CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023

NGUYỄN BẮC SƠN: NHƯ MỘT NHÀ THƠ ĐÔNG PHƯƠNG - LƯƠNG MINH VŨ


(Nhân Tập Sách “Nguyễn Bắc Sơn - Tác Phẩm & Dư Luận”. NXB Hội Nhà Văn Vừa Xuất Bản)


DỌC ĐƯỜNG VĂN NGHỆ
 
Trong quá trình viết lách, mình sợ và ngại nhất mảng viết nhận định, lý luận phê bình, khảo cứu, tiểu luận...
Thực tế mình thường "né", hay thoái thác khi được "đặt bài"
Ở lĩnh vực này, mình nghĩ cũng khó như (hay hơn) sáng tác.
Ở lĩnh vực này, người viết cùng với sự uyên bác, uyên thâm trong kiến thức, kiến văn, còn có sự quyết liệt, sòng phẳng và hòa ái, thâm trầm.
 
Mình đã từng ngây ngất, sung sướng, bàng hoàng khi đọc các tiểu luận, nhận định của Võ Phiến, Chơn Hạnh Trần Xuân Kiêm, nhất là Phạm Công Thiện và Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu...
 
Thế mà khi anh H.H.Â. biên tập cho tạp chí Văn Nghệ Bình Thuận, nhờ viết bài về Nguyễn Bắc Sơn, nhân dịp gia đình anh vừa xuất bản tập "Nguyễn Bắc Sơn tác phẩm và dư luận" mình đã nhận lời.
Đơn giản là vì anh với mình là anh em thân tình từ trước 1975.
Những năm mình lớp 7, lớp 8, anh, lúc ấy đã thành danh, cùng với nhà thơ Sương Biên Thùy (Lê Văn Chính, Lê Mai Lĩnh) đỡ đầu Thi Văn Đoàn Quê Mẹ của bọn mình ở Phan Thiết.
Bài viết dù còn sơ sài, phiến diện, nhưng xem như một nén tâm hương tưởng nhớ anh.
 
Có một điều ngộ và vui là sau khi tạp chí VN Bình Thuận đăng. Tuần báo Văn Nghệ (HNV) cũng đăng. Có một người bạn nhà thơ, quen nhau ở trại sáng tác Hà Nội từ năm 2002. Tình cờ đọc báo VN, biết mình vẫn còn sống (Hiiihi) đã tìm cách liên lạc...


Dọc đường Văn nghệ, đôi khi ta gặp những niềm vui nho nhỏ như vậy đấy...
 
NGUYỄN BẮC SƠN: NHƯ MỘT NHÀ THƠ ĐÔNG PHƯƠNG

       
“Ở Đời Như Một Nhà Thơ Đông Phương” là tên một bài thơ cùa Nguyễn Bắc Sơn. Trước, tôi không biết đến bài thơ này, dù đã đọc và thuộc thơ ông khá nhiều. Lý do là kẻ hậu bối. Không đọc được bản gốc tập “Chiến Tranh Việt Nam và Tôi” đã tuyệt bản sau năm 1972. Cho đến sau bảy lăm. Khi xuất bản tập thơ thứ hai. Ông đã in và lấy tên bài thơ này làm tựa chung cho cả tập. Lúc ấy, tôi cứ tưởng bài thơ mới làm. Nhưng khi trò chuyện, được ông cho biết, đó là bài thơ cũ, in lại. Nó đã có trong tập “Chiến tranh Việt Nam & Tôi”. Và tôi cũng vỡ lẽ…
 
       
Bài thơ ngắn, “hiền hòa”, khiêm tốn. Có vẻ bị “chìm” bên cạnh những bài thơ khác đầy u uất và dữ dội, bi thiết và bi tráng rất nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi đến tận bây giờ. Nội dung bài thơ, thể hiện một cách nhìn, một cảm quan của ông với vũ trụ nhân sinh. Nó phản phất bóng dáng của Kahlil Gibran, Tagore… là những tên tuổi thời thượng, đang được ưa chuộng ở miền Nam thời bấy giờ. Những phát lộ kiểu như: “hiểu được giọt nước là hiểu cả đại dương. Ngồi một chỗ mà thấu triệt càn khôn vũ trụ. Cái Brahman vĩ đại nằm trong cái Atman vi tế. v.v…” Nghĩa là không mới lạ với những ai quen với truyền thống văn hóa và triết luận đông phương, nhất là với tư tưởng Phật giáo.
       
Và tôi đồ rằng, đây cũng không phải là bài thơ tâm đắc nhất của ông.       
Vậy thì tại sao ông lại chọn nó làm chủ đề cho tập thơ thứ hai (cũng là tập cuối cùng) ra đời sau thời gian rất lâu sau tập “Chiến Tranh Việt Nam & Tôi” nổi tiếng với nhiều bài thơ hay, với biết bao chủ đề thế sự nóng bỏng và hiện đại cho ông lựa chọn?      
Tôi cho rằng: Tất cả đều nằm trong lý tưởng, khát vọng và hoài vọng của Nguyễn Bắc Sơn.      
Tôi cho rằng: Nhà-Thơ-Đông-Phương là một hình tượng mà suốt đời, bằng cả ý thức và vô thức, ông khát khao vươn tới. Nhà-Thơ-Đông-Phương, trong tâm thức ông, không chỉ là một người làm thơ ở phương đông. Mà nó còn mang một thuộc tính cao cả hơn nhiều: Là một hiền triết phương đông, một tiên tri thấu thị, hay xa hơn: một Bồ-Tát-Nghệ-Sĩ (Bodhisattva-Artiste).        
Và ông đã thất bại. Vì khát vọng luôn là ảo vọng. Lý tưởng là ảo tưởng. Dĩ nhiên ông cũng hiểu được điều này. Lý tưởng cao cả luôn mâu thuẩn với thực tế thấp hèn. Biết vậy nhưng ông không cam tâm. Ông vùng vẫy trong sự thất bại đó. Và người ta gọi sự vùng vẫy đó là THƠ. Còn với ông, thơ chỉ là cách để ông vơi đi khối mâu thuẩn, sự dằn vặt, nỗi cô đơn u uất. Thơ là cách để ông bày tỏ thái độ với thực tại cuộc sống. Mà cuộc sống thời ông đầy những bi kịch của một thế hệ tuổi trẻ đã trực tiếp tham dự chiến tranh, trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Nói cách khác, thơ đối với ông chỉ là phương tiện, không phải cứu cánh.      
Thấy được điều này, sẽ cho ta dễ dàng hơn, khi tiếp cận, tìm hiểu thi pháp Nguyễn Bắc Sơn.
      
