CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2023

HƯƠNG TÌNH - THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG

 




HƯƠNG TÌNH


Ôm em chặt chẳng muốn rời,
Anh thầm thĩ gọi tình ơi ới tình!
Kìa em mình quyến lấy mình,
Khác chi bóng quyến lấy hình đó thôi!

Bù khi nhớ đứng thương ngồi,
Bù khi rời rạc lứa đôi bao ngày...
Nhớ từng hơi ấm bàn tay,
Thương khi rót chén men say trao tình.

Chẳng cần chi có bùa linh,
Mệt nhoài cái cõi nhân sinh may còn.
Tỏ mờ dấu nụ hôn son,
Bờ yêu khép mở rêu mòn bến xưa.

Thơ duyên viết mấy mới vừa,
Hoa khai hương nhụy bốn mùa đôi ta.
Ôm nhau cuối nẻo chiều tà,
Từng giây phút lặng lờ qua cạn dần.

Nói gì đây hỡi tình nhân,
Chợt nghe lưu thủy hành vân mà buồn.
Cả hoa cỏ cũng vô thường,
Tàn phai liệu chút dư hương có còn.?


TRẦN NGỌC HƯỞNG

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

MƯỜI HAI - THƠ PHẠM QUANG TRUNG, NHẠC TRƯỜNG TỬ KA

 







MƯỜI HAI

mười hai mặc áo bông đan
hoá thân con hạc non ngàn bay đi
không gian còn lại là gì
phận tôi bé mọn nhiều khi lỗi lầm
mười hai kinh nguyện thì thầm
có dăm tháp nến tự tâm soi đường
không gian như ẩn làn hương
phận tôi giòn mỏng như đường tơ thôi
mười hai nói chuyện cùng tôi
bằng câu tình tự vào đời cuộc vui
hôm nay bỗng trắng nụ cười
trùng trùng hoa tuyết rơi rơi tơi bời
mười hai khoác áo mây trôi
hóa thân cổ thụ ngủ vùi tử sinh
không gian lặng lẽ một mình
ra sân tìm chút an bình quẩn quanh



PHAM QUANG TRUNG
credit Ketty K.


Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

NHẠC ...NGHÈO - TRẦN HỮU NGƯ

 


Ảnh Ban Hợp ca Thăng Long:
-Hàng trên từ trái sang: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, (ca sĩ Hoài Bắc), Phạm Đình Viêm ca (sĩ Hoài Trung)
-Hàng dưới từ trái sang: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh.


NHẠC… NGHÈO!

“Nhạc nghèo” của một thời Chiến tranh đã làm tôi say mê, nghiêng ngã theo từng lời ca tiếng hát. “… Đời nghèo mà vui, hỏi ai không hé môi cười…” (nhạc phẩm Tôi yêu của Trịnh Hưng và Hồ Đình Phương). “Nhạc nghèo” đã theo tôi từ thuở tôi nghèo cho đến bây giờ.
Nhạc nghèo vẫn biết còn thiếu sót, nhưng những bài hát nghèo dưới đây cũng đủ nói lên cái “nghèo rớt mồng tơi” rồi.
Cảm nhận về nhạc nghèo để thấy… mình bớt nghèo!
Có phải vậy không, xin mời bạn đọc:
“… Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói,
có những cánh đồng cát dài, có lũy tre còn tả tơi.
Ruộng khô có những ông già rách vai
cuốc đất bên đàn trẻ gầy
có người bừa thay trâu cày…”
(Nhạc phẩm Quê nghèo – Phạm Duy).
Nghe lại nhạc phẩm này, tôi ứa nước mắt, nhớ về quê tôi từ những năm 1960 trở về trước, ngày ấy quả thật “Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói…”, nhưng dân làng nghèo, nhạc sĩ Phạm Duy đưa lên một hình ảnh này nghe rất xót xa, đối nghịch nhau giữa thành thị và thôn làng đến độ… tàn nhẫn! Nghèo, một định mệnh của dân Việt, khởi nguồn đi tìm sự sống trên ruộng rẫy, nương khoai, đánh bắt, trồng tỉa…, nghĩa là tám mươi lăm phần trăm sống bằng nông nghiệp.
Nghèo là điều bất hạnh của con người. Nhưng có không ít người nghèo lại làm được những điều vĩ đại để tiếng cho đời mà người giàu không làm được. Sinh thời cố nhạc sĩ Văn Cao nghèo lắm, nghèo đến nỗi không tiền mua rượu, thuốc lào, dù chỉ một chén nhỏ, một điếu, và ngay cả bậc tiền bối Nguyễn Công Trứ: “... Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no…”. Không biết Nguyễn Công Trứ làm thơ có được trả nhuận bút không, chớ thời nay trả… ít lắm. Có người hỏi ít là bao nhiêu? 100 đến 200 ngàn… Thế là may, chớ những bài thơ của nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh thì thê thảm hơn: “… Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm nay lại bảo dí thơ vào… mông!”. Còn cố nhạc sĩ tài hoa Văn Cao (ông còn là họa sĩ, thi sĩ) để lại cho đời nhiều tuyệt phẩm, nhưng đến cuối đời ông là một người nghèo.
Người nghèo muốn một công việc gì đó để thoát nghèo, đôi khi thèm… trúng số! Và cũng thương thay, xót thay không ít những cô gái nghèo “chồng gần không lấy lại lấy chồng xa”, lấy chồng ngoại để mong thoát nghèo và những “đêm dài tình… ngắn”, đã để lại nhiều “di chứng chồng ngoại”, rồi sực tỉnh không mơ thoát nghèo nữa mà chỉ kêu gào sớm được thoát… ly, quy cố hương, và đôi khi vì nghèo mà trót dại phạm pháp.
Nhạc… nghèo thì cả giàu lẫn nghèo ai cũng thích nghe. Người giàu nghe nhạc nhạc… nghèo để giải trí, hoặc nghe cho nó vui, hoặc nghe để mà nghe, chẳng hạn:
“… Nhớ, nhớ thuở nào,
anh đi cày thuê, em đi dắt trâu,
đôi ta chừ mà gặp nhau dưới cầu…”
Nhạc phẩm Vợ chồng quê – Phạm Duy).



