CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

LAN MAN CHUYỆN TRÊN FACEBOOK TỪ “KHÚC THỤY DU” ĐẾN “GIẤC THỤY DU” – LA THUỴ

 



Một số bạn trên facebook lấy nick là “Khúc Thụy Du”. Ắt hẳn các bạn ấy yêu thích bài hát “Khúc Thụy Du” do nhạc sĩ Anh Bằng phổ thơ của thi sĩ Du Tử Lê. Bài hát có nội dung như sau:
 
KHÚC THỤY DU

Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi
Thụy ơi, và tình ơi
Như loài chim bói cá
Trên cọc nhọn trăm năm
Tôi tìm đời đánh mất
Trong vũng nước cuộc đời
Trong vũng nước cuộc đời
Thụy ơi, và tình ơi
Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao ta yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh
Vì sao thân anh rung
Vì sao chân không vững
Vì sao, và vì sao
Hãy nói về cuộc đời
Tình yêu như lưỡi dao
Tình yêu như mũi nhọn
Êm ái và ngọt ngào
Cắt đứt cuộc tình đầu
Thụy bây giờ về đâu
Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao ta yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh
Vì sao thân anh rung
Vì sao chân không vững
Vì sao, và vì sao
Hãy nói về cuộc đời
Tình yêu như lưỡi dao
Tình yêu như mũi nhọn
Êm ái và ngọt ngào
Cắt đứt cuộc tình đầu
Thụy bây giờ về đâu
Êm ái và ngọt ngào
Cắt đứt cuộc tình đầu
Thụy bây giờ về đâu

                Anh Bằng
 
Văn bản ca khúc "Khúc Thụy Du".
 
“Khúc Thụy Du” qua lời nhạc của Anh Bằng là một khúc tình ca mà hình ảnh, ca từ cũng như giai điệu đã chất chứa những nỗi buồn và tiếc nuối về một ân tình dĩ vãng, và những cảm xúc đó trong bài hát dường như là ai cũng đã một lần trải qua.
    
Còn,“Khúc Thụy Du” trong thơ Du Tử Lê như thế nào? 
 
KHÚC THỤY DU
 
1.
như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời
 
như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được
 
như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay
 
trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gặm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình
 
trên mặt đất nhiên lặng
không tăm nào sủi lên
 
đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi?
 
2.
mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài
 
ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thuỵ ơi và thuỵ ơi
 
tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thuỵ ơi và thuỵ ơi
đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết
 
tình yêu như ngọn dao
anh đâm mình, lút cán
thuỵ ơi và thuỵ ơi
 
không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể
 
anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển
 
               Du Tử Lê
                 (03-68)
 
Nhà thơ Du Tử Lê. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.
 
1/ Ý nghĩa “thụy du” trong bài thơ của Du Tử Lê:
 
Nhà thơ Du Tử Lê cho biết:
 
 “Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu.
Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải toả khu Ngã tư Bảy Hiền.
Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TLC ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội CS.
 
Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.
 
Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ….
 
Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi người chết sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…
 
Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản.
 
Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại – – Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu.
 
Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng.
 
Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…
 
Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi.
 
Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung!
 
Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ.
 
Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)
 
Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ – bày quả rỉa xác người – (của tươi đời nhượng lại) – bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân…
 
Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?
 
Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.
 
Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).
 
Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 1973.
 
*
Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask vàFairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh:
 
“Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”
 
Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau.
 
Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.
 
Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…
 
Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…
                                            (Du Tử Lê – 01/30/2010 – 06:34 PM)
 
http://www.dutule.com/D_1-2_2-99_4-325/ve-bai-tho-khuc-thuy-du.html
 
Qua lời chính tác giả Du Tử Lê, chúng ta biết bài thơ không chỉ là một khúc tình ca viết về tình yêu, mà còn là những suy tư trằn trọc về thời sự với những cảnh tượng bi thương tang tóc do chiến tranh ụp xuống quê hương... “Khúc thụy du” được Du Tử Lê viết vào tháng 3.1968ông nói:
 
“Đó là điều gì đó rất bấp bênh và chia ly gần như thường trực, có những cuộc tình đổ vỡ, và như vậy thì làm sao nhìn về một hướng được. Thành ra, khi viết bài thơ đó, tôi muốn nói: Yêu nhau không phải là nhìn về một hướng mà yêu nhau là nên nhìn vào định mệnh, cuộc đời, hoàn cảnh của nhau, kể cả sự chia lìa trước sau cũng sẽ đến, đó là ý niệm sâu xa của bài Khúc thụy du. Cảm hứng buồn thương là sợi dây xuyên suốt tác phẩm: Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai họa, một tuyệt lộ”
 
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận xét:
“Tác phẩm thể hiện phong cách ngôn ngữ đặc trưng của Du Tử Lê, nhiều day dứt, tuyệt vọng. Ngoài gửi gắm mong ước cuộc tình kéo dài mãi mãi kể cả khi chết đi, bài thơ là tiếng cảm thán về số phận hữu hạn, mong manh của mỗi người. Khi được thổi hồn bằng ngôn ngữ âm nhạc, tác phẩm có chiều sâu, dễ đi vào lòng người hơn”.
 