Vậy thi pháp Nguyễn Bắc Sơn là gì?      
Thật ra, đặt vấn đề thi pháp là do những người yêu thích thơ ông. Họ muốn hiểu quy luật, căn nguyên nào chung quanh những câu chữ, khiến người ta rung cảm, xao xuyến. “Bí quyết” gì khiến những bài thơ hay. Chứ còn đối với ông, tôi nghĩ, chẳng thi pháp gì cả. Nói thi pháp là nói đến hình thức biểu hiện. Mà ông thì không bận tâm đến hình thức. Nội tâm ông tiếp nhận ngoại vật, cọ xát, va chạm, xung đột. Và nội tâm phản ứng bằng cách bật ra thơ. Vậy thôi.
    
Và cái cách “bật ra thơ” của ông cũng rất đặc biệt, khác người: nói thẳng, nói huỵch toẹt.  Không ngại sỗ sàng và dung tục. Nó gần với văn xuôi hơn là thơ. Một thứ văn xuôi không cần trau chuốt, gọt giũa, bất chấp tu từ pháp. Có lúc như văn nói: “Khi tao đi lấy khẩu phần/ Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao/ Chúng mình nhậu để trừ hao”//“Vì đàn bà người nào cũng như người nấy/…nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy”/… /“Tôi không muốn tranh luận về vấn đề mại dâm/…nếu không có các nhà điếm tại bốn quận miền bắc”…và còn nhiều nữa… Tức là cái đích của ông không phải là một bài thơ, một tác phẩm hoàn bích, toàn mỹ. Phải chăng, mục đích của ông khi làm ra những bài thơ, là tự nó sẽ quay lại an ủi, xoa dịu tâm hồn ông. Giúp ông tìm sự thăng bằng trong cuộc sống.
        
Cho nên về hình thức, ông thường dùng thể thơ bảy, tám chữ, thơ tự do, rất ít thể lục bát. Không có ngũ ngôn tứ tuyệt, là một thể cùng với thể haiku là đặc trưng của thi ca đông phương: kiệm chữ, ẩn dụ, ý tại ngôn ngoại. Mỗi chữ đều có sức nặng, không thể thay đổi hay thêm bớt.
       
Chính vì không coi trọng hình thức nên đã gây ít nhiều khó khăn cho những người nghiên cứu tìm hiểu thơ ông. Tôi đã đọc nhiều dị bản của cùng một bài thơ. Những câu chữ, những đoạn thơ thay đổi hay đảo ngược lung tung. Đến tựa bài cũng vậy: khi thì “Tâm hồn trẻ thơ”, lúc thì “Một ngày nhàn rỗi”. Khi thì “Mai sau dù có bao giờ”, lúc thì “Tình bạn và tình yêu”.v.v…mới đây, tập “Nguyễn Bắc Sơn. Tác phẩm & Dư luận” vừa xuất bản, cũng có một bài thơ lại in hai lần với hai tên khác nhau. Một với tựa “Hoa quỳ vàng lạnh Pleiku”(trang 64) và “Thiếu nữ” (trang 112) nhưng bài trước lại thêm vào 26 câu nữa. Cũng trong tập sách này, không hiểu vì sao lại thiếu một bài thơ hay của Nguyễn Bắc Sơn. Bài thơ thế sự nổi tiếng, được nhiều người biết đến. Đó là bài: “Chuyện hai bố con tôi” rất tiêu biểu phong cách NBS: chua chát, bi phẫn và thâm trầm… Với một cuốn sách như một tổng tập về đời thơ NBS, mà thiếu bài thơ ấy, dù vì lý do gì, cũng thật đáng tiếc.
       
Có một bài thơ tình của Nguyễn Bắc Sơn mà tôi rất yêu thích: bài “Mùa thu đi ngang qua cây phong du”. Bài thơ thật hay và gây ám ảnh với tôi, lại cũng có hai dị bản. Những câu chữ, hình ảnh, dư âm, tiết tấu… tất cả đều đẹp và sang trọng và buồn. Đẹp và buồn đến nao lòng… “Nơi lầu cao, khung cửa sổ đìu hiu / Soi thấp thoáng ngọn đèn hoa thiếu nữ / Những sợi tóc rụng trên chồng sách cũ / Vì tuổi thanh xuân theo nước lũ trường giang / Những chuyến xe đò đêm đêm băng ngang / Rớt tiếng động khơi nỗi sầu viễn xứ / Bầy chim én đã bắt đầu tư lự / Ngủ âm thầm trên những đường dây cao”/…Và bài thơ kết ở câu: …/ “Đi ngang qua / đi ngang qua / Đi ngang qua, không dừng bên đời nhau” /…quá hay. Sau câu kết, dường như còn một khoảng trống mông lung, mờ mịt. Một nỗi ngậm ngùi, u hoài thăm thẳm và vô tận. Và chính khoảng trống ấy lại đắc địa. Vì nó gợi trí tưởng tượng cho người đọc. Nó giống như những chỗ để trắng trong tranh thủy mặc của hội họa phương đông. Đến khi tôi đọc dị bản 2. Cũng hoàn toàn giống bài thơ đầu, chỉ khác duy nhất một câu kết. Sau “Đi ngang qua, không dừng bên đời nhau”, lại thêm vào câu: “Hẹn gặp nhau ở nhất nguyên thế giới”. Tôi bỗng ngỡ ngàng, hụt hẫng và đâm… bực. Cả bài thơ là những lời tự tình, thủ thỉ những nỗi niềm, những mất mát, chia lìa của tình nhân trong cõi đời tục lụy. Vậy thì cứ để sự chia lìa, mất mát nó trôi vĩnh viễn vào cõi vô cùng, để lại một nỗi buồn làm thăng hoa, thanh lọc tâm hồn. Cần gì phải kết thúc có hậu. Hà cớ gì phải hẹn gặp lại nhau. Mà lại gặp ở chỗ “nhất nguyên thế giới”. Đối tượng thơ là tình nhân, là người nữ, chứ có phải triết gia, đạo sĩ gì đâu mà biết “nhất nguyên thế giới” là chỗ nào. Đến tác giả, có khi cũng chẳng biết “nhất nguyên thế giới” là chỗ quái nào. Tôi đã nói tất cả những điều ấy khi gặp lại ông. Ông lại cười khà khà, trả lời tỉnh queo: “Mày nói cũng hay thiệt, nhưng có người lại khoái câu kết đó. Vậy khi đọc bài thơ đó, ai thích thì đọc hết, còn mày thì bỏ câu đó ra”. Hết biết! vậy đó. Thì đã bảo Nguyễn Bắc Sơn không bận tâm đến thi pháp mà.
       
