CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2023

BÀI THƠ ĐỂ ĐỜI CHỈ CÓ HAI CÂU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 



Giai Thoại Văn Chương :
 
                BÀI THƠ ĐỂ ĐỜI CHỈ CÓ HAI CÂU 

                     

                                   Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt
        
       Theo kiến thức thông thường về khuôn phép và quy củ luật lệ của thi ca cổ, thì một bài thơ phải có ít nhất là bốn câu, như Thất ngôn Tứ tuyệt gồm có bốn câu bảy chữ, vị chi là hai mươi tám chữ; hay như Ngũ ngôn Tuyệt cú gồm có bốn câu năm chữ, vị chi chỉ có hai mươi chữ; như các ví dụ sau đây :

     * Thất ngôn Tứ tuyệt như bài Chinh Nhân Oán 征人怨 của Liễu Trung Dung 柳中庸 đời Đường :

               歲歲金河復玉關,  Tuế tuế Kim Hà phục Ngọc Quan,
               朝朝馬策與刀環。  Triêu triêu mã sách dữ đao hoàn.
               三春白雪歸青冢,  Tam xuân bạch tuyết quy thanh chủng,
               萬里黃河繞黑山。  Vạn lý Hoàng Hà nhiễu Hắc Sơn.
     Có nghĩa :
                Kim Hà rồi Ngọc Môn Quan,
                Năm năm chinh chiến lan tràn đôi nơi.
                Xuân tàn cỏ úa tuyết rơi,
                Hoàng Hà muôn dặm chẳng rời Hắc Sơn !  

      Bốn câu thất ngôn nói lên hết cái bôn ba vất vả dãi tuyết dằm sương của người lính thú vùng biên tái xưa hết năm nầy qua năm khác từ Hoàng Hà cho đến Ngọc Môn Quan xa xôi cách trở để bảo vệ cương thổ của hoàng triều.



     * Ngũ ngôn Tuyệt cú như bài Đăng Quán Tước Lâu 登鸛雀樓 của Vương Chi Hoán 王之渙 cũng ở đời Đường :

                白日依山盡,   Bạch nhật y sơn tận,
                黃河入海流。   Hoàng Hà nhập hải lưu.
                欲窮千里目,   Dục cùng thiên lý mục,
                更上一層樓。   Cánh thướng nhất tằng lâu.
     Có nghĩa :
                  Mặt trời chen lặn núi xa,
                  Đổ về biển cả Hoàng Hà chảy mau.
                  Muốn nhìn mút mắt lên cao,
                  Non sông ngàn dặm muôn màu xa xa !

      Chỉ có bốn câu hai mươi chữ đã nói lên cái khí thế của núi sông hùng vĩ trong cảnh trời chiều, mặt trời chen lặn xuống núi trong khi nước sông Hoàng Hà đang cuồn cuộn chảy xuôi về biển cả. Cái chí hướng cao xa và cái triết lý nhân sinh trên bước đường tiến thủ :"Dục cùng thiên lý mục, Cánh thướng nhất tằng lâu !".



      Đó là thơ "Tứ Tuyệt", bài thơ chỉ có bốn câu. Còn "Tam Cú Thi" là bài thơ chỉ có "ba câu" thì hiếm vô cùng. Bài thơ mà mọi người thường biết đến và nhắc nhở nhiều nhất là bài "Đại Phong Ca 大風歌" của ông vua khai sáng ra nhà Tây Hán là Hán Cao Tổ Lưu Bang 劉邦. Sau khi chiến thắng loạn quân cuả Anh Bố (256-195) trên đường về Trường An ngang qua quê hương Bái Huyện, Lưu Bang đã ghé lại thiết yến để chiêu đãi những cố tri và phụ lão ở quê nhà. Khi rượu ngà ngà say ông đã gỏ vào cây đầm để đập đất mà hát rằng : 

                 大風起兮雲飛揚,       Đại phong khởi hề vân phi dương,
                 威加海内兮歸故鄉。    Uy gia hải nội hề quy cố hương.
                 安得猛士兮守四方!    An đắc mãnh sĩ hề thủ tứ phương !
   Có nghĩa :
                 Gió lớn nổi lên mây cuốn bay,
                 Uy trùm bốn biển về quê này.
                 Sao có dũng sĩ giữ bốn phương ngay !