Còn người nghèo nghe “Vợ chồng quê” để thương nhớ cánh đồng.
Nhạc… nghèo, nhưng không nghèo về ca từ, giai điệu, mà là dùng âm nhạc để diễn tả cái nghèo, một thực trạng của muôn dân nông thôn phải gánh chịu trong những năm triền miên chiến tranh.
Bây giờ đất nước đã đi lên, đời sống con người đã khá hơn những thập niên trước đây, nhưng còn một bộ phận không nhỏ vẫn chưa thoát nghèo, và tôi vẫn thấy, vẫn nghe những hình ảnh đã cách xa chúng ta hơn nửa thế kỷ, nhưng nó còn hiện diện đâu đây:
“… Đường về canh thâu
Đêm khuya ngõ sâu như không màu
Qua phên vênh có hai mái đầu
Hắt hiu vàng ánh điện câu…”
(Nhạc phẩm Xóm đêm – Phạm Đình Chương)
“… Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen
Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm…”
(Nhạc phẩm Phố buồn – Phạm Duy).
Nhạc… nghèo có được bao nhiêu bản? Hàng trăm bản, nhưng mang cái tựa “Nghèo” hình như có bốn bản (?): Xóm nghèo (Hùng Lân), Kiếp nghèo (Lam Phương), Nắng lên xóm nghèo (Phạm Thế Mỹ), Quê nghèo (Phạm Duy):
“… Nửa đêm thanh vắng không một bóng trai
Có tiếng o nghèo thở dài
Vỗ về trẻ thơ bùi ngùi
Từ khi quê hương lan tràn sông núi
Quê cũ đã nghèo lắm rồi
Thêm đói thêm sầu mà thôi…”
(Nhạc phẩm Quê nghèo – Phạm Duy)
“… Đời nghèo lòng nào dám mơ tình chung…”
(Nhạc phẩm Kiếp nghèo – Lam Phương)
“… Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên
Hương lúa ngọt tình quê thêm trìu mến”…
(Nhạc phẩm Nắng lên xóm nghèo – Phạm Thế Mỹ)
“ …Tôi yêu xóm nghèo nhà tranh mái thấp liêu xiêu…”
(Nhạc phẩm Xóm nghèo – Hùng Lân).
Thời buổi này mà còn nghe nhạc con trâu, cái cày, ruộng lúa, nương khoai… quả là lạc hậu “đi ngược lại trào lưu tiến hóa của âm nhạc?”, người sành điệu phải nghe “Hôn môi xa, Trả nợ tình xa, Tình thôi xót xa…”. Ôi, sao nhiều “xa” quá, hèn chi nó đến rất ồn ào chỉ một vài lần rồi đi xa không thèm trở lại!
Thú thật, tôi nghèo và già nên không nghe được nhạc giàu (giàu trống, giàu đờn, giàu kỹ thuật âm sắc, nhưng khổ nỗi lại nghèo về ca từ). Đôi khi bực mình nộ nạt con cháu: “Mày nghe cái quái quỷ gì vậy?”. Nó sửng cồ: “Thời ông khác, thời cháu khác”. Tôi giựt mình! Đúng, thời tôi không có cái thứ nhạc kỳ cục, cái thứ nhạc làm trẻ con giựt mình, làm điếc tai hàng xóm, nhạc như bị điện giựt, nghe mà không hiểu bài hát ấy nói gì, có lẽ mình già rồi chăng? Có lần, một buổi trưa thanh vắng, tôi mở bản nhạc “Gợi giấc mơ xưa” của Lê Hoàng Long… đứa cháu gái chăm chú nghe, rồi hỏi: Chú ơi, bài hát tên gì, của ai mà hay quá vậy? Cũng một lần nữa, tôi mở nghe CD “Hiên cúc vàng” của Nguyễn Đình Toàn, sau khi nằm im nghe, cũng đứa cháu ấy hỏi, CD này của ai vậy, mà Khánh Ly ca hay quá, chỉ chỗ cho cháu mua? Tôi nói, nhạc cũ, người cũ viết, mà cháu có chịu nghe đâu?
Tôi đã từng gối đầu nằm ca khúc Phố buồn của Phạm Duy. Khoảng 1955, thời bấy giờ ở nhà quê dễ gì có được một bản nhạc in rời? Tôi phục sát đất Phạm Duy, vì trong Phố buồn ông đã “Thay lời muốn nói”:
“… Đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em
Bùn lầy không vơi bôi thêm lối ngõ không tên
Em bước chân qua thềm
Mưa vẫn rơi êm đềm
Và chỉ làm phố buồn thêm…”
Và đến nhạc sĩ Lam Phương viết nhạc phẩm Kiếp nghèo. Nghèo đến nỗi gọi là “Kiếp” thì không có cái nghèo nào hơn:
“… Đường về đêm nay vắng tanh
Dạt dào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…”