Nhưng có một điều dễ nhận thấy trong thơ Nguyễn Bắc Sơn. Đó là sự chân thành và chân thật. Nghĩ sao viết vậy, cho dù nó trần trụi, thô bỉ. Miễn sao nói hết nỗi lòng: “Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt /…Ôi mắt em nhìn như là bẫy chuột” /… “Ta sẽ đóng vai người thợ thiến / Chuyên môn đi thiến vòi / Những thằng điên / Những chính trị gia / Những kẻ say mê giết người vì lý thuyết / những nghệ sĩ viễn mơ / Ta thiến tuốt…”/… Trong văn chương nghệ thuật, sự chân thật là điều kiện tiên quyết, cho dù anh biểu đạt bằng bất cứ thủ pháp nào. Mà sự chân thật có vẻ gần với nôm na, dung dị hơn là màu mè, làm dáng. Nếu có một thi pháp Nguyễn Bắc Sơn, thì có lẽ chính là điều này chăng?
    
Có vẻ có sự trái ngược, mâu thuẩn nhau giữa khát vọng, lý tưởng và cách biểu đạt trong thơ Nguyễn Bắc Sơn. Mê đắm thơ phương đông. Nhưng ông không dụng công theo kiểu “Nhị cú tam niên đắc” của các nhà thơ phương đông. Ông làm thơ dễ dàng và có phần dễ dãi về cuối đời. Đông phương là khe lạch của suối nguồn trong trẻo, thanh cao. Là tĩnh lặng trong an nhiên. Còn thơ NBS thì phàm tục, ồn ào, vang động, sôi sục với bao hỉ, nộ, ái, lạc. Nó ngổn ngang như đống gạch đá của ngôi nhà bị tàn phá bởi chiến tranh. Cách biểu đạt của ông có vẻ gần gủi với giới nghệ sĩ Hiện-sinh tây phương hơn.
      
Nhưng nếu để ý, ta sẽ thấy đằng sau những bài thơ ngông nghênh, kiêu bạt, ngang tàng, ẩn dấu một tâm hồn nhân hậu, thơ ngây và cực kỳ nhạy cảm rất phương đông. Bên cạnh ngôn ngữ hiện đại là sự hoài cổ, ngưỡng vọng văn hóa và triết học đông phương. Đặc biệt ông vô cùng say mê tư tưởng Phật giáo. Và ông tìm cách thể hiện sự hoài vọng của mình bất cứ khi nào có thể. Bất chấp đến sự toàn mỹ của bài thơ. Câu kết  “Hẹn gặp nhau ở nhất nguyên thế giới” vừa nêu trên là một ví dụ. Thì đã bảo, với ông, thơ không là cứu cánh mà. Cho nên, trong thơ ông xen vào nhiều từ Hán-Việt, nhiều hình ảnh, điển tích đông phương: Thảo khấu. Giang hồ hảo hán. Ván cờ thiên cổ. Mộng hoàng lương. Bản lai diện mục. Nhạn môn quan. Thương Kiều Phong nhớ tiếc Kiều Phong. Tráng sĩ loạn Xuân Thu. Khi gã Yếu Ly đâm Khánh Kỵ. Anh hùng Lương Sơn Bạc. Thổi ấm Kinh Thi lạnh hồn Kinh Dịch… Và còn rất nhiều nữa…Nhưng lạ là cái kiểu pha trộn hỗn tạp ấy lại gây bất ngờ, độc đáo và…hay. Thêm nữa, cái cách bông phèng, bỡn cợt, cái chất uy-mua trong thơ ông cũng rất đông phương. Phải chăng là chất hý lộng của Trang Tử được thể hiện bằng ngôn ngữ hiện đại, cùng một kiểu hý lộng của Bùi Giáng, một thi sĩ mà sinh thời Nguyễn Bắc Sơn luôn kính nể và ngưỡng mộ: “Bên cạnh nhà tôi / Sống một kẻ láng giềng / Y thường phóng uế trước nhà / Khi con gà nòi của Y đi lạc / Y nhìn vào nhà tôi / Và chửi thề như máy / Tôi định đến mùa hè này / Sẽ đá y một đá”/… Và những bài thơ gần cuối đời, ông tặng bạn bè: … “Sư phụ Nguyễn Du, đại ca Nguyễn Trãi / Chuyện tình yêu khó nói đúng hay sai /…Trời sinh hai đứa bốn bờ môi /Hễ môi hở, ắt là răng lạnh / Chi bằng úp lại úm cho vui / Đù má! Tình yêu mà cũng cấm / Thời đại mình bực muốn bức gân / Nhưng ta ạ! bực mình bình mực”…/…Thú thật, đã quen thích với thứ văn chương diễm lệ, hàn lâm, tôi không hợp lắm kiểu thơ như vậy. Nhưng khi đọc lên, cũng không khỏi bật cười. Và nhớ lại, thơ đối với ông chỉ là phương tiện, là trò chơi để giải tỏa và che giấu nỗi buồn, nỗi cô đơn u uất thôi mà. Nghĩ vậy và thương cảm với ông hơn.
     
Có một nhà văn đã nhận xét: Đọc thơ Nguyễn Bắc Sơn không nên đọc bằng mắt, mà nên đọc lên bằng lời, mới thấy thấm, thấy “đã”. Có lẽ đúng như vậy. Và tôi có một kinh nghiệm về chuyện này: năm 2002, ở Hà Nội, trong một cuộc nhậu thâu đêm cùng anh em văn nghệ. Đang rôm rả chuyện thế sự, văn chương. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo bỗng nhắc đến Nguyễn Bắc Sơn với những lời lẽ tán dương. Bỗng nhà thơ Tạ Văn Sỹ, người chưa từng gặp gỡ NBS, cảm khái đọc bài thơ “Mật khu Lê Hồng Phong”. Trời ạ! Không khí bất ngờ như đông lại, chùng xuống. Tất cả im phăng phắc. Chất giọng sang sảng, trầm hùng, tha thiết của Sỹ đã tác động mãnh liệt đến mọi người. Tôi còn nhớ, lúc ấy mình đã chấn động tâm can đến thế nào. Bài thơ quá quen thuộc đối với tôi, bỗng trở nên mới mẻ, lạ lẫm, cùng với bao cảm xúc cũng mới lạ trào dâng… Lúc ấy, tôi chợt hiểu, vì sao nhà thơ Anh Ngọc, đại tá quân đội, người cùng thế hệ, cũng tham dự chiến tranh, nhưng đứng ở hai phía chiến tuyến, lại thân thiết, quý mến Nguyễn Bắc Sơn đến vậy. Rồi lại nghĩ đến sự tác động ghê gớm của văn chương nghệ thuật. Nó có khả năng hòa giải, hòa hợp, nó xóa nhòa những định kiến, ranh giới và đưa con người gần gủi với nhau hơn.
       
