai viết bài tình ca Hậu Nghĩa,
Đã về thăm lại chốn xưa chưa?
Ngựa ô dòn nhịp lên Hòa Khánh,
Điệu lý tầm duyên ngọn gió lùa.
Thố Mố, Sò Đo bao dấu cũ
Một thời chiến trận vẫn chưa phai.
Cơ chi được một lần về lại
Nhặt kỷ niệm xưa, nhớ những ngày…
Ta nhớ ngút ngàn cây lúa sạ,
Nhúng mình bão lửa những bao năm.
Dẻo bền chân đứng hồn dân tộc,
Mãnh liệt vươn lên vẫn lặng thầm.
Kiến Tường Mộc Hóa tràm hương dậy,
Rộn tiếng ong bay đón khách về.
Tắc rán xuồng cui màu nắng mật,
Đất trời thao thiết nỗi thương quê.
Canh chua bông súng, bông điên điển,
Nấu cá linh non xứ Tháp Mười.
Dân dã món quê mùa nước nổi,
Một lần cũng đủ nhớ khôn nguôi.
Long An trọn một tình sau trước,
Cả một đời tôi gửi chốn này.
Đã cảm thông nhau từ mấy độ,
Thân tình mời bạn hãy về đây.

TRẦN NGỌC HƯỞNG


*Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa
Trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua
(Ca dao)
** Thơ Nguyễn Thông

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

BẢO TỒN VÀ TU BỔ DI TÍCH -CHUYỆN KHÔNG BAO GIỜ CŨ -HỒ TỊNH

 

Thứ ba - 31/05/2022 03:49


     Từ khi loài người xây dựng những công trình kiến trúc đầu tiên trên thế giới thì sau đó không lâu người ta cũng đã đã biết cách tu sửa, tôn tạo các công trình ấy, do chưa có khái niệm về bảo tồn kiến trúc nên việc tu sửa, gia cố công trình được làm theo kinh nghiệm của từng dân tộc, từng vùng miền. Trải qua thời gian, nhiều công trình kiến trúc vẫn được bảo tồn với giá trị nguyên gốc nhưng cũng không ít công trình đã thay đổi, biến dạng so với ban đầu.

Tháp E7 Khu đền tháp Mỹ Sơn sau trùng tu

Hiện nay trên thế giới có một số quan điểm khác nhau về trùng tu di tích, dẫn đến sự ra đời của những trường phái khác nhau, mỗi trường phái có giải pháp bảo tồn và trùng tu di tích riêng. Theo điều kiện thực tế các loại hình di tích ở Việt Nam, chúng ta phải lựa chọn những phương pháp phù hợp để bảo tồn và trùng tu. Về mặt lý thuyết, cần tuân thủ nguyên tắc cơ bản mà trong Hiến chương Athens năm 1931 và hiến chương Venice năm 1964 đưa ra: Trùng tu trước tiên và trên hết là nhằm mục đích bảo tồn di tích. Đối với nước ta, Điều 34 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (2009) quy định: Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích.
Trong những năm qua, bên cạnh những kết quả khả quan về bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị di sản trong cả nước, góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế, du lịch, vẫn còn nhiều địa phương, kể cả thành phố Hà Nội - nơi có các cơ quan đầu ngành về quản lý văn hóa và bảo tồn di tích đã để xảy ra tình trạng tu bổ tùy tiện làm sai lệch yếu tố gốc, thậm chí tu bổ di tích theo kiểu phá cũ làm mới, vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản văn hóa. Nguyên nhân đầu tiên của tình trạng này là nhiều chủ đầu tư chưa thực hiện đúng những quy định của điều 34 Luật Di sản văn hóa. Nguyên nhân tiếp theo là nhiều đơn vị thiết kế, thi công và giám sát mặc dù đã có giấy phép hoạt động tu bổ di tích nhưng không có năng lực thật sự trong lĩnh vực này. 