Ba nhạc phẩm Phố buồn, Xóm đêm, Kiếp nghèo là những bản nhạc nghèo, vào đầu là “Đường về…” và cũng có “Mưa…”. Lạ thay! Một sự trùng hợp ngẫu nhiên tràn đầy thú vị. Và cũng lạ thay, ba bản nhạc nghèo này đều đứng được với thời gian.
Ba nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Lam Phương là những tư tưởng lớn gặp nhau chăng? Cùng mở đầu Phố buồn, Xóm đêm, Kiếp nghèo bằng chữ “Đường về”. Phạm Duy thì “Đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em…”, còn Phạm Đình Chương “Đường về canh thâu…”, Lam Phương “Đường về đêm nay vắng tanh…”. Ba nhạc phẩm cũng đều có “Mưa”: “Em bước chân qua thềm, mưa vẫn rơi êm đềm” (Phạm Duy), “Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn” (Phạm Đình Chương), và “Dạt dào hạt mưa rớt nhanh, lạnh lùng mưa xuyên áo tơi” (Lam Phương).
Ba nhạc phẩm mỗi người một vẻ, đó là ba mảnh đời nghèo khác nhau, nhưng cùng chung một “Đường về”. Cuộc đời là một “Đường đi”, dù đi thẳng, đi cong, đi lòng vòng, đi tắt, đi nhanh, đi chậm… rồi cũng sẽ về dù sớm hay muộn. Không gian của “Đường về” là đêm, thời tiết có mưa, đường về đã… đến.
Một kiếp người đi-đi-về-về, cái điệp khúc thường nhật ấy có đôi khi lắm nỗi chuân chuyên, và cuộc đời này trong bao la trời đất, trong biến đổi khôn lường:
“… Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương…”
(Cung oán ngâm khúc).