Viết về Nguyễn Bắc Sơn thật khó. Không chỉ vì ông rất nổi tiếng từ khi mới xuất hiện. Đã chiếm một vị trí đặc biệt trên thi đàn miền Nam trước bảy lăm. Không chỉ vì nhiều người đã viết về ông. Trong đó có những nhà văn, nhà thơ tên tuổi, nhà phê bình uy tín với những bài viết khen ngợi nồng nhiệt. Và những gì thuộc về Nguyễn Bắc Sơn, cả sở trường, sở đoản, người ta đã nói hết rồi. Với tôi, cái khó ở chỗ: Nguyễn Bắc Sơn là một khối phức tạp và thơ ông cũng vậy. Mặc dù nó dễ hiểu, không bí hiểm như những nhà thơ của trào lưu hiện đại. Đọc thơ ông, ta cảm thấy hay. Nhưng lại khó phân tích hay chỗ nào? Tại sao hay? Vì cái hay của thơ Nguyễn Bắc Sơn khó xếp vào một quy chuẩn, một hệ thẩm mỹ nào. Ta đọc lên, bằng trực giác, ta thấy hay. Vậy thôi. Tất nhiên, ông cũng có những bài, những câu thơ chưa hoặc không hay. Và ngay cả điều này, nó cũng khiến người đọc băn khoăn, lạ lùng với cách tư duy của ông. Phải chăng đó là thuộc tính thơ Nguyễn Bắc Sơn. Cũng là thuộc tính của thi ca nói chung: muôn đời bí ẩn, khó thể nghĩ bàn. Đến đây, tôi bỗng nhớ một bài thơ của thi sĩ Bùi Giáng. Bài thơ lâu rồi tôi không nhớ tên. Hình như in trong tập “Sa mạc trường ca”. Xin chép ra đây để kết thúc bài viết: “Bắt chước ông Khổng Tử, ta nói: / Con chim thì ta biết nó bay/ Con cá thì ta biết nó lội/ Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ/ Nhưng thơ là gì?/ Điều đó, quả thật ta không biết.”/

                                                        Lagi 9 – 2019
                                                      LƯƠNG MINH VŨ


Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2023

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 95 : SONG, SÔNG. - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 


THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 95 : 

                              SONG, SÔNG 

                              


                                     Song Sa vò võ phương trời,
                                 Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
      
       SONG SA 窗紗: SONG là cửa sổ, SA là Vải the hay lụa mỏng, nên SONG SA là rèm che cửa sổ bằng luạ hay vải the mỏng. Khi lần đầu tiên hội ngộ với Kim Trọng từ trưa đến xế chiều, Thúy Kiều đã phải :

                       Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
                  Giã chàng, nàng mới kíp rời SONG SA.

       Còn khi một thân một mình thui thủi ở lầu xanh hết ngày này qua tháng nọ thì cụ Nguyễn Du đã tả hình bóng của Thúy Kiều một cách thật tội nghiệp :

                       SONG SA vò võ phương trời,
                  Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
                          Lần lần thỏ bạc ác vàng,
                 Xót ngưòi trong hội đoạn tràng đòi cơn !

       SONG HỒ 窗糊 : là cửa sổ được dán bằng giấy dầu có áo một lớp hồ cho cứng. Ngày xưa chưa có pha lê, nên cửa sổ thường được dán giấy hồ, gọi là CHỈ HỒ SONG 紙糊窗 để che gió che mưa. Ta thường gọi là SONG HỒ. Trong truyện thơ Nôm Bích Câu Kỳ Ngộ tả khi anh chàng Trần Tú Uyên mua được bức tranh của Giáng Kiều thì cứ treo ở trong phòng ngắm mãi không thôi :

                      Mưa hoa khép cánh SONG HỒ,
                   Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi.

       Còn chàng Kim Trọng si tình thì khi đã mướn được căn nhà gần nhà của Thúy Kiều thì mỗi ngày cứ :

                         SONG HỒ khép nửa cánh mây,
                 Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.

                     

       SONG HUỲNH : 螢 HUỲNH là con đom đóm; nên SONG HUỲNH là Cửa sổ có ánh sáng của con đom đóm. Theo Xa Dận Truyện trong Tấn Thư 《晉書·車胤傳》có ghi lại tích : 
       XA DẬN 車胤 (333-401), tự là Võ Tử, văn học gia đời Đông Tấn, làm quan đến chức Lại Bộ Thượng Thư. Lúc nhỏ nhà nghèo, không có tiền mua dầu thắp đèn để học; trong những đêm hè ông phải bắt thật nhiều đom đóm bỏ vào trong bọc, rồi nương theo ánh sáng của các con đom đóm mà đọc sách, học hành. Vì tích nầy mà hình thành thành ngữ NANG HUỲNH DẠ ĐỘC 囊螢夜讀 là "Bắt đom đóm bỏ vào bọc để học ban đêm".
      Trong văn học cổ dùng SONG HUỲNH, TRƯỚNG HUỲNH hay HUỲNH SONG để chỉ phòng học, nơi học tập. Như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của vua Lê Thánh Tông có câu :

               Củi quế, gạo châu, kham khổ nằm chung trường ốc;
               SONG HUỲNH, án tuyết, dùi mài mến nghiệp thi thư.

      Trong Truyện Kiều, khi Thúy Kiều chia tay với Kim Trọng về đến nhà, thấy cha mẹ đi mừng thọ ngoại gia còn chưa về, nàng bèn "Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" đi tìm Kim Trọng lần nữa, trong cảnh :

                         Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
                  Ngọn đèn trông lọt TRƯỚNG HUỲNH hắt hiu.




      SONG ĐƯỜNG 雙堂 : là XUÂN ĐƯỜNG 椿堂 và HUYÊN ĐƯỜNG 萱堂.
      * XUÂN ĐƯỜNG 椿堂 còn đọc là THUNG ĐƯỜNG. Theo sách Trang Tử, chương Tiêu Dao Du 莊子·逍遙遊, thì XUÂN 椿 là loại cây cao bóng cả, tàng lá sum xuê, có tám trăm năm là mùa xuân, tám trăm năm là mùa thu, nên được dùng để ví với người cha là cột trụ chống đỡ và che chở cho gia đình. Nên XUÂN ĐƯỜNG là CHA.
      * HUYÊN ĐƯỜNG 萱堂 : HUYÊN 萱 là một loài thảo mộc được trồng trong nhà như cây Trường sinh, lá thon dài, nở hoa màu vàng và cho hương thơm dìu dịu, ăn được, ta thường gọi là Hoa KIM CHÂM, dùng để chỉ sự dịu dàng của người mẹ; nên HUYÊN ĐƯỜNG là MẸ.
      SONG ĐƯỜNG là CHA MẸ, như trong truyện thơ Nôm "Phạm Tải Ngọc Hoa" có câu :

                          Một là tủi phận thẹn gương,
                      Hai là báo đáp SONG ĐƯỜNG mà lo.

      Trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du gọi là HAI ĐƯỜNG, khi tả ông bà Vương viên ngoại cùng Thúy Vân và Vương Quan đi mừng sinh nhật ngoại gia :

                        Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
                     Trên HAI ĐƯỜNG dưới cùng là hai em,
                        Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
                     Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.



          
       SÔNG DỊCH chữ Nho là DỊCH THỦY 易水, bắt nguồn từ Huyện Dịch của vùng Trực Lệ, thuộc tỉnh Hà Bắc hiện nay. Theo Chiến Quốc Sách 戰國策 : Con sông nổi tiếng với tích Thái tử Đan của nước Yên đưa Kinh Kha sang sông để hành thích Tần Thủy Hoàng, với tiếng tiêu đưa tiễn bạn của Cao Tiệm Ly, nổi tiếng với lời ca khảng khái hào hùng :

                風蕭蕭兮易水寒,   Phong tiêu tiêu hề... Dịch Thủy hàn,
               壯士一去兮不復還。  Tráng sĩ nhất khứ hề... bất phục hoàn !
Có nghĩa :
              Gió hiu hắt nầy... đây sông Dịch lạnh,
              Tráng sĩ ra đi nầy... chẳng hẹn ngày về ! 

      Trong Hoài Cổ Khúc của Tương An Quận Vương Nguyễn Phúc Miên Bảo có câu :

                      Sắp lưng quày quả lên yên,
                Bóng lìa sông Dịch, thây tan cung Tần !

      Trong bài thơ Tống Biệt Hành của thi sĩ Thâm Tâm thời tiền chiến, đoạn cuối có câu :

                   Sông Hồng chẳng phải xưa Sông Dịch
                   Ta ghét hoài câu ...“nhất khứ hề”...


                 Sông Dịch                                Sông Hồng

      SÔNG NGÂN hay NGÂN HÀ 銀河 hoặc NGÂN HÁN 銀漢 gì đều chỉ Giải Thiên Hà 天河 là dải sao dày đặc vắt ngang lưng trời trông mờ mờ như dòng sông bạc, với truyền thuyết về truyện tình của Ngưu Lang và Chức Nữ mà trong dân gian Trung Hoa và Việt Nam không mấy người không biết đến. Trong Tứ Thời Khúc Vịnh của Hoàng Sĩ Khải có câu :

                        SÔNG NGÂN đã bắc nên cầu,
                     Kẻo lòng Ngưu, Nữ lo âu cách lìa.

        Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm thì gọi là NGÂN HÁN khi ngắm sao nhớ người chinh phu ở nơi xa :

                         Bóng NGÂN HÁN khi mờ khi tỏ,
                         Độ Khuê triền buổi có buổi không.




       SÔNG TẦN tức TẦN XUYÊN 秦川. Vì từ XUYÊN có nghĩa là dòng sông, nên nhầm là Sông Tần; Thực ra TẦN XUYÊN là chỉ dải đất đồng bằng rộng lớn từ Lũng Sơn đến Quảng Đông, là vùng đất Trung nguyên, là nơi nhiều người quần cư, nên TẦN XUYÊN là từ phiếm chỉ Quê Hương, như trong Nhạc Phủ đời Ngụy Tấn bài Lũng Đầu Ca Từ《隴頭歌辞》魏晋樂府 có hai câu như sau :

                   遙望秦川,   Dao vọng Tần Xuyên,
                   心肝斷絕。   Tâm can đoạn tuyệt.
Có nghĩa :
                   Tần Xuyên trông ngóng xa xa,
              Lòng đau như cắt nhớ nhà khôn khuây.

      Trong Truyện Kiều lúc tiễn đưa Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, Thúy Kiều và Thúc Sinh đã chia tay đầy lưu luyến :

                     SÔNG TẦN một dải xanh xanh,
                 Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.
                     Cầm tay dài ngắn thở than,
                Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời...
 
                     
       SÔNG TƯƠNG là TƯƠNG GIANG 湘江, còn gọi là TƯƠNG THỦY 湘水, là một nhánh lớn của sông Trường Giang chảy qua Quảng Tây, Hồ Nam, Trường Sa rồi đổ vào Động Đình Hồ. Tương truyền khi vua Thuấn đi tuần ở miền Nam, ngã bệnh và mất ở đất Thương Ngô. Hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm chồng và cùng tự trầm ở dòng sông Tương nầy. Trong một khúc cổ cầm có tựa là Tương Giang Oán 湘江怨 với lời từ của Lương Ý Nương 梁意娘, một nữ sĩ Hậu Chu đời Ngũ Đại ở đất Hồ Nam, trong đó nổi tiếng với các câu :

                   君在湘江頭,  Quân tại Tương Giang đầu,
                   妾在湘江尾。  Thiếp tại Tương Giang vĩ.
                   相思不相見,  Tương tư bất tương kiến,
                   淚滴湘江水。  Lệ trích Tương Giang thủy !
Có nghĩa :
               Chàng ở đầu sông Tương,
               Thiếp ở cuối sông Tương.
               Nhớ nhau mà chẳng gặp được nhau,
               Giọt lệ nhớ thương cùng nhỏ xuống dòng sông Tương !

Một dị bản của câu cuối là :
                   同飲湘江水。  Đồng ẩm Tương Giang thủy.
Có nghĩa là : Cùng uống nước của dòng sông Tương.

      SÔNG TƯƠNG thường dùng để nói lên sự mơ ước nhớ nhung mến thương của lứa đôi, trai gái, người yêu, chồng vợ. Như sau khi trao đổi tín vật và hứa hẹn đá vàng thì Kim Trọng và Thúy Kiều càng tưởng nhớ nhau hơn :

                        Từ phen đá biết tuổi vàng,
                Tình càng thắm thía dạ càng ngẩn ngơ.
                     SÔNG TƯƠNG một dải nông sờ,
                  Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia !

      Mãi cho đến hiện nay, SÔNG TƯƠNG vẫn còn là dòng sông tương tư thương nhớ của văn nhân thi sĩ và cả nhạc sĩ nữa. Khoảng thập niên năm mươi của Thế kỷ trước, giới thanh niên tuổi trẻ ai mà không biết đến bản nhạc "Ai Về SÔNG TƯƠNG" của nhạc sĩ Thông Đạt. Cho đến hiện nay giới ca nhạc trong nước cũng như hải ngoại vẫn còn hát mãi "Ai có về bên bến SÔNG TƯƠNG, nhắn người duyên dáng tôi thương...."
     Mời bấm vào link dưới đây để nghe nhạc.