*
THỤY DU đã được chính nhà thơ Du Tử Lê giải thích:
 
 “Thụy là tên lót của người con gái dược khoa ông theo đuổi lúc bấy giờ - bà Thụy Châu, sau này là vợ đầu của ông. THỤY DU là tên ghép THỤY và DU (chữ đầu trong bút danh Du Tử Lê).”
 
2/ Chuyện trên facebook về “khúc thụy du” và “giấc thụy du”
 
“Khúc Thụy Du” là nick name của một số bạn trên face. Đặc biệt có bạn đăng tập thơ “Giấc thụy du” lên face để chia sẻ.
Thế là các comments cùng rộ lên, bạn thì chúc mừng tập thơ vừa xuất bản, bạn thì nhận xét khen ngợi tập thơ, có bạn đăng status giới thiệu tập thơ, có bạn đăng status bình luận tập thơ về hình thức, và nghệ thuật văn chương. Nhưng cũng có bạn đăng status phê phán cái tựa đề “Giấc thụy du” của tập thơ không hợp lý.

Trích đoạn STT trên face của bạn ấy :
 
THỤY DU, KHÚC THỤY DU, GIẤC THỤY DU
 
Theo nghĩa Hán Việt, Thụy  : giấc ngủ, thí dụ “thụy y” 睡衣 quần áo ngủ. Du : Đi. Đi từ nơi này qua nơi khác
Vậy "Thụy du"  : Đi trong khi ngủ, mộng du. Mộng du là tình trạng đi trong giấc ngủ (Sleepwalking). Đây là một loại rối loạn giấc ngủ có nhiều khi nguy hiểm, nó là chứng bệnh somnambulism.
 
- Khúc Thụy du là khúc hát khi mộng du.
- Giấc thụy du? Thụy là giấc ngủ, dùng thêm chữ giấc - chữ Nôm - vào chi vậy, cho ‘ba rọi’?
 
Về cụm chữ ‘Giấc thụy du’ tôi nhớ đến những lời ‘ấn tượng’ này của một nữ sĩ và của nhà bình thơ khen thơ bà:
- ‘Hãy nhớ đến cuộc tình của tôi nó là GIẤC THỤY DU có thật’- XYZ (xin được giấu tên- NL)
- ‘Nữ sĩ XYZ viết về tình yêu, thì tình yêu như giấc thụy du nhưng không huyễn hoặc, thắm thiết trong từng sát na và đẹp như trăng huyền ảo’ – ABC
Sự nhận biết về 2 chữ Thụy Du làm tôi nhớ đến câu truyện 'Người mù sờ voi' trong kinh Phật, mỗi người nhận biết khác nhau...”
 
Theo bạn đăng STT ấy, “giấc” là từ thuần Việt, “thụy du” là từ Hán Việt. Ghép từ thuần Việt với từ Hán Việt là nửa nạc nửa mỡ như thịt “ba rọi”.
Thịt ba rọi hay còn gọi là thịt ba chỉ (tiếng Anh gọi là Pork belly) là phần thịt nằm ở bụng của con heo. Thịt ba rọi không có xương, khi cắt ngang miếng thịt sẽ thấy các lớp thịt nạc, mỡ xen kẽ nhau và ngoài cùng là lớp da mỏng.

*
Bạn ấy đã đúng khi giải nghĩa về các từ ngữ “thụy du”“khúc thụy du” và bạn ấy cũng không sai khi cho rằng “giấc thụy du” là từ “ba rọi”, tuy nhiên bạn ấy không xét đến tập quán ngôn ngữ khi việc “Hán Nôm đề huề” như thế đã trở thành khá phổ biến, thông dụng trong văn học, ngôn ngữ Việt Nam.

Tôi cũng tham gia trong cuộc bàn luận sôi nổi dưới dạng comment. Xin chép lại những ý kiến của tôi lúc đó.
 
KHÚC THỤY DU     là một từ Hán Việt. 
Theo nghĩa Hán Việt:
- Khúc : khúc nhạc, bài hát
- Thụy : Giấc ngủ (danh)                 
  Thụy : Ngủ gục, ngủ gật, buồn ngủ (Động)
  Thụy : Thuộc về “ngủ”. Để dùng khi ngủ. (Tính)
                 - Thuỵ ý 睡意: Cảm giác buồn ngủ
                 - Thụy y 睡衣 quần áo ngủ.
THỤY, nghĩa là NGỦ, tuỳ theo từ loại nếu là danh từ (có chữ “giấc”), nếu là động từ hoặc tính từ (không có chữ “giấc”)
Theo từ điển Thiều Chửu, Thụy  có nghĩa là ngủ, lúc mỏi nhắm mắt gục xuống cho tinh thần yên lặng gọi là thuỵ.
- Du  : đi chơi. Du có cách viết khác (遊).