TRẦN HỮU NGƯ

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2023

KHOẢNG TRỐNG SỚM MAI - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 


Tranh Đinh Tiến Luyện


KHOẢNG TRỐNG SỚM MAI

Ta sớm mai người cũng sớm mai
Một bên gối lẻ mộng đêm dài
Ngày tháng cạn dần như giếng cũ
Ngồi trước hiên buồn nghe gió phai

Thương cúc tàn thu trải hết lòng
Vàng chi những cánh mỏng long đong
Đợi vạt nắng chiều nghiêng héo hắt
Khép mắt u buồn sang chớm đông

Ta với trời xưa người với người
Trả về thuở ấy tuổi đôi mươi
Tình đầu như lá chồi xanh biếc
Môi thắm còn thơm những nụ cười

Quán gió ngày mưa vẫn hẹn hò
Tóc người ướt nước đẫm câu thơ
Không mặt bàn nào làm xa cách
Dẫu có trăm năm cũng đợi chờ

Ta sớm mai người cũng sớm mai
Bây giờ chia nửa một đêm dài
Ta bên gối lẻ người trăng khuyết
Tháng hết năm tàn. Ai với ai?



TỪ KẾ TƯỜNG
(Bến Lặng 13-12-2023)

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2023

MÙA ĐÔNG YÊU THƯƠNG -AN LÀNH - THƠ NHẬT QUANG

 




MÙA ĐÔNG YÊU THƯƠNG - AN LÀNH
Binh boong...
từng giọt chuông ngân
Giọt rơi thánh thót
trong ngần đêm nay
Noel về hồn ngát say
Phố khuya sánh bước vòng tay ân tình
Vì yêu thương
Chúa Giáng sinh
Cho tim anh
thắp lửa tình yêu em
Lung linh máng cỏ Belem
Đèn giăng lấp lánh bên thềm phố hoa
Dập dìu bước
phố người qua
Thướt tha thiếu nữ
lụa là thiên thanh
Thầm thì...em khẽ bên anh
Dâng câu ước nguyện...lòng thành cậy trông
Giáng sinh
thắp ngọn nến hồng
Yêu thương dâng Chúa
đêm Đông nồng nàn
Dẫu đời dâu bể, hèn sang
Nguyện ơn trên dệt mộng vàng sắt son.


Jos NHẬT QUANG
Niềm vui đầu tháng 12 .

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2023

ĐỌC “BẾN ĐÒ CHIỀU” THƠ NGUYÊN LẠC - VẺ ĐẸP CỔ ĐIỂN. - CHÂU THẠCH

 


Ảnh tác giả NGUYÊN LẠC


ĐỌC “BẾN ĐÒ CHIỀU” THƠ NGUYÊN LẠC  - VẺ ĐẸP CỔ ĐIỂN

                                               

BẾN ĐÒ CHIỀU

 

Chiều ru tím dòng sông rầu đứt ruột

Phiêu lưng trời mây trắng thiết thê!

"Hạc bay xa, hạc chẳng quay về"

Người xa bến mang theo trời xuân mộng

 

Chiều ru tím nỗi niềm thăm thẳm

Ước mơ xưa? Ngấn lệ trong lòng!

Bến đợi chờ biếc cả dòng sông

Và một bóng hồn nghìn trùng sóng vỗ!

 

Chiều đất khách tha hương buồn thiên cổ

Bến đò đây, nhân ảnh ở phương nao?

"Ngày tàn cố lý nơi đâu?

Trên sông khói tỏa gợi sầu lòng ai" [*]

.............

[*] Ý thơ Thôi Hiệu

.

Nguyên Lạc

 

Lời bình: Châu Thạch

 

Trong bài thơ “Bến Đò Chiều”, nhà thơ Nguyên Lạc đã đóng ngoặc kép 3 câu thơ trong bài thơ của mình và có ghi chú thích là “Ý thơ Thôi Hiệu”. Vậy trước khi bàn đến “Bến Đò Chiều”, người viết xin nói qua về bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” là bài thơ mà Nguyên Lạc lấy ý cho bài thơ của ông.

 

Thôi Hiệu (704 - 754) người Biện Châu, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, đậu tiến sĩ năm 725. Ông còn truyền lại hơn 40 bài, trong đó nổi tiếng nhất là bài “Hoàng Hạc lâu”.:

 

Hoàng Hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

Bản dịch của Tản Đà:

 

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Bãi xưa Anh Vũ xanh dày cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

 

Thay vì Thôi Hiệu ngày xưa đứng trên lầu Hoàng Hạc nhìn cảnh đẹp nên thơ dưới một lớp sương mờ huyền thoại để viết nên bài thơ “Hoàng Hac Lâu” bất hủ thì nhà thơ Nguyên Lạc ngày nay đứng ở một bến đò chiều, cảm hứng hoài hương man mác, tình quê bâng khuâng khiến nhà thơ sáng tác bài thơ “Bến Đò Chiều” mang đầy vẻ đẹp cổ điển được khơi gợi từ nỗi niềm thương nhớ quê hương, khơi gợi từ nỗi đau “đất khách tha hương buồn thiên cổ”. Bài thơ được vào đề với khổ thơ mà màu tím trùm lên vạn vật, âm vọng trong không gian tiếng chiều ru cũng tím:

 

Chiều ru tím dòng sông rầu đứt ruột

Phiêu lưng trời mây trắng thiết thê!