     Hẹn bài viết tới !

                                            

                           杜紹德
                   ĐỖ CHIÊU ĐỨC



Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

NHÌN TRĂNG VIỄN XỨ NAO LÒNG NHỚ QUÊ. - CA KHÚC THƯƠNG PHƯƠNG & NGUỸEN HỮU TÂN






NHÌN TRĂNG VIỄN XỨ NAO LÒNG NHỚ QUÊ
THƠ THƯƠNG PHƯƠNG
NHẠC & TRÌNH BÀY NGUYỄN HỮU TÂN


MỐT HỌC ĐÒI SÀNH ĐIỆU Ở GIỚI TRẺ. - VŨ THỊ HƯƠNG MAI




 

Hương Mai

18:17 Th 4, 1 thg 3 (20 giờ trước)
đến tôi

Mốt học đòi sành điệu ở giới trẻ

*

Mốt chạy theo hàng hiệu hiện nay có lẽ cũng đang là một thảm kịch đối với một bộ phận giới trẻ học đòi lối sống sành điệu. Mặc dù gia đình không khá giả gì, thậm chí là túng thiếu nhưng các cô cậu ấy lại tìm mọi cách để có cái diện mạo "bằng bạn bằng bè". Trong lớp người ấy có thể kể ra vài gương điển hình như" Nga quê ở tận Lâm Đồng, một sinh viên ngoại ngữ năm thứ 2, thuộc gia đình nông dân không lấy gì làm khá giả. Nhưng cô dám "tậu" cho mình bộ nữ trang đắt tiền, bộ kính hiệu D & G và các loại quần áo, giày dép mốt nhất. Có thể toàn bộ khoản tiền gia đình gửi cho hàng tháng cô dùng vào việc mua một bộ đồ trang điểm, còn tiền sinh hoạt hàng ngày thì nay "giật" chỗ này mai "giật" chỗ khác của lũ bạn. Cách sống ấy của cô đã khiến bạn bè trong phòng, trong lớp học thấy khó chịu và dần dần xa lánh, chỉ còn thân thiết với mấy cô bạn cùng cảnh ngộ.

Câu nói của không ít dân chơi "rỗng ruột": "chiếc áo không làm nên thầy tu nhưng không có áo thì biết đấy là đâu" có lẽ là hợp lý? Nhưng sự thật là nó đã trở thành câu "danh ngôn" của giới chuộng hàng hiệu. Nhưng cũng chính quan niệm sai lầm đó mà đã có những người đã tự đánh mất mình. Điều đó được minh chứng bởi một "tín đồ" hàng hiệu đã không vượt qua được sự cám dỗ của bản thân mình, cũng chỉ vì sống chung với những tiểu thư con nhà giàu. Đó là trường hợp của Lan, một cô gái xinh xắn 21 tuổi. Cũng chỉ vì bản thân luôn khát khao có được những mẫu mốt mới, nhưng lại không có điều kiện để mua nên đã nhiều lần Lan lấy trộm của các bạn trong phòng cất vào va li quần áo của mình. Đến khi cả phòng thấy mất nhiều đồ đã mở cuộc điều tra và mọi người đã tìm được trong va li của cô từ chiếc áo Bosini, chiếc mắt kính Evita, son môi hiệu Lancôme, đến cả đồ lót Jockey... Sau sự việc như vậy, chắc hẳn mọi người đều có thể đoán được kết cục của nó, cả phòng đã tẩy chay và đề nghị cô chuyển đi nơi khác.

Lại có một kiểu sành điệu mà bình thường khó lòng chúng ta có thể ngờ tới, đó là chơi "hàng mượn". Ra ngoài đường có thể nói vô vàn các nam thanh nữ tú bóng bẩy ngồi trên xe tay ga đời mới, điện thoại di động đắt tiền, quần áo đều mang các thương hiệu nổi tiếng... nhưng biết đâu trong số lại đang dùng "hàng mượn" trong vài tiếng đồng hồ.

Tình cờ chúng tôi có vào một cửa hàng sửa chữa xe máy, chủ thợ là một thanh niên trẻ tuổi, có phong cách thoải mái, nên chúng tôi đã nhanh chóng nói chuyện cởi mở với nhau. Trong thời gian ngồi đợi sửa xe, tôi đã chứng kiến anh chủ thợ tên Huy này hướng dẫn tận tình một thanh niên khác vào giới chơi "hàng mượn" của nhóm anh ta với lời thuyết phục: "Đã bước ra đường chơi thì phải bằng bè bằng bạn. Trang bị cho mình "xịn" từ đầu đến chân thì có nói cái gì cũng linh và dễ dụ được các em sa lưới. Chỉ có điều chi phí tiêu sài của người ta một đêm là cả trăm, cả nghìn đô, còn mình thì chỉ cần một đến hai trăm nghìn đồng". Anh ta còn giải thích cặn kẽ rằng "Hai trăm nghìn nếu gói ghém, khéo tiêu thì vẫn chỉ: Giá thuê một chiếc Sylan/một giờ là 60.000 đồng; Áo vest khoác ngoài chính hiệu của Pháp là 40.000 đồng; điện thoại di động thời mới và nhẫn cẩm thạch là 50.000, số tiền còn lại vẫn đủ uống vài chai bia. Buổi tối đèn màu nhá nhem, quần áo bên trong không cần xịn nhưng quan trọng là một cái áo khoác ngoài thật ngon, đi xe @ hoặc Dylan và điện thoại di động đời mới thỉnh thoảng lại đưa lên Allo".

Huy còn hăng hái giải thích thêm "Tụi tôi thuê đồ trả tiền theo từng đêm. Còn có nhiều nhóm trả theo tháng, nghĩa là ghi sổ, cuối tháng trả một lần và họ còn được khuyến mại giảm giá 10%. Chỉ có khách quen mới thuê được hàng "độc" hoặc thật xịn, nếu không tin cũng dễ chơi phải hàng nhái lắm.

Nhóm chơi của Huy gồm 5 người, ngoài Huy thì còn hai cậu thanh niên, một là thợ điện, một là chạy xe ba gác; còn hai cô gái đều bán hàng tạp phẩm ở chợ. Nhưng buổi tối sau khi đã vứt vào góc nhà bộ đồ lao động là tất cả nhóm bắt đầu lên đồ "sang trọng" và "quý phái" như nhau. Khi vào nhà hàng thì cũng chỉ gọi mấy chai bia mồi, còn sau đó chủ yếu là uống rượu - một loại rượu thuốc 3000 đồng/xị được đựng trong vỏ chai rượu tây mang theo trong cốp xe. Theo như Huy nói thì chiêu thức "bình tây rượu ta" này được khá nhiều nhóm áp dụng khi vào những nơi sang trọng.