Thụy Du  : cùng nghĩa với mộng du 夢遊.
Thụy du hay mộng du được biết đến như một rối loạn giấc ngủ(somnambulism). Người bị mộng du có thể đi khi đang ngủ (Sleepwalking), hay thực hiện một số hành động thông thường như: ăn uống, mặc quần áo, lái xe,... thường xuất hiện khoảng một đến hai giờ sau khi ngủ và chúng thường kéo dài trong khoảng 30 phút.

 - KHÚC THỤY DU    theo nghĩa Hán Việt là một “khúc hát về người đi trong giấc ngủ mơ”“khúc hát khi mộng du”.

Còn “GIẤC THỤY DU” là giấc mộng của những người lãng đãng trong cơn mê ngỡ như mình đang mộng du, phiêu lãng...
“Giấc thụy du” là một từ ghép dạng “Hán Việt đề huề” khá phổ biến trong văn học xưa và trong ngôn ngữ chúng ta hôm nay*
Có một chữ gần nghĩa với Thụy  (giấc ngủ) đó là Miên.
Chữ Miên  chỉ việc ngủ sâu và dài, thường dùng trong các nghĩa: ngủ đông (冬眠 - đông miên), an giấc (安眠 - an miên), yên giấc nghìn thu (长眠 - trường miên), cô miên 孤眠 - ngủ một mình, cô đơn.
 
“Lạnh lùng thay GIẤC CÔ MIÊN,
Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u.”
                         (Cung oán ngâm khúc)
 
Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết GIẤC CÔ MIÊN, nhạc sĩ Nguyễn Hồng Hải đã sáng tác nhạc phẩm CƠN MỘNG DU (ca từ của Ngô Duy Phương) do ca sĩ Trương Ngọc Ánh trình bày trong phim Hương Ga OST.
 
Vậy thì nhà thơ nữ XYZ nào đó dùng từ GIẤC THỤY DU thì cũng bình thường. Trong văn học chữ Nôm, các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, của Hồ Xuân Hương và những nhà thơ nổi danh Việt Nam khác đầy dẫy những từ ngữ ‘ba rọi’ như bạn nói đấy, tôi chỉ dẫn chứng một vài trường hợp thôi:

 “cuộc hý trường”, “bóng tịch dương”, “bóng ác tà”, “miền khoáng dã”, “bãi bình sa”, “người lữ thứ”, “nỗi hàn ôn”, “mặt anh hùng”, “đầu quân tử”, “con Bạch Thố”, “chị Hằng Nga”
 
Cuối cùng bạn ấy trả lời:
Cám ơn bạn nha, rất lý thú. Chắc tôi sẽ edit lại cho chính xác. Chúc an lạc 
Sau đó bạn ấy đã xóa đoạn cho rằng “GIẤC THỤY DU là ba rọi” trên STT.
Những cuộc tranh luận trên face nhiều khi cũng rất vui và hữu ích.
 
                 

                              LA THUỴ


Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

TẢN MẠN VỀ CÂY DỪA NƯỚC - TỪ KẾ TUÒNG

 




