CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

XIN ĐỜI ĐÔI PHÚT BÌNH YÊN - THƠ THY LỆ TRANG

         

       

              


     XIN ĐỜI ĐÔI PHÚT BÌNH YÊN 

     Họa lại bài GỬI LẠI CHO ĐỜI của anh ĐỔ CÔNG LUẬN


Đêm mơ nhặt ánh nắng tàn

Suối ưu tư chảy miên man vào hồn

Tuổi nào bóng ngã hoàng hôn ?

Tuổi nào khao khát vẫn còn trong ta?

Làm sao dứt bỏ phiền hà ?

Làm sao thoát cảnh bôn ba kiếp người ?

Sáu mươi năm lặng lờ trôi

Hỏi ta còn nhớ bao lời kệ kinh?

Đêm mơ qua cổng sân đình

Vầng trăng xưa vẫn lung linh ảo huyền

Xin đời đôi phút bình yên 

Tham,sân,si bỏ lại miền phù hoa

Gối tay bên cội thông già

Để nghe hương cỏ vô ưu ngập hồn



               THY LỆ TRANG 

            MASSACHUSETTS. 


Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM,VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN - THƠ ĐỖ ANH TUYẾN


 Kết quả hình ảnh cho ảnh xa cách


LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM

.

Tháng Năm rồi mà trời trở gió ngang

Chút rét mồ côi đậu trên nhành lá biếc

Anh đứng đợi em, lòng riêng thầm tiếc

Nắng đâu rồi? Để lạnh buốt bàn tay.

.

Cứ ngỡ mùa này phượng đã đỏ hây hây

Sen hồ kia đã bắt đầu xòe cánh mỏng

Ai biết được cái hanh hao se bóng

Lại tìm về giữa mùa hạ chói chang.

.

Áo mỏng chờ nhau, gió tạt ngỡ ngàng

Cái rét ngọt cứ len vào nấc cửa

Em có đến hay em còn lần lựa

Sợ ngoài đường sương muối đọng vai thon.

.

Anh vùi tay sâu trong túi áo sờn

Nghe hơi thở hóa thành làn khói nhẹ

Tháng Năm lạ kỳ, dịu dàng và khe khẽ

Dỗ dành anh bằng một chút heo may.

.

Dẫu có lạnh thêm, anh vẫn đứng đây

Gom hết gió mùa đông vừa lạc tới 

Để lúc em sang giữa dòng người mải miết

Ủ ấm bàn tay, bù lại những hao gầy...


.

VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN

.

Nắng đã chín trên đầu vạt cỏ

Gió bắt đầu ve vuốt những kẽ tay

Anh vẫn đứng nơi ngõ gầy năm cũ

Chờ một người... chẳng biết có về đây

.

Tháng Tư giấu mình vào trang vở cũ

Bằng lăng phai tím cả những âm thầm

Phố vẫn thế, người ngược xuôi mải miết

Chỉ riêng anh ngồi đếm thời gian.

.

Bến sông vắng, mình anh và ký ức

Sóng vỗ về hay lòng dạ xôn xao

Thoảng trong gió chút hương thầm xưa cũ

Cứ ngỡ bàn tay em vừa khẽ chạm vào


*

ĐỖ ANH TUYẾN


Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

BÀI TRĂM NĂM - THƠ TRẦN YÊN HOÀ

 

Trần Yên Hòa | Sáng Tạo


BÀI TRĂM NĂM

  

Không biết bao lâu ta chưa gặp lại

một vùng quê có một dòng sông

dòng sông tuổi thơ của ngày nhỏ dại

nâng niu đời ta như dải mây hồng

 

Có lẽ rất lâu - trong giấc mơ nào

ta trở về, miền thơ ấu hồn nhiên

buổi chiều đồng quê, có loài chim chiện

bay tít trên cao và hót, thật hiền

 

Có lẽ rất lâu hình như sớm lắm

ta đến trường cùng gió heo may

ôm tập vở nhàu trông không rõ chữ

thầy giáo gõ đầu, cô giáo khẻ tay

  