Một nữ dân chơi hàng mượn đã rất tự nhiên thổ lộ rằng "Muốn chơi hàng mượn thì phải có một số điều cần thuộc lòng đó là: Thứ nhất, đi theo nhóm để còn nương tựa nhau khi có vấn đề về tiền bạc. Thứ hai, phải canh không cho nhân viên khui bia và nhòm chừng đồng hồ vì tất cả xe cộ, điện thoại, phục trang đều thuê theo giờ. Thứ ba, phải nhớ là tránh "manh động", cuồng loạn quá đáng theo nhạc vì không khéo sẽ làm hư hao hàng mượn thì xong luôn. Thứ tư, điện thoại di động phải bất ly thân, không cho người khác mượn để gọi vì giá một phút được chủ cửa hàng tính theo quy định là 5000 đồng". Cô còn cho biết mỗi tuần nhóm của cô đi đến các bar hạng sang vài lần, cứ mỗi lần đi, tiết kiệm lắm thì cô cũng phải chi từ 100.000 - 200.000 đồng tiền thuê tư trang. Trong khi thu nhập hàng ngày của cô cao lắm thì cũng chỉ 150.000 đồng. Để biện minh cho thú chơi quá xa xỉ ấy của mình, cô nói "Mình phải biết cảm giác chơi hàng xịn, chơi theo kiểu quý tộc xem nó thế nào chứ. Ở vũ trường, quán bar cũng có rất nhiều nhóm chơi hàng mượn như vậy, dân lao động có, học sinh, sinh viên có, thậm chí cả những thành phần lêu lổng". Cô này cũng chẳng ngần ngại, chẳng giấu giếm mà nói rằng, cô đang vay nặng lãi 30 triệu đồng, mà chưa biết đến bao giờ mới trả xong, cũng chỉ vì cái thú ăn chơi ấy.

Qua một cuộc điều tra, khảo sát của một nhóm nhà nghiên cứu được biết có một bộ phận sinh viên tỉnh lẻ, con nhà nghèo nhưng lại có lối sống còn "sành điệu" hơn cả thanh niên thành phố. Hơn nữa, cách ăn chơi của họ thường không được kiểm soát mà tự do theo ý thích.

Theo nhóm nghiên cứu thì có đến 30% sinh viên ngoại tỉnh trả lời là cứ 3 - 4 tháng lại thay đổi mốt điện thoại một lần. Nếu đang sài điện thoại cỡ 1,5 triệu đồng thì sẽ thay bằng cái 2,5 - 3 triệu và cứ thế "nâng cấp" lên. Ngoài ra, một con số cũng không nhỏ chút nào nói rằng, phần lớn số tiền gia đình gửi ra là dùng vào việc mua sắm quần áo và những cuộc đi chơi. Có đến 13/216 số sinh viên khảo sát nói rằng thỉnh thoảng có đi vũ trường, qua karaoke ôm... và con số cũng tương đương như vậy thì thường xuyên việc đi học. Lời lý giải của họ cũng rất đơn giản và ngắn gọn "Nếu có 1.000.000 đồng thì đi loại sang một chút, nếu chỉ có 500.000 thì đi chỗ bình dân hơn".

Nhiều người đã học được lối ăn chơi của con nhà giàu thì mức chu cấp 1.500.000 - 2.000.000 đồng/ tháng của mẹ bố cũng chẳng khác nào muối bỏ bể. Khi đó, nhiều bạn đã lao vào làm thêm. Nhưng rất tiếc, mục đích kiếm tiền không phải là để phục vụ học tập mà là để trang trải cho các khoản vui chơi không lành mạnh. Bất chấp tất cả, nhiều cô đã tự nguyện làm tiếp viên cho các quán bia ôm, karaoke ôm, sàn nhảy... để có đủ tiền tiêu xài mà lại được ăn chơi thả thê. Đến khi không còn thời gian và tâm trí để đến lớp học nữa thì thi môn nào là trượt môn đó, thậm chí là bị đình chỉ học. Nhưng điều đó có lẽ trong hiện tại vẫn chưa gây nên nỗi buồn gì đáng kể, vì ở bên ngoài còn biết bao nhiêu niềm vui thú khác. Cái lối sống chân chất, giản dị ở quê nhà đã nhanh chóng biến mất và thay vào đó là  lối sống "sành điệu" của phố phường; Những ước mơ, hoài bão về một tương lai tươi sáng gắn liền với sự nghiệp học tập, rèn luyện nay dường như cũng đã bị nhụt chí, thay vào đó sự buông thả, bất cần đời.

*.

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319

Long Biên - Hà Nội.

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn



Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023

CĂN NHÀ XƯA. - PHAN NI TẤN

 