TẢN MẠN VỀ CÂY DỪA NƯỚC


Quê tôi là vùng đất ven biển miền Tây Nam Bộ, sông rạch chằn chịt. Từ nhỏ tôi đã nghe gọi "Người xóm Rẫy", "Nguồi xóm Vườn", "Người xóm Giồng". Tên gọi này xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, để chỉ ngoài tên gọi bao quát là "Làng" ví dụ "Người cùng Làng", còn có người sinh sống ở từng xóm. Ví dụ "Người xóm Rẫy", tập trung ở vùng đất trũng, nước mặn, bùn lầy. "Người xóm Vườn", tập trung ở những thớt vườn trồng dừa, đất thịt trơn trợt còn "người xóm Giồng", tập trung ở vùng đất cao, xa nguồn nước, vùng đất thịt pha cát. Tôi ở "Xóm Giồng", nằm giữa "Xóm Rẫy" và "Xóm Vườn".
Nhưng xóm nào cũng hai mùa mưa nắng quanh năm. Mỗi mùa có 6 tháng mưa và 6 tháng nắng. Mùa mưa thì nước ngọt, mùa nắng thì nước mặn. Giữa 2 mùa có một khoảng thời gian để nước chuyển dòng gọi là "Mùa nước lợ". Do đặc tính vùng miền, chịu ảnh hưởng thời tiết nên quê tôi ngày xưa chỉ trồng lúc một vụ, gọi là "Lúa mùa", tức trong thời gian mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 tới tháng 12, gọi là tháng giáp năm (theo âm lịch).
Và cũng do vậy nên quê tôi chỉ có 2 loại cây trồng chính là cây dừa (cây công nghiệp) và cây lúa nước (cây nông nghiệp). Cây dừa quê tôi bạt ngàn, đất ruộng trồng lúa mênh mông nên nhà giàu ngày xưa là chỉ nhà nào có vườn dừa rộng 5-10 mẫu (hecta), ruộng vài chục mẫu thậm chí có nhà giàu (điển chủ) có tới hàng trăm mẫu ruộng cho tá điền thuê trồng lúa, để lấy lúa ruộng hàng năm sau mùa vụ.
Tuổi thơ tôi gắn bó nhiều hơn với cây dừa so với cây lúa. Mỗi tháng, dừa mùa, nhà giàu giựt dừa khô một lần tính ra hàng mấy thiên dừa (mỗi thiên dừa là 1.200 trái, dừa tính chục 12). Nếu tháng dừa treo, thì 2 tháng giựt một lần. Tôi có thú vui bè dừa giúp mấy đứa bạn con nhà giàu từ vườn của nó theo mương chính khi nước lớn từ sông, rạch đổ vào mương vườn về nhà rồi quăng dừa lên sân nhà nó. Chỉ với một mục đích được ưu tiên lựa những trái dừa khô quá lứa mọc mọng, tức đã nhú ra mầm cây dừa con để lột vỏ, đạp ra ăn cái mộng dừa hấp dẫn bên trong.
Nhưng bên cạnh cây dừa trồng tập trung trên những bờ mương trong vườn gọi là vườn dừa hay thớt vườn, có một loài dừa mọc thành bụi rậm, sống và phát triển dưới bùn lầy, ven sông, rạch, mương vườn rất thú vị, gắn bó với tuổi thơ tôi và những thú vui theo mùa, đó là dừa nước (để phân biệt với dừa trồng trên bờ).
Dừa nước không ai trồng, là loài cây mọc hoang. Trái dừa nước khô rụng, hay bất kỳ lý do nào rời buồng dừa rơi xuống nước sẽ trôi theo dòng nước đi bất cứ đâu, khi nước ròng, bãi cạn thì trái dừa nước ghim vào bãi bùn, lâu ngày mọc mọng, thành cây dừa nước con bám đất nơi đó mà sống, phát triển thành bụi, trổ bông, có quầy, cho trái... và cứ thế dòng đời của cây dừa nước lan toà khắp nơi, tuy nhiên ở những vùng nước mặn mới có dừa nước.
Cây dừa nước có nhiều công dụng đối với người dân thôn quê, lá dừa nước tươi, đủ độ già người ta chằm lại từng tấm gọi là lá chằm dùng để lợp nhà (ngày xưa hầu hết đều là nhà lợp bằng lá dừa nước chằm), rất mát. Vách cũng được "vừng" bằng nguyên tàu lá dừa nước dài xé ra làm đôi phơi cho dốt dốt, gọi là lá xé. Nhà "vừng vách" bằng lá xé rất kín và đương nhiên cũng rất mát. Nhà mái lợp bằng lá dừa nước chằm, vừng vách bằng lá dừa nước xé sẽ cột bằng gì? Không phải kẽm hay lạoi dây nào khác đâu nhé, mà chính sợi "lạt" chẻ ra từ cây "cà bắp", tức là tàu dừa nước non. Cũng từ cọng lá của tàu dừa nước non gọi bằng cây "cà bắp" này, người dân quê dùng để gói bắnh lá dừa, cột bằng sợi dây "lạt dừa", khi nấu chính, bánh lá dừa có màu sắc rất đẹp.