Hiện nay, không ít người đã tham gia chương trình bồi dưỡng kiến thức về tu bổ di tích , tuy nhiên đó chỉ là những khoá đào tạo ngắn ngày , các chương trình bồi dưỡng kiến thức đó chưa đủ để tạo ra đội ngũ trùng tu di tích chuyên nghiệp.
Để giảm thiểu việc sai phạm trong tu bổ di tích, phải nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư, tăng cường công tác thanh tra kiểm tra và giám sát; chuyên môn hóa lực lượng cán bộ kỹ thuật và công nhân tu bổ di tích, đồng thời ban hành những quy chuẩn phù hợp với từng loại hình kiến trúc. Cần tổ chức phản biện xã hội rộng rải đối với các đề án, thiết kế tu bổ di tích, nhất là với các di tích quốc gia đặc biệt và các di sản văn hóa thế giới để tránh tình trạng chủ quan, tùy tiện.
Tu bổ di tích không phải là nghề xây dựng đơn thuần, đó là công việc có tính chuyên môn cao, từ giai đoạn nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng, lập dự án, thiết kế kỹ thuật, phê duyệt dự án, thiết kế, hạ giải công trình, đánh giá cấu kiện, thi công trùng tu, đến nghiệm thu, lập hồ sơ hoàn công. Theo quy định quản lý xây dựng cơ bản thì sau khi dự án, thiết kế, dự toán được phê duyệt sẽ thực hiện thi công, nhưng trong tu bổ di tích sẽ có nhiều vấn đề phát sinh sau khi hạ giải di tích mà khi thiết kế tu bổ không lường hết được, vì vậy cần có cơ chế đặc thù về điều chỉnh thiết kế, bổ sung dự toán cho tu bổ di tích.
Mỗi loại hình di tích có kỹ thuật xây dựng và vật liệu riêng, vì thế đòi hỏi sự sáng tạo, lựa chọn các giải pháp kỹ thuật trùng tu phù hợp cho từng di tích cụ thể. Đối với các di tích kiến trúc bằng gỗ như đình, chùa, hội quán, miếu, nhà cổ... cần phải dựa vào đặc điểm và hiện trạng của di tích để lập thiết kế tu bổ. Thực tế cho thấy, không ai có thể lường được tất cả các trường hợp phát sinh của di tích sau khi hạ giải, vì thế khi thiết kế tu bổ di tích phải dựa trên nguyên tắc chung là giữ gìn tối đa yếu tố nguyên gốc, chỉ trong trường hợp thật sự cần thiết mới thay bằng vật liệu mới.
Đối với các di tích kiến trúc cổ đang có người sinh sống, tiêu biểu là Đô thị cổ Hội An, nơi  được xem là một bảo tàng sống về lịch sử kiến trúc đô thị, lịch sử dân cư, phương thức bảo tồn và tu bổ các công trình kiến trúc ở Hội An cần đáp ứng được yêu cầu giữ gìn tối đa giá trị di sản và phù hợp với đời sống của cư dân khu phố cổ. Trong việc tu bổ các di tích ở Hội An, cùng với quan điểm bảo tồn tối đa các yếu tố gốc, cần quan tâm đến điều kiện sống của cư dân địa phương trong các ngôi nhà cổ, không thể bắt buộc người ngày nay sống với tiện nghi của thế kỷ 18 – 19, vậy nên cần có sự thích nghi trong sử dụng không gian nội thất các nhà cổ sao cho hài hòa, hợp lý.
Bảo quản và tu bổ các tháp Champa là công việc rất phức tạp, từ năm 1980 đến nay, nhiều khu tháp ở miền Trung, trong đó có Mỹ Sơn, Chiên Đàn, Khương Mỹ ở Quảng Nam đã và đang được tu bổ. Xác định tính chất của các di tích này là các phế tích kiến trúc khảo cổ học, do vậy công việc trùng tu các đền tháp Chăm được tiến hành theo trường phái trùng tu khảo cổ học, chủ yếu là bảo tồn nguyên trạng và gia cố chống sụt lở, tái định vị các thành phần bị dịch chuyển và phục hồi từng phần. Nhờ kinh nghiệm và những tìm tòi thể nghiệm của kiến trúc sư Ba Lan Kazimier Kwiatkowski, cộng với sự nhiệt tình của những người làm công tác trùng tu di tích Việt Nam, sau hơn 10 năm trùng tu, khu tháp Chăm Mỹ Sơn đã  được khôi phục lại phần nào dáng vẽ ban đầu của nó,
Về kỹ thuật trùng tu các kiến trúc Champa, hiện nay vẫn chưa có một sự thống nhất của các nhà khoa học, những người làm công tác tu bổ di tích vẫn chưa có một tiếng nói chung, các đơn vị đang thực hiện tu bổ di tích kiến trúc Champa, kể cả các chuyên gia nước ngoài như Italia, Ấn Độ, vẫn đang trùng tu thể nghiệm. Tại khu tháp Mỹ Sơn, một số dự án tu bổ di tích đã được thực hiện từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, về cơ bản cũng chỉ mới làm được một việc là giữ cho các công trình ở đây không bị tiếp tục hư hại, còn nói về kỹ thuật trùng tu thì những cách làm từ trước đến nay đều bộc lộ những yếu điểm riêng. Trong nghiên cứu khoa học, Viện Bảo tồn di tích và Viện khoa học công nghệ xây dựng là hai cơ quan hàng đầu ở TW có chức năng bảo quản, tu bổ di tích vẫn chưa có sự hợp tác nghiên cứu về bảo tồn, tu bổ tháp Champa, đương nhiên trong chuyện làm ăn kinh tế phải cạnh tranh, nhưng cũng cần có sự hợp tác để phát triển sự nghiệp bảo tồn di tích.