      Bài thơ tuy có ba câu nhưng bao quát cả hoài bão của nhà vua từ quá khứ, hiện tại đến tương lai. Câu đầu là qúa trình khởi nghĩa và chiến đấu như mây bay cuốn theo chiều gió lớn; Câu hai chỉ chiến thắng bình định thiên hạ về thăm lại quê hương; Câu ba lo lắng cho sự ổn định lâu dài của đất nước. Chỉ có ba câu với lời lẽ mộc mạc chất phác bày tỏ được nỗi lòng của một ông vua có chí lớn biết sáng lập và gìn giữ cơ nghiệp đế vương của mình. 
      Lời thơ được xuất phát một cách tự nhiên trong cơn tửu hứng, không theo một quy luật thơ ca nào cả, vì đời Hán niêm luật thơ chưa thành hình, chỉ dựa vào ngẫu hứng, nhưng lại biểu hiện được sự hào hùng khảng khái tự nhiên như thơ ca dân gian. Người đời Hán gọi bài thơ nầy là "Tam Hầu Chi Chương 三侯之章", người đời sau mới đặt tựa là "ĐẠI PHONG CA 大風歌". Dần dà niêm luật thi ca mới thành hình, đến đầu đời nhà Đường thì hoàn chỉnh. Nhưng...



      Trong thời kỳ Đường Tống; thời kỳ cực thịnh của thi ca; khi tất cả thi nhân làm thơ điền từ đều tuân theo niêm luật một cách chặc chẽ, thì cũng chính trong thời kỳ nầy một thi nhân "vô danh tiểu tốt" lại đi ngược lại với quy luật thi ca, làm ra bài thơ chỉ có hai câu duy nhất, nhưng lại cho kết quả thực tiễn ngay trước mắt mà còn hình thành một thành ngữ để "Lưu danh thiên cổ" cho đến hiện nay nữa mới là lạ chứ ! 
     Mời tất cả cùng nghe giai thoại sau đây :
    
     PHẠM TRỌNG YÊM 范仲淹(989-1052)tự là Hi Văn. Tổ tịch ở Phần Châu, sau di cư qua Ngô huyện của Tô Châu. Ông là một nhà chính trị kiệt xuất, đồng thời cũng là một nhà văn học nổi tiếng với câu nói bất hủ trong bài phú "Nhạc Dương Lầu Ký 岳陽樓記" là :"Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu; Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc 先天下之憂而憂,後天下之樂而樂". Có nghĩa là : Làm quan thì phải "Lo cái lo trước hơn cái lo của thiên hạ, và Vui cái vui sau cái vui của thiên hạ". Ông nổi tiếng thanh liêm chính trực và luôn luôn để ý đề bạt cất nhắc những quan viên nhỏ bên dưới của mình để cho họ được đãi ngộ xứng đáng với chức trách và cống hiến của bản thân họ, nên rất được mọi người thương yêu kính trọng. Khi ông phát động cải cách tân chính không thành bị biếm làm Tri phủ Hàng Châu, thì tất cả quan viên lớn nhỏ ở Hàng Châu đều được ông đề bạt cất nhắc giúp đỡ, duy chỉ có một người giữ chức Tuần Kiểm 巡檢 là Tô Lân thì bị lãng quên.
     TÔ LÂN 蘇麟 (969 - 1052) Ông là người kín tiếng chất phác hiền lành. Sau khi đậu Cử nhân thì giữ chức Tuần Kiểm cho một huyện nhỏ trong phủ Hàng Châu, Do chức vụ Tuần Kiểm luôn luôn di chuyển nên ít khi diện kiến quan Tri Phủ Phạm Trọng Yêm, nên không được chiếu cố đề bạt lên chức vụ mới. Dần dà ngày tháng, ông cũng cảm thấy mình như bị lãng quên một cách thiệt thòi, trong khi mình cũng luôn luôn hoàn thành chức trách được giao phó, nên trong một lần đến trình báo công vụ với quan Phủ Phạm Trọng Yêm, ông đã trình lên hai câu thơ "khiếu nại" một cách nhẹ nhàng và... vu vơ như sau :

                 近水樓台先得月,   Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt,
                 向陽花木易為春.    Hướng dương hoa mộc dị vi xuân.
     Có nghĩa :
            - Những lâu đài được cất gần nước (sông hồ biển cả) sẽ thấy được ánh trăng mọc trước hơn là những nơi khác. Và ...
            - Những hoa cỏ cây cối hướng về ánh mặt trời thì sẽ dễ dàng đón nhận mùa xuân hơn là những cỏ cây hoa lá khác.