Bây giờ thì người thành phố đã quen với trái dừa nước màu nâu được người từ ruộng rẫy quê mùa chặt từng quầy chi chít trái mang lên bán. Trái dừa nước "nạo cứng" chẻ ra lấy phần ruột bên trong dầm đá đường ăn rất ngon, mát ruột mát lòng, có hương vị đặc trưng của đất bùn ruộng rẫy, phù sa sông rạch chính là cây, bụi dừa nước mà tôi muốn nói.
Một điều thú vị nữa của cây dừa nước sống trong bùn lầy, ven bãi sông, kênh rạch, mương vườn là khi nước cạn người dân quê tôi có thể đi mò bắt những con cá bống dừa sống cặp, xây tổ uyên ương trong kẹt bặp dừa. Và tuổi thơ của tôi khi bắt đầu tập bơi lội cũng chính nhờ ôm cái bặp dừa vẫy vùng các kiểu mà lớn lên tôi bơi như rái qua kênh, qua rạch và bơi theo những giề lục bình ngoài khơi con sông để bắt cá lia thia sông sống trong nhửng giề lục bình. Cá lia thia sông lớn con, màu sắc tuyệt đẹp, đá rất hăng, chỉ có "chết tại chiến trường" chứ không chạy mặt đối thủ như cá lia thia ruộng.
Và một điều đặc biệt nữa của cây dừa nước mà tôi muốn nói. Người thành phố gốc quê đều biết hoa của cây dừa trồng trên bờ mương, trong sân nhà hay sau vườn rụng sau cơn mưa trên mặt đất có màu trắng sữa, hoa tròn xoe như bông tai của con gái tuổi dậy thì, thơm thoang thoảng. Nhưng ít ai biết, hay còn nhớ hoa của cây dừa nước cũng rất đẹp, cũng thơm mùi dân dã, mưa nắng quê nghèo mà quyến rũ không kém hoa của cây dừa trên bờ. Nếu chịu khó lội mương, lột rạch chặt về chưng, cắm trong bình phù hợp cũng rất đẹp, cũng lộng lẫy mà lại lâu tàn.
Tối nay bỗng có một người bạn không phải người miền Nam nhưng sinh sống ở Sài Gòn nhắn tin cho tôi bảo muốn có 2 cây dừa nước nhỏ trồng trong chậu trên sân thượng, khi dừa nước lớn lên sẽ bứng ra mang trồng xuốt đất. Tôi bật cười vì ý nghĩ trồng dừa nước ngộ nghĩnh này của người bạn không phải là dân Nam Bộ. Bởi vì nếu là người Nam Bộ chắc chắn phải biết rằng, dừa nước dù mới mọc mầm cây con từ trái già trôi theo con nước lớn rồng trên sông, rạch, kênh mương để tìm một bãi bùn cắm xuống “định cư”, nếu người nào đó tình cờ vớt được cũng không thể trồng trên đất giồng, huống chi lại trồng trong chậu như trồng kiểng?
Dừa nước chỉ thích hợp với bãi bùn lầy lội, là một loại cây chắn sóng, ngăn đất lở và chỉ sống và phát triển thành bụi, thành hàng, thành rừng dừa nước dọc theo bãi lầy, có nước thuỷ triều lên xuống mỗi ngày. Dừa nước chỉ sống dưới… nước, làm bạn với nhà vườn, nhà nông miệt rẫy vùng nước mặn, nước lợ. Không chỉ mọc thành bụi thành hàng, thành rừng để chắn sóng, ngăn đất sạt lở mà còn là nguyên liệu để người đi mở cõi lợp nhà, dừng vách, chẻ tàu dừa nước non gọi là “cà bắp” ra làm những sợi lạt chằm lá lợp nhà, cột vách, gói bánh…
Trái dừa nước không to như trái dừa bờ, rất ít nước nhưng múi trái dừa nước nạo là món ăn vặt cực ngon nếu được dầm với đá đường. Người miệt rẫy, miệt vườn vẫn dùng ghe tam bản, xuồng ba lá luôn sâu trong kênh rạch hay ven sông vào mùa dừa nước trổ quày chặt mang về chịu khó chẻ ra từng trái, lấy múi dừa nước nạo bên trong bỏ bịch nylon mang lên thành phố bán cho người thích ăn vặt để biết món ăn dân dã, hoặc người gốc quê nhớ món ăn quê. Bởi dừa nước nạo, cơm dừa nước còn mềm chế được nhiều món, ngoài dầm đá đường còn nấu chè đậu xanh ăn rất ngon.


TỪ KẾ TƯỜNG


Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2023

LỖI HẸN VỚI HUẾ. -THƠ HUỲNH NGỌC THƯƠNG, NHẠC PHAN NI TẤN






LỖI HẸN VỚI HUẾ

Thơ Huỳnh Ngọc Thương
Nhạc Phan Ni Tấn
Phối khí Trương Ngọc Chiến
Tiếng hát Thanh Lan
Đàn tranh Mai Nga
Sáo Ngọc Nhiệm


Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2023

HAI NHÂN CÁCH MỘT THI NHÂN - ĐỖ CHIÊU ĐỨC



 ợng và họa hình của LÝ THÂN qua các thời đại 

Giai Thoại Văn Chương :

                           HAI NHÂN CÁCH MỘT THI NHÂN


                                  Cày đồng đang buổi ban trưa,
                             Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
                               

      Theo "Vân Khê Hữu Nghị 云溪友議 và Cựu Đường Thư 舊唐書 ghi chép lại : Khoảng năm Trinh Nguyên đời vua Đường Đức Tông (799), chàng thư sinh LÝ THÂN 李紳 lai kinh ứng thí đã làm hai bài thơ MẪN NÔNG 憫農 (Thương xót cho nhà nông) dâng lên cho Tập Hiền Điện Hiệu Thư Lang LỮ ÔN 呂温 để cầu tiến thân, rất được Lữ xem trọng. Hai bài thơ đó như sau :