Có lẽ rất xưa - ngày ta mới lớn

ta đi cùng em, ta chạy cùng em

ta làm xe đua, ta làm ngựa cỡi

mộng mơ đầy tràn trang vở hoa niên

 

Có lẽ rất xưa - ngày em vào xuân

đôi má em hồng như trái bồ quân

đôi mắt em đen như nhung, ướt rượt

đốt cháy hồn anh, cùng nắng sân trường

 

Rồi thế rồi thôi - ta lạc nhau mất

lạc nhau đành đoạn suốt nửa đời

lạc nhau trong giấc chiêm bao cũ

biển loạn đời ta, thân nổi trôi

 

Thời gian như chiếc thoi khung cửi

qua lại hoài bao cuộc biển dâu

ta ôm mộng tưởng đi trăm ngã

nghiêng, ngửa, say, quên, túy lúy sầu

 

Đa đoan nửa đời sau gặp lại

nhìn em lại thấy bóng quê nhà

như cơn mưa đổ ngoài sân lạnh

đốt đuốc mà hơ những ngón tay

 

Đành đoạn nửa đời không thấy mặt

áo hồng em vẫn tựa màu xưa

màu xưa có nắng và mây nữa

em mang về theo lá thu mưa

 

Ơi nửa đời làm ta đau điếng

mất, được, làm sao biết hở em

anh vẫn còn trơ con tim trắng

và dòng máu đỏ chảy xuôi im

 

Ơi nửa đời làm ta đau nhói

đánh tráo nhau trong cuộc tình sầu

nửa đời trót đã nhàu thân thể

ta cam đành làm kẻ tình thua

 

Có lẽ, nửa đời, ta mới gặp

tuổi ấu thơ trong giấc mơ già

có lẽ, nửa đời, ta đánh mất

nơi em, miền thơ dại cùng ta

 

Hạnh ngộ mùa xuân cùng em bất tận

hoa hồng nhung là máu tim người

hạnh ngộ mùa xuân với trăng tình tự

hoa hồng còn thơm ngát người xưa

  

Nửa đời ta như mưa phơ phất

bỗng nhặt được lòng nhân ái từ tâm

của em, đánh rơi vào tình thứ nhất

để ta ôm hoài, đi giữa nhân gian

 


TRẦN YÊN  HOÀ


Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

NHẠC CỎ - TRẦN HỮU NGƯ


 Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'LAM PHƯƠNG COUA Co UA'Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'hồng'