                 Gần nước lâu đài trăng ngắm trước,
                 Hướng dương cây cỏ dễ chào xuân !


                           Phạm Trọng Yêm       và         Tô Lân 

      Ý bóng gió là : Những người làm viêc gần gũi với quan lớn thì dễ được chiếu cố cất nhắc hơn là những người làm việc di động ở xa. Người ở trên lâu đài gần bến nước thì sẽ thấy trăng mọc  trước. Còn những người làm việc ở xa, tuy vẫn làm việc tích cực nhưng lại hay bị quên lãng vì ít ai nhớ tới, như cây cỏ ở xa ánh nắng mặt trời thì sẽ đón mùa xuân muộn hơn vậy ! 
      Bóng gió vẩn vơ là thế, những lời lẽ như than thân trách phận mình bạc bẽo hơn người khác mà thôi, thế mà ngài quan lớn Phạm Trọng yêm cũng nhận ra được cái tâm tư hoài bảo ấp ủ trong lòng của Tô Lân, nên lần cất nhắc sau cũng đã trình lên triều đình đề cử thăng chức cho Tô Lân từ Cửu phẩm lên thành quan viên Thất phẩm. Hai câu thơ "khiếu nại" có tác dụng ngay trước mắt và sự tích của Tô Lân cũng theo hai câu thơ được truyền tụng rộng rãi trong dân gian như một giai thoại mãi cho đến hiện nay.

      Câu thơ "Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt 近水樓台先得月" được rút ngắn lại thành một thành ngữ bốn chữ là CẬN THỦY LÂU ĐÀI 近水樓台 để chỉ những ưu tiên của người có vị trí gần gũi với những người hay sự vật mà mình mong mõi hay muốn có được. Ví dụ như :"Vì nó là thư ký của xếp, cận thủy lâu đài, nên được tăng lương sớm hơn là những nhân viên khác". Một ví dụ khác...
     Hai chàng theo đuổi một nàng, chàng nào ở gần nhà nàng là "Cận thủy lâu đài" sẽ có nhiều cơ hội và sẽ dễ dàng chiếm được quả tim vàng của người đẹp hơn. Ở một tình huống nào đó thì   "Cận thủy lâu đài" tức là cái tiện nghi của "Địa lợi" đó. Ngoài ra...

    CẬN THỦY LÂU ĐÀI cũng có mặt tiêu cực của nó, khi dùng để chỉ những người hay dựa vào sự gần gũi với người có quyền thế để ức hiếp người khác. Ví dụ như : Nó ỷ mình là phụ tá cuả xếp, cận thủy lâu đài, nên hay bắt nạt hiếp đáp những nhân viên khác.



    Trở lại với xuất xứ của bài thơ chỉ có HAI CÂU, vì căn cứ vào Du Văn Báo đời Tống 宋·俞文豹 viết trong《Thanh Dạ Lục 清夜录》:“Phạm Văn Chính công trấn Tiền Đường, binh quan giai bị tiến, độc tuần kiểm Tô Lân bất kiến lục, nãi hiến thi vân 范文正公镇钱塘,兵官皆被荐,独巡检苏麟不见录,乃献诗云:"Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt, Hướng dương hoa mộc dị vi xuân 近水楼台先得月,向阳花木易為春”. Có nghĩa :
    "Phạm Văn Chính công (tức Phạm Trọng Yêm) khi trấn thủ ở Tiền Đường (Hàng Châu), các quan binh đều được tiến cử, chỉ có tuần kiễm Tô Lâm là không có trong danh sách, nên mới dâng thơ lên rằng : Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt, Hướng dương hoa mộc dị vi xuân".