                其一               Kỳ Nhất
             春種一粒粟,     Xuân chủng nhất lạp túc,
             秋收萬顆子。     Thu thâu vạn khỏa tử.
             四海無閒田,     Tứ hải vô nhàn điền,
             農夫猶餓死。     Nông phu do ngạ tử !
   Có nghĩa :
                  Mùa xuân một hạt gieo trồng,
                  Đến thu thu hoạch muôn lần nhiều hơn.
                  Khắp nơi chẳng có ruộng hoang,
                  Nông dân đói chết vẫn còn khắp nơi !



                         Bài thơ Mẫn Nông   (kỳ nhất)

                 其二                    Kỳ Nhị
             鋤禾日當午,     Sừ hòa nhật đang ngọ,
             汗滴禾下土。     Hạn trích hòa hạ thổ.
             誰知盤中餐,     Thùy tri bàn trung xan,
             粒粒皆辛苦。     Lạp lạp giai tân khổ !
    Có nghĩa :
                  Cuốc cày giữa ngọ ban trưa,
                  Mồ hôi đổ xuống như mưa lúa trồng.
                  Ai người biết  cơm trong mâm,
                  Từng hạt từng hạt muôn phần đắng cay !

      Có học giả cho rằng bài ca dao sau đây của ta là bản phỏng dịch tuyệt vời của bài thơ MẪN NÔNG Kỳ Nhị nêu trên :

                  Cày đồng đang buổi ban trưa,
             Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
                    Ai ơi, bưng bát cơm đầy,
             Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!

    

                        Lý Thân và bài thơ Mẫn Nông  (kỳ nhị)

      Qua hai bài thơ MẪN NÔNG nêu trên, ta thấy LÝ THÂN quả là một chàng trai có bầu nhiệt huyết, có hoài bão lo cho dân cho nước. Thấy được sự bất công của xã hội và cảm thông với đời sống khốn khó của nông dân, những người làm ra hạt lúa để nuôi sống nhân dân lại là những người bị chết đói nhiều nhất; Cho nên, phải biết trân trọng từng hạt thóc hạt gạo do nông dân cực khổ lắm, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới làm ra được, như hai câu ca dao đã nhắn nhủ :

                      Ai ơi, bưng bát cơm đầy,
             Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!!!

      Vào đời với bầu nhiệt huyết là thế, có ai ngờ rằng đến năm Nguyên Hòa Nguyên niên (806) khi Lý Thân đã thi đỗ Tiến sĩ ra làm quan, thì lại đâm ra ăn chơi trác táng, chạy theo đời sống xa hoa hưởng thụ, làm uy làm quyền, vô tình vô nghĩa. Trong Vân Khê Hữu Nghị 云溪友議 có chép lại rằng :
       
      Lý Thân khi chưa phát tích thường đến chơi nhà của một người trong họ tộc là Lý Nguyên Tướng. Vì Tướng lớn tuổi hơn, nên Thân thường gọi Tướng là "Thúc Thúc". Đến khi Thân phát tích thi đậu làm quan thì Tướng vì muốn lấy lòng Thân nên tự hạ mình xuống gọi Thân là "Huynh trưởng", tự xưng là "Tiểu đệ", nhưng Thân vẫn không vui dạ, bắt Tướng phải gọi mình bằng "Gia gia" và tự xưng là "Tôn tử"(cháu) thì mới vừa lòng. Lại một lần...
      Có người bạn họ Thôi cùng khoa Tiến sĩ với Lý Thân, nhưng chỉ là một Tuần Quan nhỏ ở Tuyên Châu Dịch Quán. Nghe Lý được thăng đến chức Tư Không, bèn khăn gói đến thăm. Khi vừa đến khách sạn, chẳng may người nhà và một thị dân tranh chấp ẩu đả nhau gây náo loạn. Lý Thân bèn xử cực hình cả hai và hạ lệnh bắt Thôi Tuần Quan trói lại mắng rằng :"Trước kia chúng ta đã từng quen biết, sao nhà ngươi đến đây mà chẳng đến bái kiến ta, còn để cho người nhà gây náo loạn là cớ làm sao ?!" Bèn hạ lệnh đánh hai mươi trượng và đày đi xứ khác, mặc cho người bạn hết lời xin lỗi giải thích cũng chẳng thèm nghe.
     Mọi người đều kháo nhau chê trách Lý Thân rằng : Người đáng bậc cha chú trong họ tộc thì kêu bằng cháu; bè bạn cũ đến thăm thì bị đánh đòn và đi đày. Dưới sự bạo hành và hà khắc của Lý Thân, một số dân chúng đã vượt qua sông Trường Giang mà đi xứ khác ở. Lại một lần nữa...