CĂN NHÀ XƯA

Sau 45 năm xa quê, nhìn tấm hình chụp căn nhà xưa do mấy đứa em ở bên nhà gởi qua làm tôi giựt mình. Thời gian thật khủng khiếp, nó như bàn tay quỷ mị mọc ra lạnh lùng úp chụp các thứ rêu phong ẩm mốc lên tường nhà trông giống như một bức tranh vụng về của thiên nhiên. Tuy nhiên, vách tường vẫn đứng vững kiên trì tỏa ra một sức mạnh kỳ lạ dù đen đúa vì mốc meo, cũ mèm đến tội nghiệp và thê thảm hệt như một người bạn thất chí lâu năm gặp lại. Nhưng mà nhìn kỹ lại một ký ức xa vời tôi có cảm tưởng như căn nhà thật quen thuộc, thật bình yên, tự nó vẫn lặng lẽ đứng đó dưới bầu trời xám xịt, vững chắc trong cơn nắng lụt mưa lầy, ngạo nghễ vươn lên mặc cho con tạo xoay vần, thế sự đổi thay.
Căn nhà này đã từng diễn ra biết bao là buồn, vui, tốt, xấu, bình yên và dữ dội, xiết bao là nỗi niềm ẩn chứa những kỷ niệm khôn nguôi. Căn nhà có ban công kia, đứng trên đó dựa vào lan can ta có thể nhìn bao quát chung quanh khu phố cũng như nhìn thẳng xuống suối sâu; xa hơn là dãy Trường Sơn nằm ở phía Tây lãnh thổ Việt Nam đổ dài về phía biển Đông theo hình cánh cung một màu xanh thẳm.
Cả một dãy phố với những cấu trúc sát liền nhau lại xẻ ra một con hẻm không tên. Con hẻm là điểm chốt cặp hông căn nhà này, tuy nhỏ nhưng vô cùng tiện lợi trong đời sống hàng ngày của bổn phố đi ngược về xuôi.
Mưa nắng từng đổ xuống và gió từng luồn qua con hẻm này, lâu năm đất hẻm trở thành đất nện khô cứng khá bằng phẳng đa phần cũng vì dấu chân người qua. Nhưng tội nghiệp cho con hẻm cũng thường bị ẩm ướt vì nước thải, vì rác rưởi và khai nồng vì nước tiểu. Phố núi chúng tôi xưa nay không có nhà xí công cộng nên con hẻm không tên vô tình lại trở thành một vị trí địa lý vĩ đại cho những ai mắc tiểu. Thập niên 1950, những người đàn bà Thượng lưng mang gùi, bụng địu con trong buôn ra phố đi chợ lúc mắc tiểu thường ghé vô con hẻm này dạng chân đứng tiểu thật tự nhiên.
Có lẽ ông bà ta xưa quan sát thấy chị em ta đái ngồi mới phán một câu xanh dờn: "Đàn bà đái không qua ngọn cỏ". Tôi nhận thấy câu tục ngữ này ngày nay không còn chính xác vì đã lỗi thời. Cũng có thể các cụ ta xưa chưa từng nhìn thấy đàn bà miền núi mặc yêng (váy) đứng đái, đương nhiên là… ướt hết đầu ngọn cỏ.
Họ, những người đàn bà trong buôn ra chợ lúc mắc tiểu không tiện cởi yêng nên phải tiểu đứng. Cái dáng đứng tiểu của họ liếc qua cũng đã thấy gọn gàng, kín tiếng và khá ngộ nghĩnh. Tôi nghĩ rằng vì ảnh hưởng phong thổ khí rừng khí núi cộng với công việc nương rẫy đã nung đúc họ có một dáng dấp thon thả, thân hình săn chắc, mạnh mẽ và đằm thắm.
Có thể nói phụ nữ tiểu đứng là một nghệ thuật hiếm thấy ở các dân tộc khác. Nhằm bảo đảm an toàn hoặc giảm thiểu tối đa không để yêng bị ướt người phụ nữ miền cao phải đứng hơi dạng chân, đầu gối chùn xuống, lưng hơi khum đâu vào đấy xong mới đái nhín từng đợt sao cho dòng nước tiểu lặng lẽ chảy dọc từ đùi xuống đất. Hẻm hào phóng và bao dung những ai cần giải quyết mọi rắc rối một cách ổn thỏa. Nghệ thuật tự nhiên này chỉ xẩy ra trong hẻm ít người nhìn thấy nên không ảnh hưởng gì đến cái gọi là công xúc tu sỉ, một Hình luật Canh cải 330 của nhà nước thời phong kiến. Hơn nữa, nghệ thuật tuyệt vời độc đáo này phụ nữ người Kinh không tài nào bắt chước được vì kỳ cục quá, thẹn quá, ngại phạm thuần phong mỹ tục.
Tôi không sinh ra trong căn nhà rêu phong này như các em tôi, nhưng dưới nền móng của nó lại là nơi chôn nhau mình. Sáu mươi lăm năm trước, tiền thân của nó là căn nhà gỗ đơn sơ mái tôn, vách ván, không có trần nhà, nền nhà ngăn trước tráng xi-măng, nhưng nhà bếp ngăn sau là nền đất.
Đặc biệt, phía sau hè, nhà nào cũng có một cái cầu tiêu còn gọi là nhà cầu hoặc nhà vệ sinh. Tuy bình dị nhưng cực kỳ phổ biến và vô cùng hữu ích trong đời sống hàng ngày của mọi người. Thời đó, dựng nhà vệ sinh không có gì khó. Sau khi đào một cái hố vuông vức sâu chừng 1, 2 thước xong người ta dựng kín quanh miệng hố bằng bốn tấm ván hoặc phên tre, cửa cũng bằng vật liệu thô sơ này, mái lợp lá hoặc tôn. Sàn cầu được khoét một cái lỗ hình vuông hoặc hình chữ nhật khoảng một gang tay, hai bên lót hai viên gạch để ngồi thả chất thải thẳng xuống hố sâu.
Thập niên 1950, đời sống của người dân hiền hòa trên phố núi cứ thế trôi dần theo thời gian. Cho đến một hôm, nửa đêm khuya khoắt, cả một khu phố đang ngủ say thình lình bị bà hỏa nổi lửa cùng cơn gió lớn thiêu rụi không chừa bất cứ một căn nhà nào, cho đến rạng sáng ngày hôm sau mới hạ hỏa. Không nghe nói có ai chết cháy trừ gia súc, rắn rít và lúc nhúc dòi bọ dưới hố phân. Riêng con Kiki lông vàng, đuôi xoắn ốc chạy theo chúng tôi là may mắn thoát nạn.
Mãi đến năm 1960 nhà cửa mới được khởi công xây dựng lại. Thời đó, má tôi, suốt một đời sớm khuya tần tảo, hạp mệnh tuổi nên bà tự đứng ra theo dõi, đốc thúc công việc xây nhà mới. Chính cái sinh khí tốt của má tôi giúp cho nhà cửa không phạm phải tam tai, hoàng ốc, kim lâu mà tồn tại cho đến tận ngày nay.
Căn nhà xưa kia và con hẻm không tên mà độc đáo này từng là nơi in dấu chân tôi từ thuở ấu thời cho tới một ngày, vì thời thế tôi phải lìa xa. Đi xa mà không biết bao giờ mới trở lại để đến ngày nay, ở tuổi về chiều, bằng hết cả tâm tình, chăm chú nhìn căn nhà rêu phong ẩm mốc kia tôi có cảm tưởng như nó cũng lặng lẽ giương mắt nhìn lại cố nhân. Trang Chu ngày xưa nằm mơ hóa bướm (Hồ điệp chi mộng vi Chu dư?) có khác nào tâm trạng của tôi ngày nay.
Căn nhà xưa vẫn đứng đó như một bức tượng bám đầy rêu phong; còn con hẻm không tên kia đến nay tôi không hề nghe ai nhắc tới, dù xưa kia nó từng có một vị trí địa lý vĩ đại cho những ai cần giải quyết khẩn cấp mọi rắc rối ở người.
Căn nhà nay đã xưa, con hẻm kia cũng đã cũ, ở đó chứa đựng rất nhiều thương nhớ



PHAN NI TẤN