CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2020

Góc Việt Cổ Thi : Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN (Phần 4) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

Chieu Duc

08:37 (10 giờ trước)


Góc Việt Cổ Thi : 


                                   Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN

                                                     (Phần 4)


                                   Inline image

                                                Vạn Thạch Đình


16. Bài thơ Vạn Thạch Đình :


     萬石亭                 VẠN THẠCH ĐÌNH

木樨花下酒初醒,    Mộc tê hoa hạ tửu sơ tinh,

乘興登臨萬石亭。    Thừa hứng đăng lâm Vạn Thạch Đình.

豪傑舊遊無覓處,    Hào kiệt cựu du vô mịch xứ,

曲欄杆外數峰青。    Khúc lan can ngoại sổ phong thanh.

              阮忠彥                               Nguyễn Trung Ngạn


       Inline image


* Chú Thích :

  - Vạn Thạch Đình 萬石亭 : Tên địa danh, nay thuộc huyện Nhạc Dương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

  - Mộc Tê Hoa 木樨花 : là Hoa Quế.

  - Hứng 興 : là Hứng thú; nếu đọc là HƯNG thì là Hưng thịnh (động từ). Nên THỪA HỨNG 乘興 : là Nhân lúc còn đang hứng thú.

  - Vô Mịch Xứ 無覓處 : Không có chỗ để tìm; có nghĩa Tìm không thấy chỗ cũ.

  - Khúc 曲 : là Gãy, là Cong; KHÚC LAN CAN 曲欄杆 là Dãy lan can uốn khúc.

  - Sổ Phong Thanh 數峰青 : SỔ là Mấy, PHONG là Ngọn núi, THANH là Xanh; nên SỔ PHONG THANH là Mấy ngọn núi xanh xanh, chớ không phải "Mấy tiếng gió".


* Nghĩa bài thơ :

                                 ĐÌNH VẠN THẠCH

      Mới vừa tỉnh rượu ở dưới chòm hoa quế, nhân lúc còn đang hứng thú bèn leo lên Vạn Thạch Đình để ngắm cảnh. Nhưng chẳng sao tìm được chỗ mà các hào kiệt ngày xưa từng dạo chơi, chỉ thấy bên ngoài dãy lan can khúc khuỷu là mấy ngọn núi xanh xanh mà thôi !

      Cảnh xưa vẫn còn đó và vẫn đẹp như xưa, nhưng anh hùng hào kiệt ngày xưa thì giờ đang ở nơi nao ? Thật là cảm khái ! Đọc bài thơ nầy lại làm cho ta nhớ tới hai câu thơ của nhà thơ Tiền Khởi 錢起 đời Đường trong bài Tương Linh Cổ Sắc〈湘靈鼓瑟〉như sau :


                      曲終人不見,  Khúc chung nhân bất kiến,

                      江上數峰青.   Giang thượng sổ phong thanh !

     Có nghĩa :

                         Khúc tàn người đã vắng tanh,

                   Trên sông mấy ngọn núi xanh một màu.


* Diễn Nôm :

                                   VẠN THẠCH ĐÌNH


                              Inline image

  Song thất lục bát : 

                             Dưới hoa quế cơn say vừa tỉnh,

                             Vạn Thạch Đình hướng đỉnh leo lên.

                             Dấu xưa hào kiệt buồn tênh,

                             Lan can uốn khúc núi xanh mấy hòn.

        Lục bát :

                            Dưới hoa vừa tỉnh cơn say,

                            Thạch Đình thừa hứng leo ngay lên đồi.

                            Nào nơi hào kiệt dạo chơi...

                            Lan can khúc khuỷu bồi hồi núi xanh !

                                                                        Đỗ Chiêu Đức


17. Bài thơ Vĩnh Dinh Hữu Hoài :


   永營有懷                  VĨNH DINH HỮU HOÀI


別此繁華十幾年,     Biệt thử phồn hoa thập kỷ niên,

而今重過大非前。     Nhi kim trùng qúa đại phi tiền.

眼中里落多彫耗,     Nhỡn trung lý lạc đa điêu háo,

心上知交半瘠捐。     Tâm thượng tri giao bán tích quyên.

人雜肆移前後市,     Nhân tạp tứ di tiền hậu thị,

潦深平浸夏秋田。     Lạo thâm bình tẩm hạ thu điền.

棠梨見說猶濃蔭,     Đường lê kiến thuyết do nùng ấm,

客步低絗思惘然。     Khách bộ đê hồi tứ võng nhiên.

               阮忠彥                         Nguyễn Trung Ngạn


       Inline image


* Chú Thích :

  - Hữu Hoài 有懷 : Có hoài cảm, là có xúc cảm về... cái gì đó.

  - Đại Phi Tiền 大非前 : ĐẠI ở đây là Trạng Từ, có nghĩa như Rất, Lắm; PHI TIỀN là Khác Trước, nên ĐẠI PHI TIỀN có nghĩa là Rất khác trước, là Khác trước rất xa.

  - Lý Lạc 里落 : Lý là Hương Lý; LẠC là Bộ lạc, nên LÝ LẠC là từ kép chỉ Làng xóm, Láng giềng.

  - Điêu Háo 彫耗 : ĐIÊU là Tàn tạ héo úa, HÁO vốn âm HAO, đọc HÁO cho đúng Bằng Trắc. HAO là Hao tổn, nên ĐIÊU HAO là Điêu tàn tiêu điều linh lạc.

  - Tích Quyên 瘠捐 : TÍCH là Gầy còm ốm yếu; QUYÊN là Hiến, là Bỏ, như Quyên Sinh là Bỏ mạng sống là chết; nên TÍCH QUYÊN là Bệnh tật và chết chóc.

  - Nhân Tạp Tứ Di 人雜肆移 : Người thì Tạp nhạp, Quán xá (TỨ) thì Dời đổi (DI).

  - Lạo Thâm Bình Tẩm 潦深平浸 : Đầm nước đọng (LẠO) thì sâu ngập bằng cả mặt nước (BÌNH TẨM).

  - Đường Lê 棠梨 : Một loại Lê, còn gọi là Cam Đường, trái ngon ngọt. CAM ĐƯỜNG còn là tên một bài thơ trong thiên Thiệu Nam 詩經,召南 của Kinh Thi, kể lại tích của Thiệu Bá (Thiệu Công Thích) đời nhà Chu. Ông làm quan thanh liêm, tính tình giản dị, khi đi kinh lý các đất ở phương nam, ông thường hay ngồi dưới gốc cây cam đường để nghỉ ngơi, làm việc và xử án. Dân chúng cảm mến nên bảo vệ cây cam đường và làm thơ ca ngợi như sau :


                    蔽芾甘棠,   Tế phế Cam đường,

                    勿翦勿伐,   Vật tiễn vật phạt,

                    召伯所茇。   Thiệu Bá sở bạt.

    

                    蔽芾甘棠,   Tế phế cam đường,

                    勿翦勿敗,   Vật tiễn vật bị (bại),

                    召伯所憩。   Thiệu Bá sở khí.


                    蔽芾甘棠,   Tế phế cam đường,

                    勿翦勿拜,   Vật tiễn vật bế (bái),

                    召伯所說。   Thiệu Bá sở thuế (thuyết).

      Có nghĩa :

                        Inline image


                    Cam đường cành lá xanh xanh,

                    Xin đừng cắt xén xin đừng đốn cây,

                    Thiếu Bá đã từng ngồi đây.


                    Cam đường cành lá xanh um,

                    Xin đừng cắt xén xin đừng phá cây,

                    Thiếu Bá từng nghỉ nơi đây.


                    Cam đường cành lá um tùm,

                    Xin đừng cắt xén xin đừng bẻ cong,

                    Thiếu Bá đã từng dừng chân.

      

   - Nùng Ấm 濃蔭 : NÙNG là Đậm đà, rậm rạp; ẤM là cái bóng cây, nên NÙNG ẤM chỉ Bóng cây to rậm rạp.       - Đê Hồi 低絗 : là Chỉ tơ rối nùi.

   - Võng Nhiên 惘然 : là Hoang mang, mơ hồ, thấp thỏm không yên.


* Nghĩa bài thơ :

                                        CẢM XÚC KHI ĐẾN VĨNH DINH

       Từ biệt với chốn phồn hoa đô hội nầy cũng đã mười mấy năm trời rồi, nên nay khi trở lại thì thấy khác xa trước đây rất nhiều. Làng xóm nhìn qua một lượt thì thấy đã tiêu điều tàn tạ, còn bạn bè tri giao thân thuộc ngày xưa giờ đã già yếu chết chóc hơn phân nửa rồi. Chợ búa trước sau thì quán xá đã di dời nhân sự thì hỗn tạp, nước của các đầm sâu tràn ngập bằng cả đồng ruộng của vụ hè thu. Nghe thấy cây đường lê vẫn còn phủ bóng rậm rạp, nên chi khách bước đi mà lòng rối nùi như tơ, trong dạ hoang mang không dứt.


       Người cũ trở về đây, nhưng cảnh cũ đâu còn nữa, cả nhân sự cũng đổi thay, chỉ còn có cây đường lê trước ngõ là vẫn còn rợp bóng xanh om, khiến cho người viễn khách trở lại chốn xưa không khỏi bồi hồi cảm xúc !


* Diễn Nôm :

                        VĨNH DINH HỮU CẢM


                      Inline image


                   Cách biệt phồn hoa qúa chục năm,

                   Khác xa khi trước lúc về thăm.

                   Xóm làng nơi đổi nơi tan tác...

                   Bè bạn kẻ già kẻ mất tăm...