NHẠC… CỎ
Tìm đâu xa… Cỏ cũng viết được bài hát!
-Cỏ.
Nhà nông đã từng khổ vì nhổ cỏ ruộng.
Tôi đã từng khổ vì dãy cỏ ở rẫy. Cỏ sống rất dai, dãy chỗ này nó mọc chỗ khác.
Người ta nói “sống dai như đỉa”, nhưng theo tôi cỏ cũng sống dai, sống dai như cỏ!
Nếu con người mà ăn cỏ để sống, thì thành phố sẽ không còn ai ở. Và thế giới này sẽ không còn người chết đói?
Có bài thơ nào viết về cỏ không? Nhưng truyện thì có “Ngọn cỏ gió đùa” của Hồ Biểu Chánh.
Trong âm nhạc cỏ lại được nói đến như ca khúc “Cỏ hồng” của Phạm Duy và “Cỏ úa” của Lam Phương.
Đời cỏ sinh ra cho đến khi cỏ hồng rồi cỏ úa.
Hai tư tưởng lớn đã gặp nhau: Nhưng Phạm Duy thì hồng, còn Lam Phương thì úa!
-CỎ HỒNG của PHẠM DUY (viết ở Dalat năm 1970):
“… Rước em lên đồi cỏ hoang ngập lối
Rước em lên đồi hẹn với bình minh
Đôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép
Hãy vứt chiếc dép bước đi ôm cỏ mềm
Đồi êm êm cỏ im im ngủ yên yên mộng rất hiền
Giọt sương đêm còn trinh nguyên
Nằm mê man chờ nắng sớm lên
Rước em lên đồi tiên
Đồi nghiêng nghiêng cỏ lóng lánh
Rồi rung rinh bừng thoát giấc lành
Trời mênh mông đồi thênh thang
Cỏ chênh vênh chờ đôi nhân tình
Rước em lên đồi xanh
Rước em lên đồi trinh…
Em ơi đây con đồi dài như bao nhiêu mộng đời
Nghiêng nghiêng nghe mặt trời yêu thương
Núi em trên đồi cỏ thơm mùi sữa
Níu em yêu ngồi trên bãi cỏ non
Giương đôi tay ôm thân tròn ơn mưa móc
Hãy vuốt mái tóc rũ trên vai anh mòn…
Em ngoan như tình nồng
Em bao la mịt mùng
Em thơm như cỏ hồng em ơi!...”
-CỎ ÚA của LAM PHƯƠNG (viết sau 1975 ở hải ngoại khi cuộc sống rơi vào cảnh cơ cực, cô đơn):
“… Còn nhớ tên nhau xin gọi trong giấc mộng
Còn chút thương yêu xin đưa vào dư âm
Có phải còn yêu vì đôi lần thấm nhớ?
Mình đã thật quên cớ sao lòng vẫn chờ?
Từ lúc anh đi trong rượu cay men nồng
Màu trắng khăn tang quanh căn phòng cô đơn
Bão tố triền miên ngày em về nhà đó
Buồn hắt buồn hiu ngõ đêm sầu cô đơn
Một chiều trên đồi anh làm thơ
Cỏ biếc tương tư vàng úa
Mộng dệt theo đàn bên người mơ
Mới biết mình mơ bao giờ
Hỡi cố nhân ơi chuyện thần tiên xa rồi
Tình đã như vôi mong chi còn chung đôi
Cứ cúi mặt đi để nghe đời lầm lỡ
Đừng níu thời gian cho thêm sầu vương mang…”
Cỏ: Hai câu chuyện trình trái ngược nhau:
1-Cỏ Hồng của Phạm Duy là hạnh phúc của tác giả trên một ngọn đồi đầy cỏ hồng lãng mạn.
2-Cỏ Úa của Lam Phương là sự bất hạnh của chính tác giả trong tình yêu dẫn đến cỏ bạt lòng héo úa!
Cỏ, dù hồng hay úa, cũng làm nên hai tuyệt phẩm của hai nhạc sĩ đã gắn trọn đời cho âm nhạc.
-“Chỉ có chết mới chia lìa âm nhạc”.



TRẦN HỮU NGƯ
(Saigon-Gidinh, 5.9.2024)

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

ĐỌC TẬP THƠ 'NÍN THỞ'' CỦA NGUYỄN HỮU THUỴ - PHAN NI TẤN

 

Có thể là hình minh họa về ‎văn bản cho biết '‎כולן こちい nthở thở nin ty TiL 2 Hữu m Nguyễn NHÀXUÁTBAĐÀNĂNG NHÀ XUATE BÀ ĐÀ ÀNANG‎'‎

Nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy ở bên nhà có nhờ cô Biên Huỳnh Phạm gởi cho tôi một tập thơ tựa đề Nín Thở, tôi đọc:

