CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

BÀI THƠ NĂM MƯƠI NĂM , THƠ THƯƠNG PHƯƠNG , NHẠC NGUYỄN HỮU TÂN


 

                  



BÀI THƠ NĂM MƯƠI NĂM
THƠ THƯƠNG PHƯƠNG
NHẠC NGUYỄN HỮU TÂN
HOÀ ÂM TRẦN NHÀN
TIẾNG HÁT NHƯ LOAN
VIEO CLIP HUỲNH TÂM HOÀI

 

         

                                  

                                   


CHÚC MỪNG LỄ VÀNG KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY CUỚI CỦA ANH CHỊ NGUYỄN HỮU TÂN.KÍNH CHÚC ANH CHỊ HẠNH PHÚC TRỌN ĐỜI,CHÁU CON THÀNH ĐẠT.
NM




Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

LẮNG HỒN NON NƯỚC - THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG

 




LẮNG HỒN NON NƯỚC

 

Chín nhánh sông rồng sóng kết hoa,
Chín dòng mềm mại tải phù sa.
Muôn trùng nước nổi muôn trùng sóng
Vẳng bóng thương hồ vẳng tiếng ca.

 

Ba lá neo đêm nuột lạt dừa,
Cầm ly rượu trắng trái bần chua.
Vỗ tay tài tử ca ra bộ,
Ngỡ dáng ra chèo mát mái xưa.

 

Đâu thuở bần gie đom đóm rung,
Cù nèo lưỡi phảng giật vòng cung.
Xuống xề đúng nhịp làn hơi cũ,
Một phút thăng hoa bỗng sáng bùng.

 

Chợ nổi khẳm xuồng ghe, nước rong,
Gió đưa gió đẩy kiếp phiêu bồng.
Bập bềnh bến hẹn trong tâm thức
Mãi thả trôi về một bến trong

 

Điệu lý gập ghềnh vó ngựa ô,
Lênh đênh tiếng hát bạn thương hồ.
Lục bình nở tím hoa tan hợp,
Giạt bến trôi bờ ngọn sóng xô.

 

Lịm ánh trăng khuya điệu Phượng hoàng,
Hồn thơ lặng giữa nhịp song lang.
Lắng hồn cố thổ hồn sông nước
Chín nhánh rưng rưng mấy khúc đàn

TRẦN NGỌC HƯỞNG

 

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

BẮC NINH THI THOẠI (KỲ 8) - NGUYỄN KHÔI

 




                BẮC NINH THI THOẠI (KỲ 8) - Nguyễn Khôi

Bắc Ninh thi thoại của Nguyễn Khôi (Đình Bảng) đã tái bản nhiều lần ở Việt Nam, độc giả trong và ngoài nước đánh giá cao giá trị nghệ thuật của tác phẩm này. Xin trích một số chương giới thiệu cùng bạn đọc.



 
Tập II
(Phần ngoại biên)
Tặng người em đồng hương – Tiến sỹ Nguyễn Văn Hoa
 
 
Bài 10:
TRỞ VỀ VỚI BẢN GỐC THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
 
Cũng giống như “thơ Bút Tre” hiện nay, từ một type thơ “Bút Tre thật” dân gian đã sáng tác cả trăm, ngàn câu thơ “Bút Tre mới”… Thơ nôm Hồ Xuân Hương đi vào cuộc sống dân Việt Nam ta đã ngót 200 năm (bản in sớm nhất là “Xuân Hương di cảo” in năm 1914; các bản khắc ván “Xuân Hương thi tập” in năm 1921, in năm 1923;bản  chép tay “Quốc Văn Tùng Ký” soạn vào thời Tự Đức đến đầu Duy Tân; các bản chép tay “Xuân Hương thi sao”“tạp thảo tập”“Quế Sơn thi tập”“Xuân Hương thi vịnh”,“Liệt truyện thi ngâm” và “Lĩnh Nam quần hiền văn thi văn diễn âm tập”).Vậy bài nào là chính gốc thơ Hồ Xuân Hương trong số 213 bài đang được lưu hành khá rộng rãi?
 