"Hạc bay xa, hạc chẳng quay về"

Người xa bến mang theo trời xuân mộng

 

Trong câu thơ thứ nhất của khổ thơ nầy, tác giả đã vẽ một bức tranh buồn da diết, bức tranh dòng sông chảy trong buổi chiều màu tím. Màu tím trong câu thơ nầy tượng trưng cho cảm xúc buồn hoài cổ nhưng không kém phần lảng mạn  khi ta nhớ đến câu thơ “Sóng gợn trường giang buồn điệp điệp” và câu thơ “không khói hoàng hồn cũng nhớ nhà” của Huy Cận trong bài thơ “Trường Giang”.

 

Hình ảnh mây trắng trong trạng thái phiêu linh của câu thơ thứ hai  mang đến cho lòng ta ý niệm về sự trôi nổi của đời người. Sự trôi nổi đó ở trong thơ là “thiết thê” cho ta nghĩ về thân phận “không chốn nương thân”. Đó là thân phận của dân Do Thái 2000 năm bị lưu đày nơi đất khách, hay đó cũng chính là thân phận của tác giả đã rời xa quê hương Việt Nam yêu dấu của mình.

 

Trong câu thơ thứ ba “Hạc bay xa hạc chẳng quay về” nhà thơ lấy ý từ câu thơ “Hạc vàng bay mất từ xưa/ Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay” của “Hoàng Hạc Lâu. “Mây trắng” được nhà thơ nhắc đến ở câu thơ thứ hai và “hạc vàng bay mất” trong câu thơ thứ ba nầy. Mượn hai câu thơ trên, nhà thơ đã  kết hợp hai hình ảnh đẹp hài hòa trong quá khứ, nhưng nay Lầu Hoàng Hạc là quê hương đã mất,  hạc vàng chính là tác giả và mây trắng như màu khăn tang. Hạc vàng là quá khứ, mây trắng là hiện tại, một hình ảnh trong trí nhớ và một hình ảnh hiện tại kéo cho không gian xa ngàn năm gần lại, đem vào tâm hồn người đọc sự bâng khuâng, tiếc nuối, cảm xúc với nỗi vô thường xảy ra tại nơi yêu dấu mà mình thương nhớ.

 

Nhà thơ Nguyên Lạc nói về câu thơ thứ ba: "Hạc bay xa, hạc chẳng quay về"/"Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản":

 

- “Hạc vàng một đi không trở lại” không đơn thuần chỉ nói lên sự mất mát vĩnh viễn, không thể tìm thấy lại được mà nó còn nói lên tâm trạng cảm hoài trước quy luật của tạo vật :"không có gì tồn tại vĩnh cửu".

 

 

- Thành ngữ "một đi không trở lại" nói lên sự mất mát vĩnh viễn, không thể tìm thấy lại được.

 

Đọc khổ thơ đầu của “Bến Đò Chiều” bức tránh sông nước vừa huyền ảo, vừa buồn đến “sầu đứt ruột”  làm thê thiết cả lòng ta. Câu thơ tả ít mà hình ảnh gợi nhiều, làm cho nỗi nhớ quê hương, tình yêu đất mẹ lâng lâng trong lòng. Câu thơ “Người xa bến mang theo trời xuân mông” như hình ảnh con thuyền chở hoa rời bến đi vào nơi vô định mà bóng nó còn hiển hiển rõ trong dòng sông ký ức đời người.

 

Khổ thơ đầu là khổ thơ tả cảnh, khổ thơ thứ hai là khổ thơ tác giả bộc lộ nội tâm mình, vì cảnh sinh tình là chuyện đương nhiên:

 

Chiều ru tím nỗi niềm thăm thẳm

Ước mơ xưa? Ngấn lệ trong lòng!

Bến đợi chờ biếc cả dòng sông

Và một bóng hồn nghìn trùng sóng vỗ!