NÍN THỞ

Nín Thở, tựa đề tập thơ của Nguyễn Hữu Thụy gồm 56 bài, 142 trang. Lẽ ra còn nhiều bài hơn, như nhà thơ cho biết số phận tập thơ Nín Thở đã trải qua rất nhiều nhà xuất bản vẫn không cấp cho giấy phép – cuối cùng phải bỏ đi một số bài mới qua truông kiểm duyệt. Nguyễn Hữu Thụy tâm sự: "Ở đây những người làm thơ ngoài luồng, đứng độc lập như tôi rất hiếm hoi và cô đơn lắm". Mà thật, thơ Nín Thở mới vào đề đã mang lời lẽ ngông nghênh, trái nết, tuy "không giống ai" nhưng được cái là khí phách, nhất là giữ được chất thơ hào sảng, ngang tàng mà "đám ruồi bu" khó chấp nhận:
Không giống ai - ta chỉ giống chính mình
Thằng trái tính khó ưa mà rất thiệt
Trái thời cuộc lâu ngày thành trái nết
Ít người thương mà đứa ghét lại nhiều
Sách đắc nhân tâm chỉ dạy đủ điều
Ai làm được đã danh nhân hiền triết
Lại nghe nói "Cái tôi là đáng ghét"
Nghiệm lại chính mình bù trất cả hai
Thấy đám ruồi bu mà ngứa lỗ tai
Nghe thở hơi đồng xốn con mắt đỏ
Trong suy nghĩ thắp treo mình đèn bão
Tim – bấc sắp tàn vừa đủ tự soi
Cứ sống chính danh đủ biết lỗi thời
Như phần mềm nằm sâu trong bộ não
Khi được lập trình dưới tay tạo hóa
Ngay từ đầu lộn cái bị điên điên
Cõi tạm dung đời có một cõi riêng
Ai thương ghét khác nhau thì đã rõ
Xin cúi xuống cảm ơn lời hỉ… nộ
Trong xa vời để ngó mảnh vườn rêu.
(Không Giống Ai, tr. 5, 6)
Thuở ấy, cái thời trai trẻ vốn hoang phí ấy, nhà thơ Nín Thở ngất ngưởng phán đời đã buồn lại trôi như nước thì giữ làm gì, chỉ có rượu trên tay uống quên đời mới khai thông trí hóa, giải phá cơn sầu, lùa sầu vào trong máu:
Ta đã phí một khoảng đời trai trẻ
Rượu thâu đêm suốt sáng với trăng tà
Đời đã buồn héo úa cả thịt da
Thì lắm lúc tiếc gì cho cuộc sống
Ngày đã qua như một trang lịch mỏng
Thì tiếc gì khi ngọn lửa đang lên
Đời đã trôi như dòng nước không tên
Thì giữ lại làm chi thêm phiền muộn
Đời chỉ có một đôi lần sung sướng
Trăm ngàn lần quờ quạng trước đau thương
Nên uống đi cho lấp hết nỗi buồn…
(Rượu Trên Tay, tr.7, 😎
Có ai từng thấy… "màu thơ" chưa? Mà màu thơ là màu gì? Trời xanh, mây trắng, bông lê, bông lựu, bốn mùa xuân hạ thu đông… là những cảnh vật ở thể nổi mới có màu sắc tự nhiên. Vẽ ra một hình thể hay khắc nên một hình tượng, ngay cả viết thành chữ cái, nét chữ đậm nếu có màu vàng hay thau thì còn nhận thấy, đằng này thơ vốn trừu tượng thì thơ làm sao có màu, cho dù "những câu thơ có tiềm tàng nội lực" thì thơ cũng khó mà có… màu thơ.
Nói là nói vậy chớ màu thơ của Nguyễn Hữu Thụy có khác gì màu thơ rực rỡ của Xuân Diệu đâu: "Thu biếc tỏ, hè nâu thơm vị quế. Xuân ngát hồng, đông xám cũng đầy mơ". Cũng ở ngoài Bắc, màu thơ của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ cũng thật đặc sắc: "Cây bàng lên búp nhỏ. Xanh như là thương nhau". Cho nên "màu thơ" của Nguyễn Hữu Thụy là ngôn ngữ thơ gợi lên cái đẹp, lạ và hay, được tô điểm bằng một tấm lòng dạt dào rung cảm tứ thơ:
Vàng sẽ là vàng
Thau sẽ là thau
Quyền tối thượng chỉ dành cho độc giả
Và thời gian sẽ dũa mài tất cả
Những râu ria sơn phết màu thơ…
(Thơ Mai Sau, tr. 13)
Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn là bản tình ca bất hủ, nội dung gởi gắm một nỗi buồn ray rức khôn nguôi. Ca khúc này ra đời từ năm 1960 đến nay vẫn thong dong hát mãi trên đầu môi chót lưỡi con người, cho nên người trần gian dựa vào đó mà khéo ví von cái gì xưa đều thành… xưa rồi Diễm. Trong Nín Thở, bài thơ "Xưa Rồi Diễm" của Nguyễn Hữu Thụy cũng bày tỏ một loại ngôn ngữ mất mát, trăn trở, hư hao là trạng thái của một người thất tình. Toàn bài gồm 32 câu chung qui nếu chỉ dẫn chứng bốn câu cũng đủ gợi lên một nỗi bẽ bàng:
Yêu nhau chịu phận cùng oan nghiệt
Rồi ra không đủ sức gánh gồng
Lẳng lặng chia xa là chấm hết
Mỗi phận đời riêng mỗi nhánh sông … (tr.11)
Xưa nay thi sĩ vốn là nòi tình, là loài trời sinh để yêu cho dù có bị hất hủi thậm chí còn bị đánh đập, bị đạp xuống bùn nhơ, bị knock out đến bất tỉnh vẫn không chừa, khi tỉnh lại vẫn một mực… làm thơ:
Tạ lỗi hồng nhan – khi nào ta còn thấy
Mắt biếc đưa tình là tim đập xôn xao
Đã bao lần lãnh đủ cú knock out
Vẫn thích thú làm thơ khi tỉnh lại.
Nguyễn Hữu Thụy vốn sở trường về thơ bảy chữ, tám chữ và tự do, thỉnh thoảng mới chuyển qua thể thơ lục bát. Như ta đều biết lục bát là thể thơ truyền thống mười bốn chữ của dân tộc Việt Nam, xuất hiện từ cuối thế kỷ XV. Thuở cha ông ta, những người làm thơ vô danh nơi thôn dã dùng lục bát để thể hiện tâm ý mình: ngắn gọn không khuôn sáo, sinh động ở nét uyển chuyển, mềm ngại, ngân nga và tràn đấy thi tính.
Thơ lục bát của Nguyễn Hữu Thụy cũng có sự luyến láy, mềm mại, diễn tả tình cảm ngọt ngào, trầm lắng, thiết tha. Trong Nín Thở, nhan đề Hạt Muối mô tả mối tình keo sơn trong sáng gợi cho người đọc nhớ tới câu ca dao về muối và gừng gắn liền với sự thủy chung, son sắt, nghĩa tình sâu nặng "Muối ba năm muối đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa". Ta đọc ở đây vài câu lục bát mặn mòi, lấp lánh của Hạt Muối, là một thể thơ trữ tình thuần túy mang đậm nét thủy chung như nhất:
Muối thường nhắc nhở cho đời
Gừng cay muối mặn ướp lời yêu thương
So cùng nước biếc đại dương
Muối đây một nắng hai sương ướp tình
Giữ lòng hạt muối kết tinh
Mặn trên đầu lưỡi dặn mình chớ quên (tr.20).
Thơ mà ca ngợi quê hương đất nước, ngợi ca tình tự dân tộc bao giờ cũng đánh động lương tâm những ai vốn yêu nước thương nòi. Lịch sử Việt Nam, sau đại họa tháng 4/75, những bậc tri thức ưu thời mẫn thế, những văn nhân thi sĩ chân chính có ý thức đấu tranh đã mang vào thơ văn những ngôn từ, hình ảnh khá mới mẻ, dù băn khoăn trước thời thế vẫn không để mất giá trị nghệ thuật, điển hình là tác giả tập thơ Nín Thở. Nguyễn Hữu Thụy là một nhà thơ có tài trong cách sử dụng hình ảnh và nhạc điệu để gởi gắm đất nước khổ nạn vào dòng chảy của con sông quê, dòng sông mà tác giả ví như dòng máu tổ tiên:
Đất nước bao đời ở với dòng sông
Từ ngày khai thiên đến ngày lập quốc
Những dòng chảy mang đầy tiềm lực
Có linh hồn và hơi thở linh thiêng
Những dòng sông đã nối tiếp nhau
Căng no gió thuyền buồm xuôi ra biển
Đã bồi lỡ nổi chìm bao trận chiến
Giữ cho còn tên gọi một quê hương
Lời tỏ cùng sông thương nhớ dặm dài
Nứt nẻ những bàn chân cầu Trời khấn Phật
Thân cóng lạnh trôi dài trên mặt đất
Đến tận cùng khổ nạn vận sông quê.
(Tỏ Lời Cùng Những Dòng Sông. tr.27, 28)
Ta yêu nước dặm dài bao thế kỷ
Chở ca dao nhịp võng Mẹ ru hời
Nghe tiếng thoi đưa bóng hạc bỏ xa trời
Thơ yêu nước nồng nàn nuôi ta lớn
(Thơ – Với Thơ Đầu Năm. tr.33)
So với ba miền, thiết tưởng đất phương Nam tương đối là đất lành, dân tình rộng lượng thương người lỡ bước vốn là "tình Phương Nam như Mẹ kế đỡ đàn". Học sử ta đều biết Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là người mở đầu cho sự nghiệp mở đất phương Nam đời đời ai cũng một lòng tưởng nhớ công ơn đúng như lời thơ tha thiết của Nguyễn Hữu Thụy "ghi nợ đất phương này":
Ơn chúa Nguyễn Hoàng khi xưa mở đất
Đời chúng ta còn hưởng xái chút tình
Cuối đường cong chữ S đã tượng hình
Có khoảng trời xanh ngoi lên để thở…
(Phương Nam. tr.37)
Nghiên cứu về nguồn gốc và quê quán dòng tộc Nguyễn Hữu thì tộc này đã trải qua nhiều đời từ Ninh Bình đến Gia Miêu, Thượng Trung, Thanh Hóa… Riêng ở Nghệ An, vào thế kỷ XVI, tộc Nguyễn Hữu có bề dầy lịch sừ hơn 300 năm gồm 17 đời 6 chi hậu duệ sâu sắc nhất với truyền thống khoa bảng, nhân từ, trung hậu, môt tấm gương sáng ngời có công trong việc mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước.
Đó là lược sử nước Nam được ghi chép từ đời xa xưa. Đi tìm cái đẹp của nếp thời gian thăm thẳm đó, Nguyễn Hữu Thụy đã cung cấp cho ta một hình ảnh đặc biệt từ một bản chất sâu xa, đó là "Cây phổ hệ" là loại cây chỉ việc ghi chép lại lịch sử, nguồn gốc của một dòng họ hoặc gia đình có công trạng từ xưa đến nay. Tác giả cũng cho biết cây phổ hệ đời thứ mười hai của tộc Nguyễn Hữu tại vị Phúc Khương bị vỡ tổ vì thiên tai chiến tranh đành phải hướng tới một cuộc sống lưu dân trôi giạt vào Nam.
Dưới ngòi viết gốc Quảng Nam của Nguyễn Hữu Thụy, bài thơ tự sự "Nguyễn Hữu Phía Nam" gồm mười sáu đọan, mỗi đoạn bốn câu mô tả hoàn cảnh và tình cảm của tộc Nguyễn Hữu với biết bao cái ngổn ngang, ngóc ngách của cuộc đời vốn rối rắm khởi từ cái rất xưa đến cái hiện nay. Vẻ đẹp của những câu thơ có chứa chan chân tình mà cũng trớ trêu, ngang trái nhưng đọc lên không có gì là ồn ào, cường điệu, phá phách mà cái khí cốt của hồn thơ "phía Nam đi tới" lại đậm đà, chân chất và thi vị nhằm bày tỏ một thái độ đối với nhân sinh nhọc nhằn cho dù bộ tộc rất nhỏ bé nhưng "Chắc cũng tròn đều bọc trứng Âu Cơ". Xin trích đoạn bài thơ trên để kết thúc bài viết về tập Nín Thở này.
Thiên hạ tộc to họ lớn
Gặp được thời xưng bá xưng vương
Nguyễn Hữu đời ta tại vị Phúc Khương
Phúc chẳng thấy – Khương đâu chẳng thấy!
Từ Nghệ An khó nghèo biết mấy
Vào Quảng Nam theo Chúa Nguyễn Hoàng
Ba trăm năm dựng nghiệp nông tang
Cây phổ hệ sum suê cành gốc ngọn
Nguyễn Hữu phía Nam – phía Nam đi tới
Cây liếp cây xanh thay lá đổi màu
Nguyễn Hữu đời ta tại vi Phúc Khương
Phúc khởi sáng Khương nay khởi sáng
Trà rượu trống chiêng – tinh thần hào sảng
Ta đọc bài hành cúng buổi tế xuân thơm.


PHAN NI TẤN

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

HỒI SINH TÔI - THƠ TRẦN YÊN HOÀ


Amazon.com: Rớt Xuống Tuổi Thơ Tôi ...

 


HỒI SINH TÔI


Tôi trần thân, tôi đau đời quá đổi

Như cây cành bị gió xô nghiêng

Tôi cuốn trôi như giòng thác lũ

Chao trên đời chạm dòng điện viễn liên

 

Tôi chấp chới giữa giòng nước xoáy

Quay mòng trong đêm tối mịt mùng

Tôi qụy ngã bên bờ mương rẫy

Không còn phân chia sáng, tối. dững dưng.

 

Đời cô quạnh khi người bỏ đi

May có em hồi sinh ta thở

May có em cho ta nỗi nhớ

Giữa dòng cuồng lưu ta bám được bờ

 

Em thiên thần em trong ta diệu vợi

Vẫy nước cam lồ cứu thoát ta qua

Cửa sinh tử em vớt ta đứng dậy

Giữa nhân gian ta quay trở lại nhà

 

Hồi sinh ta có em đứng cạnh

Có em là hạnh phúc gần bên

Ta cúi xuống gục đầu trong tưởng vọng

Màu tình xanh cho giấc mộng thật gần

 

Hạnh phúc tôi, hạnh phúc em nhập một

Tôi xin qùy cảm tạ ơn trên

Ơn chót vót, (còn đời tôi dại dột)

Yêu một người mà tưởng cứ trăm năm

 

Hạnh phúc em, hạnh phúc tôi là một

Ta dắt díu nhau về miên viễn vô cùng

Anh trải cho em tấm chăn thật ấm

Vai tựa vào anh, luôn nhìn má em hồng…

 


TRẦN YÊN HOÀ

Nguồn : từ email của tác giả gửi


Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO - THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN

 


ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO

 

gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố

mùa đi qua cho lá rụng xuống đường

tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ

khi mưa về làm ướt cả muôn phương

 

lòng cũng hẹp như trăng tròn lại khuyết

màu trời kia đã sáng xuống bên đồi

muốn che hết chút phận người quá mỏng

để thấy đời như hạt bụi rong chơi

 

sẽ là gì khi thời gian không đợi

cứ lãng du theo gió bão trên trời

biết là vậy mà quên đi một bữa

nắng không đầy cho má đỏ thắm tươi

 

rồi cứ thế cứ mưa chiều nắng sớm

tuổi cứ chồng lên từng đám mây cao

đi cho hết trăm năm còn mớ ngủ

giữa đêm dài hư ảo với trăng sao

 

đừng chờ nữa một mùi hương đã chín

đã thơm lên nhưng rất khó kiếm tìm

dù mơ ước khỏng thành mây trên núi

sao đợi hoài giọt máu chảy về tim

 

rồi thuở ấy xin hoàng hôn mái tóc

để chải đầy từng dĩ vãng qua tay

lần này nữa quyết đưa hương lên áo

để níu về giấc mộng sót trên cây.

 


HUỲNH LIỄU NGẠN

Nguồn : từ email Trần Yên Hoà gửi