Sau hơn 40 năm âm thầm ấp ủ, nghiền ngẫm… Giáo sư Tiến sĩ Kiều Thu Hoạch (Người cùng quê xứ Đoài với Phó bảng Kiều Oánh Mậu – người có công lớn trong việc hiệu đính truyện Kiều) – một chuyên gia hàng đầu về chữ Nôm, qua nhà xuất bản văn học, ông đã công bố cuốn “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương” với 84 bài thơ, câu đối. Có thể nói: cuốn sách là một công trình khoa học hoàn chỉnh, đầy đủ, đúng chuẩn nhất về văn bản, dịch nghĩa, dịch thơ, khảo cứu, chú giải, chú thích chữ Nôm, đáp ứng lòng ái mộ của tất cả bạn đọc yêu quý những bài thơ bất hủ của Bà chúa thơ Nôm Việt Nam.
 
Tiếp cận thơ Nôm từ góc nhìn văn bản học, cuốn sách của Kiều Thu Hoạch, chí ít cũng cho chúng ta 3 thông tin rất có giá trị:
- Một là: thời điểm xuất hiện “Xuân Hương thi tập” là thời Vua Minh Mạng (1820-1840)
- Hai là, lúc bấy giờ Hồ Xuân Hương đã nổi tiếng hay thơ Nôm.
- Ba là, lúc bấy giờ Xuân Hương vẫn còn trẻ, còn được người đời (qua văn bản) gọi bằng “cô”.
Qua các văn bản chữ Nôm xưa, Kiều Thu Hoạch đã loại trừ được một số bài thơ bị gán cho Nữ Sỹ như các bài:  “Đánh cờ người”, “tát nước”, “cái nợ chồng con”, “đánh đu”, ”bà đanh”, “đồng tiền hoẻn”, “ông cử võ”
 
Xin giới thiệu một số bài thơ Nôm Hồ Xuân Hương (bản gốc) để bạn đọc cùng thưởng thức:
 
1. VỊNH THĂNG LONG HOÀI CỔ
 
Ngân ngất tầng mây một dải cờ
Kinh thành ngày trước, tỉnh bây giờ
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn ngát
Bia đá Khuê Văn chữ chửa mờ
Bảo Tháp lơ thơ chòm cỏ mới
Hồ sông lai láng bóng trăng xưa
Nào ai Cố lão ra đây hỏi
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa?
 
2. CHƠI KHÁN ĐÀI
 
Êm ái chiều xuân tới khán đài
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
Bốn mùa triêu mộ chuông gầm sóng
Một vũng tang thương nước lộn trời
Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn
Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi
Nào là cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây chín rõ mười.
 
3. CANH KHUYA
 
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan mấy nước non
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy chòm
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình son trẻ tí con con.
 
4. LẤY CHỒNG CHUNG
 
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm chừng mười họa hay chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng
Cầm bằng làm mướn mướn không công
Nỗi này ví biết dường này nhỉ
Thời trước thôi đành ở vậy xong.
 
5. KHÔNG CHỒNG MÀ CHỬA
 
Cả nể cho nên hóa dở dang
Sự này có thấu hỡi chăng chàng
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao mà nảy nét ngang
Cái tội trăm năm chàng chịu cả
Chữ tình một khối thiếp xin mang
Quản chi miệng thế lời chênh lệch
Chẳng thế nhưng mà thế mấy ngoan.
 
6. THƠ THỊ ĐỂU
 
Kén chọn làm chi thế ối anh
Lấy ai khuynh quốc lại khuynh thành
Vô duyên nên nỗi người chê “đểu” (1)
Có đẹp chăng thời gái ở tranh
Ghét mặt cục vàng ra cục đất
Tắt đèn nhà ngói bẵng nhà gianh
Thay lời mượn bút đem thư gửi
Nghĩ lại sao cho để được đành
 
(1) Nguyên văn chữ Nôm là “điểu” là chim, có dấu cá nháy – theo tự điển Việt Pháp và Việt Nam tự điển (1931) thì “đểu” có nghĩa là hạng người hèn mạt/ mạt hạng.
 
7. CHI CHI CHUYỆN ẤY
 
Chi chi chuyện ấy đã đành lòng
Vó ký phen này quyết thẳng rong
Non nước chơi hoài non nước đó
Gió giăng nào phải gió giăng không
Mặt càng đối mặt tình ngao ngán
Tay chửa rời tay bước ngại ngùng
Lão Nguyệt lẽ nào trêu quải mãi
Chén đồng xin hẹn khắc đêm đông.
 
8. NÚI BA ĐÈO
 
Một đèo một đèo lại một đèo
Khen ai khéo vẽ cảnh cheo leo
Cửa son tía ngắt lơ thơ móc
Đường đá xanh rì lún phún rêu
Phưởng phất chồi thông cơn gió tốc
Mịt mờ ngọn cỏ lúc sương reo
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo.
 
9. MIẾU SẦM THÁI THÚ
 
Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.
 
10. KHÓC TỔNG CÓC
 
Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.
 
11. KHÓC QUAN VĨNH TƯỜNG
 
Trăm năm Quan Phủ Vĩnh Tường ôi
Cái nợ phù sinh có thế thôi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Nắm xương dưới đất chau mày khóc
Hòn máu trên tay mỉm miệng cười
Đã thế thời thôi cho mát mẻ
Trăm năm Quan Phủ Vĩnh Tường ôi.
 
12. TIỄN NGƯỜI LÀM THƠ
 
Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền
Cũng đòi học nói nói không nên
Ai về nhắn nhủ phường lòi tói
Muốn sống đem vôi quét trả đền.
 
13. VỊNH QUẢ CHUÔNG
 
Năm ba thằng ngọng đứng xem chuông
Nó bảo nhau rằng ấy ái uông.
 
14. CHƠI HOA
 
Đã chót chơi hoa phải cố trèo
Trèo lên trèo xuống mỏi xương kheo
Cành la cành bổng vin co vít
Bông chín bông xanh để lộn phèo.
 
15.VÔ ÂM NỮ (1)
(Gái không âm hộ)
 
Mười hai bà mụ ghét chi nhau
Đem cái xuân tình cắm ở đâu
Rúc rích thây cha con chuột nhắt
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu
Nào ai biết được vông hay chóc
Nọ kẻ chia ra cuống mấy đầu
Thôi thế thời thôi thôi cũng rảnh
Trăm năm càng khỏi tiếng làm dâu.
 
(1)  Các bản khác ghi là “Quan thị”
 
16. NGÃ TỐC VÁY LÀM THƠ TỰ VỊNH
 
Vén đám mây lên tỏ mặt trời
Lác coi từng đám rõ từng nơi
Giang sơn đâu đó nhô đầu dậy
Hoa cỏ quen hơi mỉm miệng cười.
 
17. BÙN BẮN LÊN ĐỒ
 
Xuân Hương đi đường lội, bùn bắn lên đến “đồ”, tức cảnh vịnh:
 
Nê ninh thượng thức cao thâm xứ
Mạc quải anh hùng lưỡng thủ mô
(Bùn kia còn biết nơi cao thẳm
Chẳng trách anh hùng thích mó tay).
 
18. ĐI ĐÁI BÙN NẨY
 
Quân tử anh hùng đâu vắng tá
Để cho nê thổ nảy chơi xuân.
 
19. XƯỚNG HỌA VỚI QUAN TẾ TỬU HỌ PHẠM
(Bài 2)
Xuân Hương xướng:
 
Kìa ai tỉnh, kìa ai say
Kìa ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Khoan khoan xin hãy dừng tay lại
Chớ mó hang hùm nữa mất tay.
 
Họ Phạm (Chiêu Hổ) họa lại:
 
Nào ai tỉnh nào ai say
Nào ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Ví dầu hang chẳng cho ai mó
Sao có hùm con bỗng trốc tay.
 
20. Câu đối CHƠI ĐÈO NGANG
 
– Khéo khen ai đẽo đá chênh vênh, tra hòn ngược để đơm người đế bá;
– Trách con tạo lừa cơ tem hẻm, chuốt núi xuôi cho lọt khách cổ kim.
 