 

Tại câu thơ đầu tiên của khổ thơ một, buổi chiều ru tím cả dòng sông làm cho nhìn thấy mà rầu đứt ruột. Tại câu thơ đầu của khổ hai bài thơ, buổi chiều đó xâm nhập vào ký ức của tác giả, đưa nhà thơ quay về năm tháng xa xưa, ôn lại những nỗi niềm tuy ”thăm thẳm” trong thời gian quá khứ nhưng không quên được bao giờ. Nhà thơ nhớ lại “ước mơ xưa” là nhớ lại một thời tuổi trẻ. “Ngấn lệ” để “trong lòng” là giọt lệ lâu ngày đã thành viên ngọc long lanh của “nỗi niềm thăm thẳm” dấu trong con tim mình, đi cùng năm tháng ly hương.

 

Câu thơ “Bến đợi chiều biếc cả dòng sông” là bến nào? Có thể là “Bến Đò Chiều” tác giả đang đứng, có thể là bến quê hương  trong mộng hoài hương của người xa xứ. Dầu bến nào thì màu chờ đợi vẫn xanh biếc, dòng sông vẫn mênh mang như biển vì nó là “một bóng hồng nghìn trùng sóng vỗ!” thì nó có linh hồn. 

 

Khổ thơ đầu như một bức tranh tả cảnh, khổ thơ hai như giai điệu tả tình. Hai khổ thơ tuy riêng biệt nhưng khổ thơ nầy tiềm ẩn ý nghĩa của khổ thơ kia. Nếu ta hình tượng hai khổ thơ  thành hai nhân vật, thì đó là Bá Nha- Tử Kỳ, tri kỷ của nhau. Bởi thế người đọc thơ,  nghe thấy lòng mình như đang đứng trên bến đò chiều màu tím trong hiện tại, rồi bay về bến đò chiều màu tím thuở xa xưa, đang ở tại Hoàng Hạc Lâu của ngàn năm về trước, lại bay về bến quê hương của mình có dòng sông xanh biếc, như mơ một giấc mơ, như đi trong khúc thụy du. Thật là thú vị!

 

Bước qua khổ thơ thứ ba, không còn tả cảnh, không nói đến tình, còn lại tiếng thở dài như tiếng thờ dài thương mẹ nhớ em, tưởng người tình còn ở lại bến xưa:

 

Chiều đất khách tha hương buồn thiên cổ

Bến đò đây, nhân ảnh ở phương nao?

"Ngày tàn cố lý nơi đâu?

Trên sông khói tỏa gợi sầu lòng ai"

 

Khổ thơ nầy tác giả đã lấy ý hai câu thơ “Nhật mộ hương quan hà xứ thị?/Yên ba giang thượng sử nhân sầu” dịch là” Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”  để kết bài thơ.  Nhà thơ lấy ý hai câu thơ kết của “Hoàng Hạc Lâu” để đóng bài thơ của mình lại, tác dụng của nó như dùng một cái đế  bằng trầm để dựng trên đó bức tranh quý hiếm. Nhờ hai câu thơ kết này, nỗi buồn như âm vang bất tận, bao trùm trên không gian, chảy mãi theo thời gian, vọng trong lòng người, nhẹ như khói tỏa, lạnh như sương, thiết tha tình quê hương như muôn trùng sóng gợn.

 

Tóm lại, “Hoàng Hạc lâu” là một trong những bài thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu ở đời Đường, đến Thi tiên Lí Bạch cũng phải khâm phục. Bài thơ mô tả khái quát cảnh ở lầu Hoàng Hạc, nhưng chủ yếu bộc lộ nỗi hoài vọng xa xưa và nói lên nỗi nhớ quê nhà tha thiết của người lữ khách.

 

Nhà thơ Nguyên Lạc đã mượn ý một cách rất tài hoa từ bài thơ Hoàng Hạc Lâu, kết hợp hài hòa giữa nét cổ điển thơ thời xưa  và thơ mới lãng mạn thời này để làm nên một bài thơ “Bến Đò Chiều” tuyệt tác.  Bài thơ vừa là bức tranh mô tả cảnh đẹp mà rất buồn trên sông, vừa bộc lộ nỗi nhớ quê hương của nhà thơ, gởi vào đó tâm sự mình cùng tâm sự của cả một thế hệ nơi “Đất khách tha hương buồn thiên cổ”. Đây là một sáng tác mang vẻ đẹp cổ điển, dầu có mượn ý nhưng người câu nệ cũng không có gì  để có thể phản bác ./.

                                

CHÂU THẠCH