                   Chợ búa trước sau người tạp nhạp,

                   Hè thu đồng ruộng nước tràn xâm.

                   Đường lê rợp bóng như ngày trước,

                   Khách bước chân chồn vẻ khổ tâm.

      Lục bát :

                   Phồn hoa cách biệt mười năm,

                   Khác xa lúc trước về thăm nơi nầy.

                   Xóm làng tan tác đó đây,

                   Bạn xưa kẻ chết người gầy già nua.

                   Trước sau chợ chẳng như xưa,

                   Đầm sâu ruộng ngập lúa vừa hè thu.

                   Đường lê rợp bóng thâm u,

                   Khách dồn chân bước rối bù tâm can.


                                                         Đỗ Chiêu Đức


18. Bài thơ Xuân Trú :


       春晝                           XUÂN TRÚ

縈迴竹徑遶荒齋,    Oanh hồi trúc kính nhiễu hoang trai,

避俗柴門晝不開。    Tị tục sài môn trú bất khai.

啼鳥一聲春睡覺,    Đề điểu nhất thanh xuân thụy giác,

落花無數點蒼苔。    Lạc hoa vô số điểm thương đài.

              阮忠彥                         Nguyễn Trung Ngạn


      Inline image


* Chú Thích :

  - Trú 晝 : là Ban ngày, nên Xuân Trú 春晝 là Ban ngày trong mùa xuân.

  - Oanh Hồi 縈迴 : là Lòng vòng, là loanh quanh.

  - Nhiễu 遶(繞) : Đi vòng quanh, là bao bọc lấy. 

  - Hoang Trai 荒齋 : là Thư trai hoang vắng, là phòng đọc sách nơi vắng vẻ.

  - Tị Tục 避俗 : TỊ là lánh, là tránh xa, TỤC là Thế tục, nên TỊ TỤC là tránh xa nơi thế tục.

  - Thụy giác 睡覺 : là Thức giấc, là Ngủ thức dậy.

  - Thương Đài 蒼苔 : là Rêu xanh.


* Nghĩa bài thơ :

                                                 NGÀY XUÂN

      Con đường mòn hai bên trồng trúc uốn quanh bao bọc lấy căn thư trai hoang vắng, Vì muốn tránh xa thế tục nên cánh cửa bằng cây sơ sài ban ngày vẫn đóng kín. Một tiếng chim hót làm cho tỉnh giấc mộng xuân, nhìn ra thấy vô số hoa đang rụng trên thềm rêu xanh biếc.


      Đọc bài nầy làm cho ta nhớ đến bài ngũ ngôn tứ tuyệt Xuân Hiểu của Mạnh Hạo Nhiên đời Đường là :


                     春眠不覺曉,    Xuân miên bất giác hiểu,

                     處處聞啼鳥。    Xứ xứ văn đề điểu.

                     夜來風雨聲,    Dạ lai phong vũ thanh,

                     花落知多少?!    Hoa lạc tri đa thiểu ?!

       Có nghĩa :

                     Đêm xuân ngủ quên sáng,

                     Nơi nơi tiếng chim kêu.

                     Suốt đêm nghe mưa gió,

                     Hoa rụng biết bao nhiêu ?!


      Mạnh Hạo Nhiên thì ngủ say trong đêm xuân, còn Nguyễn Trung Ngạn thì ngủ say trong ngày xuân, đều là những kẻ sĩ muốn tìm chốn thanh nhàn để "lánh xa trần tục"!


* Diễn Nôm :

                               NGÀY XUÂN


                      Inline image


                   Quanh co ngõ trúc bọc thư trai,

                   Thoát tục sài phi đóng ngủ ngày.

                   Một tiếng chim kêu choàng tỉnh giấc,

                   Vô vàn hoa rụng phủ rêu đài !

        Lục bát :

                   Thư trai ngỏ trúc quanh co,

                   Cửa sài đóng kín chẳng lo nhân tình.

                   Chim kêu một tiếng giật mình,

                   Bên thềm hoa rụng rêu xanh phủ đầy !


                                                           Đỗ Chiêu Đức


19. Bài thơ Yên Tử Giang Trung :


    安子江中                YÊN TỬ GIANG TRUNG


春潮漠漠漲平川,    Xuân triều mạc mạc trướng bình xuyên,

蒲裡花深水鳥眠。    Bồ lý hoa thâm thủy điểu miên.

山北山南情景好,    Sơn bắc sơn nam tình cảnh hảo,

江山無限隔歸船。    Giang sơn vô hạn cách quy thuyền.

               阮忠彥                             Nguyễn Trung Ngạn


     Inline image

 

* Chú thích :

  - Mạc Mạc 漠漠 : là mênh mông mờ mịt.

  - Bình Xuyên 平川 : là Mặt đất bằng phẳng mênh mông.

  - Bồ 蒲 : là cỏ Bồ, là Cói là lát.

  - Vô Hạn 無限 : là không có hạn định, là dàn trải mênh mông...

  - Cách 隔 : là Ngăn , chia, là Cách trở.


*Nghĩa bài thơ :

                                  TRÊN SÔNG YÊN TỬ

       Sóng xuân mờ mịt theo con nước tràn cả lên bờ bằng phẳng, sâu trong đám hoa lau hoa sậy các con chim nước đang ngủ gật ngủ gù. Phong cảnh của các dãy núi phía bắc và phía nam đều đẹp cả, núi sông dàn trải vô tận như đang ngăn cách con thuyền trở về.


* Diễn Nôm :

                          YÊN TỬ GIANG TRUNG


                        Inline image


                     Sóng xuân mờ mịt thủy triều lên,

                     Chim nước trong lau sậy ngủ quên.

                     Núi bắc núi nam phong cảnh đẹp,

                     Non sông cách trở khó xuôi thuyền.

       Lục bát :

                     Sóng xuân mờ mịt tràn bờ,

                     Bên trong lau sậy dật dờ chim âu.

                     Núi nam núi bắc đẹp sao,

                     Non sông dàn trải đường nào về quê !


                                                        Đỗ Chiêu Đức


20. Bài thơ Yên Tử Sơn Long Động Tự :


 安子山龍洞寺           YÊN TỬ SƠN LONG ĐỘNG TỰ

蒼蘿寒磴苦躋攀,     Thương la hàn đặng khổ tễ phan,

才到松門便解顏。     Tài đáo tùng môn tiện giải nhan.

一簇樓臺藏世界,     Nhất thốc lâu đài tàng thế giới,

四時花鳥別人間。     Tứ thời hoa điểu biệt nhân gian.

隔林有恨猿啼月,     Cách lâm hữu hận viên đề nguyệt,

倚榻無言僧對山。     Ỷ tháp vô ngôn tăng đối san.

安得身輕除物累,     An đắc thân khinh trừ vật lụy,

紫霄峰頂伴雲閒。     Tử Tiêu phong đỉnh bạn vân nhàn.

         阮忠彥                         Nguyễn Trung Ngạn


       Inline image


* Chú Thích :

  - Thương La 蒼蘿 : là những dây leo màu xanh.

  - Hàn Đắng 寒磴 : là những bậc đá lạnh.

  - Tễ Phan 躋攀 : là leo trèo.

  - Tùng Môn 松門 : Cửa làm bằng cây thông, ở đây chỉ cửa chùa.

  - Giải Nhan 解顏 : GIẢI là Mở ra, là buông thả; NHAN là Dung nhan, sắc mặt; nên GIẢI NHAN là Buông lỏng sắc mặt xuống không còn khẩn trương nữa, nghĩa bóng là Khỏe khoắn, hết căng thẳng. 

  - Nhất Thốc 一簇 : Lượng từ, là Một xâu, một dãy, một cụm.

  - An Đắc 安得 : Làm sao có được, làm sao để có được.

  - Vật Lụy 物累 : là những vật chất phiền lụy.

  - Tử Tiêu 紫霄 : là đỉnh cao nhất của Yên Tử Sơn, cao 1068m so với mực nước biển trong dãy núi Đông Triều. Núi nằm ở ranh giới giữa 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh.


* Nghĩa bài thơ :

                         CHÙA LONG ĐỘNG Ở NÚI YÊN TỬ

      Khó khăn lắm mới leo trèo lên được những bậc đá lạnh quấn quít đầy những dây leo xanh, mới đến được trước cửa chùa là đã thấy khỏe khoắn ngay. Một cụm lâu đài của nhà chùa như ẩn dấu trong núi cách biệt hẵn với thế giới bên ngoài.

Bốn mùa hoa cỏ chim muôn đều như là của riêng của thế giới nơi đây. Cách mé rừng bên kia tiếng vượn như ai oán hú dưới trăng, và bên nây nhà sư đang yên lặng nhìn về phía núi xa xa. Làm sao để có thể dứt bỏ được những vật chất lụy phiền để thân thể được nhẹ nhàng, bay lên đỉnh Tử Tiêu để cùng bầu bạn với những đám mây nhàn nhã !


* Diễn Nôm :

                      YÊN TỬ SƠN LONG ĐỘNG TỰ


                     Inline image

                     

                    Dây leo đá lạnh khó trèo qua, 

                    Đến trước cửa chùa mới khỏe ra.

                    Một dãy lâu đài xa thế giới,

                    Bốn mùa hoa điểu của riêng ta.

                    Bên rừng vượn hú trăng ai oán,

                    Tựa tháp sư nhìn núi cỏi xa.

                    Sao được bỏ buông thân nhẹ nhõm,

                    Tử Tiêu làm bạn mây nhàn qua !

      Lục bát :

                    Dây leo núi đá khó trèo,

                    Cửa chùa đến được thầm reo an lành.

                    Lâu đài lánh thế dường tranh,

                    Bốn mùa hoa cỏ riêng dành nơi đây.

                    Bên rừng vượn hú trăng gầy,

                    Nhà sư tựa tháp bên này núi xa.

                    Sao cho buông bỏ thân ta,

                    Tử Tiêu bạn với mây qua đỉnh trời !



                                  杜紹德

                                ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

Góc Việt Cổ Thi : Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN (Phần 3) - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

Chieu Duc

06:44, Th 7, 19 thg 12 (23 giờ trước)




Góc Việt Cổ Thi : 


       Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN

                                                     (Phần 3)


                                   Inline image

                                                Bến đò Thái Thạch


11. Bài thơ Thái Thạch Độ :


  采石渡             THÁI THẠCH ĐỘ

采石乃天塹,    Thái Thạch nãi thiên tiệm,

江南舊霸圖。    Giang Nam cựu bá đồ.

群山連建業,    Quần sơn liên Kiến Nghiệp,

一水接蕪湖。    Nhất thủy tiếp Vu Hồ.

風景愁猶在,    Phong cảnh sầu do tại,

英雄事己無。    Anh hùng sự dĩ vô.

六朝興廢事,    Lục Triều hưng phế sự,

攬轡獨長呼。    Lãm bí độc trường hô !

         阮忠彥               Nguyễn Trung Ngạn


     Inline image


* Chú Thích :

  - Thái Thạch Độ 采石渡 : là Bến đò Thái Thạch. THÁI THẠCH là tên ghềnh đá nằm ở phía nam của sông Trường Giang thuộc thành phố Mã Yên Sơn tỉnh An Huy Trung Quốc. Hình thế nơi đây hiểm trở, hùng tráng. Từ đời Lưỡng Hán trở về sau là chỗ  chiến trường hay xảy ra các cuộc chiến tranh giành nhau ở nơi đây.

  - Thiên Tiệm 天塹 : là Trời đẻo tạc ra, chỉ địa thế hiễm trở.

  - Kiến Nghiệp 建業 : là tên gọi của thành phố Nam Kinh thời Đông Ngô, là đô thành của Đông Ngô thời Tam Quốc. 

  - Vu Hồ 蕪湖 : Còn gọi là Giang Thành 江城, gọi tắt là Vu, là hồ ở phía tây nam huyện Vu Hồ, tỉnh An Huy, Trung Quốc.

  - Lục Triều 六朝 : Sáu triều đại của Trung Quốc trong khoảng từ năm 222 đến năm 589, gồm Đông Ngô, Đông Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần. Sáu triều đại này đều đóng đô ở Kiến Khang (tức Kiến Nghiệp thời Tam Quốc, Nam Kinh của ngày hôm nay).

  - Lãm Bí 攬轡 : LÃM là Nắm, là Ôm đồm. BÍ là dây cương ngựa, nên LÃM BÍ là nắm chặc lấy dây cương ngựa, là ghìm cương ngực lại.


* Nghĩa bài thơ :

                                  Bến Đò THÁI THẠCH


       Thái Thạch là hào rãnh của trời đất tạc dựng nên. Đây là nơi tranh bá đồ vương của đất Giang nam xưa. Các dãy núi nối liền nhau chạy dài đến tận vùng Kiến Nghiệp và một dòng sông nối tiếp với đất Vu Hồ. Vẻ ưu sầu của cảnh vật thì vẫn hãy còn đây, nhưng những sự tích anh hùng ngày xưa thì đã không còn nữa. Biết bao nhiêu là chuyện hưng vong thành bại của thời buổi Lục Triều, ta chỉ còn biết nắm chặc dây cương mà một mình hú to lên để tỏ niềm cảm khái mà thôi !

       Đây quả là một bài thơ hoài cổ vô cùng cảm khái ! Khiến người đọc cũng không khỏi bâng khuâng trước đỗi thay thành bại của cuộc đời. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt. Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu !?...


* Diễn Nôm :

                        THÁI THẠCH ĐỘ


                   Inline image


                  Thái Thạch hào rãnh đất trời,

                  Giang Nam tranh bá tự thời Đông Ngô.

                  Núi liền Kiến Nghiệp lô nhô,

                  Một dòng sông tiếp Vu Hồ đâu đây.

                  Cảnh xưa sầu vẫn đong đầy,

                  Anh hùng thế sự đã phai mất rồi.

                  Lục Triều hưng phế đầy vơi,

                  Ghìm cương cảm khái bên trời hú vang !


                                                         Đỗ Chiêu Đức


12. Bài thơ Trường An Thành Hoài Cổ :


  長安城懷古          TRƯỜNG AN THÀNH HOÀI CỔ


木落禾凋帝業移,    Mộc lạc hòa điêu đế nghiệp di,

李家收得版圖歸。    Lý gia thâu đắc bản đồ quy.

山圍故國規模小,    Sơn vi cố quốc quy mô tiểu,

竹暗荒城草木非。    Trúc ám hoang thành thảo mộc phi.

古寺僧鍾敲落日,    Cổ tự tăng chung xao lạc nhựt,

斷溪牛笛弄斜暉。    Đoạn khê ngưu địch lộng tà huy.

英雄舊事無尋處,    Anh hùng cựu sự vô tầm xứ,

獨倚江亭看翠微。    Độc ỷ giang đình khán thúy vi.

               阮忠彥                        Nguyễn Trung Ngạn


        Inline image


* Chú Thích :

  - Trường An 長安 : là Trường kỳ bình an 長期平安, là Bình an dài lâu, từ dùng để đặt tên cho kinh đô từ đời nhà Hán, trải qua 13 triều đại sau đó đều gọi kinh đô là Trường An, cho đến đời nhà Minh mới đổi tên thành Tây An cho đến hiện nay. Trong lịch sử Việt Nam ta cũng gọi Thăng Long thành là Trường An.

  - Mộc Lạc Hòa Điêu 木落禾凋 : Cây rụng lá, lúa rơm tàn tạ; chỉ cảnh hoang tàn buổi cuối thu, cảnh tiêu điêu hoang phế của di tích bị bỏ hoang. Bốn chữ đầu câu 1, lẽ ra có thể nói đơn giản là THẢO MỘC ĐIÊU LINH 草木凋零 (Cỏ cây tàn tạ), nhưng lại được nói cầu kỳ là MỘC LẠC HÒA ĐIÊU, phải chăng cụ Nguyễn Trung Ngạn muốn nhắc cho ta nhớ lại bài sấm cây gạo của Sư Vạn Hạnh làm ra để hợp thức hóa cho Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn lên ngôi, trong đó có 2 câu chính là :

                 ...禾刀木落     Hòa đao mộc lạc,

                    十八子成...  Thập bát tử thành.

Có nghĩa :

        - 禾 Hòa 刀 Đao 木 Mộc : ghép ba chữ này lại với nhau thành chữ 梨 LÊ, đồng âm với chữ LÊ là họ LÊ 黎; LẠC là rơi rụng; chỉ Nhà LÊ mất.

        - 十 Thập 八 Bát 子 Tử : ghép ba chữ này lại với nhau thành chữ 李 LÝ; THÀNH là Thành lập, chỉ nhà LÝ sẽ được thành lập nên.                 

  - Lý Gia 李家 : Nhà họ Lý, ở đây chỉ triều đại của Lý Thái Tổ 李太祖, tên thật là Lý Công Uẩn 李公蘊, là vị hoàng đế lập ra nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, ông trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028.

  - Tăng Chung 僧鍾 : Tiếng chuông do các nhà sư dộng lên ở trên chùa.

  - Ngưu Địch 牛笛 : Tiếng sáo của những đứa trẻ chăn trâu.

  - Giang Đình 江亭 : Cái đình cất ở ven sông.

  - Thúy Vi 翠微 : Tên của một loại hoa Lan; đồng thời THÚY VI cũng có nghĩa là cảnh vật xanh tươi của núi sông, hay chỉ cây cỏ xanh tươi rậm rạp.


* Nghĩa bài thơ :

                          TRƯỜNG AN THÀNH HOÀI CỔ

       Cây rụng lá, cỏ rơm tàn tạ héo úa, cảnh vật hoang tàn khi cơ nghiệp của đế vương đã vời đi nơi khác, Nhà họ Lý đã thâu tóm được bản đồ của giang san nầy về một mối. Những dãy núi vây quanh nước cũ quy mô như bị nhỏ lại; những rừng trúc dại che mờ cả thành trì bị bỏ hoang, cây cỏ như chẳng biết gì. Tiếng chuông chùa cổ ngân lên trong ánh nắng tà huy và tiếng sáo của trẻ mục đồng cũng véo von trong buổi chiều tà. Chuyện hào hùng xưa của các anh hùng giờ biết tìm nơi đâu ? Ta chỉ còn một mình dựa vào cái đình bên sông nầy mà ngắm cảnh vẫn xanh tươi của núi non cây cỏ mà thôi !


                        Inline image


       Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài "Thăng Long Thành Hoài Cổ" của Bà Huyện Thanh Quan với :


                        Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

                        Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

và thật cảm khái với :

                        Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

                        Nước còn cau mặt với tang thương !


       Cảnh hoài cổ nào mà chẳng buồn, chẳng làm xúc động lòng người !?


* Diễn Nôm :

                      TRƯỜNG AN THÀNH HOÀI CỔ


                     Inline image


                    Cỏ cây tàn úa nghiệp vua vời,

                    Nhà Lý gồm thâu hết mọi nơi.

                    Núi phủ nước xưa quy mô nhỏ,

                    Trúc che thành cũ cỏ cây phơi.

                    Chuông ngân cổ tự chiều nghiêng bóng,

                    Sáo vẳng mục đồng nắng xế lơi.

                    Sự nghiệp anh hùng đâu thấy nữa,

                    Tựa đình lặng ngắm núi mây trôi !...

       Lục bát :

                    Vua vời cây cỏ tàn phai,

                    Gom về họ Lý đất đai một nhà.

                    Núi vây cố quốc quanh ta,

                    Thành hoang trúc phủ la đà cỏ cây.

                    Chuông chùa cổ vẳng đâu đây,

                    Mục đồng sáo trúc hây hây nắng chiều.

                    Anh hùng chuyện cũ buồn thiu,

                    Tựa đình nước ngắm non chiều xanh xanh !


                                                                  Đỗ Chiêu Đức


13. Bài thơ Túc Hoa Âm Tự :


  宿花陰寺             TÚC HOA ÂM TỰ


偶徬招提宿,      Ngẫu bạng chiêu đề túc,

僧留半榻分。      Tăng lưu bán tháp phân

石泉朝汲水,      Thạch tuyền triêu cấp thuỷ,

紙帳夜眠雲。      Chỉ trướng dạ miên vân.

松子臨窗墜,      Tùng tử lâm song truỵ.

猿聲隔岸聞。      Viên thanh cách ngạn văn

粥魚敲夢醒,      Chúc ngư sao mộng tỉnh,     

花雨落繽紛。      Hoa vũ lạc tân phân.  

        阮中彥                   Nguyễn Trung Ngạn


       Inline image


* Chú Thích :

  - Hoa Âm Tự 花陰寺 : Chùa Hoa Âm, ở phía bắc của thành phố Loan Châu thuộc đông bộ của tỉnh Hà Bắc hiện nay. HOA ÂM TỰ hiện đã phát triển thành Bắc Tự Công Viên 北寺公園.

  - Ngẫu Bạng 偶徬 : NGẪU là Ngẫu nhiên, là Tình cờ đến bên cạnh...

  - Chiêu Đề 招提 : Có gốc tiếng Phạn là caturdeśa, phiên âm tiếng Hoa là "Thác đấu đề xa 拓鬥提奢", gọi tắt là THÁC ĐỀ, sau nhầm chữ THÁC 拓 thành chữ CHIÊU 招, nên mới gọi là CHIÊU ĐỀ. Vốn có nghĩa Phạn là "Bốn Phương", dùng để chỉ các tăng lữ vân du bốn phương gọi là "CHIÊU ĐỀ TĂNG 招提僧". Bắc Ngụy Thái Võ Đế cất tăng viện, gọi là CHIÊU ĐỀ, nên sau gọi chung chùa chiền là CHIÊU ĐỀ hoặc GIÀ LAM 伽藍, tiếng Phạn là samghrma, cũng là từ dùng để chỉ "Thiền Môn Chùa Chiền"  như trong Truyện Kiều tả lúc Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am với sư Giác Duyên có câu :


                         Gió quang mây tạnh thảnh thơi,

                       Có người đàn việt lên chơi cửa GIÀ.


      Cửa GIÀ là cửa GIÀ LAM là Cửa Chùa giống như là CHIÊU ĐỀ vậy. Nên...

   - Chiêu Đề Túc 招提宿 : là Tá túc lại trong chùa, là ngủ qua đêm trong chùa. 

   - Tháp 榻 : là cái sạp, cái giường hẹp mà dài. Như TRÚC THÁP 竹榻 là cái Chỏng bằng tre. BÁN THÁP 半榻 là Nửa cái chỏng, nửa cái giường nằm.

   - Cấp Thủy 汲水 : là Múc nước, rút nước.

   - Chỉ Trướng 紙帳 : là Màn giấy, là cái mùng ngủ được làm bằng vỏ của cây mây đai kết sơ sài lại để làm mùng, phía trên được phủ bởi một lớp vải mỏng có vẽ hình các loại hoa, ở trong chùa thì vẽ hình mây bay ở trên trời, nên câu thơ "Chỉ Trướng dạ miên vân 紙帳夜眠雲" có nghĩa : "Ban đêm ngủ với MÂY trong mùng giấy" là thế.

   - Chúc Ngư 粥魚 : là cái Mỏ, là khúc cây đẽo hình con cá được móc rổng ruột để gỏ cho kêu, còn gọi là MỘC NGƯ 木魚.

   - Tân Phân 繽紛 : là Sặc sỡ, là lả tả. LẠC TÂN PHÂN là Rơi lả tả.


* Nghĩa Bài Thơ :

                        ĐÊM TRỌ CHÙA HOA ÂM

       Tình cờ đến cạnh ngôi chùa và tá túc qua đêm nơi đây, nhà sư đã chia cho ta nửa chiếc giường để nằm. Buổi sáng thì đi lấy nước ở các khe suối đá, còn ban đêm thì ngủ với mây trong mùng giấy. Những trái thông sột soạt rụng ngay trước song cửa và tiếng vượn hú gọi đàn vẳng bên kia bờ khe suối. Tiếng mỏ sáng vang lên làm tỉnh giấc mộng buổi ban mai, nhìn ra ngoài thấy những cánh hoa đang lả tả rơi rụng như mưa !  


* Diễn Nôm :

                         ĐÊM TRỌ CHÙA HOA ÂM

                    Inline image

                       Ngủ lại chùa đêm xuống,

                       Nửa giường sư nhượng ta.

                       Nước đá khe sáng lấy,

                       Mùng mây giấc đêm qua.

                       Bên song nghe thông rụng,

                       Tiếng vượn vẳng bờ xa.

                       Mỏ sớm choàng tỉnh mộng,

                       Lả tả trận mưa hoa !                              

  Lục bát :

                      Tình cờ tá túc Hoa Âm,

                      Sư chia một nửa giường nằm qua đêm.

                      Nước trong suối đá êm êm,

                     Màn mây trướng giấy êm đềm giấc mơ.

                     Ngoài song tùng rụng ơ hờ,

                     Cách bờ vượn hú ngẩn ngơ khách chùa.

                     Giật mình tiếng mỏ sáng khua,

                     Tơi bời hoa rụng như mưa trước thềm !


                                                  Đỗ Chiêu Đức (diễn Nôm)


14. Bài thơ Tư Quy :   

 

      思歸                             TƯ QUY

百歲能堪幾別離,    Bách tuế năng kham kỷ biệt ly ?

異鄉久客未成歸。    Dị hương cửu khách vị thành quy.

春深庭院槐陰合,    Xuân thâm đình viện hòe âm hợp,

日暖池塘柳絮飛。    Nhật noãn trì đường liễu nhứ phi.

萬斛鄉愁難當酒,    Vạn hộc hương sầu nan đáng tửu,

三分病骨不勝衣。    Tam phân bệnh cốt bất thăng bi.

黃塵無限都門外,    Hoàng trần vô hạn đô môn ngoại,

早趁南薰賦式微。    Tảo sấn nam huân phú Thức Vi.

              阮中彥                                 Nguyễn Trung Ngạn


     Inline image

   

* Chú Thích :

  - Cửu Khách 久客 : Ở nơi đất khách lâu ngày.

  - Xuân Thâm 春深 : Xuân đã vào sâu, có nghĩa là đã cuối xuân rồi.

  - Liễu Nhứ 柳絮 : Hạt và hoa liễu màu trắng ở buổi cuối xuân.

  - Vạn Hộc 萬斛 : Một Hộc = 10 đấu; VẠN HỘC ở đây chỉ Thật nhiều thật nhiều.

  - Nan Đương Tửu 難當酒 : Khó mà uống được rượu, khó mà rót rượu uống cho nổi.

  - Bất Thăng Y 不勝衣 : Không mặc nổi áo, không có sức để mặc áo.

  - Sấn 趁 : Nhân lúc, Thừa dịp...

  - Nam Huân 南薰 : Theo Khổng Tử Gia Ngữ, có dẫn bài ca của Đế Thuấn là : " Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮。 "... Có nghĩa : Cái mát mẻ ấm áp của gió Nam, có thể giải tỏa được nỗi lòng u uẩn ẩn ức của dân Nam ta ! Với thâm Ý nầy, ông Phạm Qùynh đã lập ra Nam Phong Tạp Chí với Ý đồ mở mang dân trí và xoa dịu lòng dân để ẩn nhẫn đợi thời ! NAM HUÂN ở đây chỉ sự mát mẻ của gió nam vào những buổi trưa.

 - Thức Vi 式微 : Tên bài thơ thuộc chương Bắc Phong 邶風 trong Kinh Thi 詩經 như sau :


                             Inline image


                          式微,式微 !   Thức vi! Thức vi! 

                          胡不歸 ?        Hồ bất quy? 

                         微君之故,         Vi quân chi cố,

                         胡為乎中露 !   Hồ vi hô trung lộ ? 

     Có nghĩa :

                        Tối rồi đa, tối rồi đa !

                        Sao chẳng về nhà, ở đó làm chi ?

                        Vì vua nên phải chay lì,

                        Dầm sương dãi nắng xá chi thân nầy !


   - Phú Thức Vi 賦式微 : Ngâm bài ca dao Thức Vi, ý nói "Sao chẳng về nhà ?"


* Nghĩa bài thơ :

                                 MUỐN TRỞ VỀ

      Đời người trăm năm có thể chịu đựng được mấy lần ly biệt đây ? Làm khách nơi xứ lạ quê người đã lâu nhưng còn chưa về được. Trong buổi tàn xuân nhìn bóng cây hòe trong sân họp lại. Ánh nắng ấm áp bên ao hồ tơ liễu trắng tung bay. Rượu cả vạn hộc nhưng vì lòng đang mang mối sầu quê hương nên không thể chuốc chén được; Bệnh tật đã thâm vào xương hết ba phần rồi nên hầu như không còn sức để mặc áo nữa ! Ngoài cửa Đô môn bụi vàng (của những ngựa xe qua lại) cuốn bay mờ mịt. Ta muốn sớm nhân lúc gió nam còn mát mẻ nầy mà tìm đường về lại quê nhà (hát bài Thức Vi, tức là Ý muốn về lại quê nhà).


* Diễn Nôm :

                               TƯ QUY


                    Inline image


                 Trăm năm chịu được mấy phân ly ?

                 Đất khách muốn về dễ mấy khi.

                 Sân trước xuân tàn hòe rợp bóng,

                 Ao truôm nắng ấm liễu bay đi.

                 Lòng quê trước rượu khôn nâng chén,

                 Bệnh tật vào xương áo khó ghì.

                 Mù mịt bụi vàng bay trước ngõ,

                 Gió nam hát khúc "Thức Vi" thi !

    Lục bát :

                 Trăm năm chịu mấy chia ly ?

                 Xứ người thân khách mấy khi được về !

                 Xuân tàn sân rợp bóng hòe,

                 Bên ao nắng ấm đón hè liễu bay.

                 Nhớ quê muôn chén khó say,

                 Xương tàn bệnh tật khôn cài áo khuy.

                 Cửa Đô bụi cuốn bay đi,

                 Gió nam hát khúc Thức Vi muốn về !

                                         Đỗ Chiêu Đức diễn nôm


15. Bài thơ Tương Giang Tặng Biệt :


    湘江贈別             TƯƠNG GIANG TẶNG BIỆT


數杯別酒驛亭邊,    Sổ bôi biệt tửu dịch đình biên,

君上征鞍我上船。    Quân thướng chinh yên ngã thướng thuyền.

獨倚蓬山愁不語,    Độc ỷ Bồng sơn sầu bất ngữ,

一江湘水碧連天。    Nhất giang Tương thủy bích liên thiên !

              阮中彥                                Nguyễn Trung Ngạn


        Inline image


* Chú thích :

  - Tương Giang 湘江 : Còn được gọi là Tương Thủy 湘水, là một trong những con sông nhánh quan trọng của Trường Giang và con sông lớn nhất của tỉnh Hồ Nam.

  - Sổ 數 : là Một vài, là Mấy. Nếu là Động từ thì có nghĩa là Đếm; Còn nếu đọc là SỐ thì là Danh từ chỉ các chữ số, con số.

  - Dịch Đình 驛亭 : là Cái trạm, cái đình cất ở ven đường hay ven sông để nghỉ chân và để làm nơi đưa tiễn nhau.

  - Chinh Yên 征鞍 : là cái yên ngựa, mà cũng để chỉ con ngựa sẽ được cởi đi xa.

  - Bồng Sơn 蓬山 : Núi Bồng Lai, chỉ chung nơi tiên ở.

  

* Nghĩa bài thơ :

                             TẶNG LÚC CHIA TAY TRÊN SÔNG TƯƠNG

      Bên cạnh quán dịch bên đường, ta cùng bạn uống vài chung rượu chia tay. Đoạn bạn lên ngựa để vượt đường xa còn ta thì bước xuống thuyền. Ta một mình đứng tựa thuyền nhìn núi Bồng Lai mà buồn nói chẳng nên lời. Xa xa dòng nước sông Tương xanh biếc như nối liền cả nước trời lại với nhau.


     Đọc hai câu chót của bài nầy làm cho ta nhớ đến bài thất ngôn tứ tuyệt "黃鶴樓送孟浩然之廣陵 Hoàng Hạc Lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng" của Thi Tiên Lý Bạch :


                      故人西辭黃鶴樓,    Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu, 

                      煙花三月下陽州。    Yên ba tam nguyệt hạ Dương Châu. 

                     孤帆遠影碧空盡,    Cô phàm viễn ảnh bích không tận, 

                     惟見長江天際流。    Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

     Diễn Nôm :

                          Inline image


                        Giả từ Hoàng Hạc phía lầu tây,

                        Xuân đến Dương Châu rực cỏ cây.

                       Chỉ thấy cánh buồm côi khuất dạng,

                       Trường Giang nước chảy lẫn trời mây !  


      Lý Bạch không nói gì đến tình cảm thắm thiết của mình với "cố nhân", nhưng qua hình ảnh đứng nhìn theo cánh buồm của chiếc thuyền chở bạn đi đến khi mất hút trong bầu trời xanh mà vẫn còn nhìn mãi dòng nước chảy đã đưa bạn đến tận phía chân trời, ta cũng thấy được sự quyến luyến vô vàn của một tình bạn nồng nàn thắm thiết đến cở nào ! Nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn của ta cũng vậy, một mình đứng tựa thuyền mà trông dòng sông Tương xa xa mênh mông xanh biếc trời nước liền nhau mà buồn nói chẳng nên lời.  


* Diễn Nôm :

                        TƯƠNG GIANG TẶNG BIỆT


                       Inline image


                   Dịch quán chia tay rượu mấy hồi,

                   Xuống thuyền lên ngựa tách đôi nơi.

                   Núi Bồng sầu tựa buồn không nói,

                   Một dãi sông Tương nước lộn trời.

       Lục bát :

                   Tiễn đưa mấy chén quan hà,

                   Bạn thì lên ngựa còn ta xuống thuyền.

                   Bồng Sơn sầu tựa núi tiên,

                   Sông Tương một dãi nối liền trời mây !

                                    


       Mời đọc tiếp Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN (phần 4)

       

                                                    杜紹德

                                            ĐỖ CHIÊU ĐỨC

                    

Thứ Bảy, 19 tháng 12, 2020

CHIM NHỎ - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 




CHIM NHỎ


Phải em con chim nhỏ

Giữa núi đồi mù sương

Tôi lạc loài đứng ngó

Chôn chân ngã ba đường.


Chim từ đâu mà đến

Đậu trên ngọn thông xanh

Hót chi lời yêu mến

Xao động tình mong manh.


Nước hồ lăn tăn sóng

Soi tháp chuông nhà thờ

Chiều vang trên đồi vắng

Lời nguyện cầu ngu ngơ.


Ngày cuối năm đầy gió

Dốc dài đầy rêu xưa

Khăn quàng em quấn cổ

Ấm chút tình tôi chưa?


Thì em là chim nhỏ

Dẫu bay đi biệt mù

Cao nguyên đầy bụi đỏ

Xin nhủ lòng tương tư.


Đường lên cao xuống thấp

Nghe trong ngàn suối reo

Nước về xuôi mải miết

Nỗi buồn đành mang theo.


Dấu chân người xa khuất

Một ngày chìm trong mưa

Đóa quỳ vàng đã mất

Sống chết nào ai thưa?


Cám ơn con chim nhỏ

Mưa nắng chờ ngày vui

Dẫu đời sau rất muộn

Một người từng yêu tôi .

Đà Lạt, 9/12/2020

NGUYỄN AN BÌNH

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2020

Tạp Ghi và Phiếm Luận : 9 TẦNG TRỜI và 18 TẦNG ĐỊA NGỤC - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 


Chieu Duc

13:14, Th 5, 17 thg 12 (17 giờ trước)






Tạp Ghi và Phiếm Luận :  

 

                9 TẦNG TRỜI và 18 TẦNG ĐỊA NGỤC


                  Inline image

       

        Nhân viết bài phiếm luận "THIÊN là TRỜI", tôi có nhắc tới Thăng Thiên 升天 là Lên trời, Phi Thiên 飛天 là Bay lên trời, còn Quy Thiên 歸天 là Về trời, là chết. Nhưng không phải ai chết cũng được về trời, lên trời vì trời chỉ có 9 tầng mà thôi, ta hay nghe nói Cửu Trùng Thiên 九重天, còn địa ngục thì có tới 18 tầng, gấp đôi số tầng của trời. Điều nầy cho thấy là ở trên đời người xấu nhiều gấp đôi người tốt, nên Địa Ngục phải xây tới 18 tầng mới đủ chỗ để chứa !   


      Về từ Cửu Trùng Thiên 九重天, ngoài nghĩa là 9 tầng trời ra, Cửu Trùng Thiên còn được dùng để chỉ ông vua thời phong kiến ngày xưa, như 2 câu thơ mở đầu trong bài thơ "Tả Thuyên Chí Lam Quan Thị Điệt Tôn Tương 左遷至藍關示侄孫湘" của Hàn Dũ đời Đường :


                Nhất phong triêu tấu CỬU TRÙNG THIÊN,   一封朝奏九重天,

                Tịch biếm Triều Dương lộ bát thiên.            夕貶潮陽路八千.

 Có nghĩa :

                Buổi sáng trình lên nhà vua một phong tấu sớ,

                Buổi chiều bị đày đi Triều Dương xa tám ngàn dặm đường.                        


      Cửu Trùng Thiên 九重天 là Vua, còn được gọi là Đấng Cửu Trùng, hay Cửu Trùng mà trong tiếng Nôm ta gọi là Chín Tầng, như những câu thơ trong đoạn mở đầu của Chinh Phụ Ngâm Khúc do Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn Nôm :


                Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,

                Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.

                CHÍN TẦNG gươm báu trao tay,

                Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.


                Inline image


        Ông bạn bác sĩ đồng tông cùng họ Đỗ trong nhóm "Cựu học sinh Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm TP Cần Thơ xưa" hỏi tôi :"Anh nói 9 Tầng Trời, vậy chớ anh có biết tại sao Trời lại có 9 Tầng và là những tầng nào hay không ?". Câu hỏi khá hóc búa và cũng khá lý thú, làm cho tôi phải tốn hết mấy ngày liền lên Yahoo và Google để lục lọi, tìm tài liệu để học hỏi và dịch thuật...

   

      * Giải thích theo bình dân :  thì TRỜI chỉ có 9 tầng vì người TỐT được lên trời thì ít; còn ĐỊA NGỤC có 18 tầng vì người XẤU ở trên đời nhiều gấp đôi người TỐT, nên phải xây đến 18 tầng Địa Ngục mới đủ chỗ để  chứa !


      * Giải thích theo khoa học Địa Lý xưa, thì trời đất vốn dĩ liền nhau, nên 9 phương trời là 4 phương 8 hướng của không gian là : Đông , Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam và Trung Ương . Vị chi là 9 Phương Trời. Trong bài hát tân nhạc "Nếu Một Mai -  Anh biệt Kinh Kỳ" của Minh Kỳ và Hoài Linh trước 1975 có câu :


                                      TÁM HƯỚNG BỐN PHƯƠNG trời mây,

                                      Thôi nhé anh đi từ đây ...


                                     Inline image


      * Giải thích theo Dịch Lý trong Kinh Dịch của Trung Hoa cổ xưa, thì số 9 là số lẻ cao nhất trong 1, 3, 5, 7, 9.  Nên số 9 tượng trưng cho cái gì đó nhiều nhất, cao nhất ... nên mới gọi trời là CỬU TRÙNG THIÊN, có nghĩa là CHÍN TẦNG TRỜI. Số 9 có nghĩa là  rất nhiều, là maximum, nên CHÍN TẦNG TRỜI có nghĩa là trời có rất nhiều tầng, rất cao rất cao ... Nhưng vì số  9  là một con số cụ thể, nên Chín Tầng Trời hay CỬU TRÙNG THIÊN được giải thích cụ thể là  :  Nhất vi TRUNG THIÊN 一為中天,Nhị vi TIỆN THIÊN 二為羨天,Tam vi TÙNG THIÊN 三為從天,Tứ vi CANH THIÊN 四為更天,Ngũ vi TÚY THIÊN 五為睟天, Lục vi QUÁCH THIÊN 六為廓天,Thất vi GIẢM THIÊN 七為減天,Bát vi TRẦM THIÊN 八為沈天,Cửu vi THÀNH THIÊN九為成天。Tầng thứ 9 là tầng cao nhất của trời, theo như truyền thuyết thì trên đó có Ngọc Điện Lăng Tiêu 玉殿凌霄 và Ngọc Hoàng Đại Đế 玉皇大帝 ngự ở trong đó. 

 

     * Giải thích theo 東漢經學家王逸 Kinh Học Gia đời Đông Hán là Vương Dật, thì CỬU TRÙNG THIÊN là :  Đông Phương viết HẠO THIÊN 東方曰皞天、Đông Nam phương DƯƠNG THIÊN 東南方陽天、Nam Phương XÍCH THIÊN  南方赤天、Tây Nam phương CHU THIÊN 西南方朱天、Tây phương THÀNH THIÊN 西方成天、Tây bắc phương U THIÊN 西北方幽天、Bắc phương HUYỀN THIÊN 北方玄天、Đông Bắc phương BIẾN THIÊN 東北方變天、Trung ương là QUÂN THIÊN 中央鈞天. Theo truyền thuyết thì bà Cửu Thiên Huyền Nữ  九天玄女 là vị  Thánh mẫu trấn ở phương bắc .


                         Inline image Inline image

                                   Ngọc Hoàng Đại Đế                        Cửu Thiên Huyền Nữ


     * Giải thích theo  Lã Thị Xuân Thu- Hữu Thủy Lãm 呂氏春秋•有始覽  thì CỬU TRÙNG THIÊN là : Trung ương viết CÂU THIÊN 中央曰鉤天、Đông phương viết THƯƠNG THIÊN 東方曰蒼天、Đông bắc phương viết BIẾN THIÊN 東北方曰變天、Bắc phương viết HUYỀN THIÊN 北方曰玄天、Tây bắc phương viết U THIÊN 西北方曰幽天、Bắc phương viết HẠO THIÊN 西方曰顥天、Tây nam phương viết CHU THIÊN 西南方曰朱天、Nam phương viết VIÊM THIÊN 南方曰炎天、Đông Nam phương viết DƯƠNG THIÊN 東南方曰陽天。


       Thi Tiên Lý Bạch 李白 có bài thất ngôn tứ tuyệt rất hay khi tả Thác nước ở Lư Sơn như từ trên chín tầng trời đổ trút xuống vậy ...


             望廬山瀑布            VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ


           日照香爐生紫煙,    Nhật chiếu hương lô sinh tử yên

           遙看瀑布掛前川。    Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. 

           飛流直下三千尺,    Phi lưu trực hạ tam thiên xích

           疑是銀河落九天.     Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên


                      Inline image

CHÚ THÍCH :

  * NHỰT 日: là Mặt Trời, hễ có mặt trời là có nắng, nên NHỰT cũng có nghĩa là ÁNH NẮNG.

  * HƯƠNG LƯ香爐: là Hương Lư Phong 香爐峯, ngọn núi cao ở phía bắc của Lư Sơn luôn bị bao phủ bởi hơi nước mịt mù như sương khói, nên khi nhận tia nắng mặt trời chiếu rọi thì ửng lên màu tim tím như một Lò Hương đang nghi ngút khói. Vì thế mà có tên là Hương Lư Phong.

  * TRỰC 直 : là Thẳng. TRỰC HẠ 直下 là Thẳng xuống.

  * TAM THIÊN XÍCH 三千尺 : là Ba ngàn thước, đây chỉ là cách Nói Nhấn mà thôi, ý chỉ Rất cao Rất cao !

  * CỬU THIÊN 九天 hay CỬU TRÙNG THIÊN 九重天 : là Quan niệm của người xưa, cho rằng Trời có chín từng, nên gọi là Chín từng trời hay Chín từng mây. 

   CỬU THIÊN trong bài thơ ý chỉ: Cao ngất trên bầu trời cao.


                  Inline image                    


NGHĨA BÀI THƠ :

                               NGẮM THÁC NƯỚC LƯ SƠN

       Ánh nắng chiếu vào đám mây mù trên Đỉnh Hương Lư làm cho sương khói ửng lên màu tim tím như một lư hương đang nghi ngút khói. Đứng ở xa xa nhìn thác nước như một dòng sông treo ngược trước đỉnh Hương Lư và trút thẳng xuống từ trên ba ngàn thước cao, làm cho ta ngở như là con sông Ngân Hà đang đổ từ trên chín tầng mây xuống vậy !


      Với thủ pháp nghệ thuật điêu luyện, Thi Tiên Lý Bạch đã đã tả lại vẻ hùng vĩ tráng lệ của con thác Lư Sơn như từ trên chín từng mây đổ xuống qua sương khói của đỉnh Hương Lư sầm sập trút thẳng xuống như dãy Ngân Hà nghiêng đổ. Lời thơ mạnh mẽ với các từ như " Phi lưu trực hạ : Chảy như bay đổ thẳng xuống !", " Ngân Hà LẠC cửu thiên : là Ngân Hà RƠi từ trên chín từng trời rơi xuống !"


DIỄN NÔM :

                   VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ


             Nắng chiếu Hương Lư mây tím bay,

             Thác xa trông tựa nước sông dài.

             Trút từ ngàn thước như bay xuống,

             Ngở nước Ngân Hà đổ xuống đây.

              

              Inline image

Song Thất Lục Bát :

                  Đỉnh Hương Lư nắng lồng mây nước,

                  Thác xa trông treo ngược sông dài.

                  Ba ngàn thước nước như bay,

                  Ngân Hà tự chín tầng mây tuôn dòng ! 

                                                    Đỗ Chiêu Đức (diễn Nôm)

                                                

Còn ...

           18 tầng ĐỊA NGỤC là quan niệm của Phật Giáo, tiếng Phạn là :  Naraka, trong Thập Bát Nê Lê Kinh 十八泥犁經 thì 18 tầng Địa ngục là theo thuyết luân hồi và qủa báo để trừng phạt những người dữ, người ác . 18 tầng Địa Ngục theo tiếng Phạn phiên âm ra gồm có : 1.Quang Tựu Cư, 2.Cư Hư Thối Lược, 3.Tang Cư Đô, 4.Lâu, 5.Phòng Tốt, 6.Thảo Ô Ti Thứ, 7.Đô Lư Nan Đán, 8.Bất Lư Bán Hô, 9.Ô Cảnh Đô, 10.Nê Lư Đô, 11.Ô Lược, 12.Ô Mãn, 13.Ô Tịch, 14.Ô Hô, 15.Tu Kiện Cư, 16.Mạt Đô Can Trực Hô, 17.Khu Thông Đồ và 18.là Trần Mạc (1.光就居、2.居虚倅略、3.桑居都、4.楼、5.房卒、6.草乌卑次、7.都卢难旦、8.不卢半呼、9.乌竟都、10.泥卢都、11.乌略、12.乌满、13.乌藉、14.乌呼、15.须健居、16.末都干直呼、17.区通途、18.陈莫)。Dịch nghĩa từng Tầng Địa Ngục như sau  :


                    Inline image

   

   * 1. BẠT THIỆT ĐỊA NGỤC 拔舌地獄 :Địa Ngục KÉO LƯỠI.

      Sống trên đời hay nói dối, phỉ báng, gạt gẫm, dụ dỗ... người khác, các qủy sứ sẽ dùng kềm kéo lưỡi ra rồi đưa xuống tầng hai... 

   * 2. TIỄN ĐAO ĐỊA NGỤC 剪刀地獄 : Địa Ngục DAO KÉO.

      Trên đời hay dùng lời ngon tiếng ngọt dụ người khác bỏ chồng bỏ vợ, phá hoại gia cang, làm cho đàn bà thất tiết...

   * 3. THIẾT THỌ ĐỊA NGỤC 鐵樹地獄 :Địa ngục CÂY SẮT.

      Trên đời hay ly gián cốt nhục người khác làm cho anh em chồng vợ cha con bất hòa thù ghét nhau... Móc sắt móc vào sau lưng treo lên cây sắt có nhiều dao bén nhọn...

   * 4. NGHIỆT KÍNH ĐỊA NGỤC 孽鏡地獄 :Địa Ngục CHIẾU KIẾN.

      Trên đời làm nên nhiều tội ác, nhưng ném đá dấu tay, lo lót quan quyền, làm ra vẻ người tốt... Chiếu vào kiến ở địa phủ sẽ hiện lên hết những tội ác đã làm, rồi tùy theo tội đưa vào các địa ngục khác.

   * 5. CHƯNG LUNG ĐỊA NGỤC 蒸籠地獄 :Địa ngục CHƯNG HẤP.

      Ngày thường hay ngồi lê đôi mách, nhiều chuyện loan truyền tin thất thiệt để phỉ báng hại người... Bỏ vào lồng chưng hấp cho chín, rồi kéo ra đưa vào địa ngục kéo lưỡi.

   * 6. ĐỒNG TRỤ ĐỊA NGỤC 銅柱地獄 :Địa Ngục CỘT ĐỒNG.

      Cố ý phóng hỏa đốt nhà làm cho người khác bị chết cháy rồi tiêu hũy chứng cứ...Qủy sứ sẽ lột hết quần áo, bắt ôm cây cột đồng đang cháy đỏ cho da thịt bị cháy khét...

   * 7. ĐAO SƠN ĐỊA NGỤC 刀山地獄 :Địa Ngục NÚI DAO.

      Không tin thần linh không sao, nhưng phỉ báng thần linh, sát sanh hại mạng cả người lẫn súc vật... Khi chết sẽ phải leo lên núi dao cho dao nhọn đâm, dao bén cắt thịt...

   * 8. BĂNG SƠN ĐỊA NGỤC 冰山地獄 :Địa Ngục NÚI BĂNG.

      Giết chồng thông dâm, tùy ý phá thai; Cờ bạc, bất nhân bất nghĩa, không có hiếu với cha mẹ ... khi chết sẽ bị lột hết áo quần bắt phải leo lên núi băng tuyết lạnh lẽo...

   * 9. DẦU OA ĐỊA NGỤC 油鍋地獄 :Địa Ngục CHẢO DẦU.

      Bán dâm trộm cướp, hiếp đáp người hiền yếu, vu cáo, chiếm đoạt tài sản vợ con người khác... khi chết, qủy sứ sẽ lột hết quần áo quăng vào chảo dầu đang sôi cho trôi nổi trong đó để chiụ đau chịu khổ...

 

       Chín tầng trên đây là ĐÔNG ĐỊA NGỤC ở Phong Đô. Trung bình mỗi tầng ĐỊA NGỤC lấy Ba ngàn bảy trăm năm mươi (3,750) năm trên dương thế làm một năm ở dưới địa ngục. Còn chín tầng TÂY ĐỊA NGỤC dưới đây lại càng tàn khốc hơn nữa.


                  Inline image


   * 10. NGƯU KHANH ĐỊA NGỤC 牛坑地獄 :Địa Ngục HẦM TRÂU.

     Đây là tầng địa ngục để cho các con súc vật kêu oan, vì trên dương thế con người lấy việc giết súc vật để bồi đắp thêm cho niềm vui của mình. Giết gà giết vịt giết trâu giết bò... để đãi khách, để ăn mừng tân gia, thi đậu, cưới vợ... Chết xuống âm phủ sẽ bị gà mổ, vĩt rỉa, trâu dùng sừng đâm, bò dùng sừng húc...


   * 11. THẠCH ÁP ĐỊA NGỤC 石壓地獄 :Địa Ngục ĐÁ ĐÈ.

     Ở trên đời bất cứ vì lý do gì mà giết hại hoặc dứt bỏ trẻ sơ sinh cho đến chết, như trẻ bị khuyết tật, trọng nam khinh nữ... Khi chết sẽ bị dứt ở dưới ao khô, phía trên có treo tảng đá lớn, qủy sứ sẽ cầm búa chặt cho đứt sợi dây...


   * 12. THUNG CỬU ĐỊA NGỤC 舂臼地獄 :Địa Ngục CỐI GIÃ.

     Sống ở trên đời mà lãng phí lương thực, xem thường ngũ cốc, chà đạp thức ăn... Khi chết sẽ bị bỏ vào cối giã gạo để cho qủy sứ giã cho nát bấy thân mình để trừng trị tội không biết trân quí lương thực.


   * 13. HUYẾT TRÌ ĐỊA NGỤC 血池地獄 :Địa Ngục AO MÁU.

     Không tôn trọng người khác, không hiếu kính phụ mẫu, đi theo bàng môn tả đạo, làm cho người khác tức hộc máu mà chết... Khi chết sẽ bị quăng vào ao máu để ngụp lặn chịu khổ trong đó.


   * 14. UỔNG TỬ ĐỊA NGỤC 枉死地獄 :Địa Ngục CHẾT OAN.

     Những người cưa tới số chết mà muốn chết, như tự sát, uống thuốc độc, nhảy xuống sông tự trầm, treo cổ... Diêm Vương nổi giận sẽ nhốt vào tầng địa ngục nầy và vĩnh viễn sẽ không được đầu thai kiếp người.


   * 15. TRÍCH HÌNH ĐỊA NGỤC 磔刑地獄 :Địa Ngục PHANH THÂY.

     Những người chuyên đào mồ cuốc mả người khác để lấy vàng bạc nữ trang... Khi chết sẽ bị đày vào tầng địa ngục nầy để bị phanh thây muôn kiếp.


   * 16. HỎA SƠN ĐỊA NGỤC 火山地獄 :Địa Nhục NÚI LỬA.

     Những người ăn cắp của công làm của tư, tham quan hối lộ, trộm gà bắt chó, phóng hõa giết người... khi chết sẽ bị rơi vào tầng địa ngục nầy, lọt vào trong núi lửa, tiêu đốt cho chết đi sống lại mãi không thôi.


   * 17. THẠCH MA ĐỊA NGỤC 石磨地獄 :Địa Ngục CỐI XAY ĐÁ.

     Chà đạp ngũ cốc, tiểu nhân trộm đạo, tham quan ô lại, chèn ép người khác, thầy tu, đạo sĩ vi phạm giới luật... khi chết sẽ bị cho vào cối xay đá xay cho thịt nát xương tan và xay mãi xay mãi muôn đời.


   * 18. ĐAO CỨ ĐỊA NGỤC 刀鋸地獄 :Địa ngục KÉO CƯA.

     Rút ruột công trình, ăn xén ăn bớt, dối trên lừa dưới, buôn gian bán lận, gạt gẫm đàn bà trẻ em... Chết xuống đây sẽ bị lột hết áo quần, xiềng lên giá cây, dùng cưa cưa từ đầu cho đến chân, máu me lai láng.


     Đó là 18 tầng địa ngục trong Kinh Thập Bát Nê Lê  十八泥犁經 của Phật Giáo. Ở quê tôi, xứ "Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xán, Phong Điền..." Bà con lối xóm hay hát là :


                           Có chồng mà lại lấy trai,

                   Chết xuống âm phủ cưa hai nấu dầu !


     Có một cô nổi tiếng là "Dân chơi cầu Ba Cẳng" nghe xong cười khì, hát sửa lại là :


                            Có chồng mà lại lấy trai,

                   Chết xuống ân phủ... cho hai nén vàng !


                    Inline image


Còn ...

          Theo LÃO GIÁO  (Đạo Giáo) trong dân gian Trung Hoa kết hợp chung Nho Thích Đạo tam giáo và các tín ngưỡng trong dân gian thì lại có  THẬP ĐIỆN DIÊM LA 十殿閻羅. Còn được gọi là  THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG 十殿閻王, hay ĐỊA PHỦ THẬP VƯƠNG 地府十王... Chung quanh các ông vua dưới âm tào địa phủ nầy còn có một lô chức sắc xoay quanh để điều hành công việc như : Thành Hoàng Thổ Địa 城隍土地、Văn Võ Phán Quan 文武判官、Nhựt Dạ Du Tuần 日夜遊巡、Ngưu Đầu Mã Diện 牛頭馬面、Hắc Bạch Vô Thường 黑白無常、Dạ Xoa Qủy Tốt 夜叉鬼卒... xem xét qủa báo trên đời để trừng phạt và để đưa vào lục đạo lyân hồi. 

      Mười ông vua dưới đất nầy cũng là những người bình thường như chúng ta, vì hành thiện và tích đức nên được Ngọc Hoàng Thượng Đế sắc phong cho làm vua của cỏi âm. Vua của Thập Điện theo thứ tự như sau :


                              Inline image


1. 第一殿 : 秦廣王 Đệ Nhất Điện TẦN QUẢNG VƯƠNG.

       Họ Tưởng, theo truyền thuyết dân gian, ông chính là Tưởng Tử Văn của đời Đông Hán, sanh ngày mồng 1 tháng 2. Tần Quảng Vương chuyên quản về yểu thọ của người đời. Trong tuần thất đầu tiên, khi hồn người chết tới đây phải chiếu vào Nghiệt Kính Đài ở bên phải để xem là người tốt hay xấu. Nếu là người tốt, thì được vãng sinh vào cỏi Thiên đàng hay Thế giới Cực lạc; còn người nửa tốt nửa xấu thì tùy theo cái nghiệp lực mà đưa đến điện thứ 10 để cho đầu thai chuyển thế; còn người thiện ít ác nhiều thì tùy theo điều ác đã làm mà đưa đến các điện khác để chịu hình phạt.


2. 第二殿 : 楚江王 Đệ Nhị Điện SỞ GIANG VƯƠNG.

       Họ LỆ (LỊCH), sanh ngày mồng 1 tháng 3. Điện của Sở Giang Vương ở dưới đáy biển sâu, rộng 8 ngàn dặm, gồm 16 địa ngục nhỏ chuyên quản về chiếm đoạt, gạt gẫm, làm cho cơ thể người khác bị thương, gian ác, cướp bóc, sát sinh...

Sau khi chết, tuần thất thư hai được đưa đến đây.


3. 第三殿 : 宋帝王 Đệ Tam Điện TỐNG ĐẾ VƯƠNG.

       Họ DƯ, sanh ngày mồng 8 tháng 2. Tống Đế Vương chưởng quản địa ngục phía đông nam dưới đáy biển, rộng 8 ngàn dặm, cũng gồm 16 gian địa ngục nhỏ, chuyên trông coi trừng trị những người khi ở dương gian ngỗ ngịch với tôn trưởng, hỗn láo với bậc trưởng thượng, bội tín quên nghĩa, xúi dục người khác kiện tụng người vô tội... Sau khi chết tuần thất thứ ba sẹ được đưa đến đây để thẩm vấn.


4. 第四殿 : 五官王 Đệ Tứ Điện NGŨ QUAN VƯƠNG.

       Họ LỮ, sinh ngày 18 tháng 2. Ngũ Quan Vương chưởng quản địa ngục dưới biển hướng chính đông. Rộng tám ngàn dặm và cũng có 16 gian địa ngục nhỏ. Chuyên quản những kẻ lậu thuế trốn thuế, ăn gian tiền mướn, gian lận trong giao dịch... Sau khi chết tuần thất thứ tư sẽ được đưa vào đây để đối chất.


5. 第五殿 : 閻羅天子 Đệ Ngũ Điện DIÊM LA THIÊN TỬ.

       Họ BAO, theo truyền thuyết dân gian là Bao Chuẩn, Bao Thanh Thiên của thời Bắc Tống. sinh ngày 28 tháng 6, còn được gọi là Sâm La Vương. Chưởng quản Đại Địa Ngục hướng Đông bắc và 16 tru tâm địa ngục. Chuyên trị những kẻ không tin vào nhân quả, cản trở việc thiện, phỉ báng tăng nhân đạo sĩ... Khi chết đến tuần thất thứ năm thì được đưa đến điện nầy, được cho phép nhìn vào Vọng Hương Đài để thấy lại những thân nhân còn sống ở nhà cho đỡ nhớ mong, rồi mới luận tội.


                     Inline image


6. 第六殿 : 卞城王 Đệ Lục Điện BIỆN THÀNH VƯƠNG.

       Họ TẤT, sinh ngày mồng 8 tháng 3 , còn xưng là Biến Tính Vương, cai quản điạ ngục lớn ở hướng chính bắc gồm 16 địa ngục nhỏ, chuyên trị những kẻ hay than trời trách đất, oán hận người đời, xem thường và bất kính với trời đất thần phật. Khi chết đến tuần thứ sáu thì đưa đến điện nầy để luận tội.


7. 第七殿 : 泰山王 Đệ Thất Điện THÁI SƠN VƯƠNG.

       Họ ĐỔNG, sinh ngày 27 tháng 3. Chưởng quản địc ngục lớn ở tây bắc phương gồm 16 địc ngục nhỏ. Chuyên trị những kẻ thị phi, đặt điều hại người khác, làm cho thân nhân người khác phải ly tán, dùng xác chết để làm thuốc... Sau khi chết đến tuần thất (49 ngày) thì được đưa đến đây để luận tội.       


8. 第八殿 : 都市王 Đệ Bát Điện ĐÔ THỊ VƯƠNG.

       Họ HUỲNH, sinh ngày mồng 1 tháng 4. Còn xưng là Đô Đế Vương. Chưởng quản địc ngục lớn ở hướng chính tây và 16 địa ngục nhỏ. chuyện trị những kẻ ngỗ nghịch bất hiếu với cha mẹ, ông bà, hỗn láo với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ... Sau khi chết 100 ngày thì đưa đến đây để đối chất luận tội.


9. 第九殿 : 平等王 Đệ Cửu Điện BÌNH ĐẲNG VƯƠNG.

       Họ LỤC, sinh ngày mồng 8 tháng 4. Còn xưng là Bình Chính Vương. chưởng quản Tây Nam A Tỳ đại địc ngục và 16 tiểu địa ngục. Chuyên trị những kẻ giết người phóng hỏa, hiếp dâm cưởng bức, buôn bán chất độc... Sai khi chết được một năm thì đưa đến đây để luận tội.


10. 第十殿 : 轉輪王 Đệ Thập Điện CHUYỂN LUÂN VƯƠNG.

        Họ TIẾT, sinh ngày 17 tháng 4. Còn gọi là NGŨ ĐẠO CHUYỂN LUÂN VƯƠNG. Đây là điện ở hướng chính đông, rộng một vạn một ngàn hai trăm dặm, hướng về ngũ trọc thế giới và tứ đại bộ châu. Có thiết bị các cây cầu, như Kim Kiều (Cầu Vàng), Ngân Kiều (cầu Bạc), Ngọc Kiều (cầu Ngọc), Thạch Kiều (cầu đá), Mộc Kiều (cầu Cây), và Nại Hà Kiều (cầu Nại Hà). Chuyên xử lý các hồn phách của người chết từ các nơi giải về, tra sổ sách vãng sanh, đoạn đưa đến Âu Vong Đài 醧忘臺 để uống canh của Mạnh Bà 孟婆湯, cho quên hết đi nhựng chuyện của kiếp trước,  rồi mới qua Chuyển Luân Đài 轉輪臺 để đi đầu thai lên Tứ Đại Bộ Châu (Thế giới Năm châu theo quan niệm xưa). Xong lập danh sách theo dõi và trình lên Phong Đô tất cả các loại chúng sinh theo đường Thai Sinh 胎生, Noãn Sinh 卵生, Thấp Sinh 濕生, Hóa Sinh 化生... 


     * THAI SINH : là được sinh ra bằng cách thụ thai trong bụng mẹ, như : Người, trâu, bò, heo, ngựa...

     * NOÃN SINH : là được sinh ra từ trong trứng, như : Gà, vịt, chim, rùa, rắn...

     * THẤP SINH : là được sinh ra từ trong chỗ ướt át dơ dáy, như : ruồi, muỗi, nhặng, vòi...

     * HÓA SINH : là được sinh ra từ tự nhiên, như : Cây, cỏ, ao, hồ, sông. biển...


                     Inline image


      Đó là TỨ SINH 四生,theo như TAM GIỚI LỤC ĐẠO 三界六道 trong đạo Phật và trong tín ngưỡng dân gian, chớ không phải theo như KHOA HỌC THƯỜNG THỨC hiện tại.

      

      Có phải vì THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG mà ta lại có Văn Tế "THẬP LOẠI CHÚNG SINH" của cụ Nguyễn Du hay không ? Và cũng vì thế mà ta cũng hay nghe câu "CHÍN PHƯƠNG TRỜI, MƯỜI PHƯƠNG PHẬT" hay không ?. CHÍN PHƯƠNG TRỜI đó chính là CỬU TRÙNG THIÊN hay CỬU HUYỀN; gồm có : Đông, tây, nam, bắc, đông bắc, tây bắc, đông nam, tây nam và trung ương. Trong tác phẩm Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh, lời diễn kệ của ông Sãi mở đầu tác phẩm có câu :


                    Ước siêu tam muội, Ngõ thoát CỬU HUYỀN.

 Còn...

      MƯỜI PHƯƠNG PHẬT thì gồm : Đông, tây, nam, bắc, đông bắc, tây bắc, đông nam, tây nam, thượng phương và hạ phương.  Cho nên nhà chùa gọi tất cả những người đến cúng chùa là KHÁCH THẬP PHƯƠNG là vì thế. Cho nên mỗi lần có dịp đến chùa ăn cơm chay, chúng tôi đều nói chơi với nhau rằng : "Nhà chùa đã ăn của khách thập phương là mười phương rồi, chúng ta lại đến ăn của chùa nữa, vậy là chúng ta  đã ăn của "phương thứ mười một" là "Thực thập nhất phương" rồi đó !"


      Trên đây mặc dù chỉ là những dị đoan mê tín trong đời sống dân gian của xã hội Trung Hoa và Việt Nam xưa, nhưng vẫn còn tác dụng đến tâm lý nhân sinh hiện nay với chiều hướng tích cực là KHUYẾN THIỆN, làm lành lánh dữ. 


     Sưu tầm tài liệu trên mạng, trình bày lại để đọc chơi tiêu khiển trong những lúc trà dư tửu hậu và cũng để những hậu sinh hậu bối biết được các từ "Chín Tầng Trời, Mười Tám Tầng Địa Ngục, Thập Điện Diêm Vương, Chín Phương Trời, Mười Phương Phật"...


     Hẹn bài viết tới !


                                                                  杜紹德

                                                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC