CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2023

NHỮNG KIÊNG CỮ CỦA NGƯỜI MIỀN NAM TRONG NHỮNG NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN - KHA TIỆM LY

 





NHỮNG KIÊNG CỮ CỦA NGƯỜI MIỀN NAM TRONG NHỮNG NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN

Quan niệm chung của người Miền Nam là đầu năm mới, đánh dấu một sự đổi mới, là cái mốc quan trọng nhất của mọi thứ trong năm. Những ngày đầu xuân thuận lợi, thì suốt năm thuận lợi; ngược lại, sẽ bị nhiều rắc rối, phiền hà.
Bởi vậy, họ kiêng cữ đủ thứ; đầu tiên là cái gì cũng phải mới, sạch sẽ và đầy đủ:
Nhà cửa phải sơn phết, dọn dẹp gon gàng, sáng láng. Mùng mền chiếu gối phải tươm tất, sạch sẽ, bàN thờ phải lau, chùi, chưng đầy ắp trái cây…
Trước giao thừa, tức còn năm cũ, phải chuẩn bị tiền trong túi cho đủ chi tiêu, ít nhất là hết ngày mùng một; bởi mùng một mà mở tủ tiền là việc chẳng nên làm vì suốt năm ngày nào tiền cũng ra hết!)
Tất cả chổi phải đem cất trong nhà, vì ăn trộm mà cắp được thứ nầy thì năm mới mọi của tiền sẽ bị chúng “quét” sạch!
Ngày xưa người ta còn bỏ một mớ lúa vào cối xay để sang năm được mùa, có lúa xay quanh năm, không lo đói khát!
Mọi vật dụng chứa nước phải tràn trề, lu gạo phải đầy ăm ắp, các thứ gia vị, nhất là muối cũng chẳng được vơi, để sang năm thức ăn mới được sung túc, dồi dào!
Trên bàn thờ, xưa kĩa người ta thường thấy các trái bưởi, cam quýt, ý mong cho sang năm mới mọi thứ viên mãn, tròn trịa; nhưng sau nầy có người họ bỏ vì cái tên nghe không mấy hay của chúng: bưởi (bưởi bồng); cam (cam chịu nghèo khổ; quýt (huýt háy)! Thay vào đó là các trái cây có tên mang ý nghĩa phát đạt, no ấm, là mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài. Ý là muốn “cầu “vừa” đủ “xài”. Xem ra ước mong nầy khá khiêm nhường nên có người không ưng ý, nên họ “cầu sung”, (mãng cầu và chùm sung). Nghĩa là cầu cho năm mới được sung túc hơn!
Sau nầy có tay chơi trội: “Xài líp pa ga!” (trái xoài, cái líp, và cái pa ga xe đạp!). Ý nói rằng nếu không có tiền thì làm sao dám xài thả cửa!
Khó thấy ai dám chưng sầu riêng (buồn cô lẻ), chuối (chúi nhủi), sa bô chê (chê) Dù kẻ gan lì thế mấy cũng không dám chưng bọc tiêu và mấy táng đường, bởi sợ năm mới sẽ bị “tiêu táng thoòn”!
Sáng mồng một, đã sang năm mới, đầu tiên là không được mở cửa sớm, vì sợ ma quỷ vào!
Và rồi kế tiếp không phải kiêng “ba không” hay “bốn không”, mà là “hàng loạt không”, kể tới sáng không hết, đại khái như sau:
- Không mặc áo cũ, rách, vá: Năm mới sẽ không có áo lành!
- Không mặc nguyên bộ trắng, hoặc đen: Màu tang chế!
- Không được khóc lóc: Sang năm có chuyện khóc hoài!
- Con nít không để bị đòn (người lớn thường cũng ‘tha”, không đánh): Suốt năm bị đòn lia chia!
- Không được cải cọ: Năm mới có chuyện đấu khẩu liên tục!
- Không được lảm vỡ ly, tách, chén, dĩa..: Năm mới cái gì cũng tan nát!
- Nhất là không được làm vỡ gương soi: Vợ chồng ly tán!
- Không vay mượn: Nếu không muốn sang năm là thân chủ của tiệm cầm đồ!
- Không trả nợ: Tiền ra mà không vô!
- Không xoã tóc: Giống người cõi âm quá!
- Không mua kim chỉ, may vá: Muốn may đồ tang sao?
- Không cho lửa: Lửa tượng trưng cho may mắn, cho cái hên, và sự ấm áp. Cho mấy thứ đó à? Vì vậy cũng đừng nên xin lửa nhà người!
- Không mở tủ: Tiền ra hết!
- Không đi chúc Tết ai khi mang bầu: Họ nói mình đem xui xẻo tới đó! (Ngộ thiêt! Ngày thường thì có bầu là tin vui)
- Không đi chúc Tết ai khi có tang: Không khéo bị đuổi như đuổi tà!
- Không được quét nhà: Rác là tiền, là thần tài hoá thân đó!
Và cũng đừng bao giờ dại dột đem biếu hàng xóm:
- Trái bầu (nhất là nhà có con gái): “ Mầy muốn con tao có chửa hoang hử?”
- Tiêu hột: “Mầy muốn nhà tao tiêu tùng hử?
- Bắp cải: “Mầy muốn vợ chồng tao cãi lộn hử?”
- Khổ hoa: “Mầy muốn nhà tao chịu “cay đắng” suốt năm hử?
(Lời dặn cần thiết: Nếu cả gan đem cho những thứ ấy đem biếu thì nhớ đem theo bịch bông gòn!).
Nếu cha mẹ lỡ đặt cho bạn cái tên “xấu” như: Bần, Bại, Nguy, Đèo... thì tuyệt đối sáng mồng một bạn chớ nên ghé nhà ai trước (gọi là “xông đất”), bởi theo gia chủ thì tên bạn sẽ ảnh hưởng vào vận mệnh của họ trong năm. Thâm chí, nếu bạn tên “Xuôi”, tức là xuôi chèo mát mái, không hề bị cản trở, nhưng bạn cũng bị cho đồng nghĩa với “Xui”, xui xẻo đó!
Nếu may mắn bạn được tên như “đẹp” như: Phước, Lộc, Tho, Phú, Quý, ....thì ô kê, hiên ngang mà vào!
Chồng tên Nghĩa, vợ tên Trang (Nghĩa Trang); Chồng tên Liệt, vợ tên Mãi (Liệt Mãi)... thì chớ dại dột xồn đất nhà người!
Người “xông đất” như người mở hàng vậy. Nếu ngày đó bán kbông đắt, thì người mở hàng lần sau không những bị “chạy mặt” mà còn bỉ rũa thầm: “Đồ vô dang!”!
Không biết bao chuyện bi hài về “xông đất”!
Dù những cữ kiêng kể trên phần nhiều là... tào lao binh, phản khoa học, nhưng chúng ta cũng nên biết để khỏi “làm phiền hàng xóm đang cần nhiều... sự vui vẻ” để đón xuân!
Còn những điều cử kiêng sau đây, không những nên áp dụng vào những ngày Tết, mà với những ngày thường chúng ta cũng không thể lơ là, bởi nó vô cùng thực tế, rất hữu ích, và đầy đủ tính thuyết phục của khoa học:
- Không ăn mỡ nhiều: Tào tháo rượt, và bị “lên máu”!
- Không ăn sai giờ: Bao tử và ruột biểu tình!
- Không uống rượu nhiều: Có thể đi đến đấu khẩu, đấm đá, gây án mạng, gây tai nạn giao thông. và bị vướng... “xơ gan thần chưởng”!
- Không bài bạc dưới mọi hình thức: Vì nó là “bác thằng bần”, là cội nguồn của sự túng thiếu, chôm chỉa!
Thực tế cho thấy, trong và sau những ngày Tết, ở bệnh viện, khoa nội luôn quá tải, khoa “sứt tay gãy gọng” đều chẳng giường nằm! Và trại tam giam, tội phạm “nghỉ Tết” nhiều hơn!
Mong quý bạn hưởng một mùa xuân vui trọn vẹn!

KHA TIỆM LY

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2023

CHÙM TỨ TUYỆT TẾT QUÝ MÃO - THƠ NGUYỄN KHÔI

                                                                                         

                                                                                                                                   



 CHÙM TỨ TUYỆT - TẾT QUÝ MÃO

“ Đất có thời , phe có vận “
( Tục ngữ )
———-

-1, Giáp Tết động Trời truy “ trùm cuối”
Hương nhang xứ Quảng bốc mùi  “
toang”
Bình Minh vụt tắt , Đam mê vứt
Tiên lão đánh bài , xe pháo đi đêm …

-2, “ Xuân vận “ chen nhau về ăn Tết 
Ba năm Covid kẹt tàu xe 
Mở cửa thông biên Hoa quả xuất
Cúm Tàu được dịp thả nguy cơ…

-3, Xuân này NATO - Nga quyết chiến
Xem ra chỉ khổ dân Ukraina ( U cà )
Bắc Kinh- Bình Nhưỡng lăm le “ diễn “
Nhật  - Hàn - Đài nơm nớp cũng gân đua…

-4, Tết này giảm mua , lo khủng hoảng
Chìm xuồng Chứng khoán , Đất đóng băng
“ Cắt lỗ “ bao thằng thành tay trắng
Buôn bán theo bầy chết nhăn răng …

-5, Tết này nằm nhà chơi TikTok
Thơ văn / hàng giả loạn thị trường
Vui nhất Xóm Thơ Câu lạc bộ
Tự khen / tự sướng rượu bia tràn …


Hà Nội 18/1/2023

NGUYỄN KHÔI



Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

CÂU ĐỐI ĐIỆP TỰ - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 



Tạp ghi và Phiếm luận :

                            CÂU ĐỐI ĐIỆP TỰ
                               


      Trong "CHỮ NHO... DỄ HỌC" có một chữ Giả Tá rất đặc biệt, đó là chữ HÀNH 行. Chữ nầy có bộ XÍCH 彳(nghĩa là Bước chân trái) ở bên trái, và chữ XÁCH 亍 (Bước chân phải) ở bên phải. Bước chân trái 1 cái, bước chân phải 1 cái, nên HÀNH 行 có nghĩa là ĐI.

               


    * HÀNH 行 Ngoài nghĩa ĐI ĐỨNG ra, còn có nghĩa là LÀM, như HÀNH ĐỘNG 行動, mà việc làm thì biểu hiện tánh tình và bản chất của con người, nên HÀNH còn được đọc là... 
      
    * HẠNH: là Phẩm Hạnh 品行, chỉ phẩm chất đạo đức của một con người: "Nhân sanh bách HẠNH hiếu vi tiên 人生百行孝為先" chính là chữ HẠNH nầy.  Kết hợp Hành động và Phẩm hạnh chữ HÀNH còn được đọc là...

    * HÀNG : là Hàng Ngũ 行伍 là phải đi cho ngay hàng thẳng lối; Xếp Hàng cũng là chữ HÀNG nầy. Ngoài ra HÀNG còn có nghĩa là "Ngành Nghề". Cải HÀNG 改行 là Đổi Nghề. Ta có thành ngữ: HÀNG HÀNG XUẤT TRẠNG NGUYÊN 行行出狀元. Có nghĩa là "Bất cứ ngành nghề nào cũng đều có Trạng Nguyên của ngành nghề đó cả". Ý muốn nói : Bất cứ ngành nghề nào cũng có thể phát triển và làm giàu lớn được cả!  Nghĩa phát sinh của âm đọc nầy ta còn có...

    * NGÂN HÀNG 銀行: là Cái Tiệm, Cái Hảng chuyên kinh doanh Tiền bạc. HÀNG QUÁN 行館 cũng là chữ HÀNG nầy.  Vì là chỗ Kinh Doanh nên còn được đọc là...

    * HẢNG: như TỬU HẢNG 酒行: là cái Hảng Rượu. Hảng Xưởng là chữ HẢNG nầy.  Cuối cùng...

    * HÀNH : còn là một thể loại Văn Học trong Nhạc Phủ chỉ các bài thơ Trường Thiên như : TÌ BÀ HÀNH 琵琶行 của Bạch Cư Dị, TÒNG QUÂN HÀNH 從軍行 của LÝ Cần, LỆ NHÂN HÀNH 麗人行 của Đỗ Phủ... Nhưng, Trong đàm thoại...

    * HÀNH 行 cón có nghĩa là Được, như "Hành bất Hành 行不行 ?", là "Được hay không được ?" "ĐƯỢC thì trả lời là HÀNH 行!", "KHÔNG ĐƯỢC thì nói là BẤT HÀNH 不行!".


     
      HÀNH là chữ tiêu biểu cho câu nói của ông bà ta xưa kia thường nhắn nhủ là : Nhất tự lục nghì (Một chữ mà có tới 6 nghĩa !)

      Một công ty ở Hồng Kông đã để tên Bảng Hiệu như thế nầy: 行 行 行 thu hút không ít khách hàng ghé lại xem Công Ty của ông ta kinh doanh cái gì và tên của bảng hiệu phải đọc như thế nào, làm cho business của ông ta trở nên vô cùng bận rộn và phát triển... Thì ra ông ta đang chơi trò Giả Tá. Ba chữ  行 行 行 đọc là HẠNH HÀNH HẢNG, tức là cái Hảng có tên là Hạnh Hành, thế thôi!

     Sau đây là câu đối toàn chữ 行 của một Trường Dạy Nghề như sau :

               行行行行行行行,    Hàng hảng hàng hảng hàng hàng hảng,
               行行行行行行行.    Hảng hành hảng hành hảng hảng hành.
Cũng có thể đọc là :
                      Hàng hàng hảng hảng hàng hàng hảng,
                      Hảng hảng hành hành hảng hảng hành.

      Nhưng dù có đọc như thế nào, thì câu đối trên vẫn có nghĩa là :
         
        - Bất cứ ngành nghề nào, bất cứ hảng xưởng nào;
        - Hảng xưởng nào cũng được, ngành nghề nào cũng được cả !

      Vì HÀNG HÀNG XUẤT TRẠNG NGUYÊN 行行出狀元 mà ! Theo ngành nghề nào cũng tốt cả như ông bà ta đã dạy qua câu ca dao :

                                Nghề nào cũng trọng cũng hay,
                           Làm quan cũng quý, đi cày cũng sang !

      Sau đây cũng là một câu đối rất rắc rối và lắc léo về chữ 行 được đọc là "HÀNH là ĐƯỢC" và "HÀNG là NGÀNH NGHỀ". Câu đối như sau :

                             幹一行就行一行, 一行既行, 行行都行; 
           Cán nhất hàng tựu hành nhất hàng, nhất hàng ký hành, hàng hàng đô hành;
                             幹一行不行一行, 一行不行, 行行不行. 
           Cán nhất hàng bất hành nhất hàng, nhất hàng bất hành, hàng hàng bất hành.

Có nghĩa :
       - Làm một ngành mà được một ngành, một ngành đã được, thì ngành ngành đều được;
       - Làm một ngành mà không được ngành đó, một ngành đã không được, thì ngành ngành đều không được !

       Trên một trường đình bên đường để cho khách bộ hành ngồi nghỉ ngơi của huyện Phụng Hóa tỉnh Chiết Giang có đôi câu đối như sau :

               行,行,行,行行且止; Hành, hành, hành, hành hành thả chỉ;
               坐,坐,坐,坐坐何妨。 Tọa, tọa, tọa, tọa tọa hà phương.
Có nghĩa:
             - Đi, đi, đi,   đi một hồi rồi lại nghỉ;
             - Ngồi, ngồi, ngồi,   ngồi một lát có sao đâu !

         Trường đình đã nói lên đúng cái chức năng của mình, và khuyên người bộ hành đã đi nhiều rồi thì hãy ngồi lại nghỉ một lát rồi hãy đi tiếp, đâu có sao đâu !




      Truyện kể...
            Một tân khoa Trạng Nguyên ngày đầu tiên đến bái kiến ra mắt đức vua. Vua muốn thử tài, bèn chỉ vào bút mực đang bày sẵn trên văn án mà phán rằng :"Khanh hãy viết một đôi câu đối cho buổi triều kiến hôm nay". Trạng nguyên được lời bèn ngồi vào văn án hươu bút như rồng bay phượng múa, khi vừa dứt nét cuối thì nhà vua và bá quan văn võ có mặt đều há hốc tỏ ra rất kinh ngạc, vì trên giấy hiện ra hai hàng chữ rất lạ lùng mà mọi người đều không hiểu là nghĩa gì. Nhà vua bèn bảo Trạng đọc to lên cho mọi người cùng nghe. Tân Trạng Nguyên bèn hướng về bá quan cất cao giọng đọc như sau :

                        一 行 行 行 行 行 行 行 行 的 整 齊;
          Nhất hàng hành, hàng hàng hành, hàng hàng hành đích chỉnh tề,
                        一 朝 朝 朝 朝 朝 朝 朝 朝 拜 君 王。
          Nhất triêu triều, triêu triêu triều, triêu triêu triều quân vương.
         
      * NHẤT HÀNG HÀNH 一 行 行 : HÀNG là Hàng ngũ; HÀNH là Đi. Nên
        NHẤT HÀNG HÀNH là Một hàng đi...
      * NHẤT TRIÊU TRIỀU 一 朝 朝 : TRIÊU là Buổi sáng, TRIỀU là đi Chầu. Nên
        NHẤT TRIÊU TRIỀU là Một buổi sáng đi chầu...
Câu đối có nghĩa :
             - Một hàng người đi, mỗi hàng đều đi theo, mỗi hàng đều phải đi rất ngay ngắn.
             - Một buổi sáng đi chầu, mỗi buổi sáng đều đi chầu, mỗi buổi sáng đều phải đi chầu quân vương.



        Mọi người nghe xong mới vỡ lẽ ra và đều gục gặc đầu tán thưởng. Nhà vua rất đẹp ý bèn phong ngay cho tân trạng chức Hàn Lâm Học Sĩ.

         Còn rất nhiều câu đối điệp tự rất thú vị của các danh lam thắng cảnh...
        
          Hẹn bài viết tới !

                                                          

                     杜紹德
                   ĐỖ CHIÊU ĐỨC


PHIẾM LUẬN VỀ CON MÈO - KHA TIỆM LY

 





PHIẾM LUẬN VỀ CON MÈO

Chưa ai dám khẳng định con mèo đã hiện diện trên trái đất nầy bao lâu. Có tài liệu thì nói khoảng một vạn năm, nhưng mới đây, các nhà khảo cổ đã tìm được bộ xương mèo hóa thạch cách nay khoảng… 3,7 triệu năm! Vì thế việc chúng đã “sống chung hòa bình” với loài người từ khi nào vẫn còn là một ẩn số! Chỉ biết ngày nay, với người Tây Phương, mèo là thú cưng của hầu hết gia đình.
“Mèo” là “tên khai sanh”, còn “miu” là tên mà người chủ thường gọi (Khi gọi mèo tới ăn, người ta luôn gọi “miu miu, miu miu”). Tôi không nghĩ “miu” nó bắt nguồn từ “Miêu 貓” của từ Hán Việt.
“Mỉu” là tên đọc trại ra từ “miu”; “Mão, mẹo” là chi thứ bốn trong 12 chi cầm tinh con mèo. Gần đây, con cháu của lưu linh gọi mèo là “tiểu hổ”, ý nói là con cọp con!
Mỗi quốc gia, họ nhìn con mèo với đôi mắt “tốt”, “xấu” khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ nói “đôi mắt” của người Việt Nam trong văn chương bình dân!
1. Con mèo dù không có tên trong “lục súc” nhưng nó lại là con vật được gần gũi, được chủ thương yêu, vuốt ve, bồng ẵm thường xuyên không thua gì chó. Dù vậy, với văn chương bình dân, con mèo có đủ thứ “tật xấu”, và người ta đã khôn khéo đem những “tật xấu” nầy ngầm gán cho con người với mục đích chỉ trích lẫn giáo dục.
Có thể liệt kê tượng trưng những tính xấu của người (mà người ta đã “bán cái” qua mèo) qua vài thành ngữ, tục ngữ như sau: “Mèo mả gà đồng”, “Giấu như mèo giấu cứt”, “Mèo khóc chuột”, “Như mèo thấy mỡ”, “Im ỉm như mèo ăn vụng”, “Chó tha đi mèo tha lại ”, “Mèo khen mèo dài đuôi”, “Mèo già hóa cáo”, “Mèo đàng chó điếm”, “Ăn như rồng cuốn, làm như mèo mửa”, “Mèo chê chó lắm lông”, “Chưa học bắt chuột đã học ỉa bếp”, …
2. Với quan niệm người Việt thì mèo còn là hình tượng của sự xui xẻo : “Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì giàu/sang”. Câu nầy không biết có chịu ảnh hưởng câu “Miêu lai cùng, cẩu lai phú 貓 來 窮, 狗 來 富”của Tàu hay không, bởi nghĩa nó y hệt! Không biết bao nhiêu lời giải thích đồng ý hay không đồng ý một cách hoang đường về hiện tượng nầy. Trên thực tế, chưa thấy ai bị phá sản hay trở nên phú quý vì chó hay mèo tới nhà cả, nếu có thì chỉ là trong muôn một mà thôi! Mùa World Cup năm nay, không biết bao người tán gia bại sản đến nỗi phải nhảy cầu, nhảy lầu, chả lẽ những người nầy đều bị mèo tới nhà hay sao?
Chuyện kể, có anh nhà nghèo nọ sáng thức dậy thì thấy một ổ chó mẹ chó con trong nhà mình (nhà vách lá rách nên chó vào dễ dàng). Ai cũng chúc mừng, nói anh sẽ phát tài, đến nay anh ấy gần chết mà vẫn nghèo mạt rệp!
Lại có chuyện một anh nhà khá giả nọ, mèo hoang thương xuyên đến nhà rồi “đóng đô” tại nhà anh ta luôn; tiếng ra tiếng vào bảo anh phải giết nó mới hết xui. Anh không chịu và chấp nhận nó như một thành viên trong gia đình. Cuối cùng anh là một cự phú trong vùng. Anh đùa, bảo câu “mèo đến nhà thì khó,…” có lẽ người xưa nói sai, thực ra là “mèo đến nhà thì CÓ, chó đén nhà thì GIÀU” (“giàu có” mà). Ý anh muốn nhạo người xưa bày điều huyễn hoặc, giàu hay nghèo là do mình có nỗ lực làm ăn hay suốt ngày cờ bạc rượu chè mà thôi.
3. * Mèo có một thói tốt là ăn chậm rãi, nhỏ nhẹ, từ tốn. “Nữ thực như miêu”, người phụ nữ có tướng ăn như mèo là quý tướng. “Ăn nhạt như mèo”. Không phải riêng mèo mà bất kỳ động vật ăn thịt nào cũng ăn “nhạt”, bởi chúng nó không biết…chấm muối (hi). Thực ra chúng không ăn nhạt chút nào, bởi vị mặn trong máu của con mồi đã đủ sức mặn rồi!
* Với người Việt Nam, mèo là con vật không trung thành, khác hẳn với chó: Khi người chủ của chó qua đời, chó ta bèn nằm luôn bên mộ chủ mình quên cả uống, ăn. Chủ dọn nhà đi bao lần thì chó luôn theo bên chủ., bất kỳ nơi sơn cùng thủy tận nào! Còn mèo, thì chủ đi đâu mặc chủ, nó vẫn “trung thành” với…nền nhà cũ, và trở thành mèo hoang! Điều nầy giải thích vì sao không thấy chó hoang, trừ trường hợp gia đình chủ bị tai họa nào đó mà bị chết cả nhà!
* Có lẽ loài động vật nào cũng thích được vuốt ve , nhưng với mèo, nó lại có những cử chỉ như là … nhõng nhẽo khi được bàn tay của người mơn trớn: Nó chui rút, kêu “meo meo”, và cọ mặt, cọ tay vào người vuốt ve nó. Có phải vì hình ảnh nầy khá giống với hình ảnh đôi trai gái mới yêu nhau, nên thị phi có cụm từ “con A là “mèo” của thằng B”; “Thằng đó tối ngày chỉ “o mèo”, không chịu làm ăn gì hết”. O trong từ “O bế”, là… dê gái đó bạn!
* Theo dân gian, Linh miêu là “đứa”…con lai có mẹ là mèo rừng và cha là một loài rắn hổ chuyên ăn thịt cóc! Nếu linh miêu nhảy qua xác chết, thì xác chết nầy sẽ ngồi bật dậy và thành quỷ nhập tràng! Đây là chuyện phản khoa học, cực kỳ phi lý mà đến nay không ít người vẫn còn tin! Không trách gì một cố đạo người Pháp nói: “Dân An Nam rất thích chuyện hoang đường, huyễn hoăc!”
* “Miêu công” trong võ lâm là công phu trèo tường như mèo!
* Dân quê thường chôn xác mèo dưới gốc cây khế chua; theo họ điều nầy sẽ làm khế chua hóa ngọt! Họ cũng không ăn thịt mèo vì không muốn rước sự xui xẻo vào mình!
* Điều lạ lùng là, con mèo không hề bị bò chét, trong lúc con chó thì không biêt bao nhiêu mà nói!
* Nói về “ma đề” thì thật lắm chuyện: Mèo nhà số 18; mèo rừng số 14. Nằm chiêm bao mà thấy mèo đen, mèo mướp, mèo vàng, mèo trắng, mèo tam thể…thì “sách vở” dạy thế nào thì ”đánh” con đó! Lại nếu thấy mèo ngủ, mèo bắt chuột, mèo mắc mưa, mèo chết, bị mèo cắn,… , thì cũng phải nhờ “thầy bàn” mà “đánh”! Chưa hết! Nếu thấy một con thì đánh khác, hai, ba con, hay một bầy thì đánh khác! Có điều chắc chắn là nếu ai ghiền đánh để thì sớm hay muộn cũng tán gia bại sản mà thôi, kể cả “thầy bàn”!
4. Chuyện tiếu lâm về mèo: Có anh học trò lên kinh thi, vào quán bên đường ăn lót dạ, khi no bụng, anh ta ôm con mèo của cô chủ quán vuốt ve, rồi nói với cô chủ:
- Cô ơi! Con mèo của cô biết nghe tiếng người, nó mới trả lơi tôi đây nầy!
- Làm gì có chuyện đó?
- Nếu nó trả lời được câu hỏi của tôi, cô không tính tiền bữa ăn nầy nhé!
Cô chủ gật đầu, và anh ta hỏi con mèo:
- Nầy mèo! Cô chủ của mầy tròn hay méo?
Liền đó, anh ta nắm sợi râu con mèo giật mạnh, mèo đau quá, bèn kêu “méo” một tiếng rồi chạy đi. Anh ta cười lớn vì vừa gạt được cô chủ!
Đây là một trong những chuyện tiếu lâm vô duyên, không chút trí tuệ trong hàng trăm chuyện tiếu lâm vô duyên, không trí tuệ khác. Biết vậy, nhưng chúng tôi cố ý đăng lên để nhấn mạnh rằng, cái khôn lỏi của người Việt Nam lúc nào cũng tiềm ẩn trong đầu minh: Chuyện Cống Quỳnh, chuyện Ba Giai Tú Xuất đã chứng minh điều đó!
5. Thành ngữ, tục ngữ về con mèo có khá nhiều; đây chỉ là bài phiếm luận 氾論, nói chuyện trên trời dưới đất cho vui, nên chúng tôi chỉ nêu vài câu mà mình cảm thấy ưng ý để hầu quý bạn (không theo thứ tự ABC, và chỉ giải thích câu nào mà có lời giải thích khác):
“Mèo khóc chuột”; “Mèo lành chẳng ở mả, ả lành chẳng ở hàng cơm” (chỉ người phụ nữ hư đốn); “Buộc cổ mèo, treo cổ chó” (chỉ kẻ keo kiệt, bủn xỉn); “Chuột gặm chân mèo” (như “Mò dái ngựa”, “Vuốt râu cọp); “Hùm mất hưu hơn mèo mất thịt”; “Đá mèo quèo chó” (như “Giận cá chém thớt”); “Mèo mù vớ cá rán” (tương đương với “Chuột sa hũ nếp”); “Mèo tha miếng thịt thì đòi, Hùm tha con lợn chẳng ai la rầy”; “Chuột cắn dây buộc mèo”; “Rửa mặt như mèo” (cẩu thả); “Mèo lại hoàn mèo”; “Mèo đàng chó điếm”; “Mèo hoang gặp chó hoang” (như “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”); “Mèo ra cửa, chuột xướng ca” (tương đương với “Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm”/ có nhiều dị bản); “Sắc nanh chuột dễ cắn cổ mèo” (dù là kẻ yếu, như nếu có mưu và phương tiện tốt thì cũng thắng được kẻ mạnh); “Chó treo mèo đậy”; “Chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào”;“Mèo già khóc chuột”;….…
Trước thềm năm mới, kính chúc quý bạn an khang, và nhất là được…”con mèo”như ý!


KHA TIỆM LY

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2023

NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ - TỨ ĐẠI MỸ NAM - ĐỖ CHIÊU ĐỨC




 

Tạp ghi và Phiếm luận : 

                  NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ:TỨ ĐẠI MỸ NAM

                     


                                           四大美男 TỨ ĐẠI MỸ NAM

          Trở lại với đề tài Tứ Đại Mỹ Nhân hay TỨ ĐẠI MỸ NỮ 四大美女. Thường người ta chỉ biết đến Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền và Dương Qúy Phi 西施、王昭君、貂蟬、楊貴妃 với các mỹ hiệu là Trầm ngư, Lạc nhạn, Bế nguyệt, Tu hoa 沉魚、落雁、閉月、羞花 , mà ta thường nói là các vẻ đẹp Cá lặn, Chim sa, Nguyệt thẹn, Hoa nhường ! Nhưng ít ai biết đến TỨ ĐẠI MỸ NAM 四大美男 thời cổ đại là ai, hay có biết thì cũng chỉ biết có hai người là Tống Ngọc  宋玉 và Phan An 潘安 mà thôi, còn Lan Lăng Vương Cao Trường Cung 蘭陵王高長恭 và Vệ Giới 衛玠 thì rất ít người biết tới, thậm chí chưa từng nghe tới !
        Chuyện kể ...
        Vào năm Hồng Võ triều Minh, có một khai quốc công thần về trí sĩ ở phủ Khai Phong tên là Lưu Nghĩa Nhân 劉義仁. Mặc dù có rất nhiều thê thiếp nhưng dưới trướng chỉ có một gái là Lưu Vũ Khê 劉雨溪, thông minh dĩnh ngộ, giỏi cả cầm kỳ thi họa, nên Lưu Nghĩa Nhân rất cưng chìu, vì thế mặc dù không có con trai, ông cũng rất hãnh diện về cô con gái giỏi giang nầy, và thầm mong là sẽ tìm được một chàng rể qúy cho xứng đáng với con gái mình. 
      Khi vừa đến tuổi cập kê, Lưu Vũ Khê xin với cha cho mình mở hội TỈ VĂN CHIÊU THÂN 比文招親 tức là "So văn tài để kết thân gia với nhau". Nói cho rõ ràng hơn là "Kén chồng bằng văn tài". Lưu Nghĩa Nhân vốn dĩ định tìm một nơi môn đang hộ đối cho xứng đáng với con gái cưng của mình, nhưng Lưu tiểu thơ nhất định phải chọn người cho hợp ý với mình, nếu không thì sẽ không chịu xuất giá. Cuối cùng , ông phải đành chìu theo ý của con gái vì mỗi ngày thấy con một lớn tuổi, sợ cho con phải lở vỡ tuổi xanh, nên ông đã nhờ người khuyến khích các vương tôn công tử của các thế gia vọng tộc chuẩn bị sẵn sàng để đến dự hội chiêu thân.
      Tuy nói là Tỉ Văn Chiêu Thân, nhưng Lưu tiểu thơ chỉ chuẩn bị có một câu đối thật hay mà thôi. Đến hôm chiêu thân, trước cửa nhà đã chen chút một rừng người già trẻ lớn bé đủ cả nam thanh nữ tú đến để ứng tỉ và để xem xem cô tiểu thơ khuê các tài hoa nầy sẽ thuộc về nhà ai. Đến giờ lành, Lưu Vũ Khê xuất hiện cùng hai cô thị nữ, khi nàng khoát tay ra hiệu thì hai cô thị nữ mở một trục giấy đỏ trên có viết sẵn mười hai chữ lớn :

                         抱 貂 蟬, 遇 貴 妃, 問 昭 君, 想 西 施.
           Bão Điêu Thuyền, ngộ Qúy Phi, vấn Chiêu Quân, tưởng Tây Thi. 
Có nghĩa :
       - Ôm ấp Điêu Thuyền, gặp gỡ Qúy Phi, thăm hỏi Chiêu Quân, mơ tưởng Tây Thi.




       BÃO, NGỘ, VẤN, TƯỞNG bốn động từ và bốn danh từ là tên của Tứ Đại Mỹ Nữ Điêu Thuyền, Qúy Phi, Chiêu Quân, Tây Thi. Tất cả những người đến xem náo nhiệt và các vương tôn công tử cùng Ồ lên một tiếng lớn. Phút chốc, bỗng có một chàng thư sinh bước ra đối rằng :

                                閱 漢 賦, 吟 唐 詩, 學 宋 詞, 唱 元 曲.
                Duyệt Hán phú, ngâm Đường Thi, học Tống Từ, xướng Nguyên Khúc.
Có nghĩa :
       - Duyệt đọc Hán Phú, ngâm nga Đường Thi, học làm Tống Từ, xướng ca Nguyên Khúc.

       DUYỆT, NGÂM, HỌC, XƯỚNG cũng là bốn động từ với bốn danh từ là bốn thể loại văn học tiêu biểu cho bốn triều đại của Trung Hoa là Hán Phú, Đường Thi, Tống Từ và Nguyên Khúc. Mọi người đều vỗ tay khen hay, bỗng lại một chàng trông khá đẹp trai phong lưu tuấn tú bước ra cao giọng đọc rằng :

                         住 紅 樓, 看 水 滸, 讀 三 國, 夢 西 遊.
                Trú Hồng Lâu, khán Thủy Hử, độc Tam Quốc, mộng Tây Du.
Có nghĩa : 
       - Ở trong Hồng Lâu, xem Thủy Hử, đọc Tam Quốc, mơ ước Tây Du.





      TRÚ, KHÁN, ĐỘC, MỘNG cũng là bốn động từ đi với bốn danh từ được nói gọn lại của TỨ ĐẠI DANH TÁC 四大名作 là "Bốn tác phẩm lớn nổi tiếng của Trung Hoa", đó là Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, Thủy Hử Truyện của Thi Nại Am, Tam Quốc Chí của La Quán Trung và Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. "Tứ Đại Danh Tác" đối với "Tứ Đại Mỹ Nhân". Hay quá ! Mọi người đang reo hò vỗ tay chưa dứt thì thấy một chàng thư sinh đạo mạo, tay xòe ra cây quạt giấy đầu thì lắc lư bước ra đọc lớn lên rằng :

                                上 大 學, 聽 孟 子, 講 論 語, 知 中 庸.
                 Thướng Đại Học, thính Mạnh Tử, giảng Luận Ngữ, tri Trung Dung.
Có nghĩa :
       - Lên lớp Đại Học, nghe về Mạnh Tử, giảng về Luận Ngữ, biết thế nào là Trung Dung.




       THƯỚNG, THÍNH, GIẢNG, TRI cũng là bốn động từ đi kèm theo TỨ THƯ 四書 là bốn quyển sách mà các Nho sinh ngày xưa ai cũng phải biết, ai cũng phải học. Đó là bốn quyển Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử. Lấy TỨ THƯ để đối lại với TỨ ĐẠI MỸ NHÂN quả là một Nho sinh chân chính, nên mọi người lại được dịp vổ tay và reo hò thật lớn. Trong khi mọi người còn  đang reo hò ầm ỉ thì nghe một tiếng hú dài của một thanh niên công tử với bộ đồ võ sinh rẻ đám  đông đi ra, hai tay khoa lên thành một thế võ miệng thì đọc to :

                               降 青 龍, 伏 白 虎, 乘 朱 雀, 坐 玄 武.
                Hàng Thanh Long, phục Bạch Hổ, thừa Chu Tước, tọa Huyền Võ.
Có nghĩa :
       - Hàng phục Thanh Long, hàng phục Bạch Hổ, cởi lên mình Chu Tước, ngồi lên trên Huyền Võ.




      Qúa dữ ! Bốn động từ HÀNG, PHỤC, THỪA, TỌA, khống chế cả TỨ ĐẠI THẦN THÚ 四大神獸 là Bốn con thú thần thoại của Dịch học Trung Hoa xưa là Thanh Long gồm 7 vì sao ở hướng đông; Bạch Hổ gồm 7 vì sao ở hướng Tây; Chu Tước gồm 7 vì sao ở hướng Nam và Huyền Võ gồm 7 vì sao ở hướng Bắc; Vị chi là 28 vì sao ở trên trời, được gọi là NHỊ THẬP BÁT TÚ 二十八宿. Tiếng hoan hô và vỗ tay tán thưởng của đám đông vang vội không dứt, mãi đến khi tiếng vỗ tay đã thưa dần thì lại một chàng thư sinh công tử rất đẹp trai, với phong tư tài mạo tuyệt vời, thủng thỉnh rẻ đám đông đi ra với chiếc quạt trong tay luôn phe phẩy và ngâm nga câu :

                           擲 潘 安, 窺 宋 玉, 歌 長 恭, 看 衛 玠.
                Trịch Phan An, Khuy Tống Ngọc, Ca Trường Cung, Khán Vệ Giới.
Có nghĩa :
       - Ném trái cho Phan An, Lén nhìn Tống Ngọc, Ca tụng Trường Cung, Ngắm nhìn Vệ Giới.

              



    * PHAN AN 潘安(247―300)tức Phan Nhạc, văn học gia đời Tây Tấn. Ông đẹp trai đến nỗi mỗi lần đi ngang qua phố chợ thì có rất nhiều thiếu nữ chạy theo tặng hoa và ném trái cây vào xe cho ông. Khi về đến nhà thì đã đầy một xe hoa trái, hình thành thành ngữ MÃN TẢI NHI QUY 满載而歸. Có nghĩa : Chở đầy một xe mà về. Thành ngữ nầy sau dùng để chỉ làm việc gì đó được thành công và gặt hái kết quả mỹ mãn. PHAN AN là một trong Tứ Đại Mỹ Nam cổ Trung Hoa.
    * TỐNG NGỌC 宋玉(322年-298 Trước Công Nguyên)tự là Tử Uyên, là học trò của Khuất Nguyên. Ông là Công tử của nước Tống thời Chiến Quốc, nhưng lại sang phò vua Sở, rất đẹp trai thường hay có những thiếu nữ nhìn lén ông khi đi ra ngoài. Ông giỏi thi phú, nổi tiếng nhất là Cao Đường Phú kể lại chuyện mây mưa giữa Thần Nữ và Sở Vương, hình thành các thành ngữ như : Cao Đường Thần Nữ 高唐神女, Vu Sơn Vân Vũ  巫山雲雨... TỐNG NGỌC cũng là một trong Tứ Đại Mỹ Nam cổ Trung Hoa.
    * LAN LĂNG VƯƠNG CAO TRƯỜNG CUNG 蘭陵王高長恭(541―573)vốn tên là Cao Hiếu Quán 高孝瓘, tự là Trường Cung, là tôn thất của nhà Bắc Tề thời Nam Bắc Triều. Ông là một dũng tướng trăm trận trăm thắng, nhưng vì quá đẹp trai giống như con gái, nên khi ra trận phải đeo mặt nạ lên cho đủ oai nghiêm. Hình thành thành ngữ DIỆN CỤ NHẠC VŨ 面具樂舞 là Điệu múa đeo mặt nạ để ăn mừng chiến thắng. Ông cũng là một trong Tứ Đại Mỹ Nam cổ Trung Hoa.
    * VỆ GIỚI 衛玠(286-312)tự là Thúc Bảo, người quận Hà Đông thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay. Ông là một Huyền Học Gia đời nhà Tấn, là người nổi tiếng đẹp trai, nên khi ông đi từ Dự Chương đến Kinh Đô Nam Kinh, dân chúng của kinh thành đổ xô ra để ngắm nhìn ông đến nghẹt cả lối đi, bức tường người luôn luôn đông nghịt trước mặt, khó khăn lắm mới về được đến nhà. Vì cơ thể quá yếu đuối suy nhược nên ông đã ngã bệnh rồi... chết luôn, khi chỉ mới có 27 tuổi ! Lúc bấy giờ mọi người đều kháo nhau là KHÁN SÁT VỆ GIỚI 看殺衛玠, có nghĩa :"Nhìn đến giết Vệ Giới", ý là "Vệ Giới bị người ta ngắm nhìn cho đến chết !". Câu thành ngữ nầy còn thông dụng cho đến hiện nay. VỆ GIỚI cũng là một trong Tứ Đại Mỹ Nam cổ của Trung Hoa.





       Bốn động từ TRỊCH, KHUY, CA, KHÁN phối hợp với bốn danh từ là TỨ ĐẠI MỸ NAM 四大美男 đối xứng chan chát với TỨ ĐẠI MỸ NỮ 四大美女, nên mọi người vổ tay reo hò tán thưởng không dứt. Trước sân nhà của Lưu Nghĩa Nhân ở phủ Khai Phong năm chàng vương tôn công tử đẹp trai tài hoa đang đứng hiên ngang với niềm tin là sẽ giành được trái tim yêu của người đẹp. Sau một hồi cân nhắc Lưu tiểu thơ mới đứng lên ném quả tú cầu trong tay mình về phía chàng trai có câu đối là TỨ ĐẠI MỸ NAM. Tất cả mọi người như vỡ òa lên trong tiếng hoan hô trầm trồ hâm mộ trong khi bốn chàng công tử vương tôn còn lại nhao nhao lên vì muốn biết tại sao mình lại thua cuộc...
       Tiểu thơ Lưu Vũ Khê đã phái thị tỳ ra trấn an và giải thích rằng : Câu đối đầu tiên với HÁN  PHÚ, ĐƯỜNG THI, TỐNG TỪ, NGUYÊN KHÚC là bốn truyền thống Văn Hoá Trung Hoa cổ xưa, rất đáng trân trọng, nhưng cũng là việc bình thường của các sĩ tử, không có gì đặc biệt. Câu đối thứ hai là TỨ ĐẠI DANH TÁC của Trung Hoa rất đáng trân trọng, nhưng rất tiếc là "HỒNG LÂU thiếu chữ MỘNG, THỦY HỬ thiếu chữ TRUYỆN, TAM QUỐC thiếu chữ CHÍ và TÂY DU thiếu chữ KÝ". Câu đối thứ ba lấy TỨ THƯ là ĐẠI HỌC, TRUNG DUNG, LUẬN NGỮ, MẠNH TỬ là bốn phần lý luận cơ bản nghiêm chỉnh của Nho Gia để đối với Bốn Người Đẹp Cổ Điển thì cũng có phần không được... nghiêm chỉnh. Đến câu đối thứ tư thì lại qúa bá đạo, quá mạnh mẽ với việc đem sự hàng phục TỨ ĐẠI THẦN THÚ thuộc TỨ TƯỢNG của Thiên địa Dịch lý để hàng phục Mỹ Nhân thì hơi có phần quá đáng. Nên câu đối thứ năm là câu đối thích hợp nhất, vì không gì hợp lý và xứng đôi cho bằng TỨ ĐẠI MỸ NỮ được kết hợp sánh đôi với TỨ ĐẠI MỸ NAM cả. Nên, Tiểu thơ đã chọn đúng cho mình một lang quân thích hợp. Mong tất cả mọi người niệm tình mà thông cảm cho !...
      Nghe lời giải thích hợp tình hợp lý của Lưu tiểu thơ qua lời của thị nữ, đám đông lại một lần nữa vổ tay và hoan hô ầm ỷ; Bốn chàng vương tôn công tử thấy thế cũng lặng lẽ rút lui...

      Nhờ có lòng kiên quyết, kiến thức và văn tài mà Lưu Vũ Khê tiểu thư đã tìm được cho mình một người chồng lý tưởng hợp ý của mình trong cái xã hội phong kiến còn nặng phần "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó !"

      Hẹn bài viết tới !


                                                       杜紹德
                                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC


                                                                             

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2023

BƯỚC XUÂN PHƯƠNG - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ

                    


BƯỚC XUÂN PHƯƠNG.


Khi cây mai vàng chưa kịp đưa hương

Và bờ cỏ đương sắc màu hoang tái

Bóng chiều nghiêng, cánh én còn ái ngại

Vẫn nghe lòng vời vợi bước xuân phương.

Ý vị mùa xuân tìm ở đâu ra

Có phải bên cánh hồng hoa tiếu nụ

Hay sặc sụa tiếng cười quanh tiệc rượu ?!

Sắc màu giả tạm vội phôi pha !

Nghe đâu đây xuôi ngược bước xôn xao

Cố tìm một niềm vui trong xuân tứ.

Có hay đâu lá vàng rơi lối cũ,

Để đẹp màu lộc nhú biếc chồi cao.

Khi câu thơ thắp sáng giữa trang thơ

Đâu chỉ sáng riêng hồn con chữ

Mà phải sáng giữa ngàn hoa cỏ chứ

Giữa long đời còn tối vạn niềm đau !

Có bao nhiêu thủ tục đón mùa xuân

Bề bộn quá, những tháng ngày xa ấy.

Nơi lối nhỏ, rũ màu sương bụi đấy,

Xanh hồn rêu theo bờ cõi thanh tân.

Chã phải tìm đâu,

Khi con tim là nụ xuân hồng !

Không đợi nén hương giao thừa,

Câu thơ bay vút.

Mai chưa kịp nở,

Cỏ chưa viền lục,

Nhưng lòng xuân có bao giờ chấm dứt !

Tình mênh mông,

XUÂN trải bước mênh mông ...


                    MẶC PHƯƠNG TỬ.