Thật vui, “cái gì của Xuân Hương trả lại cho Xuân Hương” – Giáo sư Tiến sỹ Kiều Thu Hoạch đã dành trên 40 năm trời để Làm ĐƯỢC cái công việc có giá trị đích thực này – thật là đáng kính trọng.

 
                                            Góc thành Nam - Hà Nội 30-3-2008

                                                                NGUYỄN KHÔI
 


CHÙM THƠ THÁNG MƯỜI - THƠ CHÂU THẠCH

 





CHÙM THƠ THÁNG MƯỜI 

                      

 

EM THÁNG MƯỜI

 

         --00-- 

Có phải vào tháng mười 

Mình gặp nhau không nhỉ?

Anh gọi em tuyệt mỹ 

Chính là em tháng mười! 

 

Tháng mười trong nụ cười 

Nhìn nhau chào nhau vội 

Tháng mười em tinh khôi

Thông minh trên vầng trán

 

Tháng mười áo em sáng

Tháng mười màu khăn quàng

Tháng mười em thật sang

Tháng mươi em thật đẹp. 


Tháng mười mùa thu khép 

Trời sắp sửa vào đông

Sao đôi má em hồng!

Sao đôi môi em thắm!

 

Em tháng mười say đắm

Làm vui đời gian nan

Ta nhìn em mơ màng

Tháng mười mùa thu chín!!!

            

 

EM VỀ HUẾ THÁNG MƯỜI 


                 --0-- 

Em về Huế áo tháng mười phong ấm

Gót hồng tươi dạo bước trước rêu phong

Đẹp còn hơn hoàng hậu những trang lòng 

Hàng tượng đá mắt nhìn theo lẳng lặng. 

 

Em về Huế lăng vua chiều thanh vắng 

Dáng thanh tao sen thắm hồ Tịnh Tâm 

Bước em qua công chúa những đêm rằm 

Vườn Thượng Uyển trăng lay tà áo nguyệt 

 

Em về Huế, có gì như diễm tuyệt 

Cổ tích xưa tiềm ẩn dáng ngày nay 

Sóng Hương giang cong lượn vóc em đầy 

Tóc tơ liễu gió bay đồi ngoạn cảnh 

 

Em về Huế tháng mười trời se lạnh 

Mây trắng bay quyến luyến vày Trường Tiền 

Trên hoàng thành soi ánh nắng mơ tiên 

Hồn vua chúa, cung tần vui đón đợi 

 

Em về Huế tháng mười, Huế như mới 

Điệu cung đình không cảm thấy buồn thương 

Có cái gì như vấn vấn vương vương 

À, có tiếng dòn thanh người Nam Bộ! 

 

Em về Huế thuyền có qua Bạch Hổ? 

Có ghé chùa Thiên mụ lắm tầng cao? 

Em biết rằng Huế sẽ rất nôn nao 

Vì Huế đợi chờ em  từng năm tháng ./. 

                                      


        CHÂU THẠCH

 

 


Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2021

CHÙM THƠ NGUYÊN LẠC

 





             TIẾNG MƯA CHIỀU PHỐ LẠ
.
Tiếng mưa chiều phố lạ
Gọi dĩ vãng xa về
Mưa chiều nơi xứ lạ
Sao tiếng buồn lê thê?
.
Tiếng mưa chiều phố lạ
Gọi nhớ về mưa xưa
Mưa thu đêm gác trọ
Mưa ngăn lối đường về
Mưa quế trầm môi mật
Mưa quýnh quáng đê mê
.
Tiếng mưa chiều phố lạ
Nhớ bạn bè thời qua
Oan khiên rừng núi thảm
Ai tử biệt ai về?
.
Tiếng mưa chiều phố lạ
Mưa thiên cổ vọng về
Giọt mưa hay giọt lệ
Khóc kiếp đời lưu vong!

*
Mất nhau ngày khóc ngất
Có nói thêm cũng thừa
Xác còn hồn đã mất
Lệ đời nuốt đủ chưa?
.
Tiếng mưa chiều phố lạ
Vọng cố hương mù xa
Vinh nhục đời cơm áo
Còn gì chỉ phôi pha!
.
Mưa chiều nơi xứ lạ
Mưa thê thiết nghìn trùng
Tha hương mưa buồn lắm
Cố nhân biết hay không?
.

VẪN MÃI DÒNG SÔNG
.
Tha hương nhớ tiếng đàn cò
Từng đêm nhức nhối vọng mơ câu tình
"Đờn cò lên trục kêu vang
Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng" [*]
.
"Đàn kêu tích tịch tình tang"
Giữa khuya "Dạ Cổ Hoài Lang" khơi buồn
Quê hương vẫn mãi dòng sông
Gành Hào bến vắng mắt trông lệ trào
Đêm thanh vọng tiếng nhạc rầu
Tình lang thương nhớ nỗi sầu lời ca
Đàn cò hoà điệu thiết tha
"Đường dầu xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Vọng phu luống trông tin chàng" [**]
Hò liu cống liu xê xạng... Lời não nùng chàng ơi nhớ thương!
.
Sông vàng dải lụa trăng tuôn
Níu người sao vội xuôi nguồn từ ly?
Từ ly rồi sẽ vĩnh ly
Câu ca lệ khổ người đi nhói lòng!

*
Tha hương vẫn mãi trong hồn
Gành Hào đưa tiễn trăng tuôn lệ sầu
Đàn cò thê thiết khúc đau
Hoài Lang Dạ Cổ đêm nào... sao quên?!
.
"Đờn cò lên trục kêu vang"
Cố nhân có biết nỗi lòng viễn phương?
.............
[*]  Ca dao
[**] Lời bài hát Dạ Cổ Hoài Lang - Cao Văn Lầu
.


MƯA
.
1.
Mưa chi? Mưa mãi không thôi!
Mưa ơi! Có biết động tôi một trời?
Tôi van mưa hãy thôi rơi!
Để tôi đừng nhớ một thời bể dâu

Mưa ơi! Ngừng đi thôi
Mưa buốt lạnh lắm rồi
Tôi ơi! Ngừng đi thôi
Nhớ thêm chi? Đủ rồi!
.
2.
Đêm nay gió len vào hồn cô lữ
"Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi" *
"Giọt mưa trên lá tiếng khóc chơi vơi" **
Tiếng ca dĩ vãng ngày đó xa rồi!

Sầu khúc mưa rơi nhung nhớ buồn ơi!
Tiếc thương thanh xuân mộng vỡ một thời
Một thời để yêu một thời để nhớ
Cần Thơ mưa đêm Cần Thơ yêu người

Ngoài trời mưa rơi thánh thót mưa rơi
Bùi ngùi lời than thôi mất nhau rồi
Buốt giá đời rồi sá chi thêm chút lạnh!
Mưa đời cứ rơi! Nặng hạt cứ rơi!

Cô lữ. Mưa đêm. Tí tách tiếng buồn
"Dạ Cổ Hoài Lang" sầu khúc đêm nao
Từ li mưa đêm trên bến Gành Hào  
Não nùng lời ca than trách bể dâu!  

Quê hương tôi ơi biết đến khi nào?
Mưa đời luân lạc mưa kiếp tha hương!
Thiên cổ nỗi sầu cùng ai chia sẻ ?
Tri kỷ còn đâu mà cạn Hồ trường!

Hồ trường thống hận Hồ trường
Nghìn trùng thăm thẳm quê hương!
"Trời Nam nghìn dặm thẳm, non nước một màu sương
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang ai người tri kỷ,
lại đây cùng ta cạn một Hồ trường." ***
.

3.
Mưa... mưa... mãi mưa đi!
Mưa trôi mất xuân thì
Mưa Cần Thơ ngày đó
Mưa gác trọ tình si
Mưa Gành Hào một thuở
Mưa khóc tiễn người đi!
Dạ khúc mưa thê thiết
Hoài Lang khúc ai bi!
Cố nhân ơi vĩnh biệt
Nghìn trùng đành phân li
...............
* Giọt mưa thu - Đặng Thế Phong
** Giọt Mưa Trên Lá -Phạm Duy
*** Hồ Trường- Nguyễn Bá Trác
- Cửa Gành Hào thuộc huyện Đông Hải - tỉnh Bạc Liêu
.
NGUYÊN  LẠC