     Theo thiển ý, thì đây là hai câu đầu hoặc hai câu cuối của một bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt. Phải có "cái gì đó" trước hoặc sau của "Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt, Hướng dương hoa mộc dị vi xuân". Nhưng vì "cái nhà ông anh" Du Văn Báo đời Tống "lười biếng" chỉ ghi lại có "Hai Câu Thơ" nầy mà thôi, nên BÀI THƠ HAI CÂU nầy được gọi là "ĐOẠN CÚ THI 斷句詩", là "Thơ bị ngắt quãng", và Tô Lân cũng bị người đời gọi là "Nhà Thơ Lười Biếng" nhất trong các nhà thơ cổ. Vì ngoài bài thơ hai câu nêu trên, các nhà nghiên cứu sưu tập vẫn không tìm ra được thêm câu thơ nào của Tô Lân nữa cả !
      So với Thi Tiên Lý Bạch làm đến hơn hai vạn (20,000) bài thơ, thì Hai Câu Thơ của TÔ LÂN thật qủa đáng giá ngàn vàng. Chỉ vỏn vẹn có hai câu thơ mà thành công "Một đơn khiếu nại", chỉ vỏn vẹn có hai câu thơ mà được "Thăng quan tiến chức", và đáng nói nhất là "Chỉ vỏn vẹn có hai câu thơ mà hình thành được một Thành Ngữ và Lưu Danh Thiên Cổ !". Mặc dù tiếng tăm không bằng được Thi Tiên Lý Bạch, nhưng Tô Lân vẫn nghiễm nhiên là một vì sao lắp lánh trong bầu trời cực thịnh của nền thi ca cổ đương thời. 

     Bài thơ "Hai câu" của Tô Lân nêu trên đến năm Vạn Lịch đời Minh được các Nho gia biên tập vào quyển "Tăng Quảng Hiền Văn 增廣賢文" với dị bản như sau đây :

                近水樓台先得月,   Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt,
                向陽花木早逢春.    Hướng dương hoa mộc TẢO PHÙNG xuân. 
 Câu sau có nghĩa : 
               - Hoa cỏ hướng dương, tức là hướng về ánh mặt trời thì sẽ ĐÓN NHẬN mùa xuân ngay từ ánh nắng ban đầu SỚM HƠN là những hoa cỏ khác không... hướng dương !                

                 Gần nước lâu đài trăng ngắm trước,
                 Hướng dương cây cỏ sớm chào xuân !
     
                             
       Xin được khép lại Giai thoại Bài thơ để đời chỉ vỏn vẹn có HAI CÂU mà thôi ! 

       Hẹn bài viết tới !


                                                        杜紹德
                                                       ĐỖ CHIÊU ĐỨC



Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2023

LÀM SAO CHO EM QUÊN - NHẠC LÊ HỮU NGHĨA , LỜI THY LỆ TRANG






LÀM SAO CHO EM QUÊN
NHẠC LÊ HỮU NGHĨA
LỜI THY LỆ TRANG
TRÌNH BÀY LÊ THU HÀ



KÍNH TIỄN NGƯỜI ĐI - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ

 



TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ ĐÃ VIÊN TỊCH VÀO HỒI 16G CHIỀU NAY 24-11-2023 TẠI CHÙA PHẬT ÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI), TRỤ THẾ 81 NĂM.
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU!

KÍNH TIỄN NGƯỜI ĐI.

Tin Thầy viên tịch.


Bóng Người khuất nẽo tà dương

Bóng ta còn lại bên đường thế nhân.


Mây về đâu,

Nẽo phù vân !


Ngàn sương rụng xuống xao tầng biển xa.

Ngỗn ngang nhịp bước ta bà

Ngỗn ngang sự thế, tình hoa cỏ nầy.

Gió về lạnh dấu chân mây,


Trăng nghiêng bóng núi, sương cài dấu xưa.


Người đi giữa tiết giao mùa

Thanh âm còn vọng gió đưa điệu đàn.

Khung trời cũ, mộng quan san,

Nẽo phù vân đã khuất ngàn sao xa.


New Orleans, ngày 24/11/2023.

MẶC PHƯƠNG TỬ.


Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2023

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2023

BƯỚM ĐÊM - THƠ PHẠM QUANG TRUNG

 



BƯỚM ĐÊM


đêm gối sách dọn hồn dăm con chữ

mộng Trang sinh hoá bướm bay lang thang

đưa tay hái mùi hương xưa kỳ lạ

ở đâu đây mà mê mãi lạ thường


theo ra đứng ngọn thời gian xuôi chảy

thả bình yên trong ánh sáng trăng sao

màu thế giới bỗng nhiên rồi nhạt quá

pha chút tình thêm đậm cõi chiêm bao


vỗ đôi cánh nâng tâm tình trong trắng

ơi tình đêm tội lỗi rụng mưa sương

tiếng kinh tụng buồn thiu nghe nằng nặng

vội đi qua sợ mất dấu thiên đường


đêm gấp lại dòng tử sinh hoang dại

chẻ đôi lời con chữ nát như tương

xa nơi đó bóng cô hồn vất vưởng

nương theo từng cánh mỏng bướm mơ phai


xin cúi sấp lắng lòng chờ ân sủng

hành trang đeo trống rổng có gì đâu

ừ bóng tối mở ngục tù tha bổng

một tình yêu vừa chấp nối phiêu bồng


và hạnh phúc ở đầu môi ướt mật

cúi gục đầu tha thiết nuốt ăn năn

đêm vuốt tóc cho dài thêm thân phận

vì từ bi xin thả bướm lên trời 


PHAMQUANGTRUNG

credit: Gabriella P


Thứ Ba, 21 tháng 11, 2023

''CÔ VỤ'' HAY ''CÔ LỘ'', TỪ NGỮ NÀO ĐƯỢC VƯƠNG BỘT DÙNG ? - LA THUỴ

 


Vương Bột (王勃) (647–675):

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH : TỰA, TƯỚC,TƯƠNG,TƯỜNG , TỬU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 


THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 104 :  

                          TỰA, TƯỚC, TƯƠNG, TƯỜNG, TỬU

                  


                                         Xót người TỰA CỬA hôm mai
                                 
     TỰA CỬA chữ Nho là Ỷ MÔN 倚門 hay Ỷ LƯ 倚閭 : Chỉ Cha mẹ mong ngóng con cái. Theo《Chiến Quốc sách 戰國策· Tề Sách Lục 齊策六》có ghi lại truyện sau đây :
     Vương Tôn Giả 王孫賈 là Đại phu của nước Tề thời Chiến Quốc. Năm 15 tuổi ông đã theo phò Tề Mẫn Vương. Tề Vương là người rất kiêu ngạo, nên chư hầu đều bất mãn. Nước Yên bèn họp với các nước Triệu, Ngụy, Hàn, Tần đem binh đánh Tề. Tề vương bèn cầu cứu với nước Sở. Sở sai đại tướng Náo Xỉ đem binh tiếp viện; nào ngờ Náo Xỉ cấu kết với nước Yên thừa cơ giết chết vua Tề. Trong cơn binh biến Vương Tôn Giả thất lạc với vua Tề, bèn chạy về nhà. Bà mẹ thấy con về rất giận mà mắng rằng :"Mỗi sáng con đi, mẹ đều tựa cửa ngóng trông con về. Đến tối con vẫn chưa về thì mẹ lại ra tựa trước cổng nhà để ngóng con về. Nhưng nay con theo phò vua, vua bị lạc mất, con không tìm vua mà còn dám vác mặt về đây gặp ta được sao !?" Vương Tôn Giả cả thẹn, bèn đi tìm Tề Mẫn Vương. Khi nghe tin Vương đã mất, bèn hô hào các dũng sĩ nước Tề, tập họp lại hơn được 400 trăm người cùng kéo nhau đi tìm và giết chết tướng Náo Xỉ của nước Sở.  
     Do tích trên, nên hình thành thành ngữ "Ỷ LƯ CHI VỌNG 倚閭之望", có nghĩa là "Tựa Cửa Ngóng trông"; thường dùng để chỉ cha mẹ nhớ mong ngóng trông khi con cái đi xa nhà. Như trong Truyện Kiều khi Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích đã nhớ về cha mẹ với câu :

                         Xót người TỰA CỬA hôm mai,
                     Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?!