     Thi hào LƯU VŨ TÍCH 劉禹錫(772—842)khi bị biếm làm Thứ Sử đất Tô Châu (833), Lý Thân nghe tiếng và cũng mến mộ tài văn thơ của ông, bèn mời ông đến và thiết tiệc khoản đãi. Buổi tiệc thật xa hoa với đầy đủ các sơn hào hải vị, mỹ tửu quỳnh tương, dưa ngon trái ngọt. Các cô ca kỹ ăn mặc như các cung nữ và ca múa những điệu nhạc trong cung đình. Lưu Vũ Tích bàng hoàng ngỡ ngàng trước buổi tiệc qúa cao sang xa hoa nầy của tác giả hai bài thơ Mẫn Nông năm xưa. Trong khi dân chúng Tô Châu đang lâm vào cảnh lũ lụt đói kém khắp nơi, nên Ông đã xót xa mà viết bài thơ tứ tuyêt "Tặng Lý Tư Không Kỹ 贈李司空妓" (Tặng cô kỹ nữ của ông Tư Không họ Lý) với những lời lẽ chua chát mĩa mai như sau :

                高髻雲鬟宮樣妝,    Cao kế vân hoàn cung dạng trang,
                春風一曲杜韋娘。    Xuân phong nhất khúc Đỗ Vi Nương.
                司空見慣渾閒事,    Tư Không kiến quán hồn nhàn sự,
                斷盡蘇州刺史腸。    Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường !
     Có nghĩa :
                   Tóc kết cung đình mây lướt trôi,
                  "Đỗ Vi Nương" khúc hát chơi vơi.
                   Tư Không quen mắt không cho lạ,
                   Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi !

       Ông đã ăn chơi quen thói, nên cho cảnh ăn chơi trác táng xa xỉ trước mắt là chuyện bình thường, là chuyện nhàn rỗi  (hồn nhàn sự), nhưng đối với tôi, đang lúc phải cầu xin triều đình mở kho lương thực để cứu tế dân tình đang trong cơn thiên tai lũ lụt, đói kém khắp nơi, thì cảnh ăn chơi sa đọa trước mắt qủa thật làm cho con người ta phải đau lòng đứt ruột ! Sao bây giờ ông lại vô tâm thế, ông đã quên mất khi xưa mình đã từng làm hai bài thơ MẪN NÔNG  rất hay, rất có tình người, rất có tính nhân bản hay sao ?!
              

            TƯ KHÔNG KIẾN QUÁN hồn nhàn sự,  Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường ! 

        Bài thơ trên của Thi Hào Lưu Vũ Tích còn hình thành một thành ngữ vẫn thông dụng cho đến hiện nay. Đó là bốn chữ "TƯ KHÔNG KIẾN QUÁN 司空見慣", nghĩa đen là : Quan Tư Không nhìn đã quen rồi; nghĩa bóng thường dùng để chỉ : Chuyện gì đó rất bình thường, không có gì là lạ cả; không làm cho ai đó phải trầm trồ hay ngạc nhiên gì cả ! Chuyện gì đó dù có lạ, có hiếm cở nào đi nữa, nhưng khi đã nhìn thấy nhiều lần rồi thì đều là "Tư Không Kiến Quán", là "Chuyện thường ngày ở huyện !".

      Lại một lần khi Lý Thân đang làm Tiết Độ Sứ ở đất Hoài Nam, lúc đó Tam nguyên Trương Hựu Tân 張又新 (một đối thủ chính trị từng hại cho Lý Thân suýt chút nữa thì bị chém đầu) bị bãi quan về quê, khi đi ngang qua địa phận của Lý Thân lại bị đắm thuyền, chết mất hai đứa con, lại sợ bị Lý Thân trả thù. Đau khổ, rối rắm và lo lắng vô cùng bèn hạ mình xuống nước viết một bức thư trần tình thật dài tạ lỗi với Lý Thân. Lý tỏ ra rất đồng tình và cảm thông cho nỗi bất hạnh của Trương, chẳng những bỏ qua những hiềm khích cũ, mà còn mời Trương đến nhà để thiết tiệc khoản đãi. Hai người cùng thù tạc như là bạn tâm giao lâu ngày vừa găp lại, nên uống đến say mèm... Chợt... 
      Trương Hựu Tân như tỉnh hẵn rượu ra vì trông thấy một ca kỹ mà Lý Thân vừa cho ra hát để giúp vui trong bữa tiệc... Thì ra đó là người yêu cũ hai mươi năm trước của Trương Hựu Tân khi ông đang làm quan ở đất Quảng Lăng, hai người yêu nhau nhưng chẳng thành quyến thuộc. Nay lại gặp mặt nhau trong hoàn cảnh trớ trêu nầy, bốn mắt nhìn nhau mà nói chẳng nên lời. Thừa lúc Lý Thân vào trong rửa mặt thay áo, Trương Hựu Tân bèn dùng ngón tay chấm vào rượu tức cảnh một bài tứ tuyệt viết lên mặt bàn như sau :

              雲雨分飛二十年,   Vân vũ phân phi nhị thập niên, 
              當時求夢不曾眠。   Đương thời cầu mộng bất tằng miên.
              今來頭白重相見,   Kim lai đầu bạch trùng tương kiến,
              還上襄王玳瑁筵。   Hoàn thướng Tương Vương đại mạo diên !
   Có nghĩa :
                   Mây mưa cách biệt hai mươi năm,
                   Chưa mộng hằng mơ thổn thức lòng.
                   Đầu bạc hôm nay còn gặp lại,
                   Tương Vương tiệc rượu hết còn mong !

      Lý Thân thay áo xong ra uống tiếp, thấy Trương Hựu Tân lộ vẻ âu sầu, bèn lệnh cho ca kỹ hát để giúp vui. Nàng ca kỹ bèn cất tiếng ngâm và hát bài thơ TẶNG QUẢNG LĂNG KỸ 贈廣陵妓 nói trên khiến cho Trương Hựu Tân và nàng cả hai cùng rơi lệ. Lý Thân hỏi biết chuyện, nên sau tiệc rượu, bèn cho người khiêng kiệu đưa nàng ca kỹ theo Trương Hựu Tân về để cùng nhau đoàn tụ.
      Qủa là một nghĩa cử cao đẹp của một thi nhân. Chẳng những không trả thù, mà còn giúp cho kẻ thù cũ được tròn mộng uyên ương. Lý Thân là như thế đó !

             


SƠ LƯỢC TIỂU SỬ LÝ THÂN :

     LÝ THÂN 李紳(772-846)tự là Công Thùy 公垂, người đất Hào Châu (An Huy), sau dời về Nhuận Châu, Vô Tích (Giang Tô). Con của Ô Trình Lệnh Lý Ngộ, là thi nhân, làm quan cao đến chức Tể Tướng.
     Lý Thân đậu tiến sĩ năm Nguyên Hòa nguyên niên đời Đường (806), được bổ về làm Chưởng Thư Ký cho Triết Tây Quan Sát Sứ Lý Ky. Năm sau Lý Ky mưu phản, ông can gián, nhưng không nghe, lại nhốt ông vào ngục. Lý Ky mưu phản thất bại, ông được thả và được triệu về kinh thăng chức Hiệu Thư Lang rồi Quốc Tử Trợ Giáo. Đời Đường Mục Tông lại được thăng Hàn Lâm Học Sĩ, cùng với Lý Đức Dũ và Nguyên Chẩn xưng là TAM TUẤN 三俊 (Ba người Tuấn Kiệt). Khi Đường Kính Tông tức vị, ông bị Lý Phùng Kiết, Trương Hựu Tân hãm hại, bị biếm làm Đoan Châu Tư Mã. Đầu những năm Đại Hòa đời Văn Tông (827), ông chuyển nhậm Từ Châu rồi Thọ Châu Thứ Sử. Sau thăng lên các chức vụ quan trọng như Triết Đông Quan Sát Sứ, rồi Hà Nam Doãn và Tuyên Võ Tiết Độ Sứ. Đường Võ Tông năm Hội Xương thứ 2 (842), về triều nhậm chức Trung Thư Thị Lang, đồng Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự, Tể Tướng. Hai năm sau lại bị chuyển về làm Hoài Nam Tiết Độ Sứ, không lâu thời mất, hưởng thọ 75 tuổi.
      Lý Thân cùng với Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị giao du xướng họa rất thân mật, họ đều là thành viên của việc vận động và đề xướng ra lối thơ Tân Nhạc Phủ. Ông sáng tác 20 bài Nhạc Phủ Tân Đề (đã thất truyền). Tác phẩm nổi tiếng để đời của ông là 《Mẫn Nông nhị thủ 憫農二首》nói về đời sống cơ cực vất vả của nông dân, rất được mọi người tán thưởng và thuộc lòng. Trứ tác thì có《Truy Tích Du Thi 追昔遊詩》trong Toàn Đường Thi thu tập lại được bốn quyển.
                

      Xin được khép lại bài viết "Một Thi Nhân nhưng với hai nhân cách" ở đây.

          Hẹn bài viết tới !

                                           

                        杜紹德
                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC


EM XA RỒI - Nhạc KHÊ KINH KHA






EM XA RỒI
NHẠC & LỜI KHÊ KINH KHA
TRÌNH BÀY CA SĨ ÁNH TUYẾT