Cũng cần nhắc lại Hội thảo khoa học “Ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn di tích Chăm trên địa bàn Quảng Nam” do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức vào ngày 29/6/2915 cùng với những kết quả nghiên cứu, phân tích về gạch Chăm ở Quảng Nam, các nhà khoa học thuộc Đại học năng lượng Moskva đề ra giải pháp bảo quản bề mặt tháp Champa bằng công nghệ hóa chống thấm và công nghệ tôi bề mặt gạch,  tuy nhiên từ đó đến nay vẫn chưa có tiến triển mới về sự hợp tác bảo tồn di tích Champa bằng công nghệ cao.
Theo ý kiến cá nhân, tôi cho rằng nên xem xét lại phương pháp trùng tu tháp Champa hiện nay, việc mài tỉ mỉ từng viên gạch, mất nhiều thời gian và kinh phí nhưng hiệu quả không cao, độ bền kém; khi thi công, chỉ cần mài ở 2 mặt tiếp xúc trên và dưới của viên gạch để tạo mặt phẳng tốt là đủ, cần giữ lại lớp “áo” tiếp xúc bên ngoài tường tháp để hạn chế sự xâm thực của mưa gió và nấm mốc.
Những năm gần đây, có một số kiến trúc sư không làm việc trong các cơ quan nhà nước muốn cống hiến trí tuệ vào việc bảo tồn, tu bổ di tích. Từ thực tế loại gạch được sản xuất hiện nay để tu bổ tháp Champa vẫn còn những hạn chế dẫn đến tình trạng gạch bị rêu mốc nhanh, bị muối hóa… ảnh hưởng đến chất lượng công trình, KTS Lê Trí Công đã nghiên cứu về thành phần đất sét và chất phụ gia trong gạch xây tháp Champa; từ kết quả đối sánh một số mẫu gạch Chăm cổ đã được các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước phân tích, tham khảo một số thực nghiệm làm gạch cổ trên thế giới, Lê Trí Công đã làm thực nghiệm trộn phân bò cùng một số chất phụ gia vào đất sét để làm gạch tại Mỹ Sơn, kết quả cho thấy khi thêm phân bò vào đất sét sẽ làm thay đổi đặc tính của đất sét, cải thiện độ dẻo và độ xốp, giảm vết nứt khi nung. 
Tính chất cơ lý của gạch thực nghiệm rất gần với gạch Chăm cổ, tuy nhiên các thông số hóa học có khác vì chưa tìm ra nguồn đất làm gạch giống ngày xưa. Do điều kiện kinh phí cá nhân hạn chế nên Lê Trí Công không thể tổ chức thực nghiệm chế tác gạch Champa với quy mô lớn hơn. 
KTS Cao Quảng Tổng với công trình nghiên cứu “Phật viện Đồng Dương và kinh đô Indrapura”, nội dung cuốn sách trình bày lại những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước từ đầu thế kỷ XX đến nay, đồng thời cũng cung cấp thêm những chứng cứ, nhận định cho thấy di tích Đồng Dương là một phần của kinh đô Indrapura trong lịch sử Vương quốc Champa xưa. Dựa vào những bản vẽ tay của Parmentier và những ảnh chụp hiện trạng của Carpeaux – những người trực tiếp khai quật di tích năm 1902, tác giả đã thực hiện phục dựng 3D kiến trúc khu trung tâm Phật viện, cung cấp một cái nhìn trực quan, sinh động về vẻ đẹp huy hoàng một thời của di tích, qua đó đề xuất những ý kiến về công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích Đồng Dương. Những những kết quả nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và ý kiến đề xuất tâm huyết về bảo tồn di tích của các KTS này cần được sự quan tâm hỗ trợ, hợp tác của các cơ quan, viện nghiên cứu về bảo tồn, tu bổ di tích và ngành văn hóa…
Vừa qua, với mục đích tham mưu Bộ VHTTDL ban hành tiêu chuẩn Việt Nam về bảo tồn và tu bổ di tích Champa, ngày 13.4.2022, tại TP. Đà Nẵng, Viện Bảo tồn di tích đã tổ chức hội thảo “Đóng góp ý kiến khoa học xây dựng dự thảo Tiêu chuẩn Việt Nam: Bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích kiến trúc nghệ thuật – Yêu cầu vật liệu và kỹ thuật thi công, nghiệm thu đền tháp Champa”. Đây là hội thảo rất quan trọng đối với công tác bảo tồn di sản văn hóa Champa. Hy vọng sau hội thảo này, ban soạn thảo sẽ xây dựng bộ tiêu chuẩn có chất lượng khoa học cao, mang tính thiết thực, đóng góp hiệu quả cho công tác bảo tồn, tu bổ các di tích Champa…

TÁC GIẢ HỒ XUÂN TỊNH

Nguồn : từ Facebook của tác giả Hồ Tịnh
Bài đã đăng trên trang Thông Tin điện Tử Trung Tâm Văn Hoá Tỉnh Quảng Nam.

h

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2022

VỀ CHI - THƠ NGUYÊN LẠC

 


                                                   Ảnh của TỊNH HỒ


VỀ CHI?
.
Hỏi quê cây cỏ lắc đầu 
Hỏi chiều chim vịt kêu sầu bên nương
Hỏi mây biếc thẫm tà dương
Hỏi mùa gió chướng lạnh luồn lách lau!
Hỏi tình tôi biết hỏi đâu?
Hỏi tôi sao lại quay đầu về chi?
Đã rồi cuộc ấy ra đi
Ra đi có nghĩa biệt li nghìn trùng!
Bể dâu trời đất não nùng?
Tìm chi quá khứ mịt mùng mây trôi
"Nước sông Hoàng bất phục hồi" [*]
Làm sao níu được dòng đời mà mong?
Bâng khuâng Từ Thức nhớ không?
Ngẩn ngơ chốn cũ... Thôi đành thế thôi!
Thôi thì trở lại phương mây
"Chong khuya khêu nguyệt" tháng ngày buồn tênh!
..............
[*] Thơ Lý Bạch
.
NGUYÊN LẠC