                               Xót người TỰA CỬA hôm mai

      TƯỚC BÌNH 雀屏 là "Bình phong có vẽ hình chim khổng tước", là từ nói gọn lại của thành ngữ TƯỚC BÌNH TRÚNG TUYỂN 雀屏中選 theo như tích sau đây :
      Vào thời Nam Bắc Triều của Trung Hoa, một trong những nước của Bắc Triều là Bắc Chu 北周 (557-581) có một đại thần tên là Đậu Nghị 竇毅, người đất Hàm Dương (Thiểm Tây) được phong hiệu là Thần Võ Quận Công. Đâu Nghị có một cô con gái tài mạo song toàn, cầm kỳ thi họa mỗi thứ đều tinh thông; nên ông không muốn gả con cho những kẻ tầm thường theo mai mối; ông muốn chọn một chàng rễ thật sự có tài, bèn cho thợ vẽ hai con khổng tước (con Công) lên trên bức bình phong trước nhà và ra thông cáo rằng : Hễ chàng trai nào cùng lúc dùng 2 tên bắn trúng vào 2 con mắt của 2 con khổng tước thì ông sẽ gả con gái cho. Rất nhiều vương tôn công tử đến xin bắn thử đều không cùng lúc trúng đích. Lúc đó Đường Cao Tổ Lý Uyên 唐高祖李渊 còn là một bạch y tú sĩ, đã phát 2 tên cùng trúng vào 2 mắt của chim công; nên được Đậu Nghị gả Đậu tiểu thơ cho chàng; bà chính là Thái Mục Hoàng Hậu 太穆皇后 sau nầy khi Lý Uyên Đường Cao Tổ lên ngôi nhà Đường. 
     Nên "Tước Bình Trúng Tuyển 雀屏中選" là "Trúng tuyển được làm rể vì bắn chim khổng tước trên bình phong" và một thành ngữ tương cận nữa là "Xạ Bình Đắc Ngẫu 射屏得偶" là "Vì bắn vào bình phong mà có được người phối ngẫu". Trong truyện thơ Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng có câu :

                         Có chi mà dám Châu Trần,
                Mà đem gương ngọc vào sân TƯỚC BÌNH.

     Trong "Sơ Kính Tân Trang" của Chiêu Lỳ Phạm Thái thì gọi là RẠNG BÌNH XẠ TƯỚC với hai câu sau :

                     Nguyện lòng này với lửa hương,
                RẠNG BÌNH XẠ TƯỚC níu giường thừa long.

     Nhưng vì chữ TƯỚC 雀 khi được ghép với chữ Khổng là KHỔNG TƯỚC 孔雀 thì là con Công; nhưng khi được ghép với chữ Hoàng thành HOÀNG TƯỚC 黃雀 thì là con chim Sẻ. Nên XẠ TƯỚC 射雀 còn được hiểu lệch đi là "Bắn Sẻ" như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều khi tả sắc đẹp của nàng cung nữ cũng đã có câu :

                   Làng cung kiếm rắp ranh BẮN SẺ,
                   Khách công hầu gấm ghé mong sao. 

      Nhưng BẮN CÔNG hay BẮN SẺ gì đều có nghĩa là "việc đua tài trong một cuộc kén rể qúy, rể hiền ngày xưa" mà thôi.


                                  Xạ Bình Trúng Tuyển

      TƯƠNG GIANG 湘江 là Sông Tương; còn có tên là Tương Thủy 湘水, là một nhánh lớn của sông Trường Giang chảy qua Quảng Tây, Hồ Nam, Trường Sa rồi đổ vào Động Đình Hồ. Tương truyền khi vua Thuấn đi tuần ở miền Nam, ngã bệnh và mất ở đất Thương Ngô. Hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm chồng và cùng tự trầm ở dòng sông Tương nầy. Trong một khúc cổ cầm có tựa là Tương Giang Oán 湘江怨 với lời từ của Lương Ý Nương 梁意娘, một nữ sĩ Hậu Chu đời Ngũ Đại ở đất Hồ Nam, trong đó nổi tiếng với các câu :

                   君在湘江頭,  Quân tại Tương Giang đầu,
                   妾在湘江尾。  Thiếp tại Tương Giang vĩ.
                   相思不相見,  Tương tư bất tương kiến,
                   淚滴湘江水。  Lệ trích Tương Giang thủy !
    Có nghĩa :
               Chàng ở đầu sông Tương,
               Thiếp ở cuối sông Tương.
               Nhớ nhau mà chẳng gặp được nhau,
               Giọt lệ nhớ thương cùng nhỏ xuống dòng sông Tương !

      Một dị bản của câu cuối là :

                   同飲湘江水。  Đồng ẩm Tương Giang thủy.

      Có nghĩa là : Cùng uống nước của dòng sông Tương.

      SÔNG TƯƠNG hay TƯƠNG GIANG thường dùng để nói lên sự mơ ước nhớ nhung mến thương của lứa đôi, trai gái, người yêu, chồng vợ. Như sau khi trao đổi tín vật và hứa hẹn đá vàng thủy chung với nhau thì Kim Trọng và Thúy Kiều càng tưởng nhớ đến nhau hơn :

                       Từ phen đá biết tuổi vàng,
                Tình càng thắm thía dạ càng ngẩn ngơ.
                    SÔNG TƯƠNG một dải nông sờ,
                 Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia ! 

     Còn trong truyện Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng thì có câu :

                    Ve gầy vẳng tiếng cầm xoang,
               Hành Sơn nhạn liệng, TƯƠNG GIANG cá chìm.


                            SÔNG TƯƠNG một dải nông sờ...

     Mãi cho đến hiện nay, SÔNG TƯƠNG vẫn còn là dòng sông tương tư thương nhớ của văn nhân thi sĩ và cả nhạc sĩ nữa. Khoảng thập niên năm mươi của Thế kỷ trước, giới thanh niên tuổi trẻ ai mà không biết đến bản nhạc "Ai Về SÔNG TƯƠNG" của nhạc sĩ Thông Đạt. Cho đến hiện nay giới ca nhạc trong nước cũng như hải ngoại vẫn còn hát mãi "Ai có về bên bến SÔNG TƯƠNG, nhắn người duyên dáng tôi thương...."

     Mời bấm vào link dưới đây để nghe nhạc.



Ngoài ra, ta còn gặp các điển :

     - TƯƠNG PHI 湘妃 chỉ hai bà phi vợ của vua Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh. Như trong truyện thơ Nôm Tây Sương Ký có câu :

                      Hay là quyến luyến lòng trần,
                 TƯƠNG PHI dắt díu, Lạc Thần đi đêm.

     Khi vua Thuấn mất ở cánh đồng Thương Ngô bên bờ sông Tương, hai bà phi đã khóc đến nước mắt chảy thành máu vẫy đầy lên trên những cây trúc xanh ở quanh nơi đó thành các đóm đỏ sậm màu. Loại trúc có đốm nầy rất đẹp và qúy, gọi là Tương Phi Trúc 湘妃竹. Nên RÈM TƯƠNG là loại rèm được làm bằng trúc Tương Phi, ý chỉ rèm qúy của các gia đình quyền quý giàu sang, như trong Bích Câu Kỳ Ngộ tả lúc Tú Uyên và Giáng Kiều cùng nhau uống rượu giao bôi :

                      Phòng tiêu dìu dặt chén đồng,
               RÈM TƯƠNG rủ thấp, trướng hồng treo cao.

       Còn trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du lại gọi là MÀNH TƯƠNG để tả lúc Kim Trọng tương tư Thúy Kiều :

                    MÀNH TƯƠNG phân phất gió đàn,
                Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.

     - TƯƠNG PHỐ 湘浦 : PHỐ là bến sông; nên TƯƠNG PHỐ là "Bên bến sông Tương". Sông TƯƠNG là dòng sông thương nhớ của hai bà phi khóc chồng; Có lẽ vì thế mà nữ sĩ Đỗ Thị Đàm, một thi nhân thời Tiền Chiến, vì làm thơ khóc chồng nên đã lấy bút hiệu là TƯƠNG PHỐ chăng !?. Tương Phố trong văn học cổ thường được dùng để chỉ "bên bờ sông thương nhớ" như nàng chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã luôn luôn thương nhớ đến chồng đang dấn thân vào miền gió cát chiến chinh :

                  Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ,
                  Gặp chàng nơi TƯƠNG PHỐ bến xưa...


                    Tương Phi, Tương Phố và Tương Phi Trúc
       
      TƯỜNG ĐÀO NGÕ MẬN là "Trong tường trồng cây Đào, ngoài ngõ trồng cây Mận". MẬN chữ Nho là LÝ 李; nên ĐÀO MẬN là ĐÀO LÝ 桃李, là hai loại trái cây qúy, không có vỏ cứng lại dòn ngọt thanh thanh, nên được ví như là phần tử xuất sắc, giỏi giang, là con ngoan trò giỏi, là nhân tài trong xã hội, như câu nói trong "Ấu Học Quỳnh Lâm 幼學瓊林" về Khổng Tử : "Hiền nhân thất thập, đệ tử tam thiên. Đào Lý tại công môn, xưng nhân đệ tử chi đa ... 賢人七十,弟子三千。桃李在公門,稱人弟子之多..." Có nghĩa : Người hiền tài có bảy mươi người trong số ba ngàn đệ tử. Những người ƯU TÚ (Đào Lý) đều làm quan, được xưng tụng là đệ tử nhiều hơn những người khác...
      Trong Truyện Kiều lúc quan Phủ gia hình cho người đánh Thúy Kiều ở công môn, cụ Nguyễn Du đã hạ câu :

                       Tiếc thay ĐÀO LÝ một cành,
                 Một phen mưa gió tan tành một phen !

      Trong truyện thơ Nôm "Lâm Tuyền Kỳ Ngộ" (Bạch Viên Tôn Các) thì có câu :

                   Cửa chen ĐÀO LÝ người sum họp,
                   Nhà chật trân châu của đãi đằng.   

      Trong "Cung Oán Ngâm Khúc" của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì có câu :

                   Sân ĐÀO LÝ mây lồng man mác,
                   Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng.

      Còn trong thơ của cụ Nguyễn Trãi thì sử dụng "Tường Đào Ngõ Mận":

                   Ngày tháng kê khoai những sản hằng,
                   TƯỜNG ĐÀO NGÕ MẬN ngại thung thăng.
          


       TƯƠNG TIẾN TỬU  將進酒 : TƯƠNG 將 là Sắp, là Sẽ; ở đây có nghĩa là Mời; TIẾN TỬU 進酒 là Đưa rượu vào (bụng), nên TƯƠNG TIẾN TỬU có nghĩa là "Mời Uống Rượu; Mời Cạn Ly". Đây là tên khúc hát thứ 9 trong "Hán Cổ Xuy Nhiểu Ca thập bát khúc 漢鼓吹鐃歌十八曲". 
      Đầu năm Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông, Lý Bạch được triệu vào cung để giữ chức Hàn Lâm Học Sĩ, nhưng vì không chịu xu phụ quyền thế, nên bị các quan đương quyền bài xích. Đến năm Thiên Bảo thứ 3 (CN 744) Đường Huyền Tông đành phải "Tứ Kim Phóng Hoàn 赐金放还" (tặng vàng cho về quê). Lý Bạch trong lòng phiền muộn nên cứ nấn ná mãi ở miền sông nước Giang Hoài, kết giao với một bạn rượu mới là Sầm Huân 岑勛(岑夫子 Sầm Phu Tử)cùng rủ nhau du ngoạn Tung Sơn để hội ngộ với một người bạn khác là Nguyên Đan Khâu 元丹丘 ở Dĩnh Dương Sơn. Cả ba cùng đăng cao bày tiệc rượu trên núi để uống cho thỏa thích và để giải toả nỗi lòng ẩn ức vì chính trường thất ý, hoài bão không thực hiện được nên mượn rượu để giải sầu và để bày tỏ ý chí, sự bất bình ở trong lòng của mình. Bài thơ bất hủ TƯƠNG TIẾN TỬU đuợc làm ra trong tiệc rượu nầy.
     Cái tính khinh thế ngạo vật nầy của Thi Tiên Lý Bạch ta còn thấy được qua tính cách ngông cuồng bất phục của Chu Thần Cao Bá Quát. Cao Chu Thần cũng đã chán nản qua thế thái nhân tình và nhất là sự bát nháo của quan trường lúc bấy giờ, nên đã nhại theo cách sống của Thi Tiên Lý Bạch qua bài hát nói "Uống Rượu Tiêu Sầu" là :

             ...Gõ nhịp lấy, đọc câu “TƯƠNG TIẾN TỬU”:
                    “Quân bất kiến:
                     Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,
                     Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.”
                     Làm chi cho mệt một đời !
        (Mời đọc bài "Tương Tiến Tửu của Lý Bạch" trong phần Góc Đường Thi)



       Hẹn bài viết tới :
                               THẢ, THẠCH, THÁI, THAM, THANG.



                                                   杜紹